1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ quá trình tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo trường sa từ năm 1988 đến nay

206 80 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 2,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

động ngang ngược để khẳng định và thực thi cái gọi là chủ quyền của họ ở QĐTS, như: xâm chiếm bãi Vành Khăn 1995; đưa ra yêu sách “đường lưỡi bò” 2009, yêu sách “Tứ Sa”; mở rộng diện tí

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NGOẠI GIAO

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO

………

BÙI ĐỨC AN

QUÁ TRÌNH TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN GIỮA

CÁC BÊN Ở QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA

TỪ NĂM 1988 ĐẾN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ

MÃ SỐ: 9 31 02 06

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NGOẠI GIAO

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO

………

BÙI ĐỨC AN

QUÁ TRÌNH TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN GIỮA

CÁC BÊN Ở QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận án tiến sĩ với tiêu đề: “Quá trình tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở Quần đảo Trường Sa từ năm 1988 đến nay” là

công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các kết quả nghiên cứu, thông tin và

số liệu được nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực và các kết quả nghiên cứu của Luận án

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Nghiên cứu sinh

Bùi Đức An

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Học viện Ngoại giao và Phòng Đào tạo sau đại học, Ban Đào tạo, Học viện Ngoại giao đã tạo điều kiện giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận án tiến sĩ này

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Quế - Viện quan hệ Quốc tế/Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và GS.TS Nguyễn Thái Yên Hương nguyên Phó giám đốc Học viện Ngoại giao đã tạo điều kiện, tận tình hướng dẫn và định hướng giúp tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận án này

Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã không ngừng động viên, giúp đỡ, quan tâm, chăm sóc tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án này

Nghiên cứu sinh

Bùi Đức An

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN GIỮA CÁC BÊN Ở QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA TỪ NĂM 1988 ĐẾN NAY 18

1.1 Cơ sở lý luận 18

1.1.1 Một số khái niệm 18

1.1.1.1 Đảo, đảo đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm 18

1.1.1.2 Quần đảo, Quần đảo Trường Sa 18

1.1.1.3 Tranh chấp, tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở Quần đảo Trường Sa 20

1.1.2 Tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở Quần đảo Trường Sa dưới góc độ tiếp cận của một số trường phái lý thuyết quan hệ quốc tế 21

1.1.2.1 Chủ nghĩa hiện thực 21

1.1.2.2 Chủ nghĩa tự do 24

1.1.2.3 Chủ nghĩa kiến tạo 25

1.2 Cơ sở thực tiễn 27

1.2.1 Nguồn gốc tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở Quần đảo Trường Sa 27 1.2.1.1 Vai trò chiến lược của biển và đại dương 27

1.2.1.2 Tầm quan trọng của Quần đảo Trường Sa đối với các nước trong và ngoài khu vực 29

1.2.1.3 Sự lợi dụng các kẽ hở của luật biển quốc tế 39

1.2.2 Khái quát về tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở Quần đảo Trường Sa trước năm 1988 42

Trang 6

1.2.2.1 Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam ở Quần đảo Trường Sa 42

1.2.2.2 Yêu sách và hoạt động chiếm đóng của các bên 45

1.2.3 Những nhân tố tác động đến tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở Quần đảo Trường Sa (1988 - 2020) 52

1.2.3.1 Tình hình thế giới, khu vực 52

1.2.3.2.Tình hình các bên có tranh chấp chủ quyền 55

1.2.3.3 Sự can dự của các nước lớn về tranh chấp chủ quyền ở Quần đảo Trường Sa 58

Tiểu kết Chương 1 60

Chương 2: THỰC TRẠNG TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN GIỮA CÁC BÊN Ở QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA (1988 - 2020) 61

2.1 Quan điểm của Việt Nam và yêu sách chủ quyền của các bên 61

2.1.1 Quan điểm của Việt Nam 61

2.1.2 Yêu sách của Trung Quốc và Đài Loan 64

2.1.3 Yêu sách của Philippines 68

2.1.4 Yêu sách của Malaysia 69

2.1.5 Yêu sách của Brunei 71

2.2 Tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở Quần đảo Trường Sa (1988 - 2020) 72

2.2.1 Giai đoạn 1988 - 1995 72

2.2.2 Giai đoạn 1996 - 2008 78

2.2.3 Giai đoạn 2009 - 2015 83

2.2.4 Giai đoạn 2016 - 2020 90

Tiểu kết Chương 2 104

Chương 3 : TÁC ĐỘNG, DỰ BÁO TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN GIỮA CÁC BÊN Ở QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA ĐẾN NĂM 2028 VÀ KHUYẾN NGHỊ 106

3.1 Tác động của tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở Quần đảo Trường Sa đối với khu vực và Việt Nam 106

Trang 7

3.1.1 Đối với khu vực 106

3.1.2 Đối với Việt Nam 109

3.2 Dự báo tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở Quần đào Trường Sa đến năm 2028 112

3.2.1 Dự báo các nhân tố tác động đến tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa 112

3.2.1.1 Tình hình thế giới 112

3.2.1.2 Tình hình khu vực 115

3.2.1.3 Tình hình các bên có tranh chấp chủ quyền ở Quần đảo Trường Sa 117 3.2.1.4 Sự tác động của các nước lớn 118

3.2.2 Dự báo kịch bản xảy ra 119

3.2.2.1 Kịch bản thứ nhất: Tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS sẽ “lắng dịu” hơn hiện nay và ít có khả năng xảy ra xung đột 119

3.2.2.2 Kịch bản thứ hai: Tình hình tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS sẽ “căng thẳng”, phức tạp hơn hiện nay và có nguy cơ xảy ra xung đột lớn hoặc chiến tranh 123

3.2.2.3 Kịch bản thứ ba: Tình hình tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS tiếp tục diễn biến phức tạp, lúc “lắng dịu”, lúc “căng thẳng” và ít có khả năng xảy ra xung đột lớn hoặc chiến tranh, nhưng không loại trừ xảy ra xung đột nhỏ 125

3.3 Khuyến nghị các giải pháp giải quyết tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở Quần đảo Trường Sa 128

3.3.1 Xây dựng lòng tin 128

3.3.2 Phát huy vai trò của các bên có tranh chấp chủ quyền ở Quần đảo Trường Sa 134

3.3.3 Phát huy vai trò của ASEAN 137

3.3.4 Thông qua cơ chế tài phán quốc tế 141

3.3.5 Đối với Việt Nam 142

Trang 8

Tiểu kết Chương 3 146

DANH MỤC TÀI LIỆU ĐÃ CÔNG BỐ Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHỤ LỤC 174

PHỤ LỤC 1 174

PHỤ LỤC 2 175

PHỤ LỤC 3 176

PHỤ LỤC 4 177

PHỤ LỤC 5 183

PHỤ LỤC 6 186

PHỤ LỤC 7 196

PHỤ LỤC 8 197

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt

ASEAN Association of Southeast

Asian Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

CLCS Commission on the Limits shelf Ủy ban Ranh giới thềm lục địa

COC Code of Conduct on the

South China Sea

Bộ Quy tắc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông

DOC Declaration of Conduct on

the South China Sea

Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông

EEZ Exclusive Econnomic Zone Vùng đặc quyền kinh tế

ICJ International Court of Justice Tòa Công lý quốc tế

ITLOS International Tribunal for the

Law of the Sea

Tòa án quốc tế về Luật biển

PCA Permanent Court of Arbitration Tòa Trọng tài thường trực

UNCLOS-1982

United Nations Convention

on Law of the Sea in1982

Công ước LHQ về luật biển năm 1982

WTO The World Trade

Organization

Tổ chức thương mại thế giới

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quần đảo Trường Sa (QĐTS) nằm trung tâm của Biển Đông, có vị trí địa chính trị đặc biệt quan trọng, án ngữ phần lớn các tuyến giao thông hàng hải quốc tế quan trọng hàng đầu thế giới đi qua Biển Đông Kiểm soát, khống chế được QĐTS sẽ giành quyền kiểm soát tất cả các tuyến giao thông hàng hải quốc tế đi qua Biển Đông, tác động trực tiếp đến trật tự khu vực châu Á - Thái Bình Dương, thậm chí đến trật tự thế giới Chính vì vậy, tranh chấp chủ quyền giữa bên ở QĐTS ngày càng phức tạp

và trở thành một trong những điểm nóng nhất về an ninh ở khu vực Đông Nam Á Sau nhiều nỗ lực của các nước liên quan, của ASEAN và cộng đồng quốc tế, tranh chấp chủ quyền ở quần đảo này không những không giải quyết được một cách triệt để

mà còn ngày càng trầm trọng hơn, phức tạp hơn, đe dọa phá vỡ môi trường hòa bình,

ổn định trong khu vực, cản trở giao thương quốc tế qua Biển Đông

Tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS khiến Việt Nam mất đi một phần lãnh thổ, lãnh hải và nguy cơ mất thêm vẫn còn hiện hữu do tham vọng chủ quyền của các bên và trước những chuyển động mới trong khu vực và trên thế giới Trên thực tế, trước năm 1988, mặc dù nhiều nước đã tuyên bố chủ quyền, thậm chí đưa lực lượng đến xâm chiếm một số đảo đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm ở QĐTS, nhưng quy

mô, tính chất của các tuyên bố và hoạt động xâm chiếm này chưa thực sự gay gắt, phức tạp Tuy nhiên từ năm 1988 đến nay, tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS ngày càng diễn biến phức tạp, tác động trực tiếp nhiều mặt đến chủ quyền, lợi ích của Việt Nam, môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực Đặc biệt năm 1988, Trung Quốc sử dụng vũ lực, xâm chiếm một số đảo đá, bãi cạn ở QĐTS (Chữ Thập, Châu Viên, Huy Gơ, Xu Bi, Ga Ven, Gạc Ma) [160, tr.371], khiến 64 chiến sỹ của Quân đội Nhân dân Việt Nam phải hi sinh anh dũng để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở khu vực này Tranh chấp chủ quyền ở QĐTS đã thực sự trở thành “điểm nóng” của khu vực, khiến cộng đồng quốc tế hết sức quan ngại Tuy nhiên, bất chấp

sự quan ngại của cộng đồng quốc tế, Trung Quốc vẫn tiếp tục triển khai nhiều hoạt

Trang 11

động ngang ngược để khẳng định và thực thi cái gọi là chủ quyền của họ ở QĐTS, như: xâm chiếm bãi Vành Khăn (1995); đưa ra yêu sách “đường lưỡi bò” (2009), yêu sách “Tứ Sa”; mở rộng diện tích và xây dựng quy mô lớn ở QĐTS (2014 - 2016); thành lập 2 đơn vị hành chính cấp quận/huyện trực thuộc “thành phố Tam Sa” (2020)… Bên cạnh đó, các bên có tranh chấp khác cũng triển khai nhiều hoạt động để đòi “chủ quyền” ở QĐTS, trong đó Đài Loan thường xuyên điều lực lượng đến cắm

cờ khẳng định chủ quyền ở bãi Bàn Than; Philippines kiện Trung Quốc ra PCA (2013), tiến hành một số hoạt động xây dựng ở Thị Tứ (2020); Malaysia đệ trình báo cáo lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa (CLCS) về thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý bao trùm phần lớn các đảo đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm ở QĐTS (2019)… Đặc biệt, trong những năm gần đây, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến nhanh và phức tạp, các nước lớn ngoài khu vực như: Mỹ, Nhật Bản, Australia, Nga, Ấn Độ ngày càng quan tâm, thậm chí can dự sâu rộng vào vấn đề Biển Đông nhằm bảo vệ lợi ích của họ và thực hiện các toan tính chiến lược lớn đối với khu vực… Điều này mở ra nhiều triển vọng mới, song cũng mang đến không ít thách thức trong giải quyết tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS

và tác động trực tiếp đến môi trường hòa bình, ổn định của khu vực

Đối với Việt Nam, QĐTS là khu vực có vị trí địa chính trị vô cùng quan trọng, là “cửa ngõ” kết nối Việt Nam với khu vực và thế giới, là “một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam” [12, tr.21, 31] và “Việt Nam có đầy

đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” [120] Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các bên có tranh chấp ngày càng đẩy mạnh hoạt động khẳng định “chủ quyền” ở QĐTS và vùng biển liên quan, đe dọa trực tiếp, lâu dài đến chủ quyền, lợi ích của Việt Nam ở khu vực này

Vì vậy, nghiên cứu sinh chọn đề tài “Quá trình tranh chấp chủ quyền giữa

các bên ở Quần đảo Trường Sa từ năm 1988 đến nay” làm luận án tiến sĩ

chuyên ngành quan hệ quốc tế

Trang 12

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến luận án

Qua khảo sát, nghiên cứu sinh tìm thấy rất nhiều công trình nghiên cứu về Biển Đông có liên quan đến tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, nhưng có thể sắp xếp thành 3 nhóm chủ yếu sau:

Một là, các công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn về tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở Quần đảo Trường Sa, điển hình là các công

trình nghiên cứu của các tác giả:

* Trong nước

Nguyễn Hồng Thao (1997), Những điều cần biết về Luật biển, Nxb Công an

Nhân dân, Hà Nội [122] Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu khá kỹ về những vấn đề liên quan đến Luật biển quốc tế, đưa ra một số định nghĩa, khái niệm

về đảo, đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm, đồng thời chỉ rõ chế độ pháp lý của chúng theo UNCLOS-1982… Đây là những nội dung quan trọng để nghiên cứu sinh nghiên cứu, phát triển, bổ sung vào phần cơ sở lý luận của luận án, đặc biệt là một số khái niệm và quy chế pháp lý về đảo, đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm QĐTS

Đinh Kim Phúc (2010), Chủ quyền quốc gia Việt Nam trên hai quần đảo

Hoàng Sa - Trường Sa, Nxb Tri thức, Hà Nội [97] Trong công trình này, tác giả đã

phân tích khá rõ về các tranh chấp trên vùng biển Việt Nam, trong đó có tranh chấp chủ quyền ở QĐTS dưới cả góc độ lịch sử và pháp lý; đồng thời cung cấp những chứng cứ tương đối vững chắc khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; phân tích, chỉ ra sự phi lí trong yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông cũng như ở QĐTS… Đây là một trong những công trình cung cấp khá nhiều tư liệu, giúp nghiên cứu sinh nghiên cứu, làm rõ hơn về nguồn gốc, bản chất tranh chấp ở QĐTS và củng cố vững chắc chứng cứ lịch sử pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở khu vực QĐTS

Đặng Đình Quý (2012), Tranh chấp Biển Đông: luật pháp, điạ chính trị và hợp

tác quốc tế, Nxb Thế Giới, Hà Nội [110] Trong công trình này các tác giả đã nghiên

Trang 13

cứu sâu về: (1) Tầm quan trọng của Biển Đông đối với thế giới và khu vực; (2) Lợi ích của các nước trong và ngoài khu vực; (3) Những diễn biến gần đây ở Biển Đông; (4) Tranh chấp Biển Đông những khía cạnh pháp lý quốc tế; (5) Phương cách và biện pháp thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông Công trình này đã cung cấp nhiều tư liệu quan trọng về cơ sở lý luận và thực tiễn về tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS và gợi mở cho nghiên cứu sinh, nghiên cứu, phát triển, tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng cao khả năng quan lý, kiểm soát xung đột, thúc đẩy hợp tác, giải quyết tranh chấp chủ quyền ở QĐTS, góp phần bảo vệ chủ quyền, lợi ích của Việt Nam ở khu vực này, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực

Vũ Minh Giang (2013), “Căn cứ khoa học về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Tạp chí Đại học Quốc gia Hà Nội, ngày 13 tháng 12 năm 2013 [35] Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu

và chỉ rõ tính phi lý trong các lập luận của học giả Trung Quốc về chủ quyền

ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Đồng thời dẫn chứng những tư liệu lịch

sử quý báu ở trong và ngoài nước về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và việc Trung Quốc tự phủ nhận chủ quyền đối với hai quần đảo này Công trình này đã giúp nghiên cứu sinh làm sâu sắc hơn quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam ở QĐTS

Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam/Bộ Quốc Phòng (2015), Quá trình khai phá,

xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa

và Trường Sa, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội [159] Trong công trình này, các tác

giả đã nghiên cứu một cách khá chi tiết, toàn diện về quá trình khai phá, xác lập, thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như quá trình đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này Công trình này đã cung cấp nhiều số liệu, chứng cứ có giá trị giúp nghiên cứu sinh nghiên cứu sâu hơn về quan điểm, yêu sách, thực trạng tranh chấp ở QĐTS…

* Trên thế giới

Mark J.Valencia, Jon M.Van Dyke và Noel A.Ludwig (1999), Sharing the

Trang 14

resources of the South China Sea (Chia sẻ tài nguyên ở Biển Đông), Nxb University

of Hawaii, Hawaii [180] Các tác giả nghiên cứu khá kỹ về chủng loại, trữ lượng, vị trí, vai trò, tầm quan trọng của các nguồn tài nguyên ở Biển Đông đối với các nước, nhất là các bên có tranh chấp ở Biển Đông, đồng thời đưa ra các khuyến nghị giải pháp trong sử dụng, chia sẻ các nguồn tài nguyên này nhằm quản lý, hạn chế nảy sinh các tranh chấp trong khai thác, quản lý tài nguyên ở Biển Đông Đây là những

tư liệu có giá trị để nghiên cứu sinh nghiên cứu về chủng loại, trữ lượng, vị trí, vai trò, tầm quan trọng của các nguồn tài nguyên ở QĐTS đối với các nước trong và ngoài khu vực, cũng như đưa ra các khuyến nghị, giải pháp trong giải quyết tranh chấp, quản lý xung đột ở khu vực QĐTS

Marius Gjetnes (2000), The legal regime of Islands in the South China Sea

(Chế độ pháp lý của các đảo ở Biển Đông), Nxb University of Oslo, Norway [181]

Tác giả đã nghiên cứu và chỉ rõ những tính chất đặc thù của các đảo ở Biển Đông

và chế độ pháp lý của các đảo này theo luật pháp quốc tế Đây là một trong những nội dung quan trọng, giúp nghiên cứu sinh nghiên cứu và chỉ rõ đặc điểm, tính chất, chế độ pháp lý của các đảo, đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm ở QĐTS

G.M.Lokshin (2015), Biển Đông: Cuộc tìm kiếm đồng thuận nan giải, Nxb

Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội [33] Tác giả đã phân tích khá rõ ý nghĩa kinh tế và quân sự - chiến lược của Biển Đông và những quần đảo trên Biển Đông, trong đó có QĐTS; nguồn gốc, bản chất tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông và những lợi ích địa chính trị của Nga ở khu vực này, cũng như những tác động của vấn đề Biển Đông đến quan hệ của Nga đối với các bên có tranh chấp, nhất là với Trung Quốc và Việt Nam và các nước ASEAN…

Francois-Xavier Bonnet (2016), Địa chính trị tại QĐTS: Các tuyến đường

bí mật và tàu ngầm, tham luận tại Hội thảo khoa học quốc tế lần thứ 8 ở Nha

Trang năm 2016 [32] Tác giả đã cung cấp nhiều tư liệu có giá trị liên quan đến

vị trí địa chính trị quan trọng của khu vực QĐTS cũng như các đợt nghiên cứu, khảo sát bí mật của Mỹ, Nhật Bản, Pháp, Trung Quốc ở khu vực này nhằm khám

Trang 15

phá “Vùng nguy hiểm” ở QĐTS để xây dựng các tuyến đường bí mật dưới nước phục vụ ý đồ chiến lược của mỗi nước

Hai là, các công trình nghiên cứu về thực trạng tranh chấp chủ quyền ở Quần đảo Trường Sa, tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của các tác giả:

* Trong nước

Nguyễn Việt Long (2013), Hoàng Sa, Trường Sa các sự kiện tư liệu lịch sử,

pháp lý chính, Nxb trẻ, Hà Nội [65] Tác giả đã hệ thống, biên niên lại toàn bộ

các sự kiện lịch sử liên quan đến quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa từ thế kỷ thứ

XV Công trình này đã đưa ra nhiều chứng cứ lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở QĐTS, là những tư liệu hết sức có giá trị, là cơ sở để nghiên cứu sinh nghiên cứu, làm rõ về thực trạng tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử

Nguyễn Thái Anh, Quốc Dũng (2014), Quan điểm của Đảng, Nhà nước,

Chính phủ, Quốc hội về đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo, Nxb Văn học, Hà

Nội [12] Các tác giả đã tuyển chọn, biên soạn nhiều nội dung phản ánh quan điểm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội Việt Nam về đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo nói chung và đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo ở QĐTS nói riêng, trong đó có Nghị quyết về việc phê chuẩn UNCLOS-1982; Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, EEZ, thềm lục địa; Luật biển Việt Nam năm 2012; Thông báo Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 9 khóa XI (trích); Phát biểu của các lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội Việt Nam liên quan đến chủ quyền biển đảo quốc gia, trong đó có chủ quyền biển đảo Việt Nam đối khu vực QĐTS…

Trần Việt Thái (2019), “Bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong giai đoạn mới”, Tạp chí Cộng sản (Việt Nam), số 1268 [119] Trong công trình này, tác giả đã phân tích rõ: (1) Những nhân tố tác động đến tranh chấp ở Biển Đông từ năm

2016 đến 2019; (2) Bản chất sự thay đổi sâu sắc trong vấn đề Biển Đông từ những năm 70 của thể kỷ XX đến nay; (3) Một số điểm đáng chú ý rút ra từ thực tiễn bảo

vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam về chủ trương, giải pháp trong giải quyết

Trang 16

tranh chấp ở Biển Đông, nhất là trong quan hệ ứng xử với Trung Quốc, Mỹ, ASEAN và xử lý các vấn đề xảy ra trên biển… Những nghiên cứu trong công trình này đã cung cấp nhiều thông tin quan trọng giúp nghiên cứu sinh làm rõ bản chất tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS từ năm 1988 đến nay

* Trên thế giới

Monique Chemillier - Gendreau (1998), Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng

Sa và Trường Sa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội [92] Tác giả đã nghiên cứu và

làm rõ: (1) Các sự kiện chung liên quan đến các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; (2) Việc thụ đắc danh nghĩa ban đầu; (3) Sự tiến triển tiếp theo của danh nghĩa; (4) Các kết luận và cơ sở giải quyết tranh chấp; (5) Các phụ lục liên quan đến tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa Công trình này không những cung cấp những tư liệu lịch sử, pháp lý quan trọng liên quan đến tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa mà còn đưa ra những đánh giá, nhận định khá sắc nét về quá trình tranh chấp, lập luận, chứng cứ của các bên liên quan chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa

Gao Zhi Guo/Cao Chi Quốc và Jia Bing Bing/Giả Binh Binh (2014), Lun nan

hai jiu duan xian de li shi, Di wei he zuo yong (Lịch sử, địa vị và tác dụng của

‘đường lưỡi bò’ ở Biển Đông, Nxb Hải Dương, Trung Quốc [186] Các tác giả đã

trình bày khá rõ về 5 vấn đề: (1) Vị trí địa lí và vai trò của Biển Đông; (2) Tiến trình lịch sử liên quan đến “đường lưỡi bò”; (3) Tính chất pháp lý và vai trò của “đường lưỡi bò”; (4) Các vấn đề pháp lý liên quan đến “đường lưỡi bò”; (5) Kiến nghị đối sách và triển vọng” Đây là công trình của hai tác giả là những người đương chức,

có uy tín trong lĩnh vực nghiên cứu về biển và được xuất bản bởi một nhà xuất bản lớn của Trung Quốc, nên những luận điểm mà tác giả đưa ra trong công trình này đã giúp nghiên cứu sinh nắm rõ hơn về yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông, đồng thời gợi mở cho nghiên cứu sinh nghiên cứu và đề xuất các đối sách của Việt Nam trong giải quyết tranh chấp ở QĐTS

Antonio T.Carpio (2017), The South China Sea Dispute: Philippines Sovereign

Rights and Jurisdiction in the West Philippines Sea (Tranh chấp Biển Đông: Quyền

Trang 17

chủ quyền và quyền tài phán của Philippines ở biển Tây Philippines), Nxb Ebook

(Sách điện tử), Philippines [170] Đây là công trình nghiên cứu của một thẩm phán thuộc Tòa án Tối cao Philippines Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu nhiều vấn đề liên quan đến quyền chủ quyền và quyền tài phán của Philipines ở QĐTS, cung cấp nhiều tư liệu giúp nghiên cứu sinh nghiên cứu sâu về quan điểm, lập trường của Philippines đối với tranh chấp chủ quyền ở QĐTS, từ đó có các đánh giá khách quan hơn về thực trạng và bản chất tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS

Eric Hyer (2017), The South China Sea Disputes: Implications of China's

Earlier Territorial Settlements, Nxb Pacific Affairs, University of British Columbia,

Canada [177] Tác giả đã tập trung nghiên cứu, phân tích khá kỹ về tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, nhất là quan điểm lập trường, tham vọng và cách hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông Với cách tiếp cận của học giả từ một quốc gia không có tranh chấp ở Biển Đông, công trình này giúp nghiên cứu sinh có cách tiếp cận, đánh giá, khách quan hơn trong nghiên cứu về quan điểm lập trường của Trung Quốc ở Biển Đông nói chung và khu vực QĐTS nói riêng, đồng thời có cách tiếp cận, đánh giá khách quan hơn về thực trang tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS

Ba là, các công trình đánh giá, dự báo về tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở Quần đảo Trường Sa, nổi bật là công trình nghiên cứu của tác giả:

* Trong nước

Nguyễn Bá Diến (2013), Kinh nghiệm quốc tế về giải quyết tranh chấp chủ

quyền biển đảo, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội [26] Tác giả đã nghiên cứu

khá kỹ về các cơ chế giải quyết tranh chấp chủ quyền biển đảo; thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế trong việc sử dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp chủ quyền biển đảo trên thế giới và các bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong việc sử dụng các

cơ chế này để giải quyết các tranh chấp liên quan đến chủ quyền, biển, đảo quốc gia Công trình này đã giúp nghiên cứu sinh nghiên cứu, tìm kiếm các giải pháp quản lý xung đột, giải quyết tranh chấp ở khu vực QĐTS, đặc biệt là các giải pháp liên quan đến các cơ chế tài phán quốc tế

Trang 18

Đặng Đình Quý (2016), Tìm kiếm giải pháp vì hòa bình và công lý ở Biển

Đông, Nxb Thế Giới, Hà Nội [112] Trong công trình này, các tác giả tập trung

nghiên cứu, làm rõ 4 vấn đề cơ bản: (1) Lợi ích và chính sách của các bên liên quan

ở Biển Đông; (2) Diễn biến tranh chấp Biển Đông; (3) Các vấn đề pháp lý trong tranh chấp Biển Đông; (4) Cơ chế hợp tác và quản lý tranh chấp Biển Đông Các bài viết này đã cung cấp cho nghiên cứu sinh nhiều bằng chứng, lập luận thuyết phục về lịch sử, khoa học, pháp lý và chính trị trong giải quyết tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS, từ đó đưa ra một số giải pháp thúc đẩy hợp tác, quản

lý và giải quyết tranh chấp ở QĐTS, bảo vệ tối đa chủ quyền, lợi ích của Việt Nam

ở khu vực này, góp phần xây dựng môi trường hòa bình, ổn định khu vực

* Trên thế giới

Szu-shen Ho và Kuan-hsiung Wang (2014), A Bridge over Troubled Waters:

Prospects for Peace in the South and East China Sea (Cách thức giải quyết tranh chấp: Triển vọng hòa bình ở biển Hoa Đông và Biển Đông), Nxb Prospect

Foundation, Đài Loan [183] Tác giả đã nghiên cứu phân tích tương đối toàn diện

về tranh chấp ở biển Hoa Đông và Biển Đông, giúp nghiên cứu sinh có những tư liệu quan trọng trong tham chiếu giữa tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với tranh chấp chủ quyền ở biển Hoa Đông, giữa tranh chấp chủ quyền của các bên ở QĐTS với tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và Nhật Bản đối với Quần đảo Xen-ca-cư/Điếu Ngư Mặc dù không đề cập trực tiếp đến vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS, nhưng cuốn sách đã cung cấp cho nghiên cứu sinh nhiều ý tưởng mới để tìm kiếm các giải pháp thúc đẩy giải quyết tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS, bảo vệ tối đa chủ quyền, lợi ích của Việt Nam

Bill Hayton (2015), The South China Sea, the struggle for power in Asia (Biển

Đông, cuộc đấu tranh giành quyền lực ở châu Á), Nxb Yale university/London,

London [172] Tác giả đã phân tích khá rõ về tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, tác động ảnh hưởng đến khu vực và đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị trong giải quyết tranh chấp ở Biển Đông Công trình này đã gợi ý cho nghiên cứu sinh nghiên cứu, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp giữa

Trang 19

các bên ở QĐTS, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam

Anders Corr (2018), Great Powers, Grand Strategies: The New Game in

the South China Sea (Các cường quốc và đại chiến lược - Ván bài mới trên Biển Đông), Nxb Naval Institute Presss, Mỹ [169] Các tác giả đã nghiên cứu, phân

tích khá kỹ về cục diện tranh chấp ở Biển Đông hiện nay và quan điểm, lập trường, chính sách của các nước lớn, trong đó có Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Ấn

Độ, Nga Công trình này đã cung cấp cho nghiên cứu sinh nhiều thông tin, tư liệu để đánh giá, nhận định, dự báo khách quan về tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS thời gian tới, tác động, hệ lụy của vấn đề này đối với Việt Nam, khu vực và thế giới, từ đó đưa ra các khuyến nghị đối với Đảng, Nhà nước trong đấu tranh, bảo vệ chủ quyền, lợi ích của Việt Nam ở QĐTS

Ngoài ra, trong các luận án tiến sĩ được công bố tại Thư viện Quốc gia Việt

Nam, cũng có một số luận án liên quan đến tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS, điển hình là:

Luận án của Trần Công Trục (1996), Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà

nước đối với các vùng biển của nước CHXNCN Việt Nam, Học viện Chính trị

Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [156] Tác giả đã nghiên cứu khá sâu về lý luận

và thực tiễn về tình trạng pháp luật về quản lý Nhà nước trong quản lý các vùng biển, đảo… Đây là một công trình có nhiều giá trị cả về lý luận và thực tế, gợi ý cho nghiên cứu sinh nhiều giải pháp, khuyến nghị đối với Đảng, Nhà nước trong quản lý, bảo vệ chủ quyền, lợi ích của Việt Nam ở QĐTS trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền biển đảo ngày càng phức tạp như giai đoạn hiện nay

Luận án của Hoàng Trọng Lập (1996), Tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa

- Trường Sa và luật pháp quốc tế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân

văn, Hà Nội [61] Tác giả đã nghiên cứu, phân tích khá rõ về vấn đề xác lập chủ quyền theo luật pháp quốc tế, thực trạng tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, luận cứ của các bên tranh chấp và khuyến nghị về phương hướng giải quyết tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa…

Trang 20

Luận án của Nguyễn Nhã (2003), Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam

tại Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân

văn, Hà Nội Tác giả đã đi sâu nghiên cứu những tư liệu chứng minh và những hoạt động xác lập, chiếm hữu bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở Quần đảo Hoàng

Sa và QĐTS Công trình nghiên cứu này có ý nghĩa hết sức quan trọng để nghiên cứu sinh kế thừa, phát triển, làm rõ nguồn gốc bản chất tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS, dự báo xu hướng tranh chấp, từ đó đưa ra các khuyến nghị giải pháp trong quản lý, giải quyết tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS, góp phần bảo vệ chủ quyền, lợi ích của Việt Nam ở khu vực này, bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực

2.2 Những vấn đề đã được nghiên cứu và cần tiếp tục phát triển

Có thể thấy rằng, những vấn đề đã được nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu về Biển Đông có đề cập đến tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau và đã nghiên cứu các vấn đề sau: (1) Vị trí địa lý, tài nguyên, tầm quan trọng của Biển Đông, trong đó có QĐTS đối với các nước trong và ngoài khu vực

(2) Quan điểm, lập trường của các nước trong và ngoài khu vực đối với tranh chấp ở Biển Đông; quan điểm lập trường của Đảng, Nhà nước Việt Nam về đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo, trong đó có đấu tranh bảo vệ chủ quyền đối với QĐTS (3) Nguồn gốc, bản chất và thực trạng tranh chấp ở Biển Đông, trong đó có

đề cập đến tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS

(4) Đánh giá, dự báo và giải pháp giải quyết tranh chấp ở Biển Đông

(5) Một số vấn đề về tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa, Trường

Sa, khuyến nghị đối với các nước, trong đó có Việt Nam

Các công trình nghiên cứu nêu trên là những công trình có ý nghĩa lý luận

và thực tiễn cao, là cơ sở nền tảng quan trọng để nghiên cứu sinh kế thừa, phát triển trong luận án “Quá trình tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS từ năm 1988 đến nay” Tuy nhiên, để đáp ứng những yêu cầu mới của thực tiễn, các công trình này cần phải tiếp tục nghiên cứu và phát triển, vì:

Trang 21

Thứ nhất là, tranh chấp chủ quyền là một vấn đề hết sức phức tạp, do đó

song song với việc nghiên cứu tìm kiếm các giải pháp chung để giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cần tìm kiếm các giải pháp riêng đối từng khu vực, vì tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa là vấn đề song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc, trong khi tranh chấp chủ quyền ở QĐTS là vấn đề đa phương giữa 5 nước, 6 bên

Thứ hai là, phần lớn các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước tập trung

nghiên cứu chung về Biển Đông, trong khi các công trình nghiên cứu riêng biệt về tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS còn khá ít, mặc dù đây là tranh chấp phức tạp nhất, khó giải quyết nhất, liên quan đến tuyên bố chủ quyền của nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ và lợi ích của nhiều nước trong và ngoài khu vực

Thứ ba là, tình hình thế giới, khu vực đã có nhiều thay đổi, kết quả nghiên

cứu của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS cần được tiếp tục kế thừa và phát triển cho phù hợp với tình hình thực tiễn và xu hướng tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS trong những năm tiếp theo

Thứ tư là, thực tiễn trong những năm qua, mặc dù các bên có tranh chấp

tích cực tìm kiếm các giải pháp giải quyết tranh chấp ở Biển Đông, nhưng việc giải quyết tranh chấp ở Biển Đông nói chung và khu vực QĐTS nói riêng vẫn chưa có bước đột phá Tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra xung đột, tác động trực tiếp nhiều mặt đến môi trường hòa bình ổn định trong khu vực, chủ quyền, lợi ích của Việt Nam ở QĐTS…

2.3 Những vấn đề luận án sẽ tập trung nghiên cứu

Để tiếp tục kế thừa những thành quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trước, luận án nghiên cứu sâu về các vấn đề sau:

Một là, vì sao có sự tranh chấp của các bên (Trung Quốc, Đài Loan,

Philippines, Malaysia) đối với chủ quyền của Việt Nam ở QĐTS?

Trang 22

Hai là, quá trình tranh chấp của các bên (Trung Quốc, Đài Loan,

Philippines, Malaysia) đối với chủ quyền của Việt Nam ở QĐTS từ năm 1988 đến nay diễn ra như thế nào?

Ba là, Việt Nam và các bên có tranh chấp cần làm gì để giải quyết tranh chấp,

quản lý xung đột trong tranh chấp chủ quyền ở QĐTS đến năm 2028?

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Luận án nhằm luận giải nguồn gốc, bản chất quá trình tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS từ năm 1988 đến nay, từ đó đánh giá tác động của tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS đối với khu vực và Việt Nam từ góc độ quan hệ quốc tế Đồng thời dự báo các kịch bản có thể xảy ra đối với tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS đến năm 2028 và đưa ra một số khuyến nghị về giải pháp để thúc đẩy giải quyết tranh chấp, bảo vệ chủ quyền, lợi ích của Việt Nam ở QĐTS, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định khu vực

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ:

Một là, phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về tranh chấp chủ quyền

giữa các bên ở QĐTS từ năm 1988 đến nay, bao gồm nội dung sau: (1) Về cơ sở

lý luận, luận án làm rõ một số khái niệm cơ bản và cách tiếp cận của một số trường phái lý thuyết về quan hệ quốc tế liên quan đến tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS; (2) Về cơ sở thực tiễn, luận án khái quát về tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS trước năm 1988, đồng thời làm rõ nguồn gốc và

các nhân tố tác động đến tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS

Hai là, phân tích làm rõ thực trạng tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở

QĐTS từ năm 1988 đến nay, bao gồm những nội dung sau: (1) Quan điểm của Việt Nam và yêu sách chủ quyền của các bên (Philipines, Malaysia, Brunei, Trung Quốc và Đài Loan); (2) Thực trạng tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS từ năm 1988 đến năm 2020 qua các giai đoạn: 1988 - 1995, 1996 - 2008,

2009 - 2015, 2016 - 2020

Trang 23

Ba là, phân tích tác động của tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS

đối với khu vực và Việt Nam

Bốn là, dự báo tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS từ năm 2020 - 2028 Năm là, trên cơ sở phân tích thực trạng tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở

QĐTS, các nhân tố tác động và các kịch bản có thể xảy ra, luận án đưa ra các khuyến nghị về giải pháp giải quyết tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu là quá trình tranh chấp chủ quyền giữa các bên

ở Quần đảo Trường Sa

* Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung, luận án tập trung nghiên cứu thực trạng tranh chấp chủ quyền

giữa các bên ở QĐTS, bao gồm quan điểm, yêu sách chủ quyền của các bên và quá trình tranh chấp này đối với các thực thể ở QĐTS từ năm 1988 đến nay và tác động của nó đến thế giới, khu vực và Việt Nam

Về không gian, luận án nghiên cứu khu vực QĐTS, từ giữa 6030’ - 12000’

vĩ độ Bắc và 1110

30 - 117020’ kinh độ Đông [159, tr.111]

Về thời gian, luận án nghiên cứu giai đoạn từ năm 1988 đến nay (2020),

dự báo đến năm 2028 Năm 1988 gắn với sự kiện Trung Quốc đưa lực lượng xuống chiếm đóng một số thực thể ở QĐTS, tạo ra cục diện mới trong tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS và năm 2028 là vừa tròn 40 năm sau sự kiện này Việc phân chia các giai đoạn (1988 - 1995, 1996 - 2008, 2009 -

2015, 2016 - 2020) gắn với hoạt động xâm chiếm của Trung Quốc ở QĐTS (1988, 1995), các bên đệ trình báo cáo xác lập thềm lục địa lên CLCS (2009), PCA ra phán quyết cuối cùng về vụ kiện Trung Quốc của Philippines liên quan đến vấn đề Biển Đông (2016) và cuộc chiến pháp lý mới giữa các bên từ năm 2016 đến nay

Trang 24

5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Về cách tiếp cận

Luận án được tiếp cận dựa trên những luận thuyết cơ bản của Chủ nghĩa hiện thực, lấy lợi ích quốc gia và quyền lực làm công cụ chính để phân tích, luận giải về nguồn gốc, bản chất tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS từ năm

1988 đến nay và tác động của vấn đề này đối với thế giới, khu vực và Việt Nam,

từ đó đánh giá, dự báo diễn tiến tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS đến năm 2028 Bên cạnh đó, trong một số vấn đề cụ thể, luận án có vận dụng một số luận thuyết của Chủ nghĩa tự do, Chủ nghĩa kiến tạo… nhằm làm rõ bản chất của vấn đề nghiên cứu, từ đó đưa ra một số khuyến nghị đối với Đảng, Nhà nước

trong bảo vệ chủ quyền, lợi ích của Việt Nam ở QĐTS

5.2 Về phương pháp luận

Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước về chủ quyền, lợi ích của Việt Nam ở Biển Đông

Lê-5.3 Về phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình triển khai nghiên cứu, luận án sẽ sử dụng tổng hợp các phương pháp, trong đó sử dụng chủ yếu các phương pháp sau:

Phương pháp nghiên cứu lịch sử, so sánh: luận án nghiên cứu quá trình tranh chấp ở QĐTS theo tiến trình lịch sử, so sánh các giai đoạn trong tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS dưới góc độ quan hệ quốc tế, từ đó tìm ra bản chất, đặc trưng của mỗi giai đoạn và toàn bộ quá trình tranh chấp chủ quyền giữa các bên, nhất là từ năm 1988 đến nay (2020)

Phương pháp phân tích, tổng hợp: khảo sát, tìm kiếm, thu thập gần 200 đầu tài liệu, trên cơ sở đó phân tích, so sánh số liệu, sự kiện có liên quan đến từng nội dung, vấn đề nghiên cứu, từ đó đánh giá, tổng hợp rút ra những vấn đề khoa học về nội dung nghiên cứu tại Chương 2 và Chương 3 của luận án

Phương pháp hệ thống - cấu trúc: luận án nghiên cứu, hệ thống, phân tích

Trang 25

các vấn đề về cơ sở lý luận và các nhân tố tác động đến tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS trong từng giai đoạn và toàn bộ quá trình tranh chấp chủ quyền giữa các bên từ năm 1988 đến nay (2020)

Phương pháp dự báo: trên cơ sở thực trạng tranh chấp ở Chương 2, kết hợp với đánh giá ở Chương 3 và tư duy khoa học, lôgíc, cộng với sự tổng hợp các phân tích, dự báo của các chuyên gia, học giả có uy tín để dự báo các kịch bản có thể xảy

ra trong tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS đến năm 2028

6 Nguồn tài liệu

Các văn kiện, tài liệu tuyên bố chính thức của các bên có tranh chấp ở QĐTS Các tài liệu do các nhà xuất bản có uy tín xuất bản liên quan đến tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS

Các tuyên bố, phát ngôn của Bộ Ngoại giao, tuyên bố của các lãnh đạo, quan chức cao cấp

Các công trình nghiên cứu đã công bố của các tác giả trong và ngoài nước Các tài liệu được đăng trên các tạp chí uy tín trong và ngoài nước

7 Đóng góp của luận án

Về khoa học, luận án là công trình nghiên cứu khoa học về toàn bộ quá trình

chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS từ năm 1988 đến nay và được tiếp cận dưới góc độ liên ngành, cả trên phương diện lịch sử, chính trị, quan hệ quốc tế, kinh tế, pháp lý và quân sự Với phương pháp và cách tiếp cận trên, luận án tập trung luận giải, làm rõ nguồn gốc, bản chất, thực trạng quá trình tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS từ năm 1988 đến nay, đồng thời đánh giá tác động, dự báo các kịch bản

có thể xảy ra đối với tranh chấp chủ quyền ở QĐTS đến năm 2028, từ đó đưa ra các khuyến nghị về giải pháp để thúc đẩy giải quyết tranh chấp, bảo vệ chủ quyền, lợi ích của Việt Nam ở QĐTS, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định khu vực

Về ý nghĩa thực tiễn: (i) Luận án làm rõ bản chất tranh chấp chủ quyền giữa

các bên ở QĐTS từ năm 1988 đến nay; đánh giá và đưa ra một số kịch bản có thể xảy ra trong tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS đến năm 2028, từ đó

Trang 26

đưa ra một số khuyến nghị đối với Đảng, Nhà nước trong thúc đẩy giải quyết tranh chấp, bảo vệ chủ quyền, lợi ích của Việt Nam ở QĐTS và vùng biển lân cận, góp phần giảm bớt căng thẳng ở Biển Đông, giữ vững môi trường hòa bình,

ổn định trong khu vực; (ii) Luận án là tài liệu có giá trị tham khảo cho quá trình đấu tranh, bảo vệ chủ quyền, lợi ích của Việt Nam ở QĐTS, Biển Đông và trong nghiên cứu, giảng dạy môn Địa chính trị và Quan hệ quốc tế

Chương 2: Thực trạng tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS 2020) Trong chương này, luận án nghiên cứu làm rõ quan điểm, yêu sách chủ quyền của các bên và thực trạng tranh chấp chủ quyền giữa các bên đối với một số đảo đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm ở QĐTS từ năm 1988 đến năm 2020; tác động của tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS đối với thế giới, khu vực và Việt Nam Chương 3: Tác động, dự báo tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS đến năm 2028 và khuyến nghị Trong chương này, luận án tập trung nghiên cứu, dự báo các nhân tố tác động, từ đó dự báo kịch bản có thể xảy ra trong tranh chấp chủ quyền ở QĐTS trong thời gian tới Qua đó đưa ra các giải pháp góp phần giải quyết tranh chấp, quản lý xung đột ở QĐTS và một số khuyến nghị đối với Việt Nam trong thúc đẩy giải quyết tranh chấp, bảo vệ tối đa chủ quyền và lợi ích của Việt Nam ở QĐTS, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực

Trang 27

1.1.1.1 Đảo, đảo đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm

Theo Công ước LHQ về luật biển năm 1982 (UNCLOS-1982):

Đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, nổi lên khỏi mặt nước khi thủy triều lên và thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng Với điều kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hòn đảo được hoạch định theo đúng các quy định của UNCLOS-

1982 áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác (Điều 121) [132]

Đảo đá (đá) là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước nhưng không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng, thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa (Điều 121) [132]

Bãi cạn lúc nổi lúc chìm là những vùng đất nhô cao tự nhiên có biển bao quanh, khi thủy triều xuống thấp thì lộ ra, khi thủy triều lên cao thì bị ngập nước Khi toàn bộ hay một phần bãi cạn đó ở cách lục địa hoặc một đảo một khoảng cách không vượt quá chiều rộng của lãnh hải, thì ngấn nước triều thấp nhất ở trên các bãi cạn này có thể được dùng làm đường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải Khi các bãi cạn lúc nổi lúc chìm hoàn toàn ở cách lục địa hoặc một đảo một khoảng cách vượt quá chiều rộng của lãnh hải, thì bãi cạn lúc nổi lúc chìm không có lãnh hải riêng (Điều 14) [132]

1.1.1.2 Quần đảo, Quần đảo Trường Sa

Quần đảo (Archipel) là một tổng thể các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau đến mức tạo thành về thực chất một thể thống nhất về địa lý, kinh tế và chính trị, hay

Trang 28

được coi như thế về mặt lịch sử (Điều 46, UNCLOS-1982) [132] Một quốc gia quần đảo có thể vạch các đường cơ sở thẳng của quần đảo nối liền các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá lúc chìm lúc nổi của quần đảo, với điều kiện

là tuyến các đường cơ sở này bao lấy các đảo chủ yếu và xác lập một khu vực mà tỉ

lệ diện tích nước đó với đất, kể cả vành đai san hô, phải ở giữa tỉ lệ 1/1 và 9/1 (Điều

47, UNCLOS-1982) [132] Theo đó, quần đảo chỉ được thiết lập bởi quốc gia quần đảo và có vùng nội thủy, vùng nước quần đảo, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được hoạch định theo đúng các quy định của UNCLOS-1982 Trong đó, vùng nước quần đảo là vùng biển nằm bên trong của đường cơ sở quần đảo dùng để tính chiều rộng lãnh hải và do quốc gia quần đảo ấn định; các vùng lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia quần đảo đều được tính từ đường cơ sở của quần đảo

QĐTS là tên gọi của Việt Nam, còn người Pháp gọi là Îles Spratly; người Nhật Bản gọi là Nansa shotō; người Anh, người Mỹ và tên quốc tế là Spratly Islands; Trung Quốc và Đài Loan gọi toàn bộ khu vực phía nam “đường lưỡi bò” là “Quần đảo Nam Sa/Nan sha qun dao) bao trùm toàn bộ QĐTS và một số vùng biển lân cận, trong đó có khu vực DK-1; Philippines gọi phần phía Tây, Tây Bắc của QĐTS

là “Nhóm đảo Kalayaan” Đó là những dãy đảo, đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm, bãi ngầm nằm trong khu vực từ giữa 06030’ - 12000’ vĩ độ Bắc và 1110

30 - 117020’kinh độ Đông, cách Cam Ranh/Việt Nam khoảng 450 km về phía Đông, cách đảo Hải Nam/Trung Quốc khoảng 1.100 km về phía Nam Với hàng trăm đảo, đá, bãi lúc nổi lúc chìm, trong đó có trên 100 đảo, đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm được đặt tên

và chia thành 8 cụm (Song Tử, Sinh Tồn, Thị Tứ, Trường Sa, Loại Ta, Thám Hiểm, Nam Yết, Bình Nguyên) nằm trải trên một vùng biển rộng lớn khoảng 160 - 180.000 km2, với tổng diện tích nổi khoảng 10 km2, trong đó đảo lớn nhất là Ba Bình, rộng khoảng 0,5 km2 [159, tr.111] (xem phụ lục 1)

Theo Luật biển Việt Nam năm 2012, QĐTS là “quần đảo thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam (Điều 1), là một tập hợp

Trang 29

các đảo, bao gồm cả bộ phận của các đảo, vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau, thuộc chủ quyền của Việt Nam và là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam (Điều 19) Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền trên đảo, quần đảo của Việt Nam, trong đó có QĐTS và chế độ pháp lý của QĐTS “được thực hiện theo quy định tại các điều 10, 12, 14, 16 và 18 của Luật này” (Điều 21), nhưng nếu “khác với quy định của điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó” (Mục 2, Điều 2) [22]

Theo đó thuật ngữ “QĐTS” sử dụng trong đề tài là tên riêng của Việt Nam để chỉ những dãy đảo, đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm, bãi ngầm nằm trong khu vực từ giữa 6030’ - 12000’ vĩ độ Bắc và 1110

30 - 117020’ kinh độ Đông Việc xác định chế

độ pháp lý của QĐTS và các đảo, đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm thuộc quần đảo này tuân theo Luật biển Việt Nam năm 2012 và các quy định của điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên, trong đó có UNCLOS-1982

Theo phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế trong vụ kiện Trung Quốc của Philippines (2016), các đảo, đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm, bãi ngầm ở QĐTS “không thể cùng nhau tạo ra các vùng biển như một thực thể thống nhất”, không có thực thể nào ở QĐTS có đủ tiêu chuẩn là “đảo” theo UNCLOS-1982 Các thực thể ở QĐTS tối đa chỉ được hưởng quy chế pháp lý của “đảo đá” theo UNCLOS-1982, nghĩa là tối đa chỉ có lãnh hải 12 hải lý, không có EEZ và thềm lục địa [18]

1.1.1.3 Tranh chấp, tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở Quần đảo Trường Sa

Theo từ điển Black’s Law thì “Tranh chấp là sự mâu thuẫn hoặc tranh cãi (bất đồng), sự mâu thuẫn về các yêu cầu hay quyền, sự đòi hỏi về quyền, yêu cầu hay đòi hỏi từ một bên được đáp trả lại bởi một yêu cầu hay lý luận trái ngược của bên kia” [26, tr.27]

Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam xuất bản năm 1992, “Tranh chấp là đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa các bên” [26, tr.27]

Trang 30

Theo bản tiếng Anh phán quyết của Tòa ICJ ngày 30 tháng 8 năm 1924 trong

vụ Mavrommatis Palestine Concessions giữa Hi Lạp và Anh: “Một tranh chấp là một sự bất đồng về một vấn đề pháp lý hay thực tế, một sự xung đột về quan điểm pháp lý hay lợi ích giữa hai bên” Trong bản tiếng Pháp, phán quyết này nêu rõ

“Một tranh chấp là một sự bất đồng, mâu thuẫn về một vấn đề pháp lý hay thực tế, một sự xung đột về quan điểm pháp lý hay lợi ích giữa hai bên” [71]

Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là quyền tối cao của một quốc gia đối với lãnh thổ của mình Lãnh thổ quốc gia bao gồm: vùng đất, vùng nước, vùng lòng đất và vùng trời Chủ quyền quốc gia được thể hiện rõ trên bốn quyền cơ bản là: quyền sở hữu đặc quyền một lãnh thổ cụ thể; thẩm quyền với dân cư xác định; thẩm quyền chính trị để cai trị trên lãnh thổ mà không có sự can thiệp của nước ngoài; khả năng điều tiết mọi hoạt động trên lãnh thổ [26, tr.31]

Như vậy, tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS là tranh chấp chủ quyền nảy sinh do xung đột về quan điểm pháp lý giữa 5 nước 6 bên (Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan) trong đưa ra yêu sách chủ quyền đối với các đảo, đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm ở khu vực QĐTS Đối tượng tranh chấp là các đảo, đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm ở khu vực QĐTS Chủ thể tranh chấp

là các quốc gia, vùng lãnh thổ, bao gồm: Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan

1.1.2 Tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở Quần đảo Trường Sa dưới góc độ tiếp cận của một số trường phái lý thuyết quan hệ quốc tế

1.1.2.1 Chủ nghĩa hiện thực

Chủ nghĩa hiện thực cho rằng, “các quốc gia lo lắng về lợi ích của mình thường xuyên cạnh tranh nhau vì quyền lực hoặc an ninh” [157, tr.11] và tranh chấp, xung đột, chiến tranh là “tình trạng tự nhiên trong môi trường chính trị quốc tế, cách chắc chắn nhất để loại bỏ chiến tranh là loại bỏ chính trị quốc tế” [157, tr.88] Khi bàn về nguyên tắc chung của chính quyền, George Wahington cho rằng “lợi ích là nguyên tắc chỉ đạo”, còn Max Weber nhận xét, lợi ích trực tiếp chi phối hành vi của con

Trang 31

người” [157, tr.41] Khi bàn về sức mạnh quốc gia, Alfred Thayer Mahan (1840-1991) người Mỹ cho rằng, sức mạnh trên biển mới giúp các nước trở thành cường quốc chứ không phải sức mạnh trên đất liền Việc Trung Quốc theo đuổi mục tiêu phát triển thành cường quốc biển cũng không nằm ngoài luận thuyết này [115]

Theo đó, xét cho đến cùng thì nguyên nhân dẫn đến tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS cũng là lợi ích và vì lợi ích mà các bên cạnh tranh nhau về quyền lực và an ninh Trở lại lịch sử, khi khoa học kỹ thuật, công nghệ chưa phát triển, các quốc gia, vùng lãnh thổ chưa nhận thức rõ vị trí tầm quan trọng của QĐTS, lợi ích và các mối đe dọa về lợi ích, an ninh từ khu vực QĐTS đến các nước ven biển còn ít, khi

đó các cuộc xung đột, va chạm ở QĐTS gần như không có Khi khoa học, kỹ thuật, công nghệ phát triển, nhất là sau Chiến tranh thế giới thứ 2, tư duy của các nước về vai trò của biển và đại dương có sự thay đổi Các nước trong và ngoài khu vực ngày càng nhận thức rõ vị trí địa chính trị, địa chiến lược vô cùng quan trọng của QĐTS đối với sự phát triển, ảnh hưởng của quốc gia trong khu vực và thế giới Nhận thức về các mối đe dọa về chủ quyền, lợi ích quốc gia đến từ hướng biển cũng được các nước nhận thức rõ ràng hơn Chủ quyền, lợi ích ở QĐTS ngày càng được các nước quan tâm hơn Nhưng cũng chính vì thế mà tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS ngày một gia tăng, phức tạp, khó giải quyết, nhất là từ năm 1988 đến nay

Tiếp cận dưới góc độ của các học giả theo trường phái Chủ nghĩa hiện thực, thì hành vi của quốc gia trong tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS cũng xuất phát từ sự lo sợ về nhau, “nghĩ về nhau với sự nghi ngờ, lo ngại rằng chiến tranh sắp bùng nổ và dự liệu hiểm nguy, có một khoảng rất ít dành cho sự tin cậy giữa các nước” [157, tr.67]

Theo đó, trong tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS, các bên có tranh chấp luôn lo lắng đến chủ quyền và lợi ích của mình ở QĐTS, nghi ngại các bên còn lại có thể có các hành động gây phương hại đến chủ quyền và lợi ích của mình, nên không ngừng gia tăng các hoạt động để bảo vệ chủ quyền, lợi ích ở QĐTS Tuy nhiên, chính các hoạt động này lại làm gia tăng sự nghi ngờ lẫn nhau, là một trong

Trang 32

những nguyên nhân chính khiến tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS ngày càng diễn biến phức tạp Trong đó, Trung Quốc lo ngại các bên lôi kéo các nước ngoài khu vực, nhất là Mỹ và đồng minh vào vấn đề Biển Đông để bao vây, kiềm chế, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc Các bên còn lại thì nghi ngại rằng, các tuyên bố và hành động ngày một cứng rắn của Trung Quốc ở QĐTS và vùng biển lân cận sẽ ảnh hưởng đến chủ quyền và lợi ích của mình Điều này dẫn đến sự chạy đua quyền lực, vũ trang trong tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS, coi sức mạnh quân sự, quốc phòng là một trong những trụ cột của an ninh quốc gia, là cách thức để

hỗ trợ tìm kiếm giải pháp hòa bình trong giải quyết tranh chấp chủ quyền ở QĐTS Theo đó, Trung Quốc ngày một cứng rắn hơn, quyết liệt hơn trong cản phá hoạt động của các bên và ngăn chặn sự can thiệp của Mỹ và đồng minh vào vấn đề Biển Đông, nhất là đối với khu vực QĐTS Các bên còn lại cũng tiến hành nhiều biện pháp, cách thức khác nhau nhằm “cân bằng quyền lực”, bảo vệ chủ quyền, lợi ích ở QĐTS Hệ lụy là, tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS ngày càng diễn biến phức tạp, khó giải quyết cho dù các bên đã tiến hành nhiều cuộc trao đổi, đàm phán về vấn đề này Tuy nhiên, khi luận giải về vấn đề hợp tác trong quan hệ quốc tế, các học giả hiện thực lại cho rằng, trong quan hệ quốc tế hòa bình, hợp tác chỉ là tạm thời, được duy trì chỉ vì lợi ích ích kỷ của các nước và không có sự hợp tác giữa các nước lớn,

vì “suy cho cùng, các nước lớn sống trong một thế giới cạnh tranh là chính, trong đó các nước coi nhau là kẻ thù thực sự hoặc tiềm tàng, và do đó giành giật sức mạnh từ tay người khác” [157, tr.83] Nguyên nhân là, khi tính toán đến hợp tác, các quốc gia đều phải tính đến lợi ích tương đối hoặc lợi ích tuyệt đối của họ, lo lắng về tối

đa hóa lợi ích của họ, nhưng không lo nhiều đến lợi ích của bên kia, thậm chí “còn

so bì phần lợi của mình lớn/bé thế nào với phần của nước khác” [157, tr.83] Biện pháp duy nhất buộc các nước phải hợp tác với nhau là duy trì sự cân bằng quyền lực giữa các quốc gia bằng sức mạnh, ngăn chặn không để bất cứ quốc gia nào nắm ưu thế quyền lực là cách phòng ngừa xung đột tốt nhất trong quan hệ quốc tế

Trang 33

Như vậy, theo cách tiếp cận của các học giả hiện thực thì trong giải quyết tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS, các bên luôn lo lắng về chủ quyền và lợi ích ở QĐTS sẽ được chia như thế nào và làm thế nào để giành được chủ quyền và lợi ích lớn hơn trong tranh chấp giữa các bên ở QĐTS, khiến vấn đề hợp tác giữa các bên trong giải quyết tranh chấp ở QĐTS gặp khó khăn và khó có kết quả thực chất

1.1.2.2 Chủ nghĩa tự do

Các học giả tự do cho rằng, các quốc gia “lo lắng về quyền lực là cùng thứ hạng so với tính toán về kinh tế và chính trị” và luôn có sự “phụ thuộc lẫn nhau một cách phức hợp”; công cụ để giải quyết các mối quan hệ quốc tế không chỉ có quyền lực kinh tế, sức mạnh quân sự, mà còn nhiều công cụ khác, trong đó “sự phụ thuộc lẫn nhau phức hợp đóng vai trò quan trọng và sự hợp tác được thể chế hóa đang trở thành quy chuẩn” [157, tr.11, 119-140]

Theo đó, đối với tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS, các bên luôn

“phụ thuộc lẫn nhau một cách phức hợp” và có thể “hợp tác” với nhau để cùng tìm kiếm các giải pháp nhằm quản lý xung đột, tranh chấp, chiến tranh xảy ra và không nhất thiết phải sử dụng các biện pháp quân sự, răn đe quân sự, gây sức ép về kinh tế Tiếp cận dưới góc độ của các học giả tự do về “sự phụ thuộc lẫn nhau phức hợp” trong tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS cũng có ba đặc trưng cơ bản sau:

Một là, các quan hệ xuyên quốc gia có vai trò vô cùng quan trọng, mang đến

nhiều kênh kết nối xã hội đa dạng từ các liên hệ chính thức và không chính thức giữa các thành viên chính phủ tới các ràng buộc không chính thức giữa các tầng lớp

ưu tú phi chính phủ của các bên có tranh chấp chủ quyền ở QĐTS

Hai là, chương trình nghị sự giữa các bên bao gồm nhiều vấn đề và không

được sắp xếp theo một hệ thống thứ bậc rõ ràng hoặc nhất quán và an ninh không phải là mục đích duy nhất tối thượng trong quan hệ giữa các bên có tranh chấp chủ

quyền ở QĐTS

Ba là, sức mạnh quân sự không phải là công cụ hàng đầu để giải quyết tranh

chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS, mà các quyền lực khác mới là trọng tâm

Trang 34

Luận giải về vấn đề hợp tác trong chính trị quốc tế, các học giả tự do cho rằng, hòa bình, hợp tác là bản chất, là thuộc tính khách quan thường trực của nền chính trị thế giới Chiến tranh, xung đột là hiện tượng phi lý, phản tự nhiên, là cái bất bình thường, phản quy luật và không phải là thuộc tính thường trực của nền chính trị thế giới và cách tốt nhất để chữa trị căn bệnh xung đột và chiến tranh trong quan hệ quốc tế là hợp tác Theo đó, vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS cũng là hiện tượng phi lý, phản tự nhiên, là cái bất bình thường, phản quy luật và không phải là thuộc tính thường trực của nền chính trị thế giới và cách tốt nhất để giải quyết tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS là hợp tác Sử dụng các biện pháp quân sự, răn đe quân sự, gây sức ép về kinh tế không phải là công cụ hàng đầu

để giải quyết tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS, mà các quyền lực khác mới là trọng tâm, trong đó hợp tác tìm kiếm các giải pháp nhằm quản lý xung đột, ngăn chặn nguy cơ xảy ra chiến tranh luôn được quan tâm hàng đầu và các quan hệ xuyên quốc gia có vai trò vô cùng quan trọng [157, tr.140]

1.1.2.3 Chủ nghĩa kiến tạo

Các học giả kiến tạo cho rằng, “bản sắc, các chuẩn tắc, niềm tin và các giá trị cũng mang tính cấu trúc và tạo nên ảnh hưởng mạnh mẽ lên các hoạt động chính trị -

xã hội”; hành vi của các quốc gia được tạo ra bởi niềm tin của giới tinh hoa, chuẩn mực tập thể và bản sắc xã hội và “chỉ có ý nghĩa trong bối cảnh xã hội liên chủ quan”; bản sắc và lợi ích trong chính trị quốc tế là rất cần thiết, là biến số trung tâm, là sản phẩm của thực tiễn xã hội; “sức mạnh của thực tiễn xã hội nằm ở khả năng tái tạo liên chủ quan vốn cấu thành nên cả cấu trúc xã hội lẫn chủ thể” [157, tr.11, 258-262]

Theo đó, hành vi của các bên trong tranh chấp chủ quyền ở QĐTS cũng được tạo ra bởi “niềm tin của giới tinh hoa, chuẩn mực tập thể và bản sắc xã hội” và được

cụ thể hóa trong quan điểm, chủ trương, chính sách và cách thức ứng xử của các bên, trong đó vai trò của giới lãnh đạo là quan trọng hàng đầu Do vậy, khi nghiên cứu, đánh giá các vấn đề liên quan đến tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS cần gắn với bối cảnh lịch sử cụ thể của các yếu tố liên quan, trong đó có tình hình thế giới, khu vực và các bên có tranh chấp

Trang 35

Tiếp cận dưới góc độ của các học giả kiến tạo về “bản sắc và lợi ích” trong tranh chấp ở QĐTS, thì “bản sắc” cũng “rất cần thiết”, nó bao hàm những “ưu tiên

và hành vi tương ứng” của các bên và “lợi ích là biến số trung tâm, là sản phẩm của bản sắc” Việc nhận thức về hành vi của các bên trong tranh chấp chủ quyền ở QĐTS cũng “tùy theo bản sắc mà quốc gia đó gán cho quốc gia khác” và nó cũng tái lập bản sắc của chính bên nhận thức thông qua thực tiễn xã hội hàng ngày [157, tr.260-261] Do vậy, việc nghiên cứu, đánh giá về hành vi của mỗi bên trong tranh chấp chủ quyền ở QĐTS cần phải gắn với “bản sắc” và lợi ích của họ trong bối cảnh thực tiễn xã hội cụ thể, vì mỗi quốc gia có một bản sắc riêng và bản sắc này sẽ định hình các mục tiêu mà quốc gia đó theo đuổi

Luận giải về sức mạnh của thực tiễn, các học giả kiến tạo cho rằng, “sức mạnh của thực tiễn xã hội nằm ở khả năng tái tạo liên chủ quan vốn cấu thành nên cả cấu trúc xã hội lẫn chủ thể” [157, tr.262] Theo đó, hành vi của các bên trong thực tiễn tranh chấp chủ quyền ở QĐTS sẽ tương thích với một loạt các bản sắc của chính họ Thông qua việc quan sát các hành vi có thể thấy rõ được bản sắc của các bên trong tranh chấp chủ quyền ở QĐTS Hay nói cách khác, thực tiễn tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS không chỉ tái tạo bản sắc của các bên mà còn tái tạo cả một cấu trúc xã hội dựa trên thực tiễn tranh chấp và hành vi của các bên trong tranh chấp chủ quyền ở QĐTS Điều này được tạo ra bởi niềm tin của giới tinh hoa, chuẩn mực tập thể và bản sắc xã hội và cụ thể hóa trong quan điểm, chủ trương, chính sách và cách ứng xử của các bên đối với tranh chấp chủ quyền ở QĐTS Bởi vì, hành vi của các bên luôn tương thích với bản sắc của họ và thông qua hành vi có thể thấy rõ được bản sắc của các bên trong tranh chấp chủ quyền ở QĐTS

Như vậy có thể thấy rằng, xét đến cùng thì bản chất tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS là sự tranh giành lợi ích giữa các bên Do đó, luận án sẽ được tiếp cận chủ yếu dựa vào các luận thuyết của Chủ nghĩa hiện thực, lấy quyền lực và lợi ích quốc gia làm công cụ chính để phân tích, luận giải, làm rõ nguồn gốc, bản chất của tranh chấp ở QĐTS và tác động của vấn đề này đối với Việt Nam và khu vực, từ

Trang 36

đó đánh giá, dự báo tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở QĐTS đến năm 2028 Bên cạnh đó, luận án cũng sử dụng một số luận thuyết của Chủ nghĩa tự do và Chủ nghĩa kiến tạo để làm sâu sắc một số vấn đề nghiên cứu cụ thể nhằm tìm ra các giải pháp giải quyết tranh chấp, quản lý xung đột ở QĐTS, bảo vệ tối đa chủ quyền, lợi ích biển đảo của Việt Nam, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Nguồn gốc tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở Quần đảo Trường Sa

1.2.1.1 Vai trò chiến lược của biển và đại dương

Trong lịch sử phát triển của thế giới, biển và đại dương luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng

Thứ nhất về yếu tố tự nhiên, biển và đại dương có vai trò cực kỳ quan trọng

với đời sống con người Chiếm 2/3 diện tích vỏ trái đất, biển và đại dương không những là môi trường sống của hàng vạn loài động thực vật cung cấp lượng tài nguyên vô cùng quan trọng đối với đời sống con người mà còn là một cỗ máy điều hoà nhiệt độ khổng lồ cho nhân loại, cung cấp nguồn hơi nước vô tận cho khí quyển, sinh ra mây mưa để duy trì cuộc sống của con người và tất cả các loài sinh vật, đồng thời là nơi dự trữ cuối cùng về tài nguyên thiên nhiên [107, tr.45] Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ… thì nhu cầu về tài nguyên của các nước trên thế giới cũng ngày một gia tăng, trong khi nguồn tài nguyên trên đất liền khai thác ngày càng cạn kiệt Do đó, việc hướng ra đại dương, tìm kiếm các nguồn tài nguyên mới để đáp ứng nhu cầu phát triển là nhu cầu tất yếu khách quan, không chỉ đối với các nước ven biển mà tất cả các nước trên thế giới Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học, công nghệ đã giúp các quốc gia nâng cao khả năng khám phá, khai thác các nguồn tài nguyên ở biển và đại dương, nhất là các nước lớn, các nước có trình độ khoa học công nghệ phát triển hơn, làm nảy sinh nhiều va chạm, tranh chấp mới liên quan đến chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các đảo, đá, bãi ngầm lúc nổi lúc chìm, vùng trời, vùng nước, vùng đáy biển của biển và đại dương

Trang 37

Thứ hai về kinh tế, thương mại, biển và đại dương có vai trò quan trọng trong

việc phát triển kinh tế, thương mại thế giới Với nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú và đa dạng với trữ lượng lớn, biển và đại dương không chỉ là nơi cung ứng các vật phẩm có giá trị giúp nuôi sống, tạo công ăn việc làm cho hàng tỉ người dân trên trái đất mà còn là nơi mang lại những nguồn tài nguyên vô cùng quý giá với trữ lượng lớn mang lại những lợi ích kinh tế, chính trị to lớn cho các quốc gia ven biển Với diện tích bề mặt chiếm 70,8% diện tích bề mặt trái đất [107, tr.10], biển và đại dương là nơi kết nối giao thông đường thủy thuận lợi nhất giữa các châu lục, có ý nghĩa to lớn trong thúc đẩy phát triển thương mại, nhất là khi trình độ khoa học còn chưa thực sự bùng nổ Với lợi thế không bị chia cắt theo địa giới quốc gia, có thể tận dụng sức gió và sự chuyển động của các dòng hải lưu, việc vận chuyển hàng hóa thương mại thông qua các tuyến giao thông hàng hải đã mang lại những lợi ích to lớn cho nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia có ngành khoa học đóng tàu phát triển

Thứ ba về chính trị, quân sự, biển và đại dương đã giúp con người khám phá

ra các châu lục trên thế giới, giúp các quốc gia có lực lượng Hải quân phát triển đi xâm chiếm các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới và mở rộng thuộc địa ra ngoài khu vực, thậm chí trên toàn thế giới Với sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại, khả năng chinh phục và tác chiến trên mặt biển của các cường quốc biển ngày càng cao, mọi hoạt động tập trung, di chuyển quân, bố trí lực lượng chiến lược đều nằm dưới sự giám sát chặt chẽ và chính xác của vệ tinh quân sự do các cường quốc phóng lên Việc xây dựng các căn cứ quân sự dưới đáy biển, đại dương và phát triển các loại vũ khí, phương tiện, trang bị có thể hoạt động, di chuyển dưới mặt nước biển phần nào đã mang lại những lợi thế nhất định cho các nước ven biển

và các nước lớn, các nước có tham vọng “lãnh đạo” thế giới Việc tận dụng những lợi thế của biển và đại dương đã mang lại nhiều lợi thế chiến lược cho các quốc gia ven biển, các quốc gia có lực lượng Hải quân phát triển trong tác chiến trên biển trong bảo vệ chủ quyền, lợi ích và tham vọng của họ ở biển và đại dương

Trang 38

Thứ tư là về thực tiễn phát triển của nhân loại, phần lớn các quốc gia có

những bước phát triển đột phá, trở thành các cường quốc trên thế giới đều gắn liền với biển và đại dương, như các nước cộng hòa hàng hải ở miền Bắc và miền Trung bán đảo Italia ở thế kỷ XIV - XV, Anh thế kỷ XVII - XVIII, Nhật Bản vào nửa cuối thế kỷ XX, hay Mỹ, Singapores hiện nay [107, tr.8] Các bên có tranh chấp ở QĐTS cũng dần nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của biển và đại dương đối với sự phát triển đất nước, nên đã đưa ra nhiều tuyên bố khẳng định chủ quyền, lợi ích ở QĐTS, thậm chí đưa lực lượng đến chiếm đóng một số thực thể ở khu vực này, khiến vấn

đề tranh chấp chủ quyền ở QĐTS ngày càng diễn biến phức tạp

Như vậy có thể thấy rằng, biển và đại dương luôn có vai trò hết sức quan trọng đối với nhân loại và sự phát triển của mỗi quốc gia, nhất là các quốc gia ven biển, trong đó có các bên tranh chấp chủ quyền ở QĐTS Điều này vừa thúc đẩy các quốc gia có tranh chấp ở QĐTS tìm tòi, sáng tạo cách thức khai thác biển, vừa làm gia tăng căng thẳng ở QĐTS khi các bên coi trọng quá mức đến chủ quyền và lợi ích của mình mà không quan chiếu đến chủ quyền và lợi ích của các quốc gia khác Theo đó, các quốc gia có biển, nhất là các bên có tranh chấp ở QĐTS cần xem xét, nhận thức một cách toàn diện lại về vị trí vai trò của biển và đại dương đối với sự phát triển của quốc gia mình, đồng thời quan tâm đến chủ quyền, lợi ích của các quốc gia khá, từ đó điều chỉnh yêu sách của mình phù hợp thực tiễn, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu

1.2.1.2 Tầm quan trọng của Quần đảo Trường Sa đối với các nước trong và ngoài khu vực

Thứ nhất về địa chiến lược, QĐTS là nằm ở khu vực có vị trí địa chiến lược đặc

biệt quan trọng tại trung tâm của Biển Đông với một vùng biển rộng lớn (160 - 180.000 km2), là cầu nối giữa các nước Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên) với các nước trên thế giới Các đảo đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm và vùng nước lân cận ở khu vực QĐTS có vai trò đặc biệt quan trọng, là nơi án ngữ hầu hết các tuyến đường giao thông đường biển, đường không huyết mạch đi qua Biển

Trang 39

Đông Do vậy, giành quyền kiểm soát, khống chế được khu vực QĐTS sẽ khống chế, kiểm soát được toàn bộ Biển Đông, kiểm soát được nhiều tuyến giao thông hàng hải, hàng không quan trọng bậc nhất thế giới, kiểm soát được phần lớn tuyến đường giao thông đường biển biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, châu

Âu - châu Á, Trung Đông - châu Á, kiểm soát được con đường vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản,

Hàn Quốc và Trung Quốc Đặc biệt về quân sự, QĐTS là một khu vực có giá trị

chiến lược, quyết định việc kiểm soát toàn bộ các tuyến giao thông hàng hải đi qua Biển Đông Do có hàng trăm đảo đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm và vô số các mỏm đá ngầm nằm sâu dưới mực nước biển ở khu vực có độ muối đậm đặc cao, hạn chế được

sự theo dõi của các thiết bị định vị thủy âm, tạo điều kiện thuận lợi cho tàu ngầm hoạt động Do vậy, đây thực sự là “một vùng nguy hiểm” đối với các tàu thuyền thương mại thông thường, nhưng cũng chính là nơi có nhiều tuyến hàng hải bí mật cả trên mặt nước lẫn ngầm sâu dưới mực nước biển mà nhiều cường quốc lớn đã khám phá

và đưa vào sử dụng phục vụ mục đích quân sự, trong đó có Anh, Nhật Bản, Mỹ và Hải quân Anh đã phát hiện ra một tuyến đường an toàn đi qua khu vực này theo

hướng Bắc-Nam [173, tr.26]

Thứ hai về tài nguyên, QĐTS là khu vực có nguồn tài nguyên phong phú, đa

dạng Về tài nguyên sinh vật, theo số liệu nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hải sản/Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn năm 2004, tổng trữ lượng các loài hải sản tại khu vực QĐTS, khoảng 181.584 tấn và có khả năng cho phép khai thác khoảng 89.464 tấn, trong đó trữ lượng cá đáy và gần đáy ở khu vực này khoảng 124.897 tấn và khả năng khai thác cho phép đạt tới 62.244 tấn Lượng cá nổi sống ở tầng nước sâu và gần đáy biển chiếm 23,84% tương đương khoảng 14.838 tấn và lượng cá đáy chiếm 76,16% tương đương khoảng 42.406 tấn Riêng cá nổi sống trong tầng nước từ 45 m lên đến mặt nước có khoảng 56.705 tấn và khả năng khai thác cho phép tới 27.220 tấn [67, tr.31], trong đó có nhiều lọai cho sản lượng và giá trị kinh tế cao như: mực nang, cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to, cá thu ngàng, hàu,

Trang 40

hải sâm… Về tài nguyên phi sinh vật, vì nhiều lý do khác nhau, các đánh giá về trữ lượng nguồn tài nguyên phi sinh vật ở khu vực QĐTS cũng khác nhau, đặc biệt là các đánh giá liên quan đến trữ lượng dầu khí, khí đốt Năm 1988, các nhà địa chất

Mỹ ước tính trữ lượng dầu khí ở khu vực quần đảo Trường Sa khoảng 2 - 16 tỷ thùng Tuy nhiên, theo công trình “điều tra nghiên cứu khoa học tổng hợp về QĐTS (Trung Quốc gọi là Nam Sa) và vùng biển phụ cận” do Trung Quốc công bố năm

2003, vùng biển này có trữ lượng khoảng 41 tỉ 90 ngàn tấn dầu, 8 - 19 tỉ m3 khí đốt, trong đó trữ lượng dầu mỏ có khả năng khai thác khoảng 1 tỉ 180 triệu tấn; 330 tỉ

m3 khí đốt; 3,1 tỉ tấn khoáng sản khác và nguồn năng lượng có thể tái sinh có trữ lượng tới 630 kw [67, tr.32] Theo nguồn tài liệu của Nga, trữ lượng dầu khí ở khu vực này khoảng 10 tỉ tấn và một lượng lớn băng cháy với trữ lượng ngang bằng trữ lượng dầu khí và được coi là nguồn năng lượng tiềm năng, thay thế dầu khí trong tương lai gần với trữ lượng tương đương 10 tỉ tấn dầu mỏ quy đổi Ngoài ra, phần đáy khu vực QĐTS còn có nhiều quặng kim loại quý như Than, Thiếc, Titan, Silicat, Nitro, Kali, Mangan, Cobalt cung cấp nguồn nguyên liệu quan trọng cho quá trình phát triển công nghiệp của các nước trong khu vực

Thứ ba đối với Trung Quốc, QĐTS được coi là cầu nối quan trọng của Trung

Quốc đối với các nước trên thế giới, là hành lang trên biển giữa Ấn Độ Dương với thái Bình Dương, là khu vực trung tâm của Biển Đông, nơi Trung Quốc cho là có

“lợi ích cốt lõi” [23], là lối thoát chiến lược để mở rộng không gian sinh tồn, hiện thực hóa tham vọng cường quốc biển, cường quốc thế giới của họ, vì:

Xét về yếu tố địa chính trị, QĐTS có vai trò đặc biệt quan trọng để Trung

Quốc hiện thực hóa tham vọng cường quốc biển, cường quốc thế giới Muốn trở thành cường quốc thế giới, Trung Quốc phải mở rộng không gian sinh tồn Tuy nhiên, nếu mở rộng lên phía phía Bắc, Trung Quốc phải đối mặt với vùng khí hậu khắc nghiệt, đối mặt với Nga, một siêu cường về quân sự; phát triển sang phía Tây

và Tây Nam, là vùng rừng núi hiểm trở, không thuận tiện cho việc giao thương; hướng sang phía Đông là Nhật Bản, Đài Loan, một trong những đồng minh thận

Ngày đăng: 27/02/2021, 11:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w