- Lựa chọn công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt nông thôn phù hợp với quy mô từng địa phương vùng ĐBSH trên nguyên tắc: công nghệ đơn giản, rẻ tiền, dễ quản lý, vận hành và tận dụng tối đa
Trang 1-
LU ẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
(THI ẾT KẾ THÍ ĐIỂM CÔNG NGHỆ XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT CHO XÃ XUÂN H ỒNG, HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH)
NGÀNH : KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN XUÂN KHÔI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ THỊ THANH HƯƠNG
HÀ NỘI 2007
Trang 2-
LU ẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
(THI ẾT KẾ THÍ ĐIỂM CÔNG NGHỆ XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT CHO XÃ XUÂN H ỒNG, HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH)
NGÀNH : KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ:23
NGUYỄN XUÂN KHÔI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ THỊ THANH HƯƠNG
HÀ NỘI 2007
Trang 3Chương 1: Tổng quan các công nghệ xử lý rác thải trên thế giới và Việt Nam
4
1.1 T ổng quan về các công nghệ xử lý rác thải trên thế giới
1.1.1 Khối lượng và nguồn phát sinh rác thải
1.1.2 Thành phần rác thải
1.1.3 Công nghệ xử lý rác thải
1.1.4 Một số công nghệ xử lý rác thải trên thế giới
1.2 T ổng quan về các công nghệ xử lý rác thải ở Việt Nam
1.2.1 Nguồn phát sinh rác thải ở Việt Nam
1.2.2 Công nghệ xử lý rác thải ở Việt Nam
1.2.3 Một số mô hình công nghệ xử lý rác thải hữu cơ ở Việt Nam
Chương 2: Hiện trạng thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt nông thôn vùng
đồng bằng sông hồng
2.1 Khái quát chung vùng đồng bằng sông Hồng
2.1.1 Điều kiện tự nhiên vùng ĐBSH
Trang 42.2.6 Tổ chức thực hiện văn bản qui phạm pháp luật về quản lý rác
thải, xử lý rác thải ở nông thôn
Chương 3: Lựa chọn công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt nông thôn vùng đồng bằng sông hồng
3.1 Đối với mô hình quy mô cấp huyện
3.2 Công ngh ệ xử lý rác hữu cơ tập trung cho thị trấn
3.3 Công ngh ệ xử lý rác hữu cơ tập trung cho xã
3.4 Công ngh ệ xử lý rác hữu cơ tập trung cho từng thôn, xóm
3.5 Công ngh ệ xử lý rác hữu cơ cho các thị tứ
Chương 4: Thiết kế thí điểm công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt cho xã
xuân hồng, huyện xuân trường, tỉnh nam định
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
4.1.5 Dân số và phân bố dân cư
4.1.6 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh
4.1.7 Cơ cấu các ngành kinh tế và mức thu nhập bình quân
4.2 Hi ện trạng thu gom, xử lý rác thải
4.2.1 Khối lượng và thành phần rác thải
4.2.2 Dự báo khối lượng rác thải
Trang 6Phần Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và sự bùng nổ dân số
đã sinh ra những vấn đề về chất thải gây ô nhiễm môi trường ở hầu hết các nước trên thế giới Lượng chất thải rắn phát sinh mỗi người dân bình quân trong một năm khoảng 30tấn/người/năm, lượng chất thải sinh hoạt là 0,2 - 3,0 kg/người/ngày
Lượng và thành phần phát sinh rác thải phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mức sống, mùa, vùng, thói quen, tín ngưỡng, chính sách quản lý, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng dân số và cả tốc độ đô thị hoá Do vậy, quá trình phát sinh rác thải ở mỗi nước, mỗi khu vực khác nhau trên thế giới là khác nhau Tại các nước có nền kinh tế phát triển, đời sống và nhu cầu tiêu dùng của người dân ở mức cao thì khối lượng trung bình thải bỏ là rất lớn, khoảng 1,5 ÷ 2,8 kg/người/ngày
Với các nước đang và kém phát triển, điều kiện kinh tế còn có nhiều khó khăn, lượng rác thải trung bình của người dân các nước này dao động trong khoảng 0,5 ÷ 1,5 kg/người/ngày Trong thành phần rác thải thì tỷ lệ của các chất thải hữu cơ chiếm khá cao trong khoảng từ 40 ÷ 65% và tỷ lệ này có xu hướng giảm dần cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước
Việt Nam là nước nông nghiệp đang phát triển với 70% dân số sống ở các vùng nông thôn Kết quả khảo sát về mức sống của các hộ gia đình ở nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng cho thấy: Chỉ có 5% rác thải sinh hoạt được thu gom, 8% đổ xuống thuỷ vực, 54% đổ ra các bãi rác lộ thiên và 33%
là các hình thức khác Lượng rác thải sinh hoạt không được thu gom được thải
bỏ bừa bãi, chôn lấp tuỳ tiện như ở các ao hồ, cống rãnh, sông ngòi và các bãi đất trống và các khu vực đồng ruộng gây ra hiện tượng ô nhiễm môi trường nước, đất và không khí
Trang 7Do vậy, để góp phần giải quyết được vấn đề rác thải sinh hoạt nông thôn
luận văn sẽ “Nghiên cứu lựa chọn công nghệ phù hợp xử lý rác thải sinh hoạt nông thôn vùng ĐBSH” góp phần giải quyết tình trạng ô nhiễm do rác thải
sinh hoạt ở nông thôn hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
- Đánh giá hiện trạng thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt nông thôn vùng ĐBSH
- Phân tích, lựa chọn công nghệ phù hợp để xử lý rác thải sinh hoạt nông thôn vùng ĐBSH
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn:
+ Đối tượng nghiên cứu:
- Giải pháp công nghệ, kỹ thuật xử lý rác thải sinh hoạt nông thôn vùng ĐBSH quy mô cấp xã, thị trấn giai đoạn 2007 - 2010
Trang 8ngoài nước liên quan đến công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt nông thôn vùng ĐBSH
- Phương pháp điều tra, khảo sát hiện trường, đánh giá nhanh rác thải nông thôn
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
5 Nội dung của luận văn:
- Nghiên cứu tổng quan: Thu thập, tổng hợp các tài liệu, các kết quả đã nghiên cứu trong và ngoài nước về công nghệ xử lý rác thải, phân tích ưu
nhược điểm và điều kiện áp dụng
- Điều tra, đánh giá thực trạng tình hình thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt nông thôn vùng ĐBSH và tại xã Xuân Hồng
- Lựa chọn công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt nông thôn phù hợp với quy mô từng địa phương vùng ĐBSH trên nguyên tắc: công nghệ đơn giản, rẻ tiền, dễ quản lý, vận hành và tận dụng tối đa các điều kiện sẵn có của địa phương
- Thiết kế công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt nông thôn cho xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định
Trang 9Chương 1
Tổng quan các công nghệ xử lý rác thải
trên thế giới và việt nam
1.1 Tổng quan về các công nghệ xử lý rác thải trên thế giới
1.1.1 Khối lượng và nguồn phát sinh rác thải
Trên thế giới, quá trình phát sinh chất thải ở mỗi nước, mỗi khu vực khác nhau tuỳ theo điều kiện kinh tế, mức sống của người dân Bên cạnh đó, khối lượng phát sinh chất thải rắn tại mỗi nước còn phù thuộc vào các cơ chế chính sách và luật môi trường của mỗi nước
+ ở nước Nga, mỗi người bình quân thải ra môi trường 300
kg/người.năm, rác thải tương đương là khoảng 50 triệu tấn rác thải trong một
năm và riêng thủ đô Matxcơva là 3 triệu tấn/năm Nguồn: Hoàng Kim Cơ, “Kỹ thuật Môi trường” - NXB Khoa học Kỹ thuật năm 2001
+ Tại Nhật Bản, lượng rác thải phát sinh hàng năm hiện nay lên tới trên
55 triệu tấn/năm và tỷ lệ trung bình phát thải theo đầu người là hơn 1
kg/người/ngày Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ, “Quản lý chất thải rắn, Tập 1” -
NXB Xây dựng năm 2001
+ Hàng năm có khoảng 20 triệu tấn chất thải phát sinh ở Thái Lan và tỷ
lệ gia tăng chất thải ở nước này tăng rất nhanh Hầu hết lượng chất thải được thải bỏ ở các bãi thải không đúng quy cách Hiện nay, công nghệ tái chế chất thải ở Thái Lan mới chỉ đạt khoảng 11% tổng lượng chất thải phát sinh, trong khi đó, ở úc thì tỷ lệ này là 36% Nguồn Tạp chí “Vatis Update Waste
Management, Volume 5 N 0 61” tháng 3, 4 năm 2004
1.1.2 Thành phần rác thải
+ Theo GS TS Trần Hiếu Nhuệ (2001): Hàng năm, toàn nước Mỹ phát sinh một khối lượng chất thải rắn khổng lồ lên tới 10 tỷ tấn Trong đó tỷ lệ bao gồm các thành phần sau: Rác thải từ quá trình khai thác dầu mỏ và khí
Trang 10chiếm 75%; Rác thải từ quá trình sản xuất nông nghiệp chiếm 13%; Rác thải
từ cặn cống thoát nước chiếm 1%; Rác thải từ hoạt động công nghiệp chiếm
9,5%; Rác thải sinh hoạt chiếm 1,5% Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ, “Quản lý chất thải rắn, Tập 1” - NXB Xây dựng năm 2001
+ Trong qua trình phát triển mạnh ở Trung Quốc, lượng chất thải rắn ở nước này đa tăng nhanh và đang gây ra các vấn để môi trường nghiêm trọng Lượng chất thải công nghiệp năm 2001 là 888 triệu tấn và tỷ lệ tăng hàng năm
là 7% Rác thải sinh hoạt là 135 triệu tấn và tỷ lệ tăng là 4% Cùng với rác thải nguy hại ở bệnh viện, rác thải điện tử và rác thải ở nông thôn đang làm cho vấn đề ô nhiễm môi trường thêm nghiêm trọng Nguồn Tạp chí “Vatis
Update Waste Management, Volume 5 N 0 59” tháng 10 - 12 năm 2003
- Đối với các nước có nền kinh tế phát triển, đời sống và nhu cầu tiêu dùng của người dân ở mức cao thì khối lượng trung bình thải bỏ là rất lớn, khoảng 1,5 ÷ 2,8 kg/người/ngày như: Mỹ, Nhật, Pháp, Canada, Xingapore, Hồng Kông Thành phần rác thải của các nước này cũng rất khác nhau, rác thải sinh hoạt phát sinh từ các ngành công nghiệp, dịch vụ chủ yếu là: giấy, kim loại, thuỷ tinh, nhựa trong khi đó rác thải thực phẩm chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (21% ở Mỹ) Do đó, vấn đề quản lý rác thải đối với các nước phát triển là đẩy mạnh hệ các cơ sở tái chế, tái sử dụng rác thải Nguồn Tạp chí “ Vatis Update
Waste Management, Volume 23 N 0 1 ” tháng 2 năm 2005
- Đối với các nước đang và kém phát triển, điều kiện kinh tế còn có nhiều khó khăn, lượng thải trung bình của người dân các nước này dao động trong khoảng 0,5 ÷ 1,5 kg/người/ngày như Việt Nam, Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan Trong thành phần rác thải thì tỷ lệ của các chất thải hữu cơ chiếm khá cao trong khoảng từ 40 ÷ 65% và tỷ lệ này có xu hướng giảm dần cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước Tỷ lệ các loại rác thải vô cơ, rác thải có khả năng tái chế chiếm tỷ lệ thấp hơn từ 35 ÷ 60% Nguồn Tạp chí “ Vatis
Trang 11Update Waste Management, Volume 23 N 0 1 ” tháng 2 năm 2005.
ở Bắc Mỹ đến 70% ở Nhật Bản, Thụy Sĩ Nguồn Vernier Jacques, “ Kinh tế chất thải ”, NXB Khoa học Kỹ thuật năm 1994
a/ Chôn lấp chất thải
Phương pháp chôn lấp rác thải vẫn được coi là phương pháp thông dụng nhất hiện nay, đặc biệt là đối với các nước có diện tích tự nhiên rộng lớn hoặc các nước đang phát triển So với nhiều phương pháp xử lý rác thải khác thì chôn lấp có chi phí đầu tư và vận hành thấp hơn, công nghệ đơn giản hơn và
có thể áp dụng cho nhiều loại chất thải khác nhau Bên cạnh đó, chôn lấp rác thải cũng còn nhiều nhược điểm cần khắc phục đặc biệt trong khía cạnh môi trường
Việc áp dụng các phương pháp xử lý chất thải rắn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện của từng nước Tỷ lệ chôn lấp rác ở Nhật Bản và Singapore khá thấp do diện tích đất của Nhật Bản và Singapor ít, hơn nữa điều kiện kinh tế của hai quốc gia này cho phép áp dụng các phương pháp xử lý khác một cách hiệu quả hơn Hoa Kỳ là nước kinh tế phát triển nhưng tỷ lệ chôn lấp rác cũng
Trang 12khá cao do nước này rộng lớn, nhiều đất đai Tuy nhiên từ sau thập kỷ 80, tỷ
lệ chôn lấp ở nước này giảm dần do giá thành cho chi phí chôn lấp ngày một tăng và người ta nhận thức được rằng đất đai tuy nhiều nhưng cũng có hạn
Xu hướng chung của thế giới hiện nay là giảm thiểu lượng rác chôn lấp bằng cách tăng cường tái chế
Bảng 1.2: Các phương pháp xử lý rác thải ở Châu á Nước Chôn lấp/ bãi
‘’Nguồn: Báo cáo diễn biến môi trường Việt nam năm 2004’’
Hiện nay, chôn lấp rác vẫn là cách làm thông dụng nhất, ngay cả ở các nước phát triển Hơn 60% chất thải của Mỹ và của cộng đồng Châu Âu được
xử lý theo chôn lấp Một số nước có tỷ lệ chôn lấp thấp đó là Nhật Bản 40%,
Thụy Sĩ, Thụy Điển, Pháp, Bỉ, ý có tỷ lệ dưới 50% ‘’Nguồn: Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam năm 2004’’
b/Phương pháp thiêu đốt rác thải
Trang 13Đốt rác là phương pháp được sử dụng rộng rãi ở những nước phát triển như Đức, Thụy Sĩ, Hà Lan, Đan Mạch, Nhật Bản Đó là những nước có diện tích đất tự nhiên nhỏ hẹp Hiện nay, các nước Châu Âu có xu hướng giảm việc đốt rác thải vì hàng loạt các vấn đề kinh tế và môi trường cần phải xem xét
Mặc dù phương pháp thiêu đốt có những ưu điểm so với các phương pháp xử lý rác thải khác như xử lý khá triệt để rác thải, giảm từ 70% - 90% thể tích chất thải sau xử lý, thời gian xử lý nhanh, gọn, tiết kiệm được diện tích xây dựng các công trình xử lý
Tuy nhiên, phương pháp thiêu đốt vẫn chưa được áp dụng phổ biến và rộng rãi trên thế giới là do một số nhược điểm cần được khắc phục như: Chí phí đầu tư xây dựng ban đầu và chi phí vận hành, năng lượng tiêu thụ rất lớn,
kỹ thuật vận hành phức tạp, chỉ phù hợp với các nước có nền kinh tế, khoa học phát triển, có tiềm lực kinh tế, các nước có diện tích tự nhiên nhỏ, không phù hợp cho các phương pháp xử lý khác
Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, phương pháp thiêu đốt chỉ mới chỉ được sử dụng trong xử lý rác thải y tế nguy hại có khối lượng nhỏ
và tính chất nguy hại của loại chất thải này Đối với rác thải sinh hoạt do có khối lượng lớn, chưa được phân loại Rác thải có độ ẩm cao do tỷ lệ rác thải hữu cơ lớn, nhiệt trị thấp nên không phù hợp với phương pháp thiêu đốt
c/Phương pháp tái chế rác thải
Hiện nay, trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự khan hiếm về tài nguyên thiên nhiên mà công nghệ tái chế, tái sử dụng chất thải được xem như là biện pháp tốt để giảm thiểu lượng phát sinh chất thải và bảo vệ môi trường
+ Đối với rác thải vô cơ công nghiệp, rác thải vô cơ trong sinh hoạt có thể tái chế lại làm nguyên liệu sử dụng trong sản xuất công nghiệp như: thuỷ
Trang 14tinh, kim loại, hoặc tái chế làm các vật liệu làm vật dụng sử dụng trong sinh hoạt, trong xây dựng
- Theo Viện nghiên cứu và phát triển sản phẩm nông nghiệp của Phillipine cho biết: Họ đang tiến hành tái chế rác thải nhựa để sử dụng làm thùng đựng, các loại túi sách tay và các tấm panel dùng làm vật liệu xây dựng Nguồn Tạp chí “ Vatis Update Waste Management, Volume 5 N0 58 ” tháng 9-10 năm 2003
- ấn Độ đang tiến hành thử nghiệm công nghệ chế biến nhựa phế thải thành nhiên liệu Theo đó thì 1 kg nhựa phế thải được biến đổi trong thiết bị trộn nhiên liệu trong vòng 3,5 giờ sẽ cho ra sản phẩm là 800ml dầu Nguồn Tạp chí “ Vatis Update Waste Management, Volume 5 N 0 58 ” tháng 9-10 năm 2003
+ Đối với rác thải hữu cơ có thể chế biến thành phân vi sinh sử dụng
trong nông nghiệp bằng công nghệ ủ Compost
- Tại Thuỵ Điển, giới thiệu phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt và các loại rác thải hữu cơ thành phân compost
Công nghệ được tiến hành như sau: Rác thải được phân loại bằng trọng lực và từ tính để tách kim loại và các vật liệu rắn Rác thải hữu cơ, sau 2- 3 ngày được vi sinh vật phân huỷ trong điều kiện đảm bảo các yếu tố nhiệt độ,
độ ẩm tốt Quá trình ủ rác thải hữu cơ trong thời gian là 3 - 7 tuần và không cần cung cấp hoá chất sẽ thu được sản phẩm là phân compost có chất lượng tốt ‘’Nguồn: http://www.aett.com’’
ưu điểm:
- Chất thải hữu cơ được phân loại có thể làm giảm 50- 70 % khối lượng rác
thải cần phải xử lý bằng chôn lấp hoặc đốt
- Khéo dài thời gian hoạt động của các bãi chôn lấp rác thải Hạn chế các tác động ô nhiễm của nước rác tới nước ngầm
Trang 15- Giảm chi phí cho quản lý và xử lý môi trường…
- Sản phẩm phân compost tạo thành là một nguồn nguyên liệu sạch cung cấp dinh dưỡng cho nông nghiệp, giảm lượng tiêu thụ các phân bón hoá học, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân
Nhược điểm:
- Cần một mặt bằng lớn
- Chỉ xử lý được các nguyên liệu hữu cơ
- Đòi hỏi phải phân loại rác cẩn thận để tránh ảnh hưởng tới khả năng hoạt động của vi sinh vật và các tạp chất vô cơ tới chất lượng sản phẩm
1.1.4 Một số công nghệ xử lý rác thải trên thế giới
1.1.4.1 Công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt ở Mỹ
Nguyên lý hoạt động:
Một trong những công nghệ xử lý rác thải phổ biến của các nhà máy xử
lý rác thải ở Mỹ là xử lý rác thải trong những thiết bị ủ kín nhưng không thổi khí Phương pháp ủ kị khí này tuân theo các quy trình: Rác thải được tiếp nhận và tiến hành phân loại, các loại chất thải hữu cơ được đưa vào thiết bị ủ kín dưới dạng lò ủ có phối hợp với các chủng loại men vi sinh để khử mùi, thúc đẩy quá trình lên men, sau đó được đưa ra sấy khô, nghiền và đóng bao
Sơ đồ công nghệ (hình 2.1)
Đánh giá ưu nhược điểm:
Ưu điểm:
- Xử lý triệt để bảo vệ môi trường Thu hồi phân bón
- Cung cấp được nguyên liệu tái chế cho các ngành công nghiệp
- Không mất kinh phí xử lý nước rác
Nhược điểm:
- Đòi hỏi kinh phí đầu tư ban đầu lớn, kinh phí duy trì cao
- Chất lượng phân bón thu hồi không cao
Trang 16- Công nghệ phức tạp (qua sấy) không phù hợp với điều kiện khí hậu của Việt Nam
- Không phù hợp với rác thải ở Việt Nam vì chưa thực hiện được phân loại rác tại đầu nguồn Sau khi sấy, nếu nghiền còn lẫn các tạp chất vô cơ
sẽ làm hỏng máy nghiền và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm đầu ra
Hình 2.1: Sơ đồ công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt của Mỹ
''Nguồn: Nguyễn Xuân Nguyên, ‘’Công nghệ xử lý rắn thải và chất thải rắn’’,
NXB Khoa học Kỹ thuật năm 2004
1.1.4.2 Công nghệ xử lý rác thải làm phân bón của Trung Quốc
Nội dung công nghệ:
ở Trung Quốc, một số nhà máy xử lý rác thải ở các thành phố lớn như Bắc Kinh, Nam Ninh, Thượng Hải đã áp dụng công nghệ xử lý phổ biến trong các thiết bị kín Rác được tiếp nhận, đưa vào thiết bị ủ kín (phần lớn là hầm ủ) sau 10 ÷ 12 ngày được đưa ra ngoài ủ chín Sau đó mới tiến hành phân loại,
Thu gom rác
dân dụng thành
phố
Hệ thống phân loại rác thải
Sấy Nghiền
Khử mùi
và xử lý
sơ bộ
Cấy men vào rác thải
Rác thải chuyển đem chôn lấp
Các phụ gia và men đặc biệt
Hệ thống vi xử lý khống chế quá trình lên men
Trang 17chế biến thành phân bón hữu cơ
Hình 2.3: Sơ đồ công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt của Trung Quốc
Tiếp nhận rác thải
Đóng bao tiêu thụ sản phẩm
Thiết bị chứa (hầm ủ kín) có bổ sung vi sinh vật, thổi
khí, thu nước rác trong thời gian 10 - 12 ngày
ủ phân bón (nhiệt độ
từ 30 - 40 oC) trong thời gian 5 - 10 ngày
Phối trộn N, P, K và các nguyên tố khác
Phân loại theo trọng lượng bằn không khí
có thu kim loại
Trang 18''Nguồn: Nguyễn Xuân Nguyên, ‘’Công nghệ xử lý rắn thải và chất thải rắn’’,
NXB Khoa học Kỹ thuật năm 2004
Ưu nhược điểm của công nghệ:
Ưu điểm:
- Rác được ủ ngay sau 10 ÷ 12 ngày và xử lý giảm mùi của H2S sau đó mới đưa ra ngoài Quá trình phân loại có ưu điểm là giảm nhẹ mức độ độc hại đối với người lao động
- Thu hồi được nước rác, không gây ảnh hưởng tới tầng nước ngầm
- Thu hồi được sản phẩm tái chế
- Vật vô cơ khi đưa đi chôn lấp không gây mùi và ảnh hưởng đến tầng nước ngầm vì
- Thu hồi được sản phẩm phân bón
Nhược điểm:
- Chất lượng phân bón chưa cao, chưa xử lý triệt để các vi khuẩn gây bệnh
- Diện tích hầm ủ rất lớn không được phân loại, diện tích nhà máy lớn
- Thao tác vận hành phức tạp Kinh phí đầu tư ban đầu lớn
1.2 Tổng quan về các công nghệ xử lý rác thải ở Việt Nam
1.2.1 Nguồn phát sinh rác thải ở Việt Nam
Nguồn phát sinh rác thải rất đa dạng, thành phần khá phức tạp, bao gồm tất cả các hoạt động đời sống sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe… a/Rác thải sinh hoạt
Rác thải sinh hoạt là tất cả các loại chất thải phát sinh liên quan đến các hoạt động của con người Nguồn tạo thành rác thải sinh hoạt chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ
Rác thải sinh hoạt của người dân ở các vùng nông thôn chỉ cỡ bằng một nửa mức phát sinh của dân đô thị (0,3kg/người/ngày so với 0,7
Trang 19kg/người/ngày) và phần lớn chất thải đều là chất hữu cơ dễ phân huỷ, chiếm khoảng 65% trong chất thải sinh hoạt gia đình ở nông thôn, Nguồn: Bộ Tài
nguyên và Môi trường (2004), Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam năm
2004
Thành phần của rác thải sinh hoạt bao gồm: kim loại, sành sứ, thuỷ tinh, gạch ngói vỡ, đất đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương, lông, da động vật, tre, gỗ, vải, rơm rạ, vỏ rau quả…
Theo hình thức quản lý có thể chia rác thải ở nông thôn thành 2 loại chính là rác thải hữu cơ và phần còn lại là các loại rác thải vô cơ khác Trong đó:
- Rác thải sinh hoạt nông thôn có tỷ lệ rác thải hữu cơ cao hơn (60 ÷ 65%), thành phần vô cơ chủ yếu là túi nilong, nhựa, vỏ hộp, bao bì và một lượng thuỷ tinh, mảnh sành vỡ cũng chiếm tỷ lệ khá lớn
- Rác thải nông nghiệp có chứa tới 99% thành phần hữu cơ
Hầu hết các hộ gia đình ở nông thôn đã tiến hành tách các loại rác thải
vô cơ có thể tái chế như hộp kim loại, sắt vụn, thuỷ tinh… để bán cho người
đi thu mua đồng nát nên thành phần các loại chất thải này không nhiều trong rác thải nông thôn
b/ Rác thải chăn nuôi
Ước tính lượng rác thải chăn nuôi dựa trên cơ sở số lượng và tiêu chuẩn thải tính trên đầu gia súc, gia cầm Theo tài liệu hướng dẫn sử dụng, chăm sóc công trình khí sinh học - Tiêu chuẩn thải của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tiêu chuẩn thải đối với trâu là 15 kg/con/ngày, đối với bò là 10 kg/con/ngày, đối với lợn là 2,5 kg/con/ngày và gia cầm là 0,09 kg/con/ngày Tổng khối lượng chất thải chăn nuôi vùng ĐBSH là 11,228 triệu tấn/năm Theo Bộ NN & PTNT - Hướng dẫn sử dụng và chăm sóc công trình khí sinh học, 2004
Trang 20Chất thải từ trâu là 846.435 tấn/năm, chiếm 7,49%
Chất thải từ bò là 2.206.060 tấn/năm, chiếm 19,54%
Chất thải từ lợn là 6.294.790 tấn/năm, chiếm 55,76%
Chất thải gia cầm là 1.940.909,4 tấn/năm, chiếm 17,19%
Trang 21Rác thải y tế ở nông thôn chủ yếu từ các trạm y tế phường, xã có khối lượng không đáng kể, thành phần chủ yếu cũng chỉ là những bao bì, vỏ hộp
…
ở các bệnh viện huyện thì khối lượng và thành phần rác thải y tế cũng cao hơn, cần có quy trình riêng về xử lý rác thải y tế
1.2.2 Công nghệ xử lý rác thải ở Việt Nam
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều loại công nghệ xử lý rác thải mà Việt Nam có thể áp dụng linh hoạt cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương Tỷ lệ xử lý rác thải bằng phương pháp chôn lấp chiếm 80%, làm phân compost chiếm 6% và các phương pháp khác chiếm 14% Các biện pháp
xử lý rác thải phổ biến hiện nay là: Thiêu đốt, ủ sinh học, chôn lấp, tái chế, tái
sử dụng Nguồn: Uran Managenment Programe “Critical Considerations of Soil Waste Disposal in Asian Cities”, (1998)
Phương pháp đốt: Tuy đảm bảo vệ sinh, gọn nhẹ nhưng chi phí xử lý cao, trang thiết bị rất đắt tiền nên phương pháp thiêu đốt không thích hợp cho việc xử lý rác đại trà ở Việt Nam mà chỉ được để xử lý rác thải y tế Giải pháp
xử lý một phần chất thải sinh hoạt được một số vùng nông thôn hiện nay áp dụng là đốt thủ công
Phương pháp ủ sinh học: Phương pháp ủ sinh học có chi phí ban đầu thấp, sản phẩm tạo thành là phân hữu cơ có thể sử dụng trong nông nghiệp Nhưng nhược điểm là quy trình xử lý kéo dài từ 3 ÷ 4 tháng, xử lý bãi
ủ không tốt dễ gây ra những vấn đề môi trường
Công nghệ xử lý rác thải hữu cơ làm phân vi sinh là một hướng công nghệ xử lý có rất nhiều ý nghĩa và lợi ích, phù hợp với điều kiện của các địa phương Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất trong phương pháp sản xuất phân hữu
cơ là hiện không phân loại rác thải tại nguồn
Trang 22+ Viện Khoa học Thuỷ lợi (1997): Xây dựng xưởng sản xuất phân vi sinh từ rác thải sinh hoạt cho xã Thổ Tang, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc có công suất 1.000 tấn/năm, sản xuất thử nghiệm trên 20 tấn phân vi sinh đạt chất lượng tốt Hàm lượng mùn trong phân đạt 16,5%, Lân tổng số đạt 3%, đạm tổng số 1%, Kali tổng số 1% và 109 bào tử vi sinh /1g phân Đến nay xưởng sản xuất phân vi sinh này đã ngừng hoạt động do gặp khó khăn trong việc thu gom, phân loại rác và quy chế quản lý ở địa phương Nguồn: Viện
Khoa học Thuỷ lợi “Dự án xây dựng mô hình xử lý phân rác và nước rác cho vùng nông th ôn Việt Nam 1997”
+ Vũ Thị Thanh Hương - Viện Khoa học Thuỷ lợi (2003): Rác thải hữu
cơ sau khi được phân loại, dùng bọt Bosaki và dụng dịch EM khử mùi và ủ tự nhiên sau 70 ngày trong điều kiện nhiệt độ mùa hè, rác hữu cơ hầu như đã được phân huỷ hoàn toàn, tạo thành chất mùn đen, không còn mùi hôi thối và
các vi khuẩn gây bệnh đường ruột Tỷ lệ các chất vô cơ lẫn trong mùn là 22,6% và muốn sử dụng chất mùn để bón ruộng cần phải sàng để loại bỏ các
chất lẫn Nguồn: Viện Khoa học Thuỷ lợi “Dự án nghiên cứu xây dựng mô hình xử lý phân rác và nước rác cho vùng nông thôn miền Bắc2000-2002”
Hiện nay, một số địa phương đã chú ý đến xử lý chất thải hữu cơ bằng công nghệ thổi khí cưỡng bức (ủ hiếu khí) Đây là công nghệ có ưu điểm xử
lý nhanh, tận dụng được chất hữu cơ trong rác thải để sản xuất phân bón, không gây ô nhiễm môi trương không khí và nước ngầm Các phương pháp
xử lý rác thải làm phân hữu cơ bằng phương pháp thổi khí như sau:
- ủ rác thành đống và để lên men tự nhiên có đảo trộn: Đây là phương pháp cổ điển nhất và dễ thực hiện , quá trình kéo dài trong thời gian khoảng 8 tuần với các điều kiện: chiều cao đống ủ là 1,5 ÷ 2 m, nhiệt độ đống ủ khoảng
55 0C, độ ẩm 50 ÷ 60% Tuy nhiên, phương pháp này mất vệ sinh và gây ô
Trang 23nhiễm môi trường xung quanh
- Phương pháp ủ rác thành đống không đảo trộn và có thổi khí: Phía dưới đống rác ủ có lắp hệ thống thổi khí, nhờ có hệ thống thổi khí mà quá trình chuyển hoá xảy ra nhanh hơn, nhiệt độ đống ủ ổn định và phù hợp với qúa trình phát triển của vi sinh vật
- Xử lý rác thải bằng vi sinh vật có kiểm soát: Đây là phương pháp sử dụng hệ thống đóng có sử dụng hệ thống tự động để kiểm soát các thông số của quá trình ủ như nhiệt độ, độ ẩm, và lượng không khí cấp…
ở TP.HCM và các tỉnh lân cận: Phân Gà và Chim Cút được thu gom vài ngày hay mỗi tuần và được sử dụng làm phân bón cho trồng trọt (75% hộ), nguyên liệu cho bể Biogas (10%) và nuôi cá (15%) Phân Bò thường được dùng lại tại các cơ sở chăn nuôi để bón cho cỏ voi hay các loại cỏ làm thức ăn cho bò (95% số hộ), bán cho thương lái (72%) và một số hộ sử dụng cho hầm Biogas Việc quản lý đối với phân lợn đang gặp nhiều khó khăn do hạn chế về lưu giữ và vận chuyển, phát sinh mùi gây mất vệ sinh Việc sử dụng phân lợn
để bón ruộng vẫn còn hạn chế, chỉ 6% hộ bán phân, khoảng 29% hộ làm hầm
Biogas và 9% số hộ dùng để nuôi cá Nguồn: Theo Tạp chí chăn nuôi số 1,
(2005)
Đối với chất thải chăn nuôi gia súc và các phế thải từ nông nghiệp… qua một quá trình xử lý đơn giản đó là quy trình xử lý chất thải để tạo ra khí sinh học hay còn gọi là công nghệ Biogas Với chi phí khoảng 6 triệu đồng cho một bể Biogas có thể tích 10 m3 cho các hộ có quy mô chăn nuôi khoảng 20 con lợn
Đây là một mô hình xử lý chất thải chăn nuôi và phế thải nông nghiệp có
chi phí thấp, đơn giản dễ vận hành… nhưng có hiệu quả sử dụng rất cao vừa tránh ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi mà lại có khí sinh học dùng trong sinh hoạt và có phân bón ruộng…Việc xử lý chất thải chăn nuôi và phế thải
Trang 24nông nghiệp bằng công nghệ Biogas đã được thực hiện ở xã Nam Dong huyện
Cư Jút tỉnh Đắk Nông đã rất thành công, hiện tại xã đã có trên 50 hầm Biogas
và đang được các địa phương tham khảo và vận dụng Nguồn: (Theo Qũy Môi trường SiDa)
+ Theo PGS TS Phùng Chí Sĩ: Tận dụng nguồn phế liệu nông nghiệp để sản xuất nấm rơm, nấm Linh chi, nấm mỡ, nấm mèo… tại Thái Bình và Vĩnh Long; Sử dụng vỏ trấu, bã mía, vỏ hạt điều, xơ dừa… làm dăm và ván ép tại Long An, Bến Tre, Đồng Nai Lên men rơm, bã mía làm thức ăn gia súc; Sử dụng bùn bã mía làm phân hữu cơ được làm ở các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Thanh Hoá, Quảng Ngãi, Long An, Cà Mau… Sử dụng quả điều làm nước giải khát ở ĐắcLắc…Nguồn: PGS TS Phùng Chí Sĩ - Viện Kỹ thuật nhiệt đới
và Công nghệ Môi trường, tại http://www.nea.gov.vn
Đây có thể được xem là giải pháp để có thể tận dụng các phế thải từ nông nghiệp đang rất dư thừa tại khu vực nông thôn Nếu áp dụng tốt, người
nông dân có thêm nghề phụ cũng như tăng thêm các nguồn thu nhập Hiện nay, điều cần thiết là có được cán bộ chuyên, kỹ thuật hướng dẫn bà con nông dân tiến hành và giải đáp thắc mắc để người dân có thể tận dụng các phế thải trong nông nghiệp phục vụ sản xuất
Phương pháp chôn lấp
Phương pháp chôn lấp rác thải: Cách này vừa dễ làm, vừa đỡ tốn kém nhưng lại có nhược điểm là không hợp vệ sinh, làm ô nhiễm nguồn nước, các loại khí sinh ra từ bãi rác…là những tác nhân gây ô nhiễm môi trường nếu như bãi chôn lấp không được quản lý và thiết kế đúng tiêu chuẩn hợp vệ sinh Hầu hết các bãi chôn lấp chất thải ở nước ta đều không hợp vệ sinh, không có
hệ thống chống thấm, không có hệ thống thu gom và xử lý nước rác và khí bãi rác
Trang 25Tỷ lệ thu hồi các chất có khả năng tái chế như giấy, nhựa, thuỷ tinh, sắt thép… chỉ chiếm từ 13 ÷ 20% nhưng hoàn toàn do các hoạt động thu gom tự phát và không có tổ chức, quản lý Có khoảng 1,5 ÷ 5% lượng chất thải phát sinh được thu hồi và xử lý theo phương thức sản xuất phân vi sinh hữu cơ Hầu hết các bãi rác hiện nay ở nước ta là các bãi rác lộ thiên đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng bao gồm cả các vấn đề về ô nhiễm nước ngầm và nước mặt do nước rác không được xử lý, các chất ô nhiễm không khí, ô nhiễm mùi, ruồi, muỗi, chuột bọ và ô nhiễm bụi, tiếng ồn Sự ô nhiễm tại các bãi rác hiện nay đã và đang ảnh hưởng đến chất lượng môi trường xung quanh và ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ người dân địa phương
+ Theo Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam: ở hầu hết các địa phương ở nước ta xử lý rác thải bằng cách chôn lấp, tuy nhiên các bãi chôn lấp rác thải thường là không đúng tiêu chuẩn và chưa hợp vệ sinh Sở dĩ biện pháp chôn lấp rác được thực hiện phổ biến vì đây là biện pháp xử lý đơn giản,
dễ thực hiện nhưng có nhược điểm chính là tốn nhiều diện tích đất để chôn lấp, thời gian phân huỷ rác kéo dài và quá trình xử lý nước rác rất tốn kém cũng như có nguy cơ gây ô nhiễm nước ngầm Nguồn: Theo Viện Khoa học
và Công nghệ Việt Nam tại http://www.industry.gov.vn
+ Hố rác di động là một giải pháp cho môi trường nông thôn, hố rác gồm
2 phần là thùng và nắp, thùng rác là hố đất đào sâu 1,5 ÷ 2m, nắp thùng được làm bằng vật liệu composite không phân huỷ Các hố rác sau khi đã chứa đầy, phần nắp sẽ được di dời sang hố đào khác, còn phần rác trong thùng sẽ được lấp lại; cứ như vậy hố rác có thể di chuyển khắp vườn và sử dụng được nhiều lần Tỉnh Thừa Thiên - Huế đang bước đầu thử nghiệm mô hình rác di động tại gia đình Nguồn: Theo Báo Nhân dân (26/6/2003), “Giải pháp cho xử lý rác nông thôn”
Tái sử dụng và tái chế chất thải
Trang 26Tái sử dụng và tái chế là phương pháp phổ biến ở nhiều hộ gia đình Theo kết quả nghiên cứu về các hộ gia đình thực hiện năm 1998 thì người dân thường có thói quen tái sử dụng ngay tại gia đình mình
Các chất thải có khả năng tái chế và tái sử dụng được những người làm nghề nhặt rác phân loại và sau đó bán cho các cơ sở tái chế Việc thúc đẩy phân loại chất thải rắn tại nguồn để tăng các hoạt động tái chế trên phạm vi toàn quốc có thể giúp tiết kiệm được một lượng chi phí đáng kể dùng trong tiêu huỷ chất thải rắn sinh hoạt
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường (2004), Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam năm 2004.
1.2.3 Một số mô hình công nghệ xử lý rác thải hữu cơ ở Việt Nam
1.2.3.1 Nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt Việt Trì
Quy trình công nghệ
Công nghệ xử lý rác thải hữu cơ của nhà máy áp dụng công nghệ ủ lên men đống tĩnh có thổi khí cưỡng bức, đảm bảo hợp vệ sinh Công suất thiết kế
xử lý 30.000 tấn/năm và sản xuất 7.500 tấn phân/năm với diện tích 2,2ha và
dự kiến có thể mở rộng lên 5ha
Sơ đồ công nghệ
Trang 27Hình 2.5: Sơ đồ xử lý rác thải làm phân hữu cơ Việt Trì - Phú Thọ
Đánh giá ưu nhược điểm:
+ Ưu điểm:
- Bố trí liên hoàn trong nhà có mái che Vận hành thuận tiện và có sử dụng các loại vi sinh vật để đảm bảo môi trường và nâng cao chất lượng phân bón
- Thiết bị làm việc đồng bộ, dễ sử dụng và thay thế
- Đảm bảo hợp vệ sinh trong và ngoài nhà máy, có hệ thống chống sét, chiếu sáng và bảo vệ quá tải
Rác th ải đô thị
Tái ch ế Phụ gia vi sinh vật, Emuni
Đảo trộn
ủ chín (21 ngày)
B ể ủ hiếu khí (25 ngày) Phân lo ại
Sàng phân loại, Phân loại bằng từ tính
Vi sinh v ật,
độ ẩm 30 – 35%
Trang 28+ Nhược điểm
- Phân loại thủ công trên băng chuyền, quá trình đóng bao thủ công…
- Chưa có phòng nuôi cấy vi sinh vật, chưa có công nghệ tái chế
- Kinh phí đầu tư khá lớn, kỹ thuật vận hành và bảo dưỡng khá phức tạp
1.2.3.2 Nhà máy xử lý rác thải làm phân hữu cơ Cầu Diễn
Nhà máy áp dụng công nghệ ủ đống tĩnh có thổi khí cưỡng bức, quá trình lên men được kiểm soát bằng hệ thống tự động nhiệt độ
Công suất xử lý rác thải sinh hoạt của nhà máy là 63.000 tấn rác/năm, làm việc 2 ca/ngày và số ngày hoạt động là 300 ngày/năm Thành phần rác thải hữu cơ trong rác thải đưa vào xử lý là hơn 50% Hàng năm nhà máy sản xuất 13.260 tấn phân/năm
Quy trình công nghệ:
Rác thải được tiếp nhận vào nhà máy và được đưa vào phân loại bằng xe xúc lật, theo các băng tải xích, băng tải trung gian, tang quay phân loại Các thành phần hữu cơ có kích thước nhỏ hơn 8 cm lọt qua tang quay phân loại xuống băng tải đưa ra khu đảo trộn và tiến hành ủ phân hữu cơ theo sơ đồ công nghệ (Hình 2.6) Trên đường ra khu đảo trộn, rác thải đi qua thiết bị thu
từ để tách các chất kim loại bằng từ tính Phần rác thải có khả năng tái chế được tách bằng thủ công bao gồm: giấy, nhựa, nylon, thuỷ tinh, sắt Công suất tuyển chọn là 15 tấn/h với thành phần hữu cơ hơn 50%
Rác được đưa vào bể ủ hiếu khí có dung tích 150 m3 sau khi được bổ sung chế phẩm vi sinh khử mùi phân giải xenluloza (13 lít/m3), các thức ăn phục vụ quá trình phân huỷ rác Thời gian ủ là 21 ngày, điều kiện nhiệt độ, độ
ẩm và cấp khí được kiểm soát tự động, nước rác thu lại và bổ sung vào bể ủ
để điều chỉnh độ ẩm Đảm bảo nhiệt độ trong đống ủ là 45 ÷ 65 oC, độ ẩm từ
55 ÷ 60% Tiếp đến là ủ chín: đống ủ cao 2,5 m, thời gian ủ là 28 ngày tùy theo thời tiết, trong thời gian ủ có bổ sung độ ẩm và đảo trộn để oxi hoá tự
Trang 29nhiên Quá trình tinh chế được thực hiện bởi tang quay phân loại, các chất mùn có kích thước nhỏ hơn 1,5 cm sẽ lọt xuống băng tải và tiếp tụ được đưa
đi phân loại bằng trọng lực (bằng sàng rung và không khí) sau đó mùn hữu cơ được chuyển xuống cuối dây chuyền và được tiếp tục được tách kim loại bằng
từ tính Phần có kích thước lớn hơn 1,5 cm và chất không phải hữu cơ kích thước nhỏ hơn 0,5 cm chuyển ra bãi chôn lấp Công suất phân loại của hệ thống là 15 tấn/h và tiêu thụ điện năng là 78 kW/h Sản phẩm được cung cấp thêm các phụ gia và các thành phần dinh dưỡng và đóng bao
Sơ đồ công nghệ
Hình 2.6 Sơ đồ nhà máy xử lý rác thải phân hữu cơ Cầu Diễn - Hà Nội
Ưu, nhược điểm của công nghệ
Rác thải tiếp nhận
Phân lo ại sơ bộ
Xử lý sơ bộ bằng
vi sinh v ật (EM) Tuy ển chọn rác hữu cơ
Mùn lo ại 1 Mùn lo ại 2
Ch ất vô cơ đi chôn lấp
Trang 30+ Ưu điểm:
Hệ thống đơn giản, dễ vận hành, máy móc thiết bị dễ chế tạo và thay thế thuận lợi Tiêu hao năng lượng nhỏ, đảm bảo hợp vệ sinh trong và ngoài nhà máy, nhà máy có mái che, có thể hoạt động thường xuyên, quanh năm, thu hồi nước rác để phục vụ cho quá trình ủ lên men, không gây ảnh hưởng tới tầng nước ngầm Có điều kiện mở rộng nhà máy để nâng cao công suất
+ Nhược điểm
Nguồn rác có lẫn quá nhiều tạp chất, chưa được cơ giới hoá trong các khâu phân loại, quá trình tuyển chọn rác thực hiện bằng tay, thủ công Chất lượng phân bón chưa cao vì còn lẫn tạp chất Dây chuyền chế biến, đóng bao còn sơ sài và thủ công
Hiện chưa có quy trình thu hồi các vật liệu tái chế
1.2.3.3 Mô hình xử lý rác thải thôn Lai Xá - Kim Chung - Hoài Đức- Hà Tây
Tại thôn Lai Xá, rác thải được phân loại tại nguồi và rác thải hữu cơ được tận dụng để sản xuất mùn hữu cơ Công nghệ áp dụng là ủ tự nhiên có đảo trộn, có sử dụng chế phẩm vi sinh (Hình 2.7)
Đây là một công nghệ xử lý được xây dựng và áp dụng phù hợp cho cấp thôn, xã quản lý, các công đoạn xử lý đảm bảo kỹ thuật và phù hợp với định hướng chung, với điều kiện kinh tế xã hội và quy mô của thôn Từng loại rác được xác định rõ ràng và có phương án xử lý phù hợp và khá tối ưu nếu được thực hiện tốt
Tuy nhiên, trên thực tế khi đi vào vận hành, mô hình xử lý này còn khá nhiều vấn đề khó khăn gặp phải như:
- Việc phân loại rác thải tại nguồn và tập trung không triệt để dẫn đến sản phẩm bị lẫn rất nhiều tạp chất vô cơ, chất lượng sản phẩm kém Các phế thải vô cơ, tái chế không được thu hồi (hoặc tỷ lệ thu hồi rất ít) Rác thải đổ ra bãi chôn lấp còn chứa rất nhiều rác hữu cơ chưa được phân loại
Trang 31- Trong quá trình ủ thực tế không đảo trộn, đẫn đến quá trình phân huỷ rác thải không đều, không thực sự hiệu quả, tỷ lệ rác chưa phân huỷ cao Việc tiêu thụ sản phẩm khó khăn và chủ yếu sử dụng để cải tạo đất vườn, trồng cây tại gia đình
- Không có sự quan tâm sát xao và thường xuyên của chính quyền và ý thức thực hiện phân loại rác của người dân chưa cao
- Cơ chế tài chính cho công tác xử lý rác thải chưa được áp dụng rõ ràng
và đưa vào các hạng mục thu chi ngân sách hàng năm, kinh phí thu từ hộ gia đình chỉ đủ trả lương cho công nhân, còn chi phí vận hành khá cao và được thôn hỗ trợ trong 2 năm đầu Kinh phí hạn hẹp, cũng như không có chính sách
hỗ trợ lâu dài của thôn, xã là một trong các nguyên nhân xử lý không hiệu quả rác thải của thôn theo mô hình thiết kế ban đầu
Rác thải hữu cơ phân lo ại tại nguồn Phân loại tập trung
Nghiền
Ph ơi khô
X ử lý sơ bộ bằng vi sinh
Rác bán cho cơ sở tái ch ế
ủ tự nhiên, kết hợp đảo trộn
Đất đá, tạp chất
Trang 32Hình 2.7: Sơ đồ công nghệ xử lý rác hữu cơ thôn Lai Xá - Kim Chung
d- Sơ đồ công nghệ xử lý rác thải cho khu vực phường Vị Hoàng - Nam Định
Hình thức xử lý rác thải áp dụng thí điểm cho phường Vị Hoàng Mô hình này được áp đụng để đánh giá khả năng tham gia của công đồng trong việc phân loại rác thải tại nguồn và ứng dụng chế phẩm vi sinh trong xử lý rác hữu cơ tại hộ gia đình
Mô hình có ưu điểm giảm phần lớn khối lượng rác thải, thời gian lưu rác tại các hộ gia đình lâu do được xử lý sơ bộ bằng chế phẩm vi sinh Bokashi trong thùng kín 25 lít có đáy thu nước rác
Công tác thu gom rác thải đã phân loại từ các hộ gia đình sẽ được Công
ty VSMT của thành phố thu gom và đưa về nhà máy xử lý rác hữu cơ của thành phố để xử lý phân hữu cơ
Mô hình có thể áp dụng cho các khu dân cư tập trung đông, diện tích nhỏ
và khó khăn cho việc thu gom rác thải hàng ngày (Hình 2.8) Những nơi có trình độ dân trí cao, ý thức chung về bảo vệ môi trường tốt và được sự quan tâm của các cấp quản lý và người dân Tại các thị trấn, thị tứ…có thể áp dụng thí điểm mô hình phân loại tại nguồn này Tuy nhiên, thời gian thu gom rác thải phải thường xuyên hơn và xử lý sơ bộ bằng chế phẩm vi sinh có thể tập trung tại khu xử lý toàn thị trấn
Phân h ữu cơ
Trang 33Hình 2.8: Sơ đồ xử lý rác hữu cơ phường Vị Hoàng - Nam Định
Qua việc thực hiện mô hình này, nhận thức của người dân về công tác xử
lý rác thải sẽ tăng lên rất nhiều, người dân có thể chủ động hơn đối với lượng rác thải và thành phần rác thải phát sinh tại gia đình cũng như hình thức xử
lý, giảm nhẹ được gánh nặng cho công tác thu gom, xử lý rác thải chung của thành phố
Các cơ sở hiện nay ở Việt Nam có các hoạt động xử lý rác thải làm phân hữu cơ chủ yếu là các cơ sở tập trung có quy mô công nghiệp với khối lượng rác lớn và với mức đầu tư kinh phí ban đầu rất lớn Theo kết quả điều tra, đến năm 2005 cả nước có 08 nhà máy chế biến Compost tập trung (bảng 2.1)
Bảng 2.1:Một số nhà máy chế biến compost tập trung ở Việt Nam Địa điểm
nhà máy
Công suất (tấn/năm)
Thời gian hoạt động
Nguồn nguyên liệu
Chất thải từ khu chợ và đường phố
Đang hoạt động, bán 3 loại sản phẩm với giá
Đang hoạt động, cung cấp sản phẩm miễn phí cho nông dân
Trang 34Chất thải sinh hoạt chưa phân loại
Đóng cửa do khó bán sản phẩm
sinh hoạt chưa phân loại
Đang hoạt động, sản phẩm bán với giá
1100 đ/kg cho nông dân trồng cà phê và
cao su
Trang 35Chương 2 Hiện trạng thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt nông thôn vùng đồng bằng sông hồng
2.1 Khái quát chung vùng đồng bằng sông Hồng
2.1.1 Điều kiện tự nhiên vùng ĐBSH
a- Vị trí địa lý
Đồng bằng sông Hồng được hình thành và phát triển trong vùng hạ lưu của hệ thống sông Hồng và sông Thái bình bao gồm toàn bộ 11 tỉnh và thành phố với diện tích đất tự nhiên 1.481.200 ha Tính đến năm 2007, Đồng bằng sông Hồng có 1 thành phố trực thuộc Trung ương là Hà Nội, 6 thành phố trực thuộc tỉnh là Hải Dương, Thái Bình, Hà Đông, Sơn Tây, Ninh Bình và Nam Định, 14 quận, 8 thị xã, 86 huyện, 279 phường, 99 thị trấn và 1.868 xã
b- Hiện trạng sử dụng đất
Bảng 2.1: hiện trạng sử dụng đất (%)
(ha) Tỷ lệ (%) Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Đất tự nhiên 1.481.200 4,49 32.931.400 100 Đất nông nghiệp 850.700 57,4 9.531.800 100
Đất chuyên dùng là 245.100 ha, chiếm 16,5%
Trang 36Đất ở là 93.000 ha, chiếm 6,3%
Đất lâm nghiệp là 122.100 ha, chiếm 8,2%
c- Địa hình của vùng ĐBSH
ĐBSH được chi làm 4 loại địa hình:
Vùng cửa sông Thái Bình có bề mặt bồi tích phù sa rất thấp, trung bình 1m Khu vực gần biển, nhất là về phía Đông Nam, độ cao của bề mặt phù sa không quá 0,5 m
Vùng đồng bằng bồi tụ phù sa sông Hồng có diện tích lớn nhất vùng Hiện nay, vùng này đã thoát khỏi ảnh hưởng của biển và do hệ thống đê chắn mà qúa trình bồi lấp của sông cũng bị ngừng lại Trong vùng này rất ít đồi, núi sót và có độ cao của bề mặt bồi tụ không đồng nhất Khu vực Sơn Tây, Việt Trì có độ cao bồi tụ từ 12 ÷ 16m, khu vực Hà Nội có độ cao 6 ÷ 8m,
từ Hưng Yên trở xuống, bề mặt chỉ cao 2 ÷ 3m và rất bằng phẳng
Vùng đất trũng Nam Hà - Ninh Bình nằm giữa một bên là sông Đáy và chân dãy núi đá vôi Ninh Bình, một bên là sông Hồng và sông Nam Định Diện tích bị úng thực tế chiếm 3/4 diện tích Khu vực bị úng nằm ở độ cao trung bình 0,6 ÷ 1 m, xen kẽ vào đó là các khoảng đất cao hơn từ 1 ÷ 1,5 m Vùng tam giác châu hiện đại sông Hồng có địa hình rất bằng phẳng, nằm
ở độ cao 0,5 ÷ 1,3 m Càng gần bờ biển thì địa hình càng thấp và bằng phẳng, một số nơi có xuất hiện các dải cồn cát là dấu vế của bờ biển cũ nổi cao tới 2
÷ 3m Các dải cồn cát này chạy gần song song với nhau và cách nhau bởi những vệt trũng dài và hẹp
d- Đặc điểm khí hậu của vùng ĐBSH
Đồng Bằng sông Hồng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng
và ẩm, nhiệt độ trung bình năm 230C Trong đó mùa đông nhiệt độ dưới 20oC bình quân là 116 ngày (cuối tháng 11 đến giữa tháng 3 năm sau), có 3 tháng lạnh nhất là tháng 12, tháng 1 và 2 Nhiệt độ thấp nhất biến động trong
Trang 37khoảng 16,2-17,8oC Xét về nhiệt độ có thể chia làm 4 tháng mùa lạnh và 8 tháng mùa nóng
Lượng mưa trung bình năm từ 1.700-1.800 mm nhưng phân bố không đều trong các tháng Từ tháng 5 đến tháng 9 lượng mưa trung bình tháng
>200 mm và chiếm khoảng 80-85% tổng lượng mưa cả năm, tháng 10 có lượng mưa trên 100 mm, 6 tháng còn lại có lượng mưa <100 mm
Cường độ bức xạ từ 120-140 kcalo/cm2/năm Tổng số giờ nắng trong năm trên 1.500 giờ, về mùa hè số giờ nắng cao nhất trong ngày tới 12 giờ Độ rọi ban ngày đạt trên 1.000 lux
Độ ẩm tương đối trung bình từ 80-90%, về mùa mưa có lúc đạt tới 100% Độ ẩm không khí cao và lượng bốc hơi cũng không lớn, thường không quá 1.000 mm/năm
2.1.2- Tình hình kinh tế xã hội
a- D ân số và phân bố dân cư
Đặc điểm nổi bật của vùng ĐBSH là vùng đất chật người đông, diện tích
tự nhiên nhỏ nhất nhưng số dân và mật độ dân số lại cao nhất trong cả nước Tính đến năm 2004, dân số trong vùng là 17.836.000 người (bảng 2.2), mật
độ dân số trung bình là 1.204 người/km2 cao gấp 4,83 lần so với mật độ dân
số trung bình trong cả nước
Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hoá tăng nhanh nhưng dân số khu vực nông thôn của vùng ĐBSH vẫn chiếm tỷ lệ lớn Tính đến năm 2004, khu vực thành thị là 4.246.600 người, chiếm 23,8%, khu vực nông thôn là 13.589.000 người, chiếm 76,2%
Bảng 2.2: Dân số và mật độ dân cư ở ĐBSH
STT Tỉnh, TP Dân số
(10 3 người)
Thành thị (10 3 người)
Nông thôn (10 3 người)
Mật độ DS (người/km 2 )
1 Hà Nội 3.082,8 1.999,8 1.083,0 3.347
Trang 38''Nguồn: Niên giám thống kê năm 2004''
- Thu nhập bình quân vùng ĐBSH tăng từ 353.100 đ/ng/tháng trong giai đoạn 2001-2002 lên 487.200 đ/ng/tháng giai đoạn 2003-2004, đứng thứ 2 trong cả nước và tương đương với thu nhập bình quân trong cả nước
- Bình quân lương thực đầu người vùng ĐBSH thấp hơn sơ với bình quân của
Trang 39cả nước và có xu hướng giảm từ 410 k/ng/năm ở năm 2002 xuống còn 395,4 kg/ng/năm vào năm 2004
- Tỷ lệ số hộ nghèo chung giảm từ 22,6% xuống còn 21% vào năm 2004 và thấp hơn trung bình so với cả nước 3%
- Tỷ lệ hộ nghèo lương thực giảm từ 6,5% xuống còn 4,3% vào năm
2003-2004 và thấp hơn trung bình trong cả nước 1,8 lần
b- Cơ cấu kinh tế
Theo niên giám thống kê, cơ cấu kinh tế của vùng ĐBSH tính đến 2004 như sau:
- Nông - Lâm - Ngư nghiệp: 14,7% (tổng giá trị đạt 26.367,3 tỷ đồng)
- Công nghiệp: 43,19% (tổng giá trị đạt 77.485,3 tỷ đồng)
- Thương mại, dịch vụ: 42,11% (tổng giá trị đạt 75.554,0 tỷ đồng)
Trang 40Thông số 2000 2001 2002 2003 2004
Giá trị SXNN (tỷ đồng) 20.898,1 21.261,8 22.208,9 22.821,9 23.895,2
DT lúa cả năm (1.000 ha) 1.212,6 1.202,5 1.196,6 1.183,5 1.161,4
NS lúa cả năm (tạ/ha) 54,3 53,4 56,4 54,8 57,8
SL lúa cả năm (1.000 tấn) 6.586,6 6.419,4 6.752,2 6.487,3 6.708,8 Đàn trâu (1.000 con) 213,7 182,2 171,2 165,0 154,6 Đàn bò (1.000 con) 488,3 482,9 502,1 542,3 604,4 Đàn lợn (1.000 con) 5.398,5 5.921,8 6.307,1 6.757,6 6.898,4 Đàn gia cầm (1.000 con) 52.577 57.137 59.695 65.503 59.084
''Nguồn: Niên giám thống kê năm 2004''
• Ngành công nghiệp (bảng 2.5):
Bảng 2.5: một số chỉ tiêu ngành công nghiệp
Giá trị SXCN (tỷ đồng) 40.959,9 46.227,2 55.197,6 66.632,1 77.485,3 Chỉ số phát triển giá trị SXCN
(%)
122,0 114,5 119,4 120,7 116,3
''Nguồn: Niên giám thống kê năm 2004''
- Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh năm 1994 ở vùng ĐBSH tăng
từ 40.959,9 tỷ đồng năm 2000 lên 77.485,3 tỷ đồng năm 2004, tăng 89,17%
- Chỉ số phát triển giá trị sản xuất công nghiệp hàng năm tăng từ 14,5-22,0% tương đương với chỉ số phát triển trung bình trong cả nước