Nhằm góp phần thúc đẩy hoạt động CGCN, đưa các hoạt động xúc tiến CGCN trở thành môi trường thuận lợi cho công nghệ phát triển, tăng thêm hàm lượng giá trị của hàng hóa công nghệ trên th
Trang 2NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
2 PGS.TS NGUYỄN MINH DUỆ
HÀ NỘI – 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau qúa trình tập trung nghiên cứu, đến nay luận án tiến sĩ với chủ đề “Thực trạng và giải pháp phát triển hoạt động xúc tiến chuyển giao công nghệ ở Việt Nam” đã hoàn thành
Điều đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS.Nguyễn Văn Nghiến, PGS TS Nguyễn Minh Duệ những người thầy đã hướng dẫn tận tình chu đáo và có những góp ý thật quý báu để tôi hoàn chỉnh luận án tiến sĩ của mình
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Kinh tế và Quản lý, Viện đào tạo sau đại học - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm trong qúa trình học tập, đóng góp cho tôi những ý kiến sâu sắc để từ đó, tôi hình thành nên những trang luận án chứa đầy tâm huyết của mình
Tôi vô cùng cám ơn TS Trần Hữu Cận nguyên Vụ trưởng Vụ Đánh giá Thẩm định và Giám định công nghệ; TS.Nguyễn Quang Tuấn Trưởng ban chính sách đổi mới và phát triển thị trường công nghệ Viện chiến lược và chính sách Khoa học và Công nghệ - Bộ Khoa học và Công nghệ; PGS TS Đinh Phi Hổ, Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh; cùng các bạn bè, đồng nghiệp tại Bộ Khoa học và Công nghệ, các Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Bình Định, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Hà Nội; bạn bè tại các cơ quan khác thuộc các tỉnh thành trong nước đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin, tài liệu trong quá trình nghiên cứu cũng như góp ý cho tôi nhiều vấn đề liên quan trực tiếp đến nội dung được đề cập trong luận án
Tôi xin gửi lời cám ơn và biết ơn tới gia đình tôi, những người đã luôn động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi có nhiều thời gian tập trung cho học tập, nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cám ơn tới các đồng chí lãnh đạo và tập thể anh, chị, em thuộc
Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, đã tạo mọi điều kiện về thời gian, kinh phí và sự động viên khích lệ để tôi yên tâm học tập
Do thời gian nghiên cứu có hạn, hơn nữa vấn đề liên quan đến các hoạt động xúc tiến chuyển giao công nghệ cũng như thị trường công nghệ ở Việt Nam, nhìn chung vẫn còn khá mới mẻ, trong khi năng lực nghiên cứu của cá nhân còn hạn chế,
“lực bất tòng tâm” cho nên luận án không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của qúy thầy, cô và các bạn bè, đồng nghiệp nhằm giúp cho luận án của tôi hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cám ơn./
Hà Nội, ngày 31 tháng 7 năm 2012
Tác giả luận án
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của
TS Nguyễn Văn Nghiến, PGS.TS Nguyễn Minh Duệ Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã được công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận án là do tác giả tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan
Tác giả luận án
NGUYỄN VÂN ANH
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 6
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ 8
PHẦN MỞ ĐẦU 10
1 Tính cấp thiết của đề tài 10
2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu liên quan 11
3 Mục tiêu nghiên cứu 12
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
5 Câu hỏi nghiên cứu 13
6 Giả thuyết nghiên cứu 13
7 Phương pháp nghiên cứu 14
8 Những kết quả đạt được, ý nghĩa khoa học, giá trị thực tiễn, điểm mới của luận án 14
9 Kết cấu luận án 17
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN 18
CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ 18
1.1 Một số khái niệm cơ bản về công nghệ 18
1.1.1 Khái niệm về công nghệ 18
1.1.2 Thị trường công nghệ 19
1.1.3 Chuyển giao công nghệ 21
1.2 Xúc tiến CGCN 24
1.2.1 Khái niệm xúc tiến CGCN 24
1.2.2 Vai trò của xúc tiến CGCN 27
1.2.3 Phân loại xúc tiến CGCN 27
1.3 Hoạt động xúc tiến CGCN 28
1.3.1 Hoạt động xúc tiến thương mại 29
1.3.2 Xúc tiến CGCN tương ứng xúc tiến thương mại 31
1.3.3 Các hoạt động xúc tiến đặc thù công nghệ 33
1.3.4 Các hoạt động xúc tiến CGCN 34
1.3.5.Các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động xúc tiến CGCN 37
1.3.6 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xúc tiến CGCN 38
1.3.7 Các lý thuyết liên quan phát triển hoạt động xúc tiến CGCN 40
1.4.Kinh nghiệm Trung Quốc và Hàn quốc về hoạt động xúc tiến CGCN 48
1.4.1 Xúc tiến CGCN của Trung Quốc 48
1.4.2 Xúc tiến CGCN của Hàn Quốc 56
1.4.3 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 61
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 63
Trang 6CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÁC HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN CHUYỂN
GIAO CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM 64
2.1 TTCN tại Việt Nam 64
2.1.1 Hệ thống pháp luật liên quan đến TTCN 64
2.1.2 Hàng hoá công nghệ 65
2.1.3 Cung công nghệ 68
2.1.4 Cầu công nghệ 71
2.1.5.Tổ chức DV của TTCN 77
2.2 Phân tích các hình thức hoạt động xúc tiến CGCN ở Việt Nam 78
2.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến các hoạt động xúc tiến CGCN ở Việt Nam 84
2.3.1 Nhân tố TTCN tại Việt Nam 85
2.3 2.Nhân tố cơ chế, chính sách của Nhà nước đối với tổ chức xúc tiến CGCN 85
2.3.3 Nhân tố các chương trình hỗ trợ xúc tiến CGCN 98
2.3.4 Nhân tố các tổ chức tham gia vào hoạt động xúc tiến CGCN 102
2.3.5 Nhân tố chất lượng cung cấp DV 108
2.3.6 Nhân tố các DV hỗ trợ cho hoạt động xúc tiến CGCN 108
2.3.7 Nhân tố nguồn nhân lực về hoạt động xúc tiến CGCN 109
2.3.8 Nhân tố cơ sở vật chất của các tổ chức xúc tiến CGCN 110
2.3.9 Nhân tố liên quan đến công tác tổ chức 110
2.3.10 Nhân tố các hình thức hoạt động xúc tiến CGCN 112
2.4 Đánh giá kết quả hoạt động xúc tiến CGCN 112
2.4.1 Thành tựu 112
2.4.2 Hạn chế 115
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 125
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ KHÁM PHÁ (EXPLORATORY FACTOR ANALYSIS - EFA) TÁC ĐỘNG ĐẾN CÁC HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ 126
3.1 Nghiên cứu định tính (xác định các nhân tố ảnh hưởng) 127
3.1.1 Các bước nghiên cứu định tính 127
3.1.2 Mẫu nghiên cứu định tính (tham khảo ý kiến chuyên gia) 127
3.1.3 Kết quả nghiên cứu định tính 128
3.2 Nghiên cứu định lượng 131
3.2.1 Thiết kế phiếu điều tra 131
3.2.2 Mã hóa dữ liệu 131
3.2.3 Mẫu nghiên cứu định lượng 134
3.2.4 Cách thức thu thập dữ liệu 134
3.2.5 Xử lý số liệu 135
3.3 Kết quả 135
3.3.1 Kết quả thống kê số phiếu điều tra 135
3.3.2 Kết quả phân tích số liệu điều tra 138
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 159
Trang 7CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN CHUYỂN GIAO
CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM 160
4.1 Xu thế phát triển hoạt động xúc tiến CGCN 160
4.2 Chủ trương của nhà nước về phát triển hoạt động xúc tiến CGCN 161
4.3 Các nguyên tắc tổ chức hoạt động xúc tiến CGCN 162
4.3 Đề xuất các giải pháp 163
4.3.1 Nhóm giải pháp 1: Phát triển các tổ chức hoạt động xúc tiến CGCN 163
4.3.2 Nhóm giải pháp 2: Hoàn thiện các hình thức hoạt động xúc tiến CGCN 178
4.3.3 Nhóm giải pháp 3: Phát triển nguồn nhân lực trong hoạt động xúc tiến CGCN 189
4.3.4 Nhóm giải pháp 4: Hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với hoạt động xúc tiến CGCN 192
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 196
KẾT LUẬN 197
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 200
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 201
PHỤ LỤC 210
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 ADB : Ngân hàng Phát triển châu Á
2 APCTT : Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á – Thái Bình Dương
3 ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
4 CGCN : Chuyển giao công nghệ
5 CIEM : Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương
6 CNC : Công nghệ cao
7 CNTT : Công nghệ thông tin
8 DNNVV : Doanh nghiệp nhỏ và vừa
10 ESCAP : Ủy ban Kinh tế và xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
(Economic and Social Commission for Asia and the Pacific)
11 EU : Liên minh Châu Âu
12 FDI : Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
13 GAP : Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt
14 JICA : Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản
15 KQNC : Kết quả nghiên cứu và triển khai
16 KTTC : Trung tâm chuyển giao công nghệ Hàn Quốc
17 KH&CN : Khoa học và Công nghệ
18 MOCIE : Bộ Thương mại, công nghiệp và năng lượng
19 MOST : Bộ Khoa học và Công nghệ
20 NCS : Nghiên cứu sinh
21 NISTPASS : Viện chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ
22 NTMN : Nông thôn miền núi
28 R&D : Nghiên cứu và triển khai
29 SHCN : Sở hữu công nghiệp
30 SHTT : Sở hữu trí tuệ
31 STP : Công viên khoa học và công nghệ
32 STTE : Sàn giao dịch công nghệ Thượng Hải
33 TBI : Vườn ươm công nghệ
34 TLO : Văn phòng chuyển giao công nghệ
Trang 940 UBND : Ủy ban nhân dân
41 UNCTAD : Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (United
Nations Conference on Trade and Development)
42 UNIDO : Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hiệp quốc(United Nations
Industrial Development Organization)
43 UNDP : Chương trình phát triển liên hiệp quốc (United Nations
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Sự tham gia của các hoạt động xúc tiến CGCN theo chiều dọc 35
Bảng 1.2: Sự tham gia của hoạt động xúc tiến CGCN theo chiều ngang 36
Bảng 1.3: Các luật liên quan đến xúc tiến CGCN tại Hàn Quốc 56
Bảng 2.1: Số lượng văn bằng bảo hộ được cấp tại Việt Nam 2005 – 2010 65
Bảng 2.2: Đăng ký sáng chế và giải pháp hữu ích tại Việt Nam 2005 – 2010 67
Bảng 2.3: Số lượng hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng và quyền sở hữu các đối tượng SHCN đã được đăng ký tại Việt Nam (2004 – 2009) 67
Bảng 2.4: Nhập khẩu thiết bị tại Việt Nam (giai đoạn 2006 – 2010) 68
Bảng 2.5: Những rào cản trong hoạt động CGCN từ nhà trường vào sản xuất 69
Bảng 2.6: Số doanh nghiệp Việt Nam phân theo loại hình 71
Bảng 2.7: Kim ngạch và tốc độ tăng trưởng xuất – nhập khẩu của các nước Asean trong năm 2010 71
Bảng 2.8: Tác động của các nhân tố thúc đẩy qúa trình đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp 73
Bảng 2.9: Các nhân tố cản trở quá trình đổi mới công nghệ của doanh nghiệp 74
Bảng 2.10: Xếp hạng sản phẩm nông nghiệp chủ yếu của một số nước Đông Nam Á năm 2007 75
Bảng 2.11: Một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu tại Việt Nam 76
Bảng 2.12: Mức độ sử dụng DV TTCN để có ý tưởng đổi mới CN của doanh nghiệp Việt Nam 78
Bảng 2.13: Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho hoạt động KH&CN của Việt Nam: 2005 – 2010 93
Bảng 2.14: Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ theo Nghị định 119/1999/NĐ-CP 100
Bảng 2.15: Biện pháp đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam 106
Bảng 2.16: Phương thức thực hiện đổi mới công nghệ của doanh nghiệp 106
Bảng 2.17: Hiện trạng chuyên môn được đào tạo trong lĩnh vực thông tin KH&CN 109
Bảng 2.18: Các tố chức tham gia vào hoạt động xúc tiến CGCN tại Việt Nam 115
Bảng 2.19: Tổng hợp các Techmart giai đoạn 2006 – 2009 116
Bảng 2.20: Đầu tư cho R&D ở một số nước 117
Bảng 2.21: Danh sách các đề tài nghiên cứu cơ bản được qũy NAFOSTED tài trợ năm 2009 119
Bảng 2.22: Hiện trạng quy mô tổ chức thông tin KH&CN cấp Bộ/ngành và địa phương 121
Bảng 2.23: Hiện trạng nhân lực tổ chức thông tin KH&CN cấp Bộ/ngành và địa phương 121
Bảng 2.24: Tình hình thực hiện các đề tài/dự án của các Trung tâm ứng dụng toàn quốc trong hai năm 2008 – 2009 122
Bảng 3.1: Thống kê số phiếu khảo sát theo địa bàn và loại hình tổ chức điều tra 135
Trang 11Bảng 3.2: Thống kê phiếu khảo sát theo địa bàn và chuyên môn của đối tượng điều tra 136
Bảng 3.3: Thống kê phiếu khảo sát theo thời gian công tác của đối tượng điều tra 136
Bảng 3.4: Thống kê số phiếu khảo sát theo độ tuổi của đối tượng được điều tra 137
Bảng 3.5: Thống kê phiếu khảo sát theo trình độ chuyên môn của đối tượng điều tra 137
Bảng 3.6: Thống kê số phiếu khảo sát theo giới tính của đối tượng được điều tra 138
Bảng 3.7: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố TTCN 138
Bảng 3.8: Sự tác động của các yếu tố TTCN 139
Bảng 3.9: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cơ chế, chính sách 139
Bảng 3.10: Mức độ ảnh hưởng của các chương trình xúc tiến CGCN của nhà nước 140
Bảng 3.11: Mức độ ảnh hưởng của các tổ chức tham gia hoạt động xúc tiến CGCN 141
Bảng 3.12: Kết quả đánh giá về chất lượng DV hoạt động xúc tiến CGCN 141
Bảng 3.13: Kết quả đánh giá về các DV hỗ trợ hoạt động xúc tiến CGCN 142
Bảng 3.14: Kết quả đánh giá về nguồn nhân lực hoạt động xúc tiến CGCN 143
Bảng 3.15: Kết quả đánh giá về điều kiện cơ sở vật chất hoạt động xúc tiến CGCN 143
Bảng 3.16: Mức độ ảnh hưởng của công tác tổ chức của hoạt động xúc tiến CGCN 144
Bảng 3.17: Kết quả đánh giá về các hình thức hoạt động xúc tiến CGCN 145
Bảng 3.18: Kết quả đánh giá chung của các hoạt động xúc tiến CGCN 145
Bảng 3.19: Thống kê các biến quan sát sau khi kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 146 Bảng 3.20: Hệ số KMO và kết quả kiểm định Bartlett 147
Bảng 3.21: Bảng tổng phương sai trích của 12 nhân tố khám phá 148
Bảng 3.22: Bảng ma trận tự xoay 150
Bảng 3.23: Bảng tổng hợp các nhân tố khám phá 151
Bảng 3.24: Bảng hệ số tương quan của mô hình hồi quy 154
Bảng 3.25: Bảng đánh giá mức độ phù hợp của mô hình hồi quy 155
Bảng 3.26: Bảng phân tích ANOVA 155
Bảng 3.27:Hệ số tương quan giữa các biến độc lập 156
Bảng 3.28: Hệ số phóng đại phương sai (VIP) 156
Bảng 3.29: Bảng kết quả kiểm định Prearman 157
Bảng 4.1: Tổng hợp tình hình đầu tư cho R&D và KQNC tại Sở KH&CN Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2007 -2011 170
Bảng 4.2: Bảng so sánh lợi ích của xây dựng TLO tại các cơ quan quản lý KH&CN địa phương 175
Trang 12D ANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Sơ đồ 1: Các bước nghiên cứu 14
Hình 1.1: Mô hình thị trường công nghệ 21
Hình 1.2: Mô hình về vị trí của xúc tiến CGCN trong hoạt động CGCN 25
Hình 1.3: Mô hình sự hình thành tổ chức xúc tiến CGCN 28
Hình 1.4: Mô hình xúc tiến thương mại và xúc tiến CGCN 29
Hình 1.5 : Quá trình CGCN từ phòng thí nghiệm ra thực tế 34
Sơ đồ 1.6 : Quá trình CGCN theo chiều dọc 35
Hình 1.7: Mô hình hoạt động xúc tiến CGCN 36
Hình 1.8 : Mô hình về vị trí xúc tiến CGCN trong hoạt động CGCN (đề tài đề xuất) 37
Hình 1.9: Mô hình quan hệ cung cầu 41
Hình 1.10: Mô hình dịch chuyển đường cầu với giá P0, cầu thay đổi ∆Q 42
Hình 1.11: Mô hình dịch chuyển đường cung với giá P0, cung thay đổi ∆Q 43
Hình 1.12: Tác động của thuế 43
Sơ đồ 1.13: Sơ đồ các mức độ khác nhau của DV 44
Sơ đồ 1.14: Mô hình hệ thống sản xuất cung cấp DV 45
Sơ đồ 1.15: Những tiêu chí chất lượng DV nhận được 48
Sơ đồ 1.16: Các loại Trung tâm xúc tiến năng xuất 54
Biểu đồ 1.17: Tỷ lệ % các lĩnh vực CGCN tại STTE 56
Biểu đồ 2.1 : Số lượng patent của một số nước trên thế giới 66
Hình 2.2: Các giai đoạn ươm tạo của TBI 82
Hình 2.3: Mức độ quan trọng của các yếu tố đối với đổi mới công nghê trong doanh nghiệp124 Lưu đồ 3.1: Các bước xác định nhân tố khám phá EFAảnh hưởng chủ yếu 126
Sơ đồ 3.2: Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xúc tiến CGCN 130
Sơ đồ 3.3:Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xúc tiến CGCN sau phân tích EFA 153
Hình 4.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức liên quan QLNN về xúc tiến CGCN 164
Hình 4.2 Sơ đồ mạng lưới các tổ chức xúc tiến CGCN 166
Hình 4.3: Mô hình tổ chức hoạt động của TLO trong trường đại học 168
Hình 4.4: Mô hình quan hệ giữa các đơn vị tham gia CGCN trong các trường đại học 169
Hình 4.5: Mô hình ý nghĩa của TLO 170
Sơ đồ 4.6: Sơ đồ quy trình quản lý khai thác TSTT các KQNC 171
Sơ đồ 4.7 : Mối quan hệ giữa TLO với các tổ chức xúc tiến CGCN 172
Sơ đồ 4.8: Mối quan hệ giữa TLO với các chủ thể tham gia thương mại KQNC 173
Sơ đồ 4.9: Quy trình triển khai các đề tài/dự án tại địa phương 174
Trang 13Sơ đồ 4.10: Mô hình sự gia tăng giá trị KQNC khi có TLO 176
Sơ đồ 4.11: Mô hình tổ chức bộ máy TLO 176 Hình 4.12: Các nhãn hiệu Techmart đã được bảo hộ tại Việt Nam 183
Trang 14PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vai trò công nghệ trong phát triển kinh tế được đề cập từ rất lâu, nhưng thuyết phục nhất là học thuyết “Kinh tế học đổi mới” của Schumpeter (1964) Trong đó, giả thuyết
“Đổi mới công nghệ và tăng trưởng kinh tế” đã trở thành một trong những cơ sở nền tảng của học thuyết tăng trưởng nội sinh, gắn liền với quan điểm công nghệ đóng vai trò động lực cho sự tăng trưởng Thực tiễn phát triển của một quốc gia trên thế giới như Hàn Quốc hay Nhật Bản, là những minh chứng đắt giá cho sự đúng đắn của học thuyết
Hàn Quốc và Nhật Bản, là hai quốc gia không giàu về tài nguyên nhưng đã vươn lên trở thành những nền kinh tế lớn trên thế giới Nhật Bản đã nhiều năm liền giữ vị trí thứ hai, còn Hàn Quốc là nền kinh tế đứng thứ 12 trên thế giới Một trong những nguyên nhân làm cho Nhật Bản hay Hàn Quốc phát triển nhanh là họ đã có những chính sách đưa công nghệ trở thành những đòn bẩy để phát triển kinh tế, tập hợp và huy động mọi nguồn lực để đầu
tư phát triển công nghệ (PTCN) Năm 2010, Nhật Bản đầu tư cho R&D là 3,3 % GDP, Hàn Quốc là 3%, vượt cả Mỹ 2,7 %, Đức 2,3%, Singapore 2,2%1
Sớm nhận thức được tầm quan trọng của công nghệ và thị trường công nghệ (TTCN) trong phát triển kinh tế, xã hội, những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, Trung Quốc
đã ban hành hệ thống chính sách mở cửa song hành với phát triển TTCN Hiện nay TTCN
đã trở thành một trong những thành phần quan trọng trong các hệ thống thị trường của Trung Quốc Khối lượng các hợp đồng thương mại công nghệ đã tăng từ 700 triệu nhân dân tệ từ năm 1985 lên 266,5 tỷ nhân dân tệ năm 2008 Khối lượng các tổ chức tham gia vào các hoạt động dịch vụ cũng phát triển vượt bậc Hiện Trung Quốc có 19.000 tổ chức giao dịch với 800.000 nhân viên Có 200 chợ giao dịch công nghệ ở các cấp, 672 vườn ươm doanh nghiệp công nghệ Các hoạt động CGCN và xúc tiến CGCN đã đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế, xã hội cũng như bảo vệ môi trường tại Trung Quốc
Trong khi đó, tại Việt Nam TTCN còn nhỏ bé, các hoạt động xúc tiến CGCN còn mờ nhạt Trong thời gian 2006 – 2009 tổng số hợp đồng ghi nhớ ghi nhận được tại các kỳ Techmart chỉ có 6.145 hợp đồng với tổng giá trị là 4.286,05 tỷ đồng Hiện nay, Việt Nam chỉ có 2 trung tâm giao dịch công nghệ, 9 vườn ươm doanh nghiệp công nghệ, 2 tổ chức tham gia thực hiện tổ chức các chợ công nghệ, Các tổ chức này chưa đáp ứng được nhu cầu đổi mới công nghệ, cũng như vai trò thúc đẩy CGCN từ Viện trường tới các doanh nghiệp
Hiện nay tỷ lệ các doanh nghiệp Việt Nam có trình độ công nghệ ở mức lạc hậu còn chiếm 52%; tốc độ đổi mới công nghệ trung bình hàng năm đạt khoảng 10%
Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam rất thấp so với nhiều nước trong khu vực và thế giới Theo báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu của diễn đàn kinh tế thế giới năm 2010 – 2011, Việt Nam chỉ đạt điểm số năng lực cạnh tranh là 4,3 điểm, xếp vị trí 59 trong tổng số 139 nền kinh tế được xếp hạng trong năm 2010, thấp hơn so với nhiều quốc gia ở Đông Nam á khác như: Singapore (hạng 3), Malayxia (26), Brunei (28), Thái Lan (38), Indonexia (44)
1 Phạm Ngọc Minh (2011),”Đầu tư cho R&D và đổi mới sáng tạo, giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế”, Tạp chí hoạt động khoa học, số tháng 10/2011
Trang 15
Nhằm góp phần thúc đẩy hoạt động CGCN, đưa các hoạt động xúc tiến CGCN trở thành môi trường thuận lợi cho công nghệ phát triển, tăng thêm hàm lượng giá trị của hàng hóa công nghệ trên thị trường, thúc đẩy những kết quả nghiên cứu được hình thành từ các Viện/ trường ứng dụng vào cuộc sống, góp phần đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp đáp ứng xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả
đã chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát triển hoạt động xúc tiến CGCN ở Việt Nam” làm chủ đề cho luận án tiến sĩ của mình
Việc lựa chọn hướng nghiên cứu này, không những phù hợp với những định hướng trong Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam, Đề án phát triển TTCN Việt Nam, Luật KH&CN, Luật CGCN, Luật Công nghệ cao, mà còn góp phần làm rõ bức tranh toàn cảnh về hoạt động xúc tiến CGCN, luận giải và đưa ra những khuyến nghị để thực hiện các mục đích nêu trên
Hiện nay, TTCN đang là vấn đề thời sự được nhiều tác giả trong và ngoài nước tập trung nghiên cứu Về cơ bản các tác giả đã phác họa được bức tranh tổng thể của TTCN, ngoài hàng hóa là công nghệ là hạt nhân trung tâm, các nhân tố cấu thành gồm 4 nhân tố: Thể chế, cung, cầu, và các tổ chức dịch vụ (DV)
Các công trình nghiên cứu đã góp phần phác họa chân dung của TTCN, tiêu biểu:
“China’s Tehnology Market Policies & Management System” (Cheng Qing, 2009);
“Technology Commercialization in Republic of Korea”, Dr Young Roak Kim; “Phát triển thị trường khoa học và công nghệ Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của tiến sĩ Nguyễn Thị Hường, 2007; “Công nghệ và TTCN Việt Nam” của Viện chiến lược và chính sách Khoa học và Công nghệ (NISTPASS) thực hiện, 2003; Nghiên cứu luận khoa học cho các chính sách và giải pháp xây dựng, phát triển thị trường Khoa học và Công nghệ ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của tiến sĩ Hồ Đức Việt, đề tài độc lập cấp nhà nước 2003 - 2006
Song song với việc định hình bức tranh tổng thể của TTCN, một số công trình tập trung chuyên sâu phân tích rõ từng yếu tố của thị trường Trong đó DV TTCN (bao gồm tư vấn, đánh giá, định giá, môi giới, xúc tiến CGCN và một số loại hình DV khác) , thuộc nhóm tác nhân quan trọng của thị trường, đã được một số công trình nghiên cứu tiếp cận:“Nghiên cứu phát triển các tổ chức tư vấn, môi giới CGCN ở Việt Nam”, đề tài nghiên cứu cấp cơ sở do tiến sĩ Hoàng Xuân Long thực hiện (2008); “Phát triển mạng lưới môi giới công nghệ Việt Nam” của Tạ Việt Dũng (2009); “Phát triển cơ quan DV trung gian khoa học và công nghệ” bài viết của tiến sĩ Nguyễn Nghĩa đăng trên tạp chí dự báo, chiến lược, chính sách số 8/2008; Tuy nhiên các nghiên cứu chuyên sâu liên quan đến DV TTCN vẫn chưa hoàn chỉnh, nhiều nội dung liên quan đến DV TTCN chưa được đề cập đầy đủ, rõ ràng, cụ thể trong đó có hoạt động xúc tiến CGCN Mặc dù hoạt động này được các tác giả đề cập tản mạn ở nhiều công trình khác nhau, cụ thể:
Một là, đề cập trực tiếp đến kết quả hoạt động của chợ công nghệ, sàn giao dịch công nghệ, quảng cáo công nghệ coi đó là các tổ chức trung gian để kết nối giữa các bên cung, cầu của TTCN (Nguyễn Trọng, 2009)[109]; (Lê Khánh Vân,2009) [127]; (NISTPASS, 2003) [129]; Thị trường Khoa học và Công nghệ (Nguyễn Thị Hường, 2007) [60]; (STTE, 2009) [143];
Hai là, đề cập đến một số tổ chức, hoặc các hoạt động, xác định và đánh giá đó là những tổ chức hay hoạt động có tác động thúc đẩy, tìm kiếm và tạo cơ hội CGCN hoặc xúc tiến CGCN (promote technology transfer)
Trang 16Các tổ chức và hoạt động được xác định và đánh giá có tác động thúc đẩy, tìm kiếm
và tạo cơ hội CGCN hoặc xúc tiến CGCN là:
Cung cấp thông tin công nghệ (APCTT,2006)[144];
Hoạt động CGCN (APCTT,2006)[144]; hay tổ chức CGCN – điển hình là Korea Technology Transfer Center (Young Roak Kim) [148];
Ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ, vườn ươm công nghệ (Hồ Sỹ Hùng, 2010) [ 56]; (Trung tâm thông tin KH&CN quốc gia, 2006,2007) [112], [113];
Hỗ trợ tài chính cho CGCN (Young Roak Kim) [148];
Các mô hình liên kết viện – trường với doanh nghiệp (Hoàng Xuân Long, 2005)[67]; (Trần Văn Bình, 2011)[7];
Nhìn chung, các kết quả của các công trình nghiên cứu trên đều có những đóng góp quan trọng đối với việc nghiên cứu hoạt động xúc tiến CGCN, nhưng chưa kết quả của công trình nghiên cứu nào phản ánh tổng quát được thực trạng các hoạt động xúc tiến CGCN và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xúc tiến CGCN, từ đó đề xuất cơ chế, chính sách, giải pháp phù hợp nhằm phát triển loại hình hoạt động này Việc nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần khắc phục các hạn chế nêu trên
Mặt khác, cho đến thời điểm hiện nay, quá trình nghiên cứu tác giả chưa tiếp cận được công trình nghiên cứu nào trong và ngoài nước sử dụng phương pháp định lượng để phân tích hoạt động các tổ chức xúc tiến CGCN Tuy nhiên, trong các lĩnh vực khác đã xuất hiện rất nhiều Ví dụ luận văn thạc sĩ “Phát triển du lịch Lâm Đồng đến năm 2020” của Nguyễn Thanh Vĩnh (2007) - Trường Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Luận án tiến sĩ
“Phát triển ngành cà phê Việt Nam” của nghiên cứu sinh (NCS) Phạm Ngọc Dưỡng (2011)
- Trường Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Các công trình nghiên cứu trên đã định lượng các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu sau đó thiết lập hàm đa biến, xác định các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu (nhân tố khám phá) làm cơ sở khoa học đưa ra các giải pháp Các nhân
tố ảnh hưởng được đề cập trong các luận án dựa trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó, hoặc được xây dựng trên nền tảng lý thuyết nhất định
Nhận thấy phương pháp định lượng là một thế mạnh trong việc nghiên cứu đề ra các giải pháp trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội hiện nay Đồng thời, tác giả cũng thấy rằng hoàn toàn có thể xác định các nhân tố ảnh hưởng đến các hoạt động xúc tiến CGCN trên cơ
sở các kiến thức về kinh tế học và lý thuyết về dịch vụ, từ đó sử dụng phương pháp định lượng làm cơ sở khoa học để đề ra giải pháp Vì vậy, tác giả đã mạnh dạn sử dụng phương pháp này Kết quả nghiên cứu của đề tài không những hoàn thành mục tiêu nghiên cứu là
đề xuất giải pháp nhằm phát triển các hoạt động xúc tiến CGCN ở Việt Nam mà còn góp phần cung cấp bộ công cụ cho các công trình nghiên cứu liên quan
Mục tiêu khái quát:
Đánh giá thực trạng các hoạt động xúc tiến CGCN ở Việt Nam: hình thức hoạt động, các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hoạt động và kết quả đạt được;
Đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động xúc tiến CGCN ở Việt Nam nhằm hỗ trợ cho quá trình đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp và thúc đẩy quá trình thương mại hoá kết quả nghiên cứu tại các Viện/trường ở Việt Nam
Trang 17Nhiệm vụ cụ thể:
Hoàn thiện cơ sở lý thuyết cho hoạt động xúc tiến CGCN
Đề xuất các tiêu chí đánh giá về hoạt động xúc tiến CGCN
Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xúc tiến CGCN
Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về hoạt động xúc tiến CGCN làm cơ sở để so sánh, đối chiếu;
Phân tích hoạt động xúc tiến CGCN (hình thức các hoạt động, các nhân ảnh hưởng, đánh giá kết quả hoạt động);
Định lượng các nhân tố ảnh hưởng, xác định các nhân tố khám phá;
Đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động xúc tiến CGCN
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động xúc tiến CGCN ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: bao gồm (1)Hoạt động hội chợ, chợ công nghệ, triển lãm công
nghệ; (2) Hoạt động sàn giao dịch công nghệ; (3) Hoạt động cung cấp thông tin công nghệ; (4) Hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ; (5)Hoạt động hỗ trợ đầu tư tài chính; (6) Hoạt động CGCN trực tiếp; (7) Hoạt động quảng cáo, giới thiệu công nghệ
Công nghệ được đề cập trong luận án là công nghệ được hình thành trong nước; quá trình CGCN được xem xét theo hình thái công nghệ được chuyển giao (CGCN theo chiều dọc và chiều ngang) và thiết lập trong quan hệ thương mại theo cơ chế thị trường
5 Câu hỏi nghiên cứu
-Thực trạng hoạt động xúc tiến CGCN ở Việt Nam như thế nào (Thế nào được gọi là xúc tiến CGCN; Xúc tiến CGCN gồm những loại hình nào; hoạt động xúc tiến CGCN chịu tác động của những nhân tố nào, cơ sở nào để đưa ra các nhân tố đó; Kết quả hoạt động xúc tiến thời gian qua ra sao)?
-Cần có những giải pháp gì để phát triển hoạt động xúc tiến CGCN ở Việt Nam?
6 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết liên quan đến thực trạng:
Thứ nhất: Xúc tiến CGCN không chỉ bao gồm hoạt động
Thứ hai: Loại hình xúc tiến CGCN ngoài các loại hình xúc tiến thương mại truyền thống còn bao gồm các loại hình xúc tiến khác đặc trưng cho hàng hoá công nghệ Luận án
sẽ giới hạn tập trung vào một số loại hình xúc tiến CGCN chủ yếu
Thứ ba: Các nhân tố tác động đến hoạt động xúc tiến CGCN bao gồm bên trong và bên ngoài liên quan đến lý thuyết về thị trường (kinh tế học) và lý thuyết về dịch vụ;
Thứ tư: Các kết quả hoạt động xúc tiến CGCN được thể hiện qua các tiêu chí định lượng và định tính
Giả thuyết liên quan đến giải pháp:
Trang 18Giải pháp là các thiết chế kết nối cung cầu được đúc kết từ các nhân tố ảnh hưởng liên
quan đến các yếu tố thị trường và dịch vụ
Cách tiếp cận nghiên cứu: điều tra khảo sát, tài liệu, xem xét sự vận động của đối
tượng nghiên cứu trong mối quan hệ biện chứng với các đối tượng khác tr.ong môi trường xung quanh
Phương pháp nghiên cứu:
Kết hợp phương pháp thu thập thông tin tư liệu (thông qua hệ thống thư viện và Internet) và điều tra khảo sát
Phương pháp tư duy khoa học, bao gồm: phân tích, tổng hợp, mô tả, quy nạp, hệ thống các môn khoa học có liên quan như: kinh tế học, khoa học quản lý, marketing, quản trị công nghệ để nghiên cứu, xem xét, giải quyết vấn đề đặt ra
Kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng (sử dụng mô hình toán hồi quy bội và sử dụng chương trình SPSS) để phân tích, đánh giá
Việc nghiên cứu đến các đối tượng trong luận án thể hiện qua các bước (sơ đồ 1):
Sơ đồ 1: Các bước nghiên cứu (Nguồn: Tổng hợp của NCS)
điểm mới của luận án
Việc nghiên cứu đã hoàn thành một số kết quả, có ý nghĩa khoa học, giá trị thực tiễn
và đạt được những điểm mới như sau:
Trang 19Những kết quả đạt được của luận án:
Một là, hệ thống hoá cơ sở lý luận về công nghệ, CGCN, xúc tiến CGCN, xác định
rõ các loại hình hoạt động xúc tiến CGCN cùng những bài học kinh nghiệm trên thế giới
về hoạt động xúc tiến CGCN;
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng về hoạt động xúc tiến CGCN;
Ba là, đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xúc tiến CGCN; Bốn là, đề xuất các giải pháp về hoạt động xúc tiến CGCN
Ý nghĩa về khoa học:
Thứ nhất, Trên cơ sở phân tích logic, kết hợp vận dụng các kiến thức cơ bản về marketing, cùng với các thủ pháp đối chiếu, so sánh đã đề xuất bổ sung hoàn thiện khái niệm “xúc tiến CGCN” được đề cập trong luật CGCN Từ đó, đưa ra các đối tượng hoạt động xúc tiến CGCN
Thứ hai, xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động xúc tiến CGCN để phân tích đánh giá thực trạng hoạt động CGCN Các hoạt động xúc tiến CGCN được đánh giá thông qua 7 chỉ tiêu cơ bản: (1) Số lượng đơn vị tham gia hoạt động xúc tiến CGCN trên thị trường; (2)
Số lượng, chủng loại, chất lượng hàng hóa được giao dịch trên thị trường; (3)Chất lượng DV; (4) Đóng góp đối với cơ quan quản lý trong việc xây dựng và thực hiện cơ chế chính sách phát triển TTCN; (5) Đóng góp đối với phát triển kinh tế; (6) Đóng góp về mặt xã hội; (7) Đóng góp về môi trường
Thứ ba, thiết lập các nhân tố (10 nhân tố) ảnh hưởng đến hoạt động xúc tiến CGCN làm cơ sở phân tích, đánh giá về mặt định tính, định lượng Các nhân tố ảnh hưởng bao gồm: (1)Thị trường công nghệ; (2) Cơ chế chính sách; (3) Các chương trình hỗ trợ xúc tiến CGCN của Nhà nước; (4) Các loại hình tổ chức tham gia vào hoạt động xúc tiến CGCN; (5) Chất lượng DV của các tổ chức xúc tiến CGCN;(6) Các DV hỗ trợ cho hoạt động xúc tiến CGCN; (7) Chất lượng nguồn nhân lực;(8) Cơ sở vật chất của các tổ chức xúc tiến CGCN; (9) Trình độ quản lý của các tổ chức xúc tiến CGCN; (10) Các hoạt động xúc tiến CGCN, được hình thành dựa trên các cơ sở về lý thuyết thị trường (kinh tế học), DV Thứ tư, trên nền tảng kết quả định lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng, sử dụng chương trình máy tính SPSS để phân tích các nhân tố khám phá, thiết lập phương trình hồi quy cho các nhân tố khám phá, tiến hành kiểm định để đánh giá mức độ phù hợp của phương tŕnh hồi quy đã xác định được 4 nhân tố khám phá có ảnh hưởng chủ yếu đến hoạt động xúc tiến CGCN là: “Các chương trình xúc tiến CGCN”; “Phát triển năng lực CGCN”; “Các DV
hỗ trợ CGCN”; “Năng lực tổ chức và kinh doanh”
Thứ năm, từ kết quả nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, phân tích thực trạng, phân tích nhân tố ảnh hưởng (định tính, định lượng), kết quả phân tích các nhân tố khám phá, xu thế
và định hướng phát triển, nguyên tắc tổ chức hoạt động xúc tiến CGCN đã đề xuất các giải pháp để phát triển các hoạt động xúc tiến CGCN nhằm nâng cao chất lượng, mở rộng loại hình và gia tăng số lượng của các hoạt động xúc tiến CGCN
Ý nghĩa về thực tiễn:
Một là, từ việc nghiên cứu kinh nghiệm hoạt động xúc tiến CGCN ở một số quốc gia trên thế giới đã ra được các bài học là: Các hoạt động xúc tiến CGCN là xu thế phát triển chung của các quốc gia trên thế giới nhằm phục vụ cho quá trình đổi mới công nghệ của doanh nghiệp cũng như thương mại hóa các KQNC của các tổ chức R&D Hoạt động xúc tiến CGCN được thúc đẩy phát triển dựa trên cả về cơ chế, chính sách, các chương trình hỗ trợ của nhà nước Các hoạt động xúc tiến CGCN đa dạng phong phú, liên kết trong
hệ thống mạng lưới trong và ngoài nước
Trang 20Hai là, làm rõ bức tranh thực trạng hoạt động xúc tiến CGCN ở Việt Nam Các kết quả phân tích cho thấy: Tại Việt Nam hình thức hoạt động xúc tiến CGCN từng bước xuất hiện khá đa dạng phong phú, đang tiếp cận dần với các hình thức xúc tiến CGCN của thế giới Các hoạt động xúc tiến CGCN bước đầu có những đóng góp đáng khích lệ đối với sự phát triển TTCN nói riêng cũng như kinh tế, xã hội nói chung Bao gồm: gia tăng số lượng, chủng loại, chất lượng hàng hóa được giao dịch trên thị trường; góp phần đào tạo nhân lực trong hoạt động xúc tiến CGCN; tăng số lượng các chủ thể tham gia giao dịch; giúp cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) hoàn thiện các cơ chế, chính sách; đóng góp vào sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường
Bên cạnh những đóng góp tích cực nêu trên, hoạt động xúc tiến CGCN ở Việt Nam hiện nay còn bộc lộ nhiều hạn chế cả về số lượng, hình thức và chất lượng hoạt động
Về hình thức: còn nhiều hình thức xúc tiến CGCN cần được tiếp tục triển khai để
hỗ trợ phát triển giao dịch công nghệ như các quỹ đầu tư mạo hiểm, sàn giao dịch cổ phiếu công nghệ,
Về số lượng: ngoại trừ các Trung tâm CGCN, và tổ chức thông tin KH&CN đã cơ bản hình thành trong hệ thống các cơ quan KH&CN, các địa phương tại các tỉnh thành trong cả nước Còn lại, hiện nay chỉ có 2 sàn giao dịch công nghệ, 9 vườn ươm công nghệ (TBI), 2 đơn vị tổ chức chợ công nghệ cấp quốc gia hơn 100 quỹ phát triển KH&CN số lượng rất thấp chưa đáp ứng nhu cầu đổi mới của các doanh nghiệp và thương mại hoá KQNC tại các cơ quan R&D
Về chất lượng: Chất lượng các hoạt động xúc tiến CGCN còn nghèo nàn, quy mô cung cấp DV nhỏ bé, khả năng đáp ứng tức thời, tính dễ tiếp cận các DV thấp, năng lực tiếp thị, sự hiểu biết khách hàng và uy tín trong cung cấp DV chưa cao
Kết quả định lượng thu được từ 10 nhân tố ảnh hưởng cho thấy, mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng này đều thấp, điều này phản ánh đúng thực trạng nguyên nhân làm hoạt động xúc tiến CGCN yếu kém trong giai đoạn hiện nay
Ba là, từ việc phân tích thực trạng, nhân tố ảnh hưởng, kinh nghiệm quốc tế, luận án
đã đưa 4 nhóm giải pháp nhằm phát triển hoạt động xúc tiến CGCN cả số lượng, chất lượng, hình thức hoạt động, đó là: Phát triển các tổ chức (cơ cấu tổ chức, tạo azmối liên kết, mô hình TLO), hoàn thiện các hình thức hoạt động xúc tiến CGCN; phát triển nguồn nhân lực; hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với hoạt động xúc tiến CGCN
Điểm mới của luận án:
Tư tưởng khoa học cốt lõi của luận án: Để phát triển thị trường công nghệ, cần phải
phát triển loại hình dịch vụ của thị trường, đặc biệt là loại hình dịch vụ xúc tiến CGCN Quá trình tập trung đi sâu phân tích hoạt động xúc tiến CGCN ở Việt Nam, luận án đã đạt được một số điểm mới sau:
Một là, hoàn thiện khái niệm xúc tiến CGCN được đề cập trong Luật CGCN cho phù hợp với bản chất của thuật ngữ “xúc tiến” mở ra những hướng tiếp cận mới cho hoạt động xúc tiến CGCN Khái niệm xúc tiến CGCN được luận án đề xuất là: “Xúc tiến CGCN là tập hợp các hoạt động và thể chế nhằm thúc đẩy, tạo và tìm kiếm cơ hội CGCN, bao gồm thể chế và hoạt động liên quan đến khuyến mại, cung ứng DV quảng cáo, trưng bày, giới thiệu công nghệ, tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ
và một số hình thức hoạt động khác”
Hai là, chứng minh và chỉ ra một số hoạt động (đặc thù cho hàng hóa công nghệ - nằm ngoài các họat động thương mại truyền thống) thuộc hoạt động xúc tiến CGCN làm cơ sở cho phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp
Trang 21Ba là, xác lập được 10 nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xúc tiến CGCN Đây là cơ sở
để phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xúc tiến CGCN
Bốn là, vận dụng sáng tạo mô hình TLO của nước ngoài, cũng như mô hình TLO đã nghiên cứu trong nước, để đưa ra mô hình TLO phù hợp và đề xuất ứng dụng nhằm quản
lý, khai thác, đồng thời bảo vệ lợi ích cho chủ sở hữu, tác giả, nhân rộng các KQNC theo
cơ chế thị trường Mô hình này sẽ giúp cho các cơ quan quản lý KH&CN địa phương quản
lý hiệu quả KQNC của các đề tài/ dự án sau nghiệm thu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động xúc tiến CGCN
Trên cơ sở dẫn dắt từ các khái niệm cơ bản liên quan như công nghệ, thị trường công nghệ, CGCN, xúc tiến CGCN, xác định rõ các hoạt động xúc tiến CGCN và những bài học kinh nghiệm nước ngoài về hoạt động xúc tiến CGCN;
Xác định các tiêu chí đánh giá thực trạng hoạt động xúc tiến CGCN;
Xác định các nhân tố ảnh hưởng về các hoạt động xúc tiến CGCN
Chương 2: Phân tích thực trạng hoạt động xúc tiến CGCN ở Việt Nam
Phân tích thực trạng các hoạt động xúc tiến CGCN;
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng
Chương 3: Xác định các nhân tố khám phá tác động đến hoạt động xúc tiến CGCN
Trên cơ sở các nhân tố ảnh hưởng ban đầu, xây dựng các nhân tố khám phá qua mô hình toán hồi quy bội, cùng những kiểm định, để xác định nhân tố khám phá ảnh hưởng chủ yếu đến hoạt động xúc tiến CGCN làm cơ sở đề xuất giải pháp
Chương 4: Giải pháp phát triển các hoạt động xúc tiến CGCN ở Việt Nam
Đề xuất các giải pháp cụ thể về các hoạt động xúc tiến CGCN ở Việt Nam
Trang 22CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN
CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ 1.1 Một số khái niệm cơ bản về công nghệ
1.1.1 Khái niệm về công nghệ
Có thể nói công nghệ xuất hiện đồng thời với sự hình thành xã hội loài người Từ
“công nghệ” xuất phát từ chữ Hy Lạp (teknve – tenkhne) có nghĩa là một công nghệ hay một kỹ năng, và (λoyoσ –logos ) có nghĩa là một khoa học, hay sự nghiên cứu Như vậy thuật ngữ “technology” (tiếng Anh) hay “technologie” (tiếng Pháp) có ý nghĩa là khoa học
về kỹ thuật hay sự nghiên cứu có hệ thống về kỹ thuật – thường được gọi là công nghệ học Trong từ điển kỹ thuật của Liên Xô trước đây: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dáng nguyên, vật liệu hay bán thành phẩm sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh” Theo những quan niệm này, công nghệ chỉ liên quan đến sản xuất vật chất
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, khởi đầu từ Mỹ rồi Tây Âu đã sử dụng thuật ngữ
“công nghệ” để chỉ các hoạt động ở mọi lĩnh vực, các hoạt động này áp dụng những kiến thức là kết quả của nghiên cứu khoa học ứng dụng – một sự phát triển của khoa học trong thực tiễn – nhằm mang lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động của con người Khái niệm công nghệ này dần dần được chấp nhận rộng rãi trên thế giới, ví dụ thể hiện ở việc thay đổi tên gọi của các tạp chí lớn trên thế giới, như tạp chí “Khoa học và kỹ thuật – Science et technique” đổi thành “KH&CN - Science et technogie”
Mặc dầu đã được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới, song việc đưa ra một định nghĩa công nghệ lại chưa có được sự thống nhất Nguyên nhân do số lượng các công nghệ hiện
có nhiều đến mức không thể thống kê được, công nghệ lại hết sức đa dạng, khiến những người sử dụng một công nghệ cụ thể trong những điều kiện và hoàn cảnh không giống nhau sẽ dẫn đến sự khái quát của họ về công nghệ sẽ khác nhau Bên cạnh đó, sự phát triển như vũ bão của Khoa học và Công nghệ (KH&CN) làm thay đổi nhiều quan niệm cũ tưởng như vĩnh cửu, cũng là nguyên nhân dẫn đến sự không thống nhất trên
Chính vì vậy, việc đưa ra một định nghĩa khái quát được bản chất của công nghệ là việc cần thiết, bởi vì không thể bàn về những vấn đề liên quan đến công nghệ, mà lại chưa xác định rõ “công nghệ” là gì Trước yêu cầu đó, Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu
Á –Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific – ESCAP) đưa ra khái niệm về công nghệ:
“Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp DV”[11]
Định nghĩa công nghệ của ESCAP được coi là bước ngoặt trong quan niệm về công nghệ Theo định nghĩa này, không chỉ sản xuất vật chất mới dùng công nghệ, mà khái niệm công nghệ được mở rộng ra tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội Những lĩnh vực công nghệ mới mẻ dần trở thành quen thuộc: công nghệ thông tin (CNTT), công nghệ ngân hàng, công nghệ du lịch, công nghệ văn phòng…
Luật chuyển giao công nghệ Việt Nam2 (Luật CGCN), định nghĩa: “Công nghệ là
giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng
2 Luật chuyển giao công nghệ số 80/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006
Trang 23
để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm” Như vậy, Luật CGCN thống nhất với ESCAP ở
điểm công nghệ có trong mọi ngành, mọi lĩnh vực Tuy nhiên, Luật CGCN cũng khác với ESCAP ở chỗ công nghệ có thể có hoặc không liên quan đến phần cứng (thiết bị) để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm
Cũng cần lưu ý rằng, trong nhiều trường hợp khi cần thiết, người ta vẫn thừa nhận những định nghĩa công nghệ khác cho một mục đích nào đó Ví dụ, trong lý thuyết tổ chức,
người ta coi “Công nghệ là khoa học và nghệ thuật dùng trong sản xuất, phân phối hàng
hóa và DV” Hay theo như tiến sĩ Nawaz Shariff , Giám đốc Trung tâm CGCN Châu Á – Thái Bình Dương (APTCC) trong lời nói đầu cuốn “Atlat công nghệ” (ATLAT) đã viết:
“Công nghệ là trò chơi của người giàu, là ước mơ của người nghèo, là chìa khoá của người khôn ngoan”
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này, khái niệm công nghệ được thống nhất theo quan điểm của Luật CGCN được đề cập ở trên
1.1.2 Thị trường công nghệ
1.1.2.1 Khái niệm thị trường
Hiện nay khái niệm thị trường, có rất nhiều cách tiếp cận, quan điểm khác nhau Trong một công trình nghiên cứu3 của Nguyễn Quang Tuấn [108], đã tổng hợp và phân chia thành 3 nhóm như sau:
Nhóm thứ nhất, đó là cách diễn đạt thị trường như là phương tiện phân bố các nguồn
tài nguyên thiên nhiên Cách hiểu về thị trường này thường được sử dụng trong các nghiên cứu về môi trường và phát triển bền vững Ở đó sự quan tâm là vấn đề phân bố hiệu qủa
và bình đẳng các nguồn tài nguyên nhằm đạt mục tiêu phát triển bền vững
Nhóm thứ hai, Thị trường được hiểu là nơi mà những người mua và người bán tiến
hành giao dịch Đây cũng chính là cách hiểu về thị trường tương đối phổ biến ở trong nước
và trên thế giới “Nơi” ở đây không nhất thiết phải là địa điểm có tọa độ địa lý Mạng Internet và các sàn giao dịch trực tuyến (online), giúp cho người mua và người bán thực hiện các giao dịch mà không nhất thiết phải gặp mặt nhau cũng là các thị trường Các diễn giải về thị trường này thường được sử dụng trong các nghiên cứu và phân tích về phát triển
hệ thống, mạng lưới dịch vụ và thương mại của từng quốc gia, vùng lãnh thổ cụ thể
Nhóm thứ ba, Một cách hiểu khác về thị trường của các nhà kinh tế nhấn mạnh vào
thể chế Các nhà kinh tế tân cổ điển coi thị trường là một thể chế phân bố nguồn lực, quy định sản xuất và phân phối sản phẩm, DV thông qua hệ thống giá cạnh tranh Theo cách tiếp cận kinh tế học chi phí giao dịch (transaction cost economics), thị trường được xem như là một thể chế kinh tế (economic institution) để thực hiện các giao dịch kinh tế
Ngoài việc thống nhất với cách tập hợp và phân loại trên, với cách tiếp cận và tập hợp theo hình thức tổ chức của mình, tác giả tiếp tục bổ sung như sau:
Nhóm thứ tư, Theo quan điểm kinh tế học vi mô và Marketing: thì thị trường lại
được xem như một tập hợp người mua, người bán có nhu cầu đối với sản phẩm, dịch vụ
nào đó “Thị trường là một tập hợp những người mua và người bán tác động qua lại lẫn
nhau, dẫn đến khả năng trao đổi” (Nguyễn Đại Thắng, 2005), [102] hay “Thị trường là tập hợp các cá nhân và tổ chức hiện đang có sức mua và có nhu cầu đòi hỏi cần được thỏa
mãn” (Philip Kotler)
3 “ Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chương trình phát triển thị trường công nghệ Việt Nam giai đoạn
Trang 24Ngoài ra, một số học giả kinh tế khác lại nhấn vào yếu tố DV của quá trình trao đổi
giữa người bán và người mua “Thị trường là một tập hợp các dàn xếp mà thông qua đó
người bán và người mua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá, DV” (Ngô Đình Giao,
1997),[40] Với cách tiếp cận yếu tố DV này, có thể xếp vào nhóm thứ 2 trong các sắp xếp, phân loại của Nguyễn Quang Tuấn đã đề cập ở trên
Như vậy, mặc dù có nhiều cách diễn giải khác nhau về thị trường, song những cách diễn giải đó không mâu thuẫn nhau, chúng phản ánh sự đa dạng của khái niệm thị trường tương ứng với mỗi nghiên cứu cụ thể Với cách nhìn tổng thể, xét về mặt tổ chức, thị trường gồm 4 yếu cơ bản:
(1) Tập hợp người bán (cung); (2) Tập hợp người mua (cầu); (3) DV cho quá trình mua bán; (4) Tập hợp các thỏa thuận hay chính là những thể chế;
Đồng nhất với cách nhìn nhận này, là những nội dung được đề cập trong giáo trình
“Quản lý kinh tế” của Viện kinh tế, thuộc Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh4 “Để hình thành thị trường đòi hỏi phải có các yếu tố cơ bản sau: đối tượng trao đổi
là hàng hóa, DV; đối tượng tham gia trao đổi là người mua, người bán; điều kiện thực hiện trao đổi là khả năng thanh toán, địa điểm trao đổi; các thể chế hoặc tập tục (luật chơi) để bảo đảm hoạt động mua bán an toàn, nhanh chóng”
1.1.2.2 Thị trường công nghệ
a) Khái niệm
Cùng đồng nhất với quan điểm của Viện kinh tế được đề cập ở trên, trong nội dung
nghiên cứu của mình, Lê Đình Tiến, [120] đưa ra khái niệm TTCN: TTCN là những giao
dịch, mua bán công nghệ, những thể chế và các tổ chức đảm bảo cho việc mua bán công nghệ được thực hiện thuận lợi, trên cơ sở lợi ích của các bên tham gia thị trường [120]
Cụ thể hơn, CIEM [23], đề cập về TTCN: “Thị trường KH&CN cũng giống như thị
trường khác, được hình thành trên cơ sở ba điều kiện sau: (i) phải có hàng hóa, đây được coi là điều kiện thiết yếu nhất cho thị trường hình thành và phát triển; (ii) phân công lao động xã hội phải tương ứng sao cho tồn tại quan hệ cung – cầu, giữa các thành viên trong
xã hội và giữa các loại hình sản xuất trong xã hội, tức là phải có người có nhu cầu đối với hàng hóa khoa học và người có khả năng cung ứng loại hàng hóa này; (iii) phải có phương tiện thanh toán đáp ứng nhu cầu người bán”
Trong công trình nghiên cứu TTCN của mình, Đỗ Văn Vĩnh, [128] cũng thống nhất cho rằng: “Có thể hình dung dễ hiểu về cấu trúc của thị trường gồm các yếu tố cấu thành
phản ánh sự hiện diện và bảo đảm của TTCN, đó là:
Yếu tố hiện diện của
Khó có thể hình dung TTCN hoạt động lại thiếu một trong các yếu tố này, ví dụ một
thị trường có đầy đủ các yếu tố nhưng lại không có hàng hòa bày bán"
4 Giáo trình quản lý kinh tế, tr 60, [131]
Trang 25
Tóm lại, qua phần trình bày trên, đề tài thống nhất với các tác giả được đề cập các điểm sau:
Trong TTCN, hàng hoá được đưa ra trao đổi, mua bán là công nghệ
Các yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của loại hình thị trường này bao gồm:
Các chủ thể tham gia thị trường: người bán (bên cung); người mua (bên cầu); các
tổ chức DV CGCN đóng vai trò làm môi trường, những xúc tác cho quá trình mua bán
Các thể chế bao gồm luật lệ, quy tắc, cơ chế vận hành, các tổ chức quản lý và thực thi
Ta có thể khái quát bằng mô hình của một tứ diện được cấu tạo bởi 4 điểm nút cơ bản (thể chế, cung công nghệ, cầu công nghệ, dịch vụ công nghệ), công nghệ là hạt nhân trung tâm (Các đường liền nét là các đoạn thẳng nhìn thấy, nét đứt là các nét khuất – các đoạn thẳng không nhìn thấy)
Hình 1.1: Mô hình thị trường công nghệ
b) Những đặc thù của TTCN
Hàng hoá của TTCN thông thường là loại hàng hóa đặc biệt (thực chất là kiến thức
có thể được thể hiện trong vật chất hữu hình, cũng có thể là vô hình) mang tính độc quyền được pháp luật bảo hộ trong điều kiện xác định
Bên bán: là những nhà sáng chế, hoặc chủ sở hữu giữ độc quyền đối với hàng hoá - công nghệ, hoặc có quyền chuyển giao và năng lực chuyển giao
Bên mua: thực chất là mua quyền đối với hàng hoá công nghệ (quyền sở hữu/ quyền sử dụng)
1.1.3 Chuyển giao công nghệ
CGCN là một khái niệm mới xuất hiện trong mấy thập niên gần đây, nhưng đã nhanh chóng trở thành vấn đề thời sự, được nhiều người quan tâm, có ý nghĩa quan trọng đối với
sự phát triển kinh tế toàn cầu, đặc biệt đối với những nước đang tiến hành công nghiệp
hóa, hiện đại hóa như Việt Nam
1.1.3.1 Khái niệm CGCN
Bàn về CGCN có rất nhiều khái niệm khác nhau:
Trang 26Trong “Cẩm nang CGCN”,[11] khái niệm CGCN được đề cập: “CGCN nghĩa là công nghệ di chuyển qua biên giới quốc gia”5
Trong bài viết của mình, Trần Tịnh, [106] tổng kết các khái niệm về CGCN:
Quan niệm bình thường trên quốc tế: Là quá trình khuyếch tán của một nhóm kiến
thức trên cơ sở một loại hình công nghệ nào đó, tiêu biểu cho một trình độ công nghệ nào
đó
Theo UNCTAD: Là chuyển giao kiến thức có hệ thống về chế tạo một sản phẩm nào
đó, ứng dụng một quy trình công nghệ nào đó hoặc cung cấp một dịch vụ nào đó Nó không bao gồm sự mua bán và thuê mướn hàng hóa
Theo OECD: Là quá trình sáng chế của một nước làm ra (bao gồm sản phẩm mới và công nghệ mới) di chuyển đến một nước khác
Định nghĩa của Trung Quốc về CGCN chủ yếu bao gồm:
Chuyển giao kiến thức có hệ thống
Chuyển giao giữa các khâu của vận động công nghệ: Nghiên cứu cơ bản -> nghiên
cứu ứng dụng -> thí nghiệm khai thác -> thương mại hóa
Ứng dụng mới đối với công nghệ hiện có
Trong tài liệu giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành quản lý công nghiệp, Nguyễn Thúy Quỳnh Mai, Nguyễn Thúy Quỳnh Loan đưa ra khái niệm: “CGCN có thể được hiểu như sự di chuyển công nghệ từ đơn vị này đến đơn vị kia, việc chuyển giao thành công là khi đơn vị nhận công nghệ có được những hiểu biểu rõ ràng và có thể sử dụng công nghệ một cách hiệu quả Ngược lại, nếu người nhận không nắm vững được công nghệ nhận được và không thể sử dụng được nó một cách hiệu quả thì việc chuyển giao coi như chưa thực hiện được”
Trong tài liệu tập huấn đổi mới công nghệ và quản lý đổi mới công nghệ (tài liệu
quản lý công nghệ), [115], [116], khái niệm CGCN được tổng hợp:
Theo quan điểm tổng quát: CGCN là việc đưa kiến thức kỹ thuật ra khỏi nơi đã sản
sinh ra nó
Theo quan điểm quản lý công nghệ: CGCN là tập hợp các hoạt động về kỹ thuật,
thương mại, pháp lý nhằm làm cho bên nhận công nghệ có được năng lực công nghệ như bên giao công nghệ trong sản xuất, kinh doanh
Theo quan điểm CGCN quốc tế: CGCN là chuyển giao và thu nhận công nghệ qua
biên giới
Theo Luật CGCN của Việt Nam: CGCN là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền
sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền CGCN sang bên nhận công nghệ
Với nội dung được trình bày ở trên cho thấy, các khái niệm CGCN được khái quát hết sức đa dạng và sinh động Tuy nhiên, các khái niệm này không loại trừ nhau, một số khái niệm có tính chất hỗ trợ bổ sung cho nhau Tùy từng nội dung nghiên cứu, khái niệm CGCN được đưa ra cho phù hợp
Trong trường hợp cụ thể của đề tài nghiên cứu, CGCN được xem xét chủ yếu theo 4 góc độ cụ thể như sau:
5 Cẩm nang CGCN, [11], trang 18
Trang 27
CGCN theo 3 quan điểm: “tổng quát”; “quản lý công nghệ”; “theo Luật CGCN của
Việt Nam” được nêu trong tài liệu quản lý công nghệ [115], [116]
“Chuyển giao giữa các khâu của vận động công nghệ” được Trần Tịnh, [106] đề cập
1.1.3.2 Phân loại CGCN
Do hoạt động chuyển giao có nhiều đặc tính, đặc thù và hết sức đa dạng phức tạp, nên
có nhiều quan điểm, nhiều cách phân loại CGCN Sau đây là một số cách phân loại thường gặp trong giao dịch công nghệ
a)Theo hình thái công nghệ được chuyển giao
Chu yển giao theo chiều dọc: là quá trình di chuyển công nghệ từ nghiên cứu trong
phòng thí nghiệm qua các giai đoạn triển khai và cuối cùng là công nghệ hoàn thiện (có nghĩa là công nghệ chưa được đưa vào sản xuất đại trà)
Chuyển giao theo chiều ngang: là quá trình di chuyển công nghệ đã được hoàn thành
chế tạo, từ một môi trường hoạt động này tới một môi trường hoạt động khác (có nghĩa là công nghệ đã được sản xuất đại trà)
b) Theo các vật mang công nghệ được chuyển giao
Chuyển giao thông qua tài liệu kỹ thuật (các kiến thức công nghệ dưới dạng giải pháp
kỹ thuật, bí quyết, phần mềm máy tính, công thức, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật)
Chuyển giao thông qua con người (các chuyên gia, các nhà khoa học, công nghệ; công
nhân kỹ thuật lành nghề)
Chuyển giao thông qua công cụ, phương tiện kỹ thuật (máy móc, thiết bị, dây chuyền
sản xuất đồng bộ, nhà máy dạng chìa khóa trao tay)
c) Theo phạm vi chuyển giao quyền sử dụng công nghệ
Độc quyền và không độc quyền sử dụng công nghệ;
Được chuyển giao lại hoặc không được chuyển giao lại quyền sử dụng công nghệ cho bên thứ ba;
Lĩnh vực sử dụng công nghệ;
Quyền được cải tiến công nghệ, quyền được nhận thông tin cải tiến công nghệ;
Độc quyền và không độc quyền phân phối, bán sản phẩm do công nghệ được chuyển giao tạo ra;
Phạm vi lãnh thổ được bán sản phẩm do công nghệ được chuyển giao tạo ra;
Quyền sử dụng công nghệ gắn với quyền SHCN
d) Theo chủ thể CGCN:
CGCN nội bộ: Là sự chuyển giao các kết quả nghiên cứu của bộ phận nghiên cứu phát
triển cho bộ phận sản xuất trong nội bộ nhà máy, xí nghiệp hoặc cơ quan nghiên cứu khoa học và PTCN
CGCN trong nước: Là sự chuyển giao các thành tựu công nghệ giữa tổ chức, cá nhân
có đủ quyền CGCN đến tổ chức, cá nhân có nhu cầu tiếp nhận CGCN trong phạm vi một
quốc gia (giữa nhà máy và nhà máy, giữa xí nghiệp và xí nghiệp, giữa cơ sở nghiên cứu
khoa học và nhà máy, giữa trường đại học với nhà máy, xí nghiệp )
Trang 28CGCN từ trong nước ra nước ngoài: Là sự CGCN các thành tựu công nghệ giữa các
tổ chức, cá nhân trong nước có đủ thẩm quyền CGCN với các tổ chức cá nhân nước ngoài
có nhu cầu tiếp nhận công nghệ trong phạm vi giữa các quốc gia
CGCN từ nước ngoài vào trong nước: Là chuyển giao các thành tựu công nghệ giữa
các tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền CGCN với các tổ chức, cá nhân trong nước có
nhu cầu tiếp nhận công nghệ trong phạm vi giữa các quốc gia
e) Theo hoạt động đầu tư kinh doanh
CGCN một cách độc lập: không phụ thuộc hoặc gắn với dự án đầu tư dưới các hình
thức hợp đồng mua bán công nghệ, máy móc thiết bị v.v
CGCN thông qua hoạt động đầu tư dưới các hình thức: dự án đầu tư trong nước, dự
án FDI {dự án liên doanh, dự án 100% vốn nước ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), xây dựng – kinh doanh - chuyển giao (BOT), Xây dựng - chuyển giao – kinh doanh (BTO), Xây dựng – chuyển giao (BT)}
f) Theo nội dung công nghệ
Công nghệ quản lý: Chỉ sự chuyển giao quản lý về các phương diện như quản lý đặc
biệt mà xí nghiệp hoặc cơ quan nghiên cứu khoa học triển khai thành công, hoặc công nghệ quản lý về tài vụ, vật tư, nhân sự, tư vấn, buôn bán
Công nghệ chế tạo: Chỉ sự CGCN về các phương diện như thiết bị, vật liệu sản xuất
mục đích là chế tạo sản phẩm
Công nghệ thiết kế: Chỉ sự CGCN về các phương diện như đồ án thiết kế khai thác
phát triển sản xuất, ứng dụng công nghệ, tài liệu thuyết minh công nghệ, số liệu tính toán
và tư liệu ban đầu
g) Theo loại hình công nghệ chuyển giao
CGCN sản phẩm: Bao gồm các công nghệ thiết kế sản phẩm (chủ yếu là các phần
mềm thiết kế, các kỹ thuật mô phỏng, các số liệu để thiết kế sản phẩm), công nghệ sử dụng sản phẩm (chủ yếu là các phần mềm sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa khi có sự cố, các thông tin liên quan đến vận hành tối ưu)
CGCN quá trình: bao gồm các quy trình công nghệ để chế tạo, sản xuất sản phẩm đã được thiết kế (công nghệ sản xuất) và công nghệ DV
h) Theo dòng công nghệ được lưu chuyển
CGCN giữa các nước công nghiệp phát triển: chủ yếu là mua bán thiết bị, công nghệ,
các bí quyết kỹ thuật, các sáng chế, các sản phẩm KH&CN
CGCN giữa các nước công nghiệp phát triển với các nước đang phát triển: phần lớn
là CGCN đã tương đối lạc hậu
CGCN giữa các nước đang phát triển với các nước kém phát triển: chủ yếu khai thác
nguyên liệu thô, tận dụng nhân công lao động rẻ, thu hồi vốn nhanh
1.2 Xúc tiến CGCN
1.2.1 Khái niệm xúc tiến CGCN
Trong các tài liệu về marketing, “Xúc tiến” là thuật ngữ thường đi song hành với thuật ngữ tiếng Anh “Promotion” Về lý luận, thuật ngữ này hiện có nhiều quan điểm khác nhau
Trang 29Theo từ điển tiếng Anh – Anh của Đại học Oxford thì “Promotion” mang các nghĩa sau:
- Sự thúc đẩy một công việc quan trọng hay là sự thăng tiến trong một cơ quan, tổ chức “A move to a more important job or rank in a company or an organization”;
- Sự thúc đẩy một thành viên trong một nhóm để kết quả hoạt động cả nhóm tốt hơn lên “A move by a sports team from playing in one group of teams to playing in a better group”;
- Hành động gia tăng bán hàng một sản phẩm hay một DV hay là việc thực hiện
quảng cáo cho một sản phẩm, DV cụ thể nào đó “Activities done in order to increase the
sales of a product or service; a set of advertisements for a particular product or service”
Theo từ điển tiếng Việt, Nguyễn Văn Xô [132], thì “Xúc tiến là làm cho tiến triển nhanh” ví dụ: Xúc tiến việc chuẩn bị hội nghị
Theo Nguyễn Thanh Lâm [63] “Xúc tiến (promotion) luôn đi kèm với mục tiêu tiếp thị (Marketing) theo nghĩa chuyển giao và làm giàu một giá trị với cách tối ưu nhất”
Ở mức độ chung nhất, thuật ngữ “xúc tiến” được hiểu là hoạt động tìm kiếm, tạo cơ hội, thúc đẩy “một cái gì đó” trong cuộc sống Khi muốn tạo cơ hội, tìm kiếm, thúc đẩy một lĩnh vực của ngành nào thì tên gọi của lĩnh vực đó, ngành đó được đặt sau tên gọi của
từ “xúc tiến” Ví dụ “xúc tiến thương mại”, “xúc tiến đầu tư”, “xúc tiến CGCN”
Theo Luật CGCN, xúc tiến CGCN là một trong các loại hình của DV CGCN bao
gồm: đánh giá, định giá, giám định công nghệ, tư vấn, môi giới, xúc tiến CGCN, tham gia vào hoạt động CGCN (xem hình 1.2)
Hình 1.2: Mô hình về vị trí của xúc tiến CGCN trong hoạt động CGCN
(Nguồn: Sơ đồ tổng hợp của NCS) Xúc tiến CGCN được Luật CGCN định nghĩa: Xúc tiến CGCN là hoạt động thúc đẩy,
tạo và tìm kiếm cơ hội CGCN; cung ứng DV quảng cáo, trưng bày, giới thiệu công nghệ;
tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ (Điều 3.21, Luật CGCN)
Như vậy, theo cách diễn giải, định nghĩa trên của Luật CGCN, xúc tiến CGCN gồm 3 nhóm hoạt động chủ yếu:
(a) Hoạt động thúc đẩy, tạo và tìm kiếm cơ hội CGCN;
(b) Cung ứng DV quảng cáo, trưng bày, giới thiệu công nghệ;
Trang 30(c) Tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ
Hai nhóm (b), (c) là những hoạt động quen thuộc trong đời sống, tương ứng với các hoạt động được đề cập trong hoạt động thương mại nên cụ thể rõ ràng Riêng nhóm (a) là khái niệm mang tính khái quát hoá, thể hiện hàm ý: ngoài các hoạt động chi tiết được nêu
ở (b), và (c) sẽ còn những hoạt động khác Đây cũng là một trong những nội dung cần được làm rõ trong đề tài
Do xúc tiến CGCN có quan hệ mật thiết với xúc tiến thương mại Bởi chúng có những điểm chung là diễn ra hoạt động “mua bán hàng hoá” Luật Thương mại định nghĩa về hoạt động “xúc tiến thương mại” như sau:
“Xúc tiến thương mại là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng DV, bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, DV và hội chợ, triển lãm thương mại”
Ta thấy rằng cách đưa ra khái niệm “Xúc tiến thương mại” của Luật Thương mại khác với cách đưa ra khái niệm “Xúc tiến CGCN” của Luật CGCN
Trong khi, Luật Thương mại coi các hoạt động “khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, DV và hội chợ, triển lãm thương mại” chỉ là sự cụ thể hoá
của khái niệm “ hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng DV”
thì Luật CGCN coi đó là một trong những hoạt động tồn tại độc lập, với hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm
Tuy nhiên, dưới góc độ toán học, xét về tập hợp, cách đưa ra khái niệm về hoạt động
“xúc tiến” cho đối tượng (thương mại) của Luật Thương mại chuẩn xác hơn so với khái niệm hoạt động “xúc tiến” cho đối tượng (CGCN) của Luật CGCN; vì các hoạt động “cung ứng DV quảng cáo, trưng bày, giới thiệu công nghệ; tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ” nằm trong tập hợp các hoạt động “thúc đẩy, tạo và tìm kiếm cơ hội CGCN”
Biểu diễn dưới dạng công thức toán học ta có: {(b), (c)} (a); hay: {(b),(c)} (a)
Có nghĩa rằng:
{(b),(c)} thuộc (a); hay: (a) bao hàm {(b), (c)}
Với (a),(b),(c) các các nhóm hoạt động xúc tiến CGCN được đề cập trong Luật CGCN theo phân nhóm nêu trên
Trên quan điểm thống nhất với các diễn giải khái niệm “xúc tiến” của Luật thương mại Đồng thời, với tư duy theo hướng tiếp cận theo mục tiêu của thuật ngữ “ xúc tiến” khái niệm “xúc tiến CGCN”, được tác giả đề xuất như sau:
Xúc tiến CGCN là tập hợp các hoạt động và thể chế nhằm thúc đẩy, tạo và tìm kiếm
cơ hội CGCN, bao gồm hoạt động và thể chế liên quan đến khuyến mại, cung ứng DV quảng cáo, trưng bày, giới thiệu công nghệ, tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ và một số hoạt động khác
Với định nghĩa này sẽ “mở hơn” so với khái niệm về xúc tiến được đề cập trong Luật CGCN cũng như Luật thương mại, bởi xúc tiến không chỉ là các hoạt động nó còn bao gồm thể chế Nếu tất cả những mô hình tổ chức, cơ chế, chính sách hay các hoạt động mà có tác động thúc đẩy, tạo và tìm kiếm cơ hội CGCN, làm gia tăng số lượng hàng hóa công nghệ được giao dịch trên thị trường, hoặc làm gia tăng giá trị công nghệ đều được coi là xúc tiến CGCN Khi đó xúc tiến sẽ có thể tiến hành bằng nhiều cách và nhiều con đường khác nhau, có thể bằng con đường ngoại giao để thúc đẩy CGCN qua con đường đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Cũng có thể thông qua đầu tư xây dựng các công viên công nghệ để tạo
Trang 31môi trường thuận lợi tiếp nhận các CNC của các tập đoàn đa quốc gia, xuyên quốc gia tiến hành đầu tư tại Việt Nam, hay tác động bằng các mô hình tổ chức, cơ chế, chính sách liên quan Thực tế cũng chứng minh rằng với cơ chế, chính sách như “khoán 10” trong nông nghiệp tại Việt Nam đã thúc đẩy sản lượng lương thực tăng cao, biến Việt Nam từ một nước thiếu đói thành một trong những nước đứng đầu xuất khẩu lương thực Hay mô hình tổ chức quản lý và khai thác sáng chế (TLO) tại các trường đại học Nhật Bản, đã thúc đẩy quá trình CGCN từ các trường đại học ra doanh nghiệp giúp cho các nhà khoa học giành được những nguồn thu đáng kể, từ đó quay trở lại đầu tư tiếp cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D)
1.2.2 Vai trò của xúc tiến CGCN
Đối với mỗi quốc gia, xúc tiến CGCN một mặt làm cho tổng mức lưu chuyển hàng hoá công nghệ tăng lên tạo cơ hội cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển Xúc tiến CGCN còn có tác dụng thay đổi cơ cấu ngành, lĩnh vực, thúc đẩy ngành, lĩnh vực đó không ngừng đổi mới và phát triển Góp phần đào tạo nguồn nhân lực để tiếp thu những thành tựu KH&CN trong nước và thế giới
Đối với doanh nghiệp xúc tiến CGCN tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, mở rộng thị trường tiêu thụ Xúc tiến CGCN kích thích các Viện/ trường và các tổ chức KH&CN cung cấp hàng hoá công nghệ
ra thị trường Thông qua quá trình xúc tiến các Viện/trường tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình nghiên cứu và PTCN có điều kiện nhìn nhận, đánh giá lại sản phẩm công nghệ của mình để từng bước hoàn thiện đáp ứng nhu cầu của thực tiễn Qua đó, cũng giúp người tiêu dùng yên tâm hơn với chất lượng sản phẩm công nghệ được đầu tư nghiên cứu trong nước Xúc tiến CGCN kích thích các DV CGCN tham gia sâu rộng vào thị trường tạo ra phản ứng dây truyền để phát triển TTCN
1.2.3 Phân loại xúc tiến CGCN
1.2.3.1.Theo phạm vi xúc tiến CGCN
Gồm có Xúc tiến CGCN ở tầm vĩ mô và vi mô; Xúc tiến CGCN ở trong nước và ngoài nước; Xúc tiến CGCN của hình thức đầu tư hay kinh doanh
1.2.3 2.Theo chủ thể tham gia TTCN
Đây là sự khác biệt đặc thù của loại hình xúc tiến CGCN so với các loại hình dịch vụ tham gia TTCN Đối với các loại hình tổ chức dịch vụ CGCN khác tham gia thị trường công nghệ như tư vấn, đánh giá, môi giới, hầu hết đến từ các tổ chức dịch vụ trung gian Nhưng tổ chức xúc tiến CGCN – nơi khởi nguồn của các hoạt động xúc tiến CGCN có sự tham gia của mọi chủ thể:
Xúc tiến CGCN của người mua (cầu): đó quá trình đi tìm kiếm công nghệ để thực hiện đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp
Xúc tiến CGCN của người bán (cung): Đó là quá trình quảng cáo, marketing cho sản phẩm công nghệ thực hiện chào bán
Xúc tiến CGCN từ các tổ chức dịch vụ (dịch vụ): với tư cách là các tổ chức dịch vụ chuyên nghiệp để cung cấp dịch vụ cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu như chợ công nghệ, sàn giao dịch công nghệ,
Xúc tiến CGCN từ cơ quan QLNN (thể chế) tạo ra bằng các cơ chế, chính sách, các chương trình hành động cụ thể để thúc đẩy hoạt động CGCN làm cơ sở, nền tảng đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực và trình độ công nghệ quốc gia
Trang 32Ngoài ra xúc tiến CGCN còn được hình thành từ các liên kết của các chủ thể tham gia thị trường phục vụ cho nhu cầu và mục đích khác nhau của từng chủ thể
Tương tự như mô hình TTCN, ta có thể khái quát sự hình thành các tổ chức xúc tiến CGCN – khởi nguồn của các hoạt động xúc tiến CGCN bằng một khối tứ diện gồm 4 điểm nút – các chủ thể tham gia TTCN (thể chế, cung, cầu, dịch vu) (Xem hình 1.3)
Hình 1.3: Mô hình sự hình thành tổ chức xúc tiến CGCN
(Nguồn: Sơ đồ tổng hợp của NCS)
1.2.3.3.Theo ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh
Xúc tiến CGCN trong lĩnh vực đầu tư, trong lĩnh vực thương mại, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp
1.2.3.4.Theo cấp quản lý các hoạt động xúc tiến CGCN
Việc quản lý hoạt động xúc tiến CGCN đi đôi với quản lý hoạt động CGCN
Theo quy định của Luật CGCN:
Cấp Trung ương: Chính phủ thống nhất QLNN về hoạt động CGCN Bộ KH&CN là
Cơ quan QLNN về hoạt động CGCN ở cấp trung ương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc thực hiện QLNN về hoạt động CGCN, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền Các Bộ, cơ quan ngang Bộ phối hợp với Bộ KH&CN triển khai
thực hiện
Cấp địa phương: Ủy ban Nhân dân (UBND) các cấp thực hiện QLNN về hoạt động
CGCN theo phân cấp của Chính Phủ Sở KH&CN/ Phòng kinh tế (hoặc phòng kinh tế và
cơ sở hạ tầng) tại các địa phương là cơ quan chuyên môn về KH&CN chịu trách nhiệm tham mưu cho UBND tỉnh/huyện (hoặc tương đương) và tổ chức triển khai thực hiện theo thẩm quyền
Trang 33Thứ hai, xác định các hoạt động khác mang tính đặc thù của hàng hoá công nghệ được
đề cập trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về CGCN như Luật CGCN, đề án “phát triển TTCN”, các công trình nghiên cứu đã có chứng minh một số hoạt động có đóng góp vào“thúc đẩy, tạo và tìm kiếm cơ hội CGCN” để bổ sung cho phù hợp
Tổng hợp các kết quả, sẽ đưa ra các loại hình xúc tiến CGCN làm cơ sở cho các bước
thực hiện tiếp theo (xem hình 1.4)
Xúc tiến CGCN
Hình 1.4: Mô hình xúc tiến thương mại và xúc tiến CGCN
1.3.1 Hoạt động xúc tiến thương mại
Hiện nay các hoạt động xúc tiến thương mại được nhiều tài liệu đề cập với các nội dung và các cách gọi tên các hoạt động khác nhau Chính vì vậy, để xác định các hoạt động xúc tiến CGCN thuộc hoạt động xúc tiến thương mại, trước hết chúng ta sẽ xác định và làm rõ các hoạt động xúc tiến thương mại, để làm cơ sở tham chiếu tương ứng giữa hai bên
Philip Kotler [79], một chuyên gia nổi tiếng về marketing cho rằng hệ thống truyền thông (hay là hệ thống khuyến khích – Promotion), gồm 4 phương tiện tác động cơ bản:
Quảng cáo: Là bất kỳ một hình thức giới thiệu gián tiếp và đề cao những ý tưởng,
hàng hóa hay DV nhân danh một người bảo trợ nổi tiếng và phải trả tiền cho họ
Kích thích tiêu thụ: Những biện pháp kích động tức thời nhằm khuyến khích mua
hay bán hàng hóa, DV
Tuyên truyền (Publicity): Là việc kích thích gián tiếp và người bảo trợ không được
trả tiền, nhằm tăng nhu cầu về hàng hóa và DV hay về một đơn vị tổ chức sản xuất kinh doanh bằng cách phổ biến những tư liệu thương mại quan trọng của những đối tượng đó trên các ấn phẩm thông tin hay qua những màn trình diễn gây thiện cảm trên đài phát thanh truyền hình hoặc sân khấu
Bán hàng trực tiếp là giới thiệu bằng miệng về hàng hóa trong quá trình nói
chuyện với một hay nhiều người mua tiềm ẩn với mục đích bán được hàng
Theo Lê Thế Giới và Nguyễn Xuân Lãn [41] thì: “ Promotion – hàm nghĩa “cổ
động”, là một trong 4 yếu tố (4P) của Marketing mix ( Product: sản phẩm; Price: giá cả;
Trang 34Place: phân phối; Promotion: cổ động)” Theo đó, Promotion – cổ động: Là những hoạt
động thông đạt những giá trị sản phẩm và thuyết phục được khách hàng sản phẩm ấy Cổ động bao gồm các hoạt động quảng cáo, bán hàng trực tiếp, khuyến mãi, quan hệ công chúng
Theo Ngô Trần Ánh, [4], “Promotion” (xúc tiến bán) là một trong 7 P trong
Marketing DV (Product: sản phẩm; Price: giá; Place: phân phối; Promotion: Xúc tiến bán;
Poeple: con người; Process: quá trình thực hiện DV; Physical Evidence: Bằng chứng, chứng cứ về vật chất (cơ sở vật chất để thực hiện DV) Tài liệu của Ngô Trần Ánh cho
rằng: Promotion – xúc tiến bán hay một số thuật ngữ khác có liên quan như: hỗn hợp xúc
tiến bán (Promotion – mix); hỗn hợp truyền thông marketing (Marketing Comunications Mix) bao gồm các thành phần sau:
Quảng cáo (Advertising): Hoạt động truyền thông về sản phẩm tới khách hàng
thông qua một phương tiện truyền thông không phải là cá nhân, được trả tiền bởi một cá nhân hay tổ chức xác định;
Khuyến mãi (Sales Promotion): Hoạt động kích thích việc mua sắm hay dùng thử
của khách hàng bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích tăng thêm so với trường hợp khách hàng không tham gia vào hoạt động đó;
Quan hệ công chúng PR (Public Relation): Hoạt động truyền thông tới khách hàng
và công chúng nhằm bảo vệ hoặc đề cao hình ảnh của một tổ chức và những sản phẩm của nó;
Bán hàng trực tiếp (Persional Selling): Hoạt động truyền thông và bán hàng thông
qua sự tiếp xúc trực tiếp giữa lực lượng bán hàng của một tổ chức và những người mua tiềm năng
Marketing trực tiếp (Direct Marketing): Hoạt động truyền thông marketing mang
tính tương tác với việc sử dụng một hay nhiều phương tiện quảng cáo để tạo ra những đáp ứng có thể đo được và/hoặc những giao dịch ở bất kỳ địa điểm nào
Phan Thị Nhung [76], cho rằng xúc tiến thương mại bao gồm các nội dung sau:
Quảng cáo: Là hoạt động truyền thông phi trực tiếp giữa người – người mà người
muốn truyền thông phải trả tiền cho các phương tiện truyền thông đại chúng để đưa thông tin đến thuyết phục hay tác động đến người nhận tin
Quảng cáo thương mại: Là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa của mình
Bán hàng trực tiếp: Bán hàng trực tiếp là hành vi thương mại của thương nhân, là
sự giao tiếp trực tiếp giữa người bán hàng và khách hàng tiềm năng Trong đó người bán hàng có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu cho người mua, nhận hàng
Khuyến mãi: Là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến
việc mua bán hàng hóa, cung ứng DV bằng cách dành những lợi ích nhất định cho khách hàng
Quan hệ công chúng: Là những hoạt động nhằm tuyên truyền giới thiệu với các
giới dân chúng khác nhau ở trong và ngoài nước
Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, DV: Là hoạt động xúc tiến thương mại của
thương nhân dùng hàng hóa, DV và tài liệu hàng hóa, DV để giới thiệu với khách hàng về hàng hóa DV đó
Trang 35 Hội chợ, triển lãm thương mại: Là hoạt động xúc tiến thương mại được thực hiện
tập trung trong một thời gian và tại một địa điểm nhất định để thương nhân trưng bày, giới thiệu hàng hóa
Qua các nội dung trình bày trên ta có thể rút ra những nhận xét như sau:
Trong 4 nhóm tác giả, luận án đề cập thì “Promotion” có 4 điểm chung đó là: Quảng cáo, khuyến mãi (kích thích tiêu thụ), quan hệ công chúng và bán hàng trực tiếp
Nội dung thứ 5: “Marketing trực tiếp” của Ngô Trần Ánh đưa ra có sự khác biệt với 2 nhóm tác giả (Philip Kotler, Lê Thế Giới và Nguyễn Xuân Lãn) thực chất đó chỉ là hình thức quảng cáo với sự kết hợp của nhiều phương tiện quảng cáo
Với nội dung thứ 5 “Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, DV” và thứ 6 “Hội chợ, triển lãm thương mại” của Phan Thị Nhung khi trình bày về các nội dung về xúc tiến thương mại, bản chất đó là các hoạt động thuộc tập hợp các hoạt động “bán hàng trực tiếp” hay “quảng cáo”
Qua đó, ta có thể đi đến kết luận rằng: xúc tiến thương mại hay xúc tiến bán hàng hoặc hỗn hợp truyền thông marketing bao gồm 4 nội dung cơ bản đó là:
(1) Quảng cáo; (2) Khuyến mãi; (3) Quan hệ công chúng (PR- Public Relation); (4) Bán hàng trực tiếp;
Trong đó các hình thức bán hàng trực tiếp có thể bao gồm: chợ, hội chợ, trung tâm giao dịch, triển lãm, giới thiệu
1.3.2 Xúc tiến CGCN tương ứng xúc tiến thương mại
Từ các phân tích và nhận định trên đây, các hoạt động xúc tiến CGCN tương ứng hoạt động xúc tiến thương mại là:
Quảng cáo công nghệ
Quảng cáo công nghệ là hoạt động xúc tiến CGCN của các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực KH&CN giới thiệu với khách hàng về hàng hoá công nghệ của mình6
Quảng cáo trình bày một thông điệp mang tính thương mại theo những chuẩn mực nhất định trong cùng một lúc một số lượng lớn những người nhận phân tán khắp nơi thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng Các phương tiện này có thể phát sóng (đài phát thanh, truyền hình), in ấn (báo, tạp chí), và các phương tiện khác (như thư tín, biển quảng cáo hoặc phương tiện quá cảnh )
Khuyến mại công nghệ 7
Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của tổ chức KH&CN hoặc thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán công nghệ bằng các dành những lợi ích nhất định cho khách hàng8
Mục đích tạo ra thêm một động cơ cho khách hàng ra quyết định mua hàng Các hoạt động bao gồm: giảm giá, phiếu mua hàng, trả lại một phần tiền, thi cá cược trò chơi, phần
6 Điều 102, Luật Thương mại [91]: “Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, DV của mình
7 Khuyến mãi và khuyến mại thực chất là hai từ có hàm nghĩa khác nhau, nhưng trong các tài liệu marketing tác giả có điều kiện tiếp cận lại thường dùng chung với mục đích chỉ kích thích hoạt động mua bán
8 Điều 88, Luật Thương mại [91]: “Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhắm xúc
Trang 36thưởng cho khách hàng thường xuyên, qùa tặng, tặng phẩm mang biểu tượng quảng cáo, chiết giá, thêm hàng hoá cho khách mua hàng với lượng nhất định, hay hỗ trợ bên bán hoặc bên mua khi tham gia giao dịch loại công nghệ đó
Quan hệ công chúng (PR – Public Relations)
Quan hệ công chúng về công nghệ là những hoạt động nhằm tuyên truyền giới thiệu với giới dân chúng khác nhau ở trong và ngoài nước về công nghệ9
Các hoạt động công chúng chủ yếu mà các doanh nghiệp thương mại thường dùng như: tổ chức họp báo, hội thảo khách hàng, quan hệ với cộng đồng, hoạt động truyền thông qua tạp chí của doanh nghiệp Các hoạt động khuyếch trương khác như: hoạt động từ thiện, hoạt động tài trợ (tài trợ cho các chương trình thể thao ca nhạc, các cuộc thi tìm hiểu, ) Hoạt quan hệ công chúng giúp cho các tổ chức có khả năng xây dựng hình ảnh đẹp trước khách hàng hoặc dành quyền quảng cáo Đây là hình thức xúc tiến bán hàng được các doanh nghiệp lớn sử dụng
Trưng bày, giới thiệu công nghệ
Trưng bày, giới thiệu công nghệ là hoạt động xúc tiến thương mại công nghệ của tổ chức và cá nhân dùng công nghệ và tài liệu về công nghệ để giới thiệu với khách hàng về
cô ng nghệ đó10
Các hình thức trưng bày, giới thiệu công nghệ:
Mở phòng trưng bày, giới thiệu công nghệ
Trưng bày, giới thiệu công nghệ thông qua các trung tâm giao dịch công nghệ hoặc qua các hoạt động giải trí, thể thao, văn hoá, nghệ thuật
Tổ chức hội nghị, hội thảo có trưng bày, giới thiệu công nghệ
Trưng bày giới thiệu công nghệ trên Internet và các hình thức khác theo quy định của pháp luật
Hội chợ, triển lãm công nghệ
Hội chợ, triển lãm công nghệ là hoạt động xúc tiến CGCN được thực hiện tập trung trong một thời gian và một địa điểm nhất định để tổ chức, cá nhân có quyền sở hữu công nghệ trưng bày, giới thiệu công nghệ nhằm mục đích thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng CGCN 11
Ngô Trần Ánh [4]: “Quan hệ công chúng – PR (Public Relation) là hoạt động truyền thông tới khách hàng
và công chúng nhằm bảo vệ hoặc đề cao hình ảnh của một tổ chức và những sản phẩm của nó
10 Điều 117, Luật Thương mại [91]: “Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, DV là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân dùng hàng hóa, DV và tài liệu về hàng hóa, DV để giới thiệu với khách hàng về hàng hóa,
DV đó.”
11 Điều 129, Luật Thương mại [91]: “Hội chợ, triển lãm thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại được thực hiện tập trung trong một thời gian và tại một địa điểm nhất định để thương nhân trưng bày, giới thiệu hàng hóa, DV nhằm mục đích thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng DV
Trang 37tiềm năng Trong đó, người bán hàng có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng cho người mua và nhận tiền12
Bán hàng trực tiếp xảy ra thông qua tiếp xúc trực tiếp giữa người bán và người mua, hoặc mặt đối mặt hoặc là thông qua một phương tiện viễn thông nào đó ví dụ như Internet, điện thoại, email
Đối với hàng hoá công nghệ, các hình thức bán hàng trực tiếp hiện nay bao gồm thông qua chợ công nghệ, thiết bị; Trung tâm (sàn) giao dịch công nghệ hoặc các hình thức khác
1.3.3 Các hoạt động xúc tiến đặc thù công nghệ
Là các hoạt động xúc tiến được chứng minh và liệt kê sau đây:
1 Hoạt động của trung tâm CGCN: Đối với hàng hoá thông thường, quá trình mua
bán diễn ra nhanh chóng Việc mua bán trong các giao dịch thường đi đôi với quyền chủ sở hữu hàng hoá Nhưng đối với quá trình mua bán công nghệ lại khác hẳn Sự mua bán có sự khác nhau một trời một vực giữa mua quyền sử dụng hay quyền sở hữu, độc quyền hay không độc quyền hàng hoá công nghệ Mặt khác, khi bỏ tiền mua công nghệ, mặc dù có công nghệ (có quyền sở hữu, hoặc quyền sử dụng) nhưng chưa chắc đã sử dụng hay vận hành được, vì khi đó “bên mua” không đạt tới có năng lực tiếp thu, làm chủ công nghệ như bên bán để hoàn thiện quá trình chuyển giao Để thực hiện được điều này phải nhờ tới các
đơn vị hoạt động chuyên nghiệp (các Trung tâm CGCN) có kinh nghiệm về chuyên môn
để thực hiện truyền đạt, chuyển giao những kiến thức cốt lõi, giúp cho bên nhận dễ dàng tiếp thu và làm chủ công nghệ, hoàn thành 1 chu trình chuyển giao Nếu xét trong quan hệ thương mại, đây cũng chính là hoạt động “bán hàng trực tiếp” đã đề cập ở trên
2 Hoạt động của vườn ươm công nghệ (TBI), ươm tạo doanh nghiệp công nghệ:
Do CGCN còn là những hoạt động diễn ra trong nội bộ hay theo hình thái: từ quá trình nghiên cứu tới quy mô phòng thí nghiệm tiến tới một sản phẩm công nghệ hoàn chỉnh để thương mại hóa rộng rãi Giai đoạn này phải sản xuất công nghiệp thử nhằm ổn định các thông số kỹ thuật và quy trình sản xuất Trong quá trình này nếu thiếu sự hỗ trợ chuyên nghiệp sẽ làm người sáng tạo công nghệ rất vất vả trong việc chuyển giao Còn bên tiếp nhận chuyển giao (bên mua) rất dễ nản lòng, thiếu lòng tin đối với công nghệ vì công nghệ chưa hoàn chỉnh nên thường xuyên báo lỗi
Mặt khác, theo tổng kết kinh nghiệm, quá trình hình thành công nghệ hoàn thiện từ quá trình nghiên cứu thành công trong phòng thí nghiệm tới công nghệ hoàn chỉnh được thương mại hóa phổ biến là cả một thời gian rất dài, như một số tài liệu nghiên cứu về công nghệ hình tượng hóa rằng: đó là quá trình đi qua “một vùng biển chết”, hay “hố sâu Đác Uyn” Xúc tiến CGCN sẽ thúc đẩy sự chuyển hoá đó thông qua các hoạt động “ươm tạo”
(tại các TBI, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ) nhằm tạo ra môi trường tốt, những “lồng
ấp” để công nghệ sớm hoàn thiện
12 Phan Thị Nhung [76]: “Bán hàng trực tiếp là hành vi thương mại của thương nhân, là sự giao tiếp trực tiếp giữa người bán với khách hàng tiềm năng Trong đó người bán hàng có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu cho người mua và nhận tiền”
Ngô Trần Ánh [4]: “Bán hàng trực tiếp (Personal Selling) là hoạt động truyền thông và bán hàng thông qua
Trang 38Hình 1.5 : Quá trình CGCN từ phòng thí nghiệm ra thực tế
(Nguồn: Tian Bo, ZheJiang Provincial Association for Tech Market Promotion)
3 Hoạt động cung cấp thông tin KH&CN: Công nghệ thường được coi là các “sản
phẩm mới”, nên thông tin về sản phẩm rất ít khiến “cung”, “cầu” khó gặp nhau Các hoạt động cung cấp thông tin KH&CN nhằm góp phần thúc đẩy sự chuyển dịch từ “cung” sang
“cầu” cũng được coi là hoạt động xúc tiến CGCN
4 Các hoạt động hỗ trợ tài chính: nhằm gia tăng số lượng “bên cầu”, biến các đối
tượng từ “có nhu cầu” đủ điều kiện trở thành “có khả năng mua” tức “bên cầu”; hay quá trình thiết lập các mối liên kết để “cung”, “cầu” xích lại gần nhau, tạo điều kiện thuận lợi
diễn ra các giao dịch cũng được coi là hoạt động góp phần “thúc đẩy, tạo và tìm kiếm cơ hội CGCN”
Ngoài các hoạt động trên đây, công trình nghiên cứu của Hoàng Xuân Long [67] đã chỉ ra rằng hoạt động liên kết giữa Viện/trường và doanh nghiệp để PTCN mới có tác động tích cực trong việc chuyển giao kết quả nghiên cứu của Viện/trường tới doanh nghiệp;
hoặc là quá trình “giải mã” hợp pháp 13 để tạo ra những công nghệ có giá thành phù hợp
có khả năng áp dụng phổ biến với nhiều đối tượng có nhu cầu cũng được coi là những hoạt động xúc tiến CGCN
1.3.4 Các hoạt động xúc tiến CGCN
Với phân tích và trình bày ở trên, các hoạt động xúc tiến CGCN bao gồm hai nhóm sau:
1.3.4.1 Các nhóm thuộc hoạt động xúc tiến thương mại truyền thống
(1) Hoạt động quảng cáo; (2) Hoạt động khuyến mại; (3) Hoạt động quan hệ công chúng; (4) Hoạt động trưng bày, giới thiệu; (5) Hoạt động của hội chợ, triển lãm; chợ công nghệ; (6) Hoạt động bán hàng trực tiếp;
13 Tham khảo thêm: Nguyễn Vân Anh (2011), “Thương mại hóa kết quả nghiên cứu – Nhìn từ góc độ của
quá trình R&D”, Tạp chí hoạt động Khoa học - Bộ KH&CN, Số 626, tháng 7 năm 2011,tr 24 -27;Nguyễn
Vân Anh, Trần Văn Lăng, Phạm Hồng Quất, Nguyễn Hoàng Long (2012), “Giải mã công nghệ đối với
chương trình máy tính”, Tạp chí hoạt động Khoa học – Bộ Khoa học và Công nghệ, Số 633, tháng 2 năm
2012, tr 54 – 58
Trang 39
1.3.4.2 Các nhóm thuộc hoạt động xúc tiến CGCN đặc thù:
(1) Hoạt động của trung tâm CGCN (thuộc hình thức bán hàng trực tiếp – theo cách
lý giải ở trên); (2) Hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ, công viên KH&CN; (3) Hoạt động của Qũy hỗ trợ CGCN; (4) Hoạt động cung cấp thông tin KH&CN; (5) Các hoạt động liên kết giữa Viện/Trường và doanh nghiệp v.v
Đây là những hoạt động có tác dụng thúc đẩy, tạo và tìm kiếm cơ hội CGCN Tuy nhiên trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu, đề tài sẽ đi sâu nghiên cứu các hoạt động sau:
1 Hoạt động của hội chợ, chợ công nghệ, triển lãm công nghệ;
2 Hoạt động của sàn giao dịch công nghệ
3 Hoạt động cung cấp thông tin công nghệ;
4 Hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ;
5 Hoạt động hỗ trợ, đầu tư tài chính;
6 Hoạt động CGCN trực tiếp
7 Hoạt động quảng cáo, giới thiệu công nghệ;
Vai trò của các hoạt động này đối với các chủ thể tham gia CGCN theo hình thái chuyển giao, cụ thể như sau:
a) Các hoạt động xúc tiến CGCN theo chiều dọc
Quá trình CGCN theo chiều dọc được thực hiện theo sơ đồ 1.6:
Sơ đồ 1.6 : Quá trình CGCN theo chiều dọc
Sự tham gia hoạt động xúc tiến CGCN đối với quá trình CGCN theo chiều dọc (Công nghệ được hình thành từ ý tưởng, trải qua quá trình nghiên cứu trở thành công nghệ hoàn
thiện), được thể hiện qua bảng 1.1
Bảng 1.1: Sự tham gia của các hoạt động xúc tiến CGCN theo chiều dọc
2 Cung cấp thông tin
công nghệ; Giúp hình thành ý tưởng công nghệ, và quá trình thực hiện CGCN theo chiều dọc (Đóng vai trò thúc đẩy CGCN)
3 Ươm tạo công nghệ,
ươm tạo doanh
nghiệp công nghệ;
Giúp công nghệ có môi trường tốt để phát triển, rút ngắn thời gian hoàn thiện công nghệ (Đóng vai trò thúc đẩy CGCN)
(Nguồn: Bảng tổng hợp của NCS)
b) Các hoạt động xúc tiến CGCN theo chiều ngang
Trang 40Vai trò của hoạt động xúc tiến CGCN đối với quá trình CGCN theo chiều ngang (các
công nghệ hoàn thiện từ chủ thể này sang chủ thể khác), thể hiện qua bảng 1.2 như sau:
Bảng 1.2: Sự tham gia của hoạt động xúc tiến CGCN theo chiều ngang
1 Quảng cáo, giới thiệu công nghệ
(đóng vai trò thúc đẩy, tạo và
tìm kiếm cơ hội CGCN)
Mở rộng thị trường bán hàng Có thông cần mua tin về công nghệ
2 Tổ chức hội chợ, chợ công nghệ,
triển lãm công nghệ (đóng vai
trò thúc đẩy, tạo và tìm kiếm cơ
hội CGCN)
Mở rộng thị trường bán hàng Có thông tin về công nghệ cần mua
3 Tổ chức sàn giao dịch công nghệ
(đóng vai trò thúc đẩy, tạo và
tìm kiếm cơ hội CGCN)
Mở rộng thị trường bán hàng Có thông tin về công nghệ cần mua
4 Cung cấp thông tin công nghệ
(đóng vai trò thúc đẩy, tạo và
tìm kiếm cơ hội CGCN);
Mở rộng thị trường bán hàng Có đầy đủ thông tin về công nghệ cần tìm kiếm
5 Hỗ trợ, đầu tư tài chính để đổi
mới công nghệ (đóng vai trò
thúc đẩy, tạo cơ hội CGCN)
Mở rộng thị trường bán hàng Giúp tăng số lượng cầu công nghệ (giúp các bên có
nhu cầu đủ điều kiện trở thành bên cầu công nghệ)
6 Tổ chức CGCN trực tiếp (đóng
vai trò thúc đẩy) Mở rộng thị trường bán hàng Giúp bên nhận có đủ năng lực để tiếp nhận công nghệ
chuyển giao
(Nguồn: Bảng tổng hợp của NCS)
Qua phần trình bày ở trên chúng ta thấy rằng, các hoạt động thúc đẩy, tạo và tìm kiếm
cơ hội CGCN sẽ được xem xét theo chiều dọc và chiều ngang
Quá trình xúc tiến CGCN theo chiều dọc: được xem xét dưới góc độ các KQNC
được tạo điều kiện thuận lợi để thành công để chuyển sang giai đoạn tiếp theo và cuối cùng trở thành KQNC hoàn chỉnh, có thể ứng dụng rộng rãi vào cuộc sống
Quá trình xúc tiến CGCN theo chiều ngang: khi có sự tác động một trong hai hoặc
đồng thời cả hai phía cung hoặc cầu đều gây sự tương tác ảnh hưởng qua lại lẫn nhau dẫn đến tăng số lượng hàng hóa công nghệ được tham gia giao dịch (Xem hình 1.7)
Hình 1.7: Mô hình hoạt động xúc tiến CGCN (Nguồn: Sơ đồ tổng hợp của NCS)