Đến năm 2007, sau khi Luật Chứng khoán ra đời, hệ thống văn bản quản lý Nhà nước quy định đối với công ty niêm yết được ban hành theo đó đã phần nào đáp ứng được nhu cầu quản lý về chứng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Văn Phức
HÀ NỘI, 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong Luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của Luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả Luận án
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để xây dựng và hoàn thành Luận án, NCS xin đ-ợc bày tỏ lòng biết
ơn đến thầy giỏo h-ớng dẫn khoa học GS TS Đỗ Văn Phức đã hết lòng chỉ bảo, động viên giúp tôi hoàn thành luận án này Tác giả xin cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa kinh tế và quản lý - Tr-ờng Đại học Bách khoa Hà Nội,Tr-ờng Đại học Kinh tế Quốc dân, Uỷ ban Chứng khoán Nhà n-ớc Học viện Tài chính, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung -ơng, BộTài chính, Bộ T- pháp, Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp Trung -ơng về những ý kiến đóng góp quý báu trong quá trình thực hiện luận
án
NCS chân thành cảm ơn các cán bộ của Viện Đào tạo Sau đại học – Tr-ờng Đại học Bách khoa Hà Nội, các tạp chí, th- viện, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng để thu thập tài liệu và sử dụng rất nhiều ph-ơng pháp khác nhau để thu thập và phân tích thông tin, song không phải luận án không còn những thiếu sót NCS rất mong nhận đ-ợc sự
đóng góp chân thành của các Thầy cô, đồng nghiệp và ng-ời đọc
Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG
1.1 Khái quát về công ty niêm yết và thị trường chứng khoán 1
1.1.2.4 Quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán 13
1.2 Quản lý nhà nước về pháp luật đối với công ty niêm yết trên TTCK 15
1.2.2 Yêu cầu quản lý Nhà nước về pháp luật đối với công ty niêm yết trên TTCK 17 1.2.3 Vai trò của quản lý Nhà nước về pháp luật đối với công ty niêm yết trên TTCK19 1.2.4 Các nội dung quản lý Nhà nước về pháp luật đối với công ty niêm yết trên
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
2.1.1 Quy định về niêm yết trên TTCK Việt Nam 41
Trang 62.1.2 Thực tiễn áp dụng và vấn đề phát sinh 44
2.2 Thực trạng quản lý nhà nước về phát hành 49
2.2.2 Thực tiễn áp dụng và các vấn đề phát sinh 52
2.3 Thực trạng quản lý nhà nước về công bố thông tin 56
2.3.1 Quy định về công bố thông tin đối với công ty niêm yết 56 2.3.2 Thực tiễn áp dụng và vấn đề phát sinh 61
2.4 Thực trạng quản lý nhà nước về quản trị công ty 70
2.4.1 Quy định về quản trị công ty niêm yết 70 2.4.2 Thực tiễn áp dụng và vấn đề phát sinh 73
CHƯƠNG 3 ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN ĐẾN 202091 3.1 Định hướng đổi mới quản lý nhà nước về pháp luật đối với công ty niêm
3.1.3 Định hướng đổi mới quản lý nhà nước về mặt pháp luật đối với các công ty
3.2 Hoàn thiện pháp luật quản lý nhà nước đối với công ty niêm yết trên
3.2.1 Hoàn thiện các quy định về niêm yết đối với công ty niêm yết trên TTCK 104
3.2.1.2 Quy định về vốn và tỷ lệ cổ phần tối thiểu do công chúng nắm giữ 106 3.2.1.3 Quy định về quản trị công ty trong tiêu chuẩn niêm yết 107 3.2.1.4 Quy định về tình hình tài chính lành mạnh 108 3.2.2 Hoàn thiện các quy định về phát hành đối với công ty niêm yết trên TTCK 108 3.2.2.1 Quy định về phát hành riêng lẻ và chào bán ra công chúng 111 3.2.2.2 Quy định nội dung trong báo cáo phát hành 112 3.2.2.3 Quy định về báo cáo sau phát hành 112
3.2.3 Hoàn thiện các quy định về công bố thông tin của công ty niêm yết trên TTCK114 3.2.3.1 Quy định về phân chia thông tin theo nguồn gốc thông tin 115 3.2.3.1 Quy định về công khai thông tin trước và sau giao dịch đối với các đối
Trang 7tượng cổ đông đặc biệt 117 3.2.3.3 Quy định về tính chính xác, kịp thời của thông tin 117 3.2.3.4 Quy định về phương tiện công bố thông tin 118 3.2.3.5 Quy định phân chia công ty theo quy mô và số lượng cổ đông 118 3.2.4 Hoàn thiện các quy định về quản trị công ty của công ty niêm yết trên TTCK119 3.2.4.1 Hoàn thiện và áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế 122 3.2.4.2 Quy định cụ thể về điều kiện tiêu chuẩn cán bộ quản lý tại doanh nghiệp123
3.3 Điều kiện cần thiết để thực hiện hiệu quả các quy định pháp luật đối với
3.3.1 Tăng cường hoạt động giám sát và báo cáo hiệu quả về hoạt động của công ty
3.3.2 Tăng cường hoạt động giám sát công bố thông tin của công ty niêm yết trên
Phụ lục 1: Mẫu và kết quả điều tra khảo sát 141
Trang 8Số liệu về quy mô giao dịch cổ phiếu toàn thị trường qua các năm 155
Trang 9Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt
Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước
Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
Sở Giao dịch Chứng khoán Tp Hồ Chí Minh
Trang 10Danh mục các bảng biểu
Hộp 2.1 Cổ đông lớn bán cổ phiếu, không công bố thông tin 67
Hộp 2.2 Cổ đông L18 nắm giữ dưới 10.000 CP không được tham dự ĐHĐCĐ 76
Hộp 2.3 Đại diện cổ đông Nhà nước trong HĐQT đã kìm hãm sự phát triển của công ty 85
Bảng 2.1: Danh sách các công ty chuyển niêm yết từ Sở GDCK Tp HCM sang Sở GDCK Hà Nội 47
Bảng 2.2: Số liệu về niêm yết cổ phiếu tại Sở GDCK Hà Nội từ 2006-2010 45
Bảng 2.3: Giá trị phát hành chứng khoán so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội 55
Bảng 2.4: Bảng thống kê số lượng vi phạm công bố thông tin bất thường tại Sở GDCK Hà Nội năm 2009 65
Bảng 2.5: Bảng thống kê số lượng giao dịch và vi phạm công bố thông tin của các giao dịch đặc biệt năm 2009 tại Sở GDCK Hà Nội 65
Bảng 2.6: Danh sách các công ty chưa ban hành điều lệ theo điều lệ mẫu tại Sở GDCK Hà Nội (tính đến 31/12/2008) 75
Bảng 2.7: Thống kê về sự tham gia của Nhà nước tại công ty cổ phần 78
Bảng 2.8: Tỷ lệ nắm giữ của Nhà nước trên TTCK Việt Nam tại thời điểm 15/5/2008 79
Bảng 2.9: Nhân tố và những ảnh hưởng tới công ty 82
Bảng 2.10: Các quy định về thành viên HĐQT độc lập tại các nước khu vực châu Á 88
Trang 11Danh mục các hình vẽ và đồ thị
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2000, với 02 công ty niêm yết khi đưa TTGDCK Tp HCM (HoSTC) vào hoạt động, TTCK đã có mức tăng trưởng nhanh do nguồn cung hàng hóa khan hiếm, chỉ số VN Index liên tục tăng và đạt tới đỉnh điểm là 571,04 điểm ngày 25/6/2001 Sau đó, thị trường đã liên tục sụt giảm trong suốt 3 năm sau đó, trước khi tăng mạnh trở lại vào cuối năm
2003 Năm 2005, sau khi TTGDCKHN đi vào hoạt động, tổng số lượng các công ty niêm yết trên cả hai thị trường là 44 công ty với tổng giá trị niêm yết là 4,94 nghìn tỷ đồng Tuy nhiên, tính cuối năm 2010, đã có hơn 600 doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu trên cả hai SGDCK với tổng giá trị thị trường chiếm trên 38% GDP 2009
Trong khi đó, để triển khai đưa TTCK vào hoạt động, năm 1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm
1998 quy định chung về chứng khoán và thị trường chứng khoán Đây là nền tảng pháp lý đầu tiên quy định về chứng khoán và TTCK ở Việt Nam Sau hơn 4 năm triển khai thực hiện, Chính phủ đã ban hành Nghị định 144/ 2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003 (thay thế Nghị định 48/1998/NĐ-CP) Đến năm 2007, sau khi Luật Chứng khoán ra đời, hệ thống văn bản quản lý Nhà nước quy định đối với công ty niêm yết được ban hành theo đó đã phần nào đáp ứng được nhu cầu quản lý về chứng khoán và thị trường chứng khoán đối với các công ty niêm yết
Tuy nhiên, sự phát triển nhanh và mạnh của thị trường chứng khoán trong hơn 4 năm trở lại đây cùng với các vấn đề bất cập của văn bản pháp
lý đòi hỏi phải nâng cao khả năng quản lý Nhà nước thông qua hệ thống lại
cơ sở pháp lý về công ty niêm yết trên thị trường Thực tế cho thấy trong quá trình hoạt động, những mâu thuẫn phát sinh từ mối quan hệ giữa các chủ thể có liên quan đến công ty ngày càng cần được quy định cụ thể và rõ ràng Vì vậy, nghiên cứu sinh cho rằng việc đề xuất các quy định quản lý nhà nước một cách thống nhất và hiệu quả đối với các công ty niêm yết trên
Trang 13thị trường chứng khoán đi vào hoạt động hơn 10 năm là vấn đề cấp thiết
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trước đó
Trước khi đi sâu vào nghiên cứu từng mảng nội dung, nghiên cứu sinh đã tiến hành tìm hiểu các nghiên cứu khoa học tại Việt Nam nhằm thu thập tài liệu, tổng hợp các nội dung hợp lý làm tiền đề hỗ trợ cho các nội dung nghiên cứu tiếp theo trong luận án này
Năm 2002, đề tài của Lê Thị Mai Linh đã nghiên cứu về quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam giai đoạn trước năm 2002 Đề tài này tập trung nhiều đến một số kinh nghiệm quốc tế và quản trị theo quy định của pháp luật, chủ yếu tại Điều lệ mẫu ban hành kèm theo Quyết định số 07/2002/QĐ-VPCP ngày 19/11/2002 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ về việc ban hành mẫu Điều lệ áp dụng cho các công ty niêm yết Đề tài đã đưa ra những nghiên cứu cơ bản mang tính chất học thuật về quản trị công ty trên thế giới Tuy nhiên, các đánh giá và đề xuất của đề tài chỉ đáp ứng được đối với các doanh nghiệp trong giai đoạn đầu của thị trường chứng khoán Ngoài ra, những đề xuất của đề tài chỉ liên quan đến việc áp dụng điều lệ mẫu đối với công ty niêm yết trên cơ sở số liệu thống kê tình hình của một số công ty cổ phần trên địa bàn Hà Nội trước năm 2002, thời điểm TTCK mới vào hoạt động Do vậy, những kết quả của đề tài sẽ được tác giả nghiên cứu và làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo
Về các đề tài nghiên cứu quy định liên quan đến hoạt động công bố thông tin, Phạm Thị Giang Thu[19] năm 2002 với đề tài hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp trên TTCK Việt Nam, chủ yếu đề xuất các giải pháp hoàn thiện liên quan đến giao dịch và một phần hoạt động của công ty niêm yết trên thị trường với tư cách là đối tượng công bố thông tin Như vậy, đề tài này đã đề cập một phần liên quan đến giải pháp về mặt luật pháp
về công bố thông tin đối với công ty niêm yết Tuy nhiên, đề tài chỉ nghiên cứu các giải pháp giải quyết tranh chấp, thay vì quy định các nguyên tắc về mặt pháp lý liên quan đến công bố thông tin
Năm 2006, Ngân hàng thế giới (World Bank)[53] đã công bố bản
Trang 14báo cáo đánh giá so sánh về quản trị công ty của Việt Nam so với chuẩn của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)
Tiếp đó, năm 2008, vấn đề nghiên cứu cơ sở khoa học nhằm hoàn thiện chế độ quản trị công ty tại Việt Nam đã được TS Nguyễn Đình Cung thực hiện Đề tài này tập trung nghiên cứu các quy định về quản trị công ty đối với các công ty cổ phần nói chung tại Việt Nam trên cơ sở có tổng hợp các phân tích đánh giá trước đó và thông qua việc khảo sát lấy mẫu 100 công ty cổ phần điển hình trên cả nước Đề tài đã nêu rõ được những vi phạm về quản trị công ty và tình hình quản trị công ty trên thực tế của công
ty cổ phần theo các các vốn và tại các vùng miền khác nhau Tuy nhiên, luận án chưa đánh giá được thực trạng về mức độ tuân thủ của các công ty đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Ngoài ra, thời điểm điều tra khảo sát của luận án thực hiện sau khi quy định về quản trị công ty mới được ban hành chưa đầy 2 năm Do đó, khả năng tiếp nhận thông tin và thực thi theo quy định này của các công ty cổ phần nói chung sẽ không cao
và không phản ánh hết đầy đủ được tình trạng chung của các công ty niêm yết
Về vấn đề chào bán cổ phần ra công chúng, đề tài nghiên cứu của Nguyễn Thị Thư[20] năm 2008 về hoàn thiện pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng chủ yếu đề cập hành lang pháp lý liên quan đến việc chào bán với chứng khoán đủ điều kiện chào bán công khai Như vậy, đề tài chưa đề xuất hoàn thiện pháp luật liên quan đến việc chào bán chứng khoán theo các hình thức khác trên quan điểm vì lợi ích của cổ đông
Đánh giá một cách chung nhất có thể thấy các nghiên cứu trên mới được nghiên cứu một cách riêng lẻ về từng vấn đề trong quản lý nhà nước đối với công ty niêm yết, tính hệ thống chưa cao Trong khi đó, thực tế hoạt động của các công ty cổ phần phát sinh rất nhiều vấn đề đòi hỏi pháp luật phải có biện pháp ngăn chặn kịp thời vì lợi ích của những người tham gia góp vốn với công ty Các vấn đề đặt ra thường gặp trên thực tế có thể là:
1 Việc niêm yết và phát hành của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán vừa qua có thực sự phù hợp với sự phát triển của
Trang 15TTCK Việt Nam?
2 Các quy định về công bố thông tin đối với các công ty hiện nay
đã đầy đủ và đáp ứng được yêu cầu về một thị trường chứng khoán công khai, minh bạch? Chế tài nào xử lý nếu doanh nghiệp không công bố thông tin đầy đủ?
3 Những người đại diện chủ sở hữu và điều hành đã làm tròn trách nhiệm với cổ đông?
4 Tại sao các vi phạm về quyền lợi cổ đông vẫn diễn ra?
…
Bối cảnh nói trên kết hợp với những kiến thức, kinh nghiệm cá nhân tích lũy được trong nhiều năm gắn bó trong ngành chứng khoán cùng với việc quan sát, theo dõi việc thực hiện trên thực tế là lý do chủ yếu để tôi
chọn đề tài “Quản lý Nhà nước về pháp luật đối với công ty niêm yết
trên thị trường chứng khoán Việt Nam”
3 Mục tiêu
Làm rõ các nội dung cơ bản về quản lý nhà nước về pháp luật đối với công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán trên cơ sở ứng dụng các lý thuyết kinh tế cơ bản
Nghiên cứu và tổng hợp kinh nghiệm quốc tế về quy định của pháp luật đối với các nội dung quản lý nhà nước về niêm yết, phát hành, công bố thông tin và quản trị công ty
Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước trên thị trường chứng khoán Việt Nam về niêm yết, phát hành, công bố thông tin và quản trị công ty từ khi thành lập đến nay
Đề xuất, kiến nghị góp phần hoàn thiện giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với công ty niêm yết về trên TTCK Việt Nam trong
10 năm tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu dưới giác độ vĩ mô các quy định
Trang 16về quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp (bao gồm quy định về niêm yết, phát hành, công bố thông tin, quản trị công ty) đối với công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Phạm vi nghiên cứu: các quy định quản lý nhà nước về niêm yết, phát hành, công bố thông tin và quản trị công ty đối với công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng để thực hiện luận án này gồm phương pháp miêu tả, phân tích tổng hợp, phân tích so sánh, phân tích thống kê, phương pháp chuyên gia, phương pháp đánh giá tình hình[15] Với phương pháp đánh giá tình hình, nghiên cứu sinh tuân thủ chọn bộ tiêu chí bám sát, bộ dữ liệu, xây dựng chuẩn so sánh với các nước
có đặc điểm tương tự Việt Nam và đưa ra đánh giá chung kết trên cơ sở thực tiễn phát sinh cũng như qua các ý kiến đánh giá khảo sát Bằng các phương pháp nghiên cứu nói trên, luận án trước hết nghiên cứu những mâu thuẫn phát sinh từ mối quan hệ giữa các đối tượng trong công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán, từ đó định hướng cho việc thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu tiếp theo
Về kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu sinh chọn phương pháp nghiên cứu theo từng vấn đề chuyên sâu trong luận án…qua đó, rút ra những bài học kinh nghiệm góp phần làm cơ sở phân tích, đánh giá về thực trạng và kiến nghị giải pháp tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước đối với công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam
Về thực tiễn Việt Nam, sau khi tập hợp giới thiệu tổng quát về bản chất công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán, so sánh rút ra những điểm mạnh và điểm yếu trong các quy định pháp luật có liên quan[25], nghiên cứu sinh đã tiến hành điều tra thực tế Kết quả điều tra được tổng hợp, phân tích để làm rõ hơn sự vận hành của quản lý nhà nước đối với công ty niêm yết trên thực tế; qua đó, nhận biết được những khác biệt trên thực tế so với quy định của pháp luật, những điểm yếu của quản lý nhà nước công ty công ty niêm yết
Trang 17Cuối cùng, trên cơ sở mục tiêu Nhà nước là nhân tố trung gian quyền lực ban hành hệ thống luật pháp và giải quyết các mâu thuẫn phát sinh giữa các đối tượng liên quan đến công ty, những điểm yếu và điểm mạnh sau khi nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và điều tra thực tế, luận án kiến nghị một
số giải pháp hoàn thiện vấn đề quản lý nhà nước đối với công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán để thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
6 Kết cấu của luận án
Luận án được chia thành 3 chương, ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được kết cấu như sau:
Chương 1: Tổng quan về quản lý nhà nước đối với công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về pháp luật đối với công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Chương 3: Đổi mới quản lý nhà nước về pháp luật đối với công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán đến 2020
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1 Khái quát về công ty niêm yết và thị trường chứng khoán
1.1.1 Khái quát về công ty niêm yết
1.1.1.1 Định nghĩa
Tại Việt Nam, theo quy định tại Điều 40, Luật Chứng khoán và các điều khoản liên quan khác thì công ty niêm yết trên sở giao dịch, trung tâm giao dịch phải là công ty cổ phần đại chúng Do đó, phần này của Luận án
sẽ đi sâu vào nghiên cứu các đặc điểm của công ty niêm yết thông qua đặc điểm của công ty cổ phần đáp ứng các điều kiện niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán
Do vậy, đặc điểm của công ty niêm yết được bao hàm theo đặc điểm của công ty cổ phần hoạt động trên thị trường chứng khoán, bao gồm các đặc điểm như tác giả Robert C Clark[50] đã nêu:
- Tính trách nhiệm hữu hạn đối với các nhà đầu tư góp vốn (cổ đông)
- Khả năng chuyển nhượng các phần vốn góp
- Công ty có tư cách pháp nhân độc lập do tách ra khỏi những người thành lập nó, liên tục tồn tại, có mục đích riêng
- Công ty được quản lý tập trung
Theo định nghĩa tại Điều 77, Luật Doanh nghiệp được ban hành năm 2005[26] thì công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là
ba và không hạn chế số lượng tối đa;
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào
Trang 19doanh nghiệp;
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp là cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác và trường hợp là cổ đông sáng lập trong thời gian bị hạn chế chuyển nhượng
Từ những đặc điểm hình thành và các vấn đề phát sinh tồn tại trong hình thức hoạt động của công ty cổ phần, luật pháp các nước đã hình thành nên các định nghĩa và nội dung quản lý nhà nước đối với thể chế bậc cao nay Các quy định của pháp luật về công ty cổ phần thường nhằm điều chỉnh hành vi đồng thời cũng bảo vệ quyền lợi của ba đối tượng chủ yếu trong công ty, đó là quyền lợi và nghĩa vụ của chủ công ty (các cổ đông), vai trò trách nhiệm của những người đại diện cho những người chủ công ty (hội đồng quản trị) và những người được lựa chọn để điều hành công ty (ban giám đốc)
1.1.1.2 Bản chất
Bản chất của công ty cổ phần lần đầu tiên được đề cập thông qua khái niệm chi phí giao dịch do Ronald Coase đề cập trong bài viết nổi tiếng năm 1937 với tựa đề “Bản chất của công ty” Theo nghiên cứu của Coase, trong một nền kinh tế thị trường tự do, các công ty cổ phần ra đời một cách
tự nguyện chứ không phải do ý muốn và sự ép buộc của nhà nước Lý do
để thiết lập một công ty cổ phần là ở chỗ việc sử dụng cơ chế giá cả của thị trường đã làm phát sinh những chi phí nhất định Những chi phí này bao gồm: chi phí phát hiện các mức giá thị trường khác nhau và chi phí trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng với những người cung cấp hàng hoá
và dịch vụ Do vậy, các công ty cổ phần ra đời do chi phí tiến hành một giao dịch của một công ty sẽ thấp hơn một giao dịch trực tiếp trên thị trường cùng cho một kết quả tương tự [1][13][77][81]
Để hiểu rõ bản chất của công ty cổ phần, trải qua các thời kỳ, các học giả đã đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa các chủ thể trong công ty Mối quan hệ giữa các chủ thể trong công ty như giữa chủ tàu với nguời lái tàu
Trang 20đựoc thuê chở hàng hóa từ những năm đầu thế kỷ 19 được đề cập đến trong quyển History of Management Thought Series của nhà nghiên cứu R I Tricker[51] Mâu thuẫn xuất hiện ở đây là người lái tàu chỉ là người thừa hành được hưởng tiền công để đưa hàng hóa về cập bến chứ không phải là chủ thực sự số hàng hóa đó Do vậy, trong trường hợp nếu nguời lái tàu sử dụng tàu cho mục đích đem lợi cá nhân hoặc làm thất thoát hàng hóa thì phải có cơ chế xử lý và bảo vệ quyền lợi của người chủ thực sự để tránh tình trạng người lái tàu cố tình làm hỏng tàu hoặc sử dụng tàu để trục lợi cá nhân Từ đó cho thấy cần thiết phải có sự can thiệp của nhà nước để điều chỉnh các mối quan hệ này để đảm bảo không phát sinh mâu thuẫn hoặc khi
có phát sinh thì mâu thuẫn được giải quyết thỏa đáng
Trên cơ sở đó, lý thuyết về ủy quyền – tác nghiệp do Jensen và Meckling [1976] nghiên cứu trên cơ sở những nghiên cứu trước đó của Berle và Means [1932] ra đời Jensen và Meckling định nghĩa “mối quan hệ
ủy quyền – tác nghiệp như là một hợp đồng theo đó một hay nhiều người (đại diện cho người chủ) thuê một người khác (người thừa hành) thay mặt
họ thực hiện một số dịch vụ và được phép đưa ra những quyết định liên quan”
Chi phí ủy quyền- tác nghiệp xuất hiện tại công ty cổ phần để giải quyết những mâu thuẫn giữa cổ đông và người quản lý công ty, giữa cổ đông và chủ nợ, giữa người chủ và người thừa hành hay với những người
có liên quan trong một tổ chức[80]…
Tóm lại, trong quá trình phát triển của công ty cổ phần[45][78][79], vấn đề đặt ra lớn nhất đối với các nhà quản lý trong lĩnh vực này là công ty
cổ phần cần phải hoạt động như thế nào để đảm bảo chức năng quản lý điều hành với chức năng sở hữu của công ty không bị lẫn lộn, hay nói một cách khác là phải có các quy định hợp lý để giải quyết những mâu thuẫn phát sinh giữa các đối tượng có liên quan đến công ty
1.1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng
Để có chính sách hợp lý điều chỉnh hoạt động của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, việc hiểu rõ bản chất và các mối quan hệ
Trang 21trong công ty cổ phần là hết sức cần thiết Thông thường, các yếu tố ảnh hưởng đến công ty cổ phần được xác định bao gồm các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài Mức độ tác động của các yếu tố này đến hoạt động của công ty là khác nhau và có ảnh hưởng ít nhiều đến cổ đông, ban quản
lý điều hành cũng như sự phát triển của công ty Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của công ty cổ phần được xác định bao gồm:
- Các yếu tố bên trong
- Các yếu tố bên ngoài
Các yếu tố bên trong được xác định ảnh hưởng đến công ty bao gồm: mức
Các nghiên cứu, khảo sát đã chứng minh một mối quan hệ theo hình chữ U ngược giữa mức độ tập trung quyền sở hữu và khả năng sinh lời của công ty Khi mức độ tập trung quyền sở hữu tăng lên từ một xuất phát điểm thấp, chi phí hoạt động của công ty sẽ giảm xuống do việc giám sát của cố đông đối với ban giám đốc phát huy tác dụng và do vậy, khả năng sinh lời của công ty tăng lên
Sơ đồ 1.1: Mô hình về mối quan hệ giữa quyền kiểm soát và sở hữu
Trang 22Nguồn: Becht và Mayer, 2001
Nghiên cứu của Becht và Mayer[40] năm 2001 được tổng kết theo sơ
đồ trên cho thấy mối quan hệ giữa quyền kiểm soát và sở hữu trong công
ty Đối với những công ty có mức độ tập trung sở hữu cao thì quyền kiểm soát công ty thuộc về các cổ đông lớn Ngược lại, với những công ty có mức độ tập trung sở hữu thấp thì sự tách biệt giữa quản lý kiểm soát và sở hữu sẽ tốt hơn
Thành phần sở hữu trong công ty cũng là một yếu tố hết sức quan trọng xác định cơ chế quản trị công ty Thành phần sở hữu cho biết thành phần cổ đông trong công ty và khả năng chi phối của những cổ đông giữ cổ phần chi phối Một cổ đông có thể là một cá nhân, một gia đình hoặc một nhóm gia đình, một công ty mẹ, một ngân hàng hoặc một nhà đầu tư tổ chức (như là công ty tài chính, quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm), hoặc là một công ty phi tài chính Mỗi một thành phần sở hữu khác nhau sẽ tạo ra những vấn đề liên quan đến quản trị công ty khác nhau[6] Một gia đình hoặc một nhóm gia đình nếu có phần đầu tư đáng kể vào công ty thì chắc chắn sẽ có mối quan tâm lớn đến việc đồng thời nắm quyền kiểm soát và sở hữu công ty Một nhà đầu tư tổ chức thì lại chỉ thường quan tâm đến lợi
Trang 23nhuận của công ty hơn là quyền kiểm soát Một ngân hàng khi đóng vai trò
là cổ đông lớn của một công ty cũng dễ có thiên hướng đưa ra những ưu đãi khi cung cấp các khoản vay, không có được những quyết định dứt khoát trong việc chấm dứt những dự án không sinh lời và thanh lý công ty Tình trạng này xuất phát từ sự xung đột quyền lợi sẽ phát sinh khi ngân hàng vừa
là người sở hữu vừa là chủ nợ của công ty
Các yếu tố bên ngoài tác động đến công ty thường bao gồm các nội dung
sau đây về hệ thống chế độ kế toán, kiểm toán, các vấn đề về văn hóa, lịch sử
Hệ thống kế toán và kiểm toán sẽ quyết định một phần về khả năng minh bạch thông tin của công ty với công chúng đầu tư Những nước có chuẩn mực kế toán và kiểm toán theo hệ thống chung của thế giới thì việc nhà đầu tư tiếp cận các báo cáo tài chính của doanh nghiệp đơn giản hơn và
có chuẩn để so sánh Theo quy định của pháp luật, các công ty niêm yết phải báo cáo về tài chính cho 3 đối tượng Đó là:
- Cơ quan quản lý (cơ quan cấp trên)
- Cơ quan thuế
- Sở giao dịch chứng khoán (nơi công ty niêm yết) Như vậy, việc thống nhất quy định về kế toán trong việc báo cáo và công bố thông tin là việc làm cần thiết để thông tin đuợc tiếp nhận công bằng công chúng đầu tư Ngoài ra, nếu chế độ kế toán đối với công ty trong một nước có chuẩn mực và phần mềm chung, thì việc báo cáo và công bố thông tin của công ty sẽ nhanh chóng, kịp thời và chính xác Vấn đề hệ thống hóa để sử dụng chung phần mềm và có hệ thống kế toán theo chuẩn mực quốc tế rất khó thực hiện tại các nước có nền kinh tế chưa phát triển hoặc thị trường chứng khoán hoạt động chưa lâu như tại Việt Nam Bên cạnh đó nó sẽ giảm thiểu khả năng gian lận, che giấu thông tin nhờ việc lách các điều khoản chưa rõ ràng của hệ thống kế toán chưa hoàn chỉnh và chưa theo chuẩn mực quốc tế
Đối với một nước mà văn hóa và lịch sử hình thành nên các công ty
Trang 24có đặc điểm sở hữu gia đình hay đại chúng thì các chế tài về luật pháp cũng chứa nhiều những nội dung xử lý những hoạt động phát sinh do đặc thù sở hữu sinh ra Ví dụ, với các nước châu Á, hầu hết các công ty cổ phần đều
có cơ cấu sở hữu tập trung, có đặc điểm cơ bản là cơ chế kiểm soát gia đình
và chế độ sở hữu cổ phần hạn chế bên trong công ty hoặc trong các công ty con hoặc ngân hàng trực thuộc Tại khu vực này, các gia đình hoặc các tập đoàn gia đình thường là các cổ đông nắm quyền kiểm soát lớn trong các công ty cổ phần, đồng thời họ thường duy trì quyền kiểm soát bằng cách hạn chế việc sở hữu cổ phần của các cổ đông bên ngoài công ty Trong các công ty do gia đình kiểm soát, hai vị trí chủ tịch Hội đồng quản trị và tổng giám đốc điều hành thường do một người đảm nhiệm hoặc do các thành viên trong cùng một gia đình nắm giữ Điều này thể hiện một thực tế là lịch
sử các công ty ở châu Á đa phần còn rất trẻ, các công ty này vẫn còn đang được quản lý bởi những người sáng lập ra công ty hoặc những người thừa
kế trực tiếp của họ Vì thực tế này mà ở châu Á những cổ đông là thành viên của gia đình nắm quyền kiểm soát công ty được gọi là “cổ đông gia đình” Các cổ đông gia đình lớn thường có động cơ tối đa hoá lợi nhuận của gia đình họ bằng những thiệt hại mà người đầu tư bên ngoài công ty phải gánh chịu
Nhìn chung, những đặc điểm về văn hóa và lịch sử của từng quốc gia phần nào phản ánh vào cơ cấu công ty cổ phần của các nước đó Do vậy, nếu các chính sách quản lý nhà nước không đi sâu vào nghiên cứu những đặc điểm tác động riêng bên ngoài này thì có thể khi thực thi các chính sách
sẽ không hiệu quả hoặc không có khả năng áp dụng
1.1.1.4 Các mô hình hoạt động
Thông thường, căn cứ trên các yếu tố ảnh hưởng đến công ty cổ phần, người ta có thể chia ra các mô hình hoạt động của công ty cổ phần Trên thế giới thường chia hình thức hoạt động của công ty cổ phần căn cứ trên mức độ phân tán của cổ đông, đối tượng nắm giữ cổ phần theo các cấp điều hành
Trang 25Sơ đồ 1.2: Mô hình phân loại công ty cổ phần
Nguồn: Franks và Mayer, 2001[42]
a/ Mô hình sở hữu phân tán
Mô hình sở hữu phân tán thường thấy tại các nước công ty huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán như Mỹ và Anh Hình thức hoạt động của công ty cổ phần này có đặc điểm lớn nhất là cổ phần do đại chúng nắm giữ, có thể lên tới 3 triệu cổ đông số lượng cổ đông tại công ty IBM năm 1995[3] Đặc điểm của mô hình này là:
Mô hình tập trung Mô hình phân tán
công ty khác, nhà nước
Nhà đầu tư có tổ chức, cổ
đông nhỏThị trường quyền
Trang 26+ Quyền sở hữu chứng khoán bị phân tán và các cổ đông có tổ chức nắm phần lớn
+ Các cổ đông thường hiểu biết rõ về quyền lợi và nghĩa vụ của họ + Đòi hỏi về công bố thông tin rõ ràng do vấn đề bảo vệ quyền lợi cổ đông nhỏ được đưa lên hàng đầu
b/ Mô hình sở hữu tập trung
Mô hình sở hữu tập trung thường được chia thành 3 dạng chính, phụ thuộc vào đối tượng sở hữu, bao gồm: các bên liên quan, nhà nước và gia đình
Mô hình sở hữu do các bên có liên quan đến nhau hay nói cách
khác là cổ đông nội bộ xuất hiện tại một số nước như Nhật, Đức Đặc điểm chính của các mô hình này ngân hàng, các tổ chức tài chính và các công ty cung cấp hàng hóa chính hoặc khách hàng của công ty thường nắm giữa cổ phần trong các công ty mà họ có quan hệ buôn bán và quan hệ tài chính
Mô hình này có đặc điểm là mức độ tham gia sở hữu của các tổ chức đầu tư rất thấp mà thường là tập trung vào ngân hàng
Mô hình sở hữu Nhà nước xuất hiện nhiều tại các nước đã từng có
nền kinh tế tập trung Tại Việt Nam, số lượng các công ty có nguồn gốc xuất phát từ cổ phần hóa, có nguồn gốc nhà nước chiếm tương đối lớn Đối với loại công ty có mô hình Nhà nước nắm cổ phần chi phối, thực chất hoạt động của công ty chỉ cải tiến một chút so với doanh nghiệp Nhà nước hoàn toàn Các công ty nhà nước nắm chi phối thường có ảnh hưởng rộng đến nền kinh tế vì thường thuộc các ngành như cơ sở hạ tầng, công nghiệp nặng, các ngành cơ bản thuộc hệ thống tài chính, ngân hàng So với mô hình các công ty cổ phần có sở hữu phân tán, mô hình sở hữu nhà nước thường bị đánh giá là làm ăn không hiệu quả do Nhà nước nắm quyền sở hữu, cơ chế chỉ định thành viên HĐQT và thành viên Ban TGĐ do cơ quan cấp trên hoặc cơ quan chủ quản nắm giữ phần vốn nhà nước cử ra Do đó, quyền lợi của những người được cử đại diện với quyền lợi của công ty không song hành Từ đó, quyền lợi của cổ đông nhỏ bị ảnh hưởng
Trang 27Mô hình sở hữu gia đình khá phổ biến tại các nước châu Á Đặc
trưng của mô hình này là quyền quyết định về chính sách cổ tức do các thành viên trong gia đình quyết định Theo đó, họ sẽ đưa ra những quyết định phát triển mang tính định hướng lâu dài cho công ty và vì sự phát triển của gia đình thay vì của cổ đông thông thường Đối với những cổ đông không có ý định bám trụ lâu dài với công ty thì nhìn chung sẽ chịu thiệt thòi Mô hình sở hữu gia đình thường hay bưng bít thông tin với đại chúng, việc đòi hỏi họ công bố thông tin minh bạch và đầy đủ rất khó do không có thông tin rò rỉ để giám sát Tuy nhiên, mô hình sở hữu gia đình thường thu hút được sự trung thành của người lao động trong công ty thông qua chính sách tốt đối với người lao động nhằm duy trì sự phát triển và tối đa hóa lợi nhuận cho công ty
Qua đặc điểm các mô hình hoạt động của công ty cổ phần ở trên, có thể thấy trường hợp các công ty cổ phần ở Việt Nam thường rơi vào mô hình sở hữu nhà nước và mô hình gia đình giống như nhiều nước châu Á khác Từ đó, hệ thống luật pháp liên quan đến các công ty cổ phần nói chung và công ty niêm yết nói riêng phải hướng tới điều chỉnh mối quan hệ giữa các bên của nhóm các công ty trên
1.1.2 Khái niệm và hoạt động của thị trường chứng khoán
1.1.2.1 Khái niệm
Thị trường chứng khoán: là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời Tuy nhiên, đó có thể là TTCK tập trung hoặc phi tập trung [11]
Tính tập trung thể hiện thông qua việc các giao dịch được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất Hình thái điển hình của TTCK tập trung
là Sở giao dịch chứng khoán Tại Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK), các giao dịch được tập trung tại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch
TTCK phi tập trung còn gọi là thị trường OTC (over the counter) Trên thị trường OTC, các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới các công
Trang 28ty chứng khoán phân tán trên khắp quốc gia và được nối với nhau bằng mạng điện tử Giá trên thị trường này được hình thành theo phương thức thoả thuận
1.1.2.2 Chức năng
Thị trường chứng khoán thường được biết đến với các chức năng cơ bản như sau:
- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế:
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích
sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của
xã hội
- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng:
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình
- Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán:
Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ
sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao
- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp:
Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh
Trang 29hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm
- Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô:
Các chỉ số của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang
mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế, TTCK được gọi là phong
vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua
và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách
và quản lý lạm phát Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho
sự phát triển cân đối của nền kinh tế
Các định chế này có thể tồn tại dưới các hình thức sau: công ty đầu
tư, công ty bảo hiểm, Quỹ lương hưu, công ty tài chính, ngân hàng thương mại và các công ty chứng khoán
- Các công ty chứng khoán:
Là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là môi giới, quản lý quỹ
Trang 30đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán và tự doanh
- Công ty dịch vụ tin học: là tổ chức phụ trợ, phục vụ các giao dịch chứng khoán
- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm: là công ty chuyên cung cấp dịch
vụ đánh giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và theo những điều khoản đã cam kết của công ty phát hành đối với một đợt phát hành cụ thể
1.1.2.4 Quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán
Tại mỗi nước, việc điều hành và giám sát thị trường chứng khoán được tổ chức ở nhiều cấp độ khác nhau Nhìn chung, các tổ chức tham gia quản lý và giám sát thị trường gồm 2 nhóm: Cơ quan quản lý của Chính phủ và các tổ chức tự quản
a/ Cơ quan quản lý của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà
nước đối với hoạt động của thị trường chứng khoán Nhìn chung, các cơ quan quản lý thị trường của Chính phủ chỉ thực hiện chắc năng quản lý nói chung chứ không thực hiện trực tiếp việc điều hành, giám sát thị trường[4][8][9][43] Ủy ban Chứng khoán thông thường thực hiện các chức năng sau:
- Thực hiện các quy định, quy chế về quản lý ngành chứng khoán của Chính phủ, Bộ Tài chính, và phối hợp với các tổ chức liên quan
để điều hành, giám sát có hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán
- Kiểm soát và giám sát chặt chẽ các hoạt động trên thị trường như: lưu ký, đăng kỹ, giám sát các công ty niêm yết, xử lý các trường hợp
Trang 31gian lận trong hoạt động kinh doanh chứng khoán
- Quản lý trực tiếp các tổ chức tự quản, giám sát hoạt động của các tổ chức này, xử lý các vi phạm trong trường hợp có tranh chấp giữa các
tổ chức này
- Thanh tra đối với các cá nhân hay tổ chức để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư
Bên cạnh UBCK, một số Bộ ban ngành cũng tham gia quản lý một
số lĩnh vực có liên quan đến thị trường chứng khoán như: Bộ Tài chính quản lý các vấn đề về kế toán, kiểm toán báo cáo tài chính phục vụ phát hành và công khai thông tin, Ngân hàng Nhà nước quản lý các ngân hàng thương mại thực hiện kinh doanh chứng khoán
Sơ đồ về hệ thống quản lý Nhà nước nói chung đối với thị trường chứng khoán được thể hiện theo sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 1.3 Hệ thống quản lý Nhà nước về chứng khoán và TTCK Việt Nam
Nguồn: Website UBCKNN
Trang 32Trong đú, Uỷ ban Chứng khoỏn Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chớnh, thực hiện chức năng tham mưu, giỳp Bộ trưởng Bộ Tài chớnh quản lý nhà nước về chứng khoỏn và thị trường chứng khoỏn; trực tiếp quản lý, giỏm sỏt hoạt động chứng khoỏn và thị trường chứng khoỏn; quản
lý cỏc hoạt động dịch vụ thuộc lĩnh vực chứng khoỏn, thị trường chứng khoỏn theo quy định của phỏp luật Trung tõm Lưu ký chứng khoỏn cú trỏch nhiệm thực hiện hoạt động đăng ký, lưu ký và thanh toỏn bự trừ chứng khoỏn Cỏc Sở Giao dịch Chứng khoỏn trực thuộc cú trỏch nhiệm tổ chức, quản lý, điều hành việc mua bỏn chứng khoỏn; quản lý điều hành hệ thống giao dịch; thực hiện hoạt động quản lý niờm yết, cụng bố thụng tin, giỏm sỏt giao dịch và một số hoạt động khỏc
- Cỏc quyết định điều hành phải đưa ra đỳng đắn, phự hợp với hoàn cảnh thực tế, hoạt động giỏm sỏt thị trường phải cú hiệu quả
- Chi phớ điều hành, giỏm sỏt thị trường phải thu được từ cỏc hoạt động trờn thị trường chứ khụng phải do ngõn sỏch cấp
Thụng thường, tổ chức tự quản gồm cú 2 tổ chức chớnh là Sở Giao dịch chứng khoỏn và Hiệp hội cỏc nhà kinh doanh chứng khoỏn
1.2 Quản lý nhà nước về phỏp luật đối với cụng ty niờm yết trờn TTCK 1.2.1 Khỏi niệm và cụng cụ quản lý
Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp là sự tỏc động cú chủ đớch,
cú tổ chức và bằng phỏp quyền nhà nước lờn cỏc doanh nghiệp để doanh nghiệp có thể phát huy tối đa khả năng tiềm tàng, tận dụng mọi cơ hội trong môi trường, nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội một cách
Trang 33bÒn v÷ng
Thông thường, Nhà nước quản lý doanh nghiệp theo những nội dung sau:
- Ban hành, phổ biến và hướng dẫn thực hiện các Văn bản pháp Luật
về doanh nghiệp và Văn bản pháp Luật có liên quan
- Tổ chức đăng ký kinh doanh; hướng dẫn việc đăng ký kinh doanh bảo đảm thực hiện chiến lược, quy hoạch và kế hoạch định hướng phát triển kinh tế - xã hội
- Tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao đạo đức kinh doanh cho người quản lý doanh nghiệp; phẩm chất chính trị, đạo đức, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý nhà nước đối với Doanh nghiệp; đào tạo
và xây dựng đội ngũ cho công nhân lành nghề
- Thực hiện chính sách ưu đãi đối với Doanh nghiệp theo định hướng
và mục tiêu của chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
- Kiểm tra, thanh tra hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, xử lý các hành vi vi phạm Pháp luật của doanh nghiệp, của cá nhân và tổ chức có liên quan theo quy định của Pháp luật
Theo TS Đỗ Hải Hà, trường ĐHKT Quốc dân, các công cụ quản lý Nhà nước thông thường bao gồm[5]:
- Hệ thống văn bản pháp luật
- Kế hoạch giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán (các chương trình hành động cụ thể của chủ thể kiểm soát
- Hồ sơ, tài liệu vụ việc
- Biên bản, mẫu văn bản trong quá trình thực hiện kiểm soát
Tại luận án này, với mục tiêu đã nêu tại phần mở đầu, nghiên cứu sinh chủ yếu đánh giá việc hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán thông qua việc đánh giá hệ thống văn bản pháp luật liên quan, đồng thời cũng đánh giá một số công cụ nội dung
Trang 34quản lý hỗ trợ như: hồ sơ, tài liệu vụ việc nhằm đề xuất những giải pháp mang tính thực thi cao nhất trong giới hạn có thể
1.2.2 Yêu cầu quản lý Nhà nước về pháp luật đối với công ty niêm yết trên TTCK
Hệ thống quản lý về mặt pháp luật đối với công ty niêm yết phải đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và có khả năng giải quyết được những mâu thuẫn có thể phát sinh Bên cạnh đó, phải đảm bảo đưa ra những quy định nhằm hướng đến mục tiêu thị trường công khai, công bằng và minh bạch Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến các hoạt động của công ty niêm yết cần phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản như sau[21]:
- Các quy định phải có nội dung và hình thức chặt chẽ, đầy đủ, không mang tính đa nghĩa và có khả năng áp dụng được
- Đảm bảo được tính ổn định và thống nhất giữa các văn bản quy định áp dụng đối với công ty niêm yết và công ty cổ phần nói chung
- Đảm bảo các quy định trong nội bộ của công ty có khả năng điều chỉnh các vấn đề liên quan đến công ty và thị trường chứng khoán một cách đầy đủ, toàn diện
Tuy nhiên, yêu cầu về quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán cần được đưa ra theo từng giai đoạn, phù hợp với sự phát triển của thị trường Trong giai đoạn đầu của sự phát triển thị trường, các yêu cầu về mặt pháp luật phải bao gồm:
- Hình thành và phát triển thị trường chứng khoán phù hợp với lộ trình, bước đi của thị trường trong thời điểm sơ khai Tạo hành lang pháp lý cho hoạt động của thị trường trong thời kỳ đầu để phát triển ổn định, công khai, minh bạch và phù hợp với đặc thù kinh tế trong nước, phù hợp với các văn bản pháp luật khác có liên quan
- Khuyến khích các công ty đại chúng niêm yết trên thị trường chứng khoán có tổ chức, tạo tính thanh khoản cho thị trường Góp phần cấu trúc lại hoạt động tài chính doanh nghiệp, thông qua sắp xếp, cổ phần hóa DNNN gắn với niêm yết trên TTCK
Trang 35- Tạo ra môi trường kinh doanh minh bạch, theo đó áp dụng chế độ công khai hoá thông tin và thực hiện nguyên tắc quản trị công ty theo thông
lệ tốt nhất Từng bước áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế đói với các tổ chức tham gia TTCK và khuyến nghị áp dụng chung cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế trong nước
Khi thị trường đã phát triển tương đối, hệ thống các văn bản pháp lý
về cơ bản đã hình thành Về mặt luật pháp, các văn bản trên thị trường phải đảm bảo chặt chẽ hơn, mang tính định hướng phát triển để đảm bảo bao quát được thị trường, đồng thời tiến tới hội nhập quốc tế Các yêu cầu vào giai đoạn này bao gồm:
Thứ nhất, đã tạo lập được khuôn khổ pháp lý cao, đồng bộ và thống nhất cho hoạt động của thị trường, tránh bị mẫu thuẫn, chồng chéo với các văn bản pháp luật khác có liên quan ;
Thứ hai, các quy định pháp lý hiện hành phù hợp với luật pháp, thông
lệ quốc tế, tạo nền tảng cho TTCK khả năng hội nhập với các thị trường vốn quốc tế và khu vực
Thứ ba, tăng cường tính công khai minh bạch của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thị trường, đặc biệt là các tổ chức phát hành chứng khoán và công ty đại chúng Nâng cao khả năng quản lý giám sát thị trường của cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư bảo đảm hoạt động thị trường công khai, minh bạch;
Thứ tư, tạo cơ sở pháp lý trong việc xây dựng hệ thống các tổ chức trung gian hoạt động trên TTCK và các nhà đầu tư chuyên nghiệp bao gồm các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát, quỹ đầu
tư chứng khoán Nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức này
Thứ năm, từng bước nâng cao điều kiện niêm yết của doanh nghiệp, phù hợp với quy mô vốn và phân loại các khu vực giao dịch Thúc đẩy nâng cao tính minh bạch, công khai và quản trị công ty trong hoạt động doanh nghiệp, góp phần tạo nên sức cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa
Trang 36Tóm lại, các yêu cầu về quản lý Nhà nước đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán phải đảm bảo phù hợp với sự phát triển của TTCK và nền kinh tế trong từng giai đoạn
1.2.3 Vai trò của quản lý Nhà nước về pháp luật đối với công ty niêm yết trên TTCK
Một trong những đặc thù của công ty cổ phần so với các loại hình công ty khác là số lượng cổ đông đại diện chủ sở hữu của công ty rất lớn, trong khi đó yêu cầu về quản lý công ty đòi hỏi cao để đảm bảo cổ đông không bị thiệt thòi về quyền lợi do không trực tiếp tham gia điều hành công
ty Do đó, việc cổ đông phải bầu ra Hội đồng quản trị thay mặt cổ đông để thực hiện nhiệm vụ điều hành là điều tất yếu Theo đó, việc ban quản lý điều hành công ty không theo đuổi mục đích hoạt động của công ty, mà thay vào đó là lợi ích của cá nhân họ, lợi ích trước mắt và thậm chí đi ngược lại lợi ích của công ty là điều khó tránh khỏi nếu các cổ đông của công ty không có các biện pháp ngăn chặn Ngược lại, việc các cổ đông đưa ra các quy định để ngăn chặn việc lạm dụng quyền lực của những người thay mặt họ điều hành công ty cũng sẽ đồng nghĩa với việc họ có thể tận dụng để gây sức ép ngược lại với ban quản lý hoặc đưa ra những yêu cầu không phù hợp để có thể duy trì mối quan hệ giữa các bên này
Chính vì vậy, sự can thiệp mang tính tất yếu của Nhà nước để giải quyết các mối quan hệ của các chủ thể bên trong công ty là cần thiết (Sơ đồ 1.4)
Trang 37Sơ đồ 1.4: Công ty niêm yết và các mối liên quan
Nguồn: tổng hợp cho nghiên cứu
Để giải quyết những mâu thuẫn phát sinh trong và ngoài công ty thì phải có cơ quan đại diện thực thi luật pháp và ngăn chặn các hành vi gây tổn hại đến quyền lợi của cổ đông, đồng thời giải quyết những mâu thuẫn phát sinh mang tính bản chất của công ty cổ phần, đó là mâu thuẫn giữa người chủ góp vốn với người trực tiếp thay mặt cổ đông và tham gia điều hành Vai trò của quản lý nhà nước[41][45][52] trong bối cảnh này cần thể hiện được những nội dung sau:
- Đưa ra những quy định luật pháp để bắt buộc công ty phải ban hành những quy định, quy chế về quản lý trong nội bộ của công ty và đối với bên ngoài để đảm bảo rằng những người tham gia quản lý khó lợi dụng quyền lực để tư lợi cá nhân họ Những quy định như chế độ lương bổng,
Trang 38quy định về các loại báo cáo trước Ban giám đốc, trước cổ đông hay yêu cầu về trình độ của những người tham gia ban quản lý điều hành công ty
- Đưa ra những quy định đảm bảo cổ đông công ty đảm bảo quyền lợi theo số lượng vốn góp Thông thường, những quy định này liên quan đến quyền bỏ phiếu phổ thông, quyền bỏ phiếu gộp, quyền tham dự đại hội đồng cổ đông, quyền biểu quyết .Ngoài ra, những quyền lợi khác như quyền được nhận thông tin, quyền được đối xử công bằng cũng là những quy định mà cơ quan quản lý cần phải bắt buộc các công ty thực hiện
- Đưa ra những quy định ràng buộc mối quan hệ và trách nhiệm của
cổ đông, nguời đại diện cổ đông với những người tham gia trực tiếp điều hành công ty Thông thường, việc quản lý Nhà nước thường tiếp cận theo 2 hướng để giải quyết vấn đề này
Thứ nhất là đưa ra những quy định chặt chẽ trên TTCK để buộc các công ty, hay chính là những người đại diện cổ đông và ban quản lý phải điều hành công ty để có thể đáp ứng được yêu cầu này, nếu không, họ sẽ chịu áp lực trước các cổ đông Những quy định này thông thường là quy định về điều kiện niêm yết để công ty phải đáp ứng và duy trì, quy định về phát hành để đảm bảo công ty phải hoạt động có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của cổ đông và đối xử với cổ đông hiện hữu một cách công bằng
Thứ hai mà các cơ quan quản lý cần đưa ra là đưa ra các quy định bắt buộc trực tiếp về phẩm chất đạo đức, mối quan hệ và trách nhiệm những người lãnh đạo công ty với cổ đông và những người cỏ liên quan Theo sơ
đồ 1.5 ở trên, những quy định đó sẽ là trách nhiệm giải trình trước cổ đông, trách nhiệm báo cáo thực thi
Nhìn chung, để các công ty cổ phần nói chung và công ty niêm yết nói riêng có thể hoạt động được trên thị trường chứng khoán, để giải quyết những mối quan hệ giữa các đối tượng trong và ngoài công ty, chức năng quản lý nhà nước phải được thực hiện thông qua hệ thống các quy định và các chức năng giám sát kịp thời, hiệu quả
Trang 391.2.4 Các nội dung quản lý Nhà nước về pháp luật đối với công ty niêm yết trên TTCK
Như vậy, để đáp ứng các yêu cầu về quản lý Nhà nước, nội dung quản lý về quản lý Nhà nước đối với công ty niêm yết trên TTCK phải đáp ứng được vai trò của Nhà nước là trung gian giải quyết các mâu thuẫn giữa mối quan hệ bên trong công ty và giữa công ty với môi trường bên ngoài Nhằm đáp ứng yêu cầu này, việc quản lý Nhà nước đối với công ty niêm yết trên TTCK phải bao gồm các nội dung cơ bản sau:
1.2.4.1 Quản lý Nhà nước về niêm yết
Công ty phải tuân thủ các điều kiện về niêm yết cổ phiếu đúng pháp luật nhằm đảm bảo chất lượng cổ phiếu trên thị trường đạt yêu cầu
Các điều kiện niêm yết thông thường chứa đựng các nội dung:
- Quy định về mức vốn tối thiểu
- Quy định về tình hình tài chính thời điểm trước khi niêm yết
- Quy định liên quan đến tỷ lệ sở hữu của cổ đông đại chúng
- Quy định về số lượng cổ đông hoặc số nguời sở hữu chứng khoán
- Các quy định khác liên quan đến quản lý hoạt động của công ty Nhìn chung các tiêu chuẩn này thường được quy định trên cơ sở kinh
tế chung, sự phát triển thị trường chứng khoán và tình hình tài chính của doanh nghiệp tại nước đó Việc đưa ra hệ thống các tiêu chuẩn niêm yết nói riêng, sự thành lập và phát triển của thị trường chứng khoán nói chung phải dựa trên hệ thống các cơ sở lý luận và thực tiễn sau[10]:
- Thực trạng về trình độ phát triển của nền kinh tế, cơ cấu kinh tế, các thành phần kinh tế và chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước; chủ trưởng giải phóng lực lượng sản xuất, khơi dậy mọi tiềm lực sản xuất vốn
có trong nền kinh tế, huy động mọi nguồn vốn cho sản xuất từ các thành phần kinh tế khác nhau;
- Thực trạng thị trường tài chính và xu thế phát triển theo hướng hội nhập vào nền tài chính khu vực và thế giới;
Trang 40- Thực trạng và năng lực xây dựng hệ thống thể chế chính sách và các vấn đề pháp lý, đảm bảo sự giám sát và ngăn ngừa rủi ro hiệu quả;
- Nền tảng công nghệ, nguồn nhân lực; năng lực hoạch định, quản trị
và điều hành của các nhà quản lý và khả năng tham mưu của các cấp;
- Kinh nghiệm phát triển và hệ thống các tiêu chuẩn niêm yết trên các thị trường tài chính của các nước phát triển, các nước mới nổi, các nước có điều kiện về hoàn cảnh kinh tế và cơ sở hạ tầng tương đồng với Việt Nam và phù hợp với các định hướng trong các chính sách vĩ mô của Đảng và Nhà nước Việt Nam;
- Chủ trương đẩy mạnh quá trình cải cách toàn diện các Doanh nghiệp Nhà nước và khuyến khích phát triển thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài;
- Khuynh hướng phát triển và việc đảm bảo khả năng điều tiết vĩ mô theo định hướng của Đảng và Nhà nước; hệ thống cơ sở lý luận về xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;
- Xu thế toàn cầu hoá, sự hội nhập kinh tế quốc tế và các tác động của nó đến việc áp dụng các tiêu chuẩn và chuẩn mực quốc tế
Các tiêu chuẩn niêm yết chủ yếu dựa vào thực tiễn của nền kinh tế, của thị trường tài chính cộng với việc tham khảo có chọn lọc các tiêu chuẩn niêm yết của thị trường chứng các nước mới nổi trong khu vực Các tiêu chuẩn niêm yết có thể được thay đổi khi cơ sở thực tiễn hoạt động thị trường chứng khoán thay đổi
1.2.4.2 Quản lý Nhà nước về phát hành
Về mặt lý thuyết, khi thị trường hoạt động hoàn hảo thì sự can thiệp của Nhà nước dù ở bất kỳ cấp độ nào cũng làm méo mó thị trường Tuy nhiên, trên thực tế, không thể có được thị trường hoàn hảo nên việc can thiệp và quản lý Nhà nước vào thị trường là tất yếu Vấn đề gây mất cân đối trên thị trường chủ yếu bắt nguồn từ tình trạng mất cân đối về thông tin giữa bên phát hành và bên mua cổ phần chào bán Trong đó, thông thường người chịu bất lợi thông tin luôn là các đối tượng mua chứng khoán được