1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác quản lý chống hàng giả của Chi cục quản lý thị trường tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2017 2020

121 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoàn thiện công tác quản lý chống hàng giả của Chi cục quản lý thị trường tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2017 2020 Hoàn thiện công tác quản lý chống hàng giả của Chi cục quản lý thị trường tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2017 2020 luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

NGUYỄN VĂN GIÁO

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHỐNG HÀNG GIẢ CỦA CHI CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG TỈNH BẮC GIANG

GIAI ĐOẠN 2017 - 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI- 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-

NGUYỄN VĂN GIÁO

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHỐNG HÀNG GIẢ CỦA CHI CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG TỈNH BẮC GIANG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng hoặc công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Bắc Giang, ngày tháng năm 2018

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Văn Giáo

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến PGS TS

Lê Thị Anh Vân, người đã trực tiếp, tận tâm hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn các giảng viên trong viện Kinh tế và Quản lý, Trường

Đại học Bách khoa Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ, bồi dưỡng kiến thức cho tôi trong

suốt quá trình học tập và làm luận văn

Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ và động viên của gia đình, bạn

bè và đồng nghiệp nơi hiện nay tôi đang công tác đã tạo điều kiện về thời gian, cung

cấp số liệu cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin trân trọng cám ơn các bạn học viên cùng lớp, những người

thân trong gia đình và bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập,

nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng, nhưng chắc chắn luận văn vẫn còn có

những hạn chế, thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các

thầy cô và các bạn để đề tài nghiên cứu của tôi được hoàn chỉnh

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG BIỂU ix

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHỐNG HÀNG GIẢ 7

1.1 Khái quát chung về hàng giả 7

1.1.1 Khái niệm hàng giả 7

1.1.2 Phân loại hàng giả 8

1.1.3 Bản chất của sản xuất và buôn bán hàng giả 9

1.1.4 Nguyên nhân xuất hiện hàng giả 9

1.1.5 Các thủ đoạn sản xuất, buôn bán hàng giả 11

1.1.5.1 Các bước sản xuất, buôn bán hàng giả 11

1.1.5.2 Thủ đoạn làm giả 11

1.1.5.3 Thủ đoạn tiêu thụ 12

1.1.5.4 Đối tượng làm hàng giả 14

1.1.5.5 Địa bàn làm hàng giả 14

1.1.6 Tác động tiêu cực của hàng giả 14

1.1.6.1 Đối với đời sống xã hội 15

1.1.6.2 Đối với người tiêu dùng 16

1.1.6.3 Đối với doanh nghiệp 16

1.1.6.4 Đối với nhà nước 16

1.2 Công tác QLNN về phòng, chống hàng giả 17

1.2.1 Khái niệm công tác QLNN về phòng, chống hàng giả 17

1.2.2 Xác định mục tiêu, kế hoạch tổ chức thực hiện công tác chống hàng giả 18

1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu lực công tác quản lý chống hàng giả 20

1.2.4 Tổ chức bộ máy và lực lượng chống hàng giả tại Chi cục QLTT tỉnh Bắc Giang 20

Trang 6

1.2.5 Cở sở vật chất k thuật phục vụ đến hoạt động chống sản xuất, buôn bán hàng

giả 21

1.2.6 Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong hoạt động chống sản xuất, buôn bán hàng giả 22

1.2.7 Sự phối hợp giữa Chi cục Quản lý thị trường với các doanh nghiệp trong hoạt động chống sản xuất, buôn bán hàng giả 23

1.2.8 Hệ thống văn bản pháp luật trong công tác phòng, chống hàng giả 24

1.2.9 Tổ chức thực thi chính sách, pháp luật trong công tác phòng, chống hàng giả 24

1.3 Ngành (lực lượng) quản lý thị trường đối với việc phòng, chống hàng giả 27

1.3.1 Cơ sơ pháp lý 27

1.3.2 Hệ thống tổ chức QLTT 27

1.3.3 Th m quyền của cơ quan QLTT 28

1.3.4 Vai trò của ngành (lực lượng) QLTT đối với phòng, chống hàng giả 28

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHỐNG HÀNG GIẢ CỦA CHI CỤC QLTT TỈNH BẮC GIANG 31

2.1 Khái quát chung về Chi cục QLTT tỉnh Bắc Giang 31

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 31

2.1.2 Tổ chức bộ máy và tình hình nhân sự 31

2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chi cục QLTT tỉnh Bắc Giang 32

2.2 Thực trạng sản xuất, kinh doanh hàng giả trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 35

2.2.1 Thực trạng sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ hàng giả ở Việt Nam 35

2.2.2 Thực trạng sản xuất, kinh doanh hàng giả trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 38

2.2.2.1 Kết quả phòng, chống hàng giả của Chi cục QLTT tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2014 – 2017 39

2.2.2.2 Thị trường thực ph m, đồ uống và một số hàng tiêu dùng thiết yếu 41

2.2.2.3 Thị trường hàng m ph m, dược ph m 43

2.2.2.4 Thị trường thiết bị viễn thông và CNTT 45

2.2.2.5 Thị trường tiền tệ, hóa đơn tài chính và tem nhãn giả 48

2.2.2.6 Thị trường phân bón, thuốc BVTV, thức ăn chăn nuôi 49

Trang 7

2.2.2.7 Thị trường vật liệu xây dựng 51

2.3 Phân tích thực trạng công tác phòng, chống hàng giả tại Chi cục QLTT tỉnh Bắc Giang 52

2.3.1 Các căn cứ pháp lý 52

2.3.2 Phân tích công tác quản lý phòng, chống hàng giả của Chi cục QLTT tỉnh Bắc Giang 55

2.3.2.1 Bộ máy quản lý chống hàng giả từ Trung ương đến địa phương 55

2.3.2.3 Hiệu lực và hiệu quả trong công tác quản lý chống hàng giả 58

2.3.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu lực công tác quản lý chống hàng giả 58

2.3.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chống hàng giả 58

2.3.3 Các biện pháp nghiệp vụ trong công tác phòng, chống hàng giả của Chi cục QLTT tỉnh Bắc Giang 60

2.3.3.1 Xây dựng mạng lưới quần chúng cung cấp thông tin 60

2.3.3.2 Thực hiện các nghiệp vụ điều tra trinh sát 60

2.3.3.3 Tăng cường công tác quản lý địa bàn 60

2.3.3.4 Điều tra xác minh 60

2.3.3.5 Thành lập Đội QLTT 60

2.3.4 Vai trò của Chi cục QLTT tỉnh Bắc Giang trong công tác phòng, chống hàng giả 60

2.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chống hàng giả của Chi cục QLTT tỉnh Bắc Giang 62

2.3.5.1 Sự phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế 62

2.3.5.2 Nhận thức của các doanh nghiệp 63

2.3.5.3 Trách nhiệm của cơ quan chức năng 63

2.3.5.4 Vai trò QLNN trong công tác phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả 64 2.3.5.5 Nhận thức và hành vi của người tiêu dùng 64

2.4 Đánh giá công tác quản lý chống hàng giả tại Chi cục QLTT Bắc Giang 65

2.4.1 Những kết quả đạt được 65

2.4.1.1 Công tác thường trực giúp việc Ban chỉ đạo 389 tỉnh Bắc Giang 65

2.4.1.2 Công tác chỉ đạo chống hàng giả 66

2.4.1.3 Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật 68

Trang 8

2.4.1.4 Công tác phối hợp giữa các lực lượng chức năng 68

2.4.1.5 Hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường 69

2.4.1.6 Tác động tích cực đến các cấp, các ngành 70

2.4.2 Mặt hạn chế, tồn tại 70

2.4.2.1 Hạn chế trong hệ thống văn bản pháp luật 70

2.4.2.2 Hạn chế trong công tác phối hợp 71

2.4.2.3 Hạn chế trong công tác tuyên truyền 71

2.4.2.4 Trình độ chuyên môn nghiệp vụ 71

2.4.2.5 Về chế độ hỗ trợ công tác 71

2.4.2.6 Về trang thiết bị máy móc 71

2.4.3 Nguyên nhân hạn chế 72

2.4.3.1 Nguyên nhân khách quan 72

2.4.3.2 Nguyên nhân chủ quan 73

2.4.4 Bài học kinh nghiệm 73

2.4.4.1 Nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu, trinh sát 73

2.4.4.2 Tăng cường phối kết hợp với các doanh nghiệp có hàng hoá bị xâm phạm 74

2.4.4.3 Nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ thực thi 74

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 75

CHƯƠNG 3GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHỐNG HÀNG GIẢ CỦA CHI CỤC QLTT TỈNH BẮC GIANG 76

3.1 Dự báo diễn biến tình hình tệ nạn sản xuất và bán buôn hàng giả trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới 76

3.1.2 Dự báo tình hình sản xuất và buôn bán hàng giả trong thời gian tới 77

3.1.2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến tình hình tội làm hàng giả buôn bán hàng giả ở nước ta trong thời gian tới 77

3.1.2.2 Dự báo tình hình tội phạm làm hàng giả, buôn bán hàng giả ở Bắc Giang trong thời gian tới 79

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về chống hàng giả của Chi cục QLTT tỉnh Bắc Giang 81

Trang 9

3.2.1 Các giải pháp chủ yếu 82

3.2.1.1 Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về chống hàng giả 82

3.2.1.2 Tăng cường công tác quản lý nhà nước về phòng ngừa và chống sản xuất, buôn bán hàng giả 82

3.2.1.3 Tăng cường sự phối hợp và hợp tác giữa các cơ quan thực thi, giữa các cơ quan thực thi và các hiệp hội, doanh nghiệp trong việc chống hàng giả 83

3.2.1.4 Tăng cường năng lực thực thi, cơ chế chính sách hỗ trợ cho các cơ quan thực thi 84

3.2.1.5 Nâng cao nhận thức người tiêu dùng và doanh nghiệp trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình 88

3.2.1.6 Tăng cường hợp tác quốc tế trong công tác phối hợp đấu tranh phòng chống hàng giả giữa Việt Nam và các nước trên thế giới 89

3.3.2 Các giải pháp hỗ trợ 90

3.3.2.1 Xác lập quyền sở hữu đối với các tài sản trí tuệ của doanh nghiệp 90

3.3.3.2 Chủ động tìm hiểu thông tin để không xâm phạm quyền của doanh nghiệp khác 90

3.3.3.3 Áp dụng các biện pháp k thuật chống hàng giả 90

3.3.3.4 Chủ động phối hợp với các cơ quan thực thi để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ 90

3.3.3.5 Phổ biến để người tiêu dùng cần hiểu rõ về quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình 91

3.4 Các kiến nghị về hoàn thiện quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả 91

3.4.1 Đối với Ban 389 trung ương 91

3.4.2 Đối với các bộ, ngành liên quan 92

3.4.3 Đối với UBND tỉnh Bắc Giang 93

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 95

KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 1 100

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại

Ban Chỉ đạo chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng

Trang 11

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Kết quả kiểm tra, xử lý mặt hàng M ph m 44

Bảng 2.2: Kết quả kiểm tra, xử lý mặt hàng Dược Ph m 44

Bảng 2.3: Kết quả kiểm tra, xử lý mặt hàng Thiết bị viễn thông, CNTT 46

Bảng 2.4: Kết quả kiểm tra, xử lý mặt hàng Thuốc BVTV 51

Bảng 2.5: Kết quả kiểm tra, xử lý mặt hàng Vật liệu xây dựng 52

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, những năm qua, công cuộc đổi mới và phát triển của đất nước ta đã thu được nhiều thành tựu rõ rệt Sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ cùng với sự đổi mới đường lối, chính sách

về kinh tế của Đảng và Nhà nước đã thúc đ y nền kinh tế đất nước ngày càng phát triển, hàng hóa được sản xuất ngày càng phong phú và được lưu thông thuận lợi đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu đời sống của nhân dân và sự phát triển chung của cả nước Chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, đưa ra thị trường các sản ph m hàng hoá, dịch vụ phong phú đa dạng Người tiêu dùng được quyền lựa chọn mua và sử dụng sản ph m hàng hoá, dịch vụ đảm bảo an toàn, chất lượng cao Nhưng đồng thời chúng ta cũng nhận thấy nhiều thách thức, phát hiện ra nhiều kẽ hở khiến nền kinh tế đang bị các thành phần bất lương lợi dụng Trong đó, vấn nạn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng đã trở thành một thực trạng nhức nhối, lây lan nhanh, ngày càng tinh vi, tàn phá KT-XH, phá hoại sự cạnh tranh công bằng và gây ảnh hưởng xấu đến quyền lợi của các nhà sản xuất kinh doanh chân chính, đồng thời tác động tiêu cực đến đời sống xã hội, quyền lợi của nhân dân - người tiêu dùng

Mặc dù nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, giải pháp, cộng với sự nỗ lực ngăn chặn của các lực lượng chức năng, song kết quả đạt được còn khá khiêm tốn, dường như mới chỉ cắt gọt được phần nổi của “tảng băng trôi” Trên thực tế, nạn hàng giả, hàng nhái vẫn diễn biến rất phức tạp Cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt và đánh giá đầy đủ về những thiệt hại của vấn nạn hàng giả, hàng nhái, nhưng chắc chắn, thiệt hại của chúng gây ra cho nền kinh tế là rất lớn

Nạn hàng giả, hàng nhái không dừng lại ở mức độ vụ việc, hành vi đơn lẻ, mà

nó đã thật sự trở thành một “ngành công nghiệp” đen tối đục ruỗng nền kinh tế đất nước, tàn phá sức khỏe và quyền lợi của nhân dân, phá hoại thành quả của nhà sản

Trang 13

xuất kinh doanh chân chính, gây hoang mang xã hội, làm suy yếu sức cạnh tranh của hàng hóa chân chính trong mục tiêu phát triển nội tại và vươn ra thế giới

Với chức năng kiểm tra chống buôn lậu, GLTM, sản xuất và buôn bán hàng giả và các hành vi khác trong hoạt động thương mại, công nghiệp, dịch vụ, những năm qua, Chi cục QLTT tỉnh Bắc Giang đã tích cực kiểm tra, xử lý, đấu tranh, ngăn ngừa và làm giảm thiểu các vụ sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng Chúng tôi thấy rằng cần phải có đánh giá chuyên sâu và hệ thống về công tác quản lý phòng, chống hàng giả nhằm đạt mục tiêu làm lành mạnh hóa thị trường, hạn chế đến mức thấp nhất vấn nạn hàng giả, góp phần tạo điều kiện cho sản xuất phát triển, đồng thời bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, giúp cho xã hội an toàn hơn và tăng thu cho NSNN Vì thế, việc hoàn thiện công tác quản lý chống hàng giả của Chi cục QLTT tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn 2017 - 2020 là một việc làm cấp thiết có tác dụng thiết thực đến đời sống xã hội Nghiên cứu đề tài này, một mặt do trách nhiệm đặt ra từ vị trí công tác của bản thân, mặt khác hy vọng luận văn sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho những ai quan tâm hoặc có nhu cầu tìm hiểu lĩnh vực này

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Cho đến nay, trên địa bàn cả nước đã có một số tác giả công bố công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Có thể kể đến một số đề tài tiêu biểu như sau:

Đề tài nghiên cứu khoa học: “Nghiên cứu các giải pháp phòng và đấu tranh

chống sản xuất và buôn bán hàng giả tại Việt Nam” của Cục QLTT, Bộ Công

thương năm 2010

Đề tài: “Quản lí nhà nước nhằm chống buôn bán hàng giả trên địa bàn Hà

Nội”, Luận văn tiến sĩ của NCS Trần Thị Kim Dung, bảo vệ thành công tại Trường

Đại học Thương mại năm 2012

Đề tài: “Tăng cường chống buôn lậu và kinh doanh hàng giả trên địa bàn

tỉnh Thanh Hóa”, luận văn cao học của Lê Thu Nga, bảo vệ tại Đại học kinh tế

quốc dân năm 2014

Đề tài: “Quản lý thị trường nhằm chống kinh doanh hàng giả trên địa bàn

tỉnh Lạng Sơn”, luận văn cao học của Nguyễn Hoàng Tuấn, bảo vệ tại Đại học

Thương mại năm 2015

Trang 14

Đề tài: “Hoạt động phòng chống buôn lậu và GLTM của ngành Hải quan -

Thực trạng và giải pháp”, luận văn cao học của Đỗ Thùy Linh, bảo vệ năm 2016

tại Đại hoc Thương mại

Đề tài: “Nâng cao hiệu quả chống buôn lậu và GLTM của Hải quan Hà

Nội”, luận văn cao học của Đỗ Bảo Ngọc, bảo vệ tài Đại học Ngoại thương năm

2016

Năm 2005 - 2006, Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Bắc Giang được Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang xét duyệt cho thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh:

“Điều tra, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng

chống hàng giả, hàng kém chất lượng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang” Bản thân học

viên (tác giả luận văn) được Chủ nhiệm đề tài (Cử nhân Nguyễn Trọng Tín) giao làm Thư ký khoa học của đề tài Đề tài đã được hội đồng nghiệm thu đánh giá đạt loại Xuất sắc Qua việc thực hiện đề tài học viên đã học hỏi, tích lũy được kinh nghiệm và lượng kiến thức cơ bản làm tiền đề thực hiện luận văn Thạc sĩ của mình Ngoài ra, còn nhiều bài viết về các chủ đề có liên quan đăng trên Tạp chí Công thương, Tạp chí Tài chính… trong những năm gần đây Tuy nhiên, đến hết năm

2017 chưa có đề tài nào nghiên cứu có tính chuyên biệt, cập nhật về quản lý nhà

nước đối với công tác phòng chống hàng giả tại Chi cục QLTT tỉnh Bắc Giang

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục tiêu chung

Việc đ y mạnh công tác đấu tranh phòng, chống hàng giả, hàng kém chất lượng là một yêu cầu cấp bách đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt, phối hợp đồng bộ của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương Vì vậy, với đề tài này, chúng tôi đặt ra mục tiêu đánh giá toàn diện thực trạng công tác quản lý phòng, chống hàng giả của Chi cục QLTT tỉnh Bắc Giang, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả công tác này trong giai đoạn 2017 - 2020

3.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá thực trạng nạn sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn tỉnh Bắc

Giang, kết quả hoạt động của Chi cục QLTT tỉnh Bắc Giang, hoạt động của BCĐ

389 tỉnh từ khi thành lập đến nay; phân tích, đánh giá thực trạng công tác QLNN về

phòng, chống hàng giả trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2014 - 2016;

Trang 15

- Đưa ra những dự báo xu hướng gia tăng tệ nạn sản xuất, tiêu thụ, buôn bán hàng giả trên thị trường tỉnh trong sự phát triển KT- XH của tỉnh Bắc Giang đến năm 2020;

- Đề xuất giải pháp hoàn thiện, nâng cao chất lượng công tác phòng, chống hàng giả trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, đồng thời đưa ra những kiến nghị với các cấp, các ngành nhằm hoàn thiện công tác này trong giai đoạn 2017- 2020.

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tiến hành nghiên cứu thực trạng công tác QLNN về phòng, chống hàng giả của Chi cục QLTT tỉnh Bắc Giang, do vậy, các chủ thể liên quan tới quá trình thu thập số liệu thực hiện đề tài gồm:

- Các thủ đoạn sản xuất, buôn bán, đưa vào lưu thông hàng giả, hàng kém chất lượng trên thị trường;

- Đối tượng sản xuất và buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và một số tỉnh lân cận;

- Người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang;

- Các văn bản, chính sách liên quan đến công tác phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả;

- Hoạt động của BCĐ 389 tỉnh Bắc Giang

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Đề tài được thực hiện tại Chi cục QLTT tỉnh Bắc Giang;

+ Thị trường tiêu thụ hàng hóa tại tỉnh Bắc Giang và một số tỉnh lân cận; + Địa bàn lưu thông hàng hóa;

- Thời gian nghiên cứu: Các đối tượng, vụ việc xảy ra từ năm 2014 đến năm

2017

5 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai thực hiện luận văn, tôi đã kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như: Phương pháp tiếp cận, phương pháp thu thập số liệu, phương pháp tổng hợp phân tích số liệu điều tra

Trang 16

5.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu

* Tổng hợp, xử lý số liệu

Sau khi thu thập xong dữ liệu, toàn bộ những dữ liệu này được kiểm tra, hiệu chỉnh và sắp xếp theo một trình tự các hoạt động quản lý thị trường và quản lý chống hàng giả so sánh, đối chiếu đánh giá để rút ra những nhận xét, kết luận cần thiết

* Phương pháp phân tích số liệu

Các phương pháp phân tích thống kê sử dụng chủ yếu là :

- Phương pháp thống kê mô tả: Thông qua các chỉ tiêu phân tích số tuyệt đối,

số tương đối, số bình quân phân tích hoạt động quản lý thị trường và quản lý chống hàng giả

- Phương pháp phân tích: Phân tích thực trạng hoạt động quản lý thị trường và quản lý chống hàng giả

- Phương pháp so sánh: Thông qua các chỉ tiêu phân tích, đánh giá các các chỉ tiêu thực hiện qua các năm

6 Những đóng góp mới của luận văn về lý luận và thực tiễn

Trên cơ sở hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý nhà nước đối với công tác phòng, chống hàng giả, luận văn đã thảo luận, phân tích làm rõ những bất cập, chưa hợp lý của các quy định hiện hành trong hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động này nói chung và trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nói riêng

Luận văn cho thấy các quy định pháp luật về phòng, chống hàng giả cần phải

tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn cũng như tương thích với các

Trang 17

chu n mực quốc tế, từ đó đề xuất được một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật

về phòng, chống hàng giả trong giai đoạn từ nay đến năm 2020

Các kiến nghị, đề xuất được đưa ra trong luận văn có giá trị tham khảo đối với các cơ quan chức năng cũng như trong việc xây dựng chính sách và hoàn thiện pháp luật về phòng, chống hàng giả

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chống hàng giả

Chương II: Thực trạng công tác quản lý chống hàng giả tại Chi cục QLTT

tỉnh Bắc Giang

Chương III: Giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả công tác quản lý chống

hàng giả của Chi cục QLTT tỉnh Bắc Giang

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ QUẢN LÝ CHỐNG HÀNG GIẢ

1.1 Khái quát chung về hàng giả

1.1.1 Khái niệm hàng giả

Khái niệm về hàng giả theo quy định tại khoản 8 Điều 3, Nghị định

185/2013/NĐ-CP; khoản 3 Điều 1, Nghị định 124/2015/NĐ-CP của Chính phủ gồm:

- Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký;

- Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính k thuật

cơ bản tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chu n chất lượng hoặc quy chu n k thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;

- Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất; có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký; không đủ loại dược chất đã đăng ký; có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;

- Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chu n chất lượng, quy chu n k thuật đã đăng ký, công

bố áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;

- Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương ph m hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của thương nhân khác

- Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa;

Trang 19

- Hàng hóa giả mạo về SHTT quy định tại Điều 213 Luật SHTT năm 2005;

- Tem, nhãn, bao bì giả

Theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Nghị định 185/2013/NĐ-CP và Điều 213 Luật SHTT 2005 hướng dẫn và quy định cụ thể hơn cho khoản 8 Điều 3 Nghị định

số 185/2013/NĐ-CP

Khoản 9 Điều 3 Nghị định 185/2013/NĐ-CP xác định: Tem, nhãn, bao bì giả

“gồm đề can, nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, các loại tem chất lượng, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hóa hoặc vật ph m khác của cá nhân, tổ chức kinh doanh

có chỉ dẫn giả mạo tên và địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại, tên thương ph m hàng hóa, mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc bao bì hàng hóa

của thương nhân khác”

Điều 213 Luật SHTT 2005:

- Hàng hoá giả mạo về SHTT theo quy định của Luật này bao gồm hàng hoá giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa lý (sau đây gọi là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu) quy định tại khoản 2 Điều này và hàng hoá sao chép lậu quy định tại khoản 3

Điều này;

- Hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là hàng hoá, bao bì của hàng hoá có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo

hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu

hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý;

- Hàng hoá sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan

1.1.2 Phân loại hàng giả

Theo định nghĩa của Cục Quản lý thị trường, Bộ Công thương, hàng giả có

bốn loại: (1) giả về chất lượng và công dụng, (2) giả mạo nhãn hiệu hàng hóa, bao

bì hàng hóa, (3) giả mạo về SHTT và (4) các loại tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả

Cụ thể là:

- Hàng giả chất lượng và công dụng là hàng hóa không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của hàng hóa;

Trang 20

- Hàng giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa là hàng hóa giả mạo tên, địa chỉ của thương nhân khác trên nhãn hoặc bao bì cùng loại hàng hóa hoặc giả mạo chỉ dẫn về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa trên nhãn hoặc bao bì hàng hóa;

- Giả mạo về SHTT là hàng hóa, bao bì hàng hóa có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu, của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý hoặc sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan;

- Tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả gồm các loại đề can, nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, tem chất lượng, tem chống giả, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hóa

có nội dung giả mạo tên, địa chỉ thương nhân, nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa

1.1.3 Bản chất của sản xuất và buôn bán hàng giả

Bản chất của sản xuất và buôn bán hàng giả là hành vi cướp đoạt giá trị vật chất và tinh thần của người khác, lừa dối người tiêu dùng để thu lợi bất chính Hàng giả là loại hàng hóa kém chất lượng, thậm chí có những loại hàng giả có độc tố ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sinh mạng của người tiêu dùng Chính vì vậy số tiền

mà người tiêu dùng bỏ ra và giá trị sử dụng, công dụng của hàng giả không tương xứng với nhau

Giá trị sử dụng, công dụng của hàng giả bao giờ cũng kém hơn hàng thật Để cướp đoạt được giá trị vật chất và giá trị tinh thần của người khác, các đối tượng sản xuất, kinh doanh hàng giả dùng mọi thủ đoạn tinh vi để chốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của lực lượng chức năng, lừa dối che mắt người tiêu dùng để thu lợi bất chính Chúng chủ yếu dựa vào sự thiếu hiểu biết của khách hàng, đặc biệt đánh vào tâm lý thích dùng hàng hiệu giá rẻ của một số khách hàng để lừa dối, gây thiệt hại

về kinh tế của người tiêu dùng

1.1.4 Nguyên nhân xuất hiện hàng giả

Thứ nhất, hàng giả tồn tại trong mọi lĩnh vực, là một tệ nạn xã hội, gây tác hại

to lớn đến sản xuất trong nước, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích người tiêu dùng Song, một trong những nguyên nhân chủ yếu là từ phía người sản xuất Họ tìm mọi

Trang 21

cách thay thế vật liệu dởm, rẻ tiền để sản xuất hàng hoá với chi phí thấp mà vẫn bán được giá cao, thu lợi nhuận nhiều

Thứ hai, sự nhận biết về hàng thật, hàng giả của người tiêu dùng còn hạn chế Trong khi đó, việc quản lý nhãn mác của các cơ sở sản xuất chính hiệu, sản ph m, dịch vụ có uy tín còn lỏng lẻo

Thứ ba, là một bộ phận người tiêu dùng có tâm lý dễ chấp nhận hàng giả do giá rẻ, phù hợp với thu nhập thì họ mua về để dùng

Thứ tư, là chúng ta chưa làm tốt công tác tuyên truyền và cung cấp những kiến thức cơ bản về chất lượng hàng hoá, tình hình sản xuất và buôn bán hàng giả để người tiêu dùng nhận biết và tham gia đấu tranh phòng ngừa

Thứ năm, là hàng hoá sản xuất trong nước tuy đã có nhiều cố gắng trong việc cải tiến chất lượng, mẫu mã, song sức cạnh tranh yếu, chưa theo kịp khu vực và thế giới Mặt khác, giữa các địa phương trong nước, giữa thành thị và nông thôn cũng

có sự phát triển không đồng đều Một số bộ phận người sản xuất ít vốn không có k thuật đã phản ứng tiêu cực, sản xuất hàng giả nhãn mác, thương hiệu hàng hoá của các cơ sở khác nhằm duy trì sự tồn tại của họ

Thứ sáu, là do tình trạng thất nghiệp, thiếu công ăn việc làm, thiếu hiểu biết của một số ít người dân, ham lợi ích trước mắt mà quên đi tác hại lâu dài đã dẫn đến con đường sản xuất và buôn bán hàng giả Trong khi đó, thu nhập của nhân dân, nhất là nông dân và tầng lớp người lao động nghèo còn quá thấp, không có điều kiện tiêu dùng các loại hàng hoá chính hãng có chất lượng nhưng giá cao, nên buộc phải chấp nhận hàng giả, kém ph m chất có giá rẻ

Thứ bảy, là các doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp quản lý mẫu mã bao bì còn sơ hở, chậm cải tiến và đổi mới, dễ bị làm nhái Một số cán bộ công nhân viên

là các đối tượng trong đường dây tổ chức sản xuất và buôn bán hàng giả của chính doanh nghiệp đó Giá sản ph m của các doanh nghiệp còn cao, chưa phục vụ đại đa

số người tiêu dùng

Thứ tám, là chính quyền các cấp và các cơ quan chức năng chưa thực sự quan tâm đúng mức, chưa coi vấn đề sản xuất và buôn bán hàng giả là nghiêm trọng cần phải chặn đứng, đ y lùi

Trang 22

Thứ chín, là việc phối hợp đấu tranh giữa các ngành, các lực lượng chức năng chưa đồng bộ, chưa có sự thống nhất cao, đồng thời công tác giám định chưa đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm Kinh phí cho công tác đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả còn rất hạn chế, thời gian giám định dài, gây khó khăn cho công tác kiểm tra, xử lý

1.1.5 Các thủ đoạn sản xuất, buôn bán hàng giả

1.1.5.1 Các bước sản xuất, buôn bán hàng giả

Thông thường, việc sản xuất và buôn bán hàng giả của các đối tượng trong thời gian qua đều diễn ra qua 04 bước:

Bước 1: Giai đoạn tìm kiếm thị trường, nghiên cứu nhu cầu thị hiếu của người

tiêu dùng và khả năng cung cấp loại mặt hàng của các doanh nghiệp

Bước 2: Giai đoạn tìm kiếm nguyên liệu, phương thức, phương tiện để sản

xuất (tem, nhãn, mẫu mã, bao bì, máy móc, phương tiện, địa điểm sản xuất)

Bước 3: Giai đoạn tiến hành sản xuất hàng giả

Bước 4: Giai đoạn tiêu thụ sản ph m làm ra Ở giai đoạn này, vì mục đích vụ

lợi, chúng sẵn sàng tìm kiếm mọi phương thức khác nhau để bán được hàng nhiều nhất, nhanh nhất Tuỳ theo chủng loại hàng hóa khác nhau, chúng có thể bán cho đại lý hay người buôn bán nhỏ

Ngoài ra, đối tượng sản xuất hàng giả còn áp dụng các tiến bộ khoa học k thuật, các bí mật công nghệ để sản xuất và đưa các loại hóa chất, nguyên liệu khác, thậm chí cả loại nguyên liệu có độc hại vào sản xuất nhằm hạ giá thành và sử dụng bao bì nhãn mác của người khác để sản xuất, kinh doanh

1.1.5.2 Thủ đoạn làm giả

- Làm hàng giả hoàn toàn về hình thức và nội dung, những hàng này có chất lượng vừa phải, khó có điều kiện kiểm tra, điển hình là các loại dầu gội đầu Rejoice, Pantin, Clear, Oganic, Sunsilk… của các Công ty Unilever, Haso,…;

- Làm hàng giả có chất lượng kém, có bao bì được sản xuất với k thuật tiên tiến, hoặc bao bì cũ được sử dụng có gia công một số k thuật để gắn kết các dấu

hiệu “Chống giả”, như hàng thật, điển hình là các loại rượu ngoại Hennesys, Remy,

Chivas…;

Trang 23

- Làm hàng giả dựa trên nguyên liệu sẵn có trên thị trường, có chất lượng kém hơn và giá rẻ hơn để đưa vào bao bì in ấn tương đương thật, kể cả các biện pháp chống giả, điển hình là bột ngọt Ajinomoto, Xi măng Hoàng Thạch…;

- Làm hàng giả theo phương thức nhái nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp của

các sản ph m nổi tiếng như hàng loạt các loại nước uống có tiếp đầu ngữ “La” hoặc tiếp vị ngữ “-Vie” để cho mọi người nghe đến “La”, đến “Vie” là uống được;

- Dạng hàng nội sản xuất giả hàng ngoại với mục đích làm tăng giá trị hàng hóa, bán với giá cao hơn như: Sản xuất hàng hoá trong nước nhưng gắn nhãn mác

và ghi xuất xứ từ nước ngoài;

- Sử dụng, hóa đơn, chứng từ, tờ khai hải quan giả mạo để hợp thức hóa các lô hàng giả đưa vào các công trình; làm giả các hóa đơn, vé máy bay, tầu hỏa, các vé thu phí và lệ phí; làm giả bộ chứng từ bán hàng tịch thu sung qu nhà nước để hợp thức hóa hàng nhập lậu;

- Làm giả hộ chiếu để xuất cảnh, con dấu, quân phục các ngành Nhân bản trái phép các ấn ph m văn hóa, băng đĩa hình, băng đĩa nhạc, tiền giả,…;

- Làm giả các hợp đồng lao động, các hợp đồng hợp tác quốc tế để đưa lao động đi nước ngoài trái phép;

- Sản xuất hàng trong nước xuất ra nước ngoài rồi làm lại bao bì, sau đó nhập hợp pháp hoặc bất hợp pháp vào Việt Nam dưới tên và nhãn hiệu của các công ty nước ngoài; đây là hành vi giả về xuất xứ hàng hoá để tăng giá trị của hàng hoá Ví

dụ như trong sản xuất thuốc tân dược…;

- Đặt hàng các doanh nghiệp nước ngoài (chủ yếu là Trung Quốc) sản xuất có kiểu dáng giống các mặt hàng nổi tiếng của các nước, hoặc trong nước, sau đó về gắn mác nhãn hiệu nổi tiếng để đem đi tiêu thụ như: Đầu k thuật số VTC, Giầy Nike, Giầy Adidas, khăn lụa Khaisilk

1.1.5.3 Thủ đoạn tiêu thụ

Đối tượng sản xuất hàng giả có rất nhiều thủ đoạn để tiêu thụ hàng giả:

- Lợi dụng chính sách khuyến khích liên doanh, đầu tư gia công với nước ngoài để sản xuất hàng giả như trường hợp Công ty Golden Side (Hồng Kông) liên doanh với Công ty Lotaba và Cty Khatoco với hình thức Công ty Golden Side đưa nguyên liệu vào để sản xuất thuốc lá Malbro giả, Công ty Golden Side chịu trách

Trang 24

nhiệm tiêu thụ ra nước ngoài, Hai công ty LOTABA và KHATOCO nhận tiền gia công từ 8 đến 16 USD/thùng… Liên doanh này đã sản xuất, tiêu thụ tới trên 20 triệu bao mới bị phát hiện;

- Đưa hàng giả bầy bán lẫn hàng thật ở các cửa hàng, các chợ;

- Hàng sản xuất tại một nơi và tiêu thụ tại nơi khác, phân phối hàng giả tại nơi người tiêu dùng thiếu thông tin về hàng thật và ham rẻ, đặc biệt vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số;

- Khuyến mại lừa bịp thông qua việc mạo nhận là nhà sản xuất, tổ chức khuyến mại để lừa dối người tiêu dùng;

- Nhập nguyên liệu, phụ liệu không phải của chính hãng và có chất lượng thấp hơn đưa vào sản xuất, lắp ráp và in ấn bao bì giả mạo các hãng lớn như phụ tùng xe máy, mực in, bếp ga, vòi sen, thiết bị vệ sinh, đồ điện tử, thực ph m chức năng, nồi cơm điện ;

- Mua hoặc in ấn bao bì, nhãn mác của doanh nghiệp khác rồi cho sản ph m cùng loại nhưng kém nổi tiếng hoặc chất lượng thấp hơn, điển hình loại này là bột ngọt Ajnomoto, Xi măng Hoàng Thạch, xi măng Bỉm Sơn, phân lân Hà Bắc, phân lân Lâm Thao, phân lân Bình Điền…;

- Hàng giả về chất lượng bằng thủ đoạn như đưa thêm tạp chất, dùng hóa chất, chất phụ gia, chất tạo mầu, chất bảo quản không được phép sử dụng, có ảnh hưởng đến sức khoẻ người tiêu dùng;

- Dùng thủ đoạn để tăng cỡ và khối lượng của sản ph m, ví dụ: Cho vật nặng, kim loại vào bụng cá lớn, gim đinh, chì, hoặc bơm chích các dịch lỏng vào thân tôm lớn, cua gạch, ngâm nguyên liệu thủy sản trong các loại hóa chất gây ngậm nước, bơm nước vào lợn, trâu, bò…;

- Đối tượng làm hàng giả thông thường đặt vấn đề với người nước ngoài làm hợp đồng giả mạo, đặt hàng giảm bớt chất lượng, nhái mẫu mã nhãn hiệu, kiểu dáng của các mặt hàng đang bán chạy trong nước, cụ thể như hóa m ph m hiệu Debon, phụ tùng xe máy hiệu Honda, thiết bị vệ sinh như vòi sen tắm hiệu Coto, Joden, Viglacera ;

- Làm hồ sơ giả bán hàng tịch thu để hợp pháp hóa xe ô tô, xe máy ;

- Làm giả hồ sơ, chứng từ xuất nhập kh u để chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng

Trang 25

Nhìn chung, thủ đoạn hoạt động của tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả rất tinh vi, ngụy trang kín đáo khó phát hiện và đấu tranh

1.1.5.4 Đối tượng làm hàng giả

Đối tượng làm hàng giả chủ yếu là các hộ sản xuất cá thể, hoặc chỉ các thành viên trong một gia đình làm tất cả các khâu: Từ mua nguyên liệu đến sản xuất và trực tiếp tiêu thụ sản ph m Phần nhiều là các đối tượng không chuyên nghiệp, thường chạy theo thời vụ, khi thấy mặt hàng nào khan hiếm, nhu cầu thị trường lớn

mà nguồn hàng thật không đáp ứng đủ thì họ lao vào làm, do điều kiện thủ công nên sản ph m thường có chất lượng thấp, hình thức bên ngoài dễ nhận biết và phân biệt với hàng thật

Đặc điểm nhân thân đối tượng sản xuất, buôn bán hàng giả rất đa dạng, phức tạp về các mặt như: Nghề nghiệp, thành phần, lứa tuổi, trình độ văn hóa

1.1.5.5 Địa bàn làm hàng giả

Nếu như trước đây, do quy mô hàng giả nhỏ và hàng giả chỉ tập trung vào một

số mặt hàng có công nghệ thấp như nước mắm, thuốc lá điếu, săm lốp xe đạp,…, hàng sản xuất theo tính gia đình, do vậy đối tượng làm hàng giả thường tập trung làm tại nhà, hoặc thuê điểm sản xuất ven đô thị

Hiện nay, do tính chất hàng hóa đa dạng, hàng sản xuất ra đòi hỏi phải có công nghệ sản xuất cao và bao bì đẹp, vì vậy, muốn làm hàng giả, các đối tượng phải đầu

tư trang thiết bị để tiến hành sản xuất

Do yêu cầu cao về công nghệ nên việc sản xuất hàng giả có thể chia thành nhiều công đoạn, không tập trung tại một nơi Các đối tượng có thể thuê trực tiếp các nhà máy sản xuất lớn gia công một phần sản ph m, các cơ sở in ấn bao bì hiện đại in ấn bao bì rồi tập kết và lắp hoàn chỉnh ở nơi tiêu thụ Bên cạnh đó, việc đặt hàng ở nước ngoài làm giả đã và đang phát triển khá phổ biến, cho thấy địa bàn làm hàng giả rất đa dạng và trải rộng trong nhiều địa phương, có tính quốc tế đối với một số nước xung quanh khu vực

1.1.6 Tác động tiêu cực của hàng giả

Tệ nạn sản xuất, buôn bán hàng giả có tác hại rất lớn đối với nền kinh tế và những thành tựu của công cuộc đổi mới mà đất nước đang tiến hành Tệ nạn sản xuất, buôn bán hàng giả có nguy cơ kìm hãm tốc độ phát triển của nền kinh tế, tạo

Trang 26

thành một lực cản lớn đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Hơn nữa, tệ nạn này còn làm mất tính cân bằng trong cạnh tranh thương mại giữa hàng nội và hàng ngoại, đồng thời làm thất thu thuế xuất, nhập kh u và các sắc thuế khác dẫn đến thất thu cho ngân sách nhà nước

Do chạy theo lợi nhuận và lợi dụng uy tín, chất lượng của những mặt hàng được người tiêu dùng ưa thích, nhiều cơ sở sản xuất đã đưa ra thị trường những sản

ph m kém chất lượng, hàng “nhái” nhãn mác, hàng giả, quảng cáo không trung thực, đánh lừa người tiêu dùng, gây thiệt hại cho nền kinh tế, làm cho nền kinh tế trì trệ, kém phát triển và làm giảm uy tín của các đơn vị sản xuất, kinh doanh tốt, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ người tiêu dùng, gây ô nhiễm môi trường, môi sinh, đe dọa

sự an toàn của mọi lĩnh vực trong xã hội

1.1.6.1 Đối với đời sống xã hội

Đến nay, nạn hàng giả đã diễn ra ở hầu hết các mặt hàng thiết yếu cho đời sống, sinh hoạt của mọi tầng lớp nhân dân như lương thực, thực ph m, đồ uống, thuốc men, đồ điện dân dụng, thiết bị vệ sinh, quần áo, giầy dép, sách vở, đồ dùng văn phòng, phụ tùng xe đạp và xe máy…, cao cấp hơn có phụ tùng ô tô, phụ tùng máy bay Các văn hóa ph m giả, băng đĩa hình giả, chất lượng thấp, gây thiệt hại cho người tiêu dùng, cho tác giả và cơ quan tổ chức được sở hữu bản quyền Bằng cấp, chứng chỉ đào tạo giả sẽ tạo ra những con người giả, làm suy đồi đạo đức trong

giáo dục và gây hại lâu dài cho “nguyên khí quốc gia”

Hàng giả gây nên những hậu quả phức tạp và nặng nề về mặt xã hội Đây là yếu tố phi pháp làm gia tăng chênh lệch giữa kẻ giàu và người nghèo Hàng giả còn làm cho đạo đức bị tha hóa, đồng tiền bất chính từ hàng giả gây ra nạn cờ bạc, rượu chè, những giá trị đạo đức truyền thống: Trung, lễ, hiếu, nghĩa sẽ mất đi vì bố mẹ kẻ sản xuất và buôn bán hàng giả với mánh khoé, thủ đoạn dối lừa thì con cái mất đi những tấm gương tốt và cũng không thể dạy được con cái những điều tốt đẹp

Hàng giả không chỉ gây tác hại về kinh tế mà còn huỷ hoại xã hội và làm suy kiệt giống nòi Sử dụng hàng giả có các độc tố và gây tác hại cho sức khoẻ con người như tác hại của dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, sử dụng thức ăn gia súc có tác nhân gây biến đổi gien, sử dụng thuốc chữa bệnh không có tác dụng chữa bệnh,

Trang 27

vắc xin và thuốc phòng dịch giả,… gây tác hại không chỉ cho người sử dụng mà còn gây tác hại cho cộng đồng và nòi giống của dân tộc

1.1.6.2 Đối với người tiêu dùng

Nạn hàng giả đang trở thành mối đe dọa thực sự đối với sức khoẻ và tính mạng người tiêu dùng Khi mua phải hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng sẽ gây thiệt hại về tài sản, thiệt hại đến quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng, làm cho người tiêu dùng mất dần niềm tin vào sản ph m vì họ không tìm thấy giá trị đích thực mà mình mong muốn

1.1.6.3 Đối với doanh nghiệp

Nạn làm hàng giả đã và đang trở thành một thảm hoạ trong hệ thống mậu dịch trong nước và quốc tế Nó gây thiệt hại lớn cho nhà sản xuất và nhà đầu tư, bởi họ

là nạn nhân của sự cạnh tranh không lành mạnh, do không thể thu hồi vốn và không thể có được lợi nhuận từ quá trình nghiên cứu, đầu tư của mình, làm giảm nhịp độ tăng trưởng của doanh nghiệp hoặc số lượng công ăn việc làm bị mất đi, thậm chí

có thể dẫn đến bị phá sản

Hàng giả gây thiệt hại lớn về tinh thần cũng như về tiền của đối với các doanh nghiệp Các doanh nghiệp lớn làm ăn chân chính thì mất hết uy tín đối với khách hàng, sản lượng bán ra không nhiều gây thất thu lớn, trong khi đó các doanh nghiệp phải đầu tư một số lượng tiền khá lớn vào việc chống hàng giả và việc cải tạo nhãn mác sản ph m của mình sao cho hàng giả ít có khả năng nhái theo nhãn hiệu của công ty mình Hậu quả là các nhà sản xuất chân chính và các nhà đầu tư, các doanh nghiệp kinh doanh hàng chính hiệu có thể bị nản chí

1.1.6.4 Đối với nhà nước

Việc sản xuất và buôn bán hàng giả gây tác hại nghiêm trọng đến đời sống kinh tế - xã hội của đất nước Một số thương hiệu vì lợi ích trước mắt đã không đi theo hướng tập trung đầu tư công nghệ, nâng cao chất lượng, tạo uy tín thương hiệu

mà đi vào làm hàng giả nhằm kiếm lợi nhuận cao Hóa đơn, chứng từ, giấy phép giả mạo làm thất thoát, thất thu ngân sách, rối loạn trật tự quản lý kinh tế, đe dọa an toàn, an ninh xã hội, khiến các cơ quan điều tra phải đối phó với những thủ đoạn tinh vi, phức tạp

Trang 28

Vấn đề trọng tâm cần nhấn mạnh là hậu quả của hàng giả còn trực tiếp đe doạ đối với chủ quyền và an ninh quốc gia Tổ quốc hôm nay, tuy đang đứng trước thời

cơ vận hội mới, song nguy cơ và tác hại của hàng giả cũng là một thách thức lớn Tác hại của các công trình quốc gia bị giả mạo từ khi đấu thầu đến khi thi công đã xuất hiện Đê có thể bị vỡ, công trình đường xá, cầu cống có thể bị hư hỏng Thiết

bị máy bay, tầu thuỷ lớn có thể bị mua phải hàng giả Cây giống, con giống giả và kém chất lượng có thể gây tác hại lâu dài trong nông nghiệp và làm giảm sút sức phòng thủ của đất nước

Trong bối cảnh hiện nay, cuộc đấu tranh ai thắng ai trên thị trường cũng không

kém phần gay go quyết liệt Một cuộc chiến tranh “biên giới mềm” đang âm thầm

diễn ra Chủ quyền lãnh thổ không phải bị xâm lăng bằng lưỡi lê và xe tăng mà bằng hàng hóa, tiền và công nghệ Hàng hóa mang tên hiệu và chất lượng, xuất xứ giả mạo sẽ được đưa vào trong nước bằng mọi cách Hàng hóa đến đâu là biên giới đến đó; ở nước ta không nơi nào là không có hàng nhập lậu, hàng giả bầy bán công khai Nguy cơ tiêu thụ hàng sản xuất trong nước giảm sút, gây thiệt hại đối với các nhà đầu tư trong nước hàng ngày thì ai cũng có thể nhìn thấy, nhưng không phải ai cũng có thể nhận thấy những thiệt hại to lớn cả về kinh tế lẫn sức khoẻ cộng đồng lâu dài và tới trật tự an toàn xã hội mà hàng giả có thể gây ra

1.2 Công tác QLNN về phòng, chống hàng giả

1.2.1 Khái niệm công tác QLNN về phòng, chống hàng giả

Hàng hóa nói chung, hàng giả nói riêng là đối tượng thuộc Nhà nước điều chỉnh, quản lý Nhà nước không thừa nhận hàng giả nhưng trên thực tế hàng giả vẫn tồn tại, do đó Nhà nước vẫn phải quản lý Tuy nhiên, Nhà nước không quản lý hàng giả ở góc độ hàng hóa mà quản lý hàng giả thông qua công tác đấu tranh phòng, chống các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thương mại trên thị trường Vấn đề đặt ra là Nhà nước quản lý công tác phòng, chống hàng giả như thế nào để phòng ngừa và ngăn chặn các hành vi vi phạm liên quan đến hàng giả trong lĩnh vực kinh doanh hàng hóa

Hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả được hiểu như sau:

- Sản xuất hàng giả là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động tạo

ra hàng hóa giả bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, khai thác, thu hoạch, đánh bắt, chế

Trang 29

tạo, in ấn, gia công, đặt hàng, chế biến, chiết xuất, chế tác, tái chế, lắp ráp, sang chiết, nạp, đóng gói hàng giả;

- Buôn bán hàng giả là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động đưa hàng hóa giả vào lưu thông bao gồm mua, bán, chào hàng, tiếp thị, lưu giữ, vận chuyển, phân phối, trưng bày giới thiệu để bán, triển lãm để bán, khuyến mại hàng giả, xuất kh u, nhập kh u hàng giả

Từ những phân tích trên, có thể khái quát khái niệm QLNN về phòng, chống hàng giả như sau:

QLNN về phòng, chống hàng giả là hoạt động thực thi pháp luật của Nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng pháp luật đối với các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và hoạt động thương mại thông qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định về chất lượng hàng hóa, nhãn hiệu hàng hóa, quyền SHTT, sở hữu công nghiệp, về đăng ký kinh doanh, xử lý các hành vi vi phạm trong sản xuất kinh doanh hàng hóa… được tổ chức thực hiện thông qua hệ thống các cơ quan quản lý hành chính nhà nước đối với hàng hóa, các cơ quan nhà nước có th m quyền kiểm tra, xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả Pháp luật quy định về trình tự, thủ tục, kinh phí cho công tác điều tra, xác minh, giám định, xử lý các vụ việc về hàng giả

QLNN về phòng, chống hàng giả còn thể hiện ở sự phối hợp giữa các cơ quan QLNN có chức năng như: Công an, Hải quan, Thương mại, Khoa học công nghệ,

Đo lường chất lượng, văn hóa…; thông qua các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài…); thông qua tuyên truyền miệng, tuyên truyền trực quan; thông qua công

cụ thanh tra, kiểm tra; công tác phối hợp trong phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hàng giả

1.2.2 Xác định mục tiêu, kế hoạch tổ chức thực hiện công tác chống hàng giả

* Mục tiêu:

Hàng năm, Cục quản lý thị trường xác định mục tiêu chung về quản lý phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả trong toàn quốc Trên cơ sở đó Chi cục Quản lý thị trường các tỉnh, thành phố xác định mục tiêu cụ thể về quản lý chống buôn lậu trên địa bàn Các mục tiêu bao gồm; về ngăn chặn và phòng ngừa, xử lý, với các

Trang 30

lĩnh vực nổi cộm và thời sự đặt ra, dự báo diễn ra, nhưng vẫn đề cấp bách đặt ra về phát triển kinh tế - xã hội; các địa bàn nóng cần tập trung; các mặt hàng và các đối tượng cần tập trung phòng chống và xử lý

* Kế hoạch ngăn chặn phòng ngừa và xử lý

Trên cơ sở mục tiêu chung, từ Cục Quản lý thị trường đến Chi cục Quản lý thị trường tiến hành xây dựng kế hoạch cụ thể về các biện pháp tổ chức thực hiện theo quý, theo tháng, theo từng lĩnh vực về chống hàng giả cùng với công tác phòng chống gian lận thương mại, về buôn lậu và trốn thuế, về hàng cấm, ; kế hoạch phối hợp tổ chức thực hiện; kế hoạch kiểm tra các lĩnh vực và các địa bàn cụ thể; kế hoạch bố trí kinh phí, bố trí nguồn lực con người, kế hoạch về các phương tiện, thiết

bị và kế hoạch tổ chức thực hiện Kế hoạch này cũng có thể được điều chỉnh trong quá trình thực hiện cho phù hợp với thực tiễn diễn ra

* Kiểm tra và đánh giá hoạt động quản lý chống hàng giả

Tổ chức kiểm tra hoạt động chống hàng giả ở các cấp, cấp trên kiểm tra hoạt động của cấp dưới Hoạt động kiểm tra bao gồm thường kỳ và đột xuất, kiểm tra theo chuyên đề và kiểm tra toàn bộ hoạt động chống hàng giả, kiểm tra việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ được giao, kiểm tra việc thực hiện mục tiêu và kế hoạch, kiểm tra việc chấp hành quy trình và nghiệp vụ chống hàng giả

Tổ chức đánh giá định kỳ hay đánh giá kết quả thực hiện theo chuyên đề chống hàng giả Việc đánh giá này có thể thực hiện theo hàng tháng, hàng quý, 6 tháng và cả năm Thông qua sơ kết, tổng kết để đánh giá kết quả tổ chức thực hiện trong thời gian qua, rút ra các bài học kinh nghiệm, những hạn chế, nguyên nhân và

đề ra biện pháp thực hiện có hiệu quả hơn hoạt động chống hàng giả trong kỳ tới, tháng tới hay năm mới

Trang 31

1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu lực công tác quản lý chống hàng giả

Chỉ tiêu đánh giá hiệu lực, hiệu quả và các giải pháp hoàn thiện công tác quản

lý chống hàng giả được thể hiện thông qua một số chỉ tiêu sau:

- Sự bình ổn thị trường: Đó là bình ổn về giá cả, hàng năm không có sự biến động lớn về giá, nhất là những tháng cuối năm gần dịp Tết Nguyên đán Mặt khác, chất lượng và chủng loại hàng hóa được kiểm soát tốt, nhất là đối với hàng hóa yêu cầu vệ sinh an toàn thực ph m

- Hoàn thành kế hoạch, chỉ tiêu định lượng hàng năm được giao như: Số vụ kiểm tra, xử lý chống hàng giả, sản xuất kinh doanh hàng giả, gian lận thương mại

- Hoàn thành chỉ tiêu thu nộp ngân sách nhà nước từ xử lý vi phạm hành chính

và bán hàng tịch thu trong công tác chống hàng giả

- Tình trạng hàng giả, sản xuất kinh doanh hàng giả, có xu hướng giảm

1.2.4 Tổ chức bộ máy và lực lƣợng chống hàng giả tại Chi cục QLTT tỉnh Bắc Giang

- Tổ chức bộ máy: Chi cục Quản lý thị trường là đơn vị trực thuộc Sở Công Thương tỉnh Bắc Giang, cơ cấu tổ chức bộ máy gồm: 3 Phòng chuyên môn giúp việc gồm: Phòng Tổ chức - Hành chính, Phòng Nghiệp vụ - Tổng hợp, Phòng Pháp chế - Kiểm tra và 12 Đội Quản lý thị trường, trong đó: Đội Quản lý thị trường Chống buôn lậu và Đội Quản lý thị trường Chống hàng giả thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường chống buôn lậu và chống hàng giả trên phạm vi địa bàn toàn tỉnh; 10 Đội Quản lý thị trường nằm trên địa bàn 10 huyện, thành phố thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường trong phạm vi địa bàn của từng huyện, thành phố

- Về đội ngũ cán bộ: Tổng số biên chế là 139; trong đó: 120 công chức, 19 lao động hợp đồng 68 Chất lượng đội ngũ công chức của Chi cục hiện nay là: Đảng viên: 114/139 (82%); trình độ Đại học, Cao đẳng: 115/139 (82,7%); trình độ Trung cấp 19/139 (13,7%); Sơ cấp 05/139 (3,6); trình độ Cao cấp lý luận chính trị: 06; Trung cấp lý luận chính trị: 54; Quản lý nhà nước: Chuyên viên chính: 13/139 (9,4%), chuyên viên: 81/139 (58,3%)

Trang 32

Đội ngũ lãnh đạo gồm: Phó Giám đốc Sở Công Thương kiêm Chi cục trưởng

và 04 Phó Chi cục trưởng giúp việc; 03 Trưởng Phòng, 04 Phó trưởng phòng; 12

Đội trưởng và 25 Phó Đội trưởng

- Về chức năng, nhiệm vụ: Quản lý thị trường mới chỉ kiểm soát thương mại hàng hóa và một phần hoạt động dịch vụ sinh hoạt, chưa phù hợp với điều kiện thương mại hội nhập (thương mại hội nhập bao gồm: Thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại đầu tư và thương mại sở hữu trí tuệ) Hệ thống luật pháp

về kiểm tra, kiểm soát do nhiều Bộ, ngành cùng xây dựng nên có sự khác biệt hay còn gọi là độ kênh là kẽ hở cho hoạt động phi pháp và dễ nảy sinh tiêu cực trong kiểm tra, xử lý

Thời gian qua chỉ tập trung chỉ đạo phần nhiều về chức năng kiểm tra việc tuân theo pháp luật các hoạt động thương mại của thương nhân, còn chưa chú trọng đến biện pháp về tổ chức thị trường Dưới cái nhìn của thương nhân, Quản lý thị trường là kiểm tra, kiểm soát và xử lý vì vậy sự hợp tác giữa thương nhân với lực lượng Quản lý thị trường để đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật còn hạn chế, chưa tích cực cùng Quản lý thị trường tham gia đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả, thậm chí còn quay lưng đối phó

1.2.5 Cở sở vật chất k thuật phục vụ đến hoạt động chống sản xuất, buôn bán hàng giả

Cơ sở vật chất phục vụ công tác phòng chống hàng giả là yếu tố rất quan trọng giúp cho người công chức hoàn thành nhiệm vụ Tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Bắc Giang trong những năm qua Lãnh đạo Chi cục luôn quan tâm đến công tác trang bị cơ sở vật chất, công cụ dụng cụ và cải thiện điều kiện làm việc cho cán bộ, công chức

Về trụ sở làm việc: Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Bắc Giang hiện nay có 10 Đội Quản lý thị trường trực thuộc đóng trên địa bàn 10 huyện, thành phố và 02 Đội

cơ động chống buôn lậu và chống hàng giả trực thuộc Chi cục Đây là điều kiện thuận lợi cho công tác nắm địa bàn, bao quát toàn bộ địa bàn và kịp thời phát hiện, kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm trong sản xuất, kinh doanh hàng hóa Các Đội đều đã có trụ sở riêng khang trang, tuy nhiên qua thời gian sử dụng một số trụ sở đã xuống cấp, nhưng vẫn chưa có kinh phí để sửa chữa… Điều này ảnh hưởng lớn đến

Trang 33

công tác kiểm tra, kiểm soát phòng chống hàng giả trên địa bàn tỉnh

Mặt khác, đến nay chưa Đội Quản lý thị trường nào có hệ thống kho chứa hàng hóa tịch thu, tạm giữ, bảo quản nên khi tạm giữ, tịch thu hàng hóa đều phải để chung phòng làm việc hoặc đi thuê kho Điều này gây rất nhiều khó khăn cho công tác tạm giữ hàng hóa để điều tra, xử lý

Về trang thiết bị, công cụ: Số lượng máy vi tính phục vụ công tác kiểm tra, kiểm soát đã có sự tăng dần từ năm 2015 là 50 máy tính đến năm 2017 lên 80 máy tính Trang bị 12/12 máy tính kết nối mạng internet cho các Đội Quản lý thị trường phục vụ việc cập nhật văn bản hướng dẫn kiểm tra, kiểm soát, trao đổi, theo dõi thông tin liên quan đến hàng giả, hàng xâm phạm quyền SHTT… giữa các lực lượng chức năng phòng chống hàng giả Tuy nhiên, chưa trang bị được các thiết bị phục vụ quá trình kiểm tra xác định vi phạm

Về phương tiện: Được sự quan tâm của Cục Quản lý thị trường, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Sở Công Thương, phương tiện phục vụ công tác của lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Bắc Giang được trang bị tương đối đầy đủ, hiện nay Chi cục được trang bị 14 xe ô tô, mỗi Đội Quản lý thị trường có 01 xe ô tô phục vụ công tác, nhưng một số xe đã cũ, hỏng hóc chưa được cấp kinh phí để thay thế, sửa chữa đại

tu kịp thời Điều này đã và đang gây nhiều khó khăn cho công tác kiểm tra, kiểm soát của lực lượng Quản lý thị trường đặc biệt là kiểm tra trên khâu lưu thông Qua đây có thể thấy rằng điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác cho công chức Quản lý thị trường vẫn còn nhiều khó khăn cần được bổ sung để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao trong thời gian tới Đặc biệt là máy móc thiết bị để đáp ứng nhu cầu giải quyết công việc cũng như tìm kiếm thêm thông tin cho những cán bộ Quản lý thị trường

1.2.6 Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong hoạt động chống sản xuất, buôn bán hàng giả

Công tác phối hợp giữa các lực lượng chức năng, chính quyền địa phương các cấp, báo, đài phát thanh truyền hình, các doanh nghiệp, người tiêu dùng trong việc tuyên truyền, kiểm tra, kiểm soát ngăn chặn nạn hàng giả chưa có sự đồng bộ, thống nhất chung, mang tính cục bộ tùng lực lượng, từng ngành, mạnh ai nấy làm…Nguyên nhân của những vụ việc này là một số văn bản quy phạm pháp luật

Trang 34

chưa có tính thống nhất, hơn nữa hiện các chế tài xử lý hàng giả, xâm phạm quyền

sở hữu trí tuệ còn được quy định ở nhiều văn bản khác nhau gây khó khăn cho công tác thực thi Trong khi đó, hoạt động phối hợp giữa những cơ quan thực thi chủ yếu

là vụ việc riêng lẻ, việc chia sẻ thông tin là rất hạn chế

Theo như thông tin điều tra được từ những cán bộ làm công tác quản lý thị trường cũng như là những đơn vị phối hợp liên quan thì sự phối hợp chưa có sự ăn

ý, nhịp nhàng Đặc biệt trong một số tình huống vẫn còn chưa thể hiện được sự linh hoạt trong hợp tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả

1.2.7 Sự phối hợp giữa Chi cục Quản lý thị trường với các doanh nghiệp trong hoạt động chống sản xuất, buôn bán hàng giả

Trong thời gian qua, Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Bắc Giang đã nỗ lực ngăn chặn, phát hiện và xử lý nhiều vụ vi phạm song tình hình sản xuất, buôn bán hàng giả vẫn tiềm n nhiều yếu tố, diễn biến phức tạp và tồn tại nhiều khó khăn ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện nhiệm vụ

Trong thời gian qua, một số doanh nghiệp đã tích cực phối hợp với các cơ quan chức năng trong công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả, nhưng vẫn còn không ít doanh nghiệp không quan tâm đến chống sản xuất, buôn bán hàng giả, thậm chí có doanh nghiệp không hợp tác để trao đổi, cung cấp thông tin về các sản ph m làm giả vì sợ ảnh hưởng uy tín của mình, gây khó khăn cho điều tra, xử lý Sự phối hợp của chủ sở hữu nhãn hiệu, chủ thể quyền đối với cơ quan chức năng còn chưa được thường xuyên Nhiều doanh nghiệp, tổ chức, thương nhân bị hại lại không tích cực tham gia bảo vệ quyền lợi của mình, vì cho rằng do thủ tục phiền phức hoặc ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh; lo sợ người tiêu dùng nghe thông tin về hàng giả, hàng nhái sẽ

t y chay, chuyển sang lựa chọn sản ph m hàng hóa khác

Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp nước ngoài chưa có đại diện tại Việt Nam nên chưa có thông tin về vi phạm Vì vậy khi các lực lượng chức năng trong đó có Quản lý thị trường khi kiểm tra, tạm giữ hàng hóa để xác minh nhưng không có tổ chức, cá nhân đại diện xác nhận hàng hóa thật, giả hoặc mất nhiều thời gian để giám định, xin ý kiến chuyên môn của nhiều cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành để làm căn cứ xử

lý theo quy định của pháp luật nên rất khó khăn trong khi pháp luật quy định thời hiệu

xử lý vi phạm hành chính nói chung và trong lĩnh vực hàng giả, sở hữu trí tuệ nói riêng

có thời hạn xác định

Trang 35

1.2.8 Hệ thống văn bản pháp luật trong công tác phòng, chống hàng giả

Đảng và Nhà nước ta đã xác định: Buôn lậu, hàng giả cũng như GLTM nói chung là mặt trái của nền kinh tế thị trường để lại những hậu quả nguy hại về KT-XH như kìm hãm sản xuất kinh doanh trong nước, gây thất thu NSNN, ảnh hưởng môi trường đầu tư nước ngoài, kèm theo những tệ nạn xã hội như tham nhũng, hối lộ… Hoạt động chống buôn lậu, hàng giả và GLTM có quan hệ biện chứng với hoạt động sản xuất kinh doanh Hoạt động chống buôn lậu, hàng giả và GLTM có hiệu quả sẽ tạo điều kiện thúc đ y hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển và đến lượt nó – hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển sẽ góp phần vào cuộc đấu tranh chống buôn lậu, hàng giả và GLTM Vì vậy, trong những năm qua, việc xây dựng hệ thống chính sách pháp luật về phòng, chống sản xuất và buôn bán hàng giả luôn được các cấp, các ngành chú trọng, góp phần nâng cao hiệu lực QLNN, từng bước đ y lùi nạn sản xuất

Trang 36

- Chức năng nhiệm vụ các ngành liên quan:

+ Cơ quan QLTT: Kiểm tra việc tuân theo pháp luật các hoạt động thương mại

của các tổ chức và cá nhân trên địa bàn Đề ra kế hoạch, biện pháp về tổ chức thị trường, bảo đảm lưu thông hàng hóa theo pháp luật, ngăn ngừa và xử lý kịp thời các

vi phạm trong hoạt động thương mại Xây dựng và trực tiếp chỉ đạo thực hiện các

kế hoạch kiểm tra, kiểm soát thị trường và xử lý theo th m quyền các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại, đấu tranh chống các hành vi buôn bán hàng nhập lậu, hàng cấm, chống sản xuất, buôn bán hàng giả

+ Lực lượng CSKT: Là lực lượng nòng cốt trong đấu tranh chống tội phạm

hàng giả Tổ chức thành các Đội cảnh sát kinh tế tại huyện, thành phố và Đội CSKT thuộc phòng CSKT Hiện nay, lực lượng này không tổ chức thành các Đội chuyên trách chống hàng giả mà các Đội CSKT đều phải tham gia chống hàng giả

+ Sở Khoa học - Công nghệ trong lĩnh vực SHTT: Chủ trì xây dựng, ban hành

hoặc trình cấp có th m quyền ban hành các văn bản QPPL trong lĩnh vực tiêu chu n, đo lường và chất lượng sản ph m, hàng hoá; các văn bản liên quan trong lĩnh vực tiêu chu n và quy chu n k thuật, SHTT theo lĩnh vực được Chính phủ phân công; các hoạt động đánh giá sự phù hợp liên quan đến giám định, thử nghiệm hàng hoá phục vụ cho công tác chống hàng giả và GLTM Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, UBND các cấp thực hiện hoạt động thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ

để xử lý các hành vi vi phạm quy định của pháp luật trong lĩnh vực tiêu chu n, đo lường và chất lượng sản ph m hàng hoá, SHTT theo lĩnh vực được Chính phủ phân công

+ Các cơ quan kiểm tra chuyên ngành:

Thanh tra chuyên ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Đấu tranh với việc vi

phạm trong in ấn, sao chép lậu các loại băng đĩa hình, nhân bản sách, in ấn nhãn mác hàng giả

Thanh tra chuyên ngành Y tế: Đấu tranh với các hành vi kinh doanh thuốc

chữa bệnh giả mạo từ nước ngoài, thuốc đông dược không nguồn gốc, các lô thuốc kém chất lượng không được lưu hành và các hành vi quảng cáo các loại thực ph m dạng thuốc của một số hãng nhằm lừa dối người tiêu dùng về các công dụng chữa bệnh v.v…

Trang 37

Thanh tra chuyên ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn: Thuốc bảo vệ

thực vật, thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi, giống cây trồng…

* Tuyên truyền, phổ biến giáo dục chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về phòng, chống sản xuất và buôn bán hàng giả

Tăng cường tuyên truyền, vận động các tổ chức, cá nhân hoạt động thương mại trên thị trường tham gia công tác đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả Nội dung công tác tuyên truyền là phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác phòng, chống sản xuất và buôn bán hàng giả Kịp thời nêu kết quả thực hiện và những điển hình tiên tiến trong công tác phòng, chống sản xuất và buôn bán hàng giả; đồng thời đưa tin những vụ việc vi phạm pháp luật do các lực lượng kiểm tra, phát hiện, xử lý Cung cấp các tiêu chí, thông tin giúp người tiêu dùng có thể phân biệt được hàng thật và hàng giả Thông qua công tác tuyên truyền làm nâng cao nhận thức của người tiêu dùng, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh để họ tích cực và chủ động tham gia vào công tác phòng chống hàng giả, góp phần thực hiện xã hội hoá công tác đấu tranh chống hàng giả

Hình thức tuyên truyền bao gồm: Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; thông qua hoạt động kiểm tra, kiểm soát để tuyên truyền đến các đối tượng sản xuất và kinh doanh; tổ chức vận động các tổ chức, cá nhân kinh doanh ký cam kết không sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng xâm phạm quyền SHTT, hàng kém chất lượng và các hình thức tuyên truyền phù hợp khác

* Sự phối hợp hoạt động của cơ quan QLTT và các cơ quan liên quan trong công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về phòng, chống sản xuất và buôn bán hàng giả:

Công tác chống hàng giả không riêng của một Bộ, ban ngành hay bất kỳ địa phương nào mà nó đòi hỏi sự phối hợp của tất cả các Bộ, ban ngành, địa phương, do

đó, ngày 19/3/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 389/QĐ-TTg về việc thành lập BCĐ quốc gia chống buôn lậu, hàng giả và GLTM (gọi tắt là BCĐ 389/TW) do Phó Thủ tướng Chính phủ Trương Hòa Bình làm Trưởng Ban, có bộ phận thường trực đặt tại Bộ Tài chính Phó Trưởng Ban có: Bộ trưởng Bộ Tài chính;

Bộ trưởng Bộ Công Thương; Thứ trưởng Bộ Công an; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Các ủy viên bao gồm: Thứ trưởng các Bộ, cơ quan ngang Bộ: Tài chính; Nông

Trang 38

nghiệp và Phát triển nông thôn; Y tế; Giao thông Vận tải; Khoa học và Công nghệ; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Thông tin và Truyền thông; Văn phòng Chính phủ; Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Phó Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam; Thủ trưởng các cơ quan chức năng: Tư lệnh Bộ đội Biên phòng; Tư lệnh Cảnh sát biển; Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm; Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan; Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế; Cục trưởng Cục QLTT

Tại Quyết định số 65/2010/QĐ-TTg ngày 25/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế về trách nhiệm và quan hệ phối hợp hoạt động giữa các cơ quan QLNN trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, hàng giả và GLTM đã quy định rõ theo yêu cầu cụ thể trong từng giai đoạn, trên từng địa bàn, lĩnh vực và theo chức năng của mình trong công tác đấu tranh phòng, chống hàng giả, các cơ quan QLNN, các cơ quan chức năng kiểm tra, kiểm soát chủ động xác lập quan hệ phối hợp hoạt động trong việc

1.3 Ngành (lực lượng) quản lý thị trường đối với việc phòng, chống hàng giả

1.3.1 Cơ sơ pháp lý

Cơ sở pháp lý quy định về tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của QLTT thông qua các văn bản QPPL sau: Pháp lệnh QLTT; Nghị định số 10/CP ngày 23 tháng 01 năm 1995 về tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của QLTT; Nghị định số 27/2008/NĐ-CP ngày 13 tháng 3 năm 2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 10/CP ngày 23 tháng 01 năm 1995 về tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của QLTT

Trang 39

1.3.3 Th m quyền của cơ quan QLTT

- Th m quyền chung: QLTT là lực lượng chuyên trách có chức năng kiểm tra,

kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại ở thị trường trong nước

- Th m quyền riêng:

Cục QLTT: Là cơ quan giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện chức

năng QLNN và tổ chức chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại ở thị trường trong nước

Chi cục QLTT: Chi cục QLTT trực thuộc Sở Công Thương, có nhiệm vụ

kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các hành vi buôn bán hàng nhập lậu, hàng cấm, hàng giả lưu thông trên thị trường; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật thương mại đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương

Đội QLTT: Là đơn vị trực thuộc Chi cục Quản lý thị trường, có nhiệm vụ

kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các hành vi buôn bán hàng nhập lậu, hàng cấm, hàng giả; kiểm tra việc chấp hành pháp luật thương mại đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động thương mại trên địa bàn quản lý

1.3.4 Vai trò của ngành (lực lƣợng) QLTT đối với phòng, chống hàng giả

Với vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, lực lượng QLTT đóng vai trò quan trọng trong công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng, vi phạm về SHTT, vệ sinh an toàn thực ph m và các hành vi

vi phạm khác được pháp luật quy định, nhằm góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp và người tiêu dùng, góp phần ổn định trật tự thị trường, thúc đ y phát triển sản xuất, kinh doanh, lưu thông hàng hoá và hội nhập kinh tế quốc tế QLTT là một trong những nội dung quan trọng của QLNN, trong đó lực lượng QLTT là bộ phận cấu thành trong hệ thống tổ chức nhà nước, là công cụ thực hiện chức năng QLNN trong việc xây dựng và bảo vệ nền kinh tế thị trường nước ta phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Thông qua vai trò kiểm tra, kiểm soát thị trường để đấu tranh ngăn chặn và góp phần làm hạn chế mặt trái của nền kinh tế thị trường

Trang 40

Phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, phát huy tính ưu việt của nền kinh tế thị trường, phát huy tiềm năng sẵn có của đất nước và nội lực của nền kinh tế; tranh thủ kinh nghiệm và huy động được nguồn vốn từ bên ngoài để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Đứng trước những đòi hỏi cho sự ổn định và phát triển kinh tế,

ổn định trật tự xã hội, Đảng và Nhà nước thấy được vai trò của QLNN trong lĩnh vực QLTT nội địa Tình hình thị trường luôn được ổn định, sản xuất, kinh doanh ngày càng phát triển, đời sống nhân dân được nâng lên, tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, các hành vi vi phạm pháp luật được ngăn chặn kịp thời, góp phần phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội, nhưng bên cạnh đó cũng luôn tiềm m nhiều nguy cơ do mặt trái của nền kinh tế thị trường như: Tình trạng buôn lậu; sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng; kinh doanh trái phép, gian lận thương mại… và một số hành vi khác ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và an sinh xã hội xã hội Đây là những vấn đề nhức nhối chung của đất nước và mặt trái này thường tồn tại lâu dài, song hành với quá trình phát triển nền kinh tế thị trường QLTT là lực lượng chủ công trong công tác đấu tranh chống buôn lậu, hàng giả và GLTM trên thị trường nội địa Đồng thời thông qua việc kiểm tra, kiểm soát thị trường và xử lý các hành vi vi phạm trong hoạt động thương mại và công nghiệp,

đ y mạnh việc phổ biến, hướng dẫn, tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho tổ chức, cá nhân kinh doanh, hoạt động QLTT góp phần quan trọng trong việc ổn định trật tự thị trường, đảm bảo trật tự xã hội và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, duy trì và tạo đà phát triển kinh tế xã hội

Ngày đăng: 27/02/2021, 10:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w