Kết cầu đề tài CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHỨNG KHOÁN VÀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1 Lý thuyết cơ bản về chứng khoán 1.1.1 Khái niệm thị trường chứng khoán 1.1.2 Bản chất của thị trường chứ
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Đinh Thế Lợi, tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, tài liệu, kết quả nêu trong luận văn này là thực tế Tôi xin chịu trách nhiệm mọi vấn đề liên quan về nội dung đề tài này
Trang 3Xin chân thành cảm ơn T.S Ngô Trần Ánh đã tận tình hướng dẫn, động
viên tinh thần cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu, thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn quí Thầy, Cô tham gia giảng dạy trong chương
trình cao học Quản Trị Kinh Doanh tại trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã
truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian hai năm qua
Đề hoàn thành được luận văn này, tôi xin cảm ơn Ban Giám đốc và các
đồng nghiệp tại Công ty Cổ phần chứng khoán Việt Nam đã hợp tác và hỗ trợ
các tại liệu cho tôi
Sự động viên, chia sẻ kinh nghiệm, đóng góp kiến thức của các Anh Chị
cùng khoá học, các bạn bè thật quý báu, tôi xin ghi ơn
Nhân đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý Thầy, Cô đã
giành thời gian chấm phản biện luận văn
Trân trọng!
Người thực hiện luận văn
ĐINH THẾ LỢI
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn
3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu của luận văn
4 Những đóng góp của luận văn
5 Những phương pháp nghiên cứu của luận văn
6 Kết cầu đề tài
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHỨNG KHOÁN VÀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1 Lý thuyết cơ bản về chứng khoán
1.1.1 Khái niệm thị trường chứng khoán
1.1.2 Bản chất của thị trường chứng khoán
1.1.3 Chức năng của thị trường chứng khoán
1.2 Lý thuyết cơ bản về công ty chứng khoán
1.2.1 Khái niệm công ty chứng khoán
1.2.2 Vai trò của công ty chứng khoán trong nền kinh tế
1.3 Các hoạt động nghiệp vụ của CTCK
1.3.1 Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
1.3.2 Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán
Trang 51.4 Cơ sở lý luận về xây dựng và quản lý chiến lược kinh doanh
1.4.1 Những vấn đề chung về chiến lược
1.4.2 Ý nghĩa của quản trị chiến lược
1.4.3 Các yêu cầu của chiến lược kinh doanh của công ty chứng khoán 1.4.4 Quá trình hoạch định chiến lược
1.4.5 Nhiệm vụ và hệ thống mục tiêu chiến lược
2.3.2 Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
2.3.3 Đẩy mạnh cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước
2.3.4 Thị trường vốn và thị trường tài chính
2.4 Phân tích môi trường tác nghiệp
Trang 63.3.1 Chiến lược hoạt động kinh doanh
3.3.2 chiến lược chi phí
3.3.3 Chiến lược nhân lực
3.3.4 Chiến lược khách hàng
3.3.5 Chiến lược công nghệ
3.4 Lập ma trận SWOT và đề xuất chiến lược
3.4.1 Chiến lược S1;S2; S3 /O1; O2; O3
3.4.2 Chiến lược W1;W2;W3/ O1; O2; O3
3.4.3 Chiến lược S1; S2; S3/T1; T2; T3
3.4.4 Chiến lược T1; T2; T3/W1; W2; W3
3.5 Các kiến nghị thực hiện chiến lược kinh doanh VSeC đến năm 2015
3.5.1 Kiến nghị với Nhà nước
3.5.2 Kiến nghị với UBCK Nhà nước Việt Nam
3.5.3 Kiến nghị với lãnh đạo VSeC
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Thị trường chứng khoán Việt Nam mới chính thức đi vào hoạt động từ năm 2000 Nhưng trong thời gian vừa qua, TTCK Việt nam đã có sự phát triển vượt bậc cả về chất và lượng, ngày càng thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư chuyên nghiệp trong nước và trên thế giới TTCK Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong thời gian qua và dự kiến còn tiếp tục phát triển mạnh trong thời gian tới đã tạo ra những cơ hội to lớn cho các Công ty chứng khoán tham gia vào thị trường, tuy nhiên những cơ hội to lớn đó cũng kèm theo những thách thức mới mà các CTCK cần phải vượt qua nếu muốn tồn tại
và phát triển
TTCK là đặc trưng của nền kinh tế hiện đại Ngày nay, hầu hết các nước đều có TTCK TTCK trở thành một bộ phận không thể thiếu được của đời sống kinh tế các nước theo nền kinh tế thị trường Mỗi CTCK gia nhập thị trường sẽ cạnh tranh hết sức quyết liệt với CTCK khác nhằm chiếm lĩnh thị trường và tạo vị thế vững chắc cho riêng mình Việc xây dựng một chiến lược kinh doanh đối với mỗi CTCK trở lên quan trọng hơn bao giờ hết
Được làm việc tại Công ty Cổ phần Chứng khoán Việt Nam ngay từ ngày đầu bắt đầu thành lập, tôi chọn đề tài “Xây dựng chiến lược kinh doanh cho Công ty Cổ phần Chứng khoán Việt Nam đến năm 2015”, nhằm đưa ra định hướng thực tiễn, các chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho Công ty
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Hệ thống những vấn đề cơ bản về việc xây dựng chiến lược kinh doanh trong phạm vi một Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Chứng khoán
Trang 8Phân tích các đề xuất xây dựng chiến lượng kinh doanh cho VSeC, trên
cơ sở đó đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao sức cạnh tranh của VSeC đến năm 2015
3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động trong lĩnh vực Chứng khoán của các CTCK ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Toàn bộ các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của CTCK
4 Những đóng góp của luận văn
Hệ thống những vấn đề về xây dựng chiến lược
Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về xây dựng chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp
Phân tích, đánh giá tình hình kinh doanh và môi trường kinh doanh của Công ty
Xây dựng chiến lược kinh doanh cho VSeC đến 2015
5 Những phương pháp nghiên cứu của luận văn
Các phương pháp cụ thể là: các phương pháp mô hình, phân tích hệ thống, phương pháp tư duy, phương pháp chuyên gia, phương pháp ngoại suy
Việc điều tra khảo sát thực tế được tiến hành bằng phương pháp chuyên gia và dựa trên cơ sở các kết quả nghiên cứu khảo sát của các CTCK ở Việt Nam
Đề tài dựa trên lý thuyết chung về xây dựng chiến lược kinh doanh trong
cơ chế thị trường kết hợp phân tích tổng hợp các nghiên cứu thực tế
Trang 96 Kết cầu đề tài
Mở đầu:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về xây dựng chiến lược kinh doanh CTCK
Trình bày một số cơ sở lý luận, phương pháp xây dựng chiến lược cùng các phương thức nhận xét lựa chọn làm cơ sở phương pháp luận sẽ được sử dụng để xây dựng chiến lược cho luận văn
Chương 2: Phân tích, đánh giá tình hình kinh doanh và môi trường kinh doanh của VSeC
Tập trung phân tích và đánh giá môi trường vĩ mô, xác định các yếu tố quan trọng, các cơ hội cũng như nguy cơ của môi trường
Giới thiệu về VSeC bao gồm: Lịch sử hình thành và phát triển, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức hiện tại, cùng một số kết quả kinh doanh từ năm
2006
Phân tích đánh giá môi trường bên trong CTCK bao gồm: Nguồn nhân lực, đối tượng khách hàng, khả năng nghiên cứu phát triển và tiếp thị khách hàng, năng lực sản xuất, khả năng tài chính, mô hình tổ chức quản lý, công nghệ Từ đó chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu làm cơ sở xây dựng chương 3 của để tài
Chương 3 Xây dựng chiến lược VSeC đến năm 2015 và các khuyến nghị
Xác định rõ mục tiêu dài hạn, sử dụng các công cụ ma trận SWOT để đưa ra các chiến lược, các kiến nghị, giải pháp thực hiện cụ thể cho VSeC Kết luận
Trang 10CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHỨNG KHOÁN VÀ
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1 Lý thuy ết cơ bản về chứng khoán
1 1.1 Khái niệm thị trường chứng khoán
TTCK được hiểu đơn giản là nơi trao đổi mua bán các chứng khoán hay các giấy tờ có giá Việc trao đổi mua bán này được thực hiện theo những quy tắc ấn định trước
1.1.2 Bản chất của thị trường chứng khoán
TTCK trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán trung và dài hạn Việc mua bán này được diễn ra ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu ở những người phát hành và ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp Như vậy, xét về hình thức, TTCK chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi các chủ thế lắm giữ chứng khoán Nhưng về bản chất thì:
- TTCK là nơi tập trung phân phối các nguồn vốn tiết kiệm Tập trung các nguồn tiết kiệm phân phối lại cho những ai muốn sử dụng các nguồn tiết kiệm
đó theo giá mà người sử dụng sẵn sàng trả và theo phán đoán của thị trường
về khả năng sinh lời từ các dự án của người sử dụng Chuyển từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh
- TTCK là định chế tài chính trực tiếp: Cả chủ thể cung và cầu đều tham gia vào thị trường một cách trực tiếp Ngược với cách tài trợ gián tiếp được thực
Trang 11hiện thông qua các trung gian tài chính, những người có vốn có khi có đủ điều kiện về môi trường tài chính, pháp lý sẽ trực tiếp đầu tư vào sản xuất, kinh doanh không cần qua các trung gian tài chính mà chuyển vốn thông qua thị trường dẫn vốn trực tiếp từ người có vốn sang người cần vốn theo nguyên tắc đầu tư
1.1.3 Chức năng của thị trường chứng khoán
A, Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư của công ty, TTCK đã có những tác động mạnh quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Thông qua TTCK, chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đính sử dụng và đầu
tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vục các nhu cầu chung của xã hội
B, Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn cho loại hàng hóa phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình Chính vì vậy, TTCK góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia
C, Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán (khả năng chuyển đổi thành tiền mặt)
Nhờ có thị trường các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán
mà họ sở hữu thành tiền mặt hoặc thành các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thành khoản là một trong những đặc tính hẫp dẫn của chứng
Trang 12khoán đối với nhà đầu tư TTCK họat động càng năng động và có hiệu quả thì càng có khả năng nâng cao tính thành khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường
D, Đánh giá hoạt động doanh nghiệp
Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của các doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kính thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm
E, Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
Các chỉ báo của chứng khoán phản ánh động thái của nền kính tế một cách nhậy bén và chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; và ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là công cụ quan trọng giúp chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô Thông qua TTCK, chính phủ có thể mua và bán trái phiếu chính phủ để tạo ra nguồn thu nhập bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát Ngoài ra, chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối nền kinh tế
“Nguồn: Thị trường chứng khoán phân tích cơ bản, NXB ĐH Kinh tế Quốc dân 2007”
1.2 Lý thuyết cơ bản về công ty chứng khoán
1.2.1 Khái n iệm công ty chứng khoán
Trang 13CTCK là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là bảo lãnh phát hành, môi giới, tự doanh và tư vấn đầu tư chứng khoán
Để có thể được thực hiện mỗi nghiệp vụ, các CTCK phải đảm bảo được một số vốn nhất định và phải được phép của cơ quan có thẩm quyền
1.2.2 Vai trò của công ty chứng khoán trong nền kinh tế
Vai trò của CTCK được xác định trên cơ sở các chức năng và trên cơ
sở các nhiệm vụ của nó Bởi chức năng là tính vốn có của CTCK và vai trò của CTCK cũng chính là sự vận dụng các chức năng đó vào hoạt động thực tiễn
CTCK là chiếc cầu nối và đồng thời là các kênh dẫn cho vốn chảy từ một hay một số bộ phận nào đó của nền kinh tế có dư thừa vốn (vốn nhàn rỗi) đến các bộ phận khác của nền kinh tế đang thiếu vốn (cần huy động vốn) Các CTCK thường đảm nhiệm vai trò này qua các hoạt động bảo lãnh phát hành
và môi giới chứng khoán
B, Vai trò cung cấp một cơ chế giá cả:
Thông qua các sở giao dịch CK và thị trường OTC, CTCK có chức năng cung cấp một cơ chế giá cả nhằm giúp nhà đầu tư có được sự đánh giá đúng thực tế và chính xác về giá trị khoản đầu tư của mình CTCK còn có chức năng quan trọng là can thiệp trên thị trường, góp phần điều tiết giá chứng khoán Theo quy định của các nước thì CTCK bắt buộc phải dành ra một tỷ lệ nhất định giao dịch của mình để mua chứng khoán vào khi giá chứng khoán trên thị trường đang giảm và bán ra khi giá chứng khoán cao
Trang 14C, Cung cấp một cơ chế chuyển ra tiền mặt:
CTCK đảm nhận được chức năng chuyển đổi tiền mặt thành chứng khoán có giá và ngược lại, giúp cho nhà đầu tư phải chịu ít thiệt hại nhất khi
tiến hành đầu tư
Các CTCK với đầu đủ các dịch vụ không chỉ thực hiện mệnh lệnh của khách hàng, mà còn tham gia vào nhiều dịch vụ tư vấn khách thông qua việc nghiên cứu thị trường rồi cung cấp các thông tin đó cho các công ty và các cá nhân đầu tư
Ngoài cổ phiếu (thường và ưu đãi) và trái phiếu đã được biết đến, các CTCK hiện nay còn bán trái phiếu chính phủ (trung ương và địa phương) chứng quyền, trái phiếu, các hợp đồng tương lai, hợp đồng lựa chọn và các sản phẩm lai tạo đa dạng khác phù hợp với thay đổi trên thị trường và môi trường kinh tế
1.3 Các hoạt động nghiệp vụ của Công ty chứng khoán
1.3 1 Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
1.3.1.1 Khái niệm
Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng khoán trong
đó một CTCK đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó
• Cung cấp dịch vụ với hai tư cách:
Trang 15- Nối liền khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư: cung cấp cho khách hàng các báo cáo nghiên cứu và các khuyến nghị đầu tư
- Nối liền những người bán và những người mua đem đến cho khách hàng tất cả các loại sản phẩm và dịch vụ tài chính
• Đáp ứng những nhu cầu tâm lý của khách hàng khi cần thiết: trở thành người bạn, người chia sẻ những lo âu căng thẳng và đưa ra những lời động viên kịp thời
• Khắc phục trạng thái cảm xúc quá mức (điển hình là sợ hãi và tham lam), để giúp khách hàng có những quyết định tỉnh táo
• Đề xuất thời điểm bán hàng
1.3.2 Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán
Tự doanh là việc CTCK tự tiến hành các giao dịch mua bán các chứng khoán cho chính mình
Hoạt động tự doanh của CTCK có thể được thực hiện trên các thị trường giao dịch tập trung (trung tâm giao dịch chứng khoán, sở giao dịch chứng khoán), hoặc trên thị trường OTC, v.v Trên thị trường giao dịch tập trung, lệnh giao dịch của các CTCK được đưa vào hệ thống và thực hiện tương tự như lệnh giao dịch của các khách hàng Trên thị trường OTC, các hoạt động này có thể được thực hiện trực tiếp giữa các công ty với đối tác hoặc thông qua một hệ thống mạng thông tin Tại một số nước, hoạt động tự doanh của các CTCK còn được thực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường (ví dụ ở Mỹ) Trong hoạt động này, CTCK đóng vai nhà tạo lập thị trường, nắm giữ một số lượng nhất định của một số loại chứng khoán và thực
Trang 16hiện mua bán với các khách hàng nhằm hưởng phí giao dịch và chênh lệnh giá
1.3.2.2 Mục đích của hoạt động tự doanh
Mục đính của hoạt động tự doanh của các CTCK nhằm thu lợi cho chính mình Tuy nhiên, để đảm bảo sự ổn định và tính minh bạch của thị trường, pháp luật các nước đều yêu cầu các CTCK khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định sau:
A, Điều kiện để hoạt động tự doanh vốn và con người
Vốn và con người là hai điều kiện cơ bản để thực hiện các nghiệp vụ trong kinh doanh chứng khoán Để thực hiện hoạt động tự doanh, các CTCK phải có đủ một số vốn nhất định theo quy định của pháp luật Việc quy định mức vốn trên nhằm mục đính đảm bảo rằng các CTCK thực sự có vốn và dùng vốn của họ để kinh doanh
Tương tự như vậy, con người cũng là yếu tố quyết định đến sự thành công của hoạt động tự doanh Kinh doanh chứng khoán là một lĩnh vực đặc thù có sự chi phối rất lớn của nhân tố con người và thông tin Nhân việc thực hiện nghiệp vụ tự doanh của công ty phải có một trình độ chuyên môn nhất định, có khả năng tự quyết cao và đặc biệt là tính nhậy cảm trong công việc
Tại một số nước (như Thái Lan, Mỹ), nhân viên tự doanh của CTCK phải đáp ứng được một số tiêu chuẩn nhất định như kinh nghiệm làm việc lâu năm trong ngành, phải có bằng thạc sỹ trở lên và phải có một số chứng chỉ chuyên môn nhất định
doanh
Trang 17Các CTCK phải có sự tách biệt giữa nghiệp vụ tự doanh và nghiệp vụ môi giới để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong hoạt động Sự tách bạch này bao gồm cả yếu tố con người và các quy trình nghiệp vụ
Các CTCK phải có đội ngũ nhân viên riêng biệt để thực hiện nghiệp vụ
tự doanh Các nhân viên này phải hoàn toàn tách biệt với bộ phận môi giới Tại một số nước (như Thái Lan), các CTCK thực hiện hoạt động tự doanh còn phải tuân thủ nguyên tắc phân chia ranh giới một cách rõ ràng Các nhân viên của bộ phận này không được phép trao đổi hay sang khu vực làm việc của bộ phận khác
Bên cạnh đó, các CTCK còn phải đảm bảo sự tách bạch về tài sản của khách hàng với tài sản của chính công ty
B Ưu tiên khách hàng
Pháp luật hầu hết các nước đều yêu cầu CTCK phải tuân thủ nguyên tắc
ưu tiên cho khách hàng khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh Điều đó có nghĩa là lệnh giao dịch của khách hàng phải được xử lý trước lệnh tự doanh của Công
ty Nguyên tắc này đảm bảo sự công bằng cho các khách hàng trong quá trình giao dịch chứng khoán Do có tính đặc thù về khả năng tiếp cận thông tin và chủ động trên thị trường nên các CTCK có thể sẽ dự đoán trước được diễn biến của thị trường và sẽ mua hoặc bán tranh của khách hàng nếu không có nguyên tắc trên
C Bình ổn thị trường
Do tính đặc thù của thì trường chứng khoán, đặc biệt là TTCK mới nổi, bao gồm chủ yếu các nhà đầu tư cá nhân, nhỏ lẻ thì tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư chưa cao Điều này rất dễ dẫn đến biến động bất thường trên thị trường Vì vậy, các nhà đầu tư lớn, chuyên nghiệp rất cần thiết để làm tín hiệu hướng dẫn cho toàn bộ thị trường Bên cạnh hoạt động của các quỹ đầu
Trang 18tư chứng khoán, các CTCK với khả năng chuyên môn và nguồn vốn lớn của mình có thể thông qua hoạt động tự doanh góp phần rất lớn trong việc điều tiết cung cầu, bình ổn giá cả của các loại chứng khoán trên thị trường Thông thường chức năng bình ổn giá cả không phải là một quy định bắt buộc trong
hệ thống pháp luật các nước, tuy nhiên đây thường là nguyên tắc nghề nghiệp
do các hiệp hội chứng khoán đặt ra trên thị trường và các CTCK phải tuân thủ theo trong quá trình hoạt động
Bên cạnh đó, các CTCK còn phải tuân thủ một số quy định khác như các giới hạn về đầu tư, lĩnh vực đầu tư,.v.v Mục đính của các quy định này
là nhằm đảm bảo một độ an toàn nhất định cho các CTCK trong quá trình hoạt động, tránh những sự đổ vỡ gây thiệt hại chung cho cả thị trường
“Nguồn: Những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán, UBCKNN 2002”
1.3 3 Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán
Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành
để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng
1.3.3.2 Các phương thức bảo lãnh phát hành
Việc bảo lãnh phát hành thường được thực hiện theo một trong các phương thức sau:
Trang 19Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ
chức bảo lãnh cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có phân phối được hết chứng khoán hay không Trong hình thức bảo lãnh tổ hợp theo "cam kết chắc chắn", một nhóm các tổ chức bảo lãnh hình thành một tổ hợp để mua chứng khoán của tổ chức phát hành với giá chiết khấu so với giá chào bán ra công chúng (Public offering price) (POP) và bán lại các chứng khoán đó ra công chúng theo giá POP Chênh lệch giữa giá mua chứng khoán của các tổ chức bảo lãnh và giá chào bán ra công chúng được gọi là hoa hồng chiết khấu
Bảo lãnh theo phương thức dự phòng: đây là phương thức thường được áp
dụng khi một công ty đại chúng phát hành bổ sung thêm cổ phiếu thường ở các nước phát triển Trong trường hợp đó, công ty cần phải bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện hữu, và như vậy, công ty phải chào bán cổ phiếu bổ sung cho các cổ đông cũ trước khi chào bán ra công chúng bên ngoài Dĩ nhiên, sẽ có một số cổ đông không muốn mua thêm cổ phiếu của công ty Do vậy, công ty cần có một tổ chức bảo lãnh dự phòng sẵn sàng mua những quyền mua không được thực hiện và chuyển thành những cổ phiếu để phân phối ra ngoài công chúng Có thể nói, bảo lãnh theo phương thức dự phòng là việc tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua nốt số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành và bán lại ra công chúng Tại các nước đang phát triển, khi các tổ chức bảo lãnh còn non trẻ và chưa có tiềm lực lớn thì phương thức bảo lãnh phát hành dự phòng lại là phương thức bảo lãnh thông dụng nhất
Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức
bảo lãnh tổ chức bảo lãnh thoả thuận làm đại lý cho tổ chức phát hành Tổ chức bảo lãnh không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố
Trang 20gắng hết sức để bán chứng khoán ra thị trường, nhưng nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành phần còn lại
Bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không: trong phương thức này,
tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán một số lượng chứng khoán nhất định, nếu không phân phối được hết sẽ huỷ toàn bộ đợt phát hành
Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu - tối đa: là phương thức trung gian giữa
phương thức bảo lãnh với cố gắng cao nhất và phương thức bảo lãnh bán tất
cả hoặc không Theo phương thức này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoán nhất định (mức sàn) Vượt trên mức
ấy, tổ chức bảo lãnh được tự do chào bán chứng khoán đến mức tối đa quy định (mức trần) Nếu lượng chứng khoán bán được đạt tỷ lệ thấp hơn mức yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị huỷ bỏ “Nguồn: http://www.scc.gov.vn”
1.3.4 Nghiệp vụ tư vấn đầu tư
Trang 21phải là đối tượng quản lý, trừ phi đó là những lời khuyên thất thiệt nhằm lũng đoạn thị trường và kiếm lợi cho bản thân
1.3.4.2 Phân loại tư vấn đầu tư
Để hiểu rõ về hoạt động tư vấn chứng khoán, có thể phân loại các hoạt động này theo một số tiêu chí sau:
A, Theo hình thức của hoạt động tư vấn
có thể gồm:
- Tư vấn trực tiếp: Tức là khách hàng có thể gặp gỡ trực tiếp với nhà tư vấn
hoặc sử dụng các phương tiện truyền thông như điện thoại, fax để hỏi ý kiến
- Tư vấn gián tiếp: Là cách người tư vấn xuất bản các ấn phẩm hay đưa thông
tin lên những phương tiện truyền thông như internet để bất kỳ khách hàng nào cũng có thể tiếp cận được nếu muốn
B, Theo mức độ ủy quyền của hoạt động tư vấn
- Tư vấn gợi ý: Ở mức độ này, người tư vấn chỉ có quyền nêu ý kiến của mình
về những diễn biến trên thị trường, gợi ý cho khách hàng về những phương pháp, cách thức xử lý nhưng quyền quyết định là ở khách hàng
- Tư vấn ủy quyền: Với nghiệp vụ này, nhà tư vấn tư vấn và quyết định hộ
khách hàng theo mức độ ủy quyền của khách hàng
- Tư vấn cho người phát hành: Hoạt động tư vấn cho người phát hành tương
đối đa dạng, từ việc phân tích tình hình tài chính đến đánh giá giá trị của doanh nghiệp, tư vấn về chứng khoán phát hành hay giúp công ty phát hành
cơ cấu lại nguồn vốn, thâu tóm hay sáp nhập với công ty khác
Trang 22- Tư vấn đầu tư: Là hoạt động tư vấn cho người đầu tư về thời gian mua bán,
nắm giữ, giá trị của các loại chứng khoán, các diễn biến của thị trường
Các cách phân loại hoạt động tư vấn như vậy đan xen vào nhau và làm nên tính phong phú của hoạt động này Muốn đi sâu hơn vào từng hoạt động một ta có thể đi theo cách phân loại thứ 3, từ đó có cái nhìn tổng quan đối với toàn bộ nghiệp vụ
A, Điều kiện về vốn và nhân sự
Vì hoạt động tư vấn là hoạt động kinh doanh hiểu biết nên các yêu cầu
về vốn tối thiều đối với hoạt động này là không lớn, lượng vốn với nghiệp vụ này chỉ cần đủ để duy trì các hoạt động bình thường của công ty như thuê văn phòng, trả lương nhân viên, chi phí hành chính khác Với Việt Nam, vốn quy định với hoạt động này là 10 tỷ đồng “Nguồn: Theo Điều 18, chương IV, Nghị định 14(NĐ14/07CP)” Với nhiều nước phát triển như Mỹ, do tính chất của nghiệp vụ này, các công ty chuyên hoạt động tư vấn phải là các công ty trách nhiệm vô hạn, tức là được tổ chức theo hình thức doanh nghiệp tư nhân hay phổ biến hơn là công ty hợp danh Tuy nhiên, ở nhiều nước đang phát triển, các công ty này vẫn có thể là các công ty TNHH
Tuy các điều kiện về vốn không lớn nhưng các điều kiện yêu cầu về nhân sự lại rất chặt chẽ Những người làm công tác tư vấn phải có kiến thức chuyên môn rất sâu trong lĩnh vực của mình Riêng đối với ngành chứng khoán, họ phải có giấy phép hành nghề tư vấn chứng khoán với các yêu cầu cao hơn những người chỉ làm môi giới thông thường Những yêu cầu này có thể bao hồm các loại bằng cấp như tối thiểu phải tốt nghiệp đại học và phải vượt qua một số kỳ thi do ngành chứng khoán tổ chức Thường đó là kỳ kiểm tra của hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán Riêng Việt Nam, trong thời
Trang 23gian đầu, do chưa thể có hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán nên để xây dựng thị trường, UBCKNN sẽ là cơ quan chịu trách nhiệm đào tạo nhân lực cho ngành chứng khoán thông qua Trung tâm đào tạo của mình
B, Nguyên tắc:
Hoạt động tư vấn là việc người tư vấn sử dụng kiến thức, đó chính là vốn họ bỏ ra kinh doanh, nhưng những báo cáo phân tích của họ lại có tác động tâm lý rất lớn đến người được tư vấn và có thể làm cho người được tư vấn hưởng lợi hay bị thiệt hại Nhà tư vấn phải luôn là những người thận trọng khi đưa ra những lời bình luận về giá trị của các loại chứng khoán; nếu người đầu tư có lợi, kiếm được tiền từ những lời tư vấn này thì họ sẽ vui mừng nhưng nếu họ bị thiệt hại thì họ sẽ tìm kiếm các nhà tư vấn để phàn nàn, thậm chí bắt bồi thường Do vậy, khi hành động, nhà tư vấn cần đặt ra và tuân theo một số nguyên tắc nhất định, tối thiểu như sau:
+ Không đảm bảo chắc chắn về giá trị của chứng khoán: giá trị chứng khoán không phải là một số cố định nó luôn thay đổi theo các yếu tố kinh tế
và tâm lý Giá trị của chứng khoán là tổng hợp quan niệm của các nhà đầu tư
về loại chứng khoán đó, do vậy nó có thể thay đổi liên tục cùng với những thay đổi trong nhận định của các nhà đầu tư
+ Luôn nhắc nhở khách hàng rằng những lời tư vấn của mình có thể là không hoàn toàn chính xác và khách hàng cần biết rằng nhà tư vấn sẽ không chịu trách nhiệm về những lời khuyên đó
+ Không được dụ dỗ, mời gọi khách hàng mua hay bán một loại chứng khoán nào đó, những lời tư vấn phải được xuất phát từ những cơ sở khách quan là sự phân tích tổng hợp một cách logic, khoa học
Trang 241.3.4.4 Hoạt động nghiệp vụ
A, Tư vấn cho người phát hành
1- Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp
Nhà tư vấn chứng khoán là chuyên gia đánh giá về tình hình tài chính doanh nghiệp, họ phân tích các loại chứng khoán chủ yếu bằng phương pháp đánh giá tình hình tài chính của người phát hành chứng khoán đó Do vậy,
việc phân tích tình hình tài chính của các nhà tư vấn sẽ giúp doanh nghiệp nhận thức đúng được chính mình, từ đó có các biện pháp cải thiện tình hình Giúp người phát hành xác định chính xác giá trị của doanh nghiệp: Là việc xác định các tài sản hữu hình như máy móc nhà xưởng và các loại tài sản vô hình như uy tín, nhãn hiệu thương mại, bằng phát minh sáng chế Đây
là một công việc khó khăn, phức tạp Việc xác định giá trị các tài sản hữu hình như máy móc, thiết bị có thể không khó khăn lắm trong điều kiện các thị trường máy móc thiết bị cũ hoạt động mạnh, mặc dù nếu các loại máy móc đó
là những thiết bị đặc chủng thì việc xác định cũng sẽ có những nguyên tắc nhất định Vấn đề trở nên phức tạp hơn ta xác định giá trị các tài sản vô hình Các bằng phát minh sáng chế, các nhãn hiệu thương mại luôn được định giá khác nhau tùy từng người mua
Xác định giá trị doanh nghiệp là khâu quan trọng trước khi phát hành chứng khoán vì nó dùng để định giá chứng khoán phát hành, đặc biệt là khi doanh nghiệp mới phát hành chứng khoán ra công chúng lần đầu Thông thường, trước khi doanh nghiệp thống nhất định giá, các CTCK sẽ thăm dò tình hình thị trường, tìm hiểu sự ưa thích và quan điểm giá cả của những người mua tiềm năng đối với loại chứng khoán đó
2- Tư vấn về loại chứng khoán phát hành
Trang 25Tùy theo điều kiện cụ thể mà xác định doanh nghiệp đó nên phát hành cổ phiếu hay trái phiếu
Nếu phát hành cổ phiếu thì cần phải theo dõi thái độ của các cổ đông hiện thời vì tỷ lệ sở hữu của họ có thể bị giảm đi trong doanh nghiệp Tuy nhiên, tỷ lệ sở hữu chỉ có ảnh hưởng với những cổ đông đang nắm quyền kiểm soát còn với những người coi cổ phiếu chỉ đơn giản là một khoản đầu tư thì lại vui mừng vì điều này Nếu cổ phiếu của một doanh nghiệp phát hành rộng rãi cho công chúng thì công ty sẽ thu được nhiều điều lợi về bản thân các
cổ đông cũng có lợi không ít Khi cổ phiếu được phát hành rộng dãi thì thông thường giá cả của chúng tăng lên, đồng thời lại có một thị trường cho cổ phiếu đó, giúp những người đầu tư có thể thu hồi vốn dễ dàng bằng cách bán lại cổ phiếu của mình
Trong trường hợp doanh nghiệp quyết định phát hành trái phiếu thì việc xác định mức tín nhiệm là công việc bắt buộc Các nhà tư vấn có thể giúp doanh nghiệp xác định mức tín nhiệm trên cơ sở khả năng trả nợ Các công ty
có mức tín nhiệm càng cao có khả năng phát hành trái phiếu với lãi suất thấp
và dẽ dàng thu hút những người đầu tư
Quá trình xác định mức tín nhiệm là một quá trình phức tạp Nhà tư vấn phải xem xét mọi khía cạnh liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, nhất là các dòng tiền thu nhập này Việc xem xét còn phải dựa vào quá khứ và triển vọng tương lai của doanh nghiệp Vì việc xác định mức tín nhiệm có liên quan rất lớn đến chi phí vay vốn của các doanh nghiệp nên uy tín của nhà đầu tư là vô cùng quan trọng Người ta chỉ tin theo những nhà tư vấn có uy tín, có kinh nghiệm và luôn nhìn nhận sự việc một cách khách quan Một sự đánh giá sai lệnh của nhà tư vấn sẽ làm cho thị trường có cách
Trang 26nhìn không đúng về một nhà phát hành, về một chứng khoán nào đó, và có thể dẫn đến những diễn biến không tốt trong tâm lý của nhà đầu tư
4- Tư vấn tái cơ cấu nguồn vốn: Khi một doanh nghiệp nhận thấy, hay thông qua quá trình tư vấn mà nhận thấy cơ cấu vốn của mình không phù hợp với các điều kiện kinh doanh hiện tại, không phù hợp với ngành nghề của họ sẽ tìm cách tái cơ cấu nguồn vốn để nâng cao hiệu quả và đảm bảo kinh doanh
an toàn Trong trường hợp này, CTCK là đối tác thích hợp vì nó là nhà chuyên môn trong lĩnh vực tài chính
5- Tư vấn hợp nhất doanh nghiệp: Khi một doanh nghiệp muốn thâu tóm doanh nghiệp khác hay hợp nhất với một doanh nghiệp khác, nó sẽ tìm đến một CTCK để nhờ trợ giúp các vấn đề kỹ thuật, phương pháp tiến hành thế nào là phù hợp và đỡ tốn kém chi phí, cách thức cơ cấu nguồn vốn sau khi sát nhập Ở các nước, hoạt động tư vấn này rất phát triển vì nó xuất phát từ nhu cầu thực tế của hoạt động kinh doanh
6- Tư vấn đầu tư: Đây là hoạt động rất phổ biến trên thị trường thứ cấp, nó diễn ra hàng ngày, hàng giờ, dưới nhiều hình thức khác nhau Đó có thể là những lời khuyên hay những bản tin, những bài phân tích hoặc những hợp đồng dịch vụ Mỗi hình thức đều có những đặc điểm riêng, và việc thực hiện
và giám sát mỗi hình thức này lại có những tính chất khác nhau Để rõ hơn về vấn đề này, ta có thể đi vào từng hoạt động cụ thể:
- Tư vấn trực tiếp:
Hoạt động này thường diễn ra cùng với hoạt động môi giới Khi khách hàng gọi điện thoại tới cho nhà môi giới, thường người ta sẽ hỏi rằng: “Giá cả hôm nay như thế nào” và sau khi nghe trả lời, họ có thể muốn quan điểm của nhà môi giới về xu hướng giá cả Trong trường hợp này, nhà môi giới không được phép đánh giá về xu hướng giá cả của chứng khoán mà chỉ được nêu
Trang 27những sự kiện thực tế đã diễn ra một cách trung thực hỗ trợ cho nhà đầu tư muốn mua bán bằng cách khuyên người đầu tư về mức giá đặt hợp lý để có thể mua bán được
Việc quản lý hoạt động này vô cùng khó khăn vì rất khó tìm được bằng chứng về các hành vi tư vấn của nhà môi giới, đồng thời có thể hoạt động tư vấn mà không cần có giấy phép Điều đó có thể dẫn đến những lỏng lẻo về chất lượng của hoạt động tư vấn, gây nên những mâu thuẫn giữa việc quản lý
và thực tế hoạt động của công ty môi giới
Hơn nữa, nghiệp vụ tư vấn loại này có những mâu thuẫn với hoạt động tự doanh Nếu không tách biệt các hoạt động này trong cùng một công ty thì có thẻ nhà môi giới nếu càn bán một lại chứng khoán nào đó thì sẽ khuyên nhà hàng nào mua vào, còn nếu họ cần mua thì lại khuyên khách hàng bán ra
- Cung cấp thông tin và đánh giá tình hình:
Trước đây việc cung cấp thông tin được hiểu là việc phát hành các bản tin dưới hình thức giấy tờ Ngày nay, với những tiến bộ của công nghệ thông tin hiện đại, việc cung cấp thông tin có thể dưới hình thức giấy tờ, có thể là qua phương tiện truyền thông, đặc biệt là internet
Các bản tin này có lúc chỉ đơn giản là đưa ra những con số biến động giá cả: các báo cáo tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh của các công ty niêm yết Tuy nhiên, để các bản tin hấp dẫn hơn, người ta thường có kèm những lời phân tích và đánh giá tình hình thị trường, tình hình giá cả của các loại chứng khoán Người ta có thể dùng lời văn hay những biểu đồ phân tích, những biểu
đồ này thường được xây dựng theo những lý thuyết trường nhất định hoặc theo những đánh giá riêng của từng nhà tư vấn
1.4 Cơ sở lý luận về xây dựng chiến lược
Trang 281.4 1 Những vấn đề chung về chiến lược
Chiến lược ngày nay đã thâm nhập vào hầu hết tất cả các lĩnh vực khác như chính trị, văn hoá xã hội, ngoại giao, khoa học môi trường Trong lĩnh vực kinh tế thì lý thuyết về quản trị chiến lược ra đời muộn hơn, song đến giữa thập niên 70 của thế kỷ 20 thì tư tưởng về quản trị chiến lược đã được hệ thống hoá để tạo thành các quan điểm chiến lược dựa trên cơ sở phân tích khoa học thực sự theo đúng yêu cầu cạnh tranh trong các hoạt động kinh doanh hiện đại, với tư tưởng chính là xác định đúng mục tiêu, phát triển tốt các biện pháp để đạt được chúng, theo đuổi các cơ hội có khả năng thành công vào bất cứ lúc nào khi nó xuất hiện Bất kể một lĩnh vực, một ngành kinh doanh nào để đạt được sự thành công trong sự phát triển cũng đã vận dụng một hình thức chiến lược nào đó một cách năng động và lĩnh vực dựa trên cơ sở các kỹ thuật phân tích môi trường và hoạch định chiến lược căn cứ vào mô hình toán học và ma trận kinh doanh, phương pháp xác định vị trí canh tranh chiến lược của Michael.E.Porter
Ngày nay quản trị chiến lược đã trở thành một nhiệm vụ hàng đầu, một nội dung quan trọng trong quản lý các lĩnh vực ngành, doanh nghiệp đã và đang được áp dụng rộng rãi trên hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển
Đối với Việt Nam để có sự thành công trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, đuổi kịp nền kinh tế trong khu vực và thế giới thì
lý thuyết và kinh nghiệm quản lý chiến lược được phổ cập tới từng ngành, từng doanh nghiệp là vấn đề cấp thiết
Thuật ngữ chiến lược được các nhà kinh tế mô tả và quan niệm theo nhiều khía cạnh khác nhau Tiếp cận về khía cạnh cạnh tranh Một nhóm tác
Trang 29giả có quan điểm coi chiến lược là nghệ thuật giành thắng lợi trong cạnh tranh
- Theo Michael E Porter: “Chiến lược kinh doanh là một nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ”
- Theo K Ohmae: “Mục đích của chiến lược là mang những điều thuận lợi nhất cho mọi phía, đánh giá thời điểm tấn công hoặc rút lui, xác định đúng ranh giới của sự thoả hiệp” và ông nhấn mạnh “không có đối thủ cạnh tranh thì không cần chiến lược, mục đích duy nhất của chiến lược là đảm bảo giành thắng lợi bền vững với đối thủ cạnh tranh”
- Theo James B Quinn: “Chiến lược là một dạng thức hoặc một kế
hoạch phối hợp các mục tiêu, các chính sách và trình tự hành động thành một tổng thể kết dính với nhau”
- Theo William.J.Gluech: “Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, toàn diện và phối hợp, được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu
cơ bản của ngành được thực hiện”
Các quan điểm này đều coi chiến lược là một tập hợp các kế hoạch chiến lược làm cơ sở hướng dẫn các hoạt động để ngành hay tổ chức, doanh nghiệp nào đó đạt được mục tiêu đã xác định Như vậy có thể hiểu chiến lược phát triển của ngành hay tổ chức, doanh nghiệp nào đó một cách chung nhất: là công việc ấn định các nhiệm vụ và hệ thống các mục tiêu dài hạn, lựa chọn và đưa ra các kế hoạch mang tính toàn bộ, chính sách phù hợp với xu thế biến động của môi trường, phối hợp và phát huy tối đa các nguồn lực để giành thắng lợi trong cạnh tranh và đạt được các mục tiêu đề ra Sự khác nhau giữa quyết định chiến lược và quyết định tác nghiệp “Nguồn: Michael
El.Porter(1996), C hiến lược cạnh tranh, NXB KHKT”
Trang 30Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa quyết định chiến lược và quyết định tác
nghiệp
Chỉ tiêu Quyết định chiến luợc Quyết định tác nghiệp
1 Thời gian - Dài hạn - Ngắn hạn
2 Mục đích
- Xác định vị thế của tổ chức
đó trên thị trường, xác định khả năng phát triển
- Phát hiện khai thác khả năng có thể
3 Thông tin - Nguồn thông tin đa dạng
- Tác dụng cục bộ, khía cạnh, từng chức năng, bộ phận
Bảng 1.2: Sự khác nhau giữa chiến lược và chính sách
Chỉ tiêu so sánh Chiến lược Chính sách
1 Khái niệm - tiêu dài hạn Xác định hướng đi và mục - các mục tiêu Phương tiện để đạt được
2 Nội dung
- Chương trình hành động tổng quát tạo cơ sở cho việc hình thành các chính sách
- Cách thức hướng dẫn lối trong phân bổ nguồn lực, tồn tại dưới dạng bảng hướng dẫn, quy tắc, thủ tục
“Nguồn: Bài giảng quản lý chiến lược, ĐHBK Hà Nội”
Chiến lược khác với kế hoạch, chương trình và dự án: Phần lớn các
nhà kinh tế đều cho rằng các chiến lược, kế hoạch, chương trình và dự án đều
Trang 31thuộc phạm trù kế hoạch hoá Tuy nhiên giữa chiến lược với kế hoạch, chương trình, dự án đều có những điểm khác biệt
Chiến lược là phương châm, kế hoạch chung nhất, xác định mục tiêu
chủ yếu, hướng tới nắm bắt được những tình huống, nghiên cứu các triển vọng, lựa chọn các mục tiêu và cơ sở tiềm năng dễ tính toán cho nhiều năm sau Sử dụng các phương tiện kỹ thuật các phương pháp phân tích cũng như tổng hợp các khả năng, thực hiện các ý tưởng đề ra, đồng thời tập hợp lại các thông tin cần thiết cho quá trình này Mong muốn tạo ra sự thích ứng liên tục giữa các lĩnh vực các phương pháp hành động và cương lĩnh, tình trạng ngoại cảnh của ngành, sức cạnh tranh của ngành
Kế hoạch và chính sách là phương tiện để thực hiện các định hướng
chiến lược, kế hoạch nhằm vào việc thực hiện các chương trình quản lý triển khai chiến lược trong từng khoảng thời gian nhất định
Trong nền kinh tế hàng hoá tập trung, phát triển kinh tế ngành cũng như hoạt động kinh tế khác đều đặt dưới sự chỉ đạo của nhà nước về mọi phương diện: từ định hướng kinh tế, chỉ tiêu phát triển và hiệu quả kinh tế Nhưng trong nền kinh tế thị trường, với sự tồn tại của nhiều thành phần kinh
tế và sự ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau tới hoạt động của ngành tuỳ theo thời gian và không gian cụ thể, thì nhà nước chỉ quản lý các ngành trên phương diện định hướng phát triển, đó là các định hướng chiến lược Quan hệ giữa chiến lược và kế hoạch thể hiện ở sơ đồ 1.1
Trang 32Sơ đồ 1.1: Quan hệ hữu cơ giữa ý đồ chiến lược với kế hoạch
“ Nguồn: Bài giảng quản lý chiến lược, ĐHBK Hà Nội”
1.4.1.3 Phân loại chiến lược
nét đặc trưng cơ bản chung sau:
Xác định rõ mục tiêu cơ bản mà doanh nghiệp đó cần phải đạt được trong từng thời kỳ và phải quán triệt ở mọi cấp trong tổ chức, ở mọi hoạt động của doanh nghiệp Đảm bảo huy động tối đa và kết hợp tối ưu việc khai thác,
sử dụng các nguồn lực nhằm phát huy lợi thế trong cạnh tranh
Chiến lược được phản ánh trong một quá trình liên tục từ xây dựng đến thực hiện, đánh giá kiểm tra và điều chỉnh chiến lược Chiến lược phát triển xây dựng và được thực hiện trong một khoảng thời gian tương đối dài
Kế hoạch theo thời gian
Kế hoạch theo thời gian
Chương trình
Dự án
Kế hoạch ngắn hạn
Kế hoạch dài hạn
Định hướng chiến lược Suy ngh ĩ
chi ến lược
Trang 33Phân loại chiến lược: Để thực hiện quản lý chiến lược một cách hiệu
quả các nhà chiến lược thường tiến hành phân loại chiến lược căn cứ vào
nhiều tiêu thức khác nhau
Căn cứ vào mục tiêu chiến lược: chiến lược được chia thành các loại
sau:
vào phát triển một hoặc một vài SBU (SBF) mà doanh nghiệp tự chủ về công nghệ và có nhiều ưu thế về nguồn lực và vị thế cạnh tranh
Các hình thức chiến lược tăng trưởng tập trung
+ Chiến lược thâm nhập thị trường
+ Chiến lược phát triển thị trường
+ Chiến lược cải tiến sản phẩm
cách tăng cường sự kiểm soát hoặc nắm quyền sở hữu của một hoặc một số doanh nghiệp khác
Các hình thức chiến lược tăng trưởng hội nhập
+ Tăng trưởng hội nhập dọc
+ Hội nhập hướng trên
+ Hội nhập dọc hướng dưới
+ Tăng trưởng hội nhập ngang
cách thâm nhập vào một SBU hoặc SBF mới
Các hình thức chiến lược tăng trưởng dạng hoá
+ Theo đối tượng phát triển:
* Đa dạng hoá sản phẩm
* Đa dạng hoá thị trường
* Đa dạng hoá công nghệ (nguồn lực)
Trang 34* Đa dạng hoá hoàn toàn
Các hình thức chiến lược suy giảm:
+ Chiến lược cắt giảm chi phí
+ Chiến lược thu hoạch
+ Chiến lược thu vốn đầu tư
+ Chiến lược giải thể
Căn cứ vào theo phương thức: chiến lược được chia thành các loại sau:
- Chiến lược tăng trong
- Chiến lược tăng ngoài
Như vậy tuỳ thuộc vào từng qui mô, kết cấu tổ chức, doanh nghiệp để lựa chọn mô hình chiến lược phù hợp Mỗi đơn vị cụ thể tuỳ thuộc phạm vi, mục tiêu để xây dựng chiến lược nhằm giành được lợi thế nhất định trong cạnh tranh
1.4.2 Ý nghĩa của quản trị chiến lược
Quản trị chiến lược là quá trình quản lý thực sự có nhiều ý nghĩa trong mọi hoạt động của tổ chức Quản trị chiến lược giúp cho các tổ chức thấy rõ các mục đích hướng đi làm cở sở cho việc xác định xem ngành hay tổ chức của mình phải kinh doanh theo hướng nào? Khi nào đạt được mục tiêu?
- Trên cơ sở quản trị chiến lược giúp cho các tổ chức nhận thức được những cơ hội những nguy cơ trong tương lai để có thể thích nghi bằng cách
Trang 35tối thiểu hoá tác động xấu của môi trường, tận dụng tối đa tất cả các cơ hội khi nó xuất hiện
- Quản trị chiến lược tạo ra thế chủ động cho các ngành, các tổ chức, doanh nghiệp chỉ phản ứng lại môi trường, thậm chí có thể thay đổi cả môi trưòng trên cơ sở tạo ảnh hưởng, dự đoán trước và tạo môi trường
- Quản trị chiến lược nhằm khuyến khích các tổ chức kinh tế, nghĩ về
sự phát triển trong tương lai, phát huy sự năng động sáng tạo, ngăn chặn những tư tưỏng chống đối sự thay đổi, làm rõ trách nhiệm cá nhân, tăng cường ý thức tập thể
- Quản trị chiến lược giúp nâng cao vị thế cạnh tranh, cải thiện chỉ tiêu
về doanh số, năng suất, lợi nhuận, nâng cao giá trị, uy tín của các tổ chức, nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên, đảm bảo các tổ chức đó phát triển một cách bền vững
1.4.3 Các yêu cầu của chiến lược kinh doanh của công ty chứng khoán
Chiến lược kinh doanh của CTCK là hoạt động đòi hỏi khi xây dựng phải đảm bảo đầy đủ các yêu cầu sau:
- Xây dựng chiến lược kinh doanh cho CTCK phải đạt các mục đích tăng thế và lực của CTCK và giành lợi thế cạnh tranh so với đối thủ trên thị trường
- Xây dựng chiến lược kinh doanh phải đảm bảo an toàn cho CTCK trong quá trình phát triển, tránh những rủi ro hiểm hoạ của tác nhân môi trường
- Chiến lược kinh doanh để thực thi trong tương lai, mà tương lai là những gì không chắc chắn Do đó phải có các chiến lược dự phòng, phải tính đến những khả năng xấu nhất mà tổ chức, CTCK có thể gặp phải Chiến lược
dự phòng là chiến lược thay thế có thể ứng phó nhanh nhạy với những thay đổi và hạn chế tới mức thấp nhất tác hại của rủi ro
Trang 36- Phải xác định được mục tiêu phạm vi kinh doanh và các điều kiện cơ bản nhất để thực hiện mục tiêu
- Phải dự đoán được môi trường phát triển trong tương lai
- Phải kết hợp giữa độ hoàn hảo của chiến lược với thời cơ xuất hiện,
nếu quá cầu toàn để mất thời cơ khi có cơ hội, ngược lại nếu xây dựng chiến lược không cẩn thận sẽ cầm chắc sự thất bại Điều này đòi hỏi nhà quản trị phải nhanh nhạy và quyết đoán
- Khi xây dựng chiến lược kinh doanh, nhất là trong điều kiện nền kinh
tế thị trường hiện nay đòi hỏi mỗi chiến lược phải căn cứ vào cung và cầu trên thị trường Điều đó phụ thuộc vào khả năng của CTCK trong nguồn lực nội
bộ, mà các mặt mạnh phải khai thác triệt để nhằm phát huy lợi thế cạnh tranh
1.4.4 Quá trình hoạch định chiến lược
Hoạch định chiến lược là phát triển mục tiêu tổng quát cuối cùng, chủ trương hoạt động chính, các chính sách huy động nguồn lực chủ yếu trên cơ
sở dự báo những thay đổi của môi trường, thị trường và tương quan thế lực giữa tổ chức với các đối thủ cạnh tranh trong tương lai Khi xây dựng chiến lược kinh doanh phải dựa vào 3 yếu tố chính sau: Môi trường, nội bộ công ty
và lãnh đạo
- Môi trường là yếu tố tạo cơ hội và mối đe doạ
- Nội bộ công ty là yếu tố nội bộ tạo mặt mạnh và yếu
- Lãnh đạo thể hiện giá trị mong muốn của họ là lợi nhuận, quyền lực hay sự an toàn
Như vậy chiến lược thực tế là sự kết hợp của 3 yếu tố: môi trường, nguồn lực nội bộ và xây dựng chiến lược gồm 3 bước chính sau
- Xác định chức năng, nhiệm vụ và hệ thống mục tiêu dài hạn của CTCK
Trang 37- Chuẩn đoán chiến lược bao gồm chuẩn đoán trong và chuẩn đoán ngoài
- Ra các phương án khả thi và lựa chọn chiến lược phù hợp
1.4.5 Nhiệm vụ và hệ thống mục tiêu chiến lược
Nhiệm vụ chiến lược là một lời tuyên bố cố định có tính chất lâu dài về mục đích của CTCK Các tuyên bố này có thể là: nguyên tắc phát triển, mục đích tổ chức, mong muốn khát vọng của CTCK Trên cơ sở đó xác định các lĩnh vực phát triển, xác định nghề chính, mục tiêu, nhu cầu thị trường, công nghệ Khi xác định nhiệm vụ chiến lược cần xác định rõ các nội dung kinh doanh trong CTCK vì những lý do: Ngành kinh doanh cũng giống như sản phẩm cũng có chu kỳ sống, có thể tồn tại phát triển và mất đi…Xác định sản
phẩm kinh doanh dựa trên khả năng đặc biệt của CTCK, khả năng kỹ thuật, con người, thương mại, tài chính…Mỗi một nội dung phát triển bao gồm một tập hợp các hoạt động của CTCK Việc phát triển qui mô phát triển tuỳ thuộc vào môi trường để đảm bảo phát huy mọi nguồn lực kinh tế với tiềm năng của CTCK
Mục tiêu là toàn bộ các “kết quả cuối cùng” mà tổ chức mong muốn đạt được Hay nói cách khác mục tiêu là những kết quả kỳ vọng của tổ chức, nó
là biểu hiện của:
- Ý nguyện và hoài bão
- Kết quả và các mục đích dài hạn
- Mục đích ngắn hạn
- Chỉ tiêu kế hoạch
- Kết quả công tác
Trang 38Hệ thống mục tiêu là tập hợp các mục tiêu đặt ra để thực hiện trong một thời kỳ nào đó Đối với hoạt động kinh doanh của CTCK: mục tiêu chính
là phát triển toàn diện, bền vững tăng thị phần trên thị trường, tạo thế cạnh tranh, cải thiện nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, phát triển việc làm, cải tiến công nghệ và thực hiện trách nhiệm xã hội của CTCK giống như mục tiêu của bất kỳ một tổ chức kinh tế nào khác Hệ thống mục tiêu có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau và chủ yếu là xác định đúng cương lĩnh và mục tiêu chủ đạo phát triển ngành, doanh nghiệp
- Căn cứ vào mục tiêu thời gian có 2 dạng:
+ Mục tiêu dài hạn + Mục tiêu ngắn hạn
- Căn cứ vào yếu tố tăng trưởng của CTCK :
+ Mục tiêu tăng trưởng nhanh + Mục tiêu tăng trưởng ổn định + Mục tiêu suy giảm
- Căn cứ phân cấp mục tiêu:
+ Mục tiêu tổng quát + Mục tiêu bộ phận Các loại mục tiêu đúng đắn đều phải đáp ứng 6 tiêu thức sau:
hạn thời gian thực hiện bao lâu? Kết quả cuối cùng cần đạt được gì?
định chiến lược (cơ hội và nguy cơ)
ràng có thể lượng hoá
Trang 39- Tính thống nhất: Có nghĩa là các mục tiêu phải phù hợp với nhau
Tránh tình trạng đạt được mục tiêu này làm ảnh hưởng tới mục tiêu khác, hoặc đạt mục tiêu này lại phát sinh những mâu thuẫn giữa các bộ phận với nhau
khoa học, tính toán chính xác, được những người chủ chốt chấp nhận, người chịu trách nhiệm hoàn thành chính
1.4.5 3 Chuẩn đoán chiến lược
Công tác hoạch định chiến lược thực hiện tốt hay không là tuỳ thuộc vào sự hiểu biết đầy đủ về mục tiêu mà tổ chức đang hoạt động Môi trường hoạt động của tổ chức bao gồm: Môi trường vĩ mô (môi trường quốc tế và môi trường kinh tế quốc dân), môi trường vi mô và môi trường nội bộ Mức
độ môi trường và mối tương quan của chúng được thể hiện qua sơ đồ1.3
Khi phân tích môi trường của CTCK hay một tổ chức nào đó Nhiệm
vụ của các nhà chiến lược là phải phân tích đầy đủ mọi yếu tố xác định các cơ hội và nguy cơ Tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu tác động lên sự phát
triển của ngành
Trang 40Sơ đồ 1.3: Môi trường doanh nghiệp
Môi trường quốc tế
1 Các yếu tố kinh tế 4 Các yếu tố chính trị
2 Các yếu tố tự nhiên 5 Các yếu tố văn hoá xã hội
Môi trường kinh tế quốc dân