S ự phù hợp của việc ứng dụng CNTT vào việc xây dựng bài 1.5.M ột số công cụ hiện đang được ứng dụng xây dựng bài Ch ương 2: THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY MÔN THIẾT KẾ VÀ XÂY D ỰNG MẠNG LAN TẠ
Trang 11
CHO SINH VIÊN CĐ NGHỀ QUẢN TRỊ MẠNG
T ẠI TRƯỜNG CĐ NGHỀ VIỆT – ĐỨC, VĨNH PHÚC
LU ẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM KỸ THUẬT Chuyên ngành: LÝ LU ẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
Chuyên sâu: SƯ PHẠM KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUY ỄN LINH GIANG
Hà N ội – Năm 2013
.
Trang 2
2
L ỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo PGS.TS
Nguy ễn Linh Giang, người đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
với đề tài: XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ MÔN HỌC “THIẾT KẾ VÀ XÂY DỰNG LAN” CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG NGHỀ QUẢN TRỊ MẠNG
TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ VIỆT – ĐỨC, VĨNH PHÚC
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các Thầy, Cô Viện Sư phạm kỹ thuật, Viện đào tạo sau đại học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tham gia quản lý, giảng dạy giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường CĐ Nghề Việt – Đức Vĩnh Phúc, các đồng nghiệp và các em sinh viên khoa Công nghệ thông tin học chuyên ngành Quản trị mạng đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệp sư phạm tại trường
Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè và những người thân trong gia đình đã quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý để đề tài được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà N ội, Ngày tháng năm 2013
Tác giả
Ph ạm Đức Thành
Trang 33
L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung luận văn và sản phẩm của luận văn mà tôi viết ra
là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn đầy đủ
Luận văn này cho đến nay vẫn chưa hề được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng
bảo vệ luận văn thạc sĩ nào trên toàn quốc cũng như nước ngoài và cho đến nay chưa hề được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về pháp lý những gì mà tôi đã cam đoan trên đây
Hà N ội, ngày tháng năm 2013
Tác giả
Ph ạm Đức Thành
Trang 4CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
1.1 Ti ếp cận về lý luận dạy học hiện đại 17
Trang 55
1.4 S ự phù hợp của việc ứng dụng CNTT vào việc xây dựng bài
1.5.M ột số công cụ hiện đang được ứng dụng xây dựng bài
Ch ương 2: THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY MÔN THIẾT KẾ VÀ
XÂY D ỰNG MẠNG LAN TẠI KHOA CNTT- TRƯỜNG CĐN
2.3.4 Th ực trạng dạy học môn Thiết kế và xây dựng mạng LAN
2.4 Kh ảo sát thực trạng áp dụng các phương pháp giảng dạy ở
Trang 66
CHƯƠNG 3 : THIẾT KẾ MINH HỌA BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ
MÔN THI ẾT KẾ VÀ XÂY DỰNG MẠNG LAN TẠI TRƯỜNG
3.1 Xây d ựng quy trình tổ chức dạy học tương tác 57 3.2 Xây d ựng bài giảng môn học “Thiết kế và xây dựng mạng
3.3 L ựa chọn ngôn ngữ và hệ QT CSDL để thiết kế bài giảng 62
4.2 Đối tượng và thời gian tiến hành thực nghiệm 79
Trang 77
Trang 8LĐTB&XH Lao động thương binh và xã hội
Trang 99
L ỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
1.1 Xu ất phát từ yêu cầu của xã hội đối với đào tạo nghề
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 xác định rõ mục tiêu chiến lược của giáo dục Việt Nam là tập trung nâng cao chất lượng toàn diện, phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế; nhấn mạnh đến việc “dạy người”, đồng
thời với “dạy chữ” và “dạy nghề”…; xác định nhiều giải pháp quan trọng về đổi mới quản lý giáo dục; phát triển nhân lực ngành giáo dục; tiếp tục đổi mới nội dung chương trình, phương pháp dạy học và đánh giá chất lượng giáo dục, nhà nước và xã hội tăng cường đầu tư cho giáo dục, gắn giáo dục - đào tạo với nghiên
cứu khoa học và triển khai công nghệ; đẩy mạnh hội nhập quốc tế về giáo dục - đào tạo…
Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta đã đạt tốc độ tăng trưởng cao, cơ
cấu kinh tế có bước chuyển dịch mạnh mẽ Quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta yêu cầu phải đáp ứng đủ số lượng lao động kỹ thuật chất lượng cao cho các ngành kinh tế, nhất là các ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ cao như: Tin học, tự động hóa, cơ điện tử, chế biến xuất khẩu… và đòi hỏi lao động phải được qua đào tạo, có như vậy các doanh nghiệp
mới đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế
Để đáp ứng được yêu cầu đó, hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành phải thường xuyên bổ sung, cập nhật, hoàn thiện các chương trình dạy nghề hoặc xây
dựng các chương trình dạy nghề mới; nâng cao chất lượng đội ngũ GV, cán bộ quản lý; đầu tư, đổi mới trang thiết bị giảng dạy và đặc biệt chú trọng đổi mới phương pháp giảng dạy để đào tạo đội ngũ nhân lực kỹ thuật có tay nghề cao trực
tiếp làm việc với kỹ thuật, công nghệ mới
1.2 Xu ất phát từ việc ứng dụng CNTT trong dạy học diễn ra phổ biến và sâu
r ộng trong các ngành, trong đó có ngành GD trong giai đoạn hiện nay
Chỉ thị 58-CT/UW của Bộ Chính trị ngày 07 tháng 10 năm 2000 về việc đẩy
mạnh ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đã chỉ
Trang 10Công nghệ phần mềm phát triển mạnh, trong đó các phần mềm giáo dục cũng đạt được những thành tựu đáng kể
Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học Những phương pháp dạy học theo cách tiếp cận kiến
t ạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng
có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy h/ọc như dạy học đồng đẳng, cộng tác nhóm… cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông
tin và truyền thông
Những khả năng mới mẻ và ưu việt này của công nghệ thông tin và truyền thông đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy và quan trọng hơn cả là cách ra quyết định của con người Do đó, mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là: Nâng cao một
bước cơ bản chất lượng học tập cho SV, tạo ra môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần chỉ là “thầy đọc, trò chép” như kiểu truyền
thống SV được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình
1.3 Xu ất phát từ việc đổi mới phương pháp dạy học - Một trọng tâm của ngành giáo d ục hiện nay, đặc biệt là trong giáo dục dạy nghề
Vấn đề phương pháp dạy học (PPDH) trong các nhà trường được xã hội quan tâm ngay từ những năm 70 Đến đầu thập kỷ 90 vấn đề về PPDH và đổi mới PPDH được đặt ra và phát động nhiều lần trong ngành giáo dục nhưng thực tiễn giáo dục ở các nhà trường chưa đạt hiệu quả cao do PPDH vẫn xoay quanh, thầy đọc - trò ghi có xen kẽ vấn đáp, giải thích minh họa là chính Người dạy không cố gắng tạo môi trường tương tác cho người học Kiểu dạy học như vậy không phát huy được tính tích cực của SV, làm cho khả năng tự học, tự tìm tòi nghiên cứu của
SV bị hạn chế
Trang 1111
Đổi mới phương pháp dạy học là một trong số những vấn đề trọng tâm hiện nay Bởi vì, với khối lượng kiến thức ngày càng phong phú, rất đa dạng và thay đổi theo thời gian dẫn đến giảng dạy là phải biết khai thác và tận dụng nội lực của người học để họ sẽ tự học suốt đời
Trong những năm gần đây, dạy học tương tác là xu hướng lựa chọn hàng đầu của việc đổi mới phương pháp giảng dạy Hình thức dạy học này mang đến cho người học một môi trường lý tưởng để kiến tạo và tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua các hoạt động được thiết kế bởi người dạy Người học có điều kiện phát triển mạnh mẽ tính chủ động, tư duy sáng tạo và các kỹ năng sử dụng những công
cụ hiện đại của khoa học công nghệ, đáp ứng nhu cầu thực tiễn đối với sản phẩm đào tạo Trong các hình thức dạy học tương tác, việc sử dụng phần mềm và các phòng học đa chức năng có nối mạng Internet hoặc mạng nội bổ tỏ ra có nhiều ưu điểm và được nhiều nước trên thế giới quan tâm theo đuổi Kết hợp với các hình thức seminar và thực hiện công tác đội (teamwork), dạy học tương tác tạo ra sự phát triển toàn diện và nâng cao chất lượng giảng dạy
1.4 Đặc điểm và thực trạng dạy môn “Thiết kế và xây dựng mạng LAN” cho cho sinh viên Cao đẳng nghề Quản trị mạng tại Trường CĐ nghề Việt – Đức Vĩnh phúc
1.4.1 Đặc điểm và thực trạng dạy môn “ Thiết kế và xây dựng mạng LAN” t ại trường CĐ Nghề Việt – Đức Vĩnh phúc
Môn học “ Thiết kế và xây dựng mạng LAN ” là một môn học chuyên ngành đàon tạo hệ cao đẳng nghề “Quản trị mạng” tại trường CĐ Nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc Nó là một môn học được đánh giá cao ở kỹ năng thực hành và năng lực thực hiện
Là môn học luôn đi đôi lý thuyết với thực hành trong thực hành đóng vai trò quan trọng và chủ yếu trong nội dung học Trong quá trình dạy học, người dạy
và người học luôn tương tác với nhau và tương tác trực tiếp với máy tính, hệ thống
mạng Môn học Thiết kế và xây dựng mạng LAN với thời lượng thực hành chiếm tới 70% thời gian lý thuyết 30% Đồng thời môn học phải khảo sát thực địa cũng như liên quan đến kiến thức chuyên ngành khác như đọc bản vẽ xây dựng và lập
dự toán kinh phí
Trang 1212
Hiện nay môn học “ Thiết kế và xây dựng mạng LAN ” tại trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh phúc được giảng dạy cho các lớp hệ cao đẳng nghề “Quản trị mạng” Để thực hiện giảng dạy môn học này về cơ sở vật chất hết sức thiếu thốn: trường có 1 phòng học 18 máy tính để phục vụ phần học lắp đặt mạng, cài đặt mạng và quản trị mạng Phần khảo sát và thiết kế và xây dựng của sinh viên hết sức khó khăn, thiếu mô hình mạng,thiết bị mạng, bản vẽ thực địa cụ thể, máy
chủ nên gây nhiều khó khăn đối với sinh viên khi học môn này
1.4.2 Một số quan niệm và ưu việt về Bài giảng điện tử
Hiện nay việc ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học thời gian gần đây phát triển rất mạnh mẽ ở tất cả các bậc học, từ đó xuất hiện một số khái niệm được
- Bài giảng điện tử: là bài giảng được xây dựng, thiết kế trên máy tính qua việc tích hợp các ứng dụng CNTT nhằm hỗ trợ dạy học một cách có hiệu quả
Yêu cầu của một BGĐT là tích hợp các ứng dụng CNTT sao cho phù hợp với nội dung, mục đích dạy học, đảm bảo đặc trưng bộ môn góp phần tích cực hóa hoạt động học tập của SV làm tăng hiệu quả dạy học Có thể cụ thể hóa thành các yêu cầu sau:
• Yêu cầu về nội dung
Trình bày nội dung lý thuyết cô đọng được minh họa sinh động và có tính tương tác cao rõ nét mà phương pháp giảng dạy bằng lời khó diễn tả ứng dụng CNTT để thực hiện các minh họa, mô phỏng hoặc tận dụng chọn lọc từ tư liệu điện
tử có sẵn
• Yêu cầu về phần câu hỏi – giải đáp
Trang 13• Yêu cầu phần thể hiện: Các nội dung chuẩn bị của hai phần trên khi thể hiện
trình bày, cần được bảo đảm các yêu cầu:
- Đầy đủ: Phải có đủ yêu cầu nội dung của bài học
- Chính xác: Đảm bảo tính chính xác, khoa học không có thông tin sai sót
- Trực quan: hình vẽ, âm thanh, bảng biểu trực quan, sinh động, mô phỏng hấp dẫn người học
Thông qua các yêu cầu trên một BGĐT thể hiện được:
- Tính đa phương tiện (multimedia): sự kết hợp của các phương tiện khác nhau dùng để trình bày thông tin thu hút người học, bao gồm văn bản (text), âm thanh (sound), hình ảnh đồ họa (image/graphics), phim minh họa, thực nghiệm…
- Tính tương tác: sự trợ giúp đa phương tiện của máy tính cho phép người thầy và người học khai thác các đối thoại, xem xét khám phá các vấn đề, đưa ra câu hỏi và nhận xét về câu trả lời
- Một điểm mạnh của BGĐT là hoạt động với máy tính không tuần tự và đó cũng chính là ưu điểm tuyệt đối của web Khi sử dụng BGĐT, GV sử dụng có thể
sử dụng bất cứ trang nào, phần nào tùy theo mục đích, nhu cầu của họ, không nhất thiết phải theo một tuần tự nhất định
BGĐTcó thể giải quyết một số vấn đề sau:
- Khi dạy học các khái niệm, hiện tượng khoa học trừu tượng
- Khi cần giúp SV rèn luyện kỹ năng nào đó thông qua việc hoàn thành số lượng lớn bài tập
- Xây dựng các phần mềm dạy học thí nghiệm ảo hỗ trợ thực hiện các thí nghiệm trong điều kiện không thể thực hiện thí nghiệm đó.(vì thiếu thiết bị, hoặc khó tiếp cận thực tế…)
- Tổ chức đánh giá tự động trên máy Lúc này, cần tổ chức xây dựng ngân hàng câu hỏi, từ đó có thể lựa chọn ngẫu nhiên để thành lập các bộ đề khác nhau
Trang 1414
Ưu thế nổi trội nhất của BGĐT là tích hợp truyền thông đa phương tiện, có khả năng đem lại một lượng thông tin phong phú, đa dạng làm cho giờ dạy trở nên hấp dẫn, sinh động Nhờ CNTT, giờ giảng trở nên sinh động hơn, đem lại những bất ngờ, thú vị cho SV Tính chất đa phương tiện đem đến một lượng thông tin lớn, thay đổi “thực đơn giác quan” cho người học mà phương pháp truyền thống không thể làm được.
Những yếu tố trên là lý do để tôi lựa chọn đề tài: Xây dựng bài giảng điện
t ử môn học “Thiết kế và xây dựng mạng LAN” cho cho sinh viên Cao đẳng ngh ề Quản trị mạng tại Trường CĐ nghề Việt – Đức Vĩnh phúc
Trang 15- Tìm hiểu quy trình xây dựng bài giảng điện tử
- Xây dựng Bài giảng điện tử môn học “Thiết kế và xây dựng mạng LAN” cho VS Cao đẳng nghề Quản trị mạng tại Trường CĐ nghề Việt – Đức Vĩnh phúc
- Bài giảng cần đạt các yêu cầu: Phải mô phỏng trực quan, sinh động, chính xác, dễ hiểu với đối tượng sinh viên, với nhiều thành phần, độ tuổi, trình độ nhận
thức khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả dạy học theo hướng phát huy tư duy sáng tạo, tính tích cực và chủ động của người học, góp phần đổi mới phương pháp dạy môn học
Tạo ra khả năng độc lập, tự trau dồi nghiên cứu học tập, khả năng hứng thú, sáng tạo cho sinhviên, cung cấp các bài luyện tập để học viên củng cố kiến thức
của mình sau mỗi phần học
2.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu về Cơ sở lý luận công nghệ dạy học hiện đại, cơ sở lý luận của
dạy học tương tác, tương tác người – máy; Nghiên cứu về giáo dục và đào tạo người lớn
- Tìm hiểu về Bài giảng điện tử, các yêu cầu khi xây dựng, quy trình thiết và
sử dụng một bài giảng điện tử
- Tìm hiểu các công cụ hỗ trợ xây dựng BGĐT và việc ứng dụng CNTT trong việc dạy và học bằng bài giảng điện tử, các công cụ xây dựng hiện đại đang được đánh giá ứng dụng tốt
- Thử nghiệm xây dựng bài giảng điện tử môn học “Thiết kế và xây dựng
m ạng Lan” tại trường CĐ nghề Việt – Đức Vĩnh phúc đáp ứng việc nâng cao chất
lượng đạo tạo của nhà trường và khắc phục việc thiếu thiết bị trong giảng dạy môn
học
Trang 1616
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sinh viên học Nghề Quản trị mạng tại trường CĐ nghề Việt – Đức Vĩnh phúc
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu xây dựng bài giảng theo mục tiêu của chương trình khung, hệ thống các hình ảnh mô phỏng, minh họa trong môn học
“Thiết kế và xây dựng mạng LAN” cho cho sinh viên Cao đẳng nghề Quản trị
mạng tại Trường CĐ nghề Việt – Đức Vĩnh phúc
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến đánh giá, tư vấn từ các giáo viên dạy
học kỹ thuật lâu năm, đặc biệt là công nghệ thông tin, đúc rút kinh nghiệm để xây dựng kế hoạch dạy học và xây dựng đề tài
- Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm bản thân: phân tích, tổng hợp thực tiễn quá trình giảng dạy các môn thiết kế chương trình theo chương trình khung Tổng cục dạy nghề ban hành cho đối tượng Cao đẳng nghề quản trị mạng, dựa trên hiểu
biết về đối tượng người học, kết quả đạt được nhờ vận dụng kinh nghiệm bản thân
để lựa chọn phương án xây dựng đề tài
- Phương pháp thực nghiệm: tổ chức lên lớp, lấy kết quả đánh giá kiểm chứng của giáo viên
5 Gi ả thiết khoa học:
Nếu đề tài thành công sẽ được áp dụng để nâng cao chất lượng đào tạo các môn học cho sinh viên học chuyên ngành CNTT nói riêng cũng như các chuyên ngành đào tạo khác trong trường CĐ nghề Việt – Đức Vĩnh phúc nói chung
6 Đóng góp mới của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Xây dựng bài giảng điện tử “Thiết kế và xây dựng mạng
LAN” theo công nghệ dạy học tương tác với các bài thực hành ảo trực quan; các bài tập trắc nghiệm khách quan với nhiều dạng trắc nghiệm phong phú
- Ý nghĩa thực tiễn: Áp dụng vào quá trình dạy học các môn CNTT nói chung và
môn “Thiết kế và xây dựng mạng LAN” nói riêng tại trường CĐ nghề Việt Đức Vĩnh phúc và các trường trong hệ thống các trường CĐ nghề trong cả nước
Trang 1717
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
XÂY D ỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ TƯƠNG TÁC
I.1 Ti ếp cận về lý luận dạy học hiện đại
I.1.1 Ti ếp cận công nghệ
Công nghệ (Technology): Công nghệ là một hệ thống phương tiện, phương pháp và kỹ năng nhằm vận dụng quy luật khách quan, tác động vào một đối tượng nào đó, đạt một thành quả xác định cho con người Với định nghĩa trên dạy học cũng là một công nghệ
Công nghệ dạy học: Là một hệ thống phương tiện, phương pháp và kỹ năng, nhằm vận dụng quy luật khách quan, tác động vào người học, hình thành một nhân cách xác định Dạy học được xem là một công nghệ, trước hết và chủ yếu là vì bản chất của nó tương ứng với nội hàm của khái niệm công nghệ, chứ không phải vì hiện tượng những quy trình công nghệ hay những ứng dụng của CNTT hoặc phương tiện kỹ thuật… trong dạy học Với những phương tiện, phương pháp và kỹ năng truyền thống, dạy học vẫn là một công nghệ: công nghệ dạy học truyền thống, bên cạnh công nghệ dạy học hiện đại
Tiếp cận công nghệ: Quá trình dạy học từ xác định đầu vào (đối tượng tác động), mục tiêu dạy học, công nghệ dạy học…đến đánh giá kết quả dạy học, đầu
ra (thành quả), luôn luôn dựa vào các tiêu chí khả thi (dạy được, học được) và hiệu quả (dạy tốt, học tốt) để thiết kế, thi công và kiểm định
Những lí luận chung về công nghệ như: thực thi công nghệ (với những khái niệm cơ bản như nguyên công, quy trình,…), quản lý công nghệ và chuyển giao công nghệ (như vòng đời công nghệ, quy luật cung cấp,…), đều có những vận dụng thích hợp cho công nghệ dạy học Giải pháp giáo dục theo mô hình thầy thiết kế-trò thi công là một ví dụ
Nhiều khái niệm quan trọng của Lí luận dạy học được khái quát hóa hoặc chuẩn hóa như:
Trang 18I 1.2 Công nghệ dạy học hiện đại
Như trên đã nói, CNDH là một hệ thống phương tiện, phương pháp và kỹ năng, nhằm vận dụng quy luật khách quan, tác động vào người học, hình thành một nhân cách xác định
Công nghệ dạy học hiện đại được hiểu là công nghệ dạy học với phương tiện, phương pháp và kỹ năng trong thời đại ngày nay- thời đại công nghệ thông tin
và truyền thông
Ngày nay với Internet và E-learning, thuật ngữ dạy học vó máy tính hỗ trợ (Computer Aided/Assisted Instruction-CAI) thực ra không thích hợp nữa vì đã đến lúc không có máy tính không được
I.2 Lý lu ận của dạy học tương tác
I.2 1 Tương tác:
Thuật ngữ tương tác trong tiếng Anh là “Interaction”, được ghép từ hai từ
đơn: Inter và Action Trong đó, Inter” mang nghĩa là: Sự liên kết cùng nhau, nối
liền với nhau, nối ngau [15]; còn “Action” có nghĩa là: Sự tiến hành làm điều gì, hoạt động, hành động; là ảnh hưởng, tác động [15] Mặt khác, “Interaction” còn có nghĩa: Sự hợp tác, ảnh hưởng qua lại; sự tác động qua lại trực tiếp giữa các yếu tố [2] Theo từ điển mở Online [20] (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia), đã định nghĩa tương tác (Interaction): Là hành động tương hỗ giữa các đối tượng hoặc hành động dựa trên một đối tượng khác; Một cuộc thảo luận hoặc trao đổi giữa người này với người khác Còn theo từ điển tiếng Việt [5], tương tác được định nghĩa là tác động qua lại
Trang 1919
Như vậy, tương tác là quá trình tác động qua lại giữa các yếu tố với nhau
nh ằm tạo ra sự trao đổi giữa các yếu tố và biến đổi của mỗi yếu tố đó Vì thế, với
mỗi chuyên ngành khác nhau thì khái niệm tương tác cũng có khác nhau, ví dụ như:
- Tương tác cơ học: Tác động qua lại của hai hay nhiều vật thể hiện qua lực
tương tác
- Tương tác thuốc: Tác động của thuốc tới cơ thể thể hiện qua các phản ứng
sinh hóa
- Tương tác truyền hình (Interactive televition): Người xem và nguồn phát
có thể trao đổi thông tin với nhau thường xuyên trong quá trình chương trình được thực hiện
- Tương tác dạy học: Tác động của GV, SV và môi trường thể hiện qua việc
dạy hoạt động dạy và học
I.2.2 D ạy học tương tác
Quá trình d ạy học (QTDH) là một quá trình xã hội Về hình thức, đó là một
quá trình ho ạt động tương tác giữa người dạy và người học Về bản chất, QTDH là quá trình h ọc tập (nhận thức và thực hành) độc đáo của người học được tiến hành
dưới sự tổ chức, hướng dẫn của người dạy nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học [11]
Tương tác giữa người dạy và người học tồn tại tất yếu trong quá trình dạy học Không có tương tác sẽ không tạo nên quá trình dạy học Tương tác tạo nên tình huống và tình huống lại nảy sinh tương tác Dạy học sẽ mất định hướng và không đạt kết quả nếu để cá tương tác trong quá trình dạy học diễn ra một cách tự nhiên
D ạy học tương tác là quá trình dạy học dựa trên sự tác động qua lại giữa
ba tác nhân cơ bản: người dạy, người học, môi trường và sự tương tác giữa các
ph ần tử nội bộ trong ba tác nhân đó
I.2.3 Lý lu ận dạy học tương tác
Tất cả các phương pháp dạy học truyền thống từ xưa đến nay đều có tương tác, vấn đề này ai cũng biết và sử dụng Từ phương thức dạy học truyền khẩu của các cụ đồ nho đến việc giảng dạy sử dụng các phương tiện hiện đại để tăng tính
Trang 2020
tương tác trong việc dạy học Việc sử dụng tương tác trong dạy học chỉ là khả năng tích lũy được trong các quá trình nghiên cứu về các phương pháp dạy học mà chưa dựa trên một cơ sở khoa học Phải đến khi tác phẩm [20] mới trình bày cách tiếp cận khoa học thần kinh nhận thức của việc học và dạy dựa trên sự vận hành năng động của hệ thần kinh trong quá trình tiếp thu và sử lý thông tin
Lý luận dạy học tương tác (LLDHTT) là lý luận dạy học theo quan điểm (hay ti ếp cận) sư phạm tương tác (SPTT), coi quá trình dạy học là quá trình tương tác đặc thù giữa bộ ba tác nhân - Người học, người dạy và môi trường - trong đó, người học là trung tâm, là người thợ chính, người dạy là người hướng
Ta đi sâu vào phân tích từng vấn đề về lý luận dạy học tương tác mà hai nhà khoa học trên đã xây dựng:
a B ộ ba tác nhân
* Người học
Khái niệm người học (étudiant) có nguồn gốc từ tiếng la tinh (studium) với ý nghĩa là “cố gắng và học tập” Theo nghĩa rộng, thuật ngữ này có hàm nghĩa là cam kết và trách nhiệm Trong quan điểm sư phạm tương tác, khái niệm người học dùng để chỉ tất cả những ai có tham gia (thực hiện) hoạt động học
Trang 2121
Người học là người tìm cách hiểu tri thức và chiếm lĩnh nó Người học trước
hết là người đi học mà không phải là người được dạy
* Người dạy
Người dạy (enseignant) là người được xã hội ủy thác chuyên trách trong
chức năng chuyển giao trí thức, kinh nghiệm xã hội cho người học Người dạy là người được đào tạo, huấn luyện với những chuyên môn nhất định nên có đủ các
phẩm chất và năng lực để thực hiện được chức năng nói trên
Người dạy chỉ cho người học cái đích cần phải đạt, giúp đỡ, làm cho người học hứng thú và đưa học tới đích Chức năng chính của người dạy là giúp đỡ người
học học và hiểu Theo phương pháp dạy học tương tác thì người dạy phải làm nảy sinh tri thức ở người học theo cách của người dạy Người dạy phục vụ người học
* Môi trường
Hoạt động của người dạy và người học diễn ra trong không gian và thời gian xác định với ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài khác nhau Đó là môi trường dạy học, môi trường dạy học do cả người dạy và người học cùng nhau phối hợp tổ chức
Môi trường dạy học các môn học công nghệ thông tin rất đa dạng, phong phú Đặc biệt là trong thời kỳ công nghệ thông tin và truyền thông phát triển mạnh như hiện nay Ngoài môi trường là các máy tính hiện đại, mạng internet phổ cập
rộng rãi với nhiều thông tin phong phú thì còn có rất nhiều các phương tiện hiện đại khác
Theo quan điểm tương tác “Người dạy và người học không phải là những sinh vật trừu tượng, xung quanh họ là thế giới vật chất văn hóa Cả người học và người dạy đều có một tính cách rõ rệt và các giá trị cá nhân được phát triển trong
một đất nước có các thể chế, chính trị, gia đình và nhà trường mà chúng tất yếu có ảnh hưởng đến họ Tất cả những yếu tố này bên trong cũng như bên ngoài tạo thành môi trường dạy và học [20]
Có thể hiểu môi trường dạy học là những điều kiện cụ thể, đa dạng do người
d ạy tạo ra và tổ chức cho người học hoạt động, phù hợp với người học nhằm đạt
t ới mục tiêu của nhiệm vụ dạy học Môi trường có thể là phương tiện dạy học, môi
Trang 2222
trường học tập (cơ sở vật chất nhà trường, không khí lớp học, …) đến các phạm trù
lớn hơn như gia đình, nhà trường và xã hội…
Trong môi trường dạy học thì phương tiện (means) đóng một vai trò không kém phần quan trọng Phương tiện trực tiếp để dạy học bao gồm những phương
tiện chứa các thông tin, mang thông tin về các sự vật, hiện tượng và các quá trình xảy ra trong tự nhiên như: Sách giáo khoa, chương trình môn học, sổ tay, vở ghi
chép Ngoài ra còn có các phương tiện mang tin thính giác như: Băng, đĩa; các phương tiện mang tin thị giác như: Bản vẽ, bản đồ…; Các phương tiện mang tin nghe nhìn như: Audio, video,…; Các phương tiện mang tin dngf cho sự hình thành
khái niệm, thao tác như: Mô hình, đồ vật, thiết bị…
Chú ý: V ấn đề đặt ra là tại sao trong lý thuyết dạy học tương tác, khi đề cấp đến các thành tố của quá trình dạy học, người ta chỉ quan tâm đến 3 nhân tố: người dạy, người học và môi trường Phải chăng yếu tố nội dung dạy học đã không chú tr ọng đến? Có thể khẳng định rằng lý thuyết dạy học tương tác không bỏ qua
y ếu tố nội dung dạy học mà ngược lại đề cao yếu tố này như một tất yếu trong phương pháp dạy và phương pháp học, gắn chặt với GV và SV Bởi vì:
- Với SV, nội dung dạy học là điểm kết thúc đối với hoạt động của chính họ
và do đó có ý nghĩa của yếu tố định hướng kích thích đối với SV
- Hoạt động của GV gắn liền đối với nội dung dạy học và nội dung dạy học được xem là điểm xuất phát đối với hoạt động của GV GV phải xây dựng kế hoạch dạy học, tổ chức các hoạt động và hợp tác với người học trong giờ học Tất
cả các hoạt động này đều được gắn kết với nội dung dạy học trong đó kế hoạch dạy
học (giáo án) là một sự thể hiện tiêu biểu của mối quan hệ này
Những phân tích trên cho thấy lý thuyết dạy học tương tác không hề phủ
nh ận yếu tố nội dung dạy học trong quá trình dạy học Thông qua các nội dung cụ thể hoạt động của GV và SV, dạy học tương tác đã gắn kết chặt chẽ phương pháp
d ạy và phương pháp học với nội dung dạy học, coi đó là những yếu tố đương nhiên trong ho ạt động của hai nhân tố GV và SV
b B ộ ba thao tác
Hoạt động dạy học bao gồm toàn bộ các hành động của người học khi học
và của người dạy khi giúp đỡ người học trong quá trình học Thực tế hoạt động dạy học bao gồm bộ ba thao tác:
Trang 2323
* Học (Apprendre)
- Học là hoạt động của chủ thể nhằm biến đổi bản thân Học được hiểu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau Theo Tâm lý học nhận thức: “Học là quá trình biến đổi và cân bằng cấu trúc nhận thức để thích nghi với môi trường” Theo lý thuyết thông tin: “Học là quá trình thu nhận và xử lý thông tin từ môi trường sống của chủ thể, làm cho chủ thể tự biến đổi” Từ đó, học được hiểu là “quá trình chuyển hóa tri
thức của nhân loại thành tri thức của cá nhân”
- Người học sử dụng nội lực, để kiểm định kiến thức và kỹ năng nảy sinh trong mình theo một phương pháp học nào đó “Phương pháp học là khái niệm miêu tả con đường mà người học phải theo bằng cách đưa ra hành động học”.[20]
- Phương pháp học bao gồm toàn bộ quá trình mà người học tiến hành để chiếm lĩnh tri thức, hình thành cho bản thân các kỹ năng, kỹ xảo Trong quá trình này người học thực hiện các hành động học tập tương ứng đối với các đối tượng học tập Do đó nội lực của người học là xuất phát điểm và cũng là lực đẩy bên trong của những hành động được người học thực hiện Kết quả thực hiện các hành động học tập, người học sẽ đưa ra những tri thức vốn tồn tại khách quan với bản thân vào hệ thống các tri thức đã có của mình, đồng thời có thể hòa nhập được với tình huống thực tiễn khi hoạt động học được diễn ra Khi đó người học đã đồng hóa được một tri thức mới Như vậy theo tương tác dạy học, phương pháp học là khái niệm mô tả về con đường giúp đỡ cho người học đồng hóa được những tri thức mà người học phải lĩnh hội
- Phương pháp học tập của người học được quy định bởi mục đích, nội dung
của từng môn học, từng bài học, bởi môi trường lớp học, phương tiện học tập, kinh nghiệm của bản thân và phương pháp hướng dẫn của GV
- Phương pháp học tập phụ thuộc rất nhiều vào ý thức học tập của từng SV, phải biết tự vượt qua chính mình Sự say mê, hứng thú, quyết tâm, sự tập trung chú
ý vào các nhiệm vụ học tập sẽ tạo nên kết quả học tập tốt Phương pháp học còn
phụ thuộc vào năng lực, kinh nghiệm, thói quen, kỹ năng học tập và tính khoa học của từng SV Kết quả học tập quyết định bởi năng lực tự học, kỹ năng thu thập, xử
lý, trình bày thông tin của cá nhân
Trang 2424
* Giúp đỡ (Aider/Assister)
- Theo C.Margolinas, dạy và làm sống lại kiến thức, làm cho kiến thức được tạo ra bởi chính SV như là câu trả lời cho tình huống; giúp đỡ SV đạt đến một sự hiểu biết cá nhân và chính xác hóa hiểu biết cá nhân thành kiến thức khoa học
- Người dạy can thiệp vào tất cả các yếu tố của hoạt động dạy học một cách
có chủ đích (người dạy là người quyết định tri thức nào cần dạy và dạy như thế nào; tri thức nào người học cần học và học như thế nào) Người dạy là người lựa chọn và tổ chức nội dung thành các tình huống dạy học và áp dụng các cách thức hành động phù hợp và tạo điều kiện để người học tích cực tham gia vào hoạt động lĩnh hội tri thức, kỹ năng và các giá trị mới - môi trường hoạt động tích cực cho cả người học lẫn người dạy
- Người dạy bằng kiến thức, kỹ năng và ứng xử của mình làm nảy sinh kiến thức và kỹ năng của người học theo cách của một người hướng dẫn và hỗ trợ (Phương pháp dạy) Phương pháp dạy được sử dụng trong dạy học tương tác là toàn bộ các can thiệp của người dạy trong mục đích hướng người học thực hiện phương pháp học
- Phương pháp dạy thể hiện trình độ nghiệp vụ sư phạm của GV, nó biểu hiện rõ nét nhất tính khoa học, tính kỹ thuật, tính nghệ thuật và đạo đức sư phạm, tính khoa học thể hiện ở phương pháp tiếp cận sư phạm, tính kỹ thuật thể hiện ở hệ quy trình, tính nghệ thuật thể hiện bằng những thao tác khéo léo khi giải quyết các tình huống dạy học, tính đạo đức thể hiện ở thái độ, nhiệt tình, tâm huyết “tất cả vì
SV thân yêu” Phương pháp dạy của GV còn bao hàm cả yếu tố của phương pháp giáo dục như: khích lệ, động viên, khơi dậy tính tích cực, sáng tạo, hứng thú, kiên trì và quyết tâm học tập của SV
* Tác động (Agir)
- Trong quá trình diễn ra hoạt động sư phạm, một tập hợp phức tạp các yếu
tố môi trường ảnh hưởng (tác động) rất lớn tới cả việc dạy và việc học vì người
học và người dạy đều là những nhân cách được hình thành và phát triển trong những điều kiện tự nhiên, vật chất, xã hội và văn hóa nhất định
- Các yếu tố bên ngoài như môi trường vật chất, nhà trường, gia đình, xã hội
và người học hoặc người dạy gây ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động sư phạm Chẳng hạn, điều kiện về không khí cũng tác động không ít đến hiệu quả học tập Không
Trang 2525
khí mát mẻ trong lành trong lớp học sẽ tạo cho SV thoải mái, ngược lại nếu không khí nặng nề ẩm thấp nhanh chóng dẫn đến mệt mỏi, chán nản Trong một ngày nóng bức, dễ thấy thiếu sự hào hứng của người học Điều kiện bất ổn về gia đình như tài chính bấp bênh, bố mẹ ly dị, bệnh tật… sẽ đặt người học vào một trạng thái không an toàn về tinh thần, thường gây bất lợi cho kết quả học tập
- Các yếu tố bên trong như tiềm năng trí tuệ, xúc cảm, giá trị, vốn sống, phong cách dạy, phong cách học cũng như tính cách đều có khả năng làm dễ dàng hoặc cản trở đến hoạt động dạy học Thí dụ, một SV mà người dạy đã làm cho anh
ta cảm thấy lợi ích của môn toán trong đời sống hàng ngày, sẽ biểu lộ hứng thú đối
với môn học này
Hình 1- 1: Tác động của môi trường và hoạt động dạy học
Hình 1-1 giới thiệu toàn bộ các yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài tác động ít nhiều đến hoạt động dạy học, nó thể hiện sự năng động được rút ra bởi mối quan hệ tương hỗ của ba tác nhân người dạy, người học và môi trường
Người học Người dạy Môi trường
Gia đình Nhà trường Xã h ội
Tiềm năng Giá trị Phong cách
Xúc cảm Vốn sống Nhân cách
Phương pháp học/ Phương pháp dạy
Môi trường ngoại vi
Môi trường bên trong
Trang 2626
Để phối hợp chặt chẽ ba tác nhân với các thao tác của họ và thu hút sự chú ý vào sự kết hợp này, bộ ba thao tác A (Học - Giúp đỡ - Tác động) giống như một hồi âm trả lời bộ ba tác nhân E (Người học - Người dạy - Môi trường)
Hình 1-2: B ộ ba tác nhân và bộ ba thao tác của chúng
* Trào lưu SP tự do: Dựa hoàn toàn vào người học, tất cả phải xuất phát từ
người học và lợi ích của họ Người học tự chọn mục tiêu, thời gian và phương thức học tùy kinh nghiệm hoặc cơ may
* Trào lưu SP đóng: Dựa vào chương trình học Người học được đánh giá
theo mục tiêu qui định Việc học được tuân theo một trật tự logic so với môn học chứ không phải so với phương pháp học
* Trào lưu SP bách khoa: Dựa hoàn toàn vào người dạy Người dạy đề ra
mục tiêu, thời gian và phương thức học, theo chủ quan của mình Người học ngoan ngoãn tuân theo và bằng lòng với kiến thức và kỹ năng được truyền thụ
Người học
Người dạy
Môi trường Tác động
Giúp Học
Trang 2727
* Trào lưu SP mở: Đặc biệt nhấn mạnh sự tác động qua lại giữa người học,
người dạy và môi trường Người học có đủ tiềm năng để hoàn thành một phương pháp học tự chủ, tuy nhiên phương pháp này được tiến hành nhờ vào người dạy - người đóng vai trò hàng đầu Môi trường được người học và người dạy phối hợp tổ chức
d Bộ ba tương tác
d.1 Các tác nhân
Phương pháp sư phạm tương tác đề cập đến khái niệm sự tương tác dựa trên
mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau giữa ba tác nhân: Người dạy, người học, môi
trường Ba tác nhân này luôn quan hệ chặt chẽ với nhau sao cho mỗi tác nhân hoạt
động và phản ứng trong sự ảnh hưởng của hai tác nhân kia Trong [19] tương tác
giữa ba tác nhân người dạy, người học, môi trường được biểu diễn bởi một
đa-graph có hướng gồm ba đỉnh và ba cặp cạnh, không có khuyên Các đường thẳng (cặp cạnh) chỉ ra mối quan hệ giữa các tác nhân, trong khi hai đầu của các đường thẳng dưới hình thức các mũi tên (cạnh có hướng) minh họa sự trao đổi qua lại giữa chúng
Người học
Người dạy Môi trường
Hình 1- 3: Các tương tác và các tương hỗ của chúng (1)
Người học với phương pháp học của mình sẽ truyền thông tin tới người dạy
hệ thống thông tin dưới nhiều hình thức khác nhau như: Bằng câu hỏi, lời bình luận, hoặc một suy nghĩ… Phương tiện để truyền thông tin đó có thể là thái độ, cử chỉ, cách ứng xử hay lời nói Người dạy sẽ tương tác qua lại với các thông tin từ người học bằng các câu trả lời, gợi ý, gợi mở, các hướng dẫn, động viên, khích lệ… Từ sự tương tác trên người học tự điều chỉnh một cách phù hợp Trong quan
hệ “người học hành động, người dạy phản ứng”, một cách chính xác đó là một
loại tác động qua lại
Trang 2828
Người dạy bằng phương pháp sư phạm của mình sẽ giúp cho người học một hướng đi thuận lợi cho việc học, trong cách dạy này người dạy phải chỉ ra các giai đoạn phải vượt qua, các phương tiện cần sử dụng và các kết quả phải đạt được Đáp lại các tác động qua lại của GV, SV đi theo con đường mà GV đã định hướng Trong quan hệ này “Người dạy đã hành động, người học phản ứng”, sự tương tác qua lại với nhau và sự phản ứng qua lại này góp phần rất quan trọng vào quá trình tiếp thu của người học một cách sâu sắc mang tính tìm tòi, khám phá và sáng tạo
Môi trường với tư cách là một tác nhân sẽ tác động với GV và SV thông qua
sự tác động đến phương pháp hoạt động của họ Sự tác động của môi trường là đồng thời với cả GV và SV vì họ cùng tiến hành hoạt động và khi đó phương pháp
sư phạm của GV và phương pháp học của SV được triển khai trong quan hệ mật thiết với nhau Ngược lại, GV và SV cũng tác động trở lại với môi trường thông qua sự tác động làm thay đổi các yếu tố (bên trong hoặc bên ngoài) của môi trường khiến cho môi trường được biến đổi
Ảnh hưởng của môi trường tới việc học và việc dạy đã hiển nhiên Người học và người dạy cùng nhau phối hợp tổ chức và cải thiện môi trường làm việc cũng là điều dễ hiểu, nhất là trong thời đại CNTT hiện nay, trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay - Lấy người học là trung tâm; tất cả đều vì người học
Mỗi tác nhân trong bộ ba tương tác trên đây khi thực hiện thao tác của mình đều thể hiện một ứng xử, dẫn đến đáp ứng của hai tác nhân kia Chẳng hạn, người học qua phương pháp học của mình ắt có những phản hồi tự nhiên bằng lời (câu hỏi, nhận xét…) hoặc không (biểu cảm…), dẫn đến những điều chỉnh tương ứng
về phương pháp dạy hoặc thông tin bổ sung… từ phía người dạy
Các luận điểm về sư phạm tương tác mà hai nhà khoa học và các nhà khoa học khác đã trình bày khá toàn diện, tuy nhiên còn có hai vấn đề lớn chưa đề cập
đó là vấn đề tương tác giữa các phần tử trong nội bộ tác nhân và lúc, chỗ và độ của tương tác
Trang 2929
d.2 Tương tác giữa các phần tử trong nội bộ tác nhân
Trong [14] GS.TS Nguyễn Xuân Lạc đã khẳng định các tương tác và các tương hỗ giữa chúng phải là một đa-graph có hướng, có khuyên ở đỉnh (hình 1-4)
Hình 1- 4: Các tương tác và các tương hỗ của chúng (2)
Nó thể hiện sự tương tác giữa các phần tử nội bộ trong tác nhân, sự tương tác này cũng mạnh mẽ và mang lại kết quả đáng phải quan tâm Các ví dụ về tương tác giữa các phần tủ của tác nhân:
- Trong lớp học chỉ do một GV dạy thì quan hệ giữa các học viên với nhau
qua vấn đáp, giúp nhau làm bài tập, , là tương tác người học với người học
- Liên hệ giữa nhà trường và gia đình, Kết hợp thực hành lao động, sản xuất giữa Nhà trường & doanh nghiệp, là tương tác giữa môi trường & môi trường
- Trao đổi kinh nghiệm; sinh hoạt chuyên môn… là sự tương tác giữa người
dạy & người dạy
* Tương tác người học - người học
Tương tác giữa người học - người học trong dạy học sẽ thực hiện hai chức
năng căn bản là tạo nên quy trình nhận thức của người học; tạo ra quy trình xã hội
và tình cảm của người học
Trong quá trình dạy học tương tác, nếu người dạy không ủy nhiệm (trao quyền cho người học sự chủ động trong khám phá tri thức và ứng dụng) thì người học có sự lệ thuộc thụ động vào người dạy và vào môi trường học tập Khi người dạy ủy nhiệm đến nhóm người học, khi đó sẽ bắt đầu nảy sinh quá trình tương tác
Người học
Trang 3030
giữa người học - người học; và bắt đầu diễn ra sự cộng tác lẫn nhau trong học tập Cộng tác trong tương tác của người học là khả năng chia sẻ tri thức và phương pháp hành động mới cho nhau
Các hình thứ dạy học như: Động não, đóng kịch, dạy học theo dự án, cộng
tác nhóm, dạy học đồng đẳng… chính là thể hiện sự tương tác tích cực giữa người
học với người học
* Tương tác giữa các yếu tố trong môi trường
Công tác phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội có ý nghĩa quan trọng đối
với chất lượng giáo dục Điều 93 Luật Giáo dục 2005 khẳng định “Nhà trường có
trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục” Hiện nay, công tác phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội
đã đạt được những kết quả nhất định, phát huy được sức mạnh tổng hợp và huy
động được các nguồn lực trong xã hội tham gia ngày càng tích cực vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo
Một xu thế mới của đào tạo nghề đang được đặt ra hiện nay là đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, nhu cầu doanh nghiệp Điều này đòi hỏi cấp thiết là phải giải
quyết mối quan hệ giữa một bên là nhà trường, với một bên là nhu cầu xã hội để nhằm đạt được mục đích chung là “cung” gặp “cầu”, hướng đào tạo gắn với thị trường lao động
Liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp là nhu cầu khách quan xuất phát từ lợi ích của cả hai phía Các doanh nghiệp sẽ đóng vai trò là những nhà cung cấp thông tin để các cơ sở đào tạo nắm được nhu cầu của thị trường lao động Vì lợi ích của chính mình, hoạt động đào tạo của nhà trường luôn hướng tới nhu cầu xã hội, trong đó có nhu cầu doanh nghiệp Mặt khác, nếu cơ sở đào tạo đảm bảo cung cấp những lao động đáp ứng đúng nhu cầu của doanh nghiệp, thì đối với doanh nghiệp đó là điều lý tưởng nhất Được hợp tác với một cơ
sở đào tạo cũng là nhu cầu thiết thực của chính doanh nghiệp
Để đạt được mối liên kết chặt chẽ thì các cơ sở đào tạo cần có cơ chế để các
chủ doanh nghiệp được tham gia vào quá trình biên soạn chương trình đào tạo, các seminar khoa học, các hội nghị cộng tác viên Thực tế cho thấy, đây là cách thức rất hiệu quả để các nhà đào tạo nắm được những kiến thức chuyên môn, cũng như những tư chất mà doanh nghiệp rất cần đến ở những sinh viên tốt nghiệp Đồng
Trang 3131
thời, cần tăng cường cho sinh viên tiếp cận doanh nghiệp tư khi còn đang được đào tạo trong nhà trường thông qua các đợt thực tập thực tế Hiện nay, không ít trường đại học đã thiết lập được mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo với đơn vị sử dụng lao động thông qua các hình thức tổ chức ngày hội tư vấn việc làm, tìm hiểu nhu cầu doanh nghiệp, ký kết hợp đồng đào tạo nhân lực
* Tương tác người dạy - người dạy
Trong khi những phát triển mới đây về phương pháp dạy học theo dự án, cộng tác nhóm, đào tạo gắn với thị trường lao động… nêu cao ý nghĩa khoa học và thực tiễn của các khuyên tương ứng với người học, môi trường, thì khuyên người dạy ít được quan tâm hơn, nếu không muốn nói là chỉ dừng lại ở vài hình thức truyền thống, như với một môn học nào đó, có thể có sự cộng tác giữa giảng viên với trợ lý (bài tập, thí nghiệm…), giữa GV dạy lý thuyết và GV dạy các học phần khác nhau, thậm chí có cả trường hợp thiếu nhất quán, thiếu phối hợp giữa các GV
ở các môn học khác nhau Dẫn đến SV khó biết sự tương quan giữa kiến thức các môn học
Vậy là trong khi dạy cách làm việc nhóm cho học viên, bản thân GV lại không quan tâm tự tạo cơ hội làm việc nhóm cho mình (?!)
Những đề tài nghiên cứu tình huống (case study), tiểu luận, đồ án… ở các cơ
sở đào tạo GV kỹ thuật còn khá đơn giản, thiếu tính tổng hợp, thường ở mức một thầy một trò đã đủ đáp ứng, chất lượng vì thế không cao Rất hiếm có những đề tài huy động sự cộng tác chặt chẽ giữa các GV và SV như những cuộc thi Robocon
Hiện nay tổng cục dạy nghề đã và đang tổ chức xây dựng bộ đề thi tốt nghiệp, và các ngân hàng đề thi cho các môn học cho hệ thống các trường dạy nghề trong toàn quốc Để thực hiện được nhiệm vụ này, phải có sự cộng tác chặt chẽ của tập thể đông đảo các GV và chuyên gia của các cơ sở đào tạo nghề
Trang 3232
- Môi trường trong lớp học là môi trường ảo, thực nghiệm ảo, tương tác ảo nhờ ứng dụng các phần mềm dạy học, công nghệ thông tin và truyền thông
- Sự tương tác giữa thầy và trò không nhất thiết phải “giáp mặt” mà có thể
“gián tiếp” thông qua các hình thức đào tạo từ xa nhờ ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông Khi đó, máy tính và các phần mềm dạy học sẽ đóng vai trò như một GV thực hiện chức năng điều khiển việc học của SV, truyền đạt kiến thức
và tính hành kiểm tra đánh giá
- Các phần mềm dạy học kiểu trò chơi tương tác, tương tác với giao diện kéo
- thả và tương tác tham số nhất là tương tác ảo đã cho phép tạo dựng và thực hiện những thao tác ảo “như thật” trên đối tượng khảo sát
Hiện nay công nghệ phần cứng và các phần mềm đã cho phép con người có khả năng tương tác linh động hơn rất nhiều, ví dụ như là chúng ta không cần phải
sử dụng các thiết bị trỏ phức tạp mà sử dụng ngay các thao tác bằng tay Chúng ta chỉ việc chiếu giao diện lên một màn hình lớn sau đó dùng tay thao tác ngay trên màn hình chiếu như là chúng ta đang sử dụng chuột để điều khiển các chức năng của máy Như vậy máy tính không những tương tác với chúng ta qua màn hình và các thiết bị trỏ mà còn tương tác với người dùng trong một không gian thực Với hình thức tương tác này rất hiệu quả trong quá trình giảng dạy và trình diễn một nội dung nào đó
Như vậy, tương tác sư phạm với sự trợ giúp của đa phương tiện (máy tính, máy chiếu, internet…) đã làm cho tính tương tác trong quá trình dạy học được nâng lên nhiều, tương tác giữa thầy và trò không chỉ tại những giờ học trên lớp mà tại mọi lúc, mọi chỗ, mọi độ
e Các liên đới của phương pháp dạy học tương tác
Dạy học tương tác nhằm tạo ra ở người học sự tham gia, hứng thú và trách nhiệm Nó gắn cho người dạy vai trò xây dựng kế hoạch, hướng dẫn hoạt động và hợp tác Nó gắn cho môi trường ảnh hưởng quan trọng đến các phương pháp riêng của người học và người dạy (hình 1-5)
* Các liên đới đối với người học
Quan điểm sư phạm tương tác khẳng định dứt khoát người học là người tham gia chính trong phương pháp học Người học đảm nhiệm vai trò mấu chốt
Trang 3333
này bằng cách thể hiện ngay từ khi bắt đầu học một sự hứng thú hiển nhiên và trong suốt quá trình học một sự tham gia tích cực liên tục, có trách nhiệm
Hình 1- 5: Các liên đới của phương pháp giảng dạy tương tác
* Các liên đới đối với người dạy
Người dạy đóng vai trò quan trọng trong quá trình sư phạm Trong quan điểm sư phạm tương tác đối với người dạy đặc biệt có các hoạt động sau:
- Xây dựng kế hoạch: Để đạt hiệu quả cao người dạy cần phải biết rõ mục
tiêu người học cần phải đạt được khi kết thúc việc học của mình và xác định các phương pháp dạy có khả năng giúp người học đạt mục đích một cách chắc chắn nhất Nhiệm vụ xây dựng kế hoạch là xác định trước một định hướng cả về quá trình học của người học cũng như phương pháp sư phạm của người dạy Việc xây dựng kế hoạch chặt chẽ góp phần làm an toàn hơn cho người dạy và kích thích người học nhiều hơn
- Kế hoạch dạy học: Khi xây dựng kế hoạch hàng năm, người dạy lập một
kế hoạch nhằm đáp ứng được ở lớp chương trình do Bộ Giáo dục đưa ra
Hứng thú
Tham gia Trách nhi ệm
Lập kế hoạch Hướng dẫn Hợp tác
Ảnh hưởng Thích nghị Môi trường
Trang 3434
- Đề cương bài giảng (giáo án): Muốn thực hiện đầy đủ vai trò hướng dẫn
của mình, người dạy phải chuẩn bị một cách kỹ lưỡng từng giờ dạy của mình Người dạy phải lập đề cương chi tiết bài giảng của mình bằng cách xác định chính xác nội dung cần phải dạy, các tài liệu tham khảo liên quan, xác định mục tiêu cho người học, bằng cách lựa chọn phương pháp dạy và xác định hình thức đánh giá
- T ổ chức hoạt động: Quan điểm sư phạm tương tác gắn cho người dạy, vai
trò xây dựng kế hoạch Người dạy có nhiệm vụ tạo nên không khí năng động ở trong lớp Người dạy phải thổi cơn gió hứng thú vào lớp học Người học sẽ tham gia tích cực vào quá trình học nếu anh ta cảm thấy một sự hứng thú thật sự nhằm
thỏa mãn một nhu cầu nào đó của anh ta
- H ợp tác: Người dạy thể hiện sự quan tâm hợp tác với tất cả SV trong lớp,
không phải chỉ với những SV có năng khiếu và những SV thành công Sự hợp tác
của người dạy nằm trong mối quan tâm mang đến sự hỗ trợ cho người học để phát triển thành công tiềm năng của người học Vì vậy hợp tác trong quan điểm sư
phạm tương tác tạo nên mỗi quan hệ qua lại giữa người dạy và người học
* Các liên đới liên quan đến môi trường
Môi trường tác động vào hoạt động dạy học, người học và người dạy buộc
phải có ý thức và tính đến nó trong các phương pháp tiến hành riêng của mình Hiện tượng này chắc chắn kéo theo sự tác động qua lại giữa ba tác nhân này; một bên là môi trường bằng yếu tố này hay yếu tố khác ảnh hưởng đến người học và người dạy Môi trường tốt để dạy và học, một môi trường phong phú về tiện nghi dạy và học… thì người học tiếp thu kiến thức một cách nhanh chóng và sâu sắc hơn, người dạy dễ trình bày quan điểm, nội dung và kiến thức liên quan hơn Người học nhận ra nhiệm vụ và trách nhiệm của mình, người dạy được đánh giá cao về nhiệm vụ của mình Một bên là người học và người dạy phải thích nghi với môi trường Ảnh hưởng và thích nghi đó chính là hệ quả của phương pháp dạy học tương tác liên quan đến môi trường
Trang 3535
1.1.4 Công ngh ệ dạy học tương tác
a Công ngh ệ dạy học tương tác
Công nghệ dạy học tương tác (CNDHTT) bao gồm tất cả những nội dung
và hình th ức vốn có về phương tiện, phương pháp và kỹ năng tương tác trong công ngh ệ dạy học truyền thống và công nghệ dạy học hiện đại
Sự phát triển nhanh đến chóng mặt của CNTT nói chung và giao diện người
- máy (hay tương tác người - máy) nói riêng, đã nâng bộ ba tương tác trong LLDHTT lên một tầm cao mới, đó là điều chưa được đề cập trong [20], nhưng cũng đã được các tác giả tiên liệu trong đoạn cuối của phần kết luận Nhờ các ngôn
ngữ lập trình thích hợp, những phần mềm dạy học tương tác với giao diện kéo - thả
và tương tác tham số, tương tác theo kiểu trò chơi, đã cho phép người học và người dạy có thể thực hiện trong giờ lên lớp lý thuyết, ví dụ những thao tác toán học dài dòng, những đồ họa động phức tạp hoặc những thí nghiệm và thực hành đòi hỏi nhiều thời gian tạo dựng và vận hành…
Những phần mềm này rất có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong Lý luận và công nghệ dạy học hiện đại bởi vì nó hoạt hóa (tích cực hóa) quá trình dạy học, nâng cao hiệu quả học tập (học và hành) và phát huy tư duy sáng tạo của người
học
Trong CNDHTT và CNDH theo LLDHTT (hay qua n điểm SPTT) thì tương tác người - máy là liên kết phổ biến giữa bộ ba người học - người dạy - môi trường
b Tương tác người máy
Tương tác Người - Máy (Human Machine Interaction) nói chung và tương
tác Người - Máy tính (Human Computer Interaction) nói riêng là những vấn đề khoa học đã được quan tâm và nghiên cứu rất nhiều Chính việc nghiên cứu đó đã thúc đẩy được sự phát triển tiện dụng của máy móc đối với người sử dụng Bên cạnh đó nó làm cho người dùng luôn cảm thấy máy móc thân thiện hơn và dễ nắm
bắt được công nghệ
Theo như Backer và Boxton ([18]) định nghĩa thì “Tương tác người máy là tập các quá trình, đối thoại và các hành động, qua đó con người sử dụng và tương tác với máy tính”
Trang 3636
Tương tác ở đây được hiểu là sự giao tiếp giữa người dùng (con người) và
hệ thống, trong đó máy tính được xem như là một công cụ thực hiện Việc lựa chọn kiểu giao tiếp sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến bản chất của quá trình đối thoại Có nhiều kiểu tương tác để con người giao tiếp với hệ thống máy tính như:
* Giao ti ếp dòng lệnh
Hình 1-6: Giao ti ếp kiểu dòng lệnh
Đây là loại giao tiếp có tính lịch sử và rất phổ biến Loại giao tiếp này cung cấp các phương tiện biểu diễn dòng lệnh cho máy tính một cách trực tiếp Người dùng đưa vào dòng lệnh để thực hiện yêu cầu của mình bằng cách nhấn một phím
chức năng Các lệnh thường là các động từ viết tắt hay chọn từ
Đối với loại hình giao tiếp này, yêu cầu người dùng bắt buộc phải nhớ các dòng lệnh chứ không được nhập tùy tiện Điều này là rất khó với người sử dụng,
do vậy cần mất công đào tạo Unix, Dos là những hệ điều hành hay sử dụng giao tiếp kiểu dòng lệnh
Trang 3737
* Giao tiếp bảng chọn (menu)
Hình 1-7: Giao tiếp kiểu menu đơn giản trong môi trường text
Cách thức giao tiếp này cung cấp một tập các lựa chọn cho người dùng và
tập này thể hiện trên màn hình Người dùng lựa chọn một mục (tương ứng với công việc) bằng cách sử dụng các phím con trỏ, phím tắt hay nhấn vào một ký tự hoặc có thể dụng chuột để lựa chọn mục Khi các lựa chọn được quan sát trên màn hình, người dùng được gợi ý mà không đòi hỏi phải nhớ
* Giao tiếp bằng ngôn ngữ tự nhiên
Đây là dạng giao tiếp hấp dẫn nhất giữa người dùng và máy tính Việc hiểu ngôn ngữ tự nhiên bao gồm cả tiếng nói và chữ viết, là một chủ đề được quan tâm
và nghiên cứu của nhiều lĩnh vực Tuy nhiên sự nhập nhằng của ngôn ngữ tự nhiên gây nên các khó hiểu cho máy
Con người thường dựa vào ngữ cảnh để phân tích sự nhập nhằng này Tuy nhiên điều này với máy tính thì lại quá khó Điều này dẫn đến việc sử dụng ngôn ngữ tự nhiên trong các lĩnh vực hạn chế thì có thể thành công Hiện nay đã có một
số phần mềm máy tính nhận diện và điều khiển bằng giọng nói
* Giao ti ếp dạng hỏi đáp và truy vấn
Hỏi đáp là một cơ chế đơn giản nhằm cung cấp dữ liệu cho một ứng dụng
của một lĩnh vực riêng nào đó Người dùng được yêu cầu bới một loạt các câu hỏi Các câu hỏi được miêu tả trong nhiều dạng khác nhau như: dạng yes/no, dạng đa
lựa chọn, dạng nhấn số… Kiểu giao tiếp này khá tự nhiên, dễ thiết kế và thích hợp người dùng mới và thiếu kinh nghiệm
Trang 3838
* Giao ti ếp dạng Form điền
Hệ thống sẽ hiển thị một tập các trường văn bản trên màn hình, người dùng
có thể lựa chọn một trường nào đó để nhập hoặc hiệu chỉnh nội dung Thường các
mẫu hiển thị dựa trên các mẫu thực tế mà người dùng quen thuộc nhằm tạo nên giao diện dễ dàng hơn cho người sử dụng Người sử dụng làm việc xuyên suốt
mẫu, điều các giá trị thích hợp Dữ liệu nhập vào ứng dụng ở các vị trí xác định
Dạng hội thoại này hữu ích cho các ứng dụng nhập dữ liệu Ở một chừng mực nào đó, nó dễ cho việc học và sử dụng đối với những người không sử dụng thành thạo
* Giao tiếp dạng WIMP
Hình 1-8: Giao ti ếp dạng WIMP
Hiện nay hầu hết các tương tác máy tính là các dạng giao diện WIMP, thường gọi là hệ thống các cửa sổ (Windows), các biểu tượng (Icons), các bảng chọn (Menus) và con trỏ (Pointers) và là dạng tương tác mặc định cho phần lớn hệ
thống tương tác máy tính đang sử dụng hiện nay Ví dụ như Microsoft Window, MaxOS,…
Trang 3939
Các đặc trưng then chốt trong giao diện WIMP là: Windows, Icons, Menus, Pointers Đây là các phương tiện dùng cho tương tác người - máy
Cửa sổ: các cửa sổ là các vùng màn hình, mỗi cửa sổ chứa các đối tượng
văn bản hoặc đồ họa và người dùng có thể di chuyển hay điều chỉnh kích thước của chúng Với hình thức giao tiếp này, người sử dụng có thể cùng một lúc làm nhiều công việc trên nhiều cửa sổ khác nhau
Bi ểu tượng: Là một hình ảnh tượng trưng cho một ứng dụng nào đó Người
dùng khi sử dụng không cần biết ứng dụng đó ở đâu mà chỉ cần chạy thông qua biểu tượng Mỗi biểu tượng đều thể hiện được những đặc trưng riêng cho ứng mà
nó đại diện
Bảng chọn: Đặc trưng của hệ thống cửa sổ là các bảng chọn Các bảng chọn
cung cấp các thông tin về chức năng, danh sách tuần tự các thao tác Việc thiết kế các cửa sổ với các bảng chọn thì thiết bị trỏ được sử dụng để lựa chọn Có nhiều kiểu thiết kế bảng chọn trong các cửa sổ, tuy nhiên không nên có quá nhiều mục
chọn trong một bảng chọn làm cho người sử dụng khó sử dụng khi chọn
Con trỏ: Là một thành phần rất quan trọng trong giao tiếp WIMP bởi vì nó
được dùng để định vị và chọn lựa các chức năng, thiết bị trỏ có nhiều loại như: chuột, cần điều khiển, cảm ứng, bóng xoay… nhưng tất cả để thể hiện dưới dạng hình dáng con trỏ trên màn hình Con trỏ cũng có nhiều dạng khác nhau để phân
biệt trạng thái làm việc của ứng dụng hay vị trí làm việc của con trỏ
Hiện nay, với công nghệ dạy học bằng máy vi tính (Computer Aided/Assisted Instruction - CAI) thì máy tính trở thành một phương tiện tất yếu
và không thể thiếu trong dạy học Một bài dạy theo công nghệ CAI có tương tác người - máy sẽ đáp ứng đồng thời hai yêu cầu cơ bản sau:
- Là một bài dạy giáp mặt đạt chuẩn mực sư phạm
- Là một bài dạy từ xa qua mạng (LAN, WAN,…), người học có thể tái hiện đầy đủ những gì GV cung cấp, nói một cách khác, là một trang web tương tác được theo ý đồ sư phạm
Qua nghiên c ứu về các loại bài giảng, bài giảng điện tử, các hình thức tương tác; các dạng giao tiếp khác nhau, tác giả nhận thấy để đạt được tốt mục
Trang 4040
tiêu d ạy học thì phương thức dạy học bằng BGĐT theo hướng tương tác với hình thái tương tác Người - Máy với dạng giao tiếp WIMP sẽ mang lại hiệu quả cao
1.2 Bài gi ảng điện tử
1.2.1 Khái ni ệm bài giảng điện tử
Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động học đều được chương trình hóa, do giáo viên điều khiển thông qua môi trường multimedia do máy vi tính tạo ra
Bài giảng điện tử không phải chỉ đơn thuần là các kiến thức để học sinh ghi vào vở, mà đó là toàn bộ hoạt động dạy và học Bài giảng điện tử là nơi tất cả các tình huống sẽ xảy ra trong quá trình truyền đạt và tiếp thu kiến thức của học sinh Bài giảng điện tử càng không phải là một công cụ để thay thế “bảng đen phấn trắng” mà nó phải đóng vai trò định hướng trong tất cả các hoạt động trên lớp
Các đơn vị của bài học đều phải được Multimedia hóa (đa phương tiện hóa) Trong môi trường đa phương tiện, thông tin được biểu diễn dưới các dạng: Văn
bản (text), hình ảnh (image), đồ họa (graphics), hoạt hình (animation), các đoạn phim (video clip), âm thanh (audio)
Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học
của giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được multimedia hóa một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc của bài học Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy được thể hiện bằng vật chất trước khi bài dạy học được tiến hành Giáo án điện tử chính là bản thiết kế của bài giảng điện tử, chính vì vậy xây dựng giáo án điện tử hay thiết
kế bài giảng điện tử là hai cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể để có được bài giảng điện tử
M ục đích của bài giảng điện tử:
- Giúp giáo viên triển khai và thực hiện đúng kế hoạch học tập
- Giúp người học hiểu bài học nhanh, chính xác hơn, tăng thời lượng thực hành và giảm thời lượng học lý thuyết
- Đề cao khả năng tự học nhờ bài giảng điện tử, đáp ứng tính cá thể trong
học tập