1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng phương pháp dạy học tương tác trong giảng dạy môn kỹ thuật lập trình cho học sinh học nghề

81 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy nhà trường phải rèn luyện cho học sinh tính tích cực, năng động, sáng tạo bằng cách sớm chuyển sang phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực hoá hành động học tập của học sinh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM KỸ THUẬT Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

Hà Nội - 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM KỸ THUẬT

LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Chuyên sâu: SƯ PHẠM KÝ THUẬT CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS ĐẶNG VĂN CHUYẾT

H à Nội - 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy PGS-TS Đặng Văn Chuyết đã

tận tình hướng dẫn hết lòng giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành bản luận văn này

Em xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong Viện Công nghệ thông tin

và truyền thông, Viện Sư Phạm Kỹ thuật, Viện Sau Đại học trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành luận văn

Đồng thời em cũng xin được gửi lời cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè

đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để em hoàn thành luận văn

Tuy đã rất cố gắng, nhưng luận văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý để đề tài được hoàn thiện hơn

Hà N ội, ngày 25 tháng 5 năm 2013

Người viết

Nguy ễn Thị Sinh

Trang 4

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những gì mà tôi viết trong luận văn này là do sự tìm hiểu

và nghiên cứu của bản thân tôi Mọi kết quả nghiên cứu, những luận điểm nếu có đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể

Luận văn này chưa được bảo vệ tại bất kỳ hội đồng nào và chưa công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan ở trên

Hà N ội, ngày 25 tháng 5 năm 2013

Nguy ễn Thị Sinh

Trang 5

DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNTT: Công nghệ thông tin SPTT: Sư phạm tương tác CNPM: Công nghệ phần mềm PTDH: Phương tiện dạy học WWW: World Wide Web

MS Word: Microsoft Word

MS Paint: MicroSoft Paint

MS PowerPoint: MicroSoft PowerPoint

WIMP: Window Image Menu Point

Trang 6

DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Cấu trúc tuyến tính của phương thức dạy học (Nguồn [5]) Hình 2.2: Cấu trúc một vòng của chương trình luyện tập (Nguồn[5]) Hình 3.1: Hộp thoại End-User License Agreement – Teacher

Hình 3.2: Hộp thoại Completing the Netop School – Teacher

Hình 3.3: Hộp thoại Welcome to Netop School Student

Hình 3.4: Hộp thoại End-User License Agreement – Student

Hình 3.5: Hộp thoại Completing the Netop School – Student

Hình 3.6: Hộp thoại Thumbnail View

Hình 3.7: Giao diện quản lý máy học sinh

Hình 3.8: Hộp thoại Netop Teacher

Hình 3.9: Mô phỏng bài làm phương trình bậc nhất trong C-Free Hình 3.10: Kết quả chạy chương trình phương trình bậc nhất

Hình 3.11: Mô phỏng bài làm số chẵn lẻ trong C-Free

Hình 3.12: Kết quả chạy chương trình số chẵn lẻ

Trang 7

M ỤC LỤC

1 LÝ DO CH ỌN ĐỀ TÀI 7

2- M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU : 9

3- NHI ỆM VỤ NGHIÊN CỨU 9

4- GI Ả THUYẾT KHOA HỌC : 9

5- NHI ỆM VỤ: 9

6- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 9

7- ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN: 10

CHƯƠNG I 11

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN DẠY HỌC TƯƠNG TÁC 11

1 KHÁI QUÁT V Ề PHƯƠNG PHÁP SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC 11

1.1 Các tác nhân .11

1.2 Các thao tác 15

2 Quá trình d ạy học theo quan điểm sư phạm tương tác 18

2.1 Mô hình dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác 18

2.2 Quy trình d ạy học theo quan điểm sư phạm tương tác 22

2.2.2 T ổ chức thực hiện kế hoạch bài học môn kỹ thuật lập trình theo quan điểm sư phạm tương tác 24

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ ỨNG DỤNG TƯƠNG TÁC NGƯỜI MÁY TRONG GI ẢNG DẠY 27

1 TƯƠNG TÁC NGƯỜI – MÁY VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ .27

1.1 Tổng quan tương tác người – máy .27

1.2 Các d ạng tương tác 28

2 QUAN ĐIỂM TƯƠNG TÁC NGÀY NAY 33

Trang 8

2.2 Quan điểm tương tác ngày nay 34 2.3 Ch ức năng của máy tính trong dạy học .35

CH ƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 41

1 TH ỰC TRẠNG DẠY HỌC SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC TRONG CÁC

TRƯỜNG DẠY NGHỀ .41

2 YÊU C ẦU ĐỐI VỚI PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC 44

3 S Ử DỤNG PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC: 47

4 S Ử DỤNG PHẨN MỀM NETOP SCHOOL 6.0 VÀO DẠY HỌC MÔN

K Ỹ THUẬT LẬP TRÌNH .49

5 TH ỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 57

KẾT LUẬN 77

Trang 9

L ỜI MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CH ỌN ĐỀ TÀI

Sự bùng nổ của Công nghệ thông tin (CNTT) nói riêng và Khoa học công nghệ nói chung đang tác động mạnh mẽ vào sự phát triển của tất cả các ngành trong đời sống xã hội Trong bối cảnh đó, để ngành giáo dục đáp ứng được đòi hỏi cấp thiết của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước chúng ta cần

cải cách phương pháp dạy học theo hướng vận dụng CNTT và các trang thiết bị dạy học hiện đại phát huy mạnh mẽ tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành để nâng cao chất lượng dạy học Bộ giáo dục và Đào tạo cũng đã có những chủ trương rất

cụ thể trong toàn ngành về việc ứng dụng CNTT trong công tác dạy và học Đặc

biệt năm học 2008 – 2009 được phát động là “Năm học công nghệ thông tin” trong toàn ngành giáo dục Việc “Bồi dưỡng khả năng ứng dụng CNTT trong dạy

học ” là một việc làm thiết thực triển khai những định hướng của bộ Giáo dục và Đào tạo về CNTT

Môn kỹ thuật lập trình ở trường dạy nghề có nhiệm vụ hình thành kỹ năng lập trình cho học sinh học nghề Những năng lực lập trình này chỉ có được khi giáo viên tổ chức cho học sinh thực hành và hứng thú với việc thực hiện nó Mặt khác để tổ chức tốt quá trình giao tiếp cho học sinh trong quá trình dạy học lập trình thì việc tạo ra môi trường thuận lợi, xây dựng mối quan hệ hợp tác cùng phát triển giữa học sinh- học sinh; học sinh - giáo viên là điều quan trọng

Tuy nhiên, thực tiễn dạy học lập trình ở trường dạy nghề cho thấy về phương pháp dạy học bên cạnh những thành công còn có nhiều bất cập nhất định

Trang 10

Số đông giáo viên chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của việc tạo ra môi trường, điều kiện cho học sinh hoạt động lĩnh hội tri thức; còn coi trọng lối truyền

thụ một chiều theo kiểu "Máy phát" (người dạy) "Máy nhận" (người học) chưa chú trọng dẫn đến việc tạo điều kiện, cơ hội hứng thú để học sinh phát huy hết

khả năng của mình làm cho các em thụ động lĩnh hội tri thức, hạn chế tính tích cực nhận thức, tư duy sáng tạo của học sinh

Hơn nữa sự bùng nổ của nền kinh tế tri thức làm cho trình độ nhận thức của học sinh ngày càng cao hơn trình độ của học sinh cùng lứa tuổi trước đây Vì vậy nhà trường phải rèn luyện cho học sinh tính tích cực, năng động, sáng tạo bằng cách sớm chuyển sang phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực hoá hành động học tập của học sinh thông qua việc tổ chức cho các em các hoạt động học tập và giao lưu, hợp tác với bạn với thầy để lĩnh hội kiến thức một cách sáng tạo, chủ động

Phương pháp sư phạm tương tác đã đề ra chiến lược dạy học có khả năng đáp ứng được yêu cầu trên Đó chính là lý do khiến tôi chọn đề tài nghiên cứu:

" Ứng dụng phương pháp dạy học tương tác trong giảng dạy môn Kỹ thuật Lập trình cho h ọc sinh học nghề"

Với luận văn này chúng tôi tiếp tục nghiên cứu cụ thể hơn về các biện pháp

giải quyết mối quan hệ giữa Giáo viên - học sinh và các đòi hỏi của môi trường bên trong, bên ngoài giáo viên và học sinh với mong muốn góp phần nâng cao

chất lượng dạy học Kỹ thuật lập trình ở trường dạy nghề

Trang 11

2- M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận về SPTT, từ đó đề xuất hướng tổ chức dạy

học môn kỹ thuật lập trình ở trường dạy nghề thông qua việc sử dụng phương

pháp sư phạm tương tác một cách hợp lý

3- NHI ỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Thế nào là sư phạm tương tác? Mối quan hệ giữa các tác nhân trong SPTT? Quy trình dạy học theo SPTT?

- Làm thế nào để vận dụng tốt SPTT trong giờ học môn kỹ thuật lập trình

4- GI Ả THUYẾT KHOA HỌC :

Nâng cao được chất lượng dạy học môn Kỹ thuật lập trình Nếu sử dụng phương pháp sư phạm tương tác một cách hợp lý

5- NHI ỆM VỤ:

5.1- Tìm hiểu cơ sở lý luận, thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

5.2- Tổng quan về ứng dụng tương tác người máy trong giảng day

5.3- Thực nghiệm sư phạm

6- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

6.1- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

Nhằm thu thập các thông tin lí luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu 6.2- Phương pháp quan sát, điều tra

Nhằm tìm hiểu thực tiễn dạy học Kỹ thuật lập trình hiện nay

Trang 12

6.3 - Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Nhằm xem xét, xác nhận tính đúng đắn, hợp lý và tính khả thi của việc sử dụng phương pháp sư phạm tương tác trong dạy học kỹ thuật lập trình ở trường dạy nghề

7- ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN:

Nâng cao chất lượng dạy học Kỹ thuật lập trình và năng lực lập trình cho học sinh học nghề

- Tài liệu tham khảo

Trang 13

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN DẠY HỌC TƯƠNG TÁC

Phương pháp sư phạm tương tác là phương pháp dạy học tập trung trước

hết vào người học, xem người học là người “thợ chính” của quá trình dạy học

Mọi can thiệp sư phạm đều xuất phát từ nhu cầu, tiềm năng và trách nhiệm của người học đối với quá trình học tập của bản thân Người dạy trong phương pháp

sư phạm tương tác là người hướng dẫn người học cách học, tạo ra những điều kiện thuận lợi để người học thực hiện phương pháp học của mình Môi trường là

yếu tố ảnh hưởng đến cả người dạy và người học, tuy nhiên ở một mức độ nào đó thì người dạy và người học cũng có những tác động ngược trở lại đối với môi trường

Phương pháp sư phạm tương tác được xây dựng căn bản dựa trên các tác nhân người dạy - người học - môi trường và các thao tác tương ứng với nó

1.1 Các tác nhân

1.1.1 Người học

Người học trong phương pháp sư phạm tương tác bao gồm tất cả các đối tượng đi học chứ không nhằm nhấn mạnh đến một mối quan hệ thầy trò hay một

cơ sở trường lớp nào cả

Để có thể tồn tại và phát triển trong xã hội với tư cách là một thành viên tích cực, thì mỗi cá nhân đều phải được trang bị những năng lực thực tiễn thể hiện

ở khả năng lao động, cư xử trong sản xuất và trong đời sống hàng ngày Các năng

ực thực tiễn đó đặc trưng cho trình độ văn minh của xã hội và bao giờ cũng có

Trang 14

sẵn trong nền văn hoá xã hội do thế hệ trước tạo ra, tinh chế và gửi vào các sản phẩm vật chất tinh thần Để có những năng lực đó thì người học phải tham gia vào quá trình thu lượm tri thức, kỹ năng kỹ xảo bằng năng lực của chính mình,

bởi năng lực người không tự nhiên mà có trong mỗi cá thể, nó cũng không di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Muốn có nó thì con người phải trải qua một quá trình hoạt động, rèn luyện lâu dài bằng chính tiềm năng của bản thân để làm "sống" lại những năng lực thực tiễn đã được gửi vào trong đối tượng từ đó

mà tiếp thu, lĩnh hội

Người học theo quan điểm của phương pháp sư phạm tương tác không phải

là cái bình sống để chứa những kiến thức mà người dạy rót sang, cũng không phải

là đối tượng thụ động tuân theo mọi quyết định của người dạy Trái lại, người học

ở đây là chủ thể tích cực tự giác tham gia vào quá trình học tập của bản thân để chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đồng thời họ có khả năng tự điều chỉnh hoạt động của mình nhằm đi đến mục đích cuối cùng Trong vai trò là một tác nhân người học được xem xét như là chủ thể đi tìm cách học và tìm cách hiểu chứ không phải là người được dạy

1.1.2 Người dạy

Người dạy trong phương pháp sư phạm tương tác không đóng vai trò là

"cái máy bơm đơn giản bơm tri thức vào đầu học sinh", họ là người bằng tri thức, kinh nghiệm của mình có trách nhiệm hướng dẫn người học học cách học Thật vậy, mỗi đối tượng tồn tại trong xã hội đều chứa đựng những năng lực người nhất định, chẳng hạn: Cái cốc là vật thể hoá khái niệm "cốc", năng lực người chứa đựng trong cái cốc đó là khả năng dùng cốc để uống nước Nhiệm vụ của người

học là phải tham gia vào quá trình tái tạo lại quá trình loài người đã sáng tạo ra

Trang 15

đối tượng để thu về mình những năng lực cần thiết Mà quá trình tái tạo đó đạt hiệu quả cao thì người dạy phải sử dụng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, năng

lực, kinh nghiệm sống của mình để thiết kế, tổ chức lại quá trình tái sản xuất đó thành một quy trình công nghệ theo kiểu nhà trường đảm bảo cho bất kỳ người

học nào làm đúng theo quy trình công nghệ ấy thì thế nào cũng làm ra sản phẩm

mà không nhất thiết phải sai, việc lập lại một việc làm đã được xác định tương đối

dễ đối với người học Nếu người dạy làm được như vậy thì họ đã thực hiện được nhiệm vụ hướng dẫn người học lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo Để làm được điều này người dạy cần phải có tri thức sư phạm và khoa học để làm chủ nội dung

và phương pháp dạy học, ngoài ra còn phải có khả năng dự kiến các tình huống

có thể xảy ra trong quá trình dạy học để có biện pháp giúp đỡ kịp thời đối với người học, để họ thực hiện tốt phương pháp dạy học của mình

Như đã nói ở trên, để thực hiện trách nhiệm hướng dẫn người học thì người

dạy phải biết thiết kế và tổ chức quá trình tái sản xuất kiến thức theo một quy trình công nghệ theo kiểu nhà trường thì người dạy phải chỉ cho người học con đường phải đi, các phương tiện cần sử dụng và cái đích đạt được Đồng thời người dạy còn phải tạo cho người học hứng thú, tinh thần trách nhiệm đối với

việc học của bản thân và có biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ để cho người học đến đích Một điều cốt lõi khi thực hiện các công việc này đối với người dạy, đó là không bao giờ được làm hộ người học, không bao giờ được đem đến cho người học những sản phẩm làm sẵn, mà muốn hình thành ở người học năng lực gì thì người

dạy phải tổ chức và tạo mọi điều kiện cho người học có thể tự tạo ra sản phẩm ấy

và làm trước mắt người dạy Như vậy thì cách truyền đạt đơn thuần theo lối học thuộc lòng một bài giảng hay cách truyền đạt theo cách truyền đạt một thông tin

Trang 16

khoa học là những cách thức dạy học đi ngược lại tinh thần cơ bản của phương pháp sư phạm tương tác

Người dạy theo nghĩa đích thực của từ này là người được đào tạo một cách chuyên biệt với tư cách là một nghề trong xã hội Họ là người thực hiện sứ mệnh vinh quang là vì sự phát triểm của xã hội, của thế hệ tương lai chứ không phải xã

hội sinh ra nghề dạy học để các ông thầy có việc làm Mặt khác,vì sự có mặt của người học quyết định sự có mặt của người dạy với tư cách là một thầy giáo đích

thực Cho nên trong phương pháp sư phạm tương tác người dạy không phải là chủ thể của quá trình dạy học mà là người phục vụ người học, làm nảy sinh ở người học với tư cách của một người hướng dẫn

1.1.3 Môi trường

Môi trường (Environnemnt): Môi trường là toàn bộ các yếu tố bên trong và

bên ngoài có ảnh hưởng đến con người Hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người học diễn ra trong không gian, thời gian xác định và chịu rất nhiều ảnh hưởng của môi trường Tất cả các yếu tố bên trong cũng như các yếu tố bên ngoài, tạo thành môi trường của người dạy và người học Tác nhân này đóng một vai trò có ý nghĩa vì nó ảnh hưởng tới cả việc dạy và việc học Theo quan điểm tương tác: “Người dạy và người học không phải là những

sinh vật trừu tượng, xung quanh họ là thế giới vật chất văn hóa Cả người học

và người dạy đều có một tính cách rõ rệt và các giá trị cá nhân được phát tri ển trong một đất nước có các thể chế, chính trị, gia đình và nhà trường mà chúng t ất yếu có ảnh hưởng đến họ Tất cả những yếu tô này bên trong cũng như bên ngoài tạo thành môi trường dạy và học”[1,T52]

Trang 17

Môi trường bên trong : Chỉ các mối quan hệ nội tại bên trong của người

dạy, người học như: tiềm năng trí tuệ, những xúc cảm, những giá trị của cá nhân, vốn sống, giá trị đạo đức, phong cách dạy và học, nhân cách,…

Môi trường bên ngoài: Chỉ các yếu tố bên ngoài người học, người dạy như:

môi trường (không gian vật chất và tâm lý, thời gian, ánh sáng, …), người dạy (hình thức bên ngoài, đời sống nội tâm, kỹ năng giao tiếp,…) ảnh hưởng tới người học Người học, đặc biệt là tập thể HS với không khí học tập thi đua của lớp ảnh hưởng tới người dạy, nhà trường, tính di truyền, tập tính của cha mẹ,

những giá trị truyền thống, sự quan tâm của bố mẹ, xã hội, chế độ chính trị, hệ thống định hướng, chính sách kinh tế – xã hội,

1.2 Các thao tác

Tương ứng với các tác nhân trên là các thao tác sau:

1 2.1 Phương pháp học

Phương pháp học còn là hoạt động học (có chủ định) Nếu các kiến thức,

kỹ năng, kỹ xảo được hình thành thông qua hoạt động vui chơi, lao động chỉ là sản phẩm phụ của các hoạt động đó và các kiến thức lĩnh hội được chỉ là những

kiến thức kinh nghiệm thì những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo được lĩnh hội thông qua hoạt động học tập có chủ định là sản phẩm chính của hoạt động học, đó là

những kiến thức khoa học đích thực, có tính chất cẩm nang, nó giống như chiếc chìa khoá vạn năng giúp người học mở cửa kho tàng tri thức của nhân loại để lĩnh

hội những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho bản thân mình

Vì phương pháp học chính là hoạt động học nên để tiến hành hoạt động học thì người học phải đưa ra các hành động học Có ba hành động học là phân tích,

Trang 18

khái quát và cụ thể hoá ba hành động này có mối quan hệ biện chứng thống nhất với nhau Ban đầu những hành động học tập này là đối tượng lĩnh hội (học cách

học) sau khi đã được hình thành thì nó lại trở thành phương tiện học tập và góp

phần quyết định chất lượng của hoạt động và hoạt động học tập chỉ có thể được hình thành thông qua các hành động học tập, do đó trong quá trình dạy học phải lấy hành động học tập làm cơ sở

Cái đích của hoạt động học tập là hướng tới chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo thông qua sự tái tạo của cá nhân Cái đích đó sẽ không thực hiện được nếu người học không được tham gia vào quá trình tái tạo đó Trái lại người học phải tích cực tiến hành các hoạt động học tập bằng chính năng lực, trí tuệ, và ý thức tự giác của bản thân dưới sự hướng dẫn của người dạy Điều đó cho thấy việc dạy

học không phải là một bài độc tấu mà là một vở kịch có người học cùng tham gia trên con đường đi đến lĩnh hội một tri thức mới

Khác với hoạt động khác, hoạt động học không làm thay đổi khách thể, đối tượng của hoạt động mà là hoạt động hướng vào chủ thể của nó Nếu chủ thể lĩnh hội được càng nhiều kiến thức - kỹ năng - kỹ xảo thì sức mạnh vật chất, tinh thần

của họ càng tăng lên bấy nhiêu Vì vậy hoạt động học của người học không diễn

ra một cách êm ả mà luôn có sự vận động, phát triển để không ngừng đi đến đồng hoá ngày càng nhiều tri thức mới làm giàu cho vốn năng lực cá nhân của chủ thể, làm cho chủ thể của hoạt động học có sự biến đổi về chất

1 2.2 Phương pháp sư phạm

Như đã biết, phương pháp học của người học chính là hoạt động học có chủ định, hoạt động đó chỉ có thể thực hiện đạt chất lượng tốt khi có sự hướng dẫn

Trang 19

của người dạy Công việc hướng dẫn này được tiến hành bởi nhiều người ngay sau khi trẻ ra đời ở mọi lúc, mọi nơi và trong mọi hoạt động của chúng Song chỉ

có sự hướng dẫn của những người được đào tạo chuyên biệt thì mới đảm bảo cho quá trình tiếp thu có tính tự giác và khái quát cao bởi các tri thức đó không chỉ đúng và thích hợp cho một hoàn cảnh nào đó mà nó còn đúng và thích hợp cho mọi hoàn cảnh tương tự Việc hướng dẫn người học thu lượm tri thức tức là hướng dẫn người học thực hiện phương pháp học Thực chất đó là quá trình người dạy tổ chức lại quá trình tái tạo ở người học các tri thức khoa học, làm cho người học ý thức được đối tượng học, có nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng và biết cách chiếm lĩnh nó Trong một số trường hợp người dạy có những can thiệp sư

phạm để quá trình đó diễn ra nhanh hơn nhưng đó là sự can thiệp với tư cách của một người hướng dẫn

Để tổ chức quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo theo quy trình công nghệ theo kiểu nhà trường không phải dễ Bởi những sản phẩm (đồ vật, khái niệm, hình tượng nghệ thuật ) được lưu hành trong đời sống chỉ là sản phẩm

cuối cùng, nó để lại sau lưng quá trình sản xuất ra nó Vì vậy, muốn lặp lại quá trình làm ra sản phẩm đó người dạy phải huy động toàn bộ những năng lực vốn có bao gồm kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm để thiết kế lại một lần nữa quy trình thực hiện đã làm ra sản phẩm dưới dạng làm để học, có tính sư phạm cao Lúc này quy trình công nghệ đã được tinh chế về mặt sư phạm, đã bị loại bỏ đi tất cả những gì có thể loại bỏ, chỉ còn giữ lại cái không thể- không có tức là cái logic thuần khiết của đối tượng Mặt khác, đối tượng tác động của phương pháp sư phạm là sự phát triển nhân cách của người học Cho nên phương pháp sư phạm

của người dạy còn là sự tác động giữa các nhân cách, do đó trong quá trình dạy

Trang 20

học phương pháp sư phạm phải hướng vào "vùng phát triển gần nhất của người học biến cái có thể thành cái đã có nhằm tạo nên sự biến đổi về chất ở người học

Để làm được điều này người dạy phải huy động toàn bộ phẩm chất và năng lực

của mình để tác động vào nhân cách của người học

2 Quá trình d ạy học theo quan điểm sư phạm tương tác

2.1 Mô hình dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác

Theo lý thuyết hoạt động, quá trình xử lý kinh nghiệm của người học chịu

sự tác động của các yếu tố sau:

- Động cơ học: Động cơ học thúc đẩy hoạt động học xảy ra, được bổ sung

và phát triển trong hoạt động của người học Do đó, động cơ học tập chỉ được hình thành khi người học nhận thức rõ về ý nghĩa và có khả năng chiếm lĩnh được tri thức khoa học, đồng thời sử dụng được những tri thức này trong học tập, trong thực tiễn

- Các hành động học: Hành động học vừa là phương tiện, vừa là sản phẩm

của hoạt động học Thông qua các hành động học mà khái niệm được hình thành ở người học Vì vậy, bản chất của quá trình hình thành tri thức ở người học là quá trình hình thành các hành động học

- M ục tiêu học là hình ảnh về kết quả của từng hoạt động học do người học

hình dung trước để định hướng cho các hành động học, nó yêu cầu một nội dung học phải phù hợp và những phương pháp học phải có hiệu quả

Do đó, theo lý thuyết hoạt động, cấu trúc của hoạt động học được xác định như sau:

1 Có động cơ thúc đẩy hoạt động học xảy ra;

2 Mục tiêu học là sự cụ thể hoá của động cơ học và được thực hiện bởi

Trang 21

Động cơ học chỉ được hình thành ở người học khi người học:

- Nhận thức được ý nghĩa của môn học đối với chương trình học của cá nhân, với thực tế cuộc sống và lao động sản xuất, từ đó người học đề ra các mục tiêu học cụ thể trong quá trình nghiên cứu đối tượng học tập

- Tìm thấy những nội dung kiến thức môn học phản ánh các ý nghĩa của môn học và đáp ứng mục tiêu học

- Tìm thấy những phương pháp, phương tiện tiến hành những hành động học đạt được mục đích học đã đề ra

- Tìm thấy những cách thức xác nhận kết quả so với mục đích đã đề ra

Bước 2: Tự giác, tích cực thực hiện các hành động học trong những tình

hu ống cụ thể

Hoạt động học được thôi thúc bởi động cơ học sẽ diễn ra một cách tự giác,

Ở đó, dưới sự hướng dẫn chính xác, chặt chẽ cả về kiến thức và phương pháp, người học được huy động ở mức cao nhất những nguồn lực có trong tay và trong tầm tay để chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng và cách thức hành động làm nền

tảng cho việc khám phá tri thức, kỹ năng và cách thức hành động trong tình huống mới có hướng đích

Bước 3: Người học chịu trách nhiệm toàn bộ việc học của mình để đạt

được mục đích học

Trang 22

Việc chịu trách nhiệm toàn bộ quá trình học không chỉ giúp người học đạt được mục tiêu học tập đã đề ra, duy trì hứng thú nhận thức, mà còn tạo cơ hội rèn luyện các nét tính cách, các hành động trí tuệ và các kỹ năng tự học như tính kiên trì, tính độc lập, kỹ năng thu thập, xử lý, lưu giữ, xử lý kiến thức,…

Để đạt được điều này, đòi hỏi người học phải:

- Tiếp cận, nhận thức lại vấn đề;

- Thay đổi quan niệm được hình thành trước đó;

- Tìm kiếm thêm mối liên hệ về kiến thức;

- Tích cực hợp tác, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm với những người cùng hoạt động;

Những việc làm này giúp người học nhận ra được kiến thức mới so với những kiến thức đã biết trước đó, mô tả (diễn đạt) tường minh những kiến

thức này và chuyển thành hiểu biết riêng – hiểu biết mang tính chất cá nhân người học và được đồng nhất hoá với tri thức trong lớp

Bước 4: Kết thúc quy trình và chuyển sang một quy trình mới

Một quy trình trọn vẹn được khởi đầu từ khi hình thành mục đích học cho đến khi xác nhận kết quả học so với mục đích đã định trước để tin chắc rằng

những kiến thức thu lượm được từ hoạt động tương tác với đối tượng đã trở thành kiến thức xã hội, có ý nghĩa hiện tại và tương lai Công việc này không chỉ có tác dụng hình thành động cơ, hứng thú học tập cho người học mà còn giúp người học hiểu được sơ đồ các hành động học, từ đó giúp họ phương hướng vạch ra kế hoạch thực hiện nhiệm vụ học tập đã được giao (kế hoạch tự học) Chất lượng của giai đoạn này có ý nghĩa quyết định sự thành công hay

thất bại của các giai đoạn sau

Trang 23

* T ổ chức các hoạt động học tập cho người học nhằm chiếm lĩnh tri thức,

kỹ năng, hình thành thái độ học tập đúng đắn và rèn luyện kỹ năng tự học, tự nghiên c ứu Để làm tốt nhiệm vụ này, người dạy cần thực hiện các nội dung

sau:

- Nêu rõ nhiệm vụ học tập;

- Cung cấp những phương tiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ học tập;

- Yêu cầu người học tích cực, chủ động thực hiện các nhiệm vụ học tập, giải quyết tình huống, đảm nhận trách nhiệm giải quyết vấn đề và người dạy từ

chối sự can thiệp trực tiếp

* H ợp tác, giúp đỡ người học thực hiện việc học và đạt được mục tiêu học

Trong quá trình người học thực hiện các nhiệm vụ học tập, người học thường gặp những khó khăn bên ngoài (thời gian và các điều kiện học tập khác) và khó khăn bên trong (rỗng kiến thức, phương pháp học tập hiện tại chưa phù hợp, động cơ học tập chưa rõ nét,…) Những khó khăn này ảnh hưởng xấu đến hứng thú học tập của người học, làm cho họ thiếu trách nhiệm đến cùng trong việc học hoặc thiếu tự tin, thiếu tính tích cực và sáng tạo trong

dự án học Để khắc phục được khó khăn này, người học cần sự can thiệp sư

phạm và sự giúp đỡ của người dạy Đó là sự hợp tác giữa người dạy và người học trong quá trình lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, hứng thú học tập,…

* Kiểm tra và đánh giá kết quả của người học

Để xác nhận kết quả học tập, rèn luyện và tiêu chuẩn kiến thức của người

học cần có khâu kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học Từ đó giúp người học biết được khả năng của mình và người dạy có những điều chỉnh phương pháp sưphạm cần thiết Người dạy là người quyết định những nội

Trang 24

dung, hình thức và thời điểm kiểm tra Công việc này không đơn thuần là phân loại người học mà chủ yếu giúp người dạy tìm ra cơ sở để điều chỉnh phương pháp sư phạm, từ đó giúp người học điều chỉnh phương pháp học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Vì vậy, việc kiểm tra, đánh giá cần được tiến hành thường xuyên và có hệ thống trong suốt quá trình học với nhiều hình thức và mức độ khác nhau

2.2 Quy trình d ạy học theo quan điểm sư phạm tương tác

2.2.1 Xây d ựng kế hoạch bài học theo quan điểm sư phạm tương tác

Xây dựng kế hoạch bài học là một khâu rất quan trọng trong quá trình dạy học Khâu này đòi hỏi người dạy phải chuẩn bị chu đáo trước khi lên lớp, có như vậy quá trình dạy học mới đem lại hiệu quả cao Vận dụng SPTT vào xây dựng kế hoạch bài học chính là việc xác định mục tiêu, nội dung nào của bài

học có thể tổ chức các hình thức dạy học phù hợp, tương tác tốt nhất và việc vận dụng quy trình dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác đạt hiệu quả cao Trong đề tài này, chúng tôi xin đề xuất quy trình lập kế hoạch bài học theo SPTT gồm các bước sau:

Bước 1: Tìm hiểu về người học

Trước khi xây dựng và thực hiện kế hoạch bài học, GV cần thông qua việc tìm hiểu về HS, để xác định rõ đối tượng HS của lớp mình sẽ giảng dạy Từ đó giúp GV bước đầu xác định được mục tiêu từng bài học phù hợp với chương trình đề ra và phù hợp với trình độ chung của HS trong lớp mình sẽ giảng dạy Trên cơ sở hiểu biết về người học, người dạy xây dựng môi trường có tính kích thích sự hứng thú và hỗ trợ một cách thuận lợi cho người học Trong

những trường hợp và điều kiện cho phép, GV nên tổ chức kiểm tra để đánh

Trang 25

giá, xác nhận về HS trước khi lập kế hoạch bài học mới

Bước 2: Xác định mục tiêu, nội dung của bài học, lựa chọn các hình thức

t ổ chức dạy học phù hợp với từng đơn vị kiến thức, xác định thời điểm kiểm tra đánh giá HS

Nội dung bài học trong chương trình môn học kỹ thuật lập trình ở trường ĐHCN TP.HCM cơ sở Thái Bình, để việc vận dụng SPTT vào dạy học môn

kỹ thuật lập trình đạt hiệu quả cao, người dạy cần lưu ý một số điểm sau:

Xác định rõ được mục tiêu từng bài học về kiến thức, kỹ năng, thái độ, tư duy và thể hiện được từng hoạt động của GV và HS, các hình thức, biện pháp

tổ chức dạy học Trong quá trình xây dựng kế hoạch bài học, GV phải dựa

vào: N ội dung chương trình và SGK, sách giáo viên, trình độ của HS trong

l ớp, điều kiện dạy học hiện có

Bước 3: Xác định dạng tương tác và lập nội dung tương tác

Để vận dụng SPTT vào tổ chức dạy học những nội dung đã chọn, người

dạy có thể tiến hành như sau:

- Xác định cách thức tổ chức nội dung dạy học (khám phá, kiến tạo tri thức mới hay củng cố, luyện tập, hướng dẫn tự học, ) để thiết lập quy trình dạy học cho phù hợp

- Xây dựng tình huống học tập thu hút sự chú ý của người học

- Lựa chọn phương tiện dạy học hợp lý để hỗ trợ, thể hiện nội dung kiến thức, tăng cường các tương tác

- Kích thích sự hứng thú ở người học

Trang 26

Bước 4: Tiến hành xây dựng kế hoạch dạy học cho nội dung học tập

Người dạy tiến hành thiết kế những nội dung học tập theo quy trình đã đề

ra để đạt hiệu quả cao nhất, phát huy được tính độc lập, tích cực, chủ động của người học

2.2.2 T ổ chức thực hiện kế hoạch bài học môn kỹ thuật lập trình theo quan điểm sư phạm tương tác

Trên cơ sở lý luận của SPTT đã phân tích, trong đề tài này, chúng tôi đề

xuất quy trình tổ chức thực hiện kế hoạch bài học theo SPTT nhằm vận dụng vào dạy học môn kỹ thuật lập trình như sau :

Bước 1: Kiểm tra bài cũ, giới thiệu bài học mới

Tuỳ thuộc vào nội dung kiến thức từng bài học, người dạy tổ chức cho người học tái tạo lại kiến thức và kỹ năng một cách tường minh Từ đó chuyển tiếp kiến thức sang bài học mới

Bước 2: Nêu vấn đề để người học nhận thức, kích thích các giác quan của

người học, tạo hứng thú học tập để người học tri giác đối tượng

- Nêu mục tiêu bài học và xác định nhiệm vụ học tập của HS, giúp HS xác định trách nhiệm của mình khi tham gia hoạt động học;

- Sử dụng nhiều hình thức khác nhau để kích thích hứng thú học tập của HS Khuyến khích người học động não để huy động tối đa kiến thức và kinh nghiệm vốn có

- Nêu vấn đề nhận thức phải phù hợp với đối tượng HS Tổ chức cho người học huy động vốn kiến thức, kỹ năng đã có để chiếm lĩnh tri thức mới

- Trình bày tài liệu trực quan và giao nhiệm vụ học tập cho người học

Trang 27

Bước 3: Người học thực hiện nhiệm vụ kiến tạo tri thức trên cơ sở vận

- Giúp người học vận dụng kiến thức đã biết vào một số tình huống cụ thể,

sử dụng kiến thức đó để tiếp tục kiến tạo, khám phá kiến thức mới

Bước 4 : Người học báo cáo kết quả

- Tổ chức cho người học báo cáo kết quả làm việc của nhóm (đại diện nhóm

HS trình bày, các thành viên khác có thể bổ sung, góp ý)

- Bổ sung kiến thức mới, đặt ra những câu hỏi để HS liên hệ với thực tế, hướng vận dụng và hướng dẫn HS ghi nhớ Chú ý đến những sai lầm HS hay

mắc phải

Bước 5 : Người dạy tổng kết, củng cố kiến thức cho người học

- Tổng hợp lại những kiến thức HS vừa khám phá được, bổ sung thêm một

số nội dung kiến thức mà HS chưa tìm ra được để hoàn thiện nội dung kiến thức bài học

- Giúp HS ghi nhớ và vận dụng kiến thức vừa học vào giải bài tập, ứng

dụng thực tế

- Nhận xét kết quả học tập của HS, khen thưởng, động viên kịp thời những

HS có tiến bộ, tích cực trong học tập

Trang 28

- Có thể sưu tầm và kể cho HS nghe những câu chuyện khoa học, những giai thoại về các nhà khoa học, những trò chơi gần gũi hoặc liên quan đến bài

học để giúp HS thêm yêu thích môn học, củng cố, khắc sâu kiến thức, kỹ năng

vừa được học

Muốn việc vận dụng SPTT đạt hiêu quả cao, trong quá trình dạy học phải

tạo ra các tương tác phù hợp giữa người dạy, người học, môi trường

Trang 29

CHƯƠNG II

NGƯỜI MÁY TRONG GIẢNG DẠY

1 TƯƠNG TÁC NGƯỜI – MÁY VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ

1.1 T ổng quan tương tác người – máy

Tương tác người-máy hay giao tiếp người-máy là một phân ngành của công nghệ thông tin nghiên cứu về tương tác giữa người sử dụng và máy tính Ðây là một

bộ môn liên ngành giữa khoa học máy tính và các lĩnh vực khác Tương tác giữa người và máy thực hiện thông qua giao diện người dùng bao gồm phần cứng (v.d các thiết bị xuất và nhập) và phần mềm (v.d thông tin chuyển đến người dùng thế nào và ra làm sao) Người sử dụng truyền đến máy tính câu hỏi, mục tiêu hay yêu cầu thực của mình Trong khi đó, máy tính chuyển ngược trở lại ngườii sử dụng thông tin về trạng thái của máy tính, trả lời cho những câu hỏi người sử dụng đặt ra hay đáp ứng yêu cầu của người sử dụng

Theo như Backer và Boxton (Nguồn [4]) định nghĩa thì “Tương tác người –

máy là t ập các quá trình, đối thoại và các hành động, qua đó con người sử dụng và tương tác với máy tính”

Một khái niệm khác do hiệp hội công nghệ phần mềm (CNPM) và Special Interest Group on Computer – Human Interaction (SIGCMI) đưa ra thì “ Tương tác

người – máy là một lĩnh vực liên quan đến thiết kế, đánh giá và cài đặt hệ thống

Trang 30

máy tính tương tác cho con người sử dụng và nghiên cứu các hiện tượng xảy ra trên đó”

Tương tác ở đây được hiểu là sự giao tiếp giữa người dùng (con người) và hệ thống, trong đó máy tính được xem như là một công cụ thực hiện, có nhiều hình thức để con người giao tiếp với hệ thống máy tính Ví dụ như cách thức cổ điển nhất

và chỉ dùng cho các ngôn ngữ lập trình mà không thể hiện được tương tác người – máy Khi khoa học công nghệ phát triển đáp ứng được các hình thức tương tác cao, như việc điều khiển trực tiếp thông qua các thiết bị vào – ra Qua đó người dùng cung cấp các chỉ thị và nhận thông tin đáp lại qua hệ thống để có thể xử lý các chức năng tiếp theo

1.2 Các d ạng tương tác

Tương tác được xem như sự đối thoại giữa người dùng và máy tính Việc lựa

chọn kiểu giao tiếp sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến bản chất của quá trình đối thoại Có nhiều kiểu tương tác được sử dụng trong giao tiếp như:

- Giao tiếp dòng lệnh

- Giao tiếp bảng chọn(Menu)

- Giao tiếp bằng ngôn ngữ tự nhiên

- Giao tiếp bằng hỏi đáp và truy vấn

- Giao tiếp điền theo mẫu

- Giao tiếp dạng WIMP

Trang 31

tắt hay chọn từ

Đối với loại hình giao tiếp này yêu cầu người dùng bắt buộc phải nhớ được các lệnh và cú pháp chứ không được nhập tuỳ tiện Điều này khó với người mới sử dụng và ngay cả với người lâu năm với câu lệnh dài Bên cạnh đó lại có nhiều hệ

thống khác nhau sử dụng các lệnh khác nhau Do vậy cần mất công đào tạo

Khi các lựa chọn được quan sát trực tiếp trên màn hình, người dùng được gợi

ý mà không đòi hỏi phải nhớ Với loại giao tiếp này thường không có sự mềm dẻo

Trang 32

trong các chức năng do được thiết kế cố định Mặt khác khi có nhiều mục chọn sẽ làm tốn diện tích màn hình và người dùng khó xác định được vị trí xuất phát của các

chức năng nếu có quá nhiều lựa chọn ở các cấp độ khác nhau

1.2.3 Giao ti ếp bằng ngôn ngữ tự nhiên

Đây là dạng giao tiếp hấp dẫn nhất giữa người dùng và máy tính Việc hiểu ngôn ngữ tự nhiên bao gồm cả tiếng nói và chữ viết, là một chủ đề được quan tâm

và nghiên cứu của nhiều lĩnh vực Tuy nhiên sự “nhập nhằng” của ngôn ngữ tự nhiên gây nên các khó hiểu cho máy do ngôn ngữ tự nhiên thể hiện ở nhiều mức độ:

Cú pháp, cấu trúc, ngữ nghĩa,…làm cho một câu có thể không rõ ràng

Con người thường dựa vào các ngữ cảnh để phân tích sự “nhập nhằng” này Tuy nhiên điều này với máy tính thì lại quá khó, với một số khả năng thì việc sử dụng ngôn ngữ tự nhiên cũng có thể có khả quan bằng cách chúng ta sử dụng khả năng nhận dạng tiếng nói của máy kết hợp với một số dạng giao tiếp khác tạo nên hệ

thống hoàn chỉnh Nhưng với hình thức này đòi hỏi những hệ thống có năng lực xử

lý tốt mới đáp ứng được giao tiếp một cách nhanh chóng Bên cạnh đó chỉ có thể sử dụng một số ngôn ngữ phổ dụng mà thôi

1.2.4 Giao ti ếp dạng hỏi đáp và truy vấn

Hỏi đáp là một cơ chế đơn giản nhằm cung cấp dữ liệu cho một ứng dụng của

một lĩnh vực riêng nào đó Người dùng được yêu cầu bởi một loại câu hỏi Các câu

hỏi miêu tả trong nhiều dạng khác nhau: dạng có/không, dạng đa lựa chọn, dạng phân số

Trang 33

Kiểu giao tiếp này khá tự nhiên, dễ thiết kế và rất thích hợp cho người dùng

mới và thiếu kinh nghiệm

1.2.5 Giao ti ếp điền theo mẫu

Hệ thống hiển thị một tập các trường văn bản trên màn hình, người dùng có thể chọn một trường nào đó để nhập hoặc hiệu chỉnh nội dung

Thường các mẫu hiển thị dựa trên các mẫu thực tế với những gì mà người sử

dụng quen thuộc nhằm tạo nên giao diện dễ dàng hơn cho người sử dụng

Người sử dụng làm việc xuyên suốt mẫu, điền các giá trị thích hợp Dữ liệu

nhập vào ứng dụng ở các vị trí xác định

Dạng hội thoại này chủ yếu hữu ích cho các ứng dụng vào dữ liệu, ở một chừng mực nào đó, nó dễ cho việc học và sử dụng đối với những người không sử dụng thành thạo

1.2.6 Giao ti ếp dạng WIMP

Hiện nay hầu hết tương tác máy tính là các dạng giao diện WIMP, thường gọi

là hệ thống các cửa sổ (Windows), các biểu tượng (icons), các bảng chọn (menus)

và con trỏ (pointers), và là dạng tương tác mặc định cho phần lớn hệ thống tương tác máy tính sử dụng hiện nay Ví dụ về giao diện WIMP như là Microsoft Window, MacOS hay các hệ thống X Windows cho UNIX,…

Các đặc trưng then chốt trong giao diện WIMP bao gồm: Windows, icons, menus, pointers Đây là phương tiện dùng cho tương tác giữa người và máy

Trang 34

+ Cửa sổ(Windows)

Các cửa sổ là các vùng màn hình, mỗi một cửa sổ chứa các đối tượng văn bản

hoặc đồ họa và người dùng có thể di chuyển hay điều chỉnh các kích thước của chúng Với hình thức giao tiếp này có thể cùng một lúc người dùng làm nhiều công việc trên nhiều cửa sổ khác nhau

Thông thường các cửa sổ được kết hợp với các thành phần khác nhằm lằm tăng khả năng linh hoạt trong sử dụng cho người dùng Ví dụ như là tiêu đề để người dùng nhận biết ứng dụng đang sử dụng, các nút để điều chỉnh hay đóng cửa

sổ,…

+ Biểu tượng (Icons)

Đó là một hình ảnh tượng trưng cho một ứng dụng nào đó, người dùng khi sử dụng không cần biết ứng dụng đó nằm ở đâu mà chỉ cần chạy thông qua biểu tượng

Mỗi biểu tượng đều thể hiện được những đặc trưng riêng cho ứng dụng mà nó đại

diện

+ Bảng chọn (Menus)

Đặc trưng của hệ thống cửa sổ là các bảng chọn Các bảng chọn cung cấp các thông tin về chức năng, danh sách tuần tự các thao tác, với việc kế các cửa sổ với các bảng chọn thì thiết bị trỏ được sử dụng để lựa chọn Cùng với đó là khả năng thể

hiện các mục chọn khi con trỏ đi qua Có nhiều kiểu thiết kế bảng chọn trong các cửa sổ, tuy nhiên không nên quá nhiều mục chọn trong một bảng chọn làm cho người dùng khó sử dụng khi chọn

Trang 35

+ Con trỏ (pointers)

Đây là một thành phần rất quan trọng trong giao tiếp WIMP bởi vì nó được dùng để định vị và chọn lựa các chức năng Thiết bị trỏ có nhiều loại như: Chuột, cần điều khiển, bóng xoay, cảm ứng… nhưng tất cả để được thể hiện dưới hìng dạng con trỏ trên màn hình Con trỏ cũng có nhiều dạng khác nhau để phân biệt trạng thái làm việc của ứng dụng hay vị trí làm việc của con trỏ

2 QUAN ĐIỂM TƯƠNG TÁC NGÀY NAY

2.1 Tương tác trong dạy học truyền thống

Trong phương pháp dạy học truyền thống tính tương tác trong dạy học được thể hiện qua hình thức giao tiếp trực tiếp thầy trò, thông qua các phương tiện truyền thông

2.1.1 Vai trò c ủa tương tác trực tiếp thầy trò

Bằng việc dùng lới nói, cử chỉ, thái độ người thầy dẫn dắt người học đi đến sự lĩnh hội tri thức Việc sử dụng lời nói phù hợp, kết hợp với thao tác như dùng tay, dùng nét mặt, dùng cơ thể để biểu thị nội dung bài giảng, trong một môi trường dễ chịu người dạy sẽ truyền tải nội dung của mình một cách tốt nhất tới người học

Tiếp nhận sự phản hồi từ người học, người dạy có phản hồi tích cực lại đối với người học để tạo cho người học một sự thoải mái và tiếp tục tích cực trên con đường lĩnh hội kiến thức của mình

Người học tiếp thu thông tin của người dạy và có những câu hỏi phản hồi như

là thắc mắc về nội dung, những sáng kiến phát hiện trong nội dung học

Trang 36

Như vậy, giữa người dạy và người học thường xuyên có sự tương tác qua lại

trực tiếp và chủ động

2.1.2 Tương tác thông qua phương tiện

Người dạy lựa chọn và sử dụng phương tiện dạy học truyền thống như phấn bảng, hình vẽ, tranh treo để diễn tả bài giảng, người học cũng bằng phương tiện này để phản hồi lại người dạy như: làm bài tập lên bảng Việc sử dụng phương tiện

dạy học truyền thống đã mang lại hiệu quả cao trong sự tương tác thầy trò Tuy nhiên nó vẫn còn một số hạn chế trong việc trình bày hình vẽ phức tạp Như vậy, trong dạy học tương tác đóng vai trò quan trọng và nó mang lại hiệu quả nhất định

2.2 Quan điểm tương tác ngày nay

Do nhu cầu xã hội, sự phát triển của xã hội thông tin, các mô hình đào tạo trực tiếp, đào tạo từ xa dùng công nghệ dạy học hiện đại dưới sự trợ giúp của máy tính, mạng máy tính đang được triển khai và được người dùng chấp nhận một cách nhanh chóng Trong quá trình dạy học hiện đại tính tương tác là một yếu tố quan

trọng đối với quá trình dạy và học, đặc biệt là khả năng tương tác người – máy Cụ thể là sự tương tác giữa người dạy với người học thông qua đa phương tiện (máy tính, máy chiếu, mạng máy tính…)

Việc tương tác trong dạy học hiện đại được biểu hiện dưới hai hình thức, đó

là tương tác trực tiếp thầy trò thông qua phương tiện là máy tính, máy chiếu và bài giảng điện tử giáp mặt Đặc biệt là dạy học qua mạng thông qua bài giảng không giáp mặt

Trang 37

2.3 Ch ức năng của máy tính trong dạy học

2.3.1 Ch ức năng như một “giáo viên”

Mục đích của chức năng này là hỗ trợ khả năng tự học của học sinh Khi đó máy tính và các phần mềm dạy học sẽ đóng vai trò như một giáo viên thực hiện chức năng điều khiển việc học của học sinh, truyền đạt kiến thức và tiến hành kiểm tra đánh giá Có hai hình thức điều khiển việc học:

- Điều khiển từ bên ngoài

- Học sinh tự điều khiển

 Điều khiển từ bên ngoài

Cơ sở của hình thức này là người học muốn có được sự hướng dẫn trong quá trình tự học Khi đó các chương trình dạy học sẽ được sử dụng và người ta gọi chung các chương trình dạy học đó là “Computer Based Training Program – CBT Program” Trong các chương trình dạy học thì mục tiêu học, cách thức học và nội dung học tập đã được chuẩn bị sẵn cho người học, người học không thể tự thay đổi được, đó chính là việc điều chỉnh từ bên ngoài Quá trình học của học sinh được điều khiển từng bước một, theo một phương thức dạy học đã được xác định trước Ở đây, giáo viên sẽ chuẩn bị sẵn nội dung bài học, đưa ra phương pháp học để học sinh tự xem và học tập

Trang 38

Hình 2.1: C ấu trúc tuyến tính của phương thức dạy học (Nguồn [5])

Ngày nay các chương trình dạy học luôn được cải tiến về nội dung học tập, các thành phần kỹ thuật liên quan, đặc biệt là phương thức điều khiển phân nhánh ngày càng phức tạp nhằm tạo nên sự đa dạng trong việc kiểm tra, đánh giá, đồng

thời giúp cho người học có thể chọn lựa những con đường thích hợp để nắm bắt và

tiếp thu kiến thức một cách nhanh chóng

Một số loại hình chương trình sử dụng phương thức điều khiển từ bên ngoài: Các chương trình luyện tập – kiểm tra:

Các chương trình luyện tập phục vụ cho quá trình ôn tập, củng cố hoặc kiểm tra kiến thức Do đó, nó hoạt động chủ yếu theo các hình thức học máy móc như

Trang 39

luyện từ vựng (trong học ngoại ngữ), luyện tập khả năng tính toán, học tập các thao tác sử dụng và các hình thức tương tự, ở đó không nhất thiết cần sự có mặt của giáo viên Về bản chất các chương trình luyện tập là một chuỗi các bài tập, câu hỏi được sắp xếp theo trình tự nhất định và người học cần giải các bài tập đó Sau mỗi lần đưa

ra câu hỏi trả lời, người học sẽ nhận được thông báo rằng câu trả lời đó đúng hay sai, trong trường hợp trả lời sai, người học cũng nhận được phương án trả lời đúng

Cấu trúc một vòng của chương trình luyện tập được thể hiện ở hình vẽ sau:

Hình 2.2: Cấu trúc một vòng của chương trình luyện tập (Nguồn[5])

Các bài tập thường được lựa chọn theo nguyên tắc ngẫu nhiên Thông thường khi kết thúc một vòng luyện tập thì kết quả học tập sẽ được tổng kết và thông báo, qua đó người học cũng sẽ nhận được số lượng câu hỏi hoặc bài tập không giải đáp được

Trang 40

Cấu trúc của các chương trình kiểm tra cũng tuân theo nguyên tắc tương tự

giống với chương trình luyện tập Các chương trình này còn có chức năng ghi nhớ

kết quả của quá trình kiểm tra để có thể đưa ra cho người học sự phản hồi, sự lựa chọn bài tập, câu hỏi của các chương trình kiểm tra không tuân theo nguyên tắc ngẫu nhiên mà sẽ được xác định phù hợp với mục đích của khoá học

 Học sinh tự điều khiển

Cơ sở của hình thức này là trong quá trình tự học, người học muốn tự điều khiển Người học sẽ tự quyết định và xây dựng mục tiêu học, lựa chọn nội dung học, cách thức học phù hợp với yêu cầu và khả năng cho riêng mình Khi đó giáo viên cần đưa ra một loại phần mềm dưới hình thức “Môi trường học tập lập trình” Trong môi trường học tập lập trình, người học sẽ được cung cấp các điều kiện học tập thích hợp với các modul nội dung học tập được cấu trúc theo logic hành động dưới các hình thức thể hiện khác nhau như văn bản, đồ hoạ, tranh ảnh, hoạt hình, âm thanh,…các khả năng hành động mang tính chức năng như khái quát, tìm kiếm thông tin chi tiết, luyện tập, tự điều khiển… để người học có thể tham gia vào các chủ đề hoặc lĩnh vực công việc một cách đầy đủ, trọn vẹn Việc xây dựng các “Môi trường học tập” dựa trên các quan điểm của lý luận dạy học hành vi tâm lý học tư duy

2.3.2 Ch ức năng như một công cụ, phương tiện

Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ như hiện nay, cùng

với những yêu cầu mới trong lĩnh vực đào tạo thì ngoài chức năng như một giáo viên, máy tính còn được sử dụng như một công cụ, phương tiện không thể thiếu có

Ngày đăng: 27/02/2021, 09:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w