t ạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến, phương tiện hiện đại vào quá trình giáo d ục đảm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN XUÂN KHÔI
SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC VÀ ỨNG DỤNG DẠY MÔN TIN HỌC ĐẠI CƯƠNG TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM KỸ THUẬT CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
CHUYÊN SÂU: CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
HÀ NỘI – 2013
Trang 2
PH ẦN II NỘI DUNG
Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn về sư phạm tương tác
1 Khái quát về công nghệ sư phạm tương tác 13
2 Xây dựng kế hoạch dạy học 31
2.1 Xây d ựng kế hoạch dạy học 31
2.2 Xây d ựng mục tiêu học 32
Trang 32
Trang
2.3 Các phương pháp giảng dạy 34
2.4 Ki ểm tra đánh giá kết quả 34
3 Dẫn dắt hoạt động và giao tiếp trong công nghệ dạy học tương tác 35
3.1 D ẫn dắt hoạt động 36
4 Môi trường trong dạy học tương tác 39
4 1 Môi trường và đời sống sư phạm 39
4.2 Các y ếu tố môi trường và hoạt động sư phạm 39
5 Phương tiện trong dạy học tương tác 39
5.1 V ới hình thức dạy học truyền thống 39
5.2 V ới hình thức dạy học hiện đại 40
Chương II Thực trạng dạy môn tin học đại cương tại trường cao
đẳng nghề
1 Chương trình khung môn tin học đại cương 41
2 Những phương pháp dạy học thường được sử dụng để dạy môn học
Tin học đại cương tại các trường TCN và CĐN trên địa bàn thị xã Tam
điệp
43
3 Khả năng sử dụng Sư phạm tương tác và ứng dụng dạy môn Tin học
đại cương tại các trường Cao đẳng nghề 45
3.1 Trường CĐN Cơ giới Ninh Bình 45
3.2 Trường CĐN Xây dựng cơ điện Việt Xô 46
Chương III Các bài giảng mẫu và thực nghiệm sư phạm
1.1 Gi ới thiệu phần mềm Activ Inspire 47
1.2 Thi ết kế bài giảng môn Tin học đại cương ứng dụng sư
ph ạm dạy học tương tác 48
2.1 M ục đích thực nghiệm 56
Trang 43
Trang
2.2 Đối tượng thực nghiệm và địa bàn thực nghiệm 56
2.3 N ội dung thực nghiệm 56
Trang 54
L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung của luận văn: “Sư phạm tương tác và ứng dụng
d ạy học môn Tin học đại cương tại trường cao đẳng nghề ” là do sự tìm hiểu và
nghiên cứu của bản thân, đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng chấm
luận văn thạc sỹ nào trên toàn quốc cũng như ở nước ngoài và chưa hề được công
bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào Trong luận văn những điều trích dẫn đều được tác giả ghi chú đầy đủ
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi cam đoan trên đây Sau khi đề tài được bảo vệ, tác giả sẽ cố gắng để đưa đề tài áp dụng vào thực
Trang 65
L ỜI CẢM ƠN
Đề tài này được hoàn thành là nhờ nỗ lực tìm tòi, học hỏi của bản thân, với
sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo viện SPKT trường Đại học Bách khoa Hà
Nội Đặc biệt là sự tận tình chỉ bảo của GS.TS Nguyễn Xuân Lạc và các thầy cô giáo tại trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình, sự tạo điều kiện của BGH trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình và gia đình
Nhân dịp này tác giả bày tỏ lòng cảm ơn chân thành nhất tới toàn thể các thầy
cô giáo Đặc biệt tác giả xin chân thành cảm ơn GS.TS.Nguyễn Xuân Lạc, người
thầy trực tiếp giúp đỡ tôi một cách tận tình, đầy trách nhiệm để tôi hoàn thành luận văn thạc sỹ này
Đề tài được thực hiện trong một thời gian ngắn và là công trình tập dượt đầu tiên nên gặp không ít khó khăn, do tầm hiểu biết hạn chế nên không thể tránh khỏi thiếu sót Rất mong nhận được sự chỉ bảo của quý Thầy Cô và góp ý của các bạn đồng nghiệp để luận văn ngày càng hoàn thiện hơn
Hà Nội, Ngày tháng năm 2013
Học viên
Nguyễn Xuân Khôi
Trang 79 BLĐTBXH Bộ lao động thương binh xã hội
10 ĐH QGHN Đại học quốc gia Hà Nội
11 ĐH BKHN Đại học bách khoa Hà Nội
12 TCN Trung cấp nghề
13 CĐN Cao đẳng nghề
14 QTDH Quá trình dạy học
15 PPDH Phương pháp dạy học
16 CLĐT Chất lượng đào tạo
17 PTDH Phương tiện dạy học
Trang 8Bảng 1 Ý kiến của các GV trong các trường TCN & CĐN về PPDH
môn tin học đại cương trên địa bàn thị xã Tam Điệp 44
Bảng 2 Kết quả thực nghiệm ở trường CĐN Cơ giới Ninh Bình 58
Bảng 3 Kết quả thực nghiệm ở trường CĐN Xây dựng cơ điện Việt Xô 59
Bảng 4 Xếp loại kết quả học tập lớp TN và lớp ĐC ở trường CĐN Cơ
Bảng 5 Biểu đồ cột so sánh kết quả học tập lớp TN và lớp ĐC ở trường
Bảng 6 Xếp loại kết quả học tập lớp TN và lớp ĐC ở trường CĐN Xây
Bảng 7 Biểu đồ cột so sánh kết quả học tập lớp TN và lớp ĐC ở trường
CĐN Xây dựng cơ điện Việt Xô 63
Bảng 8 Kết quả hoạt động hợp tác của HS lớp TN 64
Bảng 9 Biểu đồ kết quả hoạt động hợp tác của HS lớp TN 64
Bảng 10 Thái độ của HS lớp TN và lớp ĐC 65
Bảng 11 Biểu đồ so sánh thái độ của HS lớp TN và lớp ĐC 65
Bảng 12 Kết quả đánh giá của giáo viên tham gia dự giờ bài giảng 66
Trang 10t ạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến, phương tiện hiện đại vào quá trình giáo d ục đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh"
[1]
Một trong những mục tiêu quan trọng của cải cách giáo dục là đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh Để thực hiện mục tiêu này, trong thời gian qua ngành giáo
dục đã có nhiều nỗ lực như xây dựng đổi mới chương trình đào tạo, áp dụng phương pháp giáo dục chủ động với triết lý lấy người học làm trung tâm, và biên soạn lại sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy để đảm bảo chuyển tải được những nội dung
mới và thực hiện được theo phương pháp mới
Trong những năm gần đây, dạy học tương tác là xu hướng lựa chọn hàng đầu
của việc đổi mới phương pháp giảng dạy Hình thức dạy học này mang đến cho người học một môi trường lý tưởng để kiến tạo và tự chiếm lĩnh kiến thức và kỹ năng thông qua các hoạt động được thiết kế bởi người dạy
Môn học "Tin học đại cương" là một môn học được giảng dạy cho tất cả các chuyên ngành của các trường cao đẳng nghề tại Việt Nam nói chung và của trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình nói riêng Việc ứng dụng Công nghệ thông tin
kết hợp với công nghệ dạy học tương tác nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn
học này tại các trường cao đẳng nghề vẫn chưa được quan tâm đúng mức
Thực tiễn dạy học môn học này cho thấy về phương pháp dạy học bên cạnh những thành công còn có nhiều bất cập nhất định Số đông giáo viên chưa
Trang 1110
nhận thức được hết tầm quan trọng của việc tạo ra môi trường, điều kiện cho học sinh, sinh viên hoạt động lĩnh hội tri thức; còn coi trọng lối truyền thụ một chiều theo kiểu "Máy phát" (người dạy) "Máy nhận" (người học) chưa chú trọng dẫn đến việc tạo điều kiện, cơ hội hứng thú để học sinh phát huy hết khả năng của mình làm cho các em thụ động lĩnh hội tri thức, hạn chế tính tích cực nhận thức,
tư duy sáng tạo của học sinh, làm cho các em khó thích nghi với cuộc sống muôn màu muôn vẻ của xã hội sau này
Hơn nữa sự bùng nổ của nền kinh tế tri thức làm cho trình độ nhận thức của học sinh, sinh viên ngày càng cao hơn trình độ của học sinh, sinh viên cùng lứa tuổi trước đây Vì vậy nhà trường phải rèn luyện cho học sinh, sinh viên tính tích cực, năng động, sáng tạo bằng cách sớm chuyển sang phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực hoá hành động học tập của học sinh, sinh viên thông qua việc tổ chức cho các em các hoạt động học tập và giao lưu, hợp tác với bạn với thầy để lĩnh hội kiến thức một cách sáng tạo, chủ động
Quan điểm sư phạm tương tác đã đề ra chiến lược dạy học có khả năng đáp
ứng được yêu cầu trên Đó chính là lý do khiến tác giả chọn đề tài nghiên cứu: " Sư
ph ạm tương tác và ứng dụng dạy học môn Tin học đại cương tại trường cao đẳng ngh ề "
2 M ục đích nghiên cứu
Góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn “Tin học đại cương” tại các trường cao đẳng nghề tại Việt Nam nói chung và tại trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình nói riêng thông qua việc sử dụng luận điểm sư phạm tương tác một cách
hợp lý
3 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn về Sư phạm tương tác
- Sử dụng lý luận và quan điểm sư phạmtương tác dạy môn “Tin học đại cương” các trường cao đẳng nghề
- Soạn một số chương, dạy một số bài giảng trong môn “Tin học đại cương” và tiến hành thực nghiệm sư phạm
Trang 1211
4 Đối tượng nghiên cứu
- Lý luận và quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn “Tin học đại cương”
- Thực trạng của quá trình dạy học môn “Tin học đại cương trong các trường Cao đẳng nghề
- Phương pháp dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm
5 Ph ạm vi nghiên cứu
Ứng dụng công nghệ dạy học tương tác dạy môn “Tin học đại cương” tại
trường CĐN Cơ giới Ninh Bình
6 Gi ả thuyết khoa học
Có thể nâng cao được chất lượng dạy học môn “Tin học đại cương” tại các
trường Cao đẳng nghề nếu sử dụng công nghệ dạy học tương tác một cách hợp lý
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
+ Nhằm thu thập các thông tin lí luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Phương pháp quan sát, điều tra:
+ Nhằm tìm hiểu thực tiễn dạy học môn “Tin học đại cương” hiện nay
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
+ Nhằm xác nhận tính đúng đắn, tính khả thi của việc sử dụng công nghệ dạy học tương tác trong dạy học môn “Tin học đại cương” tại các trường cao đẳng nghề
- Phương pháp thống kê toán học:
+ Nhằm xử lý kết quả thu được qua thực nghiệm
+ Sử dụng một số phần mềm để lưu trữ, quản lý, khai thác bài giảng
8 C ấu trúc của luận văn
Như sau:
- Ph ần I: Mở đầu
- Ph ần II : Nội dung
Trang 1312
+ Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Sư phạm tương tác
+ Chương II: Thực trạng dạy học môn Tin học đại cương tại trường cao đẳng nghề
+ Chương III: Các bài giảng mẫu và thực nghiệm sư phạm
- Ph ần III: Kết luận và Kiến nghị
- Tài li ệu tham khảo
Trang 1413
PH ẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
V Ề SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC
1 Khái quát v ề quan điểm sư phạm tương tác
Công nghệ dạy học tương tác (CNDHTT) là quá trình dạy học tập trung trước
hết vào người học, xem người học là người “thợ chính” của quá trình dạy học Mọi can thiệp sư phạm đều xuất phát từ nhu cầu, tiềm năng và trách nhiệm của người
học đối với quá trình học tập của bản thân Người dạy sử dụng CNDHTT là người hướng dẫn người học cách học, tạo ra những điều kiện thuận lợi để người học thực
hiện các phương pháp học của mình Môi trường là yếu tố ảnh hưởng đến cả người dạy và người học, tuy nhiên ở một mức độ nào đó thì người dạy và người
học cũng có những tác động ngược trở lại đối với môi trường
Để làm rõ hơn về quan điểm sư phạm tương tác chúng ta cần làm rõ một số vấn
đề sau:
1.1 Tương tác
Thuật ngữ tương tác trong tiếng Anh là “Interaction”, được ghép bởi hai từ đơn: Inter và Action Trong đó “Inter” mang nghĩa là: Sự kết nối cùng nhau, nối
liền với nhau, nối nhau Còn “Action” có nghĩa là: Sự tiến hành làm điều gì, hoạt
động, hành động, là ảnh hưởng, tác động Mặt khác, “Interaction” còn có nghĩa: Sự
hợp tác, ảnh hưởng qua lại, sự tác động qua lại trực tiếp giữa các yếu tố Theo từ điển mở Oline đã định nghĩa tương tác (Interaction): Là hành động tương hỗ giữa các đối tượng hoặc hành động dựa trên các đối tượng khác, một cuộc trao đổi giữ người này với người khác [2] Còn theo từ điển tiếng Việt, tương tác được định nghĩa là tác động qua lại
Như vậy, tương tác là quá trình tác động qua lại giữa các yếu tố với nhau nhằm
t ạo ra sự trao đổi giữa các yếu tố và biến đổi của mỗi yếu tố đó Vì thế, tương tác
trong dạy học là quá trình tác động của giáo viên, sinh viên, môi trường trong đó có phương tiện thể hiện qua hoạt động dạy và học
Trang 1514
1.2 Dạy học tương tác
Quá trình dạy học (QTDH) là một quá trình xã hội Về hình thức, đó là quá trình hoạt động tương tác giữa người dạy và người học Về bản chất, QTDH là quá trình học tập (nhận thức và thực hành) độc đáo của người học được tiến hành dưới
sự tổ chức, hướng dẫn của người dạy nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học
Tương tác giữa người dạy và người học tồn tại tất yếu trong quá trình dạy học Không có tương tác sẽ không tạo nên quá trình dạy học Tương tác tạo nên tình
huống và tình huống lại nảy sinh tương tác Dạy học sẽ mất định hướng và không đạt kết quả nếu để các tương tác trong quá trình dạy học diễn ra một cách tự nhiêu
D ạy học tương tác là quá trình dạy học dựa trên sự tác động qua lại giữa ba tác nhân c ơ bản: người dạy, người học, môi trường trong đó có phương tiện và sự tương tác giữa các phần tử nội bộ trong ba tác nhân đó
1.3 Lý lu ận dạy học tương tác
Lý lu ận dạy học tương tác (LLDHTT) là lý luận dạy học theo quan điểm (hay
ti ếp cận) sư phạm tương tác (SPTT), coi quá trình dạy học là quá trình tương tác đặc thù giữa ba tác nhân – Người dạy, người học, môi trường trong đó, người học
là trung tâm, là người thợ chính người dạy là người hướng dẫn và giúp đỡ
Luận điểm SPTT được đề xuất và trình bày trong tác phẩm [4] đưa ra những khái niệm và nguyên lý cơ bản của LLDHTT là :
- Bộ ba tác nhân: Người học – Người dạy – Môi trường
- Bộ ba thao tác: Học – Giúp đỡ - Tác động
- Bộ ba tương tác:
Mỗi tác nhân trong bộ ba trên đây khi thực hiện thao tác của mình đều thể hiện
một ứng xử, dẫn đến đáp ứng của hai tác nhân kia Chẳng hạn, người học qua
phương pháp học của mình ắt có những phản hồi tự nhiên bằng lời (câu hỏi, nhận
xét,…) hoặc không (biểu cảm,…), dẫn đến những điều chỉnh tương ứng về phương
pháp dạy hoặc thông tin bổ sung,…từ phía người dạy
Những tương tác này không có gì lạ với lý luận và công nghệ dạy học truyền
thống Điều khác biệt là ở :
Trang 1615
Định hướng của tương tác
Lúc, ch ỗ và độ thể hiện của tương tác
Chẳng hạn, thường ít có tương tác trong giờ lên lớp lý thuyết – kiểu thày độc
di ễn thường thấy ở nhiều giảng đường đại học hiện nay; tuy có tương tác trong giờ
thực hành (bài tập, thí nghiệm,…), nhưng chỉ trong khuôn khổ của phương pháp
dạy học cũ – người dạy là trung tâm; gần đây, với phương pháp dạy học tích cực, người học là trung tâm đã ngày càng trở thành định hướng chính, nhưng cũng phải
đến nay, nhờ sự phát triển của Công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT),
với các phần mềm dạy học tương tác không khác gì các trò chơi tương tác, tương
tác trong giờ lên lớp lý thuyết mới ngày càng khả thi và hiệu quả, và cùng với học
ch ế tín chỉ [15], người học có thể tự quyết định lộ trình học tập thích hợp, họ thực
sự là trung tâm của quá trình dạy học
Ảnh hưởng của môi trường tới việc học và việc dạy đã hiển nhiên Người học
và người dạy cùng nhau phối hợp tổ chức và cải thiện môi trường làm việc, cũng là điều dễ hiểu, nhất là trong thời đại CNTT&TT hiện nay, và cuối cùng, tất cả đều vì người học
1.4 Công ngh ệ dạy học tương tác
1.4.1 Công ngh ệ dạy học
Công ngh ệ là một hệ thống phương tiện, phương pháp và kỹ năng nhằm vận
dụng quy luật khách quan, tác động vào một đối tượng nào đó, đạt một thành quả xác định cho con người [8],[9]
Với định nghĩa trên, dạy học cũng là một công nghệ :
Công ngh ệ dạy học là một hệ thống phương tiện, phương pháp và kỹ năng,
nhằm vận dụng quy luật khách quan (tâm lý học, giáo dục học,…), tác động vào
người học, hình thành một nhân cách (tài, đức) xác định
Từ định nghĩa trên có thể thấy rõ dạy học được xem là một công nghệ, trước hết
và chủ yếu là vì bản chất của nó tương ứng với nội hàm của khái niệm công nghệ,
chứ không phải vì hiện tượng những quy trình công nghệ hay những ứng dụng của
công nghệ thông tin hoặc phương tiện kỹ thuật khác, v.v… trong dạy học [8] Với
Trang 1716
những phương tiện, phương pháp và kỹ năng truyền thống, dạy học vẫn là một công
nghệ: công nghệ dạy học truyền thống, bên cạnh công nghệ dạy học hiện đại, là
công nghệ dạy học với phương tiện, phương pháp và kỹ năng trong thời đại ngày nay – thời đại CNTT&TT
Từ định nghĩa trên đây về công nghệ, đã hình thành một quan điểm mới khi
xem xét một đối tượng nào đó: quan điểm công nghệ (và từ đó là tiếp cận công ngh ệ [8]) Theo quan điểm này ta quan tâm hai thuộc tính cơ bản của đối tượng được xét, đó là tính khả thi (làm được) và tính hiệu quả (làm tốt) : khả thi thông
qua phương tiện và phương pháp, hiệu quả còn thông qua kỹ năng (trong đó có bí
quyết) của người tạo ra cũng như sử dụng phương pháp và phương tiện
Làm được và làm tốt là hai mức độ đôi khi cách nhau rất xa
Ngày nay, ti ếp cận công nghệ là một trong những cách tiếp cận quan trọng
nhất khi nghiên cứu và giải quyết những vấn đề có liên quan tới lựa chọn phương
án, đánh giá chất lượng, xác định tiêu chí, v.v…
Theo tiếp cận công nghệ:
Quá trình dạy học, từ xác định đầu vào (đối tượng tác động), mục tiêu dạy học,
nội dung dạy học, công nghệ dạy học,… đến đánh giá kết quả dạy học, đầu ra
(thành qu ả), luôn luôn dựa vào các tiêu chí khả thi (dạy được, học được) và hiệu
qu ả (dạy tốt, học tốt) để thiết kế, thi công và kiểm định
Những lí luận chung về công nghệ như thực thi công nghệ (với những khái niệm
cơ bản như nguyên công, quy trình, …), quản lý công nghệ và chuyển giao công ngh ệ (như vòng đời công nghệ, quy luật cung cầu,…), đều có những vận dụng thích
hợp cho công nghệ dạy học Giải pháp giáo dục theo mô hình thầy thiết kế – trò thi công là một ví dụ
Nhiều khái niệm quan trọng của lý luận dạy học được khái quát hóa hoặc chuẩn hóa, như :
+ C huẩn mực sư phạm – là những tiêu chí đảm bảo quá trình dạy học khả thi
(dạy được, học được) và hiệu quả (dạy tốt, học tốt),
+ Đánh giá sư phạm qua phương pháp chuyên gia và phương pháp thực nghiệm
Trang 1817
sư phạm – khác nhau ở chỗ : phương pháp thứ nhất chỉ đánh giá được tính khả thi, phương pháp thứ hai còn đánh giá được tính hiệu quả
+ v.v…
1.4.2 Công ngh ệ dạy học tương tác
Công ngh ệ dạy học tương tác (CNDHTT) bao gồm tất cả những nội dung và
hình thức vốn có về phương tiện, phương pháp và kỹ năng tương tác trong công ngh ệ dạy học truyền thống (thực hành, vấn đáp, hoạt động nhóm,…)
Sự phát triển nhanh đến chóng mặt của CNTT&TT nói chung và giao diện người – máy (hay tương tác người – máy) nói riêng, đã nâng bộ ba tương tác trong
LLDHTT lên một tầm cao mới, đó là điều chưa được đề cập trong [4], nhưng cũng
đã được các tác giả tiên liệu trong đoạn cuối của phần Kết luận Nhiều phần mềm
với giao diện kéo – thả và tương tác tham số, nhất là tương tác ảo, đã cho phép người học và người dạy có thể vấn đáp và thao tác tức thì, ngay trên bảng, những
nội dung dạy học mà xưa nay chưa bao giờ có thể thực hiện trong giờ lên lớp lý thuyết, ví dụ những thao tác toán học dài dòng, những đồ họa động phức tạp, những thí nghiệm và thực hành đòi hỏi nhiều thời gian tạo dựng và vận hành,…
CNDHTT là CNDH theo LLDHTT ( hay quan điểm SPTT) trong đó tương tác người – máy là liên kết phổ biến giữa bộ ba người học – người dạy – môi trường
• Tương tác người – máy
Có nhiều dạng tương tác được sử dụng như các tương tác dòng lệnh, bảng chọn (th ực đơn), ngôn ngữ tự nhiên, hỏi đáp và truy vấn, điền mẫu, WIMP (Windows,
Icons, Menus, Pointers)
Giao diện WIMP, điều khiển trực tiếp kiểu kéo – thả và thay đổi tham số qua
bảng chọn hoặc con trượt (slider) là hình thức tương tác thường gặp ở các phần
mềm có tính tương tác cao
Trang 1918
• Ph ần mềm dạy học tương tác
Nhờ các ngôn ngữ lập trình thích hợp, những phần mềm dạy học kiểu trò chơi tương tác, ngày càng đa dạng, tiện dụng và hấp dẫn, cho phép tạo dựng và thực hiện
t ức thì những thao tác ảo “ như thật” trên đối tượng khảo sát (tương tác ảo) Những
phần mềm này rất có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong Lý luận và Công nghệ dạy
h ọc hiện đại :
a hoạt hóa (tích cực hóa) quá trình dạy học,
b nâng cao hiệu quả học tập (học và hành),
c phát huy tư duy sáng tạo
Kết luận (c) không hiển nhiên như hai kết luận đầu (a,b), vì nhiều người cho rằng
phần mềm tương tác, cũng như trò chơi điện tử, gồm toàn những thứ đã lập trình
sẵn thì còn gì mà sáng tạo (!)
Sự thực là :
Với dạy học, như đã biết, một trong những cách phát triển tính tích cực và tư duy sáng tạo ở người học (thường thấy ở nhiều xuất bản phẩm và luận án khoa học trong nước hiện nay) là xây dựng tiến trình dạy học phỏng theo tiến trình tìm ra tri thức tương ứng trong nghiên cứu khoa học Con đường khái quát hóa các kết quả thực nghiệm để xây dựng lý thuyết khoa học cho một mô hình nào đó của thế giới khách
quan như trong Nhiệt học, Điện học,…, (hệ phương pháp quy nạp, trong Phương pháp lu ận nghiên cứu khoa học [9]) là một ví dụ về tiến trình này Những thí nghi ệm và thực hành ảo được thực hiện với phần mềm dạy học tương tác giúp tái
hiện tiến trình đó một cách dễ dàng, sinh động
1.5 Các tác nhân
1.5.1 Người học
Người học theo quan điểm sư phạm tương tác bao gồm tất cả các đối tượng đi
học chứ không nhằm nhấn mạnh đến một mối quan hệ thầy trò hay một cơ sở trường lớp nào cả
Để có thể tồn tại và phát triển trong xã hội với tư cách là một thành viên tích cực, thì mỗi cá nhân đều phải được trang bị những năng lực thực tiễn thể
Trang 20phải tham gia vào quá trình thu lượm kiến thức, kỹ năng, thái độ bằng năng lực
của chính mình Sở dĩ nói như vậy bởi năng lực người không tự nhiên mà có trong mỗi cá thể, nó cũng không di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng con đường “tập nhiễm” giống các động vật bậc thấp Muốn có nó thì con người phải
trải qua một quá trình hoạt động, rèn luyện lâu dài bằng chính tiềm năng của bản thân để làm "sống" lại những năng lực thực tiễn đã được gửi vào trong đối tượng từ
đó mà tiếp thu, lĩnh hội
Người học theo quan điểm của sư phạm tương tác không phải là cái bình sống
để chứa những kiến thức mà người dạy rót sang, cũng không phải là đối tượng thụ động tuân theo mọi quyết định của người dạy Trái lại, người học ở đây là chủ thể tích cực tự giác tham gia vào quá trình học tập của bản thân để chiếm lĩnh kiến
thức, kỹ năng, thái độ đồng thời họ có khả năng tự điều chỉnh hoạt động của mình
nhằm đi đến mục đích cuối cùng Trong vai trò là một tác nhân người học được xem xét như là chủ thể đi tìm cách học và tìm cách hiểu chứ không phải là người được
dạy
1.5.2 Người dạy:
Người dạy theo quan điểm sư phạm tương tác không đóng vai trò là "cái máy bơm đơn giản bơm kiến thức vào đầu học sinh", họ là người bằng kiến thức, kinh nghiệm của mình có trách nhiệm hướng dẫn người học học cách học Thật vậy, mỗi đối tượng tồn tại trong xã hội đều chứa đựng những năng lực người nhất định,
chẳng hạn: Cái cốc là vật thể hoá khái niệm "cốc", năng lực người chứa đựng trong cái cốc đó là khả năng dùng cốc để uống nước
Nhiệm vụ của người học là phải tham gia vào quá trình tái tạo lại quá trình loài người đã sáng tạo ra đối tượng để thu về mình những năng lực cần thiết Mà quá trình tái tạo đó đạt hiệu quả cao thì người dạy phải sử dụng kiến thức chuyên môn,
Trang 2120
nghiệp vụ, năng lực, kinh nghiệm sống của mình để thiết kế, tổ chức lại quá trình tái
sản xuất đó thành một quy trình công nghệ theo kiểu nhà trường đảm bảo cho bất kỳ người học nào làm đúng theo quy trình công nghệ ấy thì thế nào cũng làm ra sản
phẩm mà không nhất thiết phải sai, việc lập lại một việc làm đã được xác định tương đối dễ đối với người học Nếu người dạy làm được như vậy thì họ đã thực
hiện được nhiệm vụ hướng dẫn người học lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, thái độ
Để làm được điều này người dạy cần phải có kiến thức sư phạm và khoa học để làm chủ nội dung và phương pháp dạy học, ngoài ra còn phải có khả năng dự kiến các tình huống có thể xảy ra trong quá trình dạy học để có biện pháp giúp đỡ kịp
thời đối với người học, để thực hiện tốt phương pháp dạy học của mình
Như đã nói ở trên, để thực hiện trách nhiệm hướng dẫn người học thì người dạy
phải biết thiết kế và tổ chức quá trình tái sản xuất kiến thức theo một quy trình công nghệ theo kiểu nhà trường thì người dạy phải chỉ cho người học con đường phải đi, các phương tiện cần sử dụng và cái đích đạt được Đồng thời người dạy còn phải tạo cho người học hứng thú, tinh thần trách nhiệm đối với việc học của bản thân và có
biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ để cho người học đến đích
Một điều cốt lõi khi thực hiện các công việc này đối với người dạy, đó là không bao giờ được làm hộ người học, không bao giờ được đem đến cho người học những
sản phẩm làm sẵn, mà muốn hình thành ở người học năng lực gì thì người dạy phải
tổ chức và tạo mọi điều kiện cho người học có thể tự tạo ra sản phẩm ấy và làm trước mắt người dạy Như vậy thì cách truyền đạt đơn thuần theo lối học thuộc lòng
một bài giảng hay cách truyền đạt theo cách truyền đạt một thông tin khoa học là
những cách thức dạy học đi ngược lại tinh thần cơ bản sư phạm tương tác
Người dạy theo nghĩa đích thực của từ này là người được đào tạo một cách chuyên biệt với tư cách là một nghề trong xã hội Họ là người thực hiện sứ mệnh vinh quang là vì sự phát triểm của xã hội, của thế hệ tương lai chứ không phải xã
hội sinh ra nghề dạy học để các ông thầy có việc làm Mặt khác,vì sự có mặt của người học quyết định sự có mặt của người dạy với tư cách là một thầy giáo đích
thực Nên trong công nghệ dạy học tương tác người dạy không phải là chủ thể của
Trang 2221
quá trình dạy học mà là người phục vụ người học, làm nảy sinh ở người học với tư cách của một người hướng dẫn
1.5.3 Môi trường:
Trong công nghệ dạy học tương tác môi trường bao gồm môi trường bên trong
và môi trường bên ngoài Môi trường bên trong là tư tưởng tình cảm, tâm lý, ý
thức của người dạy và người học Môi trường bên ngoài là toàn bộ thế giới vật
chất tồn tại xung quanh người dạy và người học Môi trường là một tác nhân quan
trọng có ảnh hưởng đến người dạy, người học Bầu không khí cởi mở, thân thiện
của người dạy, người học và tập thể, chế độ làm việc hợp lý, cơ sở vật chất phù hợp
có tác động lôi cuốn sự hứng thú, khả năng tập trung và nội dung dạy học
Có thể nói môi trường dạy học là những điều kiện cụ thể, đa dạng do người dạy
t ạo ra và tổ chức cho người học hoạt động, phù hợp với người học nhằm đạt tới
m ục tiêu của nhiệm vụ dạy học Ở luận văn này tác giả chỉ đề cập đến môi trường
bên ngoài theo nghĩa là môi trường sư phạm trong lớp học bởi đây là môi trường tác động trực tiếp đến người dạy và người học
phẩm phụ của các hoạt động đó và các kiến thức lĩnh hội được chỉ là những kiến
thức kinh nghiệm thì những kiến thức, kỹ năng, thái độ được lĩnh hội thông qua
hoạt động học tập có chủ định là sản phẩm chính của hoạt động học, đó là những
kiến thức khoa học đích thực, có tính chất cẩm nang, nó giống như chiếc chìa khoá
vạn năng giúp người học mở cửa kho tàng tri thức của nhân loại để lĩnh hội những
kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết cho bản thân mình
Phương pháp học chính là hoạt động học nên để tiến hành hoạt động học thì người học phải đưa ra các hành động học Có ba hành động học là phân tích, khái quát và cụ thể hoá ba hành động này có mối quan hệ biện chứng thống nhất với
Trang 2322
nhau Ban đầu những hành động học tập này là đối tượng lĩnh hội (học cách học) sau khi đã được hình thành thì nó lại trở thành phương tiện học tập và góp phần quyết định chất lượng của hoạt động và hoạt động học tập chỉ có thể được hình thành thông qua các hành động học tập, do đó trong quá trình dạy học phải lấy hành động học tập làm cơ sở
Cái đích của hoạt động học tập là hướng tới chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, thái
độ thông qua sự tái tạo của cá nhân Cái đích đó sẽ không thực hiện được nếu người
học không được tham gia vào quá trình tái tạo đó Trái lại người học phải tích cực
tiến hành các hoạt động học tập bằng chính năng lực, trí tuệ, và ý thức tự giác của
bản thân dưới sự hướng dẫn của người dạy Điều đó cho thấy việc dạy học không
phải là một bài độc tấu mà là một vở kịch có người học cùng tham gia trên con đường đi đến lĩnh hội một tri thức mới
Khác với hoạt động khác, hoạt động học không làm thay đổi khách thể, đối tượng của hoạt động mà là hoạt động hướng vào chủ thể của nó Nếu chủ thể lĩnh
hội được càng nhiều kiến thức - kỹ năng - thái độ thì sức mạnh vật chất, tinh thần
của họ càng tăng lên bấy nhiêu Vì vậy hoạt động học của người học không diễn ra
một cách êm ả mà luôn có sự vận động, phát triển để không ngừng đi đến đồng hoá ngày càng nhiều tri thức mới làm giàu cho vốn năng lực cá nhân của chủ thể, làm cho chủ thể của hoạt động học có sự biến đổi về chất
1.6.2 Phương pháp dạy
Phương pháp học của người học chính là hoạt động học có chủ định, hoạt động
đó chỉ có thể thực hiện đạt chất lượng tốt khi có sự hướng dẫn của người dạy Công
việc hướng dẫn này được tiến hành bởi nhiều người ngay sau khi trẻ ra đời ở mọi lúc, mọi nơi và trong mọi hoạt động của chúng Song chỉ có sự hướng dẫn của
những người được đào tạo chuyên biệt thì mới đảm bảo cho quá trình tiếp thu có tính tự giác và khái quát cao bởi các tri thức đó không chỉ đúng và thích hợp cho
một hoàn cảnh nào đó mà nó còn đúng và thích hợp cho mọi hoàn cảnh tương tự
Việc hướng dẫn người học thu lượm tri thức tức là hướng dẫn người học thực hiện phương pháp học Thực chất đó là quá trình người dạy tổ chức lại quá trình tái tạo
Trang 2423
ở người học các tri thức khoa học, làm cho người học ý thức được đối tượng học, có nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng và biết cách chiếm lĩnh nó Trong một số trường hợp người dạy có những can thiệp sư phạm để quá trình đó diễn ra nhanh hơn nhưng đó
là sự can thiệp với tư cách của một người hướng dẫn
Để tổ chức quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, thái độ theo quy trình công nghệ theo kiểu nhà trường không phải dễ Bởi những sản phẩm (đồ vật, khái niệm, hình tượng nghệ thuật ) được lưu hành trong đời sống chỉ là sản phẩm cuối cùng,
nó để lại sau lưng quá trình sản xuất ra nó Vì vậy, muốn lặp lại quá trình làm ra sản
phẩm đó người dạy phải huy động toàn bộ những năng lực vốn có bao gồm kiến thức,
kỹ năng, thái độ để thiết kế lại một lần nữa quy trình thực hiện đã làm ra sản phẩm dưới dạng làm để học, có tính sư phạm cao Lúc này quy trình công nghệ đã được tinh
chế về mặt sư phạm, đã bị loại bỏ đi tất cả những gì có thể loại bỏ, chỉ còn giữ lại cái không thể - không có tức là cái logic thuần khiết của đối tượng Mặt khác, đối tượng tác động của phương pháp sư phạm là sự phát triển nhân cách của người học Cho nên phương pháp sư phạm của người dạy còn là sự tác động giữa các nhân cách, do đó trong quá trình dạy học phương pháp sư phạm phải hướng vào vùng phát triển gần
nhất của người học biến cái có thể thành cái đã có nhằm tạo nên sự biến đổi về chất
ở người học Để làm được điều này người dạy phải huy động toàn bộ phẩm chất và năng lực của mình để tác động vào nhân cách của người học
1.6.3 Ảnh hưởng của môi trường
Môi trường ảnh hưởng đến cả phương pháp học của người học và phương pháp
sư phạm của người dạy Do cả người dạy và người học đều tồn tại trong một môi trường cụ thể, phong phú, đa dạng, phức tạp với sự tác động của các yếu tố tâm lý,tự nhiên, xã hội ảnh hưởng đến tâm lý, ý thức của người dạy và người học
Chẳng hạn như : Sự phát triển của công nghệ thông tin và nền khoa học kỹ thuật trên thế giới và công cuộc đổi mới đất nước đã đặt ra những "đơn đặt hàng” có yêu
cầu cao hơn với con người do nhà trường đào tạo ra, điều đó làm thay đổi mục tiêu giáo dục của nhà trường Sự thay đổi mục tiêu giáo dục ảnh hưởng đến nội dung
dạy học cũng như phương pháp dạy và phương pháp học của người dạy và người
Trang 2524
học Hoặc nếu người học không hứng thú với việc học, khả năng tập trung, ghi nhớ kém hay khi người dạy không yêu nghề, mến trò thì đều ảnh hưởng đến hiệu quả
của các phương pháp hoạt động của người daỵ và người học Bên cạnh đó việc dạy
và học trong một căn phòng chật chội, tối tăm, ẩm ướt thì cả người dạy và người
học đều cảm thấy khó chịu dẫn đến chất lượng dạy - học giảm sút
Tuy nhiên, ở một chừng mực nào đó người dạy và người học có thể có những tác động làm thay đổi môi trường Để làm rõ điều này chúng ta hãy xem xét ví dụ sau: Người học sau khi biết nguyên nhân gây ra bệnh cận thị thì họ sẽ tìm cách thay đổi môi trường và tập tính của mình đồng thời tìm ta môi trường thuận lợi cho việc
thực hiện phương pháp học của mình mà không bị cận thị
Như vậy, môi trường là tác nhân có ảnh hưởng đến các phương pháp riêng của người dạy và người học Bên cạnh đó người dạy và người học còn có thể có tác động làm thay đổi môi trường Trong quá trình dạy học người dạy và người học
phải có ý thức về ảnh hưởng của môi trường, biết cách tận dụng và tìm ra cái lợi của
những ảnh hưởng tốt từ môi trường Đồng thời phải biết điều chỉnh những ảnh hưởng tiêu cực từ phía môi trường theo hướng có lợi cho cả người dạy và người
học
Hình 1.1 Tác động của môi trường và hoạt động dạy học
Trang 2625
1.7 Các tương tác
1.7.1 Các tác nhân
Công nghệ dạy học tương tác cơ bản dựa trên mối quan hệ tương hỗ tồn tại giữa
bốn tác nhân Bốn tác nhân này luôn luôn quan hệ với nhau sao cho mỗi tác nhân
hoạt động và đáp ứng ảnh hưởng của các tác nhân còn lại
Người học với phương pháp của mình, truyền đều dặn các thông tin cho người
dạy hoặc bằng lời, bằng hình ảnh, bằng bình luận, bằng các suy nghĩ, các câu hỏi
hoặc không phải bằng lời mà bằng thái độ, củ chỉ hay các ứng xử, người dạy đáp ứng bằng cách cung cấp cho người học các thông tin phụ, các câu trả lời cho câu hỏi
do người học đặt ra, hoặc động viên cho người học theo phương pháp học dường như có nhiều hứa hẹn với sinh viên, hoặc bằng cách khởi đầu hội thoại với người
học để nắm bắt tốt hơn nghĩa của các thông tin về phần người học, cho phép người
dạy đưa ra một vài điều chỉnh hoặc có thể đưa ra các định hướng nghiên cứu mới Môi trường và phương tiện dạy học có ảnh hưởng tới phương pháp học của người học và phương pháp sư phạm của người dạy Ví dụ khi hai tác nhân người
học và người dạy làm việc trong một nơi tối và khó chịu, họ sẽ cảm thấy khó chịu như vậy môi trường đã tác động tới người học và người dạy Hoặc khi người học và người dạy làm việc với một công việc với một công việc có tính trực quan cao, khi
đó với phương tiện dạy học hiện đại họ sẽ cảm thấy thỏa mái, dễ chịu như vậy phương tiện đã tác động tới người học và người dạy
Công nghệ dạy học tương tác, đặc biệt làm tăng giá trị các mối quan hệ tác động qua lại tồn tại giữa người dạy, người học, môi trường và phương tiện Chúng tương tác theo hai chiều
Hình 1.2: Sơ đồ các tương tác và các tương hỗ của các tác nhân
Trang 2726
Trong sách tham khảo [8] GS.TS Nguyễn Xuân Lạc đã khẳng định các tương tác và các tương hỗ giữa chúng phải là một đa – graph có hướng, có khuyên ở đỉnh
Hình 1.3: Các tương tác và các tương hỗ của các tác nhân
Nó thể hiện sự tương tác giữa các phần tử nội bộ trong tác nhân, sự tương tác này cũng mạnh mẽ và mang lại kết quả đáng phải quan tâm Các ví dụ về tương tác
giữa các phần tử của tác nhân
- Trong lớp học chỉ có một giáo viên dạy thì quan hệ giữa các học viên với nhau qua v ấn đáp, giúp nhau làm bài tập,…, là tương tác giữa người học với người
học
- Liên hệ giữa nhà trường và gia đình, kết hợp thực hành lao động, sản xuất
gi ữa nhà trường và Doanh nghiệp,…, là tương tác giữa môi trường và môi trường
- Trao đổi kinh nghiệm, sinh hoạt chuyên môn,…, là tương tác giữa người
dạy và người dạy
- Sử dụng phần mềm dạy học dùng bút tương tác với bảng tương tác, sử dụng loa, máy tính,…, là tương tác giữa phương tiện và phương tiện
1.7.2 Tương tác người học – người học
Tương tác giữa người học – người học trong dạy học sẽ thực hiện hai chức năng
cơ bản là tạo nên quy trình nhận thức của người học, tạo ra quy trình xã hội và tình
Trang 2827
người học, và bắt đầu diễn ra sự cộng tác lẫn nhau trong học tập Cộng tác trong tương tác của người học là khả năng chia sẻ tri thức và phương pháp hành động mới cho nhau
Các hình thức dạy học như: Động não, dạy học theo dự án, cộng tác nhóm… chính là thể hiện sự tương tác tích cực giữa người học với người học Trong đó phương pháp thảo luận nhóm được tác giả chú trọng nhất trong việc ứng dụng công nghệ dạy học tương tác vào dạy môn “Tin học đại cương” bởi:
Phương pháp thảo luận nhóm là cách thức giáo viên tổ chức cho học sinh, sinh viên bàn bạc, trao đổi ý kiến, quan điểm của mình về một vấn đề nào đó trong quá trình dạy học Đây là phương pháp dạy học thể hiện rõ nét sự tương tác giữa giáo viên - học sinh - môi trường
Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm để dạy học cần thực hiện các trình tự sau: Giáo viên chia lớp thành các nhóm; giao nhiệm vụ thảo luận cho từng nhóm; sau đó giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận theo nhóm; đại diện các nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm mình, các thành viên khác trong lớp trao đổi ý kiến, tranh luận, bổ xung; giáo viên lắng nghe ý kiến của các nhóm, tổng kết, đánh giá và khẳng định ý kiến đúng
1.7.3 Tương tác người dạy – người dạy
Trong khi những phát triển mới đây về dạy học dự án, cộng tác nhóm, đào tạo
gắn liền với nhu cầu xã hội,… nêu cao ý nghĩa khoa học và thực tiễn của các khâu tương ứng người học, môi trường, thì khâu người dạy ít được quan tâm hơn, nếu không muốn nói chung là chỉ dừng lại ở vài hình thức truyền thống, như với một môn học nào đó, có thể có sự cộng tác giữa giảng viên với trợ lí (bài tập, thí nghiệm,…) giữa giáo viên dạy lý thuyết và giáo viên dạy thực hành còn thì nói chung hiếm có sự làm việc nhóm giữa những giáo viên dạy các học phần khác nhau,
thậm chí còn có cả những trường hợp thiếu nhất quán, thiếu phối hợp giữa các giáo viên ở các môn học khác nhau Dẫn đến sinh viên khó biết sự tương tác kiến thức
giữa các môn học
Trang 2928
Vậy là trong khi dạy cách làm việc nhóm cho sinh viên, bản thân giáo viên
lại không quan tâm tự tạo cơ hội làm việc nhóm cho mình
Những đề tài nghiên cứu tình huống (case study), tiểu luận, đồn án môn
học,…, ở các cơ sở đào tạo giáo viên kỹ thuật còn khá đơn giản, thiếu tính tổng
hợp, thường ở mức một thầy một trò đã đủ đáp ứng, vì thế chất lượng không thể cao Rất hiếm những đề tài huy động sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo viên với sinh viên như những cuộc thi Robocon
Hiện nay tổng cục dạy nghề đã và đang xây dựng bộ đề thi tốt nghiệp, và các ngân hàng đề thi cho các môn học, modul cho hệ thống các trường dạy nghề trong toàn quốc Để đáp ứng nhiệm vụ này, phải có sự cộng tác chặt chẽ của tập thể đông đảo các giáo viên và các chuyên gia của các cơ sở đào tạo nghề
1.7.4 Tương tác giữa các yếu tố trong môi trường
Công tác phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với
chất lượng giáo dục Điều 93 luật giáo dục khẳng định “Nhà trường có trách nhiệm
ch ủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo
d ục” Hiện nay, công tác phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội đã đạt được
những kết quả nhất định, phát huy được sức mạnh tổng hợp và huy động được các nguồn lực trong xã hội tham gia ngày càng tích cực vào sự nghiệp giáo dục và đào
Liên kết chặt chẽ với cơ sở đào tạo và doanh nghiệp là nhu cầu khách quan xuất phát từ lợi ích của hai phía Các doanh nghiệp sẽ đóng vai trò là những nhà cung
cấp thông tin để các cơ sở đào tạo nắm được nhu cầu của thị trường lao động Vì lợi ích của chính mình, hoạt động đào tạo của nhà trường luôn hướng tới nhu cầu xã
hội, trong đó có nhu cầu của doanh nghiệp Mặt khác, nếu cơ sở đào tạo đảm bảo
Trang 3029
cung cấp những lao động đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, thì đối với doanh nghiệp đó là điều lý tưởng nhất Được hợp tác với một cơ sở đào tạo cũng là nhu
cầu thiết thực của chính doanh nghiệp
Để đạt được mối liên kết chặt chẽ thì các cơ sở đào tạo cần có cơ chế để các chủ doanh nghiệp được tham giao vào quá trình biên soạn chương trình đào tạo, các seminar khoa học, các hội nghị cộng tác viên Thực tế cho thấy, đây là cách thức rất
hiệu quả để các nhà lãnh đạo nắm được những kiến thức chuyên môn, cũng như
những tư chất mà doanh nghiệp rất cần đến ở sinh viên tốt nghiệp Đồng thời, cần tăng cường cho sinh viên tiếp cận với doanh nghiệp từ khi còn đang được đào tạo trong nhà trường thông qua các đợt thực tập thực tế Hiện nay, không ít trường đại
học đã thiết lập được mối liên hệ giữa cơ sở đào tạo với đơn vị sử dụng lao động thông qua các hình thức tổ chức như: Ngày hội tư vấn việc làm, tìm hiểu nhu cầu doanh nghiệp, ký kết hợp đồng đào tạo nhân lực,…
1.8 Các liên đới
1.8.1 Các liên đới đối với người học
Công nghệ dạy học tương tác khẳng định dứt khoát người học là người tham gia chính trong phương pháp học Người học đảm nhiệm vai trò mấu chốt này bằng cách thể hiện ngay từ khi bắt đầu học một sự hứng thú hiển nhiên và trong suốt quá trình học một sự tham gia tích cực liên tục, có trách nhiệm
a S ự hứng thú
Người học khi tham gia vào quá trình học, phải tỏ rõ là có hứng thú rõ rệt với
lợi ích của tri thức cần thu lượm Sự hứng thú, chủ yếu dựa vào long tự tin
Người học cần nhận thức sâu sắc là có khả năng thể hiện thành công phương pháp học, phải tự tin vào khả năng và phương pháp làm việc của chính mình
b S ự tham gia
Người học phải tự mình tham gia để thực hiện niệm vụ này bằng tất cả khả năng, tất cả tri thức đã thu lượm được cũng như tất cả những kinh nghiệm sống của mình Quá trình học phải đòi hỏi người học phải sử dụng tất cả tiềm năng này phục
vụ cho phương pháp học của mình
Trang 3130
Trong công nghệ dạy học tương tác, người học cần tham gia tích cực hơn nữa, vượt lên cả dự án cá nhân của mình, cần chú ý rằng mình đang phối hợp tham gia
dự án tập thể lớp Vì người học mong muốn thực hiện cùng một việc học ở trong
một nhóm dưới sự hướng dẫn của cùng một người thầy
1.8.2 Các liên đới đối với người dạy
Người dạy đóng vai trò quan trọng trong qua trình sư phạm Trong phương
pháp sư phạm tương tác đối với người dạy đặc biệt có các hoạt động sau đây:
a Xây d ựng kế hoạch
Để đạt kết quả cao người dạy cần biết rõ mục tiêu người học cần phải đạt được khí kết thúc việc học của mình và xác định các phương pháp dạy có khả năng giúp người học đạt được mục đích một cách chắc chắn nhất Nhiệm vụ xây dựng kế
hoạch là xác định trước một định hướng về quá trình học của người học cũng như phương pháp sư phạm của người dạy Việc xây dựng kế hoạch chặt chẽ góp phần làm an toàn hơn cho người dạy và kích thích người học nhiều hơn
b K ế hoạch dạy học
Khi xây dựng kế hoach hàng năm, người dạy lập một kế hoạch học nhằm đáp ứng được ở lớp trương trình do bộ giáo dục đưa ra Người dạy phải đặc biệt chú ý
tới mục tiêu cuối cùng mà Bộ giáo dục đã xác định cho môn phải dạy, từ đó xây
dựng kế hoạch đào tạo cho phù hợp với người học và đạt hiệu quả cao nhất
c Đề cương bài giảng (Giáo án)
Muốn thực hiện đầy đủ vai trò hướng dẫn của mình, người dạy phải chuẩn bị
một cách kỹ lưỡng từng giờ dạy của mình Người dạy phải lầm đề cương chi tiết bài
giảng của mình bằng cách xác định nội dung phải dạy, các tài liệu tham khảo lien quan, xác định mục tiêu của người học, bằng cách lựa chọn các phương pháp dạy và xác định hình thức đánh giá
1.8.3 Các liên đới liên quan đến môi trường
a Tác động
Theo công nghệ dạy học tương tác môi trường can thiệp vào tất cả hoạt động
dạy và học, vì ảnh hưởng tới người học và người dạy, ảnh hưởng này không phải
Trang 3231
bao giờ cũng bộc lộ rõ nét nhưng nó tồn tại mà người ta không thể bỏ qua trong mối quan hệ giữa người dạy và người học
b Thích nghi
Sự thích nghi với môi trường nó thể hiện sự tăng cường, hay một sự biến đổi
Những mối quan hệ lại rất có lợi được thiết lập giữa các tác nhân của phương pháp
sư phạm tương tác: môi trường gây nên một sức ép thuận lợi hay không thuật lợi đối với người dạy và người học Những người học và người dạy này phải phản ứng
bằng cách tìm ra những cái lợi của những ảnh hưởng tốt của môi trường hoặc biến đổi các ảnh hưởng tiêu cực, ít nhất là người dạy và người học chấp nhận thích nghi ứng xử của mình
2 Xây d ựng kế hoạch dạy học
2.1 Xây d ựng kế hoạch dạy học
2.1.1 Chương trình học
Chương trình học chỉ ra việc thiết lập các mức độ dạy và lựa chọn lĩnh vực
kiến thức Nhà nước có trách nhiệm quyết định trong lĩnh vự xây dựng chương trình
học Việc phân chia trình độ theo các cấp liên tục Các môn dạy được lựa chọn theo các mục tiêu của nhà trường Bộ giáo dục chỉ xác định các định hướng chung, chỉ ra
những kiến thức, kỹ năng, thái độ phải thu lượm trong quá trình thực hiện chương
trình
2.1.2 K ế hoạch dạy học
Giáo viên đóng vai trò cơ bản trong việc xây dựng kế hoạch từ khi thiết lập chương trình học Kế hoạch học cốt để làm cho chương trình học có thể thực hiện được ở nhà trường Nhiệm vụ này đặc biệt thuộc về những người dạy họ có trách nhiệm làm cầu nối giữa hai mặt lý thuyết và tổng thể với tính chất thực hành của
chương trình học
Trong quá trình xây dựng kế hoạch học, người dạy phải hoàn thành 6 công
việc:
- Phân tích môn ph ải dạy
- Tìm hi ểu các đặc tính các học sinh của mình
Trang 3332
- Phân chia th ời gian môn học
- Xác định mục tiêu môn học
- L ựa chọn phương pháp và phương tiện giảng dạy
- Lựa chọn sách giảng dạy, tài liệu tham khảo và phương pháp đánh giá phù
hợp với từng môn dạy
Phương pháp xây dựng kế hoạch của công nghệ dạy học tương tác đóng vai trò to lớn trong việc điều chỉnh những mối liên hệ giữa người dạy và người học
2.2 Xây d ựng mục tiêu học
2.2.1 Mô t ả một mục tiêu học
Mục tiêu học được xác định ý định đạt tới mục đích đã được xác định trước
bởi người dạy và người học Mục tiêu giống như một chiếc nam châm có một sức hút giữa người dạy và người học
2.2.2 Các lĩnh vực của mục tiêu học
Mục tiêu nhận thức bao gồm kiến thức, tri thức thu được thông qua những
hiểu biết của người học
Mục tiêu tình cảm nhằm vào đặc thù của lĩnh vực tình cảm đó một thái độ, giá
trị và lợi ích mà người học có được trong xuốt qua trình học
Mục tiêu tâm lý vận động có liên quan đến cách vận động của cá nhân trong
mối quan hệ giữa chức năng với môi trường
2.2.3 Vai trò c ủa mục tiêu
Mục tiêu hoàn toàn thuộc về hành động dạy và hành động học, nó hướng người học mong muốn và kích thích chủ thể được sử dụng làm đèn pha cho người
dạy và người học, kích thích trong phương pháp tiến hành riêng rẽ với từng người
Mục tiêu gây ảnh hưởng chắc chắn tới định hướng hoạt động sư phạm và đến
hứng thú của người học và người dạy Đó là vai trò quan trọng nhất vì vậy mà người ta coi mục tiêu học như một bộ phân của hành động dạy Mặt khác các mục tiêu góp phần gián tiếp là sáng tỏ các mục đích của giáo dục của chương trình trong
hoạt động dạy và học hàng ngày
Trang 3433
2.2.4 Xây d ựng mục tiêu
Xây dựng mục tiêu môn học chiếm vị trí hàng đầu trong chương trình dạy học Công nghệ dạy học tương tác coi nhiệm vụ này của người dạy là số một
Lúc khởi đầu người dạy phải biết các mục đích mà Bộ giáo dục giao cho hệ
thống giáo dục nói chung và đặc biệt hơn ở cấp độ học mà người giáo viên dạy
Giao đoạn thứ hai, người dạy làm quen với mục tiêu chung mà Bộ giáo dục đã xác định cho chương trình học liên quan đến giáo viên Thông thường đó là những
chỉ dẫn, nhằm vào những khả năng và kỹ năng cần phải thu lượm khi hoàn thành
chương trình học
Giai đoạn thứ ba, người dạy đi chậm lại để hiểu rõ các mục tiêu cuối cùng của chương trình Các mục tiêu này chỉ rõ khả năng, các kỹ năng mà người học phải thu lượm được khi kết thúc việc học, nó chỉ ra phần lớn kết quả mà sinh viên phải đạt
được khi kết thúc phần lớn chương trình học
Người dạy cần phải xác định mục tiêu trung gian, đó là phải nêu lên đặc tính
cụ thể và có thể quan sát được ở người học Nói làm rã một hành động vào các giác quan và tuân theo một sự kiểm tra, nó có thể được tính toán, đo được và được thống
kê
Hình 1.4: Các giai đoạn hình thành mục tiêu[3]
Trang 3534
2.3 Các phương pháp giảng dạy
Ngoài việc xây dựng kế hoạch của mình, giáo viên không được chỉ bằng lòng
với việc chỉ xác định mục tiêu trung gian mà cần lựa chọn một hoặc vài phương pháp sẽ sử dụng trong phương pháp sư phạm riêng của mình
Các phương pháp thì rất nhiều như: đọc bài giảng, tranh luận nhóm, hội thảo, nghiên cứu tình huống nêu vấn đề, phương pháp gợi hỏi, trò chơi, mô phỏng phòng thí nghiệm, tham gia vào một dự án,… Mỗi phương pháp đều có những tính năng riêng của nó Chúng đều có một giá trị tùy thuộc vào nội dung học tập vì chúng đều
dẫn tới mục tiêu học, và tạo điều kiện thuận lợi cho việc theo đuổi mục tiêu học
Trong tất cả các trường hợp người dạy phải chọn phương pháp thích hợp với nhóm học sinh của mình Liệu phương pháp đó có thích hợp với trình độ, với phong cách và nhịp độ của học sinh không? Liệu nó có làm tăng cường hành động học không? Liệu nó có làm cho người học hứng thú và dễ dàng tham gia không? Và
cuối cùng là so sánh hiệu quả của các phương pháp với nhau để chọn ra phương pháp thích hợp nhất
Việc lựa chọn các phương pháp giảng dạy phải tuân theo tiêu chí đặc biệt liên quan đến người học, người dạy, môi trường xung quanh và phương tiện dạy
học Chính trong các thao tác này phương pháp sư phạm tương tác áp đặt cho người
dạy lựa chọn các hoạt động dạy hay hoạt động học cũng như phương tiện dạy học luôn gắn liền với người học và sự thành công của người học
2.4 Ki ểm tra và đánh giá kết quả
Trong công nghệ dạy học tương tác, đánh giá giữ một vai trò quan trọng trong hành động học và hành động dạy Nó cho phép người học với một tư cách chính là người thợ chính của việc đánh giá lại chặn đường đi của mình Nó cho phép người dạy với tư cách là người hướng dẫn đưa ra một chỉ dẫn có giá trị về phương pháp sư phạm
Để nhận thức đúng đắn hơn về vấn đề này, phải biết chính xác khái niệm
kiểm tra đánh giá sư phạm là gì, biết được chức năng của nó phải hoàn thành đối
với người dạy và người học
Trang 3635
2.4.1 Xác định đánh giá sư phạm
Đánh giá sư phạm là quá trình dẫn đến sự đánh giá có giá trị về kết quả hoặc
về cách hoạt động của một học sinh đang học Nói cách khá rõ là phương pháp sử
dụng một số tiêu chí để xây dựng cách đánh giá về kết quả một mục tiêu hoặc về con đường đi cá nhân của người học
Quá trình kiểm tra đánh giá thường bao gồm ba giai đoạn:
- Kiểm tra
- Đánh giá
- Quyết định
2.4.2 Các ch ức năng chính của đánh giá
Đánh giá có lợi cho người học, nó cho phép người học kiểm tra lại những kiến
thức đã thu lượm được trong quá trình theo đuổi mục tiêu học
Người dạy cũng có thể rút ra được lợi ích của việc đánh giá Kết quả của người học khẳng định một cách gián tiếp tính xác đáng của các hoạt động sư phạm
hoặc đưa ra một điều chỉnh các phương pháp dạy và đồ dùng giảng dạy
Đánh giá thực sự là nguồn để ra quyết định với những chỉ số thông tin có chất lượng, nó dẫn đến một sự phân loại hoặc định hướng của người học
Đánh giá sẽ truyền đến cho cấp quyết định ở các trường học cũng như đến các
bậc phụ huynh một thông tin chính thức về năng suất của người học Sự đánh giá này của họ căn cứ trên thừa nhận thành công, tiến bộ hoặc thất bại
Đánh giá người học thường cho phép thẩm định hiệu quả của nội dung và các
mục tiêu của chương trình
3 D ẫn dắt hoạt động và giao tiếp trong công nghệ dạy học tương tác
Người dạy, ngay sau khi chuẩn bị kỹ lưỡng môn học của mình và làm chủ môn học sẽ dạy, đã phải lập xong kế hoạch lên lớp và hướng dẫn học sinh học tập,
đó là giai đoạn đòi hỏi khắt khe nhất trong nhiệm vụ của mình
Dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác dự kiến rằng người dạy sau khi vào lớp và suốt quá trình lên lớp cần khơi dạy ở học sinh một hứng thú học và kích thích liên tục người học trong việc tìm kiếm tri thức mới, là người dẫn dắt hoạt
Trang 37cả, người học về phần mình, tham gia và hoạt động sư phạm huy động cả lớp Sự chú ý của người dẫn dắt hoạt động nhằm đồng thời vào toàn bộ lớp học vào từng người học Do vậy người dạy cần đến những chiến lược năng động có khả năng tác động vào tất cả người học, làm cho họ hứng thú và duy trì sự hứng thú trong suốt quá trình học
3.1.1 Các t ập tính trong việc dẫn dắt hoạt động sư phạm
a Nh ận dạng
Một người được gọi là biết nhận dạng khi người đó thực với chính mình và
người khác
Tập tính nhận dạng về phần người dạy, bao hàm một tầm quan trọng cá nhân
mà người chủ duy nhất của nó là “sự chấp nhận chính mình” Người dạy phải có
khả năng nhận ra một cách trung thực các phẩm chất, các điểm yếu, các điểm mạnh
của mình và có dũng cảm chấp nhận chính mình cũng như bản chất của nó
Người dạy ngoài việc phải thật với chính mình anh ta cũng phải thật cả với học sinh của mình Học sinh cần phải cảm thấy tin và nhận biết được sự liên kết giữa người dạy với cái mà người dạy nói và làm ở lớp
b S ự chấp nhận không điều kiện người khác
Sự nhận dạng cho rằng nên chấp nhận mình là hoàn toàn tự nhiên, thì phải dẫn
tới sự chấp nhận không điều kiện ở người khác Người dạy, người dẫn dắt liên tục
có quan hệ với người học mà những xúc động, ý nghĩ, những phải ứng của họ rất khác đôi khi rất trái ngược với người dạy Sự hòa giải giữa tình cảm đôi khi đòi hỏi
Trang 3837
người thầy phải có một thái độ tinh thần cơ bản có thể thay thế cho việc chấp nhận không điều kiện người khác
Tóm lại dẫn dắt hoạt động sư phạm người dạy cần phải biết mình, biết người
3.1.2 Nh ững vấn đề cần quan tâm người dạy – người dẫn dắt hoạt động
a Gây h ứng thú ở người học: Phương pháp sư phạm hứng thú
Làm thế nào để tạo nên ở người học sự húng thú thúc đẩy họ thực hiện việc
học? Chính người dạy – người dẫn dắt hoạt động có trách nhiệm sử dụng một phương pháp sư phạm được gọi là hứng thú, phương pháp nhằm làm người học có ý
thức rằng có một mối quan hệ đầy hứng thú giữa chính anh ta và đối tượng học
b Cho người học tham gia
Người dạy, người dẫn dắt hoạt động cố gắng làm cho người học hứng thú nhạy
cảm với vai trò người thợ chính trong quá trình học tập Đồng thời, người học phải đẩm bảo trách nhiệm để đạ tới mục tiêu “của mình”
Người– người dẫn dắt hoạt động cũng nên cố gắng cho người học có ý thức về ảnh hưởng mà cách hoạt động của mình tác động đến lớp Ngoài dự án cá nhân học – người học phải tham gia tích cực vào dự án tập thể của lớp mình nhằm cho tất cả các học sinh đều thành công trong việc học
c Động viên người học
Quá trình học đôi khi rất dài, có trở ngại và khó khăn phải vượt qua Cái đó có
thể làm người học giảm cường độ học, nản chí và thậm chí bỏ học Cho nên người
dạy cần nhạy bén tinh ý để dự đoán và pháp hiện những khó khăn để giải quyết nhờ
một chiến lược thích hợp hỗ trợ cho sinh viên của mình Người dạy không nên tiếc
những lời viên, tán thưởng để hỗ trợ sự nhiệt tình của người học và duy trì sự hứng thú của họ Một sự chú ý đặc biệt, một cử chỉ, một lời khuyên có tác dụng kích thích người học, nhất là trong lúc căn thẳng vất vả Tóm lại đây là một quá trình được sử
dụng liên tục các phương pháp sư phạm hỗ trợ
Trang 3938
3.2 Giao ti ếp
Giao tiếp chủ yếu dùng để thiết lập sự tiếp xúc và tạo nên mối quan hệ tư duy
giữa người phát và người nhận Hơn thế nữa còn có ý thức trao đổi chia sẻ, giao tiếp thiết lập mối quan hệ tương hỗ giữa người dạy và người học
3.2.1 Các đặc tính của giao tiếp
a Tính lưỡng cực của những người tham gia
Giao tiếp trong công nghệ dạy học tương tác có xu thế tạo nên những thay đổi
giữa người dạy và người học, nó không thể hiện một chiều bởi vì những đặc tính
của nó bao hàm sự tương tác trong trao đổi Chính vì vậy người dạy hoạt động khi thì như người phát, khi thì như người nhận, đối với người học cũng như vậy Tất cả
hoạt động trong sự tương hỗ song cực có giá trị nhất, họ lần lượt trở thành người phát và người nhận Đó là sự phân biệt cơ bản với giao tiếp truyền thống
b Tính đặt thù của những người tham gia
Người dạy với tư cách là người phát, truyền một thông điệp càng ngày càng có
ý thức là một thông tin, một lời khuyên, một lời gợi ý, một động viên hay một chấp
vấn Và khi làm chức năng của người nhận, người dạy chấp nhận thái độ của người
cộng tác mong muốn mang đến sự giúp đỡ
Người học với tư cách là người nhận, đặc biệt cố gắng thích nghi với lời truyền đạt của người dạy: anh ta giải mã, đánh giá cấp độ hiểu và anh ta khoanh
những phần khó hiểu Người học sẵn sàng tham gia như một người phát, có lúc
bằng một vài câu hỏi, có lúc bằng một vài bình luận cá nhân
3.2.2 Nh ững phương tiện truyền giao tiếp
Giao tiếp cần các phương tiện để truyền thông điệp từ người phát sang người
nhận, các phương tiện thường gọi là kênh hoặc là phương tiện truyền giao tiếp Bao
gồm một số phương tiện sau:
a Giao ti ếp bằng lời
Cách thức giao tiếp dựa trên động từ, từ ngữ và cách nói, trên cái mà người ta
gọi là lời nói, đó là giao tiếp ưu tiên mà người dạy và người dạy và người học dùng
Trang 4039
trong lớp học Tuy nhiên ý nghĩa của từ, ý nghĩa cảm xúc của nó, làm cho cách thức giao tiếp này kỳ lạ và rất có sắc thái, đặc trưng riêng
Các từ gắn với các ý được xác định rất rõ ràng và chỉ ra các đối tượng rõ ràng
gợi nên một khái niệm được giới hạn
b Giao ti ếp không bằng lời
Dùng cử chỉ, trạng thái tâm lý để biểu đạt Dũng các phương tiện truyền thông
để diễn đạt
4 Môi trường trong dạy học tương tác
4.1 Môi trường và đời sống sư phạm
Ngày nay dễ dàng chấp nhận rằng môi trường sinh lý học tạo nên khi là sự hỗ
trợ có lợi, khi là một trở ngại nghiệm trọng đối với sự tồn tại của con người và đối
với việc khai thác di sản của cộng đồng
Môi trường cũng có vai trò tưng tự đối với đời sống sư phạm, mối quan hệ này
đã mang đến nguồn ánh sáng mới cho các phương pháp tiến hành học và dạy
4.2 Các y ếu tố môi trường và hoạt động sư phạm
Hoạt động sư phạm được hoạt động trong khung cảnh môi trường mà ở người
đó có rất nhiều yếu tố can thiệp vào sự thực hiện đó của nó, cả từ bên ngoài lần bên trong
Một số yếu tố xuất phát từ thế giới bên ngoài của người học được gọi là ngoại
cảnh, một số yếu tố khác thuộc về nội tâm của con người được gọi là các yếu tố bên trong
5 Phương tiện trong dạy học tương tác
5.1 V ới hình thức dạy học truyền thống
Phương tiện sử dụng trong tương tác bao gồm phần ảnh, hình vẽ, sơ đồ, mô hình, vật thật… Tính tương tác trong dạy học truyền thống là tương tác một chiều, con người tương tác với phương tiện, sử dụng công cụ như một phương tiện để truyền đạt kiến thức Ở đây, phương tiện sử dụng không tạo ra những thông tin phản
hồi tác động lại người học Điều này làm cho người học trở nên thụ động và hiệu
quả học tập đạt được chưa cao