1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản trị chất lượng Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Tribeco

45 350 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản trị chất lượng Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Tribeco
Trường học Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản trị chất lượng
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2001
Thành phố thành phố hồ chí minh
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 467,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Tribeco thành lập theo giấy phép số 571/GP-UB do Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/10/1992 với số vốn điều lệ là 8,5 tỷ đồng, trong đó phần vốn Nhà nước (FOODEXCO) góp 51%, 49% còn lại do cổ đông bên ngoài đóng góp. Năm 1993, Liên doanh với Nhà máy Bánh kẹo Tràng An Hà Nội thành lập Công ty Nước Giải khát Tribeco Hà Nội với số vốn điều lệ là 800 triệu VNĐ, trong đó Công ty Nước Giải khát Sài Gòn chiếm 56,25%. Năm 2001, Công ty Nước Giải khát Hà Nội làm thủ tục giải thể.Năm 1999, Nhà nước chuyển nhượng 51% vốn Điều lệ trong Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Tribeco cho tư nhân. Tháng 02 năm 2001, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Nước Giải khát Sài Gòn chuyển thể thành Công ty Cổ phần Nước Giải khát Sài Gòn – Tribeco theo Giấy phép Đăng ký Kinh doanh số 4103000297 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp với số vốn Điều lệ là 27,403 tỷ VNĐ.Tháng 04 năm 2001, sáp nhập Công ty Cổ phần Viết Tân vào Công ty Cổ phần Nước Giải khát Sài Gòn với tổng số vốn điều lệ 37,403 tỷ VNĐ.Ngày 07/01/2001 Công ty Cổ phần Nước Giải khát Sài Gòn trích 500 triệu VND từ lợi nhuận chưa phân phối để tăng vốn điều lệ lên 37,903 tỷ VNĐ.

Trang 1

Tên đầy đủ của doanh nghiệp : CÔNG TY CỔ PHẦN NƯỚC GIẢI KHÁT SÀI GÒN-

TRIBECO

Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Tribeco thành lập theo giấy phép số 571/GP-UB do Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/10/1992 với số vốn điều lệ là 8,5 tỷ đồng, trong đó phầnvốn Nhà nước (FOODEXCO) góp 51%, 49% còn lại do cổ đông bên ngoài đóng góp Năm 1993, Liên doanh với Nhà máy Bánh kẹo Tràng An Hà Nội thành lập Công ty Nước Giải khát Tribeco

Hà Nội với số vốn điều lệ là 800 triệu VNĐ, trong đó Công ty Nước Giải khát Sài Gòn chiếm 56,25% Năm 2001, Công ty Nước Giải khát Hà Nội làm thủ tục giải thể.Năm 1999, Nhà nước chuyển nhượng 51% vốn Điều lệ trong Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Tribeco cho tư nhân Tháng

02 năm 2001, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Nước Giải khát Sài Gòn chuyển thể thành Công ty

Cổ phần Nước Giải khát Sài Gòn – Tribeco theo Giấy phép Đăng ký Kinh doanh số 4103000297

do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp với số vốn Điều lệ là 27,403 tỷ

VNĐ.Tháng 04 năm 2001, sáp nhập Công ty Cổ phần Viết Tân vào Công ty Cổ phần Nước Giải khát Sài Gòn với tổng số vốn điều lệ 37,403 tỷ VNĐ.Ngày 07/01/2001 Công ty Cổ phần Nước

Tên giao dịch quốc tế:

tribeco@tribeco.com.vnwww tribeco.com vn

08.243654

Trang 2

Giải khát Sài Gòn trích 500 triệu VND từ lợi nhuận chưa phân phối để tăng vốn điều lệ lên 37,903

tỷ VNĐ

Loại hình doanh nghiệp : Công ty cổ phần

Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp;

Công ty cổ phần nước giải khát Sài Gòn- Tribeco được sáp nhập từ công ty cổ phần Viết Tân vàocông ty nước giải khát Sài Gòn theo giấy chứng nhận đăng ký số 4103000297 do sở kế hoạch vàđầu tư TP.HCM cấp ngày 09/04/2001:Tribeco là công ty chuyên chế biến thực phẩm, sảm xuấtsữa đậu nành, nước ép trái cây và nước giải khát các loại, mua bán hàng tư liệu sảm xuất và cácloại nước giải khát, sản xuất kinh doanh chế biến lương thực, đại lý mua bán hàng hoá, sảm xuấtrượu nhẹ có ga( soda hương), cho thuê nhà và kho bãi, dịch vụ nhà hàng ăn uống

Xác định các hoạt động kinh doanh chiến lược (SBU):

- Chế biến thực phẩm, sản xuất sữa đậu nành, nước ép trái cây và nước giải khát các loại Công ty

Cổ phần Nước giải khát Sài Gòn (TRIBECO/TRI) hiện đang sản xuất và tiêu thụ các mặt hàng nước giải khát có gas và nước giải khát không gas, sữa đậu nành với các nhãn hiệu Tribeco, TriO, Trimilk, Somilk, Watamin, Jeno, Trà Xanh 100 4 dòng sản phẩm chủ lực mà Công ty đang tập trung phát triển là trà xanh 100, sữa đậu nành chai, trà bí đao lon và Jeno Định hướng phát triển của TRIBECO là trở thành một công ty dẫn đầu trong thị trường thức uống tại Việt Nam

- Mua bán hàng tư liệu sản xuất (vỏ chai, hương liệu ) và các loại nước giải khát

- Sản xuất, kinh doanh, chế biến lương thực Đại lý mua bán hàng hoá Dịch vụ nhà hàng ăn uống

- Sản xuất rượu nhẹ có ga (Soda hương)

- Cho thuê nhà và kho bãi

Tầm nhìn, sứ mạng kinh doanh của Doanh nghiệp:

Tầm nhìn chiến lược:

Tập đoàn kinh tế đa ngành, dẫn đầu về thị trường nước giải khát tại Việt Nam và Châu Á

Sứ mạng kinh doanh:

Trang 3

Hướng đến cộng đồng bằng những sản phẩm hoàn hảo có giá trị dinh dưỡng từ thiên nhiên.

Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản

Trang 4

ROA (Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản) =

Tổng_LNST_4_Quý_Gần_Nhất(4 quý năm 2010)/ Tổng_Tài_Sản

ROA = 3,638,000,000 / 199,028,000,000 = 1.8 (%)

ROE (Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) = Tổng_LNST_4_Quý_Gần_Nhất (4 quý năm 2010)/ Vốn_Chủ_Sở_Hữu

ROE = 3,638,000,000 / 66,231,000,000 = 5.5 (%)

I - Phân tích môi trường bên ngoài :

Ngành kinh doanh của doanh nghiệp :

Tốc độ tăng trưởng ngành Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam

- Tình hình sản xuất của ngành Bia – Rượu – NGK VN năm 2007:

Giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành Bia – Rượu – NGK năm 2007 đạt 26.745 tỷ đồng, tăng 17,6% so với năm 2006

Sản phẩm sản xuất toàn ngành năm 2007 đạt 1.845,2 triệu lít bia các loại, tăng 19,3% so với năm 2006

Xuất khẩu năm 2007 đạt 55.909,6 ngàn USD (trong đó: Bia 8.310,9 ngàn USD; Rượu:

Trang 5

- Tình hình sản xuất của ngành Bia – Rượu – NGK VN năm 2008:

Nhờ chủ động nguyên liệu và bố trí sản xuất hợp lý nên 6 tháng đầu năm các doanh nghiệp đã đáp ứng được nhu cầu c ủa thị trường, kể cả trong các dịp lễ tết với giá cả ổn định và chất lượng đảm bảo vệ sinh sinh an toàn thực phẩm Từ quý III, giá các nguyên vật liệu chính như malt, gạo, tăng từ 20 - 30%, cao hoa, hoa viên, hoa thơm tăng từ 2 - 5 lần Điều đó đã ảnh hưởng tới s ản xuất và giá bán sản phẩm Những tháng cuối năm, mặc dù việc Nhà máy bia Sài Gòn - Củ Chi đã đi vào hoạt động, tình hình thị trường chuyển hướng thuận lợi hơn nhưng tốc độtăng trưởng về giá trịsản xuất c ủa ngành vẫn không bằng tốc độ tăng của năm

2007 Sản lượng sản xuất bia ước đạt 1.850 triệu lít, tăng 11,8% so với năm 2007 Sản lượng bia chai và bia lon tăng trưởng cao nhưng bia hơi thì giảm đáng kể do phụt huộc r ất nhiều vào thời tiết

Riêng sản xuất rượu tăng mạnh do Công ty CP cồn rượu Hà Nội đã đẩy mạnh để chuẩn bị sản phẩm gối đầu khi di dời Công ty vào năm 2009 Các sản phẩm nước giải khát và cồn vẫn tăng trưởng chậm Đây là lĩnh vực c ần đựợc quan tâm hơn trong giai đoạn t ới

Xuất khẩu sản phẩm bia chai và bia lon sang các thị trường truyền thống tăng mạnh Một số loại bia chai mới 350ml đã được đưa ra cạnh tranh với sản phẩm của các hãng nước ngoài ngay trên thị trường trong nước

- Tình hình sản xuất của ngành Bia – Rượu – NGK VN năm 2009:

Ngành bia tiếp tục duy trì mức tăng trưởng ổn định Giá nguyên vật liệu giảm so với năm

2008 là điều kiện thuậ lợi cho hoạt động sản xuất của ngành Các Công ty bia lớn trong

Trang 6

ngành có uy tín về thương hiệu như HABECO, SABECO, Hệ thống Bia APB tại Việt Nam, Nhà máy bia Sabmiller… đều tăng trưởng tốt Những công ty sản xuất bia với s ản lượng thấp, máy móc thiết bị cũ, chất lượng không đảm bảo đang dần bị thu hẹp Tổng sản lượng bia cả nước năm 2009 ước đạt 2,0 tỷ lít, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm ngoái

Sản xuất rượu năm nay gặp khó khăn do giá nguyên liệu đầu vào là các hoa quả, vỏ chai

tăng cao; tuy nhiên, những doanh nghiệp sản xuất lớn có thương hiệu, vẫn ổn định và phát

triển tốt như Công ty Cổ phần Cồn Rượu Hà Nội, Công ty vang Thăng Long, các sản phẩm

rượu c ủa SABECO

Về sản xuất nước giải khát, trong năm 2009, các doanh nghiệp trong ngành đã tích cực

nghiên cứu thay đổi mẫu mã sản phẩm, nâng cao chất lượng, tăng cường quảng cáo tới người tiêu dùng nên có những bước phát triển trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân

Ngành bia, rượu, nước giải khát tháng 7 sản xuất giảm so với tháng 6, nhất là sản phẩm bia hơi.Tuy nhiên, tính chung 7 tháng, tốc độ tăng của sản phẩm bia cao nhất so với cùng kỳ của 3 nămgần đây, ước đạt 1.337 triệu lít, tăng 21,2% (trong khi 7 tháng năm 2008 là 10,8%, 7 tháng năm

2009 là 4,9%) Tổng Công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội tăng 34,1% và Tổng Công tyBia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn tăng 11,8%

Trang 7

Quy hoạch phát triển ngành bia - rượu - nước giải khát Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn đến 2025 đã được Bộ Công Thương phê duyệt và đang trình lên Thủ tướng Chính phủ.

Theo đó, đến năm 2010, Việt Nam sẽ sản xuất và tiêu thụ 3,1 - 3,2 tỷ lít bia, bình quân 35 - 36 lít/người/năm; 370 - 380 triệu lít rượu, bình quân 4,2 - 4,3 lít/người/năm; 2,1 - 2,2 tỷ lít nước giải khát, bình quân 24 - 25 lít/người/năm

Đến năm 2015, Việt Nam sẽ sản xuất và tiêu thụ 4,6 - 4,7 tỷ lít bia, 530 - 540 triệu lít rượu, 4,3 - 4,4 tỷ lít nước giải khát

Còn đến năm 2020, Việt Nam sẽ sản xuất và tiêu thụ 6 6,5 tỷ lít bia, 670 680 triệu lít rượu, 7,5 7,8 tỷ lít nước giải khát

-Và đến năm 2025, Việt Nam sẽ sản xuất và tiêu thụ 7 - 7,5 tỷ lít bia, 770 - 790 triệu lít rượu, 12 -

13 tỷ lít nước giải khát

Trang 8

Tốc độ tăng trưởng của Tribeco :

Lợi nhuận trên vốn

đầu tư (ROIC)

Trang 9

nợ khó đòi cao (đặc biệt trong Q3 & Q4/2008) là hai nguyên nhân chính làm cho giá vốn hàngbán tăng mạnh trong 2008 Trong 2009, TRIBECO sẽ tập trung quản lý chặt chẽ nhằm giảmthiểu tối đa chi phí nguyên vật liệu, chi phí bao bì cùng với việc quản lý công nợ tốt hơn, tỷ suấtlợi nhuận gộp của công ty có thể cải thiện đáng kể lên tới 30% Doanh thu thuần của TRIBECOtrong 2009 ước tính tăng khoảng 30%, lên 755 tỷ đồng, chủ yếu là do lượng tăng,trong khi giábán sẽ không đồi thậm chí có thể giảm nhẹ vì mục tiêu quan trọng của TRIBECO trong nămnay là tăng sản lượng tiêu thụ, đảm bảo sức cạnh tranh.

Giai đoạn trong chu kỳ phát triển của ngành :

Đang tăng tăng trưởng rất mạnh Tạp chí Media của Hồng Kông hồi tháng 1 cho biết, trong năm

2009, các thương hiệu nước giải khát trong và ngoài nước tại thị trường Việt Nam đạt mức tăng trưởng đến 2 con số Điều này cũng được dẫn chứng bằng sự gia tăng của doanh số quảng cáo từ kết quả khảo sát của Công ty Nghiên cứu Thị trường TNS Việt Nam

Tổng doanh số quảng cáo của thị trường nước giải khát Việt Nam đã tăng trưởng đến 93% so với cùng kỳ 2008, đạt 36,1 triệu USD trong nửa đầu năm 2009 Trong đó, nước ngọt có gas đạt doanh

số quảng cáo 4,1 triệu USD, nhưng đến tháng 11.2009 đã tăng gần 100% so với nửa đầu năm, đạt

8 triệu USD

Trang 10

Với tốc độ tăng trưởng này, ngành công nghiệp nước giải khát đã vươn lên vị trí thứ 4 trong số cácngành có doanh thu lớn nhất Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2009, xếp sau viễn thông, thực phẩm và chăm sóc sắc đẹp.

Trong khi đó, cũng nghiên cứu về thị trường nước giải khát Việt Nam, tập đoàn nghiên cứu thị trường Euromonitor International (Anh) cho biết, lượng tiêu thụ nước giải khát của Việt Nam năm

2008 chỉ ở mức 9,5 lít/người Tuy nhiên, con số này sẽ tiếp tục tăng trưởng vì giá bán trung bình của các sản phẩm đã tăng gần 20% trong năm ngoái

Cũng theo Euromonitor International, trong năm 2008, tổng doanh số bán của thị trường nước giải khát Việt Nam đạt 4.400 tỉ đồng, tương đương 255 triệu lít và cả Coca-Cola lẫn PepsiCo đều gần như thống lĩnh thị trường nước có gas

Và cũng trong năm này, Coca-Cola có đến 4 nhãn hàng lọt vào nhóm 10 sản phẩm nước giải khát

có gas hàng đầu tại Việt Nam gồm Coca-Cola, Sprite, Fanta và Schweppes PepsiCo cũng có 4 nhãn hàng gồm Mirinda, Pepsi, 7-Up và Evervess Tribeco và Chương Dương là hai sản phẩm đại diện cho nội địa lọt vào nhóm 10 này

Với quy mô dân số trên 85 triệu dân trong đó có khoảng 60% dân số có đọ tuổi dưới 30 thì Việt Nam là thị trường đầy tiềm năng cho lĩnh vực bán lẻ noi chung và ngành thực phẩm nước uống giải khát nói riêng Ngoài ra,với mức sống và thu nhập ngày càng cải thiện thì người tiêu dùng nói chung đang có xu hướng tìm tới những loại thực phẩm( trong đó có nước uống) giàu dinh dưỡng

vì vậy tiềm năng tăng trưởng của ngành là rất lớn

Đánh giá tác động của môi trường vĩ mô

1.Nhân tố chính trị-pháp luật

Hệ thống pháp luật tác động đến các doanh nghiệp ngày càng gia tăng:luật chống độc quyền,luật

sở hữu trí tuệ,bằng phát minh sáng chế…sẽ tạo ra cơ hội cạnh tranh lành mạnh giữa các công ty trong ngành Với sự phát triển hiện nay của các nhóm bảo vệ lợi ích người tiêu dùng sẽ là một đe

Trang 11

dọa với các công ty vì điều này sẽ làm tăng vị thế của người tiêu dùng lên,buộc công ty phải có trách nhiệm hơn về an toàn thực phẩm,quảng cáo trung thực và có văn hóa…

Bộ Công Thương vừa ban hành Quyết định số 2435 phê duyệt quy hoạch phát triển ngành bia - rượu-nước giải khát đến năm 2025 Theo đó, đến năm 2010, ngành này sẽ đạt sản lượng 2,5 tỷ lít bia, 80 triệu lít rượu công nghiệp, 2 tỷ lít nước giải khát, kim ngạch xuất khẩu 70-80 triệu USD Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất nước giải khát với thiết bị, công nghệ hiện đại, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường Theo thống kê chưa đầy

đủ, có tới 50% trong tổng số 400 cơ sở sản xuất nước uống đóng bình, đóng chai không đảm bảo

vệ sinh an toàn thực phẩm Sở dĩ có tình trạng nhiều sản phẩm “lập lờ đánh lận con đen” là bởi cácquy định của pháp luật về quản lý mặt hàng này còn nhiều lỏng lẻo

Theo quy định tại Luật Chất lượng hàng hóa, Pháp lệnh An toàn vệ sinh thực phẩm, Nghị định 89

về ghi nhãn hàng hóa thì các hoạt động sản xuất kinh doanh nước giải khát là ngành nghề kinh doanh có điều kiện Để được sản xuất mặt hàng này, cơ sở sản xuất phải có giấy phép kinh doanh

và giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm Bởi xuất phát từ công nghệ sản xuất nước giải khát hiện nay là công nghệ pha chế hương liệu Cho dù có là trà, cam, táo, nho hay thảo mộc chăng nữa, nếu thiếu chất tạo màu, tạo mùi thì không thể giữ hương vị để cả năm, phơi mưa phơi nắng trên quầy kệ bán ngoài đường mà không bị hư hỏng Các công đoạn pha chế cũng ngày càng đơn giản, khi các hương liệu tạo màu, tạo mùi, dịch quả, luôn có sẵn đủ các hương vị theo trái cây tự nhiên Sản phẩm cao cấp thì dùng thêm đường trái cây vào cùng với đường kính để nước có hương vị thơm ngon hơn

2.Nhân tố kinh tế

Theo những số liệu thống kê của Trung tâm Xúc tiên Thương mại và Đầu tư TP HCM, trong cơn khủng hoảng kinh tế toàn cầu, mặt hàng nước giải khát hầu như không bị tác động Các nhãn hàng nước giải khát vẫn có doanh số tăng trưởng khoảng 800%/năm Đồ uống cũng là mặt hàng duy nhất đang giữ phong độ quảng bá thương hiệu trong lúc các ngành hàng khác đều cắt giảm tối đa chi phí

Lạm phát ở Việt Nam cao Mức lạm phát năm 2007 là 16.33%,năm 2008 là 22.97%,năm 2009 là 6.88%,năm 2010 là 6.8% lạm phát tăng cao giá cả các mặt hàng sẽ tăng ,người dân sẽ cố gắng cắt

Trang 12

giảm những khoản chi tiêu không cần thiết hơn nữa nền kinh tế bất ổn sẽ gây khó khăn cho hoạt động của các công ty.

3.Nhân tố công nghệ

Đáng chú ý, nhiều DN VN sản xuất nước giải khát đang triển khai những sản phẩm với thành phần

tự nhiên, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân trong nước Các công ty sản xuất nước uống đã đầu tư dây chuyền sản xuất ngày càng hiện đại, đồng thời nghiên cứu và cho ra đời những sản phẩm mới như trà xanh, trà thảo mộc không đường dành cho người mắc bệnh tiểu đường hay không thích thức uống có đường Mức tăng trưởng này cũng chưa thể đáp ứng nhu cầu còn quá lớn trong thời điểm hiện nay

Công nghệ ngày càng phát triển và được ứng dụng rộng rãi Các ứng dụng công nghệ hiện nay trong ngành giải khát chủ yếu tập trung vào quy trình sản xuất và cải tiến bao bì sản phẩm,nỗ lực trong việc giảm lượng nước và năng lượng sử dụng trong sản xuất cũng như trong tái chế hoặc thu mua lại các chai,can,lọ…

Đối với ngành nước giải khát, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất bằng thiết bị, công nghệ hiện đại, đảm bảo vệ sinh thực phẩm và bảo vệ môi trường Khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu trong nước gắn với việc xây dựng vùng nguyên liệu tại các địa

phương Trong đó, ưu tiên các doanh nghiệp sản xuất nước giải khát từ hoa quả tươi và các loại nước giải khát bổ dưỡng

4.Nhân tố văn hóa xã hội

+ Dân số và tỷ lệ phát triển: Dân số việt nam hiện nay khoảng 86 triệu người việt nam là một quốcgia đa chủng tộc có 56 nhóm dân tộc trong đó người việt là đong đảo nhất chiếm khỏng 86% dân

số cả nước và sinh sống tập trung tại khu vực đồng bằng trong khi hầu hết nhóm dân tộc thiểu số khác sống chủ yếu tại khu vực trung du và miền núi.Nước ta có tỉ lệ tăng dân số khá cao khoảng 1,2% hàng năm, dự báo năm 2011 dân số là 92tr người nhu cầu sẽ ngày càng tăng trong nhiều năm tới là cơ hội để doanh nghiệp phát triển thị trường

+ Cơ cấu lứa tuổi: Việt Nam là nước có dân số trẻ, mà lựa lượng dân số trẻ này là lực lượng chủ yếu tiêu dùng các sản phẩm nước giải khát

Trang 13

+ Tốc độ thành thị hóa: Lượng dân cư đô thị đã chiếm tới 28% tổng dân cư toàn quốc và mỗi năm

có khoảng 1 triệu dân tiếp tục tham gia vào "đại gia đình" đô thị Đô thị hóa đã làm thay đổi diện mạo của đất nước, góp phần nâng cao mức sống của một số bộ phận dân cư, tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực cũng đã phát sinh nhiều vấn đề phức tạp cần sớm được giải quyết như: vấn đề

di dân nông thôn ra thành thị; tình trạng thất học, thất nghiệp và phân hoá giàu nghèo; vấn đề nhà

ở và quản lý trật tự an toàn xã hội ở đô thị; vấn đề hệ thống cơ sở hạ tầng quá tải và ô nhiễm môi trường.1 Tổng quan về quá trình đô thị hoá ở Việt NamTừ năm 1990 các đô thị Việt Nam bắt đầu phát triển, lúc đó cả nước mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ (tỷ lệ đô thị hoá vào khoảng 17-18%),đến năm 2000 con số này lên 649 và năm 2003 là 656 đô thị Tính đến năm 2007, cả nước đã có

729 đô thị bao gồm 2 đô thị đặc biệt: TP Hồ Chí Minh, Hà Nội; 4 đô thị loại 1: Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, và Huế; 13 đô thị loại 2; 36 đô thị loại 3; 39 đô thị loại 4 và 635 đô thị loại 5 ([1]) (đạt tỷ lệ đô thị hoá xấp xỉ 27%) Tỷ lệ dân số đô thị hiện nay dưới 40%, theo quy hoạch phát triểnđến năm 2010 tỷ lệ đó sẽ đạt 56-60%, đến năm 2020 là 80%.tốc độ thành thị hóa cao, dân cư tập trung chủ yếu ở các cùng đo thị, doanh nghiệp sẽ có chiến lược phân phối chủ yêu ở các khu đo thịlớn

+ Các tiêu chuẩn và giá trị: tiêu chuẩn và giá trị của người dân ngày càng tăng cao Buộc các doanh nghiệp phải đảm bảo về chất lượng, mẫu mã sản phẩm để đảm bảo sức khỏe ng tiêu dùng

và ngoài ra con phải bảo vệ và giữ gìn môi trường

+ Các tổ chức xã hội: ở việt nam có rất nhiều tổ chức xã hội, ví dụ với ngành này thì có hiệp hội bia rượu nước giải khát việt nam… các tổ chức này có trách nhiệm lên kế hoạc và giám sát các hoạt động cuat các doanh nghiệp nhỏ lẻ vì vậydoanh nghiệp cần phải làm sao làm tôt những quy định của nhà nước và tham gia nhiều hoạt động xã hội

+ Người tiêu dùng việt nam trẻ khỏe và ham vui,rất yêu nước ,tự hào dân tộc,yêu thích thể thao đặc biệt là bong đá Người dân Việt Nam thích thể hiện bản thân và quan tâm nhiều đến thương hiệu giới trẻ việt nam rất sáng tạo và muốn thử nghiệm những diều mới mẻ đây là những đặc điểm chính của người tiêu dùng Việt Nam

Trang 14

+ Quan tâm hơn đến vấn đề sức khỏe:ngoài việc ăn ngon người việt còn chú ý đến vấn đề ăn uốngsao cho có lợi cho sức khỏe với thay đổi công ty trong ngành cần có những chính sách đảm bảo antoàn chất lượng sản phẩm,quan tâm hơn đến vấn đề sức khỏe người tiêu dùng

Đánh giá cường độ cạnh tranh

- Tồn tại các rào cản ra nhập ngành

Thương hiệu sản phẩm của các hãng lớn

Khả năng tham gia ngành của doanh nghiệp mới trong nước hạn chế do đòi hỏi phải có nguồn vốn đầu tư lớn, công nghệ hiện đại,… Mặt khác, chúng ta đã biết,trên thị trường nước giải khát việt nam từ lâu đã được khẳng định bởi hai tên tuổi lớn trên thế giới:coca-cola và pepsi Bên cạnh

đó còn có các hang nước giải khát như sabeco,tân hiệp phát,…những tên tuổi này đã trở lên quá quen thuộc với người tiêu dùng chẳng hạn như sản phẩm của coca-cola có mặt trên thị trường việt nam từ năm 1960 và pepsi có mặt tại thị trường việt nam vào năm 1991 đã được sự ủng hộ của hầuhết các khách hàng của thị trường này Dưới sự cạnh tranh kịch liệt của hai nhà sản xuất lớn này,và các doanh nghiệp trong ngành,nó tạo lên một rào cản ra nhập ngành với những đối thủ tiềmnăng là rất cao

- Quyền lực thương lượng từ phía nhà cung ứng

Có một số nguyên liệu trong chế biến nước giải khát không có sẵn,phải nhập khẩu từ nước ngoài

Vì vậy các nhầ cung ứng nguyên vật liệu nước ngoài có thể gây khó dễ cho các công ty trong ngành Nhưng đối với ngành công nghiệp nước giải khát lâu đời,đặc biệt là các thương hiệu nổi tiếng thì mối quan hệ hợp tác với các nhà cung cấp đã đươc thiết lập từ lâu và bền chặt hơn nữa các công ty trong ngành mua nguyên liệu từ các nguồn khác nhau nhằm tránh rủi ro…vì vậy quyềnlực thương lượng từ phía các nhà cung cấp là khá cao

- Quyền lực thương lượng từ phía khách hàng

Ngành này phục vụ cho toàn bộ đối tượng khách hàng,đây là ngành có nhiều khách hàng và các nhà cung cấp nước giải khát trên thị trường hiện nay cũng rất nhiều,hình thức giải khát cũng rất đadạng người mua ngày càng có nhiều sự lựa chọn hơn giữa các hang trong ngành và với sự ra đời

Trang 15

của các tổ chức hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng thì quyền lực thương lượng của người mua ngày càng nâng cao hơn so với trước đây Khách hàng sẽ yêu cầu được cung cấp sản phẩm với chất lượng tốt hơn,an toàn hơn,đảm bảo không gây hại cho sức khỏe…

- Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành

Toàn ngành nước giải khát ở việt nam hiện có 1013 doanh nghiệp với năng lực sản xuất là 2129 triệu lít/năm.Trong thị trường việt nam ngành thức uống giải khát gồm:pepsi,coca-

cola,sabeco,tribeco,tân hiệp phát,… trong đó nổi bật lên hai đại gia lớn nhất trong ngành là cola và pepsi.Ngoài ra với các loại nước ngọt không gas thì Tân hiệp phát, Delta, Vinamilk,URC với các sản phẩm là các loại nước trái cây,sữa,trà xanh không độ,C2 cũng là những đối thủ đáng gờm của Tribeco

coca-Chính vì có nhiều sự lựa chọn cho khách hàng trong việc lựa chọn sản phẩm thế nên sự cạnh tranh giữa các công ty trong ngành là cao Các công ty đã không ngừng nâng cao sản xuất,đẩy mạnh hoạt động truyền thông,quảng bá thương hiệu của mình ,đa dạng hóa sản phẩm nhằm thu hút khách hàng Tóm lại sự cạnh tranh trong ngành là cao bởi vậy nó đòi hỏi các công ty phải nỗ lực các hoạt động của mình để không chỉ đảm bảo thị phần mà còn mở rộng thị trường ở việt nam

- Đe dọa từ các sản phẩm thay thế

Áp lực chủ yếu của các sản phẩm thay thế là khả năng đáp ứng nhu cầu so với các sản phẩm trong ngành,them vào nữa là các yếu tố về giá,chất lượng,các yếu tố khác như môi trường văn hóa,xã hội ,công nghệ cũng ảnh hưởng đến sự đe dọa của các sản phẩm thay thế Đây là những điều kiện bất lợi đối với ngành

Hiện nay các sản phẩm có thể thay thế các sản phẩm trong ngành đó là:nước giải khát được chế biến ở các quán nước như nước chanh,nước trái cây, trà sữa, cà phê,các loại nước uống thân thiện

từ thiên nhiên,các loại nước uống sinh tố có lợi cho sức khoẻ …điều này ảnh hưởng đến thị trườngcủa ngành thức uống giải khát đóng chai

- Đe dọa từ các ra nhập mới

Khả năng tham gia ngành của doanh nghiệp mới trong nước hạn chế ,vì nếu các doanh nghiệp muốn tham gia vào thị trường nước giải khát hiện nay sẽ phải đối mặt với rất nhiều thách thức như

Trang 16

chi phí đầu tư ban đầu khá lớn,sự trung thành của khách hàng,công nghệ hiện đại đối với những

thương hiệu quen thuộc từ lâu như pepsi,coca-cola…trong ngành có rất nhiều đối thủ cạnh tranh

mạnh

Cường độ cạnh tranh trong ngành nước giải khát là khá mạnh

Trong những năm gần đây có sự cạnh tranh sản phẩm giữa các doanh nghiệp trong nước với các

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Chiếm lĩnh thị trường nước giải khát hiện nay vẫn là hai

đại gia Coca-Cola và Pepsi Cola (chiếm hơn 60% thị phần cả nước), còn lại thị trường của các đơn

vị sản xuất trong nước như Tân Hiệp Phát, TRIBECO, BIDRICO… Do áp lực cạnh tranh trên thị

trường, khiến các doanh nghiệp không ngừng tung ra các sản phẩm mới và thay đổi chiến lược sảnxuất; trong đó có việc giảm tỷ trọng sản xuất nước giải khát có gas.để cạnh tranh các doanh nghiệp

đã cho ra nhiều sản phẩm được chiết xuất từ trái cây và có lợi cho sức khỏe người tiêu dùng Tuy

nhiên đây vẫn là một ngành hấp dẫn với nhu cầu đa dạng trước tình hình thế giới ngày càng nóng

lên thì nhu cầu về nước giải khát là rất lớn và thị trường này càng trở lên sôi động

Xây dựng mô thức EFAS

Các nhân tố chiến lược

(1)

ĐộQuanTrọng(2)

Xếp Loại(3)

Tổng ĐiểmQuanTrọng(4)

Chú giải

Các cơ hội

VN gia nhập WTO 0.2 4 0.8 Tạo điều kiện thuận lợi cho tribeco mở rộng hoạt

động sản xuất kinh doanh,xuất khẩu sản phẩm và tiếp nhận công nghệ mới

Trang 17

Tăng trưởng kinh tế VN 0.1 3 0.3 Nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh trong

nhiều năm liên tục giúp các ngành trong nền kinh

tế có điều kiện phát triển

Công nghệ ngày càng phát

triển

0.1 4 0.4 Công ty đang chuẩn bị mở rộng thêm các khu vực

sản xuất mới đáp ứng nhu cầu thị trường ngày mộttăng cao

Chính sách phát triển của chính

phủ

0.05 2 0.1 Chính phủ đang xây dựng chiến lược phát triển

ngành bia-rượu-nước giải khát đến năm 2015,tầm nhìn đến năm 2025 đầu tư phát triển các vùng trồng cây lấy quả phục vụ cho việc sản xuất nước giải khát

Hợp tác với tập đoàn

Uni-President

0.05 3 0.15 Tập đoàn này sẽ giúp tribeco phát triển thành công

ty nước giải khát,thức uống dinh dưỡng cho cả khu vực đông nam á và các lĩnh vực khác trong tương lai

Các thách thức

- Các công ty giải khát nước

ngoài

0.1 2 0.2 những hỗ trọ cho ngành từ nhà nước giảm xuống

các sản phẩm nước giải khát từ bên ngoài xuất hiện nhiều hơn và cạnh tranh với sản phẩm trong nước

Trang 18

- Niêm yết cổ phiếu trên thị

trường chứng khoán

0.05 2 0.1 Chịu ảnh hưởng bất lợi bởi việc công bố thông tin

bí mật kinh doanh hoặc các ảnh hưởng tiêu cực khác

Ô nhiễm nguồn nước 0.2 4 0.8 Công ty sử dụng nguồn nước ngầm để pha chế

nước có hương vị đậm đà riêng Nếu nguồn nước ngầm bị ô nhiễm rủi ro về tăng giá nguyên liệu có thể ảnh hưởng đến hoạt động của công ty

Cường độ cạnh tranh mạnh

trong ngành

0.15 3 0.45 Sự cạnh tranh trong ngành ngày cang gay gắt với

1015 doanh nghiệp với 2 đại gia là coca-cola và pepsi-co đã có thương hiệu từ rất lâu tại thi trườngviệt nam

Trang 19

Sản phẩm chủ yếu:

Các dòng sản phẩm chính nhãn hiệu Tribeco như sữa đậu nành, nước bí đao, nước yến ngân nhĩ,nước nha đam; nước ép trái cây TriO, sữa đậu nành bổ sung canxi Somilk, sữa tiệt trùng Trimilk,nước tinh khiết Watamin, nước tăng lực X2, sữa tươi tiệt trùng cho trẻ em Nata, nước ép dinhdưỡng JENO…

Thị trường:

Trong suốt quá trình kể từ ngày thành lập đến nay, uy tín của Công ty tribeco không ngừng lớnmạnh Đối với thị trường trong nước, các sản phẩm của Công ty mang thương hiệu tribeco đãđược người tiêu dùng mọi miền đất nước tín nhiệm, bình chọn hàng Việt Nam chất lượng cao nămnăm liền Cùng với việc xây dựng một hệ thống phân phối hàng hoá rất đa dạng rộng khắp cảnước, thông qua các nhà đại lý cấp 1, các đại lý cấp 2, các nhà buôn bán lẻ, phân phối trực tiếp chocác cơ quan, nhà máy, xí nghiệp,trường học, siêu thị bệnh viện, các điểm vui chơi giải trí lớn củathành phố (Đầm sen, Sài gòn Water park, Suối Tiên?),tribeco đã chiếm lĩnh thị trường to lớn ởTP.HCM và các tỉnh Đông Nam Bộ, đây cũng là thi trường chính của tribeco

Ngoài ra công ty có thị trường xuất khẩu: Mỹ, Hà Lan, Ấn Độ, Đài Loan, Campuchia

Thị trường chủ yếu của công ty nước giải khát Sài Gòn Tribeco: là thị trường nôi địa, tập trung

ở thị trường tp HCM và đồng bằng Đông nam bộ sản phẩm của công ty được phân phối thông qua

hệ thống các đại lý cấp 1 và cấp 2, các nhà bán lẻ, phân phối trực tiếp cho các cơ quan, nhà máy, xínghiệp, trường học, siêu thị, bệnh viện, các điểm vui chơi giải trí lớn của tp HCM

Đánh giá các nguồn lực,năng lực dựa trên chuỗi giá trị của DN

Trang 20

Hoạt động cơ bản :

Năm 2010, TRI đặt kế hoạch 620,9 tỷ đồng doanh thu, lãi hoạt động 16,57 tỷ đồng; tổng lợi nhuậntrước thuế 1,86 tỷ đồng Theo ông Nguyễn Xuân Luân, cho biết đây là chỉ tiêu rất thận trọng và nằm trong tầm kiểm soát của ban lãnh đạo

Chỉ tiêu kinh doanh giai đoạn 2010 – 2012:

Doanh thu thuần 620,9 tỷ đồng 835,28 tỷ đồng 1.085,86 tỷ đồng

Được biết, chỉ tiêu kinh doanh kế hoạch giai đoạn 2010 – 2012 xây dựng là khá khiêm tốn khi TRIthực hiện kinh doanh những sản phẩm truyền thống, chưa có sản phẩm mới và các sản phẩm củathương hiệu khác

1- Hậu cần nhập.

Hiện nay Tribeco là doanh nghiệp có khá nhiều kho bãi cho thuê,doanh nghiệp đã tận dụng điềunày để dự trữ hàng hóa và nguyên vật liệu của mình để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất liên tục củamình.Nguyên liệu chưa sử dụng và những sản phẩm đã hoàn thành của doanh nghiệp chưa phânphối được lưu kho,để đáp ứng tốt cho việc sản xuất và phân phối sản phẩm của mình đến tayngười tiêu dùng đúng thời giạn

Đặc biệt thời gian gần đây giá cả tăng một cách nhanh chóng làm cho nhiều doanh nghiệp lâm vàotình cảnh khó khăn chứ không riêng gi tribeco,chính vì thế mà làm cho kế hoạch lưu trữ nguyênvật liệu của mình để đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty càng trở nên cấpthiết

Trang 21

2- Sản xuất

Quy trình sản xuất nước giải khát :

Quy trình: Hệ thống nước nóng > Hòa tan đường > Hệ thống cô đặc > Hệ thống điều phối >Trạm CIP

1 ) Hệ thống nước nóng

Giới thiệu chức năng của hệ thống nước nóng:

Nước nóng cần cung cấp để hòa tan đường (75 – 80 0C)

Nước nóng cần cung cấp cho nước ép trái cây ( 50 – 60 0C)

Tất cả hệ thống nước Ro đều có them đồng hồ đo dòng chảy

Sử dụng hệ thống van, công tắc tự động và còn nhiều bộ phận điều khển tự động khác

Những thiết bị chính:

Hệ thống trao đổi nhiệt dạng ống của Tetra- pak

Tank chứa nước nóng

Điều khiển hơi chuỗi chuyên nghiệp và điều chỉnh phần mềm

Đường vào nước nóng và chất lượng đường ống và van điều khiển

Hệ thống điều khiển và nhận tín hiệu phản hồi

2 Hệ thống hòa tan đường

Hòa tan đường được sử dụng nuớc nóng hòa tan đường chất lượng cao và làm vãi đp65 đường, saulọc, làm lạnh và đưa vào tank chứa

Giới thiệu chức năng của hệ thống hòa tan đường

Sử dụng van, linh kiện điều khiển tự động của quy trình

Hai tank hòa tan đường sử dụng để thay đổi, duy trì, cung cấp đường hòa tan

Lọc nước đường sử dụng tấm lọc và túi lọc (độ chính xác: 5-200µm, chọn 25µm & 0.25µm) Chu kỳ lọc đường và vào đườngsử dụng bơm YUAN AN, với áp suất cao và dòng chảy lớn Làm nguội nước đường sử dụng hệ thống trao đổi nhiệt điều khiển tự động hiệu Sodex của Mỹ nhiệt độ nước nóng 30 0C

Kết quả trộn nước đường đạt 60 độ Brix

Trang 22

Những thiết bị chính:

- Máy lọc Xirô dạng tấm

- Lọc với túi lọc Xirô chính xác

- Đầu vào Xiro được sử dụng dòng chảy lớn và áp suất cao

Pha trộn vừa đủ, hai hướng, ngược dòng, tank hòa tan đường pha trộn vá tank chứa

3 Hệ thống cô đặc sữa hoàn nguyên

Giới thiệu chức năng của hệ thống trộn phụ liệu

- Cung cấp nưcớc trái cây hoàn nguyên đến hệ thống trộn

- Cung cấp them vào cho hệ thống trộn

- Làm sạch độc lập, sản phẩm được bảo đảm an toàn và hợp vệ sinh

- Thêm nước Ro bởi hệ thống đo dòng chảy

Hệ thống sử lý van tự động và tất điều khiển

Thiết bị chính:

- Tank hòa nhanh, có thể di chuyển trên bánh xe

- Tank hoàn nguyên nước ép trái cây

- Chuyên bơm vào những nước ép trái cây đặc

Bơm vào nước trái cây hoàn nguyên

- Tank CIP, 3 tank

- Trao đổi nhiệt dạng ống, 2 cái

- Điều khiển hơi nước

- Bơm CIP

Kỹ thuật vệ sinh và thanh trùng

- Làm sạch tại chỗ (CIP)

Ngày đăng: 05/11/2013, 22:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1- Loại hình cấu trúc tổ chức của DN - Quản trị chất lượng Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Tribeco
1 Loại hình cấu trúc tổ chức của DN (Trang 41)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w