1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Vật lý: Nghiên cứu ảnh hưởng của độ dày thân linh kiện tới đặc tính điện của transistor hiệu ứng trường xuyên hầm có cấu trúc lưỡng cổng

87 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nhằm khảo sát chi tiết ảnh hưởng của độ dày thân linh kiện tới đặc tính hoạt động tắt-mở của transistor hiệu ứng trường xuyên hầm cấu trúc lưỡng cổng. Cụ thể là đưa ra các giải thích vật lý đầy đủ của các ảnh hưởng tìm được, xác định được độ dày tối ưu để nâng cao đặc tính điện của linh kiện khi sử dụng các loại vật liệu bán dẫn có vùng cấm và hằng số điện môi khác nhau như Si, Ge, In0.53Ga0.47As.

Trang 1

VÀ ĐÀO TẠO VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

-

Nguyễn Văn Hào

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ DÀY THÂN LINH KIỆN TỚI ĐẶC TÍNH ĐIỆN CỦA TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG XUYÊN HẦM CÓ CẤU TRÚC LƯỠNG CỔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ VẬT LÝ

Khánh Hòa – 2020

Trang 2

VÀ ĐÀO TẠO VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

-

Nguyễn Văn Hào

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ DÀY THÂN LINH KIỆN TỚI ĐẶC TÍNH ĐIỆN CỦA TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG XUYÊN HẦM CÓ CẤU TRÚC LƯỠNG CỔNG

Trang 3

Lời cam đoan Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của thầy PGS TS Nguyễn Đăng Chiến

Những kết quả nghiên cứu của người khác và các số liệu được trích dẫn trong luận văn đều được chú thích đầy đủ

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Học viện về sự cam đoan này

Tác giả

Nguyễn Văn Hào

Trang 4

Lời cảm ơn Trước hết, em xin gửi tới các thầy cô của Viện hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, Học viện khoa học và công nghệ, Viện nghiên cứu và ứng dụng công nghệ Nha Trang lời cảm ơn chân thành nhất Trải qua hai năm học tập tại Viện, các thầy cô đã truyền đạt cho em nhiều kiến thức mới

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến thầy PGS.TS Nguyễn Đăng Chiến đã trực tiếp hướng dẫn luận văn của em Thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình nghiên cứu Sự hiểu biết sâu rộng về khoa học cũng như kinh nghiệm của thầy chính là tiền đề giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này một cách tốt nhất

Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, bè bạn và đồng nghiệp đã giúp đỡ em rất nhiều trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Cảm ơn các bạn học viên lớp cao học Vật lý kỹ thuật PHY18 Nha Trang đã cùng trao đổi, học tập những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian qua

Tác giả

Nguyễn Văn Hào

Trang 5

Bảng danh mục chữ viết tắt

Trang 6

SOI Silicon On Insulator Silicon trên lớp cách điện

xuyên hầm

chất

Xdh

Drain-side dielectric heterojunction

Vị trí chuyển tiếp dị cấu trúc phía máng

Xsh

Source-side dielectric heterojunction

Vị trí chuyển tiếp dị cấu trúc phía nguồn

Trang 7

Danh mục hình vẽ Hình 1.1 Cấu trúc của linh kiện (a) SOI MOS và (b) Fin-FET 9 Hình 1.2 Cấu trúc của linh kiện MOSFET đơn cổng tương ứng với (a) loại n

và (b) loại p 12 Hình 1.3 Sơ đồ vùng năng lượng của MOSFET (a) ở trạng thái MỞ và (b) trạng thái TẮT 14 Hình 1.4 Cấu trúc của linh kiện TFET đơn cổng tương ứng với (a) loại n và (b) loại p 16 Hình 1.5 Sơ đồ vùng năng lượng của TFET loại n ở trạng thái TẮT và trạng thái MỞ 13 Hình 1.6 Sơ đồ vùng năng lượng của TFET loại p ở trạng thái TẮT và trạng thái MỞ 14 Hình 2.1 Hố thế hữu hạn một chiều 23 Hình 2.2 Sơ đồ năng lượng xuyên hầm qua vùng cấm của các electron hóa trị sang vùng dẫn của chuyển tiếp p-i-n phân cực ngược trong mô hình điện trường đều 26 Hình 2.3 Sơ đồ năng lượng điện tử gần mức Fermi của bán dẫn có (a) vùng cấm trực tiếp và (b) bán dẫn có vùng cấm gián tiếp 27 Hình 2.4 Thiết lập vấn đề đường hầm chung cho hàng rào tiềm năng hình chữ nhật 29 Hình 2.5 Hình dạng rào cản tiềm năng tùy ý V(x) 30 Hình 3.1 (a) Cấu trúc cơ bản của DG-TFET và (b) Đặc tính dòng-thế của Si DG-TFET 45 Hình 3.2 Giản đồ năng lượng ở trạng thái tắt và mở của Si DG-TFET… 46 Hình 3.3 Đặc tính dòng-thế với các giá trị chiều dài kênh khác nhau của cấu trúc TFETs (a) đơn cổng và (b) lưỡng cổng 47

Trang 8

Hình 3.4 (a) Giản đồ năng lượng ở trạng thái tắt của cấu trúc Si TFET đơn cổng và lưỡng cổng, (b) Tốc độ BTBT của cấu trúc Si TFET đơn cổng và lưỡng cổng 48 Hình 3.5 Đặc tính dòng-thế của SG và DG-TFET với độ dày thân khác nhau

……….50 Hình 3.6 Sự phụ thuộc của dòng mở và mật độ dòng mở vào độ dày thân của

Si DG-TFET 51 Hình 3.7 (a) Sự phụ thuộc của điện thế khởi động và (b) độ rộng xuyên hầm vào độ dày thân của Si DG-TFET……… 52 Hình 3.8 (a) Phác thảo vùng năng lượng theo phương thẳng đứng và (b) ảnh hưởng của vùng cấm hiệu dụng vào độ dày thân của Si DG-TFET 54 Hình 3.9 Sự phụ thuộc của dòng mở và mật độ dòng mở vào độ dày thân của DG-TFET 55 Hình 3.10 (a) Sự phụ thuộc của độ rộng rào cản xuyên hầm vào độ dày thân của In0.53Ga0.47As DG-TFET; (b) Tốc độ xuyên hầm ở trạng thái mở của Si và

Hình 3.11 (a) Sự phụ thuộc của dòng mở và (b) mật độ dòng mở vào độ dày thân của In0.53Ga0.47As DG-TFET với các giá trị hằng số điện môi cổng khác nhau.……… 58Hình 3.12 Sự phụ thuộc giới hạn của độ dày thân vào các giá trị hằng số điện môi cực cổng k trong DG-TFET……….…60 Hình 3.13 (a) Cấu trúc của DG-TFET của điện môi cực cổng dị chất; (b) Đặc tính dòng-thế của TFETs với điện môi cổng đồng chất và dị……….61 Hình 3.14 Giản đồ năng lượng của DG-TFET với cấu trúc điện môi cổng đồng chất và dị chất ở (a) trạng thái tắt và (b) trạng thái mở………62 Hình 3.15 Mối liên hệ của dòng mở và vị trí của chuyển tiếp dị chất phía nguồn (Xsh) của HGD-DG TFET có độ dày thân bán dẫn khác nhau (Tb); (b) Vùng cấm hiệu dụng của In0.53Ga0.47As trong HGD-DG TFET là một hàm của

bề dày màng ………64 Hình 3.16 (a) Mối liên hệ của vị trí Xsh tối ưu và (b) tăng cường dòng mở của

Trang 9

chuyển tiếp dị chất ở phía nguồn vào bề dày màng của HGD-DG TFET

……… 66 Hình 3.17 Sự phụ thuộc của (a) vị trí Xsh tối ưu và (b) giá trị dòng mở được tăng cường của chuyển tiếp dị chất ở phía nguồn vào độ dày thân của HGD-

DG TFET……… 67 Hình 3.18 (a) Sự phụ thuộc của giá trị dòng mở được tăng cường bởi Xdh tối

ưu vào độ dày thân của HGD-DG TFET; (b) Giản đồ năng lượng ở trạng thái khởi động của HGD-DG TFET với hai độ dày thân khác nhau 69

Trang 10

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 SỰ PHÁT TRIỂN VỀ CẤU TRÚC CỦA TRANSISTOR 5

1.2 SƠ LƯỢC VỀ MOSFET 10

1.3 TẠI SAO PHẢI LÀ TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG XUYÊN HẦM 15

CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP MÔ PHỎNG 22

2.1 BÀI TOÁN CHUYỂN ĐỘNG CỦA HẠT TRONG HỐ THẾ HỮU HẠN 22

2.2 LÝ THUYẾT XUYÊN HẦM QUA VÙNG CẤM 25

2.2.1 Cơ chế xuyên hầm qua vùng cấm 25

2.2.2 Mô hình bán cổ điển WKB 29

2.2.3 Mô hình xuyên hầm hai kênh của Kane 32

2.3 PHƯƠNG PHÁP MÔ PHỎNG HAI CHIỀU 39

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 43

3.1 CẤU TRÚC LINH KIỆN VÀ HOẠT ĐỘNG 44

3.1.1 Cấu trúc và cơ chế tắt mở của linh kiện 44

3.1.2 Đặc tính điện của cấu trúc Si SG-TFET và DG-TFET 46

3.2 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ DÀY THÂN LINH KIỆN 49

3.3 THIẾT KẾ ĐỘ DÀY THÂN PHỤ THUỘC VÀO VẬT LIỆU 56

3.4 THIẾT KẾ ĐỘ DÀY THÂN PHỤ THUỘC HẰNG SỐ ĐIỆN MÔI CỰC CỔNG 59

3.5 THIẾT KẾ CẤU TRÚC ĐIỆN MÔI CỰC CỔNG DỊ CHẤT PHỤ THUỘC VÀO ĐỘ DÀY THÂN 60

3.5.1 Cấu trúc linh kiện và hoạt động 60

3.5.2 Chuyển tiếp dị chất phía nguồn 65

Trang 11

3.5.3 Chuyển tiếp dị chất phía máng 67

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 12

MỞ ĐẦU Xuyên suốt quá trình lịch sử phát triển của transistor, thiết kế cấu trúc

đã được áp dụng phổ biến và hiệu quả để không ngừng cải tiến hoạt động của linh kiện Vì khả năng điều khiển của cực cổng lên vùng kênh quyết định đến phẩm chất đặc tính dòng-thế của các linh kiện ba cực, cấu trúc đa cổng với khả năng điều khiển cực cổng cao rõ ràng là một lựa chọn rất tốt Cần chú ý rằng công nghệ CMOS hiện thời dựa trên kiểu cấu trúc tam cổng (tri-gate) Vì cấu trúc đa cổng nhận được bằng cách mở rộng khái niệm lưỡng cổng ra hơn một chiều không gian, những hiểu biết căn bản về vật lý linh kiện và thiết kế cấu trúc lưỡng cổng cũng có thể áp dụng được cho linh kiện đa cổng Nghiên cứu gần đây đã khảo sát thiết kế độ dày thân linh kiện của TFET lưỡng cổng Không may là, bề dày tối ưu mà họ tìm ra không thể áp dụng đúng cho TFET lưỡng cổng sử dụng các vật liệu bán dẫn cũng như độ dày tương đương lớp ô-xít cực cổng khác nhau bởi vì tất cả các yếu tố đó đều được giữ không đổi trong khảo sát của họ Do vậy, việc hiểu được sự phụ thuộc của bề dày thân tối ưu vào các tham số linh kiện khác là rất quan trọng trong thiết kế TFET lưỡng cổng, và cũng cả đa cổng nữa

Đề tài nhằm khảo sát chi tiết ảnh hưởng của độ dày thân linh kiện tới đặc tính hoạt động tắt-mở của transistor hiệu ứng trường xuyên hầm cấu trúc lưỡng cổng Cụ thể là đưa ra các giải thích vật lý đầy đủ của các ảnh hưởng tìm được, xác định được độ dày tối ưu để nâng cao đặc tính điện của linh kiện khi sử dụng các loại vật liệu bán dẫn có vùng cấm và hằng số điện môi khác nhau như Si, Ge, In0.53Ga0.47As Ngoài ra còn khảo sát sự phụ thuộc của độ dày thân tối ưu vào cấu trúc điện môi cực cổng dị chất

Đối tượng nghiên cứu là transistor hiệu ứng trường xuyên hầm (TFET)

có cấu trúc lưỡng cổng đặc trưng mà trong đó độ dày thân linh kiện sẽ được thay đổi để nghiên cứu ảnh hưởng của nó tới đặc tính điện của TFET, từ đó đưa ra các hướng dẫn thiết kế độ dày thân linh kiện phù hợp nhằm nâng cao đặc tính hoạt động của TFET Đề tài giới hạn ở nghiên cứu mô phỏng hai chiều, tập trung vào việc thiết kế thân linh kiện với các vật liệu được sử dụng gồm Si, Ge và In0.53Ga0.47As

Trang 13

Đề tài góp phần làm sáng tỏ cách thức, mức độ và nguồn gốc ảnh hưởng của độ dày thân linh kiện tới đặc tính hoạt động của TFET lưỡng cổng

sử dụng vật liệu bán dẫn và điện môi cực cổng khác nhau Kết quả nghiên cứu của luận văn giúp các nhà thiết kế có được cơ sở và phương pháp để thiết kế tối ưu độ dày thân linh kiện của các TFET lưỡng cổng nói riêng và đa cổng nói chung

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU Thế giới đang trải qua những thay đổi lớn của ngành công nghiệp điện

tử khi linh kiện điện tử đang đóng một vai trò rất quan trọng trong các thiết bị điện tử hiện đại và được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống của con người Hàng loạt các linh kiện điện tử ra đời nhưng transistor hiệu ứng trường kim loại-ôxit-bán dẫn (metal-oxide-semiconductor filed-efect transistor (MOSFET)) vẫn là một lựa chọn hàng đầu cho các nhà sản suất vì những ưu điểm vượt trội của nó Linh kiện điện tử MOSFET có thể được lắp ráp tích hợp trên một bề mặt nhờ khả năng thu nhỏ kích thước của chúng Vào khoảng cuối những năm 90 của thế kỉ XX, linh kiện này được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp điện tử vì kích thước của chúng được thu nhỏ đến cỡ nano mét, tốc độ xử lý nhanh, giá thành thấp Sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghệ điện tử dẫn đến sự ra đời của các chip điện tử thì kích thước của linh kiện phải được thu nhỏ hơn Việc thu nhỏ kích thước của MOSFET xuống dưới 10 nm đã dẫn đến làm tăng dòng rò xuyên hầm do cơ chế hoạt động của MOSFET dựa trên nguyên lý khuếch tán nhiệt truyền thống Giảm điện thế nguồn cấp, công suất tiêu thụ và giới hạn vật lý độ dốc dưới ngưỡng 60mV/decade tại nhiệt độ phòng của MOSFET là điều không thể Chính vì vậy, cần phải tìm ra một linh kiện điện tử mới với một cơ chế hoạt động mới, có thể thu nhỏ kích thước mà không bị giới hạn vật lý của độ dốc dưới ngưỡng như MOSFET là một điều tất yếu Transistor hiệu ứng trường xuyên hầm (tunnel field-effect transistor (TFET)) ra đời với một cơ chế hoạt động hoàn toàn mới: cơ chế xuyên hầm qua vùng cấm để thay thế cho MOSFET Nó được xem là một linh kiện tiềm năng và đầy hứa hẹn cho các vi mạch tích hợp công suất thấp

1.1 SỰ PHÁT TRIỂN VỀ CẤU TRÚC CỦA TRANSISTOR

Ngày nay, nhu cầu về linh kiện cầm tay chạy bằng pin đã tăng lên từng ngày với hàng triệu ứng dụng bao gồm máy trợ thính, điện thoại di động, máy tính xách tay…Các yêu cầu cơ bản của các ứng dụng này là nhỏ, gọn, tiêu thụ điện năng thấp và giá thành rẻ hơn Đối với các linh kiện như vậy, tiêu thụ điện năng là rất quan trọng vì năng lượng được cung cấp bởi pin khá hạn chế

Trang 15

Chỉ bằng cách làm cho các transistor nhỏ hơn, nhiều linh kiện có thể tích hợp trên wafer silicon nào đó thì công suất thiết bị sẽ mạnh hơn Việc giảm độ dài kênh cho phép khả năng chuyển mạch nhanh hơn vì cần ít thời gian hơn để dòng điện chảy từ cực máng sang cực nguồn [1] Nói cách khác, một transistor nhỏ dẫn đến điện dung nhỏ hơn Điều này sẽ dẫn đến giảm độ trễ của transistor Vấn đề cần phải chú trọng là tăng dòng mở và hạ thấp dòng rò

ở mức thấp nhất Vì vậy, các linh kiện mới có thể được tạo ra bằng cách áp dụng các kĩ thuật mới để tăng tối ưu dòng mở Điều này có thể được cải thiện bằng cách sử dụng cấu trúc MOS khác nhau Những thay đổi về cấu trúc của linh kiện đã mang lại nhiều kết quả tích cực cho công nghệ MOS Đầu tiên là cấu trúc SOI MOS (Silicon-On-Insutator) thay thế cho cấu trúc MOS thông thường Điểm khác biệt chính giữa hai cấu trúc này là linh kiện SOI có lớp ôxit ở dưới, ngăn cách thân ra khỏi đế [2] Quá trình chế tạo SOI MOS tương

tự như quy trình MOS thông thường ngoại trừ tấm wafer silicon Tấm SOI có

ba lớp: lớp silicon trên bề mặt mỏng, một lớp cơ bản của vật liệu cách điện, một lớp wafer silicon hỗ trợ [3] Mục đích của việc thiết kế này là làm giảm điện dung lớp ôxit vì điện dung lớp ôxit càng nhỏ, transistor sẽ hoạt động càng nhanh, cho hiệu suất cao hơn Do có lớp BOX (Bured Oxide), không có đường dẫn rò rỉ ở xa cổng dẫn đến mức tiêu thụ năng lượng thấp hơn Điểm nổi bật của cấu trúc SOI MOS là giảm điện dung ở vùng chuyển tiếp kênh- nguồn, dòng rò rỉ thấp, độ trễ và mức tiêu thụ năng lượng của linh kiện thấp hơn, điện áp ngưỡng ít phụ thuộc vào độ lệch cổng, giảm phụ thuộc nhiệt độ

….Tùy thuộc vào độ dày của lớp silicon trong quá trình hoạt động, các linh kiện SOI được phân thành hai loại là PD SOI (Partially Depleted SOI) và FD SOI (Fully Depleted SOI) So với PD SOI, FD SOI có cấu trúc thân rất mỏng nên còn được gọi là SOI siêu mỏng PD SOI có thân dày từ 50 đến 90 nm trong khi FD SOI có thân dày từ 5 đến 20 nm Trong các chất cách điện silicon thì FD SOI được ưu chuộng hơn vì kích thước mỏng, giảm dòng rò và

Trang 16

cải thiện đặc tính tiêu thụ điện [4] Mặt khác, nó cũng có những hạn chế nhất định Khó khăn trong việc sản xuất tấm mỏng SOI wafer, dòng mở quá mức, hiệu ứng KINK, các trạng thái bề mặt…Một cấu trúc khác của SOI MOS là SOI lưỡng cổng Chiều dài của cấu trúc này có thể mở rộng đến 10 nm

Để tăng dòng mở và kiểm soát tốt hơn các hiệu ứng kênh ngắn (SCE), các SOI MOS đã phát triển từ cổng đơn sang nhiều cổng, bao gồm Fin-FET lưỡng cổng, tam cổng, công xung quanh…Cấu trúc đa cổng mô tả tính tĩnh điện tốt hơn, mức độ kiểm soát của cổng đối với khu vực kênh tốt hơn Tính tĩnh điện còn liên quan đến chiều dài tự nhiên Độ dài tự nhiên là độ dài của vùng kênh được kiểm soát bởi máng SCE bị triệt tiêu nếu chiều dài cổng lớn hơn 5-10 lần độ dài tự nhiên Độ dài tự nhiên giảm bằng cách tăng số lượng cổng Tuy nhiên, khi sử dụng cấc kĩ thuật cũng cần lưu ý rằng, mặc dù dòng

mở thấp là trở ngại ngăn cản ứng dụng của transistor nhưng tác động của các

kỹ thuật để cải thiện dòng mở lên các đặc tính cần phải được xem xét cẩn thận Ví dụ như sự cản thiện của dòng mở không nên đi kèm với sự gia tăng không thể chấp nhận của dòng tắt

Năm 1999, Cựu TSMC CTO và giáo sư Berkeley, Chenming Hu và nhóm cộng sự của ông lần đầu tiên trình bày khái niệm Fin-FET (fin field-effect transistor) Nguyên tắc chính của cấu trúc này là một thân rất mỏng (khoảng 10 nm hoặc thấp hơn), do đó điện dung cổng gần với toàn bộ kênh

Vì vậy, cổng có thể kiểm soát dòng rò một cách hiệu quả Fin-FET có thể được chế tạo trên wafer silicon hoặc SOI wafer Cổng được bao quanh kênh cung cấp kiểm soát từ ba phía của kênh [5] So với các MOS thông thường, kênh nằm ngang, trong khi kênh của Fin-FET (fin field-effect transistor) là nằm dọc Chính vì vậy, đối với Fin-FET, chiều cao của kênh sẽ xác định chiều rộng của linh kiện Fin-FET ra đời là sự đổi mới căn bản để đẩy giới hạn cho tốc độ và hiệu quả cao hơn Công nghệ xử lý Fin-FET cho phép các

bộ xử lý di động vượt qua giới hạn của cấu trúc MOS thông thường để đạt

Trang 17

được hiệu suất cao và hiệu quả năng lượng tốt hơn Bộ xử lý Samsung Exynos được xây dựng trên quy trình Fin-FET 10nm giúp điện thoại thông minh nhanh hơn và bền hơn bao giờ hết Vào tháng 1 năm 2015, Samsung bắt đầu sản xuất hàng loạt Exynos 7 Octa (7420), bộ xử lý di động đầu tiên trong ngành sử dụng công nghệ xử lý Fin-FET 14 nm Đến năm 2018, Samsung tự hào công bố Exynos 9 Series (9810), bộ xử lý di động được xây dựng trên quy trình Fin-FET 10 nm thế hệ 2 Bộ xử lý Exynos sẽ tiếp tục được xây dựng trên công nghệ xử lý tiên tiến nhất trong ngành để tạo ra khả năng vô hạn cho ngành điện tử hiện đại Dòng dẫn trong Fin-FET có thể tăng bằng cách tăng chiều rộng của kênh (tăng chiều cao của Fin) hoặc xây dựng nhiều vây song song được kết nối với nhau Công nghệ Fin-FET ra đời đã cho thấy nhiều ưu điểm vượt trội Trong Fin-FET, cấu trúc cổng được quấn quanh kênh và thân mỏng, cung cấp SCE tốt hơn Do đó, pha tạp kênh trở thành tùy chọn Pha tạp kênh thấp đảm bảo khả năng vận chuyển tốt hơn của các hạt tải điện trong kênh, do đó hiệu suất cao hơn [6] Fin-FET có nhiều lợi thế hơn so với MOS thông thường, chẳng hạn như dòng dẫn cao hơn, dòng rò thấp hơn, tốc độ xử

lý cao hơn, tiêu thụ điện năng thấp hơn, không có dao động ngẫu nhiên, khả năng kiểm soát tuyệt vời các hiệu ứng kênh ngắn So sánh giữa hai cấu trúc SOI MOS và Fin-FET, cả hai đều có ưu, nhược điểm riêng Một ưu điểm của SOI MOS là nó có thể tùy chọn thiên vị cổng tốt hơn Điều này làm cho nó phù hợp với các ứng dụng có năng lượng thấp Nhưng chi phí của một wafer SOI là cao hơn so với wafer silicon Theo Intel, wafer SOI phải thêm khoảng 10% vào tổng chi phí xử lý So với SOI MOS, Fin-FET có dòng dẫn cao và

ổn định hơn Hơn nữa, trong Fin-FET, công nghệ biến dạng có thể được sử dụng để tăng tính cơ động Một trong những nhược điểm của Fin-FET là quy trình sản xuất của nó phức tạp Theo Intel, chi phí sản xuất Fin-FET có thể tăng hơn 2-3% Một số cấu trúc khác của Fin-FET là Fin-FET tam cổng,

Trang 18

Omega FET, dây nano FET, FET đa kênh, metal gate/ high-k FET [7] …Cả cấu trúc Fin-FET và SOI có kiểm soát cổng tốt hơn, điện áp ngưỡng thấp và dòng rò thấp hơn Nhưng khi chúng ta chuyển đến nút công nghệ thấp hơn dưới 10 nm, vấn đề rò rỉ lại bắt đầu Điều này dẫn đến nhiều vấn đề khác như làm phẳng ngưỡng, tăng mật độ năng lượng và tản nhiệt Cấu

Trang 19

trúc Fin-FET kém hiệu quả hơn về mặt tản nhiệt vì nhiệt có thể dễ dàng tích lũy trên vây [8] Khi các linh kiện này đang tiến đến giới hạn của chúng, eInochips đang hợp tác với Academia để đưa ra các giải pháp tiềm năng bao gồm sửa đổi cấu trúc linh kiện, thay thế vật liệu silicon bằng vật liệu mới Trong số đó, Carbon Nanotube (CNT), Gate-All-Around Nanowire FET hoặc Fin-FET với chất bán dẫn ghép có thể chứng minh là giải pháp đầy hứa hẹn trong các nút công nghệ tương lai [9]

1.2 SƠ LƯỢC VỀ MOSFET

Thời đại của ngành điện tử và công nghệ thông tin đã phát triển bùng

nổ trong khoảng những năm cuối thế kỉ XX với hàng loạt các sản phẩm công nghệ cao ra đời Những linh kiện này đã góp phần nâng cao đời sống cho con người và chúng có một ý nghĩa lớn trong cuộc cánh mạng công nghệ Sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo linh kiện điện tử đã bước vào giai đoạn mới kể từ khi phát minh ra transistor đầu tiên Công nghệ này đã phát triển nhanh chóng và mở đường cho những sản phẩm mạnh mẽ hơn bao giờ hết ra đời Năm 1947, các transistor đầu tiên tại phòng thí nghiệm Bell Labs đã được William Shockley, John Bardeen và Walter Brattain đề xuất [10] Năm 1950, William Shockley đã phát minh ra transistor tiếp xúc lưỡng cực (bipolar junction transistor (BJT)), đây là mô hình transistor đầu tiên bắt đầu cho các ứng dụng khuếch đại Năm 1954, các Radio bán dẫn đầu tiên đã được tung ra thị trường với chỉ có bốn transistor (germanium) Năm 1958, với ý tưởng tích hợp các linh kiện điện tử lên trên bề mặt tấm silicon, J Kilby đã phát minh ra mạch tích hợp đầu tiên [11] Phát minh có ý nghĩa quan trọng này đã tạo tiền

đề cho việc tích hợp những linh kiện bán dẫn nhỏ gọn trên một bề mặt duy nhất Năm 1960, D Kang và M Atalla đã chế tạo ra một linh kiện điện tử mới tên là MOSFET dựa trên ý tưởng điều khiển dòng điện trong linh kiện bởi điện trường vuông góc với dòng điện tích nhờ điện thế cổng (hiệu ứng trường) mà lý thuyết này đã được Julius Lilienfeld phát hiện vào năm 1926

Trang 20

[12] Năm 1961, các bằng sáng chế đầu tiên được trao cho Robert Noyce cho một mạch tích hợp Năm 1962, một IC MOS bao gồm 16 transistor MOS đã được chế tạo Năm 1963, công nghệ MOS (complementary metal-oxide-semiconductor (CMOS)) sử dụng cả hai khái niệm NMOS và PMOS đã được

F Wanlass và C Sah đề xuất [12] Trong tất cả các công nghệ IC hiện có, CMOS là công nghệ vượt trội, thay thế công nghệ NMOS và BJT do tản nhiệt thấp, chống nhiễu tốt, trở kháng vào cao và công nghệ xử lý tiên tiến [14] Năm 1965, định luật Moore ra đời khi Gordon Moore dự báo rằng số lượng transistor trên một chip có thể tăng gấp đôi sau mỗi hai năm, điều đó cũng mang lại sự tăng trưởng về công suất xử lý Rất nhiều linh kiện nhỏ, tất cả đều được sắp xếp trên một bề mặt nhỏ đã được chứng minh là yếu tố quyết định đối với sự đột phá của một vi mạch [15] MOSFET đã cho thấy những ưu điểm vượt trội của mình: dễ chế tạo, kích thước tương đối nhỏ, hàng triệu linh kiện có thể được tích hợp trong một vi mạch Cho đến nay công nghệ MOS đã

mở rộng rất nhanh chóng, đóng vai trò thiết yếu trong ngành chế tạo linh kiện điện tử bán dẫn

Transistor hiệu hứng trường kim loại-ôxit-bán dẫn (the semiconductor field effect transistor (MOSFET)) là một trong những transistor được sử dụng phổ biến nhất trong các mạch kĩ thuật số điện tử Phần kim loại-ôxit-bán dẫn hay tụ MOS chính là “quả tim” của transistor Cấu trúc của một MOSFET cơ bản gồm ba phần chính: soure (cực nguồn), drain (cực máng), gate (cực cổng)

metal-oxide-Hình 1.1 (a) và hình 1.1 (b) lần lượt là mặt cắt ngang của MOSFET loại

n (NMOS) và MOSFET loại p (PMOS) Trong NMOS, cực nguồn và cực máng được pha tạp loại n+, cực nguồn và cực máng gắn với đế được pha tạp loại p Trong khi PMOS, cực nguồn và cực máng được pha tạp loại p+, đế được pha tạp loại n Sau đó phủ lên đế một lớp silicon diôxit hoặc vật liệu điện môi khác rồi đặt một lớp kim loại hoặc vật liệu đa tinh thể lên trên lớp

Trang 21

ôxit để tạo thành điện cực cổng Thời kì đầu của ngành công nghiệp bán dẫn, kim loại nhôm thường được sử dụng để làm vật liệu cổng Nhưng sau này, người ta thấy được những hạn chế của nhôm khi làm vật liệu cổng nên vật liệu đa tinh thể đã thay thế vì quá trình pha tạp của máng và nguồn đòi hỏi các phương pháp ủ nhiệt rất cao (> 8000C) Nếu nhôm được sử dụng làm vật liệu

Gate dielectric

Body (a)

Gate dielectric

Body (b)

Hình 1.2 Cấu trúc của linh kiện MOSFET đơn cổng tương ứng với

(a) loại n và (b) loại p

Trang 22

cổng, dưới nhiệt độ cao như vậy, nó sẽ bị nóng chảy do nhiệt độ nóng chảy của nhôm xấp xỉ 6600C Nếu là vật liệu đa tinh thể thì nó sẽ không bị nóng chảy Mặt khác, điện áp ngưỡng của MOSFET có tương quan với sự khác biệt

về chức năng làm việc giữa cực cổng và kênh Trước đó, cực cổng kim loại đã được sử dụng khi điện áp hoạt động là 3-5 V Nhưng khi các MOSFET được thu nhỏ lại thì điện áp hoạt động của linh kiện cũng được hạ xuống Sử dụng kim loại làm vật liệu cổng dẫn đến điện áp ngưỡng cao hơn so với vật liệu đa tinh thể Ngoài ra, vì vật liệu đa tinh thể là chất bán dẫn nên chức năng làm việc của nó có thể điều chỉnh bằng cách điều chỉnh mức độ pha tạp Vùng dưới lớp ôxit, giữa cực nguồn và cực máng là vùng kênh Kiểu cấu trúc này hoàn toàn giống như một tụ điện và lớp ôxit đóng vai trò là vật liệu điện môi của tụ điện Điện dung được xác định bởi độ dày và hằng số điện môi của lớp silicon diôxit

Cụm từ “FET” trong MOSFET là viết tắt của filed-effect transistor, có nghĩa là transistor hiệu ứng trường đã nói lên nguyên lý hoạt động của tụ MOS MOSFET hoạt động dựa vào cơ chế khuếch tán nhiệt truyền thống Khi điện áp ở cực cổng lớn hơn điện áp ngưỡng của MOSFET, kênh dẫn được tạo

ra trong thân silicon dưới cổng Kênh được hình thành chứa các electron trong NMOS và các lỗ trống trong PMOS Điện trường cực cổng điều khiển khu vực kênh làm rào thế nhiệt ở kênh hạ xuống thấp và các electron trong NMOS hoặc các lỗ trống trong PMOS dễ dàng vượt qua rào chắn để đến cực máng, MOSFET ở trạng thái MỞ Khi điện áp ở cực cổng nhỏ hơn điện áp ngưỡng của MOSFET, rào thế nhiệt tại kênh cao khiến các electron trong NMOS hoặc các lỗ trống trong PMOS không thể vượt hàng rào ở kênh dẫn để đến cực máng, MOSFET ở trạng thái TẮT Ngoài ra, vẫn có một số các hạt tải điện có năng lượng lớn vào kênh để đến cực máng tạo thành dòng rò Nói một cách

Trang 23

đơn giản, MOSFET hoạt động như một công tắc [12] Khi cổng của NMOS được nối đất, NMOS như một công tắc mở, ngắt kết nối giữa cực nguồn và cực máng Khi đặt một điện áp lên cổng, NMOS được coi như là một công tắc đóng, kết nối cực giữa nguồn và cực máng Tương tự với PMOS, khi cổng của PMOS được nối đất, PMOS như một công tắc đóng, kết nối giữa cực nguồn và cực máng Khi đặt một điện áp lên cổng, PMOS được coi như là một công tắc mở, ngắt kết nối giữa cực nguồn và cực máng

E C

E V

OFF state (a)

E C

E V

ON state (b)

Hình 1.3 Sơ đồ vùng năng lượng của MOSFET (a) ở trạng thái MỞ và (b)

trạng thái TẮT

Trang 24

1.3 TẠI SAO PHẢI LÀ TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG XUYÊN HẦM

Vào những năm cuối thế kỉ XX, các linh kiện điện tử đang được ứng dụng rộng rãi Transistor hiệu ứng trường kim loại-ôxít-bán dẫn (MOSFET) đóng vai trò quan trọng trong công nghệ điện tử và thông tin liên lạc Những linh kiện điện tử này có thể được thu nhỏ đến nano mét, tốc độ xử lý nhanh,

dễ chế tạo, giá thành thấp nên chúng nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường công nghệ điện tử cho đến ngày nay Tuy nhiên, nền công nghiệp điện tử ngày càng phát triển đòi hỏi phải chế tạo ra các linh kiện công suất tiêu thụ thấp, kích thước nhỏ sao cho nhiều linh kiện điện tử hơn có thể lắp ráp tối ưu trên một vi mạch mà vẫn duy trì về tốc độ xử lý

Trong năm thập kỷ qua, transistor hiệu ứng trường kim loại-ôxít-bán dẫn (MOSFET) truyền thống đã có những thành công to lớn trong các vi mạch tích hợp nhờ khả năng thu nhỏ tới kích thước nano mét để cải thiện hiệu suất và giảm chi phí Việc tiếp tục giảm kích thước của MOSFET sẽ dẫn đến tăng dòng rò rỉ do hiệu ứng kênh ngắn (short channel effects (SCE)) như hạ thấp rào cản gây ra (drain-induced-barrier-lowering (DIBL), bão hòa vận tốc…[16] Tăng mức tiêu thụ điện năng là nỗi lo lắng không thể thiếu đối với các mạch điện tử nano nên chỉ có thể giảm điện áp nguồn cấp (VDD) Tuy nhiên, việc giảm VDD sẽ làm giảm hiệu suất của MOSFET Ngoài ra, điện áp ngưỡng trở nên thấp hơn khi giảm VDD dẫn đến dòng rò tăng cao, tỷ lệ Ion/Ioff

giảm và tiêu thụ điện năng lớn [17] Tiêu thụ điện năng tăng trở thành mối quan tâm lớn cho các trung tâm công nghệ do chi phí tăng trong việc cung cấp năng lượng và làm mát hệ thống máy Các MOSFET thông thường đều hoạt động dựa trên cơ chế khuếch tán nhiệt truyền thống nên độ dốc dưới ngưỡng

bị giới hạn ở mức 60mV/dec tại nhiệt độ phòng [18] Giới hạn vật lý trên của

Trang 25

độ dốc dưới ngưỡng đối với MOSFET truyền thống hiện nay trở thành vấn đề hạn chế khi đáp ứng các yêu cầu của mạch tích hợp trong tương lai

Những nhược điểm của MOSFET phải đối mặt trở thành bài toán khó cho các nhà khoa học Để khắc phục những hạn chế này thì việc nghiên cứu

n + Drain

Metal / poly-silicon

p + Source intrinsic

Trang 26

tìm ra các linh kiện mới tốt hơn để có thể thay thế cho MOSFET ở kích thước nanomet là cần thiết Về mặt này, transistor hiệu ứng trường xuyên hầm (tunneling-filed-effect transistors (TFET)) xuất hiện như một ứng cử viên đầy

Trang 27

triển vọng để thay thế cho MOSFET thông thường, cho các ứng dụng năng lượng thấp dựa trên công nghệ nano trong tương lai Vì TFET có giới hạn vật

lý của độ dốc dưới ngưỡng thấp hơn MOSFET và hoạt động theo cơ chế mới:

cơ chế xuyên hầm qua vùng cấm (band-to-band tunneling (BTBT))

Trong những năm gần đây, TFET đã trở thành một linh kiện thay thế khả thi cho các linh kiện MOSFET thông thường, đặc biệt ở các ứng dụng

Trang 28

năng lượng thấp TFET được nghiên cứu đầu tiên bởi Tetsuya Baba vào năm

1992 [19] Về cơ bản, TFET có cấu trúc gần giống với MOSFET TFET cũng

có quá trình chế tạo giống như MOSFET [20] Thiết kế cơ bản của TFET đơn thuần chỉ là một diode p-i-n hoạt động ở trạng thái phân cực ngược với cổng điện môi điều khiển dòng xuyên hầm trên vùng kênh dẫn Đối với TFET loại

n, máng được pha tạp loại n+ và nguồn được pha tạp loại p+ Trong khi TFET loại p thì ngược lại, máng được pha tạp loại p+ trong khi nguồn được pha tạp loại n Kênh là một chất bán dẫn nội pha tạp thấp loại p hoặc loại n [21] Kênh được tách ra khỏi điện cực cổng bằng một chất điện môi, tương tự như MOSFET thông thường

Hình 1.3 a và 1.3 b tương ứng cấu trúc của TFET loại n và TFET loại

p Đối với TFET loại n, điện áp dương được đặt vào cực cổng và cực máng, cực nguồn thì được nối đất Trong khi TFET loại p thì cực nguồn được nối đất, điện áp âm được đặt vào cực cổng và cực máng [12]

Khi điện áp cổng bằng 0, TFET ở trạng thái TẮT Vùng dẫn trong kênh nằm phía trên vùng hóa trị trong nguồn, chiều rộng của hàng rào năng lượng giữa kênh dẫn và nguồn lớn [22], xác xuất để các electron dẫn xuyên hầm thấp, BTBT bị ức chế và TFET ở trạng thái TẮT Khi đặt một điện áp dương lên cổng, điện áp cổng sẽ điều chỉnh mật độ hạt tải điện bên dưới cổng, vùng dẫn ở kênh bị hạ thấp xuống Khi điện áp cổng đủ lớn, vùng hóa trị ở cực nguồn và vùng dẫn ở kênh được căn chỉnh làm cho độ rộng hàng rào giữa kênh dẫn và nguồn hẹp lại Kết quả là hình thành đường hầm giữa kênh và cực nguồn làm cho các electron ở vùng hóa trị có thể xuyên hầm qua vùng cấm một cách dễ dàng và TFET ở trạng thái MỞ Nguyên lý hoạt động của TFET loại p tương tự như TFET loại n Khi điện áp cổng bằng 0,vùng dẫn trong nguồn nằm phía trên vùng hóa trị trong kênh, BTBT bị ức chế và TFET

ở trạng thái TẮT Khi đặt một điện áp âm lên cổng, điện áp cổng sẽ điều chỉnh mật độ hạt tải điện bên dưới cổng, vùng hóa trị ở kênh được nâng lên

Trang 29

trên vùng dẫn trong cực nguồn Khi điện áp cổng đủ lớn, vùng hóa trị ở cực nguồn và vùng dẫn ở kênh được căn chỉnh làm cho độ rộng hàng rào giữa kênh dẫn và nguồn hẹp lại Kết quả là hình thành một đường hầm giữa kênh

và cực nguồn làm cho các lỗ trống có thể xuyên hầm qua vùng cấm một cách

dễ dàng để vào kênh và TFET ở trạng thái MỞ [12] Tóm lại, TFET hoạt động dựa trên cơ chế xuyên hầm qua vùng cấm do điện thế cổng điều khiển

độ rộng hàng rào xuyên hầm của các hạt tải điện

Từ khi xuất hiện, TFET đã cho thấy sự vượt trội của mình mà MOSFET thông thường không làm được Ưu điểm thiết yếu của TFET là phù hợp với các ứng dụng có điện áp nguồn cấp và ứng dụng năng lượng thấp TFET không bị giới hạn vật lý về độ dốc dưới ngưỡng 60mV/dec như các MOSFET thông thường bằng cách sử dụng các kĩ thuật để có độ dốc dưới ngưỡng thấp 57mV/dec [23], 52,8 mV/dec [24], 52 mV/dec [22], 43,5 – 33,4 mV/dec [25]… Ngoài ra, TFET còn có khả năng thu nhỏ kích thước và cho dòng rò thấp hơn so với MOSFET Nhưng một vấn đề khó khăn mà TFET gặp phải là do cơ chế xuyên hầm qua vùng cấm, xác suất xuyên hầm tương đối thấp nên dòng mở của TFET nhỏ hơn so với dòng mở của MOSFET [18] Tăng dòng xuyên hầm là một thách thức lớn cho các nhà khoa học Chính vì vậy, việc nghiên cứu kĩ hơn về TFET để khắc phục những hạn chế mắc phải của linh kiện là việc làm cần thiết để phát triển ngành công nghiệp điện tử thời đại mới trong tương lai

Điều cần phải quan tâm là làm cách nào để giảm mức tiêu thụ điện năng của TFET Để giảm mức tiêu thụ năng lượng của các linh kiện điện tử, người ta cần phải giảm điện áp nguồn cấp Độ dốc dưới ngưỡng của TFET là một lợi thế cơ bản cho phép giảm điện áp nguồn cấp trong khi vẫn giữ dòng

mở ở mức cho phép Để tăng xác suất xuyên hầm thì nhiều kĩ thuật đã được

áp dụng dựa trên việc giảm thiểu rào cản đường hầm đã được đề xuất để cải thiện dòng mở, chẳng hạn như sử dụng vật liệu bán dẫn có độ rộng vùng cấm

Trang 30

thấp [26-29], sử dụng vật liệu điện môi cổng high-k [22, 23], [30, 31], hoặc sử dụng các chất bán dẫn khác như phosphorene [32], WSe2, BP, InAs [33], nồng độ pha tạp thân [34], pha tạp nguồn [35]…Ngoài ra thay đổi cấu trúc linh kiện cũng là cách để ức chế dòng rò và tối ưu hóa dòng mở như sử dụng cấu trúc lưỡng cổng (double-gate) [22, 23], cấu trúc cổng không đối xứng [36], cấu trúc dị chất tại cực nguồn [37], điện môi cổng không đối xứng [38], kênh không đối xứng [39]…Ngoài ra, thu nhỏ kích thước của linh kiện mà không làm giảm dòng mở của TFET cũng là mối quan tâm lớn Lựa chọn các tham số thích hợp của linh kiện sẽ ảnh hưởng đến đặc tính tắt-mở của TFET như: giảm độ dày ôxit tương đương (EOT) [40], giảm chiều dài kênh [41, 42]…

Trang 31

CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VẬT LÝ VÀ PHƯƠNG PHÁP MÔ PHỎNG

Với sự mở rộng liên tục của các linh kiện CMOS, việc thiết kế là tối ưu hóa linh kiện trở nên khó khăn hơn Các hiện tượng không quan trọng trước đây, chẳng hạn như xuyên hầm trực tiếp, giờ đây có thể chi phối bởi hiệu suất linh kiện và tiêu chí thiết kế Hàng loạt các mô hình vận chuyển lượng tử tiên tiến có sẵn trong MEDICI cho phép người dùng thực hiện các mô phỏng chính xác của các linh kiện điện tử MEDICI có thể được sử dụng để thiết kế

và tối ưu hóa các linh kiện để đáp ứng các mục tiêu hiệu suất, do đó giảm nhu cầu thử nghiệm tốn kém Luận văn sử dụng chương trình mô phỏng được viết trong phần mềm MEDICI để xuất ra các tham số vật lý bằng cách giải tự hợp các phương trình Boltzmann, phương trình liên tục và phương trình Poisson Trong chương này, ngoài việc giới thiệu phần mềm mô phỏng MEDICI hai chiều, luận văn còn trình bày ngắn gọn về mô hình bán cổ điển WKB và mô hình xuyên hầm qua vùng cấm hai kênh của Kane Vì TFET hoạt động dựa trên cơ chế xuyên hầm của các electron từ vùng hóa trị qua vùng cấm để vào vùng dẫn tham gia vào quá trình dẫn điện nên để tính được dòng xuyên hầm,

ta phải tính tốc độ xuyên hầm của các electron tại vùng chuyển tiếp xuyên hầm Ngoài ra, để giải thích các hiện tượng vật lý lượng tử trong các mô phỏng như hiệu ứng giam giữ lượng tử…Trong chương này, luận văn còn giải bài toán chuyển động của hạt trong hố thế hữu hạn

2.1 BÀI TOÁN CHUYỂN ĐỘNG CỦA HẠT TRONG HỐ THẾ HỮU

Ta xét bài toán trong ba miền (I), (II), và (III):

Phương trình Schrodinger cho các trạng thái liên kết: (E<V)

Trang 32

( ) 0 ( )

a

O

(II)

Hình 2.1 Hố thế hữu hạn một chiều

Trang 34

càng lớn

2.2 LÝ THUYẾT XUYÊN HẦM QUA VÙNG CẤM

2.2.1 Cơ chế xuyên hầm qua vùng cấm

Lý thuyết xuyên hầm được xây dựng vào năm 1926 bởi ba nhà bác học Wentzel, Kramers và Brillouin Để giải thích cơ chế xuyên hầm, người ta dựa vào mô hình bán cổ điển WKB để tính gần đúng xác xuất xuyên hầm của các electron hóa trị Hình 2.3 sơ đồ xuyên hầm qua vùng cấm của các electron hóa

Trang 35

trị từ vùng hóa trị sang vùng dẫn của chuyển tiếp p-i-n phân cực ngược trong vùng điện trường đều Dựa vào sơ đồ, ta có thể thấy được các electron hóa trị trong vùng hóa trị bên trái chuyển động xuyên hầm qua vùng cấm để vào vùng dẫn bên phải để trở thành các eclectron tự do Cơ chế xuyên hầm qua vùng cấm của chất bán dẫn phụ thuộc vào vật liệu chất bán dẫn Có hai loại bán dẫn: bán dẫn vùng cấm trực tiếp và bán dẫn vùng cấm gián tiếp

Đối với bán dẫn có vùng cấm trực tiếp, đỉnh năng lượng của vùng hóa trị tại một giá trị nào đó của số sóng k trùng với đáy năng lượng của vùng dẫn gần mức Fermi Khi các electron thực hiện quá trình xuyên hầm qua vùng cấm của chất bán dẫn có vùng cấm trực tiếp, nó không bị hấp thụ hay phát xạ phonon trung gian Chính vì vậy, năng lượng và xung lượng vuông góc với phương xuyên hầm của electron được bảo toàn Gọi d ir

T

F là hệ số truyền qua của các electron khi xuyên hầm qua bán dẫn vùng cấm trực tiếp Nó được định nghĩa là số trạng thái vùng dẫn khả dĩ mà các electron hóa trị truyền tới Đối với bán dẫn vùng cấm trực tiếp, hệ số truyền qua d ir

Trang 36

dẫn vùng cấm gián tiếp, đáy năng lượng của vùng dẫn và đỉnh năng lượng của vùng hóa trị không nằm trên cùng một giá trị k Vì khi thực hiện quá trình xuyên hầm qua vùng cấm của chất bán dẫn có vùng cấm gián tiếp, các electron bị hấp thụ hay phát xạ phonon dao động mạng tinh thể trước khi hoàn thành quá trình xuyên hầm qua vùng cấm gián tiếp Như vậy, năng lượng và xung lượng vuông góc với phương xuyên hầm lúc sau đã bị thay đổi so với

EF

Vùng hóa trịVùng dẫn

kF E

E F

Vùng hóa trị Vùng dẫn

k F

E

Hình 2.3.Sơ đồ năng lượng điện tử gần mức Fermi của (a) bán dẫn có cùng

cấm trực tiếp và (b) bán dẫn có vùng cấm gián tiếp

Trang 37

trạng thái ban đầu Hệ số truyền qua của chất bán dẫn vùng cấm gián tiếp

Cần chú ý rằng, các kết quả khi sử dụng mô hình bán cổ điển WKB chỉ đúng đối với các vật liệu bán dẫn xuyên hầm trực tiếp như InAs và InSb [43] Mẫu WKB không thể áp dụng cho các vật liệu bán dẫn xuyên hầm gián tiếp như Si hoặc Ge vì quá trình xuyên hầm của nó có sự hấp thụ hoặc phát xạ giữa phonon-electron

Mô hình WKB đã cho thấy nhiều hạn chế của mình khi không tính được xác suất xuyên hầm cho vật liệu bán dẫn vùng cấm gián tiếp [44] Sự thay đổi là cần thiết phải xây dựng một mô hình xuyên hầm qua vùng cấm chặt chẽ hơn về mặt tính toán Mô hình xuyên hầm qua vùng cấm áp dụng cho TFET chỉ có thể được xây dựng bằng mô hình lượng tử đầy đủ vì xuyên hầm qua vùng cấm là một hiện tượng cơ học lượng tử Trong khi kích thước của các linh kiện ngày càng nhỏ lại, các lý thuyết lượng tử lại trở nên cần thiết để giải thích các hiện tượng vật lý thì mô hình lượng tử đầy đủ là quan trọng để

có được các kết quả chính xác hơn Tuy nhiên, mô hình lượng tử đầy đủ cũng vấp phải nhưng hạn chế nhất định Việc sử dụng mô hình lượng tử đầy đủ khó suy ra các cơ chế và tính chất vật lý của quá trình xuyên hầm vì các thuật toán rất phức tạp Mặc khác, mẫu lượng tử đầy đủ thực hiện quá trình mô phỏng tốn khá nhiều thời gian hơn so với mô hình bán cổ điển Cả hai mô hình: bán

cổ điển WKB và lượng tử đầy đủ đã cho thấy những ưu điểm và hạn chế nhất định Để tính được dòng xuyên hầm qua vùng cấm đồng thời có thể rút ra được đặc tính của linh kiện và thiết kế TFET thì một phương pháp tiếp cận

Trang 38

mới được Kane đề xuất là sử dụng mô hình xuyên hầm hai kênh của Kane (Two Band Kane Model)

2.2.2 Mô hình bán cổ điển WKB

Đường hầm là một hiện tượng cơ học lượng tử trong đó một hạt đi qua các khu vực không gian và không thể áp dụng theo cơ học cổ điển Đường hầm bắt nguồn trực tiếp từ lưỡng tính sóng hạt được giới thiệu trong cơ học lượng tử Cơ học cổ điển chỉ có thể áp dụng lý thuyết đúng cho các vật thể có kích thước lớn và nặng Nhưng đối với các electron, là một hạt cơ bản thì hiệu ứng đường hầm có thể trở nên rất quan trọng Mô hình bán cổ điển WKB thuận lợi trong việc tìm ra xác suất xuyên hầm Nó được sử dụng rộng rãi trong việc nghiên cứu xuyên hầm của điot Zener vì các mối quan hệ trong các đại lượng vật lý đã được các hình thức toán học đơn giản hóa [45] Trong mô hình này, hàm sóng được giả thuyết là một hàm mũ với biên độ và pha biến thiên chậm Phương pháp Wentzel-Kramers- Brillouin (WKB) có giá trị chấp nhận được nếu sự thay đổi năng lượng điện tử trong bước sóng nhỏ hơn nhiều

so với động năng của nó [46] Kỹ thuật WKB là một cách tiếp cận bán cổ điển

để giải gần đúng phương trình Schrodinger độc lập với thời gian

x1

V0

V(x)

x2 x

Hình 2.4 Thiết lập vấn đề đường hầm chung cho rào thế hình chữ nhật

Trang 39

2 0

0 0

Trang 40

Đối với trường hợp rào chắn lớn, dày hoặc xác suất xuyên hầm là thấp thì

Xác suất xuyên hầm là tổng của các xác suất đường hầm thông qua mỗi hàng rào hình chữ nhật Có thể đạt được xấp xỉ WKB trong giới hạn khi độ rộng rào cản tiến đến 0 [48]

n n

Ngày đăng: 27/02/2021, 09:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w