Giải pháp xây dựng quy chế tài chính Đại học dân lập Giao thông vận tải Sài Gòn Giải pháp xây dựng quy chế tài chính Đại học dân lập Giao thông vận tải Sài Gòn Giải pháp xây dựng quy chế tài chính Đại học dân lập Giao thông vận tải Sài Gòn luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Trang 3MỤC LỤC
TRANG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ
THU CHI TÀI CHÍNH Ở CÁC TRƯỜNG NGOÀI CÔNG LẬP
Giáo dục và Đào tạo
hiện đại
1.4.5 Sự hình thành trường ĐHDL Giao thông Vận tải Sài Gòn trên cơ 35
sở trường CĐGTVT III
học Dân lập
1.5.3 Vai trò quản lý thu và chi tài chính đối với việc phát triển đào tạo 43
ĐHDL
1.5.4 Các văn bản pháp luật có liên quan đến thành lập và quản lý tài 44
chính ĐHDL
Trang 4CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU
CHI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP VÀ TẠI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI III
2.1.4 Phân tích việc bố trí nhân sự trong lĩnh vực tài chính kế toán và 56
việc tổ chức hạch toán kế toán
2.1.5 Phân tích mối quan hệ giữa HĐQT và Hiệu trưởng trong công 57
tác quản lý
ở các ĐHDL
2.2.2 Phân tích các quy định nội bộ hiện hành về thu chi tài chính 64
ở ĐHDL
2.3.1 Phân tích công tác xây dựng kế hoạch
2.3.2 Phân tích công tác phân cấp quản lý thu chi tài chính ở ĐHDL
Trang 52.5.2 Phân tích tình hình thực hiện các khoản chi sự nghiệp qua ba năm 66
gần đây của trường cao đẳng GTVT III
2.5.3 Phân tích tình hình thực hiện các khoản thu chi tài chính của trường 68
cao đẳng GTVT III
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG QUY CHẾ TÀI CHÍNH Ở TRƯỜNG
ĐẠI HỌC DÂN LẬP GIAO THÔNG VẬN TẢI SÀI GÒN
(ĐỂ ÁP DỤNG TỪ NĂM 2007)
Gòn trên cơ sở trường cao đẳng GTVT III
Sài Gòn (áp dụng từ năm 2007)
3.3 Những điều kiện đảm bảo vận hành và thực hiện quy chế tài chính
3.3.3 Đản bảo tiêu chuẩn và nâng cao trình độ, nghiệp vụ chuyên môn 112
của đội ngũ kế toán
3.3.4 Xác lập mối quan hệ giữa HĐQT và Hiệu trưởng về quản lý thu chi 113
tài chính ở ĐHDL
3.3.5 Kiến nghị đề xuất về cơ chế quản lý tài chính trong trường ĐHDL 114
Giao thông Vận tải Sài Gòn
Trang 6MỞ ĐẦU 1- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Thực hiện chủ trương xã hội hoá sự nghiệp giáo dục của Đảng và Nhà nước, ngành GD-ĐT đã sớm triển khai đa dạng hóa các loại hình trường, lớp: bán công, dân lập, tư thục ở các cấp, bậc học, ngành học (gọi chung là cơ sở GD-
ĐT ngoài công lập) nhằm đáp ứng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo điều kiện, cơ hội cho mọi người được học tập và học tập suốt đời Các cơ sở giáo dục – đào tạo ngoài công lập cùng song song hoạt động và có nghĩa vụ, quyền lợi bình đẳng như với các cơ sở giáo dục – đào tạo công lập
Trong Quyết định số 47/2001/QĐ-TTg ngày 4/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt quy hoạch mạng lưới các trường đại học giai đoạn 2001-
2010 có chỉ rõ là phải phát triển hợp lý các trường đại học, cao đẳng bán công, dân lập và tư thục Nghiên cứu chuyển một số trường công lập sang dân lập hoặc tư thục Từ những biến đổi môi trường và phân tích thời cơ và thách thức hiện nay đối với GDĐH, với vị thế là bộ phận đỉnh cao của hệ thống giáo dục quốc dân, đòi hỏi đào tạo đại học ở các trường đại học nói chung và các trường đại học dân lập nói riêng cũng phải thích ứng với đổi mới kinh tế xã hội Mặt khác so với khu vực công lập, các ĐHDL được tự chủ cao về các mặt: tài chính, đào tạo (học chính), nhân sự và hành chính, lại càng cấp thiết đòi hỏi phải có các giải pháp về quản lý đi kèm với để đảm bảo tính trách nhiệm tương ứng với tính
tự chủ mà Nhà nước đã phân cấp cho khu vực này Việc tìm ra những giải pháp quản lý thu-chi tài chính ở các trường ĐHDL còn nhằm thực hiện tốt mục tiêu
mở rộng các nguồn kinh phí cho GDĐH trong điều kiện ngân sách Nhà nước đầu
tư cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo còn rất hạn hẹp và tăng cường quản lý
Trang 7thu-chi kinh phí để đáp ứng yêu cầu phát triển đào tạo đại học Vì những lẽ trên việc
nghiên cứu quy chế tài chính ở các ĐHDL đã trở nên hết sức cấp thiết
Vấn đề thu-chi tài chính cho giáo dục – đào tạo Việt nam trong khi chuyển đổi mô hình từ trường công lập sang dân lập từ lâu đã được các nhà khoa học, các nhà quản lý, các tổ chức trong nước và quốc tế quan tâm nghiên cứu Song, còn rất ít các công trình nghiên cứu chuyên sâu về quản lý tài chính, nhất là quản
lý thu và chi kinh phí ở các ĐHDL sau khi chuyển đổi Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã nhiều lần triển khai soạn thảo dự luật “Qui chế quản lý tài chính đại học dân lập”, dự thảo” Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thu-chi học phí ở các trường bán công, dân lập, tư thục trong ngành giáo dục – đào tạo” và phối hợp cùng Bộ Tài chính soạn thảo” Chế độ kế toán áp dụng cho cơ sở giáo dục – đào tạo ngoài công lập” nhưng do có một số điểm vướng mắc và chưa thống nhất nên chưa thể thông qua và ban hành được
Trong thời gian tới Chính Phủ sẽ ban hành Nghị định thay thế Nghị định
số 73/1999/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, ytế, văn hóa và thể thao
Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục y tế văn hoá và thể dục thể thao đã nêu rõ:” Phát triển mạnh các cơ sở ngoài công lập với hai loại hình: dân lập và tư nhân Quyền sở hữu của các cơ sở ngoài công lập được xác định theo bộ luật dân
sự Tiến tới không duy trì loại hình bán công.” “ Tiến hành chuyển một số cơ sở thuộc loại hình công lập sang loại hình ngoài công lập để tập thể hoặc cá nhân quản lý và hoàn trả vốn cho nhà nước” “ Khuyến khích thành lập các cơ sở giáo dục đào tạo và dạy nghề ngoài công lập, chuyển một số cơ sở công lập sang loại hình ngoài công lập Hạn chế mở thêm các cơ sở công lập ở những vùng kinh tế phát triển Không duy trì các cơ sở bán công, các lớp bán công trong trường công.”
Trang 8Như vậy, vấn đề thu chi tài chính trong các trường ĐHDL nói chung và
Trường ĐHDL Giao thông vận tải khi chuyển đổi mô hình từ trường công lập
sang dân lập đến nay vẫn còn bỏ ngỏ và đề tài: “XÂY DỰNG QUY CHẾ TÀI
CHÍNH Ở ĐẠI HỌC DÂN LẬP GIAO THÔNG VẬN TẢI SÀI GÒN” nhằm
bước đầu tiếp cận đến lý luận và thực tế của vấn đề có ý nghĩa thiết thực này
2- MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xây dựng Quy chế thu chi tài chính ở các trường ngoài công lập
3- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trường cao đẳng Giao thông Vận tải III chuyển thành trường đại học Giao
thông Vận tải Sài gòn
4- NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1 Nêu cơ sở pháp lý của vấn đề quản lý thu và chi tài chính ở các trường
ngoài công lập
4.2 Đánh giá thực trạng tình hình thu chi tài chính trong trường cao đẳng
GTVT III
4.3 Xây dựng quy chế tài chính cho trường ĐHDL Giao Thông Vân Tải
5- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Quá trình nghiên cứu, đề tài sẽ vận dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
5.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp, bao gồm việc sưu tầm, đọc và nghiên
cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài như: quản lý giáo dục, quản lý tài chính
giáo dục, kinh tế giáo dục, quản lý của giáo dục
5.2 Phương pháp phỏng vấn: thiết kế nội dung các cuộc phỏng vấn, trao đổi
liên hệ và phỏng vấn các chuyên gia: quản lý trường ĐHDL, các nhà nghiên cứu,
các nhà tài chính về giáo dục… có liên quan đến đề tài nghiên cứu
5.3 Phương pháp nghiên cứu điển hình: tìm hiểu đặc điểm tổ chức và quản lý
ở một trường ĐHDL trên cơ sở đó có được những thông tin tư liệu cần thiết về
Trang 9thực trạng và tổng kết kinh nghiệm tìm ra những giải pháp về quản lý tài chính đại học dân lập Từ đó xây dựng quy chế quản lý tài chính ĐHDL Giao thông Vận tải
5.4 Phương pháp thống kê, phân tích hoạt động tài chính và giáo dục của các ĐHDL để so sánh giữa khu vực ĐH công và dân lập Bao gồm việc thu thập các
dữ liệu liên quan, tiến hành các kỹ thuật phân tích để chứng minh các luận đề hoặc rút ra các kết luận cần thiết
Trang 10
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ THU CHI TÀI CHÍNH Ở CÁC TRƯỜNG NGOÀI CÔNG LẬP
Trang 111.1 Hoàn cảnh ra đời của các trường ĐHDL
Trong thời kỳ đổi mới, đất nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Về đối ngoại, chúng ta thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập và hợp tác với các nước trên thế giới với nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng chủ quyền và cùng
có lợi về các mặt kinh tế, văn hoá, khoa hoc, giáo dục… Nhờ đó, đất nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội trong những năm 80 và tạo được tiền để cần thiết để chuyển sang thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Có thể nói từ năm 1986 đến nay, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương và giải pháp phát triển kinh tế, nhằm nâng cao mức sống của nhân dân, xây dựng đời sống văn hóa-tinh thần lành mạnh, phong phú, phát triển giáo dục, chăm lo sức khoẻ, hạn chế các tiêu cực xã hội… với quan điểm nhất quán là phát triển kinh tế đi đôi với thúc đẩy tiến bộ xã hội
Theo báo cáo phát triển con người của Liên Hợp Quốc vừa công bố năm
2004 chỉ số phát triển con người HDI (Xác định phát triển con người của một quốc gia trên cơ sở kết hợp các chỉ số về thành tựu giáo dục, tuổi thọ, thu nhập
…) của Việt nam năm 2004 cải thiện hơn so với năm trước với giá trị đạt 0,691 (năm 2003 là 0,688) nhưng có một điều đáng chú ý là chỉ số về giáo dục giảm đáng kể
Tuy nhiên, đó mới chỉ là những nhận xét bước đầu Nước ta vẫn là một nước nghèo và chậm phát triển Thu nhập bình quân đầu người thấp Cơ sở vật chất nghèo nàn, kỹ thuật công nghệ lạc hậu Bộ máy quản lý Nhà nước cồng kềnh, không phát huy hiệu lực và dẫn đến hiệu quả và năng suất lao động thấp Những nhân tố đó tác động trực tiếp đến giáo dục-đào tạo về cả hai phía: nhu cầu học tập ngày càng tăng của xã hội ở các cấp bậc học, nhu cầu việc làm của
Trang 12những người đã qua đào tạo và khả năng nguồn lực đầu tư cho GD-ĐT còn hạn hẹp
Từ công cuộc đổi mới kinh tế-xã hội, cải cách cơ cấu tổ chức các cơ quan thuộc Chính phủ đã kéo theo sự thay đổi trong quản lý Nhà nước về GD-ĐT Năm 1996 nhà nước đã sát nhập bốn cơ quan trực thuộc Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý ngành về giáo dục- đào tạo gồm:
Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp,
Uỷ ban bảo vệ Bà mẹ và Trẻ em,
và theo Quyết định số 874/1998/QĐ-TTg ngày 19/4/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao nhiệm vụ đào tạo lại và bồi dưỡng cán bộ, công chức cho Ban
Tổ chức Cán bộ Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chuyển giao sự nghiệp dạy nghề cho Bộ Lao động thương binh và xã hội quản lý và chuyển giao sự nghiệp đào tạo cán bộ công chức cho Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ thực hiện
Những sự thay đổi trên tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động này nhưng cũng làm nảy sinh những khó khăn cho việc quản lý hệ thống giáo dục đào tạo một cách nhất quán, và đồng thời cũng làm cho việc quản lý ngành phức tạp hơn
Trang 13Hiện nay nhà nước đang thực hiện sửa chữa những thiếu sót bằng việc chuẩn bị chuyển giao lại sự nghiệp đào tạo dạy nghề về cho Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm từng bước thực hiện quy hoạch hợp lý sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo
Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã có Quyết định số 36/2004/QĐ-BNV về việc cho phép thành lập hiệp hội các trường đại học cao đẳng ngoài công lập Việt nam Trao đổi về vấn đề này ông Trần Hồng Quân – Trưởng ban vận động thành lập hiệp hội (nguyên là Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo) có ý kiến ngay về sự cần thiết phải thành lập hiệp hội Hiện cả nước có 24 trường ĐH,CĐ ngoài công lập
và trong những năm tới, số trường ngoài công lập ngày càng tăng
Trong bối cảnh đó cần có sự tập hợp các trường để trao đổi kinh nghiệm
Có rất nhiều vấn đề cần trao đổi như quyền sở hữu, sử dụng lao động như thế nào, giải quyết vấn đề bảo hiểm ra sao… Từ đó cùng nhau xây dựng mô hình và
cơ chế trường ĐH, CĐ ngoài công lập Thêm nữa nhu cầu hỗ trợ nhau để phát triển như in ấn các giáo trình chung, sử dụng lao động chung…Thông qua hiệp hội các trường có thể liên kết đào tạo và nghiên cứu khoa học Sự ra đời của hiệp hội là rất cần thiết trên cơ sở các trường tự nguyện tham gia Hiện có nhiều trường ĐH, CĐ ngoài công lập rất ủng hộ và chờ đợi được gia nhập hiệp hội
1.2 Quan điểm và chủ trương đường lối của Đảng và nhà nước về Giáo dục
và Đào tạo
Trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, nền Giáo dục và Đào tạo nước nhà đang đứng trước một thực trạng: suy giảm số lượng và suy thoái về chất lượng trong giáo dục phổ thông Thiếu mối quan hệ chặt chẽ giữa đào tạo và việc làm trong giáo dục chuyên nghiệp, mạng lưới không hợp lý và thiếu mối quan hệ chặt chẽ giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học, sản xuất, việc làm trong giáo dục đại học Đội ngũ giáo viên yếu về chất lượng và thiếu động lực làm việc, hẫng hụt vừa thừa vừa thiếu; Tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật thiếu thốn, tổ chức quản lý và pháp chế chưa thích hợp Từ kinh nghiệm giáo dục của các nước trên
Trang 14thế giới và từ thực tiễn phát triển giao dục nước ta, nhất là chính sách đổi mới giáo dục trong thời gian gần đây, có thể thấy rằng các quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục đúng đắn của Đảng ta được đặt cơ sở trên sự phân tích các mối quan hệ giữa giáo dục với sự phát triển kinh tế, văn hoá, khoa học – công nghệ…, cũng như từ kết quả phân tích sự phát triển nội tại của bản thân sự nghiệp giáo dục Các quan điểm đó là:
1 Giáo dục là quốc sách hàng đầu
Hiện nay, không chỉ Việt nam mà nhiều nước trên thế giới đã xếp giáo dục vào vị trí đó Nói giáo dục là quốc sách hàng đầu có nghĩa là giáo dục phải được
ưu tiên hàng đầu trong các chính sách quốc gia Sở dĩ như vậy là vì giáo dục là động lực phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia Ngày nay, giáo dục đang trở thành một bộ phận đặc biệt của cấu trúc hạ tầng xã hội, là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của tất cả các lĩnh vực xã hội như chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học – công nghệ, an ninh, quốc phòng… Chính bởi vậy, phải coi giáo dục
là bộ phận hữu cơ quan trọng trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, trong đó, mục tiêu giáo dục phải coi là một trong những mục tiêu quan trọng của sự phát triển Trong phạm vi đó, đầu tư cho giáo dục là đầu
tư cho phát triển Ngược lại, giáo dục cũng phải đảm bảo điều kiện nhân lực cho
sự phát triển các lĩnh vực khác của nền kinh tế – xã hội Trong một phạm vi nhất định, giáo dục cũng đang là một loại dịch vụ Việc đào tạo nhân lực có lúc, có nơi liên quan trực tiếp với nhu cầu của thị trường sức lao động Nơi cung ứng và người tiếp nhận giáo dục có thể tính toán chi phí – lợi ích, Nhà nước cần có chính sách đúng đắn để định hướng quá trình này Mặt khác, giáo dục cũng là một bộ phận của phúc lợi xã hội mà mọi thành viên trong xã hội đều phải hưởng
2 Xây dựng nền giáo dục nhân dân, dân tộc và hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 15Mục tiêu chung của cách mạng nước ta là xây dựng một nước Việt nam độc lập, giàu mạnh và tiến lên chủ nghĩa xã hội Lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa thấm đượm trong mục tiêu cơ bản, lâu dài của giáo dục nước nhà và thể hiện trên cả hai phương diện nhân cách và xã hội
Con người Việt nam của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế phải là con người có lý tưởng xã hội chủ nghĩa và lòng tự hào, tự tôn dân tộc, có năng lực hoạt động xã hội và phẩm chất đạo đức trong sáng, năng động, sáng tạo, biết phát huy những bản sắc văn hoá dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, có ý thức và khả năng chung sống trong cộng đồng, làm chủ tri thức khoa học – công nghệ hiện đại, có kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỷ luật và sức khoẻ, những con người như vậy sẽ là nhân
tố cốt lõi làm nên sức mạnh nội sinh của dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh
tế – xã hội cũng như đòi hỏi công cuộc bảo vệ tổ quốc, củng cố quốc phòng, giữ gìn trật tự an ninh xã hội
3 Liên kết hữu cơ giữa phát triển giáo dục và phát triển kinh tế
Đảm bảo mối quan hệ hữu cơ giữa giáo dục và kinh tế trong quá trình phát triển để tạo ra sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội Do đó trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của các quốc gia, phát triển giáo dục là một
bộ phận cấu thành quan trọng, là sự chuẩn bị trước về nhân lực để đón đầu các nhu cầu phát triển kinh tế Kế hoạch phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao tạo ra nhu cầu về nhân lực, kích thích phát triển giáo dục Giáo dục cần tạo điều kiện cho cho sự dịch chuyển cơ cấu lao động theo hướng chuyển một bộ phận lớn lao động nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ
Vận dụng đường lối đổi mới kinh tế –xã hội của Đảng, phù hợp với đặc điểm của giáo dục và đào tạo chúng ta đã tiến hành đổi mới mục tiêu đào tạo về mặt xã hội cũng như về mặt nhân cách, đổi mới cấu trúc hệ thống và cơ chế thị
Trang 16trường sao cho vừa thích hợp với điều kiện trước mắt, vừa chuẩn bị tiền đề cho bước phát triển tiếp theo
4 Cấu trúc lại hệ thống giáo dục quốc dân
Hệ thống giáo dục quốc dân đã được cấu trúc lại: hợp nhất nhà trẻ, mẫu giáo thành bậc giáo dục mầm non, xây dựng bậc tiểu học hoàn chỉnh tách trường cấp I
ra khỏi trường phổ thông cơ sở, xây dựng bậc trung học mới, thí điểm xây dựng trung học chuyên ban, xây dựng trường trọng điểm – các trung tâm chất lượng cao, xây dựng hệ thống giáo dục thường xuyên, xây dựng các trung tâm dạy nghề, trung tâm kỹ thuật tổng hợp lao động hướng nghiệp và dạy nghề ở các quận huyện, chia quá trình đào tạo đại học thành hai giai đoạn Xây dựng cấp đào tạo sau đại học gồm: đào tạo thạc sỹ và đào tạo tiến sỹ, cải tiến quy trình đào tạo nghiên cứu sinh để đạt học vị tiến sỹ, đa dạng hóa các loại hình giáo dục –đào tạo Cần tiếp tục khảo sát, đánh giá kỹ lưỡng hơn từng mặt, từng bộ phận cụ thể của hệ thống giáo dục–đào tạo để rút kinh nghiệm và có sự điều chỉnh thích hợp, nhất là đối với những mô hình mới, những việc đang làm thí điểm Cũng cần nghiên cứu xác định mối tương quan hợp lý giữa các bộ phận trong hệ thống như tương quan giữa giáo dục phổ thông với đại học, giữa đại học với giáo dục chuyên nghiệp và có biện pháp thích hợp để tạo điều kiện các tương quan đó cho phù hợp với nhu cầu khách quan
5 Sắp xếp lại mạng lưới các cơ sở giáo dục –đào tạo
Trong những năm vừa qua việc xây dựng mạng lưới các trường học đã được đẩy mạnh Hiện nay mạng luới các trường phổ thông, trường mầm non thường gắn với địa bàn dân cư và được bố trí ở các địa phương Bộ Giáo dục và đào tạo cùng các Bộ, Tổng cục có liên quan sắp xếp lại các trường THCN và dạy nghề trung ương, kết hợp với các tỉnh sắp xếp lại các trường THCN và dạy nghề địa phương Hiện nay đang có chủ trương thay đổi cơ quan quản lý và quy hoạch lại mạng lưới các trường THCN và dạy nghề Số lượng các trung tâm kỹ thuật tổng
Trang 17hợp, hướng nghiệp, dạy nghề phát triển mạnh góp phần thúc đẩy kỹ năng thực hành, công nghệ cho học sinh phổ thông
Trên bậc đại học, chính phủ ban hành các nghị định về thành lập các đại học
đa lĩnh vực (đai học quốc gia, đại học vùng), những trường đại học dân lập, tư thục và bán công (hiện nay đã có chủ trương tạm ngưng và chuyển các trường bán công về các trường công lập hoặc tư thục) Măc dù đã có nhiều cố gắng nhưng nhìn chung việc sắp xếp lại mạng lưới các trường đại học và cao đẳng được triển khai chậm Thiếu sự chỉ đạo sát sao, chưa đáp ứng được các yêu cầu đạt hiệu quả cao về khai thác và sử dụng nguồn lực, đa năng về nguồn lực, đa dạng về chủ thể và phương thức quản lý Việc thành lập các đại học quốc gia và khu vực gồm nhiều trường thành viên làm nảy sinh một số vấn đề về tổ chức, quản lý trường, cần được xem xét và xử lý Đặc biệt cần quan tâm xây dựng các trường đa ngành mạnh về công nghệ ở bậc đại học Việc chưa khuyến khích, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển dạy nghề chính quy đang gây ra những khó khăn to lớn cho việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Hoạt động của một số Trung tâm kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp, dạy nghề, giáo dục thường xuyên ở địa phương còn trùng lặp, phân tán
6 Đa dạng hóa các loại hình giáo dục –đào tạo
Chủ trương đa dạng hóa các loại hình GD-ĐT đã được triển khai những năm đầu quá trình đổi mới Giáo dục – đào tạo ngày càng được đa dạng hóa theo loại hình (dài hạn và ngắn hạn, tập trung và tại chức, công lập và ngoài công lập, chính quy và không chính quy, đào tạo và bồi dưỡng, giáo dục –đào tạo từ xa), các cơ sở GD-ĐT theo chủ sở hữu (công lập, bán công, dân lập, tư thục), theo phạm vi đào tạo (đa lĩnh vực, đơn lĩnh vực, đa ngành, đơn ngành), theo cấp học, bậc học (trường đào tạo ở một cấp học, trường đào tạo nhiều cấp học) ….Nhờ đó nhu cầu học tập của xã hội cũng như của từng cá nhân dân cho giáo dục tăng lên,
Trang 18ngăn chặn sự giảm sút và dần dần tăng qui mô giáo dục Nguời học đã được tạo điều kiện để tự lựa chọn cho mình con đường học tập phù hợp với khả năng và điều kiện của bản thân
Đa dạng hóa được đẩy mạnh nhưng xây dựng các văn bản pháp quy chưa kịp thời, kiểm tra, kiểm soát chưa chặt chẽ và thường xuyên Vì vậy chất lượng của một số loại hình giáo dục –đào tạo ngắn hạn, giáo dục từ xa, đào tạo tại chức chưa được đảm bảo
Giải pháp then chốt là đổi mới và nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại hoá và phù hợp với thực tiễn Việt nam cùng với đổi mới cơ chế quản lý giáo dục Kiên quyết giảm hợp lý nội dung chương trình học tập cho phù hợp với tâm sinh lý của học sinh cấp tiểu học và trung học cơ
sở Khẩn trương triển khai đề án phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, cơ cấu lại hệ thống đào tạo, hoàn thiện hệ thống đào tạo, thực hành định hướng nghề nghiệp Khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, tạo cơ chế và điều kiện để các trường đại học và các trường dạy nghề chuyển mạnh sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm Đổi mới
cơ chế chính sách tạo kinh phí cho giáo dục và đào tạo, xác định công khai và phù hợp phần đóng góp của người học, kiên quyết đấu tranh khắc phục các tiêu cực trong dạy học, đồng thời có chính sách đảm bảo cho con các gia đình nghèo cũng có điều kiện học tập Tăng cường hợp tác với nước ngoài và thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực đào tạo đại học, sau đại học và đào tạo nghề, khuyến khích, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên ra nước ngoài học tập, đi đôi với tăng cường quản lý công tác lưu học sinh Xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đào tạo Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và xây dựng xã hội học tập
7 Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục (XHH GD)
Trang 19Nghị quyềt TƯ IV (khoá 7) về giáo dục đã công nhận sự tồn tại của các trường ngoài công lập với ý định hệ thống trường này sẽ bổ sung cho hệ thống trường công lập nhằm thoả mãn yêu cầu học tập quá lớn của nhân dân Tiếp theo, Nghị quyết TƯ II ( khoá 8) lại một lần nữa khẳng định cần thể chế hóa chủ trương XHH GD đã ghi trong Nghị quyết đại hội VIII và tiếp tục phát triển các trường ngoài công lập ở các cấp bậc học
XHH GD hiểu theo nghĩa hẹp là triển khai các giải pháp đồng bộ nhằm huy động thêm các nguồn lực trong xã hội để phát triển giáo dục như là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội
để phát triển giáo dục, là phát huy và sử dụng hiệu quả ngân sách Nhà nước và các nguồn lực của nhân dân để tạo điều kiện để giáo dục phát triển nhanh hơn, với chất lượng cao hơn, đáp ứng hiệu quả hơn trước những nhu cầu về phát triển nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nuớc
XHH GD về thực chất, là quá trình vận động toàn dân tham gia sự nghiệp giáo dục
Nội dung của XHH GD bao gồm 5 mặt sau đây:
* Giáo dục hóa xã hội
Tạo lập phong trào học tập sâu rộng trong toàn xã hội: vận động toàn dân, trước hết là những người trong độ tuổi lao động, thực hiện học tập suốt đời để làm việc tốt hơn cho xã hội, có thu nhập cao hơn và có cuộc sống tốt đẹp hơn, làm cho xã hội ta trở thành xã hội học tập
* Cộng đồng hóa trách nhiệm
Toàn dân có trách nhiệm tạo lập môi trường giáo dục lành mạnh, vận động toàn dân chăm sóc thế hệ trẻ, phối hợp chặt chẽ giáo dục trong nhà trường với giáo dục ở gia đình và giáo dục ngoài xã hội, tăng cường trách nhiệm của cấp
Uỷ, Hội đồng Nhân dân, Uỷ ban Nhân dân, các tổ chức, đoàn thể đối với sự
Trang 20nghiệp giáo dục Trong quy hoạch tổng thể phải tính đến sự phát triển giáo dục trong tương lai…
* Đa dạng hóa loại hình
Là tích cực mở ra nhiều hình thức giáo dục như phát triển các loại hình ngoài công lập Tạo cơ hội học tập cho mọi người, trước hết là thế hệ trẻ Mở các đại học-cao đẳng cộng đồng, thực hiện hình thức tín chỉ, học phần… trong các trường đại học và các trường đại học mở, tăng cường phương tiện thông tin đại chúng để phát triển giáo dục từ xa giúp người học có điều kiện thuận lợi trong việc học tập
* Đa phương hóa nguồn lực
Là khai thác triệt để và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội để phát triển giáo dục Cùng với việc tăng thêm và sử dụng có hiệu quả nguồn lực, chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, cần tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, thực hiện hợp tác giáo dục với nước ngoài để tăng Ngân sách cho ngành, cải tiến chế độ học phí, huy động thêm sự đóng góp của cha mẹ học sinh và của các tổ
chức sản xuất kinh doanh… Tuy nhiên cần có tỉ lệ cân đối hợp lý giữa các nguồn thu và có mục đích rõ ràng mới huy động được các nguồn lực này một cách hữu hiệu
* Thể chế hóa chủ trương của nhà nước
Cần xây dựng các chính sách, các quy chế để vấn đề xã hội hóa giáo dục đạt được các yêu cầu trên
* Dân chủ hóa giáo dục
Quán triệt các quan điểm đổi mới kinh tế-xã hội của Đảng, ngành giáo đào tạo đã thực hiện việc dân chủ hóa, phân quyền nhiều hơn cho cơ sở, qua 10 năm đổi mới, chủ trương dân chủ hóa trong giáo dục đại học đã đựơc triển khai thực hiện trên các mặt sau đây:
dục Dân chủ hóa công tác tuyển sinh
Trang 21bắt đầu từ năm học 1988-1989 phân cấp cho cơ sở phụ trách cả 4 khâu chính trong tuyển sinh: ra đề thi, tổ chức kỳ thi, chấm thi và xét tuyển
- Dân chủ hóa công tác kế hoạch
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã giao quyền xây dựng kế hoạch tuyển sinh cho nhà trường chủ động khai thác triệt để các nguồn nhân lực hiện có đồng thời tạo điều kiện cho nhà trường thâm nhập, tìm hiểu và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội, làm tăng vị trí của các trường trong kế hoạch phát triển của ngành
- Dân chủ hóa công tác quản lý ngành giáo dục-đào tạo
Dân chủ hóa công tác quản lý ngành được thể hiện ở sự tham gia có hiệu quả của các tổ chức chính trị, xã hội và đoàn thể các cấp vào việc quản lý giáo dục-đào tạo
- Dân chủ hóa giáo dục cũng được thực hiện trong việc bổ nhiệm Hiệu trưởng, Chủ nhiệm khoa, Chủ nhiệm bộ môn các trường đại học, cao đẳng theo
ba hình thức: Bầu cử, bổ nhiệm thăm dò và chỉ định trực tiếp
- Thực hiện chính sách mở cửa trong giáo dục-đào tạo
Chủ trương mở cửa được thực hiện theo hướng đa phương hoá và đa dạng hóa quan hệ quốc tế, với phương châm Việt nam muốn làm bạn với tất cả các nước và tổ chức quốc tế Chủ trương đó được thể hiện trên các mặt sau đây: Duy trì hợp tác với các nước Liên xô trước đây và Đông Âu, đồng thời thiết lập và mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực, Tây Âu và Bắc Âu
Cho phép nước ngoài và các tổ chức quốc tế mở hoặc liên kết với Việt nam xây dựng các trung tâm từ dạy nghề đến cao đẳng, đại học và sau đại học
Tiếp cận và khai thác viện trợ ODA cho giáo dục-đào tạo từ các nước, các
tổ chức tài chính quốc tế
Giao quyền chủ động cho các trường trong giao lưu và hợp tác quốc tế Gắn đào tạo với nghiên cứu, thực nghiệm khoa học và lao động sản xuất
Trang 22Thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với xã hội và nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất là một khâu tất yếu trong quá trình đào tạo, Bộ GD và ĐT đã có quyết định số 901/QĐ ngày 4/8/1989 về việc thành lập,
tổ chức nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất Các tổ chức này có tư cách pháp nhân, đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và triển khai áp dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật vào sản xuất Khuyến khích sự liên kết giữa các trường phổ thông với các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp, các cơ sở sản xuất-dịch vụ để dạy nghề và hướng nghiệp cho học sinh phổ thông Chính phủ đã có Quyết định số 68/1998/QĐ-TTg ngày 27/3/1998 cho phép các trường đại học, viện nghiên cứu được thành lập thí điểm doanh nghiệp nhà nước trong các trường đại học và viện nghiên cứu để đẩy mạnh hơn công tác này
1.3 Quá trình hình thành và phát triển các trường ĐHDL
Sau Nghị quyết TƯ4 (khoá VII) về “ tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục, khuyến khích mở các trường dân lập” Bộ Giáo dục đã xây dựng và ban hành “ Quy chế tạm thời đại học dân lập” (Quyết định số 196/TCCB ngày 21/1/1994) quy định những điều khoản cơ bản về thể thức thành lập, quản lý và điều hành ĐHDL nhằm đảm bảo chất luợng đào tạo và tạo điều kiện cho ĐHDL phát triển và sau đó trình Chính phủ cho thành lập các trường ĐHDL theo Nghị định 91/CP ngày 24/11/1994 của chính phủ về “Quy định cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống văn bằng, chứng chỉ về giáo dục và đào tạo của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam”
Từ năm 1994 đến năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định cho thành lập 18 trường ĐHDL; cụ thể là:
- Năm 1994 thành lập 5 trường ĐHDL: ĐHDL Phương đông, ĐHDL Đông
đô, ĐHDL Thăng long, ĐHDL Duy tân và ĐHDL Ngoại ngữ-Tin học
Trang 23- Năm 1995 thành lập 3 trường ĐHDL (ĐHDL Văn lang, ĐHDL Kỹ Công nghệ, ĐHDL Hùng vương)
thuật Năm 1996 thành lập trường ĐHDL Quản lý kinh doanh Hà Nội
- Năm 1997 thành lập 6 trường ĐHDL (ĐHDL Hải phòng, ĐHDL Hồng bàng, ĐHDL Lạc hồng, ĐHDL Bình dương, ĐHDL Văn hiến và ĐHDL Tôn Đức Thắng)
- Năm 2000 thành lập trường ĐHDL Cửu long
-Từ năm 2000 đến nay Chính phủ cho phép thành lập thêm một số trường ĐHDL như trường ĐHDL Hồng Đức ở Thanh hoá, ĐHDL Phú xuân Huế và một
số các trường đại học trực thuộc đại học quốc gia
Các trường chủ yếu tập trung ở thành phố Hồ Chí Minh (7 trường), thành phố Hà nội (4 trường), còn 7 trường ở 7 tỉnh/ thành phố khác là: Hải phòng, Đồng nai, Bình dương, Đà nẵng, Cửu long, Thanh Hoá và TP Huế
Về quy mô sinh viên: Nếu tính đến qui đổi số sinh viên trung bình theo năm tài chính thì năm 1998 có 66.720 sinh viên đang học tại 15 trường ĐHDL Tỷ lệ sinh viên đang học tại các trường ĐHDL so với tổng số sinh viên của cả nước tăng đáng kể từ 3,8% năm 1996, 5,8% năm 1997 và 7,8% năm 1998 Năm 1998,
số trường ĐHDL có quy mô nhỏ hơn 3500 sinh viên là 8 trường (quản lý Kinh doanh Hà nội, Hải phòng, Lạc hồng, Bình dương, Hồng Bàng, Tôn Đức Thắng, Hùnh Vương Và Thăng Long) Số trường ĐHDL có quy mô 4000-5500 sinh viên là 4 trường (Phương Đông, Kỹ thuật-Công nghệ, Duy Tân, Ngoại ngữ-Tin học) Hai trường Văn Lang và Đông Đô có quy mô trên 10.000 sinh viên (Đặng
Bá Lãm – Phạm Quang Sáng” Các điều kiện đảm bảo chất luợng và vấn đề quản
lý vĩ mô khu vực ĐHDL ở Việt nam” – báo cáo tham luận tại hội thảo ĐH ngoài công lập, Tp Hồ Chí Minh.2000)
Về ngành đào tạo: phần lớn các trường đều mở các ngành có nhu cầu cao của xã hội và người học, không đòi hỏi nhiều về trang thiết bị, đồng thời với
Trang 24ngành nghề ấy, người học có nhiều cơ hội để tìm được việc làm Theo dự thảo báo cáo tình hình hoạt động của các trường ĐHDL từ 1994-1997 của Bộ GD và
ĐT thì sinh viên nhóm ngành kinh tế (quản trị kinh doanh, tài chính tiền tệ, kế toán) chiếm 42% Sinh viên ngành ngoại ngữ (chủ yếu là tiếng Anh, một ít tiếng Pháp, Hàn quốc, Nhật bản) chiếm 17% Sinh viên các ngành khác như điện tử, công nghệ môi trường, xây dựng, kiến trúc, toán ứng dụng… chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn 25%
Hiện nay có rất nhiều các cuộc hội thảo và đề án chuyển đổi các trường đại học, cao đẳng công lập sang các trường ngoài công lập Hiện tại đã có 24 trường đại học, cao đẳng ngoài công lập và sắp tới sẽ có thêm 9 trường ĐH, CĐ công lập chuyển sang mô hình trường tư thục Hệ thống các trường ĐH, CĐ ngoài công lập đã gánh bớt tải trọng quá nặng trên các trường công lập trước nhu cầu học tập quá lớn của người dân Do vậy việc mở rộng hệ thống các trường ngoài công lập là cần thiết để tăng thêm năng lực, gánh bớt tải trọng quá nặng lên các trường công lập
1.4 Vai trò của Trường ĐHDL trong sự phát triển kinh tế xã hội hiện đại
1.4.1 Khái niệm Trường ĐHDL
ĐHDL đối với nước ta vẫn còn mới mẻ và trên thế giới hầu như không có khái niệm này Một cách rất hình thức có thể xem ĐHDL là một cụm từ ghép giữa đại học và dân lập mà trong đó đại học nói về phương thức, cấp bậc đào tạo
và dân lập nói về loại hình sở hữu, phương thức quản lý, phương thức đảm bảo tài chính
Theo những góc độ nhìn nhận khác nhau và có thể xuất phát từ quyền lợi khác nhau mà có những quan niệm và thái độ khác nhau về ĐHDL Có thể điểm qua một số khái niệm như sau:
* Theo từ điển Tiếng việt – Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 1997 trang 238 thì dân lập: “ do dân ở địa phương lập ra và đài thọ các khoản chi phí”
Trang 25* Theo Quy chế tạm thời thì “ĐHDL là cơ sở đại học được Nhà nước cho phép thành lập do cá nhân, tập thể hoặc tổ chức kinh tế, xã hội đầu tư xây dựng với mục đích không kinh doanh, không vụ lợi cá nhân Kinh phí hoạt động thường xuyên của ĐHDL chủ yếu từ các nguồn ngoài ngân sách Nhà nước” Theo Nghị đinh 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ về chính sách giáo dục khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, ytế, văn hoá, thể thao thì “Cơ sở dân lập là cơ sở do tổ chức đứng ra thành lập, được đầu tư bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước (vốn của tổ chức, tập thể,
cá nhân) và quản lý điều hành mọi hoạt động theo quy định của pháp luật… Không lấy vốn, tài sản, kinh phí của Nhà nước để đầu tư cho các cơ sở dân lập”
* Theo dự thảo điều lệ trường ĐHDL kèm theo công văn trình Thủ tướng Chính phủ số 10972/TCCB ngày 17/11/1999 của Bộ Giáo dục và Đào Tạo thì
“Trường ĐHDL là cơ sở giáo dục đại học do tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế xin thành lập, huy động các nhà giáo, nhà khoa học, nhà đầu tư đóng góp công sức, đầu tư cơ sở vật chất và kinh phí ban đầu từ nguồn ngoài ngân sách Nhà nước Trường ĐHDL được tự chủ quyền và tự chịu trách nhiệm về tài chính Tài sản của Trường ĐHDL thuộc quyền sở hữu của những người góp vốn đầu tư và tập thể giảng viên, nhân viên nhà trường đã đóng góp công sức để xây dựng và phát triển trường”
* Theo Quy chế trường ĐHDL, ban hành theo Quyết định số TTg ngày 18/7/2000 của Thủ tướng Chính phủ thì “Trường ĐHDL là cơ sở giáo dục đại học do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, tổ chức kinh tế xin thành lập và huy động các nhà giáo, nhà khoa học cùng góp kinh phí và cơ sở vật chất ban đầu từ nguồn ngoài ngân sách Nhà nước Trường ĐHDL là pháp nhân được tự chủ về tổ chức bộ máy, tuyển dụng lao động và tài chính Tài sản của trường thuộc quyền sở hữu tập thể của những người góp vốn đầu tư, các giảng viên, cán bộ và nhân viên nhà trường”
Trang 2686/2000/QĐ-* Theo Quyết định số 39/QĐ-BGD&ĐT ngày 28/8/2001 về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của các trường ngoài công lập Thông tư số 02/2002/TT-BGD&ĐT ngày 22/01/2002 của Bộ GD&ĐT hướng dẫn một số điều của quy chế trường ĐHDL thì “Cơ sở giáo dục-đào tạo dân lập là cơ sở do các tổ chức, tập thể không thuộc Nhà nước đứng ra thành lập, cùng góp vốn đầu
tư xây dựng cơ sở vật chất, cùng tham gia quản lý điều hành mọi hoạt động theo quy định của pháp luật”
Trên đây là những quan niệm chính thống được Nhà nước thừa nhận và ban hành Bên cạnh đó còn những quan niệm “Bất thành văn” khác cũng xác đáng như:
* Có trường phái cho rằng cần quan niệm trường ĐHDL như là một “ đơn
vị kinh doanh”, hoạt động như một công ty cổ phần, có vốn và tài sản, có lãi, có
lỗ Họ lý giải rằng, những người sáng lập đã góp công, góp của lập ra trường là
vì sự nghiệp giáo dục: dân có con em đi học phải hoàn trả lại cho họ mọi khoản phí dưới dạng học phí; họ có toàn quyền thu lại, không ai chịu trách nhiệm thay
họ được, vì không có họ thì không có trường
Trường phái trên thực chất đã chấp nhận quan điểm các trường ĐHDL có kinh doanh giáo dục Với quan điểm này, có thể dẫn đến những biểu hiện hiện tượng thương mại giáo dục như: thu học phí cao, định lãi suất quá lớn cho người góp vốn, tuyển sinh ồ ạt bất chất lượng để thu tiền nhiều, để phần lợi nhuận thu được càng lớn
Cũng có trường phái khác lại khẳng định rằng, không được kinh doanh giáo dục Trường ĐHDL không thể là đơn vị kinh doanh, không thể là công ty cổ phần hay bất cứ hình thức kinh doanh nào khác Họ tán thành quan điểm trường ĐHDL hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận Theo họ, nhà trường tồn tại được chính là do sự đóng góp tiền của cha mẹ học sinh, công sức giảng dạy của thầy cô giáo, của ban lãnh đạo nhà trường; điều hành hoạt động đều được trả
Trang 27công hợp lý thoả đáng, người góp đầu tư được trả lãi hợp lý (cao hơn lãi suất gửi tiết kiệm) Phần còn lại dôi ra sau khi chi là thuộc tài sản chung
Qua những khái niệm được thể hiện bằng những văn bản pháp quy và những quan điểm trên thực tế đang tồn tại, có thể thấy rằng:
Hầu hết các quan điểm về khái niệm ĐHDL mới chỉ đề cập đến nơi đề nghị thành lập và cung cấp kinh phí mà chưa có hoặc chỉ rõ điểm mấu chốt khác biệt của ĐHDL về mục đích và quyền sở hữu với đại học công lập có từ trước đây Trên thực tế, chúng ta đang lẫn lộn giữa từ dân lập và tư thục
Mục đích của ĐHDL là trên cơ sở huy động nguồn nhân lực của toàn xã hội
để phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho sự nghiệp công nghịêp hoá, hiện đại hóa đất nước, tạo điều kiện, cơ hội học tập suốt đời cho mọi người
Nhưng nếu ĐHDL do không nhằm mục đích thu lợi nhuận, không được phép thương mại hóa giáo dục thì những người bỏ tiền của để tham gia đầu tư cho ĐHDL với động cơ gì và quyền lợi của họ được hưởng như thế nào? Vấn đề này đòi hỏi cần được giải quyết hợp lý và hài hòa để vừa khuyến khích mọi người, mọi tầng lớp trong dân cư, mọi tổ chức kinh tế-xã hội tích cực tham gia đầu tư xây dựng ĐHDL, vừa phát triển lành mạnh, đúng hướng vừa đảm bảo thỏa đáng những quyền lợi chính đáng mà họ được hưởng
Về khái niệm quyền sở hữu, với ý nghĩa là phạm trù pháp lý, quyền sở hữu
có thể hiểu là quyền của một cá nhân, một tổ chức hay Nhà nước được chiếm hữu, sử dụng, định đoạt một tài sản nào đó Nội dung của quyền sở hữu gồm 3 quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu của mình Đó là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt
Quyền chiếm hữu là quyền chiếm giữ lấy tài sản vật chất Nó tạo điều kiện cho chủ sở hữu thực hiện các quyền năng khác Chủ sở hữu có thể tự mình chiếm hữu hoặc chuyển quyền đó cho người khác
Trang 28Quyền sử dụng là quyền đưa tài sản vào hoạt động, khai thác công dụng của tài sản để hướng kết quả hoặc thu nhập do việc việc sử dụng tài sản đó đưa lại Chủ sở hữu có thể tự mình sử dụng tài sản hoặc chuyển quyền sử dụng cho người khác
Quyền định đoạt là quyền quyết định số phận pháp lý của tài sản như: bán, cho, vay, cho thuê vv…
Tuy nhiên vẫn có khái niệm khác về quyền sở hữu (theo trang 839-từ điển tiếng việt-1997-NXB Đà Nẵng) như: “quyền sở hữu là chiếm giữ, sử dụng và hưởng thụ của cải vật chất trong xã hội”
Khái niệm quyền sở hữu được diễn đạt theo hai nghĩa: nghĩa chủ quan và nghĩa khách quan Theo nghĩa khách quan đó là toàn bộ những quy định của Nhà nước về vấn đề sở hữu Hiểu theo nghĩa chủ quan đó là toàn bộ những hành vi
mà chủ sở hữu được pháp luật cho theo thực hiện trong việc chiếm hữu, sử dụng
và định đoạt tài sản của mình theo ý muốn Quyền sở hữu bao giờ cũng gắn liền với chủ sở hữu vì vậy được coi là quyền tuyệt đối (trang 275-Thuật ngữ Bộ luật dân cư-Bộ luật dân sự)
Qua những dẫn chứng và phân tích trên, cần thiết phải có những điều quy định vừa đảm bảo quyền lợi cho những người góp vốn, đồng thời khuyến khích họ trong việc này và xác định rõ quyền sở hữu đối với tài sản của ĐHDL đó là:
Vốn góp đầu tư của những nhà đầu tư cho ĐHDL được Nhà nước bảo hộ, bảo vệ quyền sở hữu và được coi như một khoản tiền gửi ngân hàng và được hưởng mọi quyền lợi như khoản tiền gửi ngân hàng với lãi suất cao nhất
Ở từng thời điểm xem xét, toàn bộ giá trị tài sản của ĐHDL, ngoài vốn góp của những người đầu tư, phần còn lại là tài sản công, thuộc sở hữu của cộng đồng và xã hội hay chính xác hơn thuộc quyền sở hữu chung của cộng đồng
Trang 29Sở hữu chung của cộng đồng ở đây được hiểu theo nghĩa là: “sở hữu của dòng họ, thôn, ấp, làng, bản, cộng đồng, tôn giáo và các cộng đồng dân cư khác đối với tài sản được hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên của cộng đồng cùng nhau đóng góp, quyền góp được tặng cho chung hoặc từ các nguồn lợi khác phù hợp với những quy định của pháp luật nhằm mục đích thoả mãn lợi ích của cả cộng đồng Sở hữu chung hợp nhất không phân chia (trang 276-thuật ngữ Bộ Luật Dân sự-Bộ Luật dân sự)
Từ những khái niệm ĐHDL và phân tích trên, ta có thể đưa ra một quan niệm rõ nét về ĐHDL như sau:
Đại học Dân lập là cơ sở đào tạo đại học nằm trong hệ thống Giáo dục Quốc dân, thuộc sở hữu chung của cộng đồng Được Nhà nước cho phép thành lập nhằm mục đích phát triển sự nghiệp đào tạo đại học, không kinh doanh thu lợi nhuận Chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoạt động trên cơ sở huy động, đóng góp nguồn lực của các cá nhân, tập thể, tổ chức kinh tế-xã hội
Theo điều 48 của Luật Giáo dục, ĐHDL có những điểm tương đồng với ĐHCL là cùng tồn tại và hoạt động trên nền tảng điều lệ trường ĐH Việt nam:
Về mục đích đào tạo, về chương trình, nội dung đào tạo, về quy trình đào tạo, về văn bằng, chứng chỉ đào tạo Song, có những điểm mang tính chất đặc thù như
Trang 30Quy chế tổ chức và hoạt động của trường ĐHDL được ban hành theo Quyết định số 86/2000/QĐ-TTg ngày 18-7-2000 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó phản ánh đầy đủ tất cả các quy chế của trường ĐHDL
- Hội đồng Quản trị (được quy định từ điều 14 đến điều 23 của quy chế)
Quyền lực cao nhất trong ĐHDL, quyết định mọi chủ trương và phương hướng phát triển của nhà trường là Hội Đồng quản trị (HĐQT)
HĐQT có trách nhiệm xây dựng điều lệ hoạt động của ĐHDL, qui định cụ thể về tổ chức, tài chính và phương thức hoạt động của HĐQT và trình Bộ GD-
ĐT phê duyệt
HĐQT được quyết định về mọi vấn đề có liên quan đến tài chính, bộ máy điều hành, chế độ tuyển dụng, lương bổng của giáo chức và viên chức, kế hoạch tuyển sinh, chương trình đào tạo, chế độ học bổng và học phí, mối quan hệ với các đại học trong nước và quốc tế
HĐQT được quyền vận động mọi tài trợ từ tất cả các nguồn trong và ngoài nước để phát triển cơ sở, hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học, xây dựng các quĩ học bổng và quĩ tín dụng trường học…, nhưng các hình thức hoạt động
đó không làm phương hại tới danh dự và lợi ích quốc gia
Hiệu trưởng (được quy định từ điều 24 đến điều 30 của quy chế )
Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động của nhà trường Hiệu trưởng là người điều hành hoạt động của trường, đại diện nhà trường trước xã hội và pháp luật
Giúp việc Hiệu trưởng có các Phó Hiệu trưởng, Hiệu tưởng đề cử Phó Hiệu trưởng, Hội đồng quản trị phê duyệt, trình Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ra quyết định công nhận Nhiệm kỳ của Phó Hiệu trưởng theo nhiệm kỳ của Hiệu trưởng Nhiệm vụ và quyền hạn của phó Hiệu trưởng được quy định tại điều số 28 của quy chế
* Về Đào tạo và nghiên cứu khoa học :
Trang 31- Trường đại học dân lập tuyển sinh và đào tạo công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và công dân nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt nam theo các quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Trường đại học dân lập thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, các dịch
vụ tư vấn khoa học, chuyển giao công nghệ, sản xuất kinh doanh phù hợp với ngành nghề đào tạo của trường, theo quy định của pháp luật
- Việc sản xuất tập san, tạp chí, các ấn phẩm khoa học, tài liệu, giáo trình phục
vụ cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường thực hiện theo đúng quy định của luật xuất bản và quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Việc mời các giáo sư, các nhà khoa học, chuyên gia nước ngoài đến giảng dạy
và nghiên cứu khoa học, việc cử cán bộ tham quan, giảng dạy, học tập ở nước ngoài, cử sinh viên ra nước ngoài học tập thực hiện theo các quy định của Chính phủ
- Nguồn thu của trường đại học dân lập gồm :
1- Nguồn thu tại trường
2- Vốn góp của các tổ chức cá nhân để đầu tư và phát triển trường
Trang 323- Nguồn tài trợ, viện trợ, ủng hộ quà tặng của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước
4- Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng và ngân hàng
5- Các khoản thu khác
* Về nhiệm vụ và quyền hạn của nhà giáo, cán bộ và nhân viên
Nhiệm vụ này được quy định từ điều 45 đến điều 47 của quy chế trong đó quy định những điểm chính gồm:
- Mọi giáo viên, nhân viên đều được tuyển dụng theo hình thức hợp đồng lao động
- Giảng viên của trường đại học dân lập phải có đủ các tiêu chuẩn quy định về phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và sức khỏe, có nghiệm vụ
và quyền theo quy định của pháp luật
* Về quyền và nhiệm vụ của Sinh viên
Sinh viên ĐHDL được hưởng quyền lợi chính trị như sinh viên ĐHCL Họ được quyền tự quản trong việc tổ chức học tập và sinh hoạt trong khuôn viên nhà trường, được phép thành lập hội sinh viên và và các đoàn thể chính trị hợp pháp của mình
Sinh viên tốt nghiệp ĐHDL có đủ tư cách để làm việc như sinh viên tốt nghiệp ĐHCL Song, trên thực tế sinh viên tốt nghiệp ĐHDL khi đi xin việc làm gặp nhiều khó khăn và chưa được coi như sinh viên tốt nghiêp của ĐHCL
1.4.2 Vai trò của ĐHDL
Sự ra đời của ĐHDL Việt nam là một đòi hỏi lịch sử, khi đất nước đi vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa Sự nghiêp xây dựng đòi hỏi nhiều hơn nữa lực lượng cán bộ văn hóa, khoa học và kỹ thuật Nhưng Nhà nước lại không
đủ khả năng tài chính Ngay cả những nước giàu có nhất, ngân sách quốc gia cũng không thể đảm nhận toàn bộ việc giáo dục và đào tạo mà không cần đến sự
Trang 33tham gia của nhân dân và người học Vấn đề xã hội hóa giáo dục được đặt ra và
Rõ ràng, ĐHDL đã có một vị trí trong hệ thống giáo dục đại học Việt nam, nhằm mở rộng khả năng có nhiều người tham gia vào quá trình đào tạo đại học làm cho dân giàu, nước mạnh
Không những vậy, một thực tế không thể phủ nhận là: Các trường ĐHDL
đã thu hút một bộ phận rất lớn các thanh niên không có cơ may vào các ĐHCL Trong số các sinh viên vào ĐHDL, có một số bộ phận sinh viên không phải do kém thông minh, mà do không được hưởng chế độ giáo dục tốt ở phổ thông hoặc
do hoàn cảnh gia đình và các điều kiện khác đã làm cho họ rơi vào số học lực yếu Việc mở thêm các ĐHDL đã tạo cho họ cơ hội được học tập, một cơ hội để vươn lên, chính là thực hiện chức năng làm cho xã hội được bình đẳng, công bằng
1.4.3 Yêu cầu đối với phát triển ĐHDL
Bước vào thời kỳ đổi mới, theo xu hướng mở cửa và hội nhập với quốc tế, GDĐH nói chung, GDĐH ở ĐHDL nói riêng đang có những cơ hội và phải đối mặt với thử thách lớn GDĐH phải đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết của nhà
Trang 34nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa đồng thời tránh nguy cơ tụt hậu và theo kịp trình độ phát triển với các nước trên thế giới Điều đó yêu cầu đòi hỏi phát triển ĐHDL phải đảm bảo về các mặt: Mở rộng quy mô, nâng cao chất luợng đào tạo và có hiệu quả các nguồn nhân lực
Đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô giáo dục đại học
Tỷ trọng sinh viên trên dân số ở nước ta còn thấp quá xa so với các nước tiên tiến trên thế giới Theo số liệu báo cáo “ Phát triển nguồn nhân lực 1998 của UNDP” số sinh viên trên 10.000 dân của một số nước là: (xem bảng 1.1)
Bảng 1.1: Tỷ lệ sinh viên trên 10.000 dân ở một số nước
Trang 35tăng quy mô đào tạo tương xứng với những điều kiện đảm bảo đi kèm, như: đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất…
Theo báo cáo số 1534/CP-KG ngày 14-10-2004 của Chính phủ về tình hình giáo dục thì tỷ trọng sinh viên theo học tại các trường ĐHDL ngày một tăng Theo Quyết định số 73/2005/QĐ-TTg ngày 06/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ, thực hiện Nghị quyết số 37/2004/QH11 khóa XI, kỳ họp thứ sáu của quốc hội về giáo dục có nêu rõ:
“Xây dựng kế hoạch tăng quy mô đào tạo đại học, cao đẳng với mức tăng quy
mô trung bình 10%/năm trong giai đoạn từ 2005 để đến năm 2010 đạt 200 sinh viên /1 vạn dân.”
1.4.4 Yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả
Một trong những yêu cầu quan trọng nhất của phát triển ĐHDL là phải đảm bảo và nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo đồng đều như ĐHCL và cùng ĐHCL đưa trình độ đào tạo đại học nước ta theo kịp với các nước trong khu vực
và trên thế giới Để đáp ứng yêu cầu này, cần phải phối hợp các khâu công việc
và thực hiện đồng bộ các biện pháp chủ yếu như:
* Xác định mục tiêu đào tạo từng chuyên ngành một cách hợp lý, tạo khả năng phù hợp tối đa với thực tế, đảm bảo khả năng thích ứng với những biến động của thực tế, trên cơ sở đó, xác định hợp lý cơ cấu kiến thức và nội dung của từng môn học
* Cấu trúc nội dung đào tạo theo hướng thích hợp, cải tiến tổ chức quá trình đào tạo… nhằm tăng khối lượng kiến thức trên cùng một đơn vị thời lượng, hợp lý hóa sử dụng quỹ thời gian vào đào tạo và tiết kiệm chi phí đào tạo
* Vận dụng những phương pháp giảng dạy tiên tiến, sử dụng những phương tiện dạy học hiện đại… nhằm tăng tính tích cực của sinh viên, đồng thời, thích ứng được với sự phát triển mạnh mẽ khối lượng thông tin –tri thức mới cần trang bị cho sinh viên
Trang 36* Hoàn thiện quy trình và thực hiện nghiêm ngặt các quy định, quy chế kể
từ khi tuyển sinh (đầu vào) và kiểm tra, đánh giá (đầu ra)
* Tuyển chọn, xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Một mặt huy động các giáo viên giỏi ở các cơ sở đào tạo tham gia giảng dạy kiêm nhiệm, mặt khác có kế hoạch xây dựng đội ngũ giáo viên hữu cơ của nhà trường, đồng thời tăng cường quản lý và sử dụng hợp lý lao động của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, nhân viên nghiệp vụ, phục vụ đào tạo trong các ĐHDL… nhằm trách sử dụng lãng phí quỹ tiền lương, chi phí bộ máy
* Huy động và sử dụng hợp lý khả năng hiện có của các cơ sở đào tạo về phương diện dạy –học, thư viện, máy móc –thiết bị nghiên cứu khoa học…
* Phát triển đào tạo đại học đến quy mô tối ưu cho mỗi trường, bố trí hợp
lý số lượng sinh viên/lớp; giảm tỉ lệ rơi rụng trong quá trình đào tạo và hạn chế các trường hợp phải kéo dài thời hạn đào tạo, kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo đại học với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội để đảm bảo sử dụng hợp lý và phát huy cao độ kết quả quá trình đào tạo sau khi tốt nghiệp
1.4.5 Sự hình thành trường ĐHDL Giao thông Vận tải trên cơ sở trường cao đẳng GTVT III
Trải qua 30 năm hình thành và phát triển từ tháng 12 năm 1976 trường được Uỷ ban nhân dân TP Hồ Chí Minh cấp cho một cơ sở tại số 569 đường Hùng Vương phường 12 quận 6, là cơ sở của trường Tư thục Dương Châu Minh trên diện tích gần 5000m2 Tại thời điểm đó trường chỉ gồm một dãy nhà 5 tầng
và một nhà xưởng đã cũ nát Cơ sở vật chất giảng dạy hầu như không có gì Đội ngũ giáo viên một phần tiếp quản của trường tư thục cũ một phần được điều động từ ngoài Bắc vào nên lực lượng rất mỏng lại yếu về chuyên môn nghiệp vụ, thời kỳ đó trường được đặt tên là trường trung học GTVT VI Tổng số cán bộ CNV thời kỳ này chưa tới 100 người và lưu lượng học sinh vào khoảng 600 hs Đến năm 1993 trường được Bộ Giao thông Vận tải cho phép đổi tên thành
Trang 37trường trung học giao thông vận tải khu vực III trên cơ sở của trường VI cũ Ngày 1/7/2002 trường chính thức được Bộ Giáo dục & đào tạo cho phép nâng cấp thành trường cao đẳng Trường cao đẳng GTVT III theo quyết định số 3093/QĐ-BGD&ĐT ngày 08/7/2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo Tổ chức và hoạt động của trường theo điều lệ của trường cao đẳng, có nhiệm vụ đào tạo cán bộ cử nhân cao đẳng và các trình độ thấp hơn thuộc các lĩnh vực của ngành Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ và các hoạt động dịch vụ khác phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của trường được quy định theo Quyết định số 2185/QĐ-BGTVT ngày 12/7/2002 của
Bộ trưởng bộ Giao thông vận tải cụ thể như sau: Xây dựng chương trình chương trình đào tạo, kế hoạch giảng dạy trên cơ sở chương trình khung do Bộ Giáo dục
& đào tạo ban hành
Tổ chức biên soạn và duyệt giáo trình của những ngành, nghề được phép đào tạo trên cơ sở của hội đồng thẩm định trường
Tổ chức đào tạo kết hợp nghiên cứu và ứng dụng KHCN được cơ quan quản lý cho phép
Tổ chức CBCNVC tham gia học tập chính trị, nghiệp vụ chuyên môn, nhằm cập nhật những tiến bộ khoa học công nghệ mới phục vụ cho công tác đào tạo
Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị, các nguồn vốn nhằm không ngừng củng cố, mở rộng tăng cường liên doanh liên kết hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, phục vụ ngày càng tốt hơn cho công tác đào tạo đồng thời cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho CBCNV và SV
Cơ cấu tổ chức, biên chế hiện nay của trường:
Cơ cấu tổ chức của trường gồm: 05 phòng, 06 khoa, 03 tổ môn trực thuộc và
05 trung tâm là những đơn vị hạch toán phụ thuộc, nhiệm vụ cụ thể của từng bộ phận trong cơ quan như sau:
Trang 38Phòng Tổ chức hành chính có nhiệm vụ tham mưu cho Hiệu trưởng về công
tác tổ chức các bộ, thi đua khen thưởng kỷ luật, quản lý và bồi dưỡng cán bộ công chức Giải quyết các chế độ theo chính sách của nhà nước, quản lý cơ sở vật chất thiết bị phương tiện, tài sản của trường, công tác nghiệp vụ hành chính, văn thư lưu trữ Quản lý an toàn lao động, phòng chống cháy nổ, tổ chức công tác vệ sinh hàng ngày Thực hiện các quyết định của Hiệu trưởng về điều chuyển phương tiện, các trang thiết bị, sửa chữa thường xuyên nhà làm việc, phòng học, phòng thí nghiệm…
Phòng Đào tạo có nhiệm vụ Tham mưu cho Hiệu trưởng trong việc lập dự
báo, xây dựng mục tiêu chiến lược phát triển dài hạn GD-ĐT, kế hoạch và chương trình đào tạo hàng năm Quản lý và giám sát quá trình đào tạo: Nội dung, chương trình, giáo trình, kế hoạch tuyển sinh, tốt nghiệp; Bố trí phòng học phục
vụ cho việc dạy học cũng như các nhu cầu khác, phân công giảng viên và mời giảng viên thỉnh giảng
Thực hiện nội dung học thuật, kiểm tra chế độ công tác giảng viên Tổ chức thao giảng hội giảng, các kỳ thi học sinh giỏi từ cấp tổ đến cấp bộ Xây dựng lịch các kỳ thi kiểm tra, sơ, tổng kết học kỳ, năm học Tham mưu cho hội đồng đào tạo xét điều kiện dự thi, tốt nghiệp Xét lưu ban lên lớp, chế độ chính sách, học bổng, khen thưởng, kỷ luật SV Hướng dẫn các khoa, bộ môn ra đề thi Kiểm tra
hồ sơ thanh toán giờ công cho giảng viên, các bộ kiêm nhiệm, giảng viên thỉnh giảng do các khoa, bộ môn đề nghị Xây dựng phương án quản lý đào tạo hiện đại, theo dõi và làm báo cáo định kỳ cho cơ quan quản lý và Hiệu trưởng, lưu trữ
hồ sơ theo quy định
Phòng Tài chính tham mưu cho Hiệu trưởng về chiến lược phát triển và
quản lý công tác tài chính (dài hạn và hàng năm); Lập dự toán quyết toán hàng năm theo đúng chế độ kế toán của nhà nước Hàng quý lập báo cáo tài chính gởi các cơ quan cấp trên theo quy định Kết hợp với phòng TC-HC tổ chức kiểm kê
Trang 39đánh giá tài sản, thiết bị phương tiện Đế xuất phương án xử lý tài sản, thiết bị hư hỏng hoặc bị thất lạc Thực hiện chế độ khấu hao, trang thiết bị vật tư Kiểm tra kiểm soát toàn bộ hoạt động tài chính của các đơn vị trực thuộc
Phòng công tác học sinh sinh viên có nhiệm vụ tham mưu cho Hiệu trưởng
tập hợp, quản lý giáo dục sinh viên tổ chức các hoạt động vệ sinh phòng bệnh, chống ma túy, bảo hiểm ytế, bảo hiểm thân thể SV Tham mưu cho hội đồng đào tạo xét chế độ chính sách, miễn giảm học phí, trợ cấp ưu đãi, khuyến khích học tập, lưu ban , lên lớp, kỷ luật học SV Kết hợp với Đoàn TN tổ chức giúp đỡ học sinh tự học, hoạt động văn hóa, thể dục thể thao Quản lý SV nội trú, ngoại trú và các hoạt động xã hội, từ thiện ngoài trường Thực hiện công tác giám thị, quản
lý các mặt hoạt động của SV theo quy định nhiệm vụ tương đương với giáo viên chủ nhiệm
Phòng nghiên cứu khoa học và HTQT Có nhiệm vụ tham mưu cho Hiệu
trưởng về công tác khoa học công nghệ và HTQT xây dựng kế hoạch chiến lược, phát triển trường theo đúng quy hoạch của nhà nước Đề xuất với Hiệu trưởng kết hoạch hợp tác nghiên cứu khoa học với các trường Đại học, các viện nghiên cứu trong nước và quốc tế nhằm đưa sự nghiệp hợp tác giáo dục phát triển không ngừng tổ chức và chỉ đạo cemina khoa học của các khoa, bộ môn và trung tâm
Các khoa và bộ môn trực thuộc có trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý
toàn bộ quá trình học thuật trong phạm vi quản lý Xây dựng các chương trình đào tạo, biên soạn đề cương bài giảng, giáo trình môn học, ngân hàng đề thi; Nghiên cứu cải tiến phương pháp giảng dạy, học tập Xây dựng kế hoạch bổ sung trang thiết bị dạy học, thực tập Xây dựng kế hoạch phát triển khoa, bộ môn trước mắt và lâu dài, tổ chức bồi dưỡng và nâng cao trình độ giảng viên, tổ chức hội giảng, thi SV giỏi hàng năm theo kế hoạch Quản lý và sử dụng có hiệu quả
cơ sở vật chất kỹ thuật thuộc khoa bộ môn, không ngừng xây dựng khoa bộ môn vững mạnh về mọi mặt
Trang 40Các trung tâm có nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công
nghệ và dịch vụ Khi thực hiện quá trình đào tạo, trung tâm thực hiện như nhiệm
vụ của khoa Công tác NCKH, CGCN và lao động dịch vụ SX theo quy chế của trung tâm Trung tâm phải tự chịu trách nhiệm bảo quản, khai thác các trang thiết
bị và nguồn vốn tự có cũng như của trường cấp đạt hiệu quả và thực hiện các chế
độ khấu hao theo quy định hiện hành của nhà nước
Biên chế:
Trường CĐ GTVT III là một trường công lập đào tạo theo hệ thống giáo dục quốc dân do Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành Hiện tại trường chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Giao thông vận tải Hàng năm số biên chế lao động của trường được Bộ giao thông vân tải phê duyệt căn cứ vào quy mô họat động của trường
Cụ thể số biên chế được giao và tình hình thực tế số lao động đến ngày 31/12 hàng năm được tổng hợp qua bảng sau:
Bảng 1.2: Số biên chế được giao
Đơn vị:Người
1 Tổng số Biên chế
2 số Nhân viên HĐ của trường
3 Hợp đồng của các trung tâm
Tình hình thu nhập thực tế của cán bộ, công chức trong trường:
Với mục tiêu xây dựng trường phát triển bền vững, không ngừng nâng cao đời sống của CBCNV giáo viên điều này được thể hiện bằng thu nhập thực tế của từng người lao động thông qua bảng sau:
Bảng 1.3: Tình hình thu nhập
Đơn vị: đồng/người