Hiệu quả kinh tế xã hội dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội Hiệu quả kinh tế xã hội dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1Họ và tên nghiên cứu sinh: Nguyễn Trọng Thiện
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS, TS Nguyễn Minh Khải
2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
T«i cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu, kÕt qu¶ nªu trong luËn ¸n lµ trung thùc vµ cã xuÊt
xø râ rµng!
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Trọng Thiện
Trang 3quân đội và hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi
1.2 Tính tất yếu khách quan, tiêu chí và các nhân tố ảnh hưởng
đến hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong
1.3 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu
tư xây dựng và bài học rút ra đối với dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi
Chương 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI DỰ
ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN DO NHÀ NƯỚC GIỮ CỔ PHẦN CHI PHỐI
2.1 Kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân về hiệu quả
kinh tế - xã hội dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội 56 2.2 Một số vấn đề đặt ra từ thực trạng hiệu quả kinh tế - xã hội
dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ phần do Nhà
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
KINH TẾ - XÃ HỘI DỰ ÁN DẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN DO NHÀ NƯỚC GIỮ CỔ
3.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư
xây dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án đầu tư
xây dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ
Trang 4STT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ CHỮ VIẾT TẮT
11 Thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán TKKT,TDT
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu khái quát về luận án
Đề tài: “Hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội” là vấn đề nghiên cứu
được nghiên cứu sinh quan tâm, ấp ủ và trăn trở từ rất lâu Trong nhiều năm tham gia lãnh đạo, chỉ đạo ở một CTCP do Nhà nước giữ CPCP chi phối trong quân đội, nghiên cứu sinh đã nhận thấy sự cần thiết phải nâng cao HQKTXH của DAĐTXD Đây là điều kiện thuận lợi để nghiên cứu sinh làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về HQKTXH của DAĐTXD; góp phần nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động SXKD ở công ty
Trên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn; sự tích lũy kiến thức qua nghiên cứu, học tập ở các nhà trường trong và ngoài quân đội; tham khảo kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học ở nước ngoài và trong nước có liên quan đến luận án; dựa vào kết quả thực tiễn về HQKTXH của DAĐTXD tại các CTCP
do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội; số liệu nghiên cứu, khảo sát của Cục Kinh tế - Bộ Quốc phòng và cơ quan, đơn vị liên quan từ năm 2001 đến nay; được sự giúp đỡ nhiệt tình, trách nhiệm của các nhà khoa học cho phép nghiên cứu sinh triển khai đề tài này
Trong luận án, nghiên cứu sinh đã tập trung đi sâu làm rõ cơ sở khoa học về HQKTXH của DAĐTXD tại các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội; nghiên cứu kinh nghiệm nâng cao HQKTXH ở một số DAĐTXD ở trong nước và rút ra bài học kinh nghiệm với DAĐTXD tại các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng; chỉ ra những mâu thuẫn trong nâng cao HQKTXH ở các DAĐTXD; nghiên cứu sinh đã đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa HQKTXH của DAĐTXD tại các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội Đây là một công trình khoa học độc lập, không trùng lặp với bất cứ công trình khoa học nào đã công bố
Trang 62 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Nâng cao HQKTXH trong hoạt động SXKD luôn được các doanh nghiệp, nhà nghiên cứu, quản lý, tham gia hoạch định chính sách của Đảng và nhà nước quan tâm Với các DNQĐ, một bộ phận của nền kinh tế khi triển khai các nhiệm vụ; trong đó có DAĐTXD tại các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội cũng không thể không chú ý đến HQKTXH; bởi các
dự án này không chỉ liên quan đến khía cạnh kinh tế - xã hội mà còn liên quan đến an ninh, quốc phòng
Những năm qua, Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân đã dành sự quan tâm đặc biệt đến xây dựng quân đội, nhiều DAĐTXD ở các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội được triển khai nhằm phục vụ nhu cầu quân sự, quốc phòng; đồng thời, nâng cao năng lực khai thác, sử dụng nguồn lực này để tham gia xây dựng, phát triển kinh tế đất nước Vì vậy, các DAĐTXD sẽ trực tiếp tác động đến chất lượng và hiệu quả hoạt động quân sự, quốc phòng của đất nước cả trong thời bình và khi chiến tranh xảy ra; đến khả năng tham gia xây dựng, phát triển kinh tế đất nước
Trong điều kiện nguồn viện trợ từ nước ngoài hầu như không còn, khả năng sản xuất trong nước hạn chế, kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn, nguồn ngân sách dành cho quốc phòng hạn hẹp… Bên cạnh đó, tình hình quốc phòng, an ninh vẫn có những diễn biến phức tạp, khó lường; tranh chấp chủ quyền, biển đảo hết sức căng thẳng… đã đặt ra đòi hỏi bức thiết về khả năng bảo đảm cho hoạt động quốc phòng Muốn vậy, DAĐTXD tại các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội phải trực tiếp góp phần làm tăng tiềm lực kinh tế quân sự, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của quân đội; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động ở trong và ngoài nước; đồng thời, tham gia xây dựng và phát triển kinh tế đất nước
Tuy nhiên, HQKTXH ở một số DAĐTXD tại các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội thấp
Trang 84 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Hiệu quả kinh tế xã hội dự án đầu tư xây dựng
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về những vấn
đề cơ bản của kinh tế chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; về hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và sự cần thiết phải gắn hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội trong các hoạt động kinh tế ở nước ta hiện nay; về dự án, DAĐTXD, CTCP, CTCP do nhà nước giữ CPCP trong quân đội và DAĐTXD tại các CTCP do nhà nước giữ CPCP trong quân đội để phân tích, luận giải HQKTXH DAĐTXD tại các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội
* Cơ sở thực tiễn:
Luận án dựa trên cơ sở thực tiễn HQKTXH DAĐTXD tại các DNNN ở Việt Nam hiện nay; các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội để nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng HQKTXH DAĐTXD tại các CTCP
do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận án sử dụng các phương pháp
chứng và duy vật lịch sử, phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp; phương pháp cấu trúc, khảo sát bằng phiếu điều tra và sử dụng phần mềm chuyên dụng để thống kê, xử lý, tổng kết
Trang 9Luận án sử dụng phương pháp riêng của chuyên ngành là phương pháp trừu tượng hoá khoa học Phương pháp trừu tượng hoá khoa học giúp nghiên cứu sinh tiếp cận vấn đề nghiên cứu được đúng hướng, tìm ra những mối liên
hệ bản chất và gạt bỏ được những yếu tố ngẫu nhiên trong quá trình nghiên
cứu nhằm góp phần nâng cao chất lượng luận án
6 Những đóng góp mới của luận án
- Phân tích và đưa ra quan niệm mới về HQKTXH DAĐTXD tại Công ty cổ phần do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội
- Đánh giá đúng thực trạng HQKTXH DAĐTXD tại CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội
- Đề xuất hệ thống những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao HQKTXH DAĐTXD tại CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
8 Kết cấu của luận án
Luận án được kết cầu gồm phần mở đầu, tổng quan vấn đề nghiên cứu, 3 chương (7 tiết), kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã công bố có
liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 10TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Các
- Public money for private infrastructure: Deciding when to offer guarantees, output based subsidies, and other fiscal support/T Irwin của
Irwin, Timothy [100] Cuốn sách trình bày những nghiên cứu và tư vấn của
Tổ chức Ngân hàng Thế giới về dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở các nước, những vấn đề đặt ra đối với các chính phủ ở mỗi nước khi quyết định
hỗ trợ tài chính cho các dịch vụ hạ tầng tư nhân và cung cấp một số công cụ
để phân tích nhằm đưa ra quyết định có hiệu quả nhất
- Đầu tư và thẩm định dự án [98] Cuốn sách đã phân tích nhiều vấn đề
liên quan đến đầu tư và thẩm định dự án và khẳng định: Thẩm định dự án đầu tư là kỹ thuật phân tích, đánh giá dự án Bản chất của thẩm định dự án đầu tư chính là việc đánh giá các đề xuất bằng cách đưa ra các tính toán lợi ích và chi phí của dự án Kỹ thuật phân lợi tích và chi phí của dự án được xem xét trên hai quan điểm từ phía tư nhân và nhà nước Cuốn sách đã phân tích lợi ích và chi phí của dự án được áp dụng trong lĩnh vực công cộng Tuy nhiên, các phương diện khác của công tác thẩm định dự án chưa hoặc ít được đề cập đến như tổ chức thẩm định, yêu cầu về đội ngũ cán bộ thẩm định, thời gian và chi phí thẩm định
- Thẩm định đầu tư và các quyết định tài chính [97] Cuôn sách tập
trung vào kỹ thuật phân tích lợi ích và chi phí của dự án; trong đó, đề cập nhiều đến các phương pháp thẩm định đầu tư truyền thống như phương pháp hoàn vốn, phương pháp tính lợi nhuận trên vốn, cách tiếp cận dòng tiền chiết khấu Bên cạnh đó, kỹ thuật phân tích, đánh giá dự án phục vụ cho việc ra các quyết định tài chính cũng được tác giả tập trung phân tích và làm rõ
- Đổi mới cơ chế kinh doanh là khâu then chốt để nâng cao hiệu quả kinh tế tại doanh nghiệp nhà nước [67] Cuốn sách phân tích và làm rõ thực trạng cơ
Trang 11chế kinh doanh cũ chưa được đổi mới triệt để ở các DNNN nên đã kìm hãm hiệu quả SXKD Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp chính là: Phải xây dựng cơ chế kinh doanh tự chủ; xây dựng cơ chế cạnh tranh; xây dựng cơ chế khuyến khích vật chất; xây dựng cơ chế tự ràng buộc và cơ chế tự phát triển
- Nghệ thuật quản lý kinh doanh [71] Cuốn sách trình bày về bí quyết
đầu tư; nhất là đầu tư cân đối, sự am hiểu về chính sách và luật pháp, cơ hội kinh doanh, công tác quảng cáo
Tổng quan kết quả nghiên cứu của nhóm các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã tập trung phân tích về hiệu quả đầu tư và hiệu quả dự án đầu tư; sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả đầu tư, hiệu quả dự án đầu tư và những nhân tố chủ yếu bảo đảm hoạt động SXKD của các doanh nghiệp, các dự án đầu tư Tuy nhiên, những công trình khoa học này chưa bàn đến HQKTXH DAĐTXD ở các CTCP do Nhà nước giữ CPCP Những công trình này mới chỉ dừng lại ở những lĩnh vực cụ thể, với phạm vi nhất định Song, các công trình khoa học đã cho nghiên cứu sinh kinh nghiệm, phương pháp đánh giá, tiếp cận vấn đề nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng luận án
- Giáo trình thiết lập và thẩm định dự án đầu tư của Nguyễn Quốc
Ấn [01] Cuốn sách đã tổng quan về thiết lập và thẩm định dự án Phân tích thị trường sản phẩm và dịch vụ của dự án đầu tư Phân tích kỹ thuật, công nghệ và tài chính của dự án Tổ chức nhân sự và tiền lương của dự
án Các chỉ tiêu đánh giá và lựa chọn dự án Tác động của lạm phát đến phân tích ngân lưu dự án Phân tích rủi ro trong thẩm định dự án và hiệu quả kinh tế xã hội của dự án
Trang 12- Phương pháp lập dự án đầu tư trong ngành xây dựng [12]. Cuốn sách đã lược khảo các phương pháp lập dự án đầu tư hiện hành và những ảnh hưởng của các đặc điểm của sản xuất xây dựng đối với phương pháp lập dự án đầu tư trong ngành xây dựng Lập dự án đầu tư ở các giai đoạn mua sắm, vận hành, sửa chữa, cải tạo và hiện đại hoá ngành xây dựng
- Tính toán dự án đầu tư: Kinh tế kỹ thuật [86] Cuốn sách trình bày về
khái niệm tổng quát; các hệ số và cách dùng; lãi suất danh nghĩa và thực; hiện giá, giá trị hàng năm đều nhau tương đương; suất thu hồi tính cho một dự án đơn; đánh giá dự án; phân tích kinh tế sau thuế; xác định trị số hoà vốn; phân phối vốn khi nguồn vốn bị hạn chế; phân tích độ nhạy và cây quyết định, rủi
án đầu tư thuộc các Tổng công ty xây dựng ở Việt Nam trong điều kiện phân cấp quản lý đầu tư
- Thẩm định tài chính dự án [52] Cuốn sách đã phân tích, luận giải
nhiều vấn đề liên quan đến công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư như dự toán vốn đầu tư, các chỉ tiêu thẩm định tài chính, phân tích rủi ro của dự án Cuốn sách cũng phân tích, đánh giá thực trạng công tác thẩm định tài chính
ở các dự án đầu tư và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác thẩm định ở các dự án đầu tư xây dựng
Trang 13- Đầu tư phát triển các khu kinh tế - quốc phòng ở Việt Nam hiện nay
[51] Cuốn sách đã trình bày, phân tích và luận giải khá sâu sắc tổng quan những vấn đề liên quan đến khu kinh tế quốc phòng; hiệu quả đầu tư và phát triển các khu kinh tế quốc phòng Khi nghiên cứu về hiệu quả đầu tư vào các khu kinh tế quốc phòng, cuốn sách đi sâu phân tích và làm rõ vấn đề hiệu quả, hiệu quả đầu tư; các chỉ tiêu tổng quát đo hiệu quả đầu tư vào khu kinh tế quốc phòng; hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính đầu tư; các chỉ tiêu xác định hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường của đầu tư vào khu kinh tế quốc phòng Đây là những kinh nghiệm nghiên cứu quý báu giúp nghiên cứu sinh có được phương pháp, cách tiếp cận vấn đề đúng và khoa học hơn
- Lập và thẩm định hiệu quả tài chính dự án đầu tư [96] Cuốn sách tập
trung làm rõ các nhóm kiến thức cơ bản liên quan đến dự án đầu tư và một số kinh nghiệm trong lập, thẩm định phương án tài chính dự án đầu tư cũng như quá trình tổ chức huy động vốn và chi phí sử dụng có hiệu quả nguồn vốn Trên cơ sở đó, cuốn sách đã chỉ rõ sự cần thiết phải bảo đảm sự phát triển vững chắc, quản lý vững chắc và thực hiện nghiêm hướng dẫn xây dựng phương án tài chính dự án đầu tư
- Quản lý dự án công trình xây dựng [95] Cuốn sách đã tập trung trình
bày và giải quyết nhiều vấn đề cơ bản về quản lý dự án các công trình xây dựng, tập trung vào các nội dung chính như: quản lý dự án công trình xây dựng và giám đốc dự án; giám đốc thi công công trình; quản lý kế hoạch của
dự án thi công; quản lý chất lượng dự án thi công; quản lý sản xuất an toàn trong dự án thi công; giai đoạn thực thi dự án; nghiệm thu hoàn công công trình và giai đoạn kết thúc dự án Đặc biệt cuốn sách đã trình bày khá kỹ về quản lý chất lượng dự án công trình, chú ý quản lý chất lượng toàn diện; sự bảo đảm về chất lượng toàn diện có ý nghĩa to lớn cả về kinh tế và xã hội
- Dự án đầu tư xây dựng, di chuyển xí nghiệp dệt, Công ty 20 ra khu công nghiệp Hoà Xá - Nam Định [13] Dự án đã chỉ ra những căn cứ pháp lý
và sự cần thiết đầu tư, mục tiêu, hình thức và quy mô đầu tư, địa điểm xây
Trang 14dựng Đồng thời dự án cũng xác định phương án công nghệ, thiết bị, chương trình sản xuất, các yếu tố đầu vào, quy mô diện tích xây dựng, các giải pháp thực hiện dự án, phân tích hiệu quả đầu tư và đánh giá tác động đến môi trường; trên cơ sở đó, dự án đưa ra kiến nghị để nâng cao hiệu quả của dự án
- Tăng cường công tác kế toán dự án đầu tư trong quân đội [91] Cuốn
sách đã làm rõ hạn chế về công tác kế toán dự án đầu tư ở một số đơn vị cụ thể như đối với đơn vị thực hiện theo chế độ kế toán chủ đầu tư (kế toán tại Ban Quản lý dự án đầu tư); đối với đơn vị kế toán dự án đầu tư trên cùng hệ thống sổ kế toán của chủ đầu tư và nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp để nâng cao chất lượng công tác kế toán ở các dự án đầu tư trong quân đội
- "Công tác tham mưu, quản lý các dự án đầu tư: Nhiều chuyển biến tích cực và đạt những kết quả quan trọng" [54] Bài viết đánh giá thực trạng công tác tham mưu, quản lý các dự án đầu tư Về hạn chế, bài viết khẳng định: Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý các dự án đầu tư vẫn còn tồn tại một số yếu kém, hạn chế như mô hình tổ chức triển khai thực hiện dự án còn bất cập, chậm được chấn chỉnh, kiện toàn; quy chế quản lý hiện hành chưa phù hợp Một số dự án thành lập ban quản lý kiêm nhiệm nhưng không đủ thành phần các chuyên ngành, chất lượng chuyên môn chưa đạt yêu cầu, phân công nhiệm vụ không rõ ràng, chưa phát huy được vai trò trách nhiệm của các thành viên dẫn đến hiệu quả quản lý, điều hành thực hiện dự án chưa cao Từ thực trạng đó, bài viết đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác tham mưu, quản lý các dự án đầu tư
Nhóm các công trình khoa học này đã bàn đến nhiều vấn đề về dự án, DAĐTXD, HQKTXH và đưa ra các quan niệm với nội dung phong phú, đa dạng nhất là cách tiếp cận, phân tích, đánh giá về công tác lập, thẩm định dự
án Đây là một trong những khâu quan trọng nhằm bảo đảm tính khả thi và hiệu quả của dự án Tuy nhiên, những công trình này đều được tác giả phân tích đánh giá ở các lĩnh vực cụ thể, dưới các góc độ khác nhau thuộc ngành, lĩnh vực nghiên cứu mà chưa đề cập đến HQKTXH của DAĐTXD ở những CTCP do nhà nước giữ CPCP trong quân đội
Trang 15* Nhóm các công trình khác có liên quan đến đề tài
- Kinh tế đầu tư [64]. Cuốn sách trình bày, luận giải những kiến thức cơ bản về kinh tế đầu tư và lý luận chung về đầu tư và đầu tư phát triển: Thị trường vốn, tổ chức quản lý đầu tư, kế hoạch hoá, kết quả và hiệu quả, lập dự
án, thẩm định dự án, quan hệ quốc tế của đầu tư
- Phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế trong thẩm định và quản lý dự án đầu tư giao thông vận tải [39].Cuốn sách đưa ra quan niệm cơ bản về dự án đầu
tư Những phương pháp đánh giá hiệu quả đầu tư thông qua các chỉ tiêu (giá trị lãi ròng hiện tại hoá (NPV), tỷ lệ sinh lời (BCR), tỷ lệ nội hoàn (IRR) Phương pháp lập trình, hướng dẫn sử dụng vi tính để tính toán trong dự án đầu tư
- Đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp và phát triển các doanh nghiệp quân đội” [75] Công trình khoa học này đã chỉ rõ: Thực hiện chủ trương của Đảng và
Nhà nước, thời gian qua Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNQĐ bằng những biện pháp phù hợp với đặc thù của quân đội và thu được nhiều kết quả tích cực Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế, vấn đề trên càng có ý nghĩa quan trọng Tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNQĐ hiện nay
- Tái cấu trúc doanh nghiệp quân đội: tiếp cận mục tiêu nâng cao vai trò bảo đảm quốc phòng - an ninh và tác động hỗ trợ [60] Bài viết khẳng định vai trò của
DNNN qua 25 năm đổi mới, trong đó có sự đóng góp của DNQĐ Tuy nhiên, thực trạng hoạt động của các DNQĐ chưa đạt được kết quả tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của nó; do đó, cần thiết phải tái cấu trúc DNQĐ Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất những giải pháp tái cấu trúc DNQĐ theo hướng tiếp cận mục tiêu nâng cao vai trò bảo đảm quốc phòng - an ninh và tác động hỗ trợ
- Các doanh nghiệp quân đội chủ động vượt qua thách thức, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế [57] Bài viết đã trình bày những thuận lợi, khó
khăn và kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế của các DNQĐ trong những năm qua và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả SXKD của các DNQĐ
Trang 16- Tăng cường hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp quân đội nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển [69] Bài viết đã đưa ra những số liệu
cụ thể về kết quả đạt được của các DNQĐ trong năm 2012 Bằng sự nỗ lực, vượt qua khó khăn các DNQĐ đã tranh thủ được sự hỗ trợ của Nhà nước; tận dụng tối đa ưu đãi từ các giải pháp tháo gỡ khó khăn của Chính phủ, chủ động đưa ra các giải pháp của Bộ Quốc phòng để phát triển SXKD
- Để làm tốt việc ra nghị quyết lãnh đạo của cấp uỷ, tổ chức Đảng ở các doanh nghiệp quân đội [45] Bài viết đã phân tích, làm rõ những kết quả đạt được,
hạn chế và nguyên nhân của việc ra nghị quyết lãnh đạo của cấp uỷ, tổ chức Đảng
ở các DNQĐ; trên cơ sở đó, đề xuất một số nội dung, biện pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng ra nghị quyết lãnh đạo của cấp uỷ, tổ chức Đảng ở các DNQĐ Tổng quan kết quả nghiên cứu của nhóm các công trình khoa học trong nước liên quan đến đề tài luận án được các công trình nghiên cứu và
đề cập đến những vấn đề khác nhau; với mức độ, phạm vi khác nhau Tác giả Đỗ Mạnh Hùng đề cập đến HQKTXH; luận giải cơ sở khoa học về nâng cao HQKTXH trong đầu tư phát triển các khu kinh tế quốc phòng ở Việt Nam hiện nay Liên quan đến dự án, nhiều công trình khoa học của các cơ quan, tổ chức và cá nhân đã bàn đến và giải quyết như: Trường Đại học Kinh tế quốc dân; Viện Nghiên cứu và Đào tạo về quản lý; Viện Nghiên cứu Tin học và Kinh tế; Công ty 20, Tổng cục Hậu cần, Bộ Quốc phòng Các công trình khoa học này đã đưa ra những khái niệm về dự án,
dự án đầu tư xây dựng và quản lý dự án đầu tư xây dựng cũng như hiệu quả đầu tư của các dự án
3 Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
3.1 Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố
Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước liên quan đến luận án được đề cập ở nhiều nội dung, góc độ khác nhau Những công trình này
Trang 17giúp nghiên cứu sinh có được cái nhìn tổng quát về vấn đề nghiên cứu; gợi mở cho nghiên cứu sinh cách tiếp cận khoa học và góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu của luận án Song, mỗi công trình lại nghiên cứu và giải quyết một hoặc nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến đề tài luận án Đối với những công trình khoa học ở nước ngoài bàn về hiệu quả đầu tư và hiệu quả dự án đầu tư chỉ tập trung giải quyết dưới góc độ hiệu quả kinh tế, hiệu quả SXKD mà chưa
đi vào giải quyết vấn đề dưới góc độ hiệu quả xã hội hay giải quyết vấn đề trong mối quan hệ, gắn bó giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội
Đối với những công trình khoa học ở trong nước liên quan đến đề tài luận án đã giải quyết được nhiều vấn đề sát với thực tiễn đất nước và cung cấp cho nghiên cứu sinh khối lượng kiến thức phong phú Các công trình khoa học này đã đưa ra được quan niệm về hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế - xã hội Song, mới chỉ dừng lại ở việc giải quyết các vấn đề
về DNNN, DNQĐ; HQKTXH ở các khu kinh tế quốc phòng… Những quan niệm liên quan đến luận án chưa được hệ thống hóa, khái quát mang tính lý
Trang 18Chương 1
-1.1 Công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội và hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội
1.1.1 Công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội
1.1.1.1 Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một thể chế kinh doanh, một loại hình doanh nghiệp hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vốn của nhiều cổ đông Trong CTCP số vốn điều lệ của công ty được chia nhỏ thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần Các cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu Chỉ có CTCP mới được phát hành cổ phiếu Như vậy, cổ phiếu chính
là một bằng chứng xác nhận quyền sở hữu của một cổ đông đối với một CTCP và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu CTCP là một trong loại hình doanh nghiệp căn bản tồn tại trên thị trường
Bộ máy của các CTCP được cơ cấu theo luật pháp và điều lệ công ty với nguyên tắc cơ cấu nhằm đảm bảo tính chuẩn mực, minh bạch và hoạt động có hiệu quả CTCP phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng Quản trị
và Ban Điều hành Đối với CTCP có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc
tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban Kiểm soát Khái niệm CTCP được xem đồng nghĩa với công ty đại chúng bởi cấu trúc, mục tiêu và tính chất của nó; cần có tối thiểu ba cổ đông bất kể đó là pháp nhân hay thể nhân Tuy nhiên, các quy định đối với một công ty niêm yết thường yêu cầu công ty phải có số cổ đông lớn hơn nhiều Cơ quan tối cao của các CTCP là Đại hội đồng cổ đông Các cổ đông sẽ bầu ra Hội đồng
Trang 19Quản trị với Chủ tịch Hội đồng Quản trị, các Phó Chủ tịch và thành viên (kiêm nhiệm hay không kiêm nhiệm) Sau đó, Hội đồng Quản trị sẽ tiến hành thuê, bổ nhiệm các Giám đốc (Tổng Giám đốc) hoặc Giám đốc điều hành Hội đồng này cũng có thể tiến hành thuê, bổ nhiệm các Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc) hoặc uỷ quyền cho Ban Giám đốc công ty làm việc này Quan hệ giữa Hội đồng Quản trị và Ban Giám đốc là quan hệ quản trị công ty Quan hệ giữa Ban Giám đốc và cấp dưới, người lao động nói chung
là quan hệ quản lý Xung quanh vấn đề quan hệ giữa các chủ sở hữu là cổ đông của công ty và những người quản lý thông thường cần được tách bạch
rõ Để bảo đảm chặt chẽ, khách quan nhiều công ty đã quan tâm và quy định khá cụ thể, chi tiết về điều này Song, nó cũng có những ưu và khuyết nhất định; tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, điều kiện sản xuất kinh doanh và luật pháp mà có sự vận dụng phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao
Ở Việt Nam, hoạt động của các CTCP được Luật Doanh nghiệp năm
2005 quy định, cụ thể: Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: 1) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; 2) Cổ đông
có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; 3) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; 4) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này; 5) Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể
từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; 6) Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn Các loại
cổ phần được quy định tại điều 78 Luật Doanh nghiệp gồm: 1 Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông 2 Công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi Cổ phần ưu đãi gồm các loại: 1) Cổ phần
Trang 20ưu đãi biểu quyết; 2) Cổ phần ưu đãi cổ tức; 3) Cổ phần ưu đãi hoàn lại; 4) Cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định
Trong các cổ phần ưu đãi trên thì cổ phần ưu đãi biểu quyết chịu một số ràng buộc như chỉ có tổ chức được Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập có hiệu lực trong ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông Người được quyền mua
cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do Điều
lệ công ty quy định hoặc do Đại hội đồng cổ đông quyết định Các cổ phần còn lại như ưu đãi cổ tức, ưu đãi hoàn lại và ưu đãi khác thường tuân theo các quy tắc do Đại hội đồng cổ đông quyết định Ngoài ra, cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi; trong khi cổ phần ưu đãi có thể chuyển thành cổ phần phổ thông theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu nó các quyền, nghĩa
vụ và lợi ích ngang nhau
1.1.1.2 Công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối
Công ty cổ phần do Nhà nước giữ CPCP là doanh nghiệp cổ phần, được hình thành từ hai cơ sở: Một là, Nhà nước góp vốn cùng với các thành phần kinh tế khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp Hai là, cổ phần hóa các doanh nghiệp mà chủ trương cổ phần hóa được định hình từ năm 1996, được pháp luật hóa theo Nghị định 64/2002/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm
2002 của Chính phủ về chuyển DNNN thành CTCP Việc chuyển đổi mô hình hoạt động của các DNNN là phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Trong điều kiện mới đòi hỏi các DNNN phải có những thay đổi phù hợp, đáp ứng các quy chuẩn quốc tế để tham gia hoạt động trên thị trường Khi cổ phần hoá doanh
Trang 21nghiệp, Nhà nước sẽ giữ cổ phần chi phối trên 50% số cổ phần của doanh nghiệp, một số cổ phần được bán với giá ưu đãi cho cán bộ, công nhân viên
đã và đang công tác tại doanh nghiệp đến thời điểm cổ phần hoá doanh nghiệp, số cổ phần còn lại có thể bán cho một số đối tác đầu tư chiến lược và đấu giá công khai Nhà nước cử một số cán bộ có trình độ, năng lực, có nghiệp vụ chuyên sâu về tài chính và quản lý kinh tế tham gia Hội đồng quản trị và Ban giám đốc để điều hành doanh nghiệp theo hướng trao quyền
tự chủ cao cho doanh nghiệp với yêu cầu bảo đảm kinh doanh có lãi, bảo toàn vốn và hoạt động theo đúng quy định của luật pháp Nhà nước chỉ nắm giữ 100% vốn hoặc giữ cổ phần chi phối đối với một số doanh nghiệp, giảm
số DNNN, tạo sự phát triển bình đẳng giữa các thành phần kinh tế Trong
đó, doanh nghiệp cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối là doanh nghiệp
mà Nhà nước có 51% cổ phần trở lên Mục đích của cổ phần hoá nhằm chuyển đổi những công ty nhà nước mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu; trong đó có CTCP mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối (51% trở lên) Thực hiện cổ phần hoá nhằm huy động vốn của cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và ngoài nước để tăng năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức tổ chức quản lý để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp Quá trình cổ phần hoá được thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phục tình trạng cổ phần hoá khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán Trong điều kiện nền kinh tế thị, cổ phần hoá DNNN là quan điểm, chủ trương đúng của Đảng và Nhà nước ta Thực hiện cổ phần hoá DNNN sẽ tạo được môi trường SXKD tốt hơn; phát huy tác dụng của cơ chế thị trường, lành mạnh hoá môi trường cạnh tranh, tính minh bạch của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Trang 221.1.1.3 Công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết Trung ương 9 Khoá
XI và Chỉ thị 45-CT/TW của Bộ chính trị về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, Bộ Quốc phòng đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ Đề án sắp xếp, đổi mới DNQĐ và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 80/2003/QĐ-TTg ngày 29 tháng 4 năm 2003; Quyết định số 98/2005/QĐ-TTg ngày 9 tháng 5 năm 2005 và Quyết định số 339/2008/QĐ-TTg ngày 31 tháng 3 năm 2008 Quá trình này được thực hiện theo 4 giai đoạn gồm: giai đoạn thí điểm 2002 - 2003, giai đoạn 2003 - 2005, giai đoạn 2005 - 2008 và 2008 - 2010 Như vậy, trong 4 giai đoạn thực hiện cổ phần hóa "từ năm 2002 - 2010 đã có tổng số 21 công
ty độc lập, 08 công ty con và 21 đơn vị phụ thuộc chuyển thành 56 CTCP; trong đó, có 25 CTCP do Bộ Quốc phòng cử người đại diện" [83, tr.69], hoạt động trên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân; tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực dệt may, da giày, xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng
Công ty cổ phần do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội là một bộ phận của DNQĐ, là những DNQĐ đã thực hiện cổ phần hoá trong đó Nhà nước giữ 51% trở lên Với cơ chế quản trị mới, sau cổ phần hoá, hầu hết các CTCP đều hoạt động có hiệu quả hơn so với trước, đời sống của người lao động được đảm bảo, nhiều doanh nghiệp đã có những bước tiến vượt bậc, nhiều công ty
đã tham gia đăng ký niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung
Thực hiện cổ phần hoá đã giúp các DNQĐ khắc phục được các khó khăn về vốn, công nghệ, cơ chế quản lý Sau cổ phần hoá các doanh nghiệp đều hoạt động có hiệu quả, chỉ tiêu tăng trưởng, việc làm và thu nhập của người lao động được cải thiện Các công ty đã chủ động vươn ra thị trường, tăng cường năng lực cạnh tranh, đổi mới công nghệ, tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Năng lực quản trị của các công ty được nâng lên rõ rệt Bộ máy tinh giảm, gọn nhẹ nhưng hoạt động có hiệu quả
Trang 23Dẫn đầu trong khối các công ty cổ phần có vốn góp của Nhà nước do
Bộ Quốc phòng cử người đại diện là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB), với định hướng “Tái cơ cấu, phát triển bền vững”.Sau 20 năm hoạt động, MB đã trở thành một trong những định chế tài chính hàng đầu Việt Nam, phát triển an toàn bền vững hướng tới mục tiêu TOP 5 Ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam Năm 2014 MB đã trở thành 1 trong 5 ngân hàng hoạt động hiệu quả nhất trong hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam, "với vốn điều lệ là trên 11,59 nghìn tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 3 nghìn tỷ đồng; nợ xấu luôn được kiểm soát chặt chẽ ở mức cho phép (dưới 3%), nộp ngân sách nhà nước đạt trên 900 tỷ và đóng góp vào ngân sách quốc phòng trên 30 tỷ đồng" [38, tr.4]
Tiếp đến là 22 doanh nghiệp được cổ phần hóa từ doanh nghiệp quân đội hoạt động trong các lĩnh vực dệt may, da giày, xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng… Tổng số "vốn điều lệ hiện tại là 1.703 tỷ đồng, trong đó vốn nhà nước là trên 467,9 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 27,48%" [phụ lục 14]
Tiếp đến là 23 doanh nghiệp được cổ phần hóa từ doanh nghiệp quân đội hoạt động trong các lĩnh vực dệt may, da giày, xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng… “Tổng số vốn điều lệ hiện tại là 1.866 tỷ đồng, trong đó vốn nhà nước là trên 459 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 24%” [35, tr.6]
Thực hiện cổ phần hoá, các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội đã phát huy tốt vai trò của mình; Hội đồng Quản trị, tập thể Ban Giám đốc
đã bám sát tình hình thực tiễn, năng động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo công ty hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ hoạt động SXKD, tạo ra những sản phẩm hàng hoá, dịch vụ góp phần trực tiếp xây dựng kinh tế đất nước, cải thiện đời sống, tạo nguồn thu thêm cho ngân sách quốc phòng Khối lượng, chủng loại hàng hoá, dịch vụ, khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước
và thế giới, giá trị sản lượng là những tiêu chí đánh giá hiệu quả sản xuất kinh
Trang 24doanh của các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội Tuy nhiên, các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội tham gia SXKD vừa phải thực hiện theo đúng luật pháp, môi trường kinh doanh bình đẳng của thị trường, vừa mang những đặc điểm riêng của các DNQĐ Đây chính là những đặc điểm chi phối hoạt động SXKD ở các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội hiện nay
1.1.2 Dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội
1.1.2.1 Quan niệm về dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ phần
do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội
Dự án là một tập hợp riêng biệt (cụ thể, xác định) những hoạt động có hệ thống được thực hiện trong một thời hạn xác định, bằng những nguồn lực xác định, nhằm đạt một mục tiêu phát triển nhất định Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan Xây dựng là việc làm nên những công trình kiến trúc theo một kế hoạch nhất định, bao gồm những công trình mới, mở rộng hoặc cải tạo, nâng cấp Đầu tư xây dựng là hoạt động sử dụng các nguồn lực của xã hội
để tiến hành các công việc xây dựng mới, cải tạo nâng cấp nhà cửa và các cơ sở
hạ tầng, mua sắm và lắp đặt thiết bị và các công việc liên quan khác trên cơ sở hoạch toán có hiệu quả và theo một kế hoạch đã định nhằm duy trì, tạo thêm các tiềm lực mới cho nền kinh tế - xã hội DAĐTXD là tập hợp những đề xuất
về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích duy trì, phát triển, nâng cao công suất và chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ với một thời hạn nhất định
; quản lý tiến độ dự án; quản lý ngân sách và chi phí dự án; quản lý chất lượng dự án; giám sát và
Trang 25đánh giá dự án; quản lý rủi ro trong các dự án đầu tư Trong đó, l
Trang 26
; r đầu tư, m
Dự án đầu tư xây dựng ở các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội có đặc trưng riêng; do đó, khi tính HQKTXH của dự án phải quan tâm và tính toán chặt chẽ Đây là loại dự án phổ biến, mang tính chất một lần, cần có một lượng đầu tư nhất định, trải qua một loạt các trình tự như ra quyết định và thực thi mà trong đó miêu tả chi tiết, hiện thực hóa các chi tiết với khối lượng công việc, nó được thực hiện tại một không gian, địa điểm và thời gian xác định Thời gian thực hiện dự án thường tính theo tháng hay năm và thường một dự án xây dựng thời gian không quá 5, 7 năm Tính khoa học hạch toán cao, tương đối chính xác, có cho phép dung sai với điều kiện xã hội, quy định của nhà nước, cũng như thời gian thựchiện dự án là ngắn hay dài Yêu cầu,
Trang 27nhiệm vụ quốc phòng an ninh được đặc biệt coi trọng đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của quân đội; góp phần xây dựng tiềm lực kinh tế quân sự, sức mạnh quân sự của Nhà nước Bên cạnh đó, DAĐTXD ở các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội phụ thuộc nhiều yếu tố về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của đất nước và quân đội ở từng giai đoạn nhất định; tình hình phát triển kinh tế - xã hội, nhất là sự biến động về giá cả, nguyên vật liệu; thời tiết khí hậu của các mùa khô, mùa mưa trong năm… ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình lập kế hoạch dự án, tổ chức thi công và tính rủi ro của dự án xây dựng
Dự án tập trung làm rõ căn cứ để lập báo cáo khả thi (luận chứng kinh tế
- kỹ thuật); sản phẩm; thị trường; khả năng đảm bảo và phương thức cung cấp các yếu tố đầu vào cho sản xuất; quy mô và chương trình sản xuất; công nghệ và trang thiết bị; tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu, năng lượng và các yếu tố đầu vào khác; địa điểm và đất đai; quy mô xây dựng và các hạng mục công trình; tổ chức sản xuất kinh doanh; nguồn nhân lực; phương thức tổ chức và tiến độ thực hiện đầu tư, tiến
độ sử dụng vốn; tổng kết nhu cầu về vốn đầu tư và các nguồn vốn; phân tích tài chính; phân tích kinh tế; phân tích các ảnh hưởng xã hội; kết luận và kiến nghị Trong đó, nguồn nhân lực là một nội dung cơ bản có ý nghĩa quyết định đến chất lượng và hiệu quả của DAĐTXD
Từ những phân tích trên, theo nghiên cứu sinh Dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những
Trang 28công trình xây dựng nhằm mục đích duy trì, phát triển, nâng cao công suất và chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ của các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội với một thời hạn nhất định
1.1.2.2 Quan niệm về hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội
Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng hoặc quá trình kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) để đạt được mục tiêu xác định Hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Hiệu quả kinh tế là hiệu quả xét về mặt kinh tế, được so sánh, tính toán dựa trên giá trị và được đo bằng tiền; mô tả mối quan hệ lợi ích kinh
tế mà chủ thể nhận được và chi phí bỏ ra để nhận được lợi ích kinh tế đó Trong hoạt động SXKD, hiệu quả kinh tế là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý cả ở tầm vĩ mô và vi mô
Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ sử dụng những nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định Các mục tiêu xã hội như giải quyết công
ăn việc làm trong phạm vi toàn xã hội hoặc từng khu vực kinh tế; giảm số người thất nghiệp; nâng cao trình độ và đời sống văn hóa, tinh thần của người lao động; nâng cao mức sống cho các tầng lớp nhân dân trên cơ sở giải quyết tốt các quan hệ phân phối; bảo đảm và nâng cao sức khoẻ; môi trường sinh thái… Xem xét hiệu quả xã hội người ta thường xem xét mức tương quan giữa các kết quả đạt được về mặt xã hội như cải thiện điều kiện lao động, nâng cao đời sống văn hoá và tinh thần, giải quyết công ăn việc làm… và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Hiệu quả kinh tế - xã hội là một phạm trù kép gắn liền hiệu quả kinh tế với hiệu quả trong giải quyết các vấn đề xã hội trong mọi hoạt động Hai vấn
đề này có mối quan hệ gắn bó, tác động chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện thuận
Trang 29lợi để phát triển kinh tế - xã hội bền vững Hiệu quả kinh tế - xã hội là hiệu quả xét cả về kinh tế và xã hội, vừa bảo đảm được sự tăng trưởng và phát triển kinh
tế vừa giải quyết và thực hiện được các vấn đề xã hội; nó thể hiện mức đóng góp vào sự vững mạnh, ổn định của đất nước, giữ vững an ninh xã hội, mang lại công ăn việc làm cho người lao động góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội Mục đích nhằm phát triển con người toàn diện cả về sức khoẻ, trình độ học vấn, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống con người trong xã hội
Hiệu quả kinh tế - xã hội là một phạm trù kinh tế khách quan, bao hàm trong nó hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, được tính toán dựa trên cơ sở so sánh kết quả thu được trong hoạt động SXKD và chi phí các nguồn lực để đạt được kết quả đó Đồng thời, nó gắn với giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh khi sử dụng các nguồn lực để đạt được hiệu quả kinh tế cao Vì vậy, khi tính toán hiệu quả SXKD của một tổ chức kinh tế, nó phải được đặt trong mối quan hệ tổng thể giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả giải quyết các vấn đề xã hội
Đối với các DAĐTXD với mục tiêu là tạo ra những tài sản cố định nên kết quả của các dự án chủ yếu là tài sản cố định Thực tế cho thấy, sử dụng tài sản cố định được đầu tư có ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư Trong đó, hệ số huy động tài sản cố định nhằm xác định mối quan hệ giữa giá trị tài sản cố định được huy động so với tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản (Hệ số huy động tài sản
cố định = Giá trị tài sản cố định huy động/Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản); nếu hệ số này càng lớn thì hiệu quả đầu tư của dự án càng cao Đồng thời, các chỉ tiêu về hiệu quả tài chính ở các DAĐTXD cũng được thể hiện qua một số chỉ tiêu cụ thể như thời hạn thu hồi vốn, tổng lãi quy về thời điểm hiện tại, tỷ lệ thu hồi nội tại, tỷ lệ lợi ích trên chi phí và giá trị sản phẩm thuần túy gia tăng Thời hạn thu hồi vốn đầu tư được xác định là khoảng thời gian số vốn đầu tư
bỏ vào và thời gian thu hồi lại được hoàn toàn Các chỉ tiêu tổng lãi quy về thời
Trang 30điểm hiện tại được xác định là thời điểm dự án bắt đầu hoạt động và tỷ lệ thu hồi nội tại là tỷ lệ lãi do dự án đem lại; đây là những chỉ tiêu quan trọng đánh giá sát thực về hiệu quả kinh tế mà dự án đem lại Đối với chỉ tiêu tỷ lệ lợi ích trên chi phí được xác định bằng cách lấy tổng lợi ích quy về thời điểm hiện tại rồi chia cho tổng chi phí quy về thời điểm hiện tại và DAĐTXD được coi là khả thi, có hiệu quả khi tỷ lệ lợi ích trên chi phí > 1 Với chỉ tiêu giá trị sản phẩm thuần túy gia tăng là mức chênh lệch giữa giá trị đầu ra và giá trị đầu vào; đây là chỉ tiêu cơ bản phản ánh HQKTXH của DAĐTXD
Bên cạnh đó, các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả xã hội của các DAĐTXD như chỉ tiêu về lao động và việc làm, môi trường sinh thái, tác động đến phân phối thu nhập và công bằng xã hội cùng nhiều tác động khác liên quan đến hoạt động đầu tư của dự án Khi đánh giá hiệu quả xã hội của dự án trong giải quyết các vấn đề về lao động và việc làm cần xem xét cả chỉ tiêu tuyệt đối và tương đối nhằm phản ánh khách quan, toàn diện về chỉ tiêu số lao động có việc làm do thực hiện dự án và chỉ tiêu số lao động có việc làm tính trên một đơn vị giá trị vốn đầu tư Trong đó, số lao động có việc làm và số lao động có việc làm trên một đơn vị vốn đầu tư, bao gồm cả số lao động có việc làm trực tiếp do các DAĐTXD mang lại và số lao động ở các khu vực, lĩnh vực khác liên quan đến dự án đem lại (những khu vực và lĩnh vực khác liên quan là những khu vực và lĩnh vực phát sinh lao động, cần lao động do việc đầu tư dự
án đó mang lại)
Với DAĐTXD tại các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội vừa có những đặc tính chung như các DAĐTXD khác nhưng nó còn mang tính đặc thù Tính đặc thù được thể hiện ở mục tiêu, nhiệm vụ đầu tư; chủ thể đầu tư; nội dung đầu tư… Trong đó, mục tiêu chính mà dự án phải thực hiện là nâng cao hiệu quả hoạt động của các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng an ninh và tham gia xây
Trang 31dựng, phát triển kinh tế đất nước Đây là nhiệm vụ hết sức nặng nề, chất lượng của dự án sẽ ảnh hưởng và trực tiếp tác động đến chất lượng sản phẩm của công ty; đến chất lượng bảo đảm thực hiện nhiệm vụ quốc phòng an ninh mà Đảng, Nhà nước và quân đội giao cho; đến khả năng tham gia xây dựng, phát triển kinh tế đất nước DAĐTXD tại các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội là những dự án được đầu tư bằng nguồn ngân sách nhà nước, với nhiều mục tiêu cần phải đạt được cả về kinh tế, chính trị, xã hội và quốc phòng
an ninh Các mục tiêu này hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD của các CTCP do Nhà nước giữ CPCP Trong đó, nhiệm vụ trung tâm là nâng cao hiệu quả SXKD của công ty phục vụ cho hoạt động quân
sự, quốc phòng, an ninh; đây là nhiệm vụ cơ bản, chủ yếu Vì lẽ đó, chất lượng của DAĐTXD ở các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội luôn là vấn
đề được thủ trưởng Bộ Quốc phòng và lãnh đạo, chỉ huy các cấp quan tâm
Từ những phân tích trên, nghiên cứu sinh đưa ra quan niệm hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước giữ
cổ phần chi phối trong quân đội là sự phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội với chi phí tối thiểu đầu vào đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng an ninh và phát triển kinh tế đất nước
Quan niệm trên chỉ rõ: HQKTXH DAĐTXD tại các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội là sự phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực, bao gồm nguồn lực con người, nguồn vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật… Trong đó, nguồn lực con người là quan trọng nhất Nguồn lực này được biểu hiện cụ thể ở các DAĐTXD từ công tác tham mưu, lập kế hoạch, phê duyệt dự án, tổ chức thực hiện và khai thác, sử dụng dự án sau này Nguồn lực con người còn là cơ sở để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác cũng như bảo đảm được mục tiêu của dự án cả về hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội
Trang 32Như vậy, HQKTXH là một phạm trù kinh tế khách quan, bao hàm trong nó hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, được tính toán dựa trên cơ sở kết quả thu được trong hoạt động SXKD và chi phí các nguồn lực để đạt được kết quả đó Đồng thời, nó gắn với giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh khi sử dụng các nguồn lực để đạt được hiệu quả kinh tế cao Vì vậy, khi tính toán hiệu quả SXKD của một tổ chức kinh tế, nó phải được đặt trong mối quan hệ tổng thể giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội
1.2 Tính tất yếu khách quan, tiêu chí và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội
1.2.1 Tính tất yếu khách quan phải nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội
1.2.1.1 Xuất phát từ mục đích và bản chất của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa; từ chức năng và nhiệm vụ của quân đội ta hiện nay
Quan tâm đến HQKTXH và phấn đấu nâng cao HQKTXH là đòi hỏi khách quan đối với các quốc gia Các nước tư bản chủ nghĩa coi đây là yêu cầu, là nội dung trong chiến lược và chính sách phát triển kinh tế Song, mục đích của HQKTXH ấy lại nằm trong khuôn khổ của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, là vì mục tiêu tìm kiếm và tăng lợi nhuận cho nhà tư bản, lợi nhuận của các công ty tư bản độc quyền Vì vậy, phạm trù HQKTXH được nhận thức và sử dụng như một công cụ để phục vụ mục đích tối cao là lợi nhuận Ngày nay, chủ nghĩa tư bản đã có sự điều chỉnh và quan tâm đến giải quyết các vấn đề xã hội là xuất phát từ chính sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa
tư bản chứ không phải chủ nghĩa tư bản đã thay đổi về bản chất
Cách mạng tháng Tám thành công đã đưa nhân dân ta từ địa vị người
nô lệ trở thành người làm chủ đất nước Sau năm 1975, cả nước thống nhất bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Đảng và Nhà nước ta quyết tâm
Trang 33xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, giàu mạnh, ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như mong ước của chủ tịch Hồ Chí Minh Quán triệt tư tưởng của Người, Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm đến sự phát triển toàn diện của đất nước, chăm lo cuộc sống của nhân dân, tất cả vì lợi ích của nhân dân, của cả dân tộc nhằm đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho tất cả mọi người Đảng ta khẳng định: “Phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển” [41, tr.35] Vì lẽ đó Mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các tổ chức và cá nhân đều phải hướng tới mục đích tối cao là phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước; việc gì có lợi cho dân, cho nước ta phải hết sức làm; việc gì có hại cho dân, cho nước dù là nhỏ nhất cũng phải hết sức tránh Điều đó, thể hiện mục đích, bản chất và tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội
Trong thời bình, hoạt động kinh tế, xây dựng và kiến thiết đất nước càng đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao tính hiệu quả của nó nhằm thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của nhân dân cả về vật chất và tinh thần; tạo điều kiện, tiền đề vững chắc để bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh góp phần thực hiện thắng lợi
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Tuy nhiên, để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế đất nước hơn nữa cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế, nhất là hoạt động đầu tư xây dựng, những dự án lớn, trọng điểm của đất nước Phấn đấu đạt HQKTXH
và không ngừng nâng cao nó vừa là mục tiêu, là động lực để xây dựng và phát triển vì một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; vừa
là mục tiêu, là nguyên tắc làm việc của nền kinh tế và trong hoạt động SXKD của từng doanh nghiệp
Bảy mươi năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh; Quân đội nhân dân Việt Nam không những đã dũng
Trang 34cảm chiến đấu làm nên chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu, chiến dịch
Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước
mà còn lao động hết mình, đóng góp công sức lớn lao cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Ngay từ khi mới ra đời, ngoài nhiệm vụ huấn luyện, chiến đấu, làm công tác vận động quần chúng; cán bộ, chiến sĩ trong quân đội ta còn tranh thủ tham gia sản xuất, góp phần cải thiện đời sống bộ đội Đến nay, trong tình hình mới, một phần lực lượng quân đội đã tham gia vào mặt trận xây dựng kinh tế chung của cả nước Điều đó khẳng định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ; bản chất và truyền thống của quân đội ta trong thời kỳ mới Lực lượng làm kinh tế của quân đội ngày nay được tổ chức theo mô hình doanh nghiệp Phần lớn các DNQĐ đều được hạch toán đầy đủ Các tổ chức đó được xem là nơi giữ gìn tiềm lực quốc phòng và góp phần phát triển nền kinh tế quốc dân Nhiều DNQĐ đã xác lập được vị trí, tạo dựng được uy tín trong cộng đồng các doanh nghiệp và trên thị trường; tích cực tham gia vào những lĩnh vực, ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước như bưu chính viễn thông, bay dịch vụ, dịch vụ cảng biển, khai thác khoáng sản, xây dựng, nhất là thế mạnh xây dựng cầu đường, sân bay…
1.2.1.2 Xuất phát từ vai trò của các dự án đầu tư xây dựng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Dự án đầu tư xây dựng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, quá trình đầu tư xây dựng nếu không
có chiến lược phát triển rõ ràng, không có quy hoạch tổng thể, không gắn sự phát triển của mỗi dự án với sự phát triển chung của đất nước; không quán triệt quan điểm phát triển nhanh, bền vững đất nước chắc chắn các DAĐTXD
sẽ khó đem lại HQKTXH Nâng cao HQKTXH các DAĐTXD vừa góp phần khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đất nước cho DAĐTXD vừa bảo đảm được sự phát triển nhanh và bền vững Trên cơ sở đó, các mục tiêu
về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và quốc phòng, an ninh được thực hiện
Trang 35Hoạt động đầu tư xây dựng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, các DAĐTXD trực tiếp tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật (tài sản cố định) cho các ngành kinh tế quốc dân để sau đó các ngành kinh tế quốc dân lại tiếp tục khai thác sinh lợi; góp phần thay đổi các mối quan hệ giữa các ngành kinh tế quốc dân, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, tăng thu ngân sách quốc gia Các DAĐTXD còn liên quan trực tiếp đến sử dụng một khối lượng lớn nguồn lực của xã hội; do đó, nếu hoạt động này kém hiệu quả, gây ra lãng phí, thất thoát các nguồn lực sẽ làm tổn thất to lớn, nhiều mặt, để lại hậu quả lâu dài, tác động đến sự phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế đất nước
Vai trò của DAĐTXD được thể hiện từ vai trò của những đề xuất liên quan đến dự án và việc tổ chức triển khai thực hiện dự án Ở đó, dự án thể hiện được đầy đủ ngay từ đầu về sự hoàn chỉnh của nó bao gồm các lợi ích và HQKTXH Tức là vai trò của dự án được thực hiện ngay từ khi có tư duy về
dự án hình thành và phải được quán triệt, trở thành quan điểm nhất quán, xuyên suốt cả quá trình tổ chức, thực hiện dự án Kịp thời điều chỉnh, bổ sung những nội dung đem lại HQKTXH cao cho dự án; loại bỏ những nhân tố có hại đến dự án cả về hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Thực hiện tốt công tác chuẩn bị và xây dựng dự án; nếu dự án chuẩn bị không được tốt thì HQKTXH chắc chắn thấp Vì vậy, khi nghiên cứu xem xét, đánh giá tính khả thi của dự án cần phải nghiên cứu, đánh giá ở nhiều góc độ, phương diện khác nhau nhằm bảo đảm tính khách quan, chính xác và toàn diện của dự án Thực
tế, do thực hiện tốt nội dung này nên nhiều DAĐTXD khi đưa vào khai thác,
sử dụng đã đem lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp và tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội của cả địa phương và đất nước
1.2.1.3 Xuất phát từ vai trò của các nguồn lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh - nhân tố có ý nghĩa quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh
tế - xã hội của các dự án đầu tư xây dựng
Các nguồn lực trong hoạt động SXKD bao gồm nguồn nhân lực, nguồn vốn, cơ sở vật chất trang thiết bị, nguyên nhiên vật liệu… Sự lựa chọn và sử
Trang 36dụng khôn ngoan với cơ cấu hợp lý sẽ mang lại HQKTXH cao và thu được nhiều lợi ích nhất Trong khi các nguồn lực ngày càng khan hiếm và cạn kiện do con người khai thác và sử dụng quá mức, ngay cả nguồn nhân lực nếu không biết chăm lo đầu tư, đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và phát triển hợp lý, có chiến lược lâu dài cả ở tầm vĩ mô và vi mô thì đến một thời điểm nhất định nguồn lực này cũng không đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi phát triển của thực tiễn
Hiện nay, các nguồn lực cho sự phát triển ở các quốc gia ngày càng cạn kiệt Nguồn lực của mỗi đơn vị, mỗi ngành, mỗi địa phương và cả quốc gia đều khan hiếm và có hạn Đối với các DAĐTXD nguồn lực sử dụng cho dự án này
sẽ làm giảm nguồn lực sử dụng cho dự án khác Do đó, các DAĐTXD phải được nghiên cứu, tính toán chặt chẽ, giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế
và giải quyết các vấn đề xã hội; tiến hành nghiên cứu, phân tích đánh giá các lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội của dự án một cách khoa học vì sự phát triển chung của toàn xã hội
Lợi ích kinh tế - xã hội của DAĐTXD chính là sự so sánh lợi ích được tạo ra với chi phí để khai thác và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực cho phát triển kinh tế đất nước Các lợi ích được xem xét trên phạm vi toàn xã hội, toàn bộ nền kinh tế quốc dân, tức là ở tầm vĩ mô nó khác về mặt lợi ích tài chính chỉ xem xét ở tầm vi mô liên quan đến từng doanh nghiệp Vì lẽ đó, các DAĐTXD cần được tính toán kỹ, đặt trong mối quan hệ tổng thể trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuyệt đối không vì lợi ích riêng cục
bộ của ngành, lĩnh vực, của địa phương hay cá nhân mà làm tổn hại đến lợi ích chung của xã hội
Dự án đầu tư xây dựng tại các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội là một bộ phận trong hệ thống các DAĐTXD của quốc gia Các dự án này
có mối liên hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Do đó, các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội cần quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc; phải trở thành một
Trang 37trong những lực lượng nòng cốt, đi đầu về nâng cao HQKTXH của DAĐTXD Những DAĐTXD tại các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội cần phải được xây dựng trên những cơ sở khoa học, lập luận, tính toán chặt chẽ, xác định rõ chi phí đầu vào, đầu ra của các sản phẩm Khai thác
và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn tài nguyên thiên nhiên Bên cạnh đó, những DAĐTXD tại các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội phải nêu cao tinh thần trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn các nguồn lực của đất nước; trong điều kiện cho phép cần tích cực tham gia tái tạo và phát triển
ở những nguồn lực có khả năng tái tạo, bảo vệ môi trường sinh thái, chống sự biến đổi khí hậu Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân và các đồng nghiệp cùng tham gia giữ gìn nguồn tài nguyên của đất nước; bảo vệ môi trường sống và biết đặt lợi ích của đất nước, của dân tộc song hành cùng sự phát triển của doanh nghiệp
1.2.1.4 Xuất phát từ thực trạng hiệu quả kinh tế - xã hội ở dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối
Dự án đầu tư xây dựng có vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Những năm qua, các DAĐTXD đã làm thay đổi diện mạo cơ sở hạ tầng của đất nước đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội Nhiều DAĐTXD đã huy động có hiệu quả các nguồn lực của đất nước, giải quyết được một số lượng lớn lao động, nâng cao chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận nhân dân Nhiều dự án, công trình trọng điểm của đất nước được đưa vào khai thác, sử dụng và đem lại HQKTXH cao; trong đó, có các DAĐTXD tại các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội
Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn DAĐTXD ở một số CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội không đạt được mục tiêu đặt ra, chất lượng thấp, HQKTXH không cao Có những dự án gây thất thoát, lãng phí lớn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công trình xây dựng; có dự án khi đưa vào
sử dụng được một thời gian đã phải sửa chữa nhiều gây bức xúc trong nhân
Trang 38dân Một số dự án, chủ dự án chưa tính toán và lường hết được những tác động cả khách quan và chủ quan đến quá trình thi công dự án cũng như quá trình khai thác, sử dụng sau này nên đã gặp nhiều khó khăn như vấn đề giải phóng mặt bằng, cơ chế chính sách, điều kiện kinh tế - xã hội… dẫn đến chậm tiến độ, thiếu vốn, giá xây dựng tăng cao làm ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng của dự án Một số dự án, chủ dự án chưa giải quyết và kết hợp chặt chẽ giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội; nhiều hạng mục công trình xây dựng
bị cắt xén, tự ý thay đổi thiết kế; do đó, khi dự án đưa vào sử dụng đã nảy sinh nhiều vấn đề bất cập cần giải quyết, khắc phục liên quan đến môi trường sinh thái đến điều kiện làm việc của người lao động; thậm chí có dự án còn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động quốc phòng an ninh gây hậu quả nghiêm trọng
Thời gian tới, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của đất nước, của quân đội có
sự phát triển mới đã và đang đặt ra nhu cầu lớn về đầu tư xây dựng phục vụ cho hoạt động quân sự, quốc phòng Theo đó, một số DAĐTXD được triển khai nhằm nâng cao năng lực hoạt động quân sự, quốc phòng của đất nước Thực hiện đầu tư
có trọng điểm, tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở cho một số CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội như đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp… phục vụ trực tiếp yêu cầu mở rộng SXKD của công ty vừa đáp ứng nhu cầu phục
vụ hoạt động quốc phòng, an ninh vừa tham gia xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước Khi dự án hoàn thành và đi vào khai thác, các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội phải phấn đấu nâng cao chất lượng và khả năng sản xuất quốc phòng ở trong nước với điều kiện ngân sách còn hạn hẹp; tiến tới làm chủ về khoa học và công nghệ để có khả năng sản xuất những mặt hàng này góp phần tiết kiệm nguồn ngân sách của Nhà nước Vì vậy, DAĐTXD tại các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội càng phải được quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêm túc để đem lại HQKTXH cao Khắc phục triệt để những quan niệm, nhận thức không đúng về sự cần thiết phải kết hợp chặt chẽ giữa hiệu quả kinh tế
và hiệu quả xã hội ở DAĐTXD tại các doanh nghiệp cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội
Trang 391.2.2 Tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội
Nâng cao HQKTXH dự án đầu tư xây dựng tại các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội là tất yếu khách quan nhằm giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích cả về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và quốc phòng, an ninh góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững Để đánh giá HQKTXH dự án đầu tư xây dựng tại các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội, nghiên cứu sinh đưa ra một số tiêu chí cụ thể như sau:
1.2.2.1 Tiêu chí đánh giá về hiệu quả kinh tế dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội
Hiệu quả kinh tế - xã hội của các DAĐTXD trước hết được biểu hiện ở hiệu quả kinh tế của dự án đó Một dự án gây thất thoát, lãng phí, chất lượng thấp thì không thể nói là có được hiệu quả kinh tế cao Như trên đã luận giải, hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi tỷ
số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó; hiệu quả kinh
tế luôn liên quan đến các yếu tố tham gia vào quá trình SXKD
Nội dung tiêu chí là sự phản ánh tổng hợp những kết quả cụ thể cần đạt được ở mỗi DAĐTXD như công tác tham mưu, lập kế hoạch và phê duyệt dự án; hiệu suất đầu tư; chất lượng dự án; thời gian thực hiện dự án Các DAĐTXD chỉ đạt được hiệu quả kinh tế cao khi dự án thực hiện tốt các tiêu chí cụ thể trên
Đây là tiêu chí tổng quát, nội dung của tiêu chí này bao gồm một số tiêu chí cụ thể Các tiêu chí này có mối quan hệ mật thiết, liên hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao cho dự án Bởi vậy, muốn DAĐTXD đạt được mục đích đề ra thì các tiêu chí cụ thể cũng phải đạt được
Một là, công tác tham mưu, lập kế hoạch, thẩm định, phê duyệt và tổ
chức triển khai thực hiện dự án
Đây là tiêu chí đánh giá về mục tiêu, định hướng phát triển và tính khả thi của dự án; là tiêu chí đầu tiên, tiêu chí quan trọng cần được quán triệt và
Trang 40thực hiện nghiêm túc đem lại chất lượng và hiệu quả kinh tế của dự án Để đánh giá hiệu quả của một dự án cần được xem xét bắt đầu từ công tác tham mưu, lập kế hoạch và phê duyệt dự án Ngay từ khâu đầu tiên này của dự án
mà có vấn đề chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của dự án trong những khâu tiếp theo cũng như tính khả thi và thực tiễn quá trình khai thác dự
án sau này Trong thực tế, có một số DAĐTXD do chưa làm tốt công tác tham mưu, lập kế hoạch và phê duyệt dự án nên đã để lại hậu quả nghiêm trọng, gây thiệt hại cả về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và quốc phòng an ninh, tạo dư luận xấu trong nhân dân
Quá trình tổ chức triển khai thực hiện dự án là tiêu chí quan trọng; nó thể hiện sự khoa học trong sử dụng hiệu quả các nguồn lực của dự án; đánh giá về thời gian thực hiện dự án Khi dự án được tổ chức triển khai khoa học, hợp lý, hoàn thành đúng tiến độ hoặc vượt trước tiến độ sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao cho dự án Trên thực tế, một số DAĐTXD đã vi phạm tiêu chí này; thời gian thi công dài gây lãng phí lớn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả
sử dụng vốn Thậm chí có nhà thầu cố tình vi phạm, chủ động kéo dài thời gian thi công để xin thêm nguồn vốn bổ sung do sự biến động về giá hoặc những lý do về kỹ thuật Có nhà thầu cùng lúc triển khai thi công nhiều dự án nên ảnh hưởng đến tiến độ, thời gian thi công
Hai là, đánh giá về hiệu quả sử dụng vốn của dự án
Hiệu quả sử dụng vốn của dự án là hiệu suất đầu tư của dự án Hiệu suất đầu tư của dự án là hiệu quả gia tăng trên tổng số vốn đã đầu tư Đây là tiêu chí quan trọng, thể hiện tính khoa học và hợp lý của dự án Tiêu chí này
là cơ sở khoa học để xem xét, đánh giá và tính toán hiệu quả kinh tế mà dự án đem lại Khi đánh giá về hiệu suất đầu tư của dự án cần phân tích, đánh giá về kết quả công tác quản lý và sử dụng nguồn vốn Kết quả công tác quản lý và
sử dụng nguồn vốn được biểu hiện ở hiệu quả sử dụng vốn Hiệu quả sử dụng vốn thấp do việc sử dụng không đúng mục đích, đầu tư không có trọng điểm,