1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp hạn chế thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh áp dụng hiệp ước vốn basel tại các Ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

136 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 2,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải pháp hạn chế thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh áp dụng hiệp ước vốn basel tại các Ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Giải pháp hạn chế thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh áp dụng hiệp ước vốn basel tại các Ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-

ĐỖ THỊ MINH CHÂU

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG BỐI CẢNH ÁP DỤNG HIỆP ƯỚC VỐN BASEL II TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-

ĐỖ THỊ MINH CHÂU

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG BỐI CẢNH ÁP DỤNG HIỆP ƯỚC VỐN BASEL II TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số đề tài: 2016BQLKT -HCM01

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Trần Thị Ánh

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu và kết quả trong luận văn là hoàn toàn đúng với thực tế và chưa được ai công bố trong tất cả các công trình nào trước đây Tất cả các trích dẫn

đã được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2018

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Minh Châu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian thu thập tài liệu, nghiên cứu và thực hiện, đến nay tác giả đã

hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài luận văn: "Giải pháp hạn chế thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh áp dụng Hiệp ước vốn Basel II tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh", chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Tác giả xin trân trọng cảm ơn cô giáo TS Trần Thị Ánh đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ để tác giả hoàn thành tốt nhiệm vụ của luận văn đặt ra

Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Bách Khoa

Hà Nội, các Thầy, Cô Viện Đào tạo Sau đại học, Viện Kinh tế & Quản lý đã tạo điều kiện, nhiệt tình giúp đỡ cho tác giả trong quá trình làm luận văn

Cuối cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên, khích lệ trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Mặc dù luận văn đã hoàn thiện với tất cả sự cố gắng, nhiệt tình cũng như năng lực của bản thân, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tác giả rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của Quý thầy cô và đồng nghiệp, để luận văn hoàn thiện hơn, thực sự hữu ích cho hoạt động thực tiễn của doanh nghiệp vừa và nhỏ Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cũng như doanh nghiệp Việt Nam nói chung Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2018

Tác giả

Đỗ Thị Minh Châu

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ HIỆP ƯỚC VỐN BASEL II 5

1.1 Các khái niệm sử dụng trong đề tài 5

1.1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ 5

1.1.2 Hiệp ước vốn Basel II 14

1.2 Thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ khi các ngân hàng thương mại áp dụng Hiệp ước vốn Basel II 23

1.2.1 Những cơ hội đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ khi các ngân hàng thương mại áp dụng Hiệp ước vốn Basel II 24

1.2.2 Những thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ khi các ngân hàng thương mại áp dụng Hiệp ước vốn Basel II 24

1.3 Những nhân tố tác động tới thách thức của doanh nghiệp vừa và nhỏ từ việc thực hiện hiệp ước Basel II của các ngân hàng thương mại 28

1.3.1 Những nhân tố bên trong 28

1.3.2 Những nhân tố bên ngoài 29

1.4 Kinh nghiệm về việc hạn chế những thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ khi ngân hàng áp dụng Hiệp ước Basel II tại một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 31

1.4.1 Kinh nghiệm từ Hoa Kỳ 31

1.4.2 Kinh nghiệm từ Áo 33

1.4.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 37

CHƯƠNG 2: NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ KHI NGÂN HÀNG ÁP DỤNG HIỆP ƯỚC VỐN BASEL II TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 38

2.1 Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 38

2.1.1 Những đặc điểm cơ bản về kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh có ảnh hưởng tới các doanh nghiệp vừa và nhỏ 38

Trang 6

2.1.2 Giới thiệu về doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 43 2.2 Thực trạng về thách thức của doanh nghiệp vừa và nhỏ khi ngân hàng áp dụng

hiệp ước vốn Basel II trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 58

2.2.1 Thách thức về tìm kiếm thông tin và tiếp cận ngân hàng 61

2.2.2 Thách thức trong quá trình làm thủ tục xin vay 67

2.2.3 Thách thức về tài sản đảm bảo 71

2.2.4 Thách thức trong việc sử dụng tiền vay và trả nợ 73

2.2.5 Thách thức về uy tín của doanh nghiệp, trình độ của chủ doanh nghiệp 75

2.3 Nguyên nhân của những thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ từ khi ngân hàng áp dụng hiệp ước vốn Basel II trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 78

2.3.1 Nguyên nhân khách quan 78

2.3.2 Nguyên nhân chủ quan 80

2.4 Đánh giá, nhận xét về tác động từ những thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ khi ngân hàng áp dụng hiệp ước vốn Basel II trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 82

2.4.1 Tác động tích cực từ những thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ khi ngân hàng áp dụng hiệp ước vốn Basel II trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 82

2.4.2 Tác động tiêu cực từ những thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ khi ngân hàng áp dụng hiệp ước vốn Basel II trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 83

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 85

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ KHI NGÂN HÀNG ÁP DỤNG HIỆP ƯỚC VỐN BASEL II TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 86

3.1 Định hướng đối với việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới 86

3.1.1 Định hướng đối với phát triển doanh nghiệp Việt Nam và chương trình hành động của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời gian tới 86

3.1.2 Định hướng đối với việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới 90

3.2 Giải pháp đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 94

3.3 Giải pháp đối với quản lý nhà nước cấp Trung ương 98

3.4 Giải pháp đối với quản lý nhà nước cấp địa phương 102

3.5 Giải pháp đối với Ngân hàng Nhà nước 106

3.6 Giải pháp đối với các ngân hàng thương mại 110

Trang 7

3.7 Giải pháp với Hiệp hội Doanh nghiệp Thành phố 114

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 115

KẾT LUẬN 116

TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Ngân hàng Thế giới phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ 5

Bảng 1.2: Liên minh châu Âu phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ 5

Bảng 1.3: Phillippines phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ 6

Bảng 1.4: Malaysia phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ 6

Bảng 1.5: Trung Quốc phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ 6

Bảng 1.6: Việt Nam phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ 7

Bảng 1.7: Số lượng doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ, vừa và lớn theo quy mô lao động 9

Bảng 1.8: Ý định áp dụng Basel II giai đoạn 2007-2015 của các nước thành viên không thuộc Uỷ ban Basel 20

Bảng 1.9: Kế hoạch thực thi Basel II tại các nước Châu Á 21

Bảng 2.1: Tình hình thực hiện các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017 42

Bảng 2.2: Số lượng doanh nghiệp hoạt động trong năm 2016 phân theo quy mô và ngành kinh tế 45

Bảng 2.3 : Tỷ trọng doanh nghiệp hoạt động trong năm 2016 phân theo quy mô và ngành kinh tế 46

Bảng 2.4: Số lượng lao động làm việc tại các doanh nghiệp trong năm 2016 phân theo quy mô và ngành kinh tế 49

Bảng 2.5: Tỷ trọng lao động làm việc tại các doanh nghiệp trong năm 2016 phân theo quy mô và ngành kinh tế 51

Bảng 2.6 Lý do doanh nghiệp giảm quy mô và giải thể 54

Bảng 2.7: Định hướng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc chuỗi giai đoạn 2016 - 2017 54

Bảng 2.8: Thực trạng mặt bằng kinh doanh của các doanh nghiệp 54

Bảng 2.9: Đánh giá của doanh nghiệp về chất lượng cơ sở hạ tầng tại Thành phố 55

Bảng 2.10: Nguyên nhân doanh nghiệp không được hưởng chính sách miễn giảm, giãn thuế của Chính phủ 56

Bảng 2.11: Mức độ tiếp cận các nguồn vốn 61

Bảng 2.12: Tỷ lệ vay vốn của doanh nghiệp tại ngân hàng 65

Bảng 2.13: Các rào cản đối với doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng 67

Bảng 2.14: Ngân hàng đánh giá doanh nghiệp 68

Bảng 2.15: Khó khăn của doanh nghiệp 68

Bảng 2.16: Doanh nghiệp tin về bảng xếp hạng 77

Bảng 3.1: Kế hoạch thành lập doanh nghiệp của các quận huyện từ năm 2017 đến năm 2020 92

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Số lượng DNVVN theo quy mô lao động và theo quy mô vốn 9

Hình 2.1 : Tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội của Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017 39

Hình 2.2: Tình hình xuất nhập khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017 40

Hình 2.3: Tình hình thu chi ngân sách Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017 40

Hình 2.4: Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017 41

Hình 2.5: Kết quả hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2016 43

Hình 2.6: Số lượng doanh nghiệp thực hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2017 phân theo loại hình quy mô 44

Hình 2.11: Số năm hoạt động của các doanh nghiệp 59

Hình 2.12: Số lao động làm việc tại các doanh nghiệp 59

Hình 2.13: Quy mô vốn của các doanh nghiệp 59

Hình 2.14: Ngành nghề kinh doanh của các doanh nghiệp 60

Hình 2.15: Số năm hoạt động của các doanh nghiệp 60

Hình 2.16: Các doanh nghiệp phân theo quy mô 61

Hình 2.17: Ngành nghề kinh doanh của các doanh nghiệp 61

Hình 2.18: Tỷ lệ được vay so với nhu cầu của doanh nghiệp 62

Hình 2.19: Mức độ doanh nghiệp vay vốn từ ngân hàng 63

Hình 1.20: Doanh nghiệp biết về thông tin cho vay của ngân hàng 64

Hình 2.21: Ngân hàng cho doanh nghiệp vay vốn 65

Hình 2.22: Vướng mắc của doanh nghiệp 69

Hình 2.23: Cơ cấu tài sản của doanh nghiệp 71

Hình 2.24: Số lượng ngân hàng doanh nghiệp vay vốn 72

Hình 2.25: Mục đích vay của doanh nghiệp 74

Hình 2.26: Doanh nghiệp xây dựng phương án phòng ngừa rủi ro 74

Hình 2.27: Doanh nghiệp xây dựng chiến lược kinh doanh 74

Hình 2.28: Ảnh hưởng từ bảng xếp hạng tới doanh nghiệp 77

Hình 2.29: Doanh nghiệp với Hiệp ước vốn Basel II 78

Trang 10

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tiếng Việt

DN Doanh nghiệp

DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ

NHTM Ngân hàng thương mại

Tiếng Anh

AMA: Advanced measurement approaches - Tiếp cận theo phương

pháp đo lường hiện đại A-IRB Advanced internal rating-based - Đánh giá nội bộ nâng caoAPEC Asia-Pacific Economic Cooperation - Diễn đàn Hợp tác kinh

tế Châu Á - Thái Bình Dương ASEAN Association of Southeast Asian Nations - Hiệp hội các quốc gia

Đông Nam Á ASEM Asia-Europe Meeting - Diễn đàn hợp tác Á - Âu

CAR Capital Adequacy Ratio - Tỷ lệ hoàn vốn

EAD Exposure at default - Rủi ro không trả được nợ

EU Europe United - Liên minh Châu Âu

GDP Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm nội địa

ICAAP Internal Capital Adequacy Assessment - Quy trình đánh giá

vốn rủi ro LGD Loss given default - Tỷ lệ tổn thất khi khách hàng không trả

được nợ LOS Loan Origination System - Hệ thống khởi tạo khoản vay

OECD Organization for Economic Cooperation and Development -

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế

PD: Probability of default- Xác suất không trả được nợ

RWA Risk-weighted asset - Tài sản có rủi ro

TFP Total Fartor Productivity - Năng suất các nhân tố tổng hợp

WTO World Trade Organization - Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do thực hiện đề tài

Để hoà nhập vào xu thế toàn cầu hoá hiện nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có chú ý tuân thủ theo các thông lệ và chuẩn mực quốc tế khi xây dựng hệ thống pháp lý về tiền tệ và hoạt động của ngân hàng Bản thân các tổ chức tín dụng Việt Nam cũng có những quan tâm và cố gắng trong việc nâng cao năng lực quản trị điều hành, đặc biệt là quan tâm đến năng lực quản trị rủi ro Điều này cho thấy việc tiếp cận và áp dụng các chuẩn mực của Basel II đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tín dụng Việt Nam quan tâm, chú trọng

Với một nước như Việt Nam, hệ thống ngân hàng đang ở giai đoạn phát triển ban đầu chắc chắn việc áp dụng Basel II sẽ đối mặt với nhiều khó khăn Tuy nhiên,

sự ảnh hưởng của hậu khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế cùng với xu thế của việc hội nhập phải mở cửa thị trường dịch vụ tài chính - ngân hàng đang đặt ra một yêu cầu cấp bách cần nhanh chóng áp dụng Basel II tại Việt Nam nhằm tăng cường năng lực hoạt động và giảm thiểu rủi ro đối với các ngân hàng thương mại Việc các ngân hàng thương mại thực hiện Hiệp ước Basel II sẽ là một tác động mạnh trực tiếp tới việc huy động vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay do nguồn vốn vay từ ngân hàng thương mại là nguồn vốn huy động phổ biến, thường xuyên của doanh nghiệp Xuất phát điểm từ sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ cộng thêm áp lực cạnh tranh bởi xu thế hội nhập toàn cầu, hiện các doanh nghiệp Việt Nam rất cần tăng nguồn vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh Việc các ngân hàng thương mại tăng cường kiểm soát rủi ro trong hoạt động kinh doanh sẽ thúc đẩy xu hướng lành mạnh hoá của thị trường tài chính, nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế, góp phần tăng trưởng bền vững Nhưng mặt khác lại

là trở ngại lớn cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh muốn tiếp cận vốn vay ngân hàng, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện chiếm tỷ lệ cao trong hệ thống doanh nghiệp tại Việt Nam, có những đóng góp trực tiếp vào nền kinh tế quốc gia và cũng là loại hình doanh nghiệp chịu ảnh hưởng nhanh nhất, nhiều nhất khi các chính sách tài chính tín dụng thay đổi Các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam thường gắn với những ngành kinh tế phổ thông, trình độ công nghệ thấp, thâm dụng lao động thủ công, quy mô vốn nhỏ, trình độ quản lý chưa cao nên khả năng tự đổi mới rất hạn chế Chính vì vậy khi các ngân hàng thương mại áp dụng Hiệp ước Basel II thì nhóm các doanh nghiệp vừa và nhỏ càng khó đáp ứng các yêu cầu cho vay từ ngân hàng Điều này sẽ làm ảnh hưởng sâu sắc tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo những trở ngại cho doanh nghiệp trong việc mở rộng quy

Trang 12

mô hoạt động, nâng cao trình độ nguồn lao động, áp dụng đổi mới khoa học - công nghệ do thiếu vốn đầu tư và hệ quả tiếp theo sẽ làm giảm năng lực cạnh tranh của của doanh nghiệp vừa và nhỏ, của toàn bộ doanh nghiệp Việt Nam, của nền kinh tế Việt Nam

Vậy làm sao để các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam vẫn thuận lợi trong việc tiếp cận nguồn vốn vay từ ngân hàng thương mại khi các ngân hàng thương mại áp dụng Hiệp ước Basel II ? Điều này đòi hỏi sự quan tâm từ phía Nhà nước với vai trò là người hoạch định, tổ chức các hoạt động của nền kinh tế quốc dân, các ngân hàng thương mại với tư cách là các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp từ Hiệp ước, các doanh nghiệp vừa và nhỏ là đối tượng chịu sự tác động gián tiếp của Hiệp ước đều cần có những quyết tâm mạnh và sự nỗ lực cao nhằm tháo gỡ những khó khăn của bản thân trong việc tuân thủ Hiệp ước và cũng rất cần có sự liên kết giữa Nhà nước - ngân hàng - doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng nhau hợp tác

để tháo gỡ

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa phương thuộc nhóm đi đầu cả nước trong phát triển kinh tế Hiện nay doanh nghiệp và nhỏ của Thành phố cũng chiếm tỷ trọng cao, đang tham gia hoạt động trải rộng trên nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế Thành phố cũng là nơi có các hoạt động tài chính sôi động bởi sự tham gia của nhiều ngân hàng thương mại, có chi nhánh của Ngân hàng Nhà nước đóng trên địa bàn Điều trên cho thấy hoạt động kinh tế của thành phố sẽ có những thay đổi nhất định từ việc thực hiện Hiệp ước Basel II và cũng góp phần tác động không nhỏ

tới kinh tế quốc gia Chính vì vậy tác giả chọn hướng nghiên cứu về "Giải pháp hạn chế thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh áp dụng Hiệp ước Basel II tại ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh" làm đề tài nghiên cứu với mục tiêu đưa ra các kiến nghị, giải pháp giúp cho

các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh sẽ có nhiều cơ hội và những thuận lợi khi tiếp cận nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Tính đến thời điểm tác giả đề xuất tên của đề tài, các tài liệu trong nước nghiên cứu về thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ khi ngân hàng áp dụng Hiệp ước vốn Basel II là hoàn toàn không có Các tài liệu nghiên cứu tại Việt Nam theo hai hướng, một là nghiên cứu về thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, hai là nghiên cứu về những tác động của Hiệp ước Basel II tới hoạt động của các ngân hàng thương mại Chưa có bất kỳ một nghiên cứu, bài tham luận, bài báo, tin tức nào tại Việt Nam có nghiên cứu, đề cập về thách thức đối với doanh nghiệp vừa

Trang 13

và nhỏ khi ngân hàng áp dụng Hiệp ước vốn Basel II Qua quá trình tìm hiểu của tác giả về tài liệu nước ngoài trên nguồn cung cấp của Google, hiện cũng không có đề tài nghiên cứu cụ thể về thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ khi ngân hàng

áp dụng Hiệp ước vốn Basel II Các tài liệu nghiên cứu tại nước ngoài có liên quan đến Basel II chủ yếu nghiên cứu về tác động của Basel II tới hoạt động của các ngân hàng, tới thị trường tín dụng vừa và nhỏ và qua đó có nhắc tới doanh nghiệp vừa và nhỏ ở góc độ thông tin mở rộng giúp cho việc nghiên cứu có tính chất toàn diện hơn chứ không đi sâu vào nghiên cứu cụ thể doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh các ngân hàng áp dụng Basel II Nhận thấy nghiên cứu về thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ khi ngân hàng áp dụng Hiệp ước vốn Basel II là một nội dung nghiên cứu có khoảng trắng rất lớn trong nghiên cứu khoa học hiện nay nên tác giả đã chọn đề tài này

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

a Mục đích của đề tài

Mục đích chủ yếu của luận văn là góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về những thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh áp dụng Hiệp ước Basel II tại ngân hàng thương mại; phân tích và đánh giá thực trạng của những thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh áp dụng Hiệp ước Basel II tại ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, chỉ ra các nguyên nhân của thực trạng đó

Từ những nguyên nhân, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh áp dụng Hiệp ước Basel II tại ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, đưa ra một số kiến nghị nhằm tăng thêm tính khả thi của các giải pháp trong thực tế

b Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu, phân tích đánh giá thực trạng của những thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh áp dụng Hiệp ước Basel II tại ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và tìm ra nguyên nhân của thực trạng

Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh áp dụng Hiệp ước Basel II tại ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, đưa ra một số kiến nghị nhằm tăng thêm tính khả thi của các giải pháp trong thực tế

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: giải pháp nhằm hạn chế thách thức khi tiếp cận vay

vốn từ ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh áp dụng Hiệp ước Basel II tại ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Trang 14

Phạm vi nghiên cứu: Việc tiếp cận vay vốn từ ngân hàng của doanh nghiệp

vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2016 -2018

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được viết dựa trên phương pháp chính là thu thập dữ liệu từ các cuộc điều tra, khảo sát trực tiếp và gián tiếp Phương pháp nghiên cứu sử dụng là phương pháp điều tra bảng hỏi, phân tích thống kê, phân tích so sánh,

Cơ sở lý luận được tổng kết từ các tài liệu nghiên cứu về Hiệp ước vốn Basel

II, tài liệu nghiên cứu về doanh nghiệp vừa và nhỏ từ nhiều nguồn tham khảo trong nước và quốc tế

Các phương pháp nêu trên giúp luận văn tiếp cận vấn đề từ nhiều góc độ, từ lý thuyết đến thực tiễn, qua đó giúp luận văn đánh giá khách quan hơn, đề xuất các giải pháp mang tính khả thi hơn

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thách thức của doanh nghiệp vừa và

nhỏ và hiệp ước vốn Basel II

Chương 2: Những thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ khi ngân hàng

áp dụng hiệp ước vốn Basel II trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp hạn chế thách thức đối với doanh nghiệp

vừa và nhỏ khi ngân hàng áp dụng hiệp ước vốn Basel II trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ HIỆP

ƯỚC VỐN BASEL II

1.1 Các khái niệm sử dụng trong đề tài

1.1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.1.1.1 Khái niệm

Theo mục 7 điều 1 chương 1 luật Doanh nghiệp 2014 do Quốc hội Việt Nam phê chuẩn: doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tài sản và tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh

Có nhiều tiêu chí để phân loại doanh nghiệp như căn cứ dựa trên chế độ trách nhiệm, bản chất kinh tế của chủ sở hữu, hình thức pháp lý của doanh nghiệp,

tư cách pháp nhân Trong phạm vi luận văn này người viết nghiên cứu doanh nghiệp vừa và nhỏ, nghĩa là căn cứ theo tiêu chí phân loại doanh nghiệp dựa trên quy mô hoạt động

Ngân hàng Thế giới phân loại doanh nghiệp theo quy mô hoạt động dựa trên hai tiêu chí số lao động sử dụng tại doanh nghiệp và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp, theo đó:

Bảng 1.1: Ngân hàng Thế giới phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ

Loại hình Số lao động (người) Nguồn vốn kinh doanh

Doanh nghiệp nhỏ 10- dưới 200 ≤ 20 tỷ

Doanh nghiệp siêu nhỏ ≤ 10

Nguồn: Wikipedia Mỗi quốc gia có tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ dựa trên tình hình hoạt động thực tiễn của mình

Liên minh châu Âu đưa ra định nghĩa để xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2005 áp dụng cho tất cả hoạt động của Cộng đồng:

Bảng 1.2: Liên minh châu Âu phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ

Tổng cân đối kế toán hàng năm

Doanh nghiệp vừa < 250 ≤ € 50 triệu ≤ € 43 triệu

Doanh nghiệp nhỏ < 50 ≤ € 10 triệu ≤ € 10 triệu

Doanh nghiệp siêu nhỏ < 10 ≤ € 2 triệu ≤ € 2 triệu

Nguồn: European Commission 2003 Phillippines định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ như sau: (Bảng 1.3)

Trang 16

Bảng 1.3: Phillippines phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ

Loại hình Số lao động (người) Nguồn vốn kinh doanh

Doanh nghiệp vừa 100 đến 190 P 15 triệu < NVKD ≤ P 100 triệu Doanh nghiệp nhỏ 10 đến 99 P 3 triệu <NVKD ≤ P 15 triệu Doanh nghiệp siêu nhỏ 1đến 9 ≤ P 3 triệu

Nguồn: National Statistics Office and Small and Medium Enterprise Development Council Resolution No 1, Series 2003

Malaysia định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ: (Bảng 1.4)

Bảng 1.4: Malaysia phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ

(người) Nguồn vốn kinh doanh

Doanh nghiệp vừa từ 100 đến 190 RM 15 triệu < NVKD ≤RM 100 triệu Doanh nghiệp nhỏ từ 5 đến < 75 RM 0.3 triệu <NVKD < RM 15 triệu Doanh nghiệp siêu nhỏ < 5 < RM 0.3 triệu

Nguồn: SME Corporation Malaysia Doanh nghiệp vừa và nhỏ được Trung Quốc xác định theo ngành:

Bảng 1.5: Trung Quốc phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ

Truyền tải thông tin <2000 ≤ 1 b

Nguồn: SME pomotion law of China, 2003 Tại Việt Nam, Nghị định số 90 của Chính phủ ban hành năm 2001 là văn bản đầu tiên từ quản lý nhà nước có đề cập tiêu chí cụ thể xác định đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Theo điều 3 chương 1 Nghị định số 90/2001/NĐ-CP, doanh nghiệp vừa

và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật

Trang 17

hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người

Sau đó, Nghị định số 56 của Chính phủ ban hành năm 2009 đã có điều chỉnh định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ như sau: Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể:

Bảng 1.6: Việt Nam phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ

Quy mô

Khu vực

Doanh nghiệp siêu nhỏ

Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa

Số lao động

Tổng nguồn vốn

Số lao động

Tổng nguồn vốn

Số lao động

I Nông, lâm

nghiệp và

thủy sản

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

200 người

từ trên 20 tỷ đồng đến

100 tỷ đồng

từ trên 200 người đến

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

200 người

từ trên 20 tỷ đồng đến

100 tỷ đồng

từ trên 200 người đến

10 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

50 người

từ trên 10 tỷ đồng đến 50

tỷ đồng

từ trên 50 người đến

100 người

Nguồn: Nghị định 56 NĐ/CP /2009 của Chính Phủ Việt Nam

Và mới đây nhất theo Nghị định số 39 của Chính phủ ban hành năm 2018, tại điều 6, doanh nghiệp vừa và nhỏ bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp Cách phân loại của Nghị định số 39/2018/NĐ-CP được phân theo quy mô gắn với lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp:

Khoản 1: Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng

Trang 18

Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng

Khoản 2: Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản

và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này

Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này

Khoản 3: Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản

và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này

Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này

1.1.1.2 Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ

Doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện là loại hình doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế Việt Nam và có sự gia tăng nhanh về số lượng hơn nhiều so với doanh nghiệp lớn trong giai đoạn 2005-2015 (Hình 1.1)

Bảng 1.7 cho thấy trong giai đoạn 2005- 2015, số doanh nghiệp tăng lên đều đặn qua các năm Tuy nhiên xét theo khu vực thì số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm dần trong khi số lượng doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng mạnh và tăng tiếp theo là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Khu vực doanh nghiệp nhà nước có

số doanh nghiệp lớn chiếm tỷ trọng lớn nhất, sau đó tới doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa và rất ít doanh nghiệp siêu nhỏ Khu vực ngoài nhà nước chủ yếu là doanh nghiệp siêu nhỏ rồi đến doanh nghiệp nhỏ và rất ít doanh nghiệp lớn cùng doanh nghiệp vừa Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có số lượng doanh nghiệp tập trung nhiều ở doanh nghiệp nhỏ, sau đó lần lượt là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp lớn và ít doanh nghiệp vừa

Trang 19

Hình 1.1: Số lượng DNVVN theo quy mô lao động và theo quy mô vốn

Nguồn: Sách trắng Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, 2017 Bảng 1.7: Số lượng doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ, vừa và lớn theo quy mô lao động

Doanh nghiệp ngoài nhà nước 98.833 268.831 427.709

Trang 20

Năm 2005 2010 2015

Nguồn: Sách trắng Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, 2017

Theo số liệu từ Cục Phát triển doanh nghiệp thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến cuối năm 2016 có 380.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ được thành lập, vượt cao so với mục tiêu là 350.000 Khối doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp khoảng 45% vào GDP, 31% vào tổng số thu ngân sách và chiếm khoảng 35% vốn đầu tư của cộng đồng doanh nghiệp nói chung, thu hút hơn 5 triệu việc làm và đóng góp gần 50% vào tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc gia hằng năm

Số liệu điều tra sơ bộ năm 2017 do Tổng cục Thống kê công bố, xét theo qui

mô lao động, tại thời điểm 01/01/2017 cả nước có hơn 10 nghìn doanh nghiệp lớn, tăng 29% so với năm 2012 và chiếm 1,9% tổng số doanh nghiệp, giảm so với 2,3% của năm 2012 Doanh nghiệp vừa tăng 23,6%, doanh nghiệp nhỏ tăng 21,2% và doanh nghiệp siêu nhỏ tăng tới 65,5% và chiếm 74% tổng số doanh nghiệp Tỷ trọng các doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng tới 6 điểm phần trăm so với năm 2012 trong khi tỷ trọng lao động giảm 0,8 điểm phần trăm, điều này cho thấy qui mô doanh nghiệp đang nhỏ dần Theo nhận xét của ông Phạm Đình Thuý, Vụ trưởng

Vụ thống kê công nghiệp và xây dựng, kết quả thống kê số lượng doanh nghiệp lớn giảm, số lượng doanh nghiệp nhỏ tăng và doanh nghiệp siêu nhỏ tăng mạnh là phù

hợp với điều kiện Việt Nam Ông Thuý cho hay: " Thực tế trên xuất phát từ việc nước ta có một thời gian dài trải qua chiến tranh, đổi mới phát triển, Do đó, các điều kiện về nguồn lực, con người, vốn, khoa học kỹ thuật, đầu tư còn nhiều hạn chế, năng suất chất lượng nền kinh tế còn chưa tương xứng với tiềm năng Xu hướng tăng doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ còn tiếp tục trong thời gian tới Tuy nhiên, dần dần chúng ta sẽ có nhiều hơn doanh nghiệp lớn có chuỗi kinh tế toàn cầu Hiện tại, các doanh nghiệp như thế chỉ chiếm trên đầu ngón tay và đang được nâng dần qua các năm."

Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam tồn tại những điểm hạn chế cơ bản

sau:

Thứ nhất, vì tồn tại trong bối cảnh của một nền kinh tế kém phát triển đang

dần chuyển đổi thành nền kinh tế đang phát triển nên hầu hết các doanh nghiệp vừa

và nhỏ của Việt Nam cùng có điểm xuất phát chung từ kinh tế hộ gia đình, từ nguồn

Trang 21

vốn tích luỹ nhỏ lẻ trong dân Chính vì có quy mô vốn nhỏ nên doanh nghiệp thường gặp những khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn chính thức, việc sử dụng lao động trình độ cao, việc triển khai, áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ mới vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và điều này dẫn đến kém sức cạnh tranh

Thứ hai, do vốn ít nên doanh nghiệp vừa và nhỏ thường gặp khó khăn về mặt

bằng sản xuất kinh doanh Chi phí đầu tư, thuê mặt bằng cao làm mất cân đối nguồn vốn của doanh nghiệp, làm giảm nguồn chi của doanh nghiệp cho lao động, cho đầu

tư máy móc, thiết bị, mua nguyên vật liệu, cho khoa học công nghệ, làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh

Thứ ba, chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ thường là chủ hộ kinh tế gia đình hoặc

là người được gia đình, người thân quen tin tưởng cấp vốn, góp vốn nên không nhất định phải có bằng cấp chuyên môn về lĩnh vực kinh tế, cũng không bắt buộc phải tham gia các khoá đào tạo về quản trị kinh doanh, về quản lý kinh tế, về luật trong kinh doanh, vì vậy trình độ quản lý thấp, kỹ năng quản lý có nhiều hạn chế Các chủ doanh nghiệp thường có tâm lý hoạt động theo kinh nghiệm cá nhân nên hay mắc lỗi chủ quan khi quản lý điều hành và dẫn đến sai sót trong kinh doanh, thậm chí là những hậu quả lớn như vi phạm pháp luật

Thứ tư, lực lượng lao động trong doanh nghiệp vừa và nhỏ có trình độ thấp, tỷ

lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ trọng cao Do đó khu vực doanh nghiệp vừa

và nhỏ có năng suất lao động thấp, thu nhập của người lao động thấp và không ổn định Những hạn chế về nguồn vốn đầu tư, về trình độ quản lý cũng gây cho người lao động nảy sinh tâm lý không muốn gắn bó lâu dài với doanh nghiệp và làm cho doanh nghiệp bất ổn trong sản xuất kinh doanh do hiện tượng người lao động nhảy việc, nghỉ việc đột ngột và hàng loạt

Thứ năm, từ những hạn chế về vốn, về lao động, về khoa học công nghệ nên doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn có chi phí sản xuất cao, hiệu quả kinh doanh thấp, tỷ

lệ hàng tồn kho lớn, tỷ lệ rủi ro kinh doanh cao Suốt 10 năm qua, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới cuối năm 2008 đã có nhiều tác động xấu đến kinh tế Việt Nam, số lượng các doanh nghiệp mới thành lập, giải thể, phá sản của Việt Nam tăng cao đột biến mà trong đó chiếm phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ

Thứ sáu, doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn chịu sự cạnh tranh khốc liệt từ các công ty, tập đoàn lớn và từ chính các doanh nghiệp cùng loại hình với nhau Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các công ty, tập đoàn lớn thường thành lập các chi nhánh, công ty con ở mọi các quốc gia trên thế giới Với sự hậu thuẫn từ công ty

mẹ, tập đoàn nên các chi nhánh, công ty con có nhiều lợi thế cạnh tranh hơn so với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Sức ép này buộc các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt

Trang 22

Nam hiện nay luôn phải có những đổi mới, sáng tạo trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và đồng thời cũng làm xu hướng cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ với nhau

Thứ bảy, với nguồn vốn nhỏ hẹp và lao động trình độ thấp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường tập trung phát triển ở các ngành hàng gần gũi với người tiêu dùng hơn là chú ý đầu tư vào các ngành công nghiệp nặng, sản xuất khai thác cần nhiều vốn hoặc các ngành gắn với khoa học công nghệ hiện đại Vì vậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường ít chú ý tới đổi mới, nhiều sức ì trong sản xuất kinh doanh

Thứ tám, việc tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu của doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay có nhiều khó khăn do hạn chế bên trong của doanh nghiệp cũng như những hạn chế bên ngoài như bất cập trong cơ chế chính sách của Nhà nước, kinh tế thị trường chưa hoàn thiện, thiếu thông tin, các trung tâm xúc tiến và hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động chưa hiệu quả

1.1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Doanh nghiệp vừa và nhỏ có những đóng góp quan trọng trong góp phần giải phóng sức sản xuất, thu hút mọi nguồn lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước Đây là khu vực có sử dụng lực lượng lao động đông nhất, tham gia tích cực vào giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động Với tỷ trọng ngày càng cao, doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia ngày càng đông vào nền kinh tế với nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau Doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng cung cấp nhiều hàng hoá, dịch vụ trên thị trường, góp phần gia tăng cơ hội lựa chọn trong tiêu dùng của người dân, thúc đẩy phát triển sản xuất và lưu thông nền kinh tế Doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia gây dựng cơ sở và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế Hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ giúp hồi sinh và phát triển một số ngành nghề truyền thống mà còn tạo điều kiện cho sự xuất hiện của những ngành nghề mới giúp cho hoạt động của nền kinh tế gia tăng về

số lượng các ngành nghề kinh tế, có khả năng tận dụng tối đa tiềm năng kinh tế quốc gia, phát huy các thế mạnh của nền kinh tế và thúc đẩy gia tăng hiệu quả trong hoạt động kinh tế

Doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần thiết lập chuỗi sản xuất, hình thành mạng lưới hoạt động kinh tế chặt chẽ và chuyên sâu cho các ngành, vùng và toàn bộ nền kinh tế Doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ phát triển đa dạng trong các ngành, lĩnh vực theo khả năng mà còn có sự gắn kết mật thiết với doanh nghiệp lớn trong vai trò là người cung ứng đầu vào, tiêu thụ đầu ra, hỗ trợ cho hoạt động của các doanh nghiệp lớn Nhờ có các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm vệ tinh mà Việt Nam

Trang 23

hiện đang hình thành mạng, chuỗi cung ứng trong các ngành kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp lớn nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế cho ngành, vùng và quốc gia

Doanh nghiệp vừa và nhỏ là nhân tố quyết định sự năng động và chuyển đổi linh hoạt của nền kinh tế Với nguồn vốn ít, số lượng lao động nhỏ, phạm vi hoạt động hẹp nên doanh nghiệp vừa và nhỏ khá dễ dàng trong chuyển đổi mặt hàng, chuyển hướng sản xuất so với doanh nghiệp lớn Sự thay đổi tích cực và hiệu quả của doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo tiền đề cho các doanh nghiệp có khả năng thích ứng tốt hơn với những thay đổi của môi trường kinh tế và giúp cho toàn bộ hệ thống doanh nghiệp ổn định, hoạt động hiệu quả hơn

Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quyết định đối với phát huy tiềm năng, thế mạnh của kinh tế vùng Doanh nghiệp vừa và nhỏ có xu hướng gắn kết chặt chẽ, lâu dài với địa phương nơi doanh nghiệp được thành lập Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn ưu tiên sử dụng nguồn lực tại địa phương Chính vì vậy doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng đóng góp trực tiếp và lâu dài cho phát triển kinh tế địa phương thông qua thu hút tối đa nguồn vốn trong dân, huy động triệt để nguồn lực lao động, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên sẵn có tại địa phương

Doanh nghiệp vừa và nhỏ là nhân tố đóng góp tích cực vào xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá khi có tỷ trọng tham gia các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng cao so với tỷ trọng ngành nông nghiệp Hiệu quả từ hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động ở lĩnh vực nông nghiệp đã giúp các doanh nghiệp của các ngành công nghiệp, dịch vụ có nhiều cơ hội phát triển hơn thông qua mối quan hệ hợp tác trong trao đổi sản phẩm, phân phối các nguồn lực, chia sẻ lợi nhuận

Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một trong những nguồn tài chính hỗ trợ Nhà nước thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh tế - xã hội Với khoản trích từ hiệu quả sản xuất kinh doanh, các doanh ngiệp vừa và nhỏ đang ngày càng nhiều đóng góp tích cực vào nguồn thu ngân sách nhà nước, các chương trình xóa đói giảm nghèo của quốc gia

Doanh nghiệp vừa và nhỏ là vườn ươm các tài năng kinh doanh, đòn bẩy cho các chủ doanh nghiệp giỏi có cơ hội toả sáng Một doanh nghiệp lớn ra đời là kết quả trái ngọt từ sự thành công của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua một quá trình dài

Vì vậy chính từ môi trường doanh nghiệp vừa và nhỏ mà các chủ doanh nghiệp có môi trường thực tiễn để khám phá, học hỏi, trau dồi và hoàn thiện bản thân Những chủ doanh nghiệp vượt qua được sự sàng lọc tự nhiên của môi trường doanh nghiệp

Trang 24

vừa và nhỏ sẽ có năng lực hoàn thiện hơn, có khả năng tồn tại tốt hơn trong môi trường doanh nghiệp lớn và có nhiều đóng góp mạnh mẽ hơn cho sự phát triển kinh

tế quốc gia

1.1.2 Hiệp ƣớc vốn Basel II

1.1.2.1 Lịch sử ra đời

Vào cuối năm 1974, sau những khủng hoảng nghiêm trọng của thị trường tiền

tệ và ngân hàng quốc tế mà đặc biệt là sự thất bại của Bankhaus Herstatt ở Tây Đức, tại thành phố Basel của Thuỵ Sỹ, các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) đã cùng nhau thành lập Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS - Basel Committee on Banking Supervision) với mục đích tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt các ngân hàng trong thập kỷ 80

Các thành viên của Ủy ban hiện nay gồm đại diện ngân hàng trung ương hay

cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của các nước: Anh, Đức, Hà Lan, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Luxembourg, Ý, Bỉ, Mỹ, Canada và Nhật Ủy ban được nhóm họp gồm 4 lần trong một năm

Được đề xuất bởi Ngân hàng Thanh toán Quốc tế ở Basel, Hội đồng thư ký của Ủy ban gồm 15 thành viên là những nhà giám sát hoạt động ngân hàng chuyên nghiệp được biệt phái tạm thời từ các tổ chức tín dụng tài chính thành viên Ủy ban Basel và các tiểu ban sẵn sàng đưa ra những lời tư vấn cho các cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng ở tất cả các nước Ủy ban Basel không có chức năng như một

cơ quan giám sát, những kết luận của Uỷ ban này không có tính pháp lý và cũng không yêu cầu tuân thủ đối với việc giám sát hoạt động ngân hàng Thay vào đó, Ủy ban Basel chỉ xây dựng và công bố những tiêu chuẩn và những hướng dẫn giám sát rộng rãi, đồng thời giới thiệu các báo cáo thực tiễn tốt nhất với kỳ vọng rằng các tổ chức riêng lẻ sẽ áp dụng cho hệ thống quốc gia của chính họ thông qua cách sắp xếp, tổ chức phù hợp nhất Ủy ban luôn khuyến khích trong việc áp dụng cách tiếp cận và các tiêu chuẩn chung nhưng không hề có sự cố gắng can thiệp vào các kỹ thuật giám sát của các nước thành viên Ủy ban đưa ra các thông tin báo cáo cho thống đốc ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của nhóm G10 Việc áp dụng những tiêu chuẩn, các hướng dẫn cũng như những nỗ lực cải cách trong quản lý, giám sát của các ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng các nước thành viên có vai trò tạo động lực thúc đẩy hoàn thiện hơn cho những sáng kiến của Ủy ban Những tiêu chuẩn bao hàm một phạm vi rất rộng các vấn đề tài chính Mục tiêu quan trọng trong hoạt động của Ủy ban chính là thu hẹp khoảng cách giám sát quốc tế trên hai nguyên lý cơ bản là: (1) không ngân hàng nước ngoài nào được thành lập mà không có sự giám sát; và (2)

Trang 25

việc giám sát phải tương xứng Để đạt được mục tiêu đề ra, từ năm 1975 đến nay,

Ủy ban Basel đã ban hành rất nhiều văn bản, tài liệu liên quan đến hai nguyên lý trên

Năm 1988, Uỷ ban đã giới thiệu hệ thống đo lường vốn được đề cập hiện nay

là Hiệp ước vốn Basel (the Basel Capital Accord) hay còn được gọi là Basel I Hiệp ước không chỉ được phổ biến tại các quốc gia thành viên mà còn được phổ biến ở nhiều nước có các ngân hàng hoạt động quốc tế

Mục đích của Basel I: Củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng

quốc tế Thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế

Tiêu chuẩn của Basel I:

 Tỉ lệ vốn dựa trên rủi ro - “Tỉ lệ Cook”: tỉ lệ này được phát triển bởi BCBS với mục đích củng cố hệ thống ngân hàng quốc tế, đối tượng ban đầu là những ngân hàng hoạt động quốc tế, nhưng sau này đã được thực thi trên hơn 100 quốc gia Theo tiêu chuẩn này, ngân hàng phải giữ lại lượng vốn bằng ít nhất 8% của rổ tài sản, được tính toán theo nhiều phương pháp khác nhau và phụ thuộc vào độ rủi ro

và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2%

 Vốn cấp 1, cấp 2 và cấp 3: Thành tựu cơ bản của Basel I là đã đưa ra được định nghĩa mang tính quốc tế chung nhất về vốn của ngân hàng và một cái gọi là tỷ

lệ vốn an toàn của ngân hàng Tiêu chuẩn này quy định:

Vốn cấp 1 ≥ Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3

Vốn cấp 1 là lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phòng được công bố, như là khoản dự phòng cho các khoản vay, bao gồm: Vốn chủ sở hữu vĩnh viễn; Dự trữ công bố (Lợi nhuận giữ lại); Lợi ích thiểu số (minority interest) tại các công ty con, có hợp nhất báo cáo tài chính; Lợi thế kinh doanh (goodwill)

Vốn cấp 2 (Vốn bổ sung) gồm: Lợi nhuận giữ lại không công bố; Dự phòng đánh giá lại tài sản; Dự phòng chung/dự phòng thất thu nợ chung; Công cụ vốn hỗn hợp; Vay với thời hạn ưu đãi; Đầu tư vào các công ty con tài chính và các tổ chức tài chính khác

Vốn Cấp 3 (Dành cho rủi ro thị trường) = Vay ngắn hạn

 Vốn tính theo rủi ro gia quyền:

Trang 26

RWA = Tổng (Tài sản x Mức rủi ro phân định cho từng tài sản trong bảng cân đối kế toán) + Tổng (Nợ tương đương x Mức rủi ro ngoại bảng)

Basel I đưa ra trọng số rủi ro gồm 4 mức: quốc gia 0%; ngân hàng 20%; doanh nghiệp 100% Trọng số rủi ro không phản ánh độ nhạy cảm rủi ro trong mỗi loại này Hệ thống này cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu 8%

Những thiếu sót của Basel I: Sau khi rủi ro tín dụng được thiết lập vào năm

1988, Uỷ ban Basel đã chuyển sự chú ý của họ sang rủi ro thị trường để phản ứng lại các hoạt động kinh doanh chuyên hữu ngày càng tăng của các ngân hàng thương mại và đến năm 1996, Basel I đã được sửa đổi với mục đích tính đến cả phí vốn đối với rủi ro thị trường Mặc dù vậy, Basel I vẫn có khá nhiều điểm hạn chế Một trong những điểm hạn chế cơ bản của Basel I là không đề cập đến một loại rủi ro đang ngày càng trở nên phức tạp với mức độ ngày càng tăng lên, đó là rủi ro vận hành (không có yêu cầu vốn dự phòng rủi ro vận hành) Ngoài ra, còn một số điểm hạn chế khác, như: không phân biệt theo loại rủi ro, không có lợi ích từ việc đa dạng hóa…

Với mục tiêu nhằm khắc phục những hạn chế của Basel I, Uỷ ban Basel đã

đề xuất khung đo lường mới vào tháng 6/1999 và đến ngày 26/6/2004, bản Hiệp ước quốc tế về vốn mới (Basel II) đã được chính thức ban hành Trong nhóm các mục tiêu của Basel II có sự kế thừa từ Basel I với hai mục tiêu gồm (1) Nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế; (2) Tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên bình diện quốc tế; và bổ sung thêm mục tiêu (3) Đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro

Lịch sử vắn tắt của Hiệp ước vốn Basel : (1) Năm 1988, Hiệp ước vốn Basel đầu tiên (Basel I) ra đời và có hiệu lực từ 1992 (2) Năm 1996, Basel I được bổ sung thêm rủi ro thị trường (được thực thi chậm nhất vào ngày 1/1/1998) (3) Tháng

6/1999, đề xuất một khung Hiệp ước vốn mới với chương trình tư vấn lần thứ nhất

(First Consultative Package - CP1) (4) Tháng 7/2000, nghiên cứu tác động định lượng 1 (QIS1) (5) Tháng 1/2001, chương trình tư vấn lần thứ hai (CP2) (6) Tháng 4/2001, nghiên cứu tác động định lượng 2 (QIS2) (7) Tháng 11/2001, nghiên cứu tác động định lượng 2.5 (QIS2.5) (8) Tháng 10/2002, nghiên cứu tác động định lượng 3 (QIS3) (9) Tháng 4/2003, chương trình tư vấn lần thứ ba (CP3) (10) Tháng 6/2004, Hiệp ước vốn Basel mới (Basel II) được ban hành (12) Trong hai năm 2005 và 2006, nghiên cứu tác động định lượng 4 và 5 (QIS4/5) (13) Tháng

1/2007, Basel II có hiệu lực và các nước tham gia lập kế hoạch thực hiện các

Trang 27

phương thức giản đơn (14) Tháng 1/2008, thực hiện các phương pháp nâng cao theo lịch trình (15) Hiện nay Basel III đã ra đời nhằm đối phó với cuộc khủng

hoảng tài chính 2007 - 2009 và đang được triển khai ở nhóm các nước phát triển

1.1.2.2 Những điểm cơ bản của Hiệp ước vốn Basel II

Mục tiêu của Basel II: Nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân

hàng quốc tế; Tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên bình diện quốc tế; Đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro

Hai mục tiêu đầu của Basel II là những mục tiêu chủ chốt của Hiệp ước vốn Basel I Mục tiêu cuối cùng là mới, đó là dấu hiệu của việc bắt đầu chuyển dần từ

cơ chế điều tiết dựa trên tỷ lệ, mà đó chỉ là một phần của khung mới, hướng đến một sự điều tiết mà sẽ dựa nhiều hơn vào các số liệu nội bộ, thông lệ và các mô hình

Basel II sử dụng khái niệm“Ba trụ cột”:

 Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc Theo đó, tỷ lệ vốn bắt buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I Tuy nhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường So với Basel I, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, đối với rủi ro thị trường có sự thay đổi nhỏ, nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro vận hành Trọng số rủi ro của Basel II bao gồm nhiều mức (từ 0%-150% hoặc hơn) và rất nhạy cảm với xếp hạng Đối với từng loại rủi ro, Basel II đưa ra các phương pháp khác nhau theo hướng tăng dần mức độ phức tạp để tính toán mức vốn dự trữ tối thiểu

Rủi ro tín dụng được tính theo ba phương pháp: (1) phương pháp chuẩn hoá (SA-Standardized Approach): sử dụng kết quả xếp hạng của các tổ chức đánh giá tín dụng độc lập bên ngoài để xác định hệ số rủi ro cho các nhóm tài sản khác nhau; (2) phương pháp xếp hạng nội bộ - cơ bản (FIRB- Internal Rating based - Foundation): sử dụng dữ liệu nội bộ để xây dựng mô hình xác suất vỡ nợ (PD model) và các tham số LGD (tỷ lệ tổn thất), EAD (giá trị rủi ro tại thời điểm vỡ nợ)

do Ngân hàng Nhà nước cung cấp để tính toán vốn; (3) phương pháp xếp hạng nội

bộ - nâng cao (FIRB) (Internal Rating based - Advanced): ngân hàng tự xây dựng các mô hình PD, LGD, EAD để tính vốn cho rủi ro tín dụng

Rủi ro vận hành có ba phương pháp tính toán, cụ thể: (1) phương pháp chỉ số

cơ bản (BIA - Basic Indicator Appproach): tính vốn trên cơ sở thu nhập ròng trung bình 3 năm, không phân biệt mảng hoạt động kinh doanh; (2) phương pháp chuẩn

Trang 28

hoá (STA - Standardized Approach): tính vốn trên cơ sở phân chia các hoạt động của ngân hàng thành 8 mảng có hệ số rủi ro khác nhau; (3) phương pháp đo lường tiên tiến (AMA - Advanced Measurement Approach); yêu cầu sử dụng dữ liệu tổn thất nội bộ để xây dựng mô hình tính toán vốn

Rủi ro thị trường có hai phương pháp tính toán gồm: (1) phương pháp đo lường chuẩn hoá (Standadized Measurement Approach): tính vốn trên cơ sở gắn các

hệ số rủi ro nhất định cho các mảng kinh doanh khác nhau; (2) phương pháp mô hình nội bộ (Internal Model Approach): sử dụng dữ liệu lịch sử để tính toán VaR (giá trị chịu rủi ro) làm cơ sở tính vốn

 Trụ cột thứ II: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, Basel II cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với Basel

I Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng đối mặt, như rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý, mà hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại (residual risk)

Để đáp ứng yêu cầu này, các ngân hàng cần có quy trình đánh giá mức an toàn vốn nội bộ (ICAAP - Internal Capital Adequacy Assessment Process)

Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám sát: Thứ nhất, các

ngân hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ đầy đủ vốn nội bộ theo danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược đúng đắn nhằm duy trì mức vốn

đó Thứ hai, các giám sát viên nên rà soát và đánh giá việc xác định mức độ vốn nội

bộ và chiến lược của ngân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỉ

lệ vốn tối thiểu; giám sát viên nên thực hiện một số hành động giám sát phù hợp

nếu họ không hài lòng với kết quả của quy trình này Thứ ba, Giám sát viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định Thứ

tư, giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo mức vốn của ngân hàng

không giảm dưới mức tối thiểu theo quy định và có thể yêu cầu sửa đổi ngay lập tức nếu mức vốn không được duy trì trên mức tối thiểu

 Trụ cột thứ III: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro vận hành và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này

Như vậy, quá trình phát triển của Basel và những Hiệp ước mà tổ chức này đưa ra, các ngân hàng thương mại càng ngày càng được yêu cầu hoạt động một cách

Trang 29

minh bạch hơn, đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và do vậy, hy vọng sẽ giảm thiểu được rủi ro

* Ưu điểm của Basel II so với Basel I:

Về cấu trúc và nội dung: Basel I tập trung vào một giải pháp quản lý rủi ro duy nhất là “yêu cầu vốn tối thiểu” Trong khi, Basel II tập trung nhiều hơn vào các phương pháp nội bộ của chính ngân hàng, đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát và

kỷ luật trên nguyên tắc thị trường Do đó, quyền lực của các nhà quản lý quốc gia được tăng lên bởi họ cần phải đánh giá sự đủ vốn của ngân hàng có tính đến đặc điểm rủi ro cụ thể của nó

Về tính linh động của ứng dụng: Basel I quy định chung một chọn lựa cho tất

cả các ngân hàng Basel II linh hoạt hơn với một danh sách các phương pháp, các biện pháp khuyến khích để các nhà quản lý quốc gia và các ngân hàng chọn lựa

Về tính nhạy cảm với rủi ro: Basel I đo đạc rủi ro quá sơ bộ Basel II nhạy

cảm hơn với rủi ro thông qua độ nhạy cảm của yêu cầu vốn đối với mức độ rủi ro tăng lên và sự công khai bắt buộc một cách chi tiết về độ nhạy cảm rủi ro và chính sách rủi ro

Về trọng số rủi ro: Basel I quy định từ 0 – 100 và ưu đãi hơn với các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD- Organisation for Economic Co-operation and Development) Basel II quy định từ 0 - 150 hoặc hơn và không có đặc quyền nào, bao gồm cả phân cấp bên trong và bên ngoài

Về kỹ thuật giảm rủi ro tín dụng: Basel I chỉ hỗ trợ và đảm bảo Basel II thừa nhận về kỹ thuật giảm thiểu rủi ro tốt hơn, đưa ra nhiều kỹ thuật hơn như hỗ trợ, đảm bảo, phái sinh tín dụng, lập mạng lưới vị thế (position netting)

Quá trình phát triển của Hiệp ước Basel đã cho thấy rõ yêu cầu của Uỷ ban đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại ngày càng phải minh bạch hơn, đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và tăng khả năng kiểm soát cũng như phòng ngừa rủi ro tốt hơn

1.1.2.3 Quá trình thực thi Basel II trên thế giới

Mặc dù Hiệp ước Basel ban đầu chỉ nhằm áp dụng cho các ngân hàng hoạt động quốc tế song Nghị viện châu Âu đã phê chuẩn cả 3 phương pháp Basel II cho tất cả các ngân hàng trong Liên minh châu Âu vào năm 2005 và chính thức thông qua Hiệp ước vào năm 2006 Mặc dù các quốc gia thành viên yêu cầu các ngân hàng lớn thông qua một phương pháp tiếp cận tiên tiến cho rủi ro tín dụng A-IRB, tuy vậy một ngân hàng của châu Âu vẫn có thể tuỳ chọn 1 trong 3 phương pháp chuẩn hoá, nền tảng hoặc nâng cao để đáp ứng yêu cầu an toàn về vốn của mình

Trang 30

EU đã thực hiện các phương pháp tiếp cận chuẩn và nền tảng vào năm 2007, sau đó thực hiện các phương pháp tiếp cận tiên tiến vào năm 2008

Tại Hoa Kỳ việc triển khai Basel II chậm hơn so với EU Đến cuối năm

2007, các cơ quan ngân hàng liên bang mới quyết định áp dụng Basel II cho các ngân hàng tại Hoa Kỳ và quyết định này có hiệu lực thi hành từ 1/4/2008 Hoa Kỳ chỉ áp dụng các phần của tiêu chuẩn Basel và thực hiện áp dụng các tiêu chuẩn đó với một số các ngân hàng lớn - ngân hàng quốc tế cốt lõi Với trụ cột 1, Hoa Kỳ yêu cầu các ngân hàng cốt lõi phải áp dụng cả hai phương pháp tiếp cận A-IRB cho rủi

ro tín dụng và AMA cho rủi ro hoạt động Các ngân hàng khác có thể lựa chọn áp dụng các phương pháp tiên tiến, nếu không thực hiện điều này thì ngân hàng sẽ ở lại Basel I Những ngân hàng tuân thủ các phương pháp tiếp cận tiên tiến ở trụ cột 1 thì cũng phải tuân thủ xem xét các yêu cầu giám sát của trụ cột 2 và tuân thủ các yêu cầu công bố công khai của trụ cột 3 Việc các cơ quan ngân hàng liên bang quyết định không thực hiện Basel II tại các ngân hàng nhỏ vì nhận thấy các ngân hàng nhỏ chưa đủ nguồn lực để tiếp cận các phương pháp tiên tiến, cấu trúc vốn có của các ngân hàng nhỏ chưa phù hợp với các phương pháp tiên tiến, các ngân hàng nhỏ không tham gia cạnh tranh quốc tế và điều quan trọng là các ngân hàng nhỏ vẫn đang hoạt động hiệu quả với Basel I

Một tiến hành khảo sát được thực hiện bởi Financial Stability Institute (FSI) trong năm 2004 và lặp lại vào năm 2006 về việc thực hiện Basel II tại các nước thành viên không thuộc Uỷ ban Basel đã cho biết 84% các nước được hỏi có ý định

áp dụng Basel II trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2015 (Bảng 1.8)

Bảng 1.8: Ý định áp dụng Basel II giai đoạn 2007-2015 của các nước thành viên không thuộc Uỷ ban Basel

được hỏi

Số quốc gia trả lời

dự định áp dụng Basel II

(*) Trong Châu Á không bao gồm Nhật Bản - là thành viên của BCBS)

Nguồn: Financial Stability Institute

Dữ liệu khảo sát của FSI cho thấy hầu hết các nhà quản lý ở Châu Á đều ủng

hộ các mục tiêu chung của Basel II và tin tưởng rằng khuôn khổ này sẽ đưa ra

Trang 31

những khích lệ hơn nữa để cải thiện công tác quản lý rủi ro, cũng như các thay đổi khác nhằm bổ sung cho các mục tiêu giám sát của họ Việc thực thi Basel II tại một

số nước Châu Á cụ thể như sau (Bảng 1.9)

Bảng 1.9: Kế hoạch thực thi Basel II tại các nước Châu Á

Quốc gia

Các cách tiếp cận rủi ro tín

Trung Quốc Không áp

dụng

Dự kiến

2010

Không áp dụng

Không áp dụng

Dự kiến

2010 Không áp dụng Hồng Kong 1/1/2007 1/1/2008 1/1/2007 Không áp dụng

1.1.2.4 Lộ trình thực thi Basel II tại Việt Nam

Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có chú

ý tuân thủ theo các thông lệ và chuẩn mực quốc tế khi xây dựng hệ thống pháp lý về tiền tệ và hoạt động của ngân hàng Bản thân các tổ chức tín dụng Việt Nam cũng

có những quan tâm và cố gắng trong việc nâng cao năng lực quản trị điều hành, đặc biệt là quan tâm đến năng lực quản trị rủi ro Điều này cho thấy việc tiếp cận và áp dụng các chuẩn mực của Basel II đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tín dụng Việt Nam quan tâm, chú trọng

Với một nước như Việt Nam, hệ thống ngân hàng đang ở giai đoạn phát triển ban đầu chắc chắn việc áp dụng Basel II sẽ đối mặt với nhiều khó khăn về kỹ thuật,

Trang 32

chi phí và mất nhiều thời gian Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của hậu khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế cùng với xu thế của việc hội nhập phải mở cửa thị trường dịch vụ tài chính - ngân hàng đang đặt ra một yêu cầu cấp bách cần nhanh chóng áp dụng Basel II tại Việt Nam nhằm tăng cường năng lực hoạt động và giảm thiểu rủi

ro đối với các ngân hàng thương mại

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tín dụng Việt Nam đã có nhiều

nỗ lực trong việc hoàn thiện hệ thống pháp lý về tiền tệ và hoạt động ngân hàng cũng như nâng cao năng lực quản trị điều hành, đặc biệt là năng lực quản trị rủi ro của các ngân hàng thương mại tiến dần từng bước đến các thông lệ và chuẩn mực quốc tế Theo đó, việc từng bước áp dụng các chuẩn mực của Basel II được đặc biệt chú trọng, nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu 2008- 2009

Về phía cơ quan quản lý, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã xây dựng lộ trình triển khai Basel II trong hệ thống ngân hàng thương mại với 2 giai đoạn cụ thể: Giai đoạn 1: Thí điểm áp dụng Basel II tại 10 ngân hàng gồm: Vietcombank, Vietinbank, BIDV, Sacombank, MB, Techcombank, ACB, VPBank, Maritime Bank và VIB Chương trình thí điểm từ tháng 2/2016 đến cuối năm 2018 với mục tiêu các ngân hàng trong nhóm thí điểm phải cơ bản đáp ứng được các yêu cầu của Basel II

Giai đoạn 2: Đến năm 2020, về cơ bản các ngân hàng thương mại có mức vốn

tự có theo chuẩn mực của Basel II, trong đó có ít nhất 12-15 ngân hàng thương mại

áp dụng thành công Basel II (Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 ngày 8/11/2016)

Các văn bản pháp lý Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhằm hỗ trợ các ngân hàng thương mại áp dụng Hiệp ước Basel II: Thông tư 36/2014/TT-NHNN về Quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ; Thông tư 02/2013/TT-NHNN về Quy định phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc

sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tromg hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Thông tư 12/2013/TT-NHNN, THông tư 09/2014/TT-NHNN về sửa đổi một số nội dung của Thông tư 02; Thông tư 41/2016/TT-NHNN

về Quy định tỷ lệ an toán vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Thông tư 44/2011/TT-NHNN quy định hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Thông tư 07/2013/TT-NHNN quy định về kiểm soát đặc biệt đối với các tổ chức tín dụng; Thông tư 10/2012/TT-NHNN về Quy định xử lý sau thanh tra, giám sát đối với các tổ chức

Trang 33

tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Quyết định 51/2007/QĐ-NHNN ban hàng Quy chế thông tin tín dụng; Thông tư 16/2010/TT-NHNN hướng dẫn thi hành Nghị định 10/2010/NĐ-CP về hoạt động thông tin tín dụng

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã thành lập Ban chỉ đạo triển khai Basel

II, thực hiện đánh giá thực trạng và khoảng cách về quản trị rủi ro của NHTM với các quy định của Basel II, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, cung cấp thông tin cho các tổ chức tín dụng, nâng cấp bộ máy xếp hạng tín dụng, cải cách hoạt động thanh tra phù hợp với thông lệ Basel II

Về phía các ngân hàng thương mại thí điểm: hiện nay phần lớn các ngân hàng

đã thành lập Ban Quản lý dự án Basel II, thuê đơn vị tư vấn triển khai thực hiện dự

án phân tích độ lệch cơ sở dữ liệu (Data Gap), nghiên cứu thực hiện quy trình đánh giá vốn rủi ro (ICAAP), lập kế hoạch triển khai thực hiện Basel II, lập báo cáo đánh giá tác động định lượng (QIS), thực hiện các dự án xây dựng hệ thống khởi tạo các khoản vay (LOS), dự án nâng cấp hệ thống xếp hạng nội bộ, dự án hoàn thiện khung quản lý thị trường, dự án tính toán tài sản có rủi ro theo Basel II, hoàn thiện

mô hình quản lý rủi ro theo 3 tuyến phòng ngự trong đó đặc biệt phải kể đến Techcombank đã mạnh dạn thực hiện chiến lược đầu tư hệ thống ngân hàng lõi T24 của Thuỵ Sỹ với quyết tâm nhanh chóng phù hợp thông lệ quốc tế

1.2 Thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ khi các ngân hàng thương mại áp dụng Hiệp ước vốn Basel II

Doanh nghiệp có nhiều nguồn vốn kinh doanh: nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn huy động từ bên ngoài Doanh nghiệp vừa và nhỏ có nguồn vốn chủ sở hữu không lớn, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thấp nên quá trình tự tích luỹ vốn của doanh nghiệp chậm Chính vì vậy nguồn vốn huy động từ bên ngoài trở thành nguồn huy động vốn rất quan trọng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong các nguồn vốn huy động từ bên ngoài, tín dụng ngân hàng là nguồn vay mang lại nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ hơn so với tăng vốn chủ sở hữu thông qua huy động cổ phần hoặc thuê tài chính Tín dụng ngân hàng giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ được tiếp cận với nguồn vốn lớn nhờ mạng lưới hệ thống ngân hàng rộng khắp, thời hạn sử dụng vốn vay đa dạng, không làm thay đổi chủ sở hữu, có nhiều tiện ích đi kèm như hỗ trợ tư vấn, cung cấp thông tin

Xuất phát điểm từ sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ cộng thêm áp lực cạnh tranh bởi xu thế hội nhập toàn cầu, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đang rất cần tăng nguồn vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh Hiện nay do nguồn vốn vay từ ngân hàng thương mại là nguồn vốn huy động phổ biến, thường xuyên của doanh nghiệp nên khi các ngân hàng thương mại thực hiện Hiệp ước Basel II sẽ là một tác

Trang 34

động mạnh trực tiếp tới việc huy động vốn của các doanh nghiệp Việt Nam Với ý nghĩa tăng cường kiểm soát rủi ro của tín dụng ngân hàng, thông quá đó giảm những rủi ro của hoạt động kinh tế, Basel II là một giải pháp rất tốt cho Việt Nam trong bối cảnh hiện nay Các ngân hàng thương mại tăng cường kiểm soát rủi ro trong hoạt động kinh doanh sẽ thúc đẩy xu hướng lành mạnh hoá của thị trường tài chính, tạo nguồn vốn ổn định và minh bạch hoá các hoạt động đầu tư, nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế, góp phần tăng trưởng bền vững Là người vay vốn từ ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp vừa và nhỏ bên cạnh những cơ hội thì đồng thời cũng phải đối mặt với những thách thức khi các ngân hàng thương mại áp dụng Hiệp ước vốn Basel II

1.2.1 Những cơ hội đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ khi các ngân hàng thương mại áp dụng Hiệp ước vốn Basel II

Môi trường kinh tế, đặc biệt môi trường tài chính tín dụng ngày càng minh bạch nhờ các quy định được phổ biến từ Nhà nước về quản lý kinh tế, các thông tin báo cáo đầy đủ và thường xuyên từ các ngân hàng về tình hình hoạt động

Doanh nghiệp chủ động hơn trong việc đưa ra các quyết định cho việc đổi mới của chính mình khi được tiếp cận với những thông tin cụ thể, rõ ràng từ ngân hàng cung cấp

Thông tin về các ngân hàng được cập nhật thường xuyên và đầy đủ cũng giúp cho doanh nghiệp có thêm nhiều sự lựa chọn khi muốn vay vốn

Doanh nghiệp dần hình thành tính tự giác về việc thay đổi bản thân để thích ứng tốt với các quy định của ngân hàng

Tạo phản xạ cho doanh nghiệp về ý thức phải năng động, luôn tìm tòi, tích cực đổi mới và có định hướng phát triển lâu dài sao cho phù hợp với lộ trình của việc thực hiện Hiệp ước

1.2.2 Những thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ khi các ngân hàng thương mại áp dụng Hiệp ước vốn Basel II

Bên cạnh một số thuận lợi đã nêu, hiện các doanh nghiệp vừa và nhỏ không

dễ dàng trong tiếp cận nguồn tín dụng từ ngân hàng bởi những thách thức sau:

1.2.2.1 Thách thức về tìm kiếm thông tin và tiếp cận ngân hàng

Nhà nước tuy đã có nhiều quan tâm đến hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc tiếp cận tín dụng ngân hàng nhưng cơ chế, chính sách chưa theo kịp thực tiễn, nguồn lực ngân sách nhà nước còn hạn chế nên các gói hỗ trợ, các chương trình chưa phát huy hết hiệu quả Hoạt động bảo lãnh doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn chưa được đẩy mạnh, các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp liên quan đến tín dụng như tư vấn, đào tạo, cung cấp thông tin còn thiếu cũng làm doanh nghiệp chưa có

Trang 35

nhiều cơ hội tiếp cận, sử dụng các sản phẩm tín dụng ngân hàng

Theo sự hướng dẫn, chỉ đạo từ Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại được phép linh hoạt nhất định trong cách xây dựng thẩm định, đánh giá khiến cho một doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có thể tiếp cận vay vốn cùng lúc từ nhiều ngân hàng thương mại vì đáp ứng được điều kiện cho vay của ngân hàng này nhưng lại không đủ điều kiện cho vay của ngân hàng khác

Hiện có quá nhiều mô hình quản lý rủi ro được các ngân hàng thương mại tự chọn vận dụng khiến cho doanh nghiệp cũng khó khăn khi tiếp cận thông tin để đánh giá và so sánh năng lực hoạt động của các ngân hàng thương mại, thậm chí có thể do tiếp cận thông tin ảo dẫn đến đặt niềm tin sai chỗ

Doanh nghiệp vẫn tồn tại tâm lý ì trong tiếp cận ngân hàng để lập hồ sơ vay vốn, chính việc gắn chặt với ngân hàng quen thuộc nên thường lệ thuộc nhiều vào ngân hàng "quen" và trở nên thụ động,vì vậy doanh nghiệp có thể bỏ qua cơ hội vay vốn từ các ngân hàng khác

1.2.2.2 Thách thức trong quá trình làm thủ tục xin vay

Các thông tin về doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa được công bố đầy đủ thông qua bất kỳ cơ quan, tổ chức có uy tín và cũng chưa có quy định chi tiết từ quản lý nhà nước đối với minh bạch hoá thông tin doanh nghiệp vừa và nhỏ nên việc gây tín nhiệm của doanh nghiệp với ngân hàng không dễ dàng

Các ngân hàng thương mại ngày càng có xu hướng tăng cường kiểm soát rủi

ro kinh doanh nên các thủ tục tín dụng ngày càng phức tạp và chi phí cho vay của ngân hàng ngày càng tăng tạo thêm nhiều áp lực đối doanh nghiệp

Tình hình nợ xấu của doanh nghiệp hiện chưa có hướng giải quyết dứt điểm nên cũng làm các ngân hàng thương mại lúng túng và có phần dè dặt trong phát triển tín dụng vừa và nhỏ

Các ngân hàng siết chặt giám sát rủi ro cũng đồng nghĩa với việc sẽ khắt khe hơn trong thẩm định khách hàng vay, việc gia tăng số lượng cũng như tăng mức độ khó trong các tiêu chí đánh giá rủi ro của ngân hàng thương mại cũng có thể tạo áp lực buộc các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải chấp nhận có những thay đổi về hoạt động sản xuất kinh doanh để đáp ứng được các tiêu chí của ngân hàng

Tình hình nợ xấu tại các ngân hàng thương mại hiện nay chưa được giải quyết triệt để nên làm tăng khoản trích lập dự phòng rủi ro, giảm lợi nhuận của ngân hàng tức là giảm phần lợi nhuận giữ lại để tăng vốn Điều này làm giảm năng lực đáp ứng vốn vay của ngân hàng tới doanh nghiệp so với khi không áp dụng Hiệp ước

Trang 36

Các sản phẩm tín dụng chưa đa dạng, linh hoạt nên doanh nghiệp vừa và nhỏ

ít có sự lựa chọn Các ngân hàng thương mại hiện nay chấp nhận doanh nghiệp vừa

và nhỏ được vay vốn theo hình thức thế chấp là chủ yếu, rất ít doanh nghiệp được vay dưới hình thức bảo lãnh và tín chấp

Các yếu tố của thị trường vốn còn thiếu và yếu, chưa đồng bộ dẫn đến thị trường vốn chưa phát triển hoàn thiện làm cho quy mô tín dụng vừa và nhỏ không tăng kịp với nhu cầu của doanh nghiệp Các ngân hàng hiện khó thu hút được tiền gửi trong dân vì lãi suất nhận gửi thấp hơn tỷ lệ lạm phát, người dân không coi gửi tiền ngân hàng là kênh đầu tư hấp dẫn và dần chuyển sang tự đầu tư trực tiếp vào doanh nghiệp hoặc đầu tư bất động sản,

Tuy môi trường kinh doanh đã có sự cải thiện nhưng vẫn còn phức tạp, chưa hoàn toàn minh bạch, những chi phí không chính thức từ việc vay vốn ngân hàng đang là rào cản nhất định đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ khi phải xem xét, tính toán kỹ lưỡng về chênh lệch giữa chi phí ngầm bỏ ra và khả năng sinh lời từ vốn vay

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ít quan tâm đến xây dựng chiến lược phát triển, xây dựng phương án kinh doanh thiếu tầm vi mô nên không khả thi, chậm ứng dụng công nghệ trong sản xuất và quản lý khiến cho ngân hàng cũng khó đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp

Cũng không ít doanh nghiệp còn có tâm lý e ngại tiếp cận tín dụng ngân hàng do không hiểu biết về thủ tục vay vốn, thiếu người quản lý có chuyên môn về tín dụng, thiếu thông tin, có thói quen thường tiếp cận với các nguồn tín dụng ngoài ngân hàng, trong đó có cả những nguồn tín dụng không chính thức

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường không minh bạch về tài chính do

không quan tâm đầy đủ, thiếu hiểu biết về pháp luật và yếu kiến thức tài chính nên không đủ khả năng đáp ứng điều kiện hồ sơ cho vay của ngân hàng

1.2.2.3 Thách thức về tài sản đảm bảo

Tài sản thế chấp của doanh nghiệp vừa và nhỏ không có giá trị cao nên khả

năng đảm bảo đạt được yêu cầu thế chấp của ngân hàng rất thấp, giá trị khoản tín dụng không lớn và không đủ cho nhu cầu về vốn kinh doanh của doanh nghiệp Những doanh nghiệp vừa và nhỏ mới khởi nghiệp có nhu cầu vay vốn rất cao nhưng khả năng doanh nghiệp có tài sản thế chấp đủ giá trị so với nhu cầu vay theo yêu cầu của ngân hàng lại rất thấp

Những doanh nghiệp vừa và nhỏ trong giai đoạn đổi mới, sáng tạo rất khát vốn để đầu tư công nghệ nhưng do những dự án về đổi mới, sáng tạo có tính rủi ro

Trang 37

cao nên ngân hàng đánh giá rất sát sao và vì vậy không phải doanh nghiệp nào cũng thuận lợi trong việc thuyết phục ngân hàng chấp thuận cho vay vốn

1.2.2.4 Thách thức trong việc sử dụng tiền vay và trả nợ

Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm công bố thông tin về ngân hàng thương mại Bất kỳ những thông tin cho biết hoạt động yếu kém của ngân hàng nào cũng ảnh hưởng đến kế hoạch vay của doanh nghiệp, đưa doanh nghiệp vào tâm lý lo lắng, bất an, làm doanh nghiệp rơi vào thế bị động khi phải điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh doanh do thay đổi dự phòng tài chính hoặc thay đổi ngân hàng vay trong thời gian đang thực hiện dự án và vì vậy khả năng hoàn trả vay của doanh nghiệp sẽ

gặp khó khăn

Lộ trình vận dụng Hiệp ước Basel II tại các ngân hàng thương mại có thời gian khá dài so với nhu cầu quay vòng vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ Những thay đổi từ chính sách cho vay của ngân hàng do phải thay đổi giảm khả năng huy động tiền gửi, tăng rủi ro hoạt động cho vay, tăng các khoản dự phòng làm giảm khoản cho vay, thay đổi cơ cấu tín dụng cũng làm khả năng tiếp cận vốn vay của doanh nghiệp không được liên tục Điều này sẽ ảnh hưởng mạnh tới tiến độ thực hiện dự án vay và vì vậy ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả vay của doanh nghiệp, gây cản trở doanh nghiệp phát triển nhất là khi các dự án nhỏ là các mắt xích cho dự

Doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô hoạt động nhỏ, sản xuất kinh doanh đơn ngành nên khá nhiều doanh nghiệp chưa linh hoạt, không kịp theo xu thế phát triển của kinh tế Chính việc doanh nghiệp chậm chuyển đổi trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên không chỉ khó đáp ứng mức độ đánh giá rủi ro của các ngân hàng thương mại mà còn dễ bị gián đoạn kinh doanh do thiếu vốn khi kinh tế có những biến động đột ngột

1.2.2.5 Thách thức về uy tín của doanh nghiệp, trình độ của chủ doanh nghiệp

Từ những thách thức trên đã dẫn tới một thách thức tuy không phải là mới nhưng lại có biểu hiện tăng mức độ khó hơn về cấp độ và dấu hiệu nhận biết đối với doanh nghiệp Ngân hàng khi đánh giá doanh nghiệp quan tâm trước tiên tới uy tín của doanh nghiệp, trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp vì những tiêu chí này có

Trang 38

tính bao trùm, quyết định với những tiêu chí đánh giá khác của ngân hàng như sự rõ ràng và minh bạch của báo cáo tài chính, tính pháp lý về tài sản đảm bảo của doanh nghiệp, tính khả thi của dự án vay vốn, khả năng thực hiện cam kết về sử dụng vốn vay có hiệu quả và trả nợ đúng hạn Vì vậy khi ngân hàng càng tăng cường quản lý rủi ro hoạt động thì việc đánh giá uy tín của doanh nghiệp cũng khắt khe hơn, yêu cầu về trình độ của chủ doanh nghiệp cũng tăng lên Những thay đổi này của ngân hàng không cụ thể bằng tiêu chí độc lập mà thường ngầm hoá trong các tiêu chí đánh giá khác nên doanh nghiệp không nhận thấy được ngay mà chỉ có thể cảm nhận thông qua các đổi mới về quy trình, thủ tục xét cấp vốn của ngân hàng đối với doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp không nhận biết, quan tâm và khắc phục thì khả năng tiếp cận vốn vay từ ngân hàng sẽ giảm

1.3 Những nhân tố tác động tới thách thức của doanh nghiệp vừa và nhỏ

từ việc thực hiện hiệp ước Basel II của các ngân hàng thương mại

Việc các ngân hàng thương mại áp dụng hiệp ước Basel II đã có những ảnh hưởng nhất định tới môi trường kinh tế, tạo ra những biến động trên thị trường tài chính, là nguyên nhân cơ bản của việc thay đổi mô hình hoạt động tại các ngân hàng thương mại, điều chỉnh quan hệ tín dụng giữa ngân hàng - doanh nghiệp và dẫn đến hình thành những nhân tố mới tác động đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam hiện nay

1.3.1 Những nhân tố bên trong

Thứ nhất: Hiểu biết của doanh nghiệp về Basel II Đây là nhân tố cơ bản giúp doanh nghiệp thích ứng với những thay đổi trong hoạt động của nền kinh tế do Hiệp ước tác động nên Doanh nghiệp nắm bắt tốt các nội dung về Basel II có khả năng linh hoạt hơn, chủ động hơn trong điều chỉnh cách thức kinh doanh cũng như xác lập xu thế hoạt động trong tương lai cho phù hợp tiêu chí đánh giá của ngân hàng; thực hiện các báo cáo kinh doanh ngày càng minh bạch; xây dựng hình ảnh tốt của doanh nghiệp với đối tác, cộng đồng và có cơ hội thuyết phục ngân hàng hơn trong giao dịch tín dụng Khi biết được định hướng về kế hoạch cho vay vốn của ngân hàng, doanh nghiệp sẽ có cơ sở chọn đúng thời điểm để mở rộng quy mô vốn, biết cách xây dựng dự án phát triển phù hợp với mục tiêu cấp vốn của ngân hàng, tìm hiểu các thông tin cần thiết cho việc lựa chọn ngân hàng đáp ứng tốt nhất nguyện vọng vay vốn

Thứ hai: Khả năng thích ứng với Hiệp ước của doanh nghiệp Nhân tố có tính chát quyết định giúp doanh nghiệp đủ điều kiện hay không đủ điều kiện tham gia thị trường tín dụng mới được thiết lập bởi Basel II Khả năng thích ứng của doanh nghiệp với Basel II bao gồm: quy mô hoạt động của doanh nghiệp, ngành hoạt động

Trang 39

của doanh nghiệp, xu thế hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, tài sản của doanh nghiệp, chất lượng nguồn lao động tại doanh nghiệp, các báo cáo tài chính nhiều năm liên tục của doanh nghiệp, tính

ổn định trong hoạt động của doanh nghiệp, địa điểm hoạt động của doanh nghiệp

vì đây là những tiêu chí các ngân hàng sử dụng để đánh giá rủi ro khi cho doanh nghiệp vay Đáp ứng tốt những tiêu chí ngân hàng đưa ra, doanh nghiệp sẽ thuận lợi được cấp vốn vay nhanh, mức vốn cấp như mong muốn và ngược lại, nếu doanh nghiệp càng đáp ứng ít được các tiêu chí ngân hàng đưa ra thì khả năng được cấp vốn vay càng thấp

Thứ ba: Uy tín của doanh nghiệp Biểu hiện của nhân tố này thể hiện thông qua mức độ minh bạch trong các báo cáo tài chính hàng năm, những đánh giá hoặc nhận xét từ đối tác hoặc cộng đồng về doanh nghiệp, lịch sử thực hiện các giao dịch tín dụng của doanh nghiệp Đây là những kênh thông tin rất quan trọng giúp ngân hàng có thêm nhiều thông tin mềm giúp việc đánh giá doanh nghiệp được đầy đủ, bao quát hơn Một doanh nghiệp có uy tín trong cộng đồng chắc chắn sẽ tạo được

sự an tâm, tin tưởng cho ngân hàng hơn so với một doanh nghiệp không được cộng đồng tín nhiệm về đạo đức kinh doanh

1.3.2 Những nhân tố bên ngoài

Thứ nhất: Cơ chế, chính sách của Nhà nước Những thay đổi trong cơ chế, chính sách của Nhà nước liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến lộ trình và thực hiện triển khai Hiệp ước đều sẽ tác động đến doanh nghiệp tích cực hoặc tiêu cực, đem lại thuận lợi cùng những khó khăn đối với doanh nghiệp Khi Nhà nước quản lý tốt các ngân hàng thương mại và có hệ thống thông tin đầy đủ về năng lực hoạt động của các ngân hàng thì môi trường tín dụng ngân hàng minh bạch và thông suốt Các doanh nghiệp an tâm khi vay vốn tại ngân hàng thương mại khi được Nhà nước bảo

vệ quyền lợi, các rủi ro của doanh nghiệp từ vay ngân hàng được kiểm soát chặt hơn nhờ hệ thống luật pháp, mức lãi suất vay ổn định Ngược lại, Nhà nước quản lý không tốt, thị trường tín dụng ngân hàng không minh bạch, cạnh tranh không lành mạnh tại các ngân hàng thương mại sẽ làm cho doanh nghiệp không thể biết ngân hàng nào có uy tín thực sự, cung cấp các dịch vụ lành mạnh Doanh nghiệp không

an tâm vay vốn ngân hàng sẽ chuyển sang các dịch vụ tín dụng khác, kể cả dịch vụ tín dụng không chính thức và rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp tăng lên do chi phí tăng cao, sức cạnh tranh yếu đi, khả năng tồn tại của doanh nghiệp giảm sút Thứ hai: Năng lực thực hiện Hiệp ước của các ngân hàng tại Việt Nam Tuy là nhân tố bên ngoài nhưng nhân tố này có ảnh hưởng khá trực tiếp tới doanh nghiệp Năng lực của ngân hàng quyết định việc doanh nghiệp có được tiếp cận nguồn vốn

Trang 40

vay uy tín, đủ và kịp thời theo nhu cầu hay không Năng lực của ngân hàng được xem xét ở những biểu hiện: trình độ nguồn nhân lực, vốn tự có, mô hình vận hành, khả năng tài chính cho triển khai Basel II, thương hiệu, khả năng huy động vốn Có năng lực tốt, chi phí và thời gian triển khai áp dụng Hiệp ước tại các ngân hàng sẽ được kiểm soát tốt, chất lượng hoạt động của ngân hàng gia tăng, khả năng cung ứng các dịch vụ tín dụng của ngân hàng cũng tăng lên về cả số lượng và chất lượng, cơ hội tiếp cận vốn vay ngân hàng của doanh nghiệp sẽ cao hơn

Thứ ba: Một số nhân tố của môi trường kinh tế Những nhân tố như nguồn lực khoa học công nghệ, nguồn lực thông tin có vai trò giúp cho doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận nhanh và đa dạng các thông tin cần thiết về chính sách của Nhà nước, tình hình hoạt động của ngân hàng, các thay đổi của môi trường kinh tế do tác động

từ Hiệp ước Basel II Điều này giúp doanh nghiệp có các công cụ, phương tiện và thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc doanh nghiệp nghiên cứu lập kế hoạch hay điều chỉnh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cho phù hợp với chính sách ưu đãi của Nhà nước, với chiến lược hoạt động kinh doanh của các ngân hàng

Thứ tư: Xu thế toàn cầu hoá hiện nay Sức ép từ xu thế toàn cầu hoá tạo cuộc chạy đua trong cơ chế quản lý của Nhà nước và hoạt động của các ngân hàng thương mại trong nước cho phù hợp với những thay đổi của hoạt động kinh tế khu vực, thế giới Hiện nay nhiều ngân hàng thương mại của nhiều quốc gia trên thế giới không chỉ áp dụng Hiệp ước vốn Basel II mà còn triển khai Basel III Nếu Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại trong nước không nhanh chóng vận dụng Basel II hiệu quả thì các sản phẩm tín dụng của ngân hàng trong nước không thể cạnh tranh nổi với ngân hàng nước ngoài Thế giới phẳng làm cho các nền kinh

tế bị xoá đi sự độc quyền trong lãnh thổ từng quốc gia, lãnh thổ của quốc gia này vẫn có thể là thị trường độc quyền của quốc gia khác Vì vậy muốn cạnh tranh tốt

và tồn tại, phát triển được, các ngân hàng thương mại trong nước rất cần có sự thay đổi về kiểm soát rủi ro hoạt động, xây dựng hình ảnh Ngân hàng Nhà nước với chức năng hỗ trợ sẽ giúp các ngân hàng thương mại xây dựng uy tín, cung cấp các dịch vụ cạnh tranh cao cho thị trường nội địa, gần gũi và tạo tín nhiệm tốt với khách hàng trong nước Vì vậy doanh nghiệp được tiếp cận với nguồn vốn chất lượng được cung cấp từ những ngân hàng chất lượng

Thứ năm: Yêu cầu từ Hiệp ước Các quy định trong Hiệp ước hiện nay đang đưa ra nhiều yêu cầu mới khá phức tạp so với trình độ quản lý của Nhà nước, của ngân hàng, của doanh nghiệp nên cũng gây nhiều vướng mắc cho doanh nghiệp hiện nay Sự lúng túng của Ngân hàng Nhà nước trong quản lý hiện nay khi chưa xây dựng hoàn tất bộ tiêu chí đánh giá về Basel II đang làm cho môi trường tín

Ngày đăng: 26/02/2021, 21:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w