Vìvậy, nghiên cứu vấn đề này để làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo, đưa ra nhận xét,đánh giá những ưu điểm, hạn chế và rút ra kinh nghiệm về quá trình ĐảngCộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triể
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các số liệu, kết quả nêu ra trong luận án là trung thực có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Thế Thi
Trang 2bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết 21
Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ
3.2 Sự chỉ đạo của Đảng về phát triển du lịch (2011 - 2015) 91
4.1 Nhận xét quá trình Đảng lãnh đạo phát triển du lịch
4.2 Một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo phát
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
02
03
Hiệp định Thương mại tự do
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
FTAASEAN04
05
Sản phẩm du lịch
Tổng sản phẩm trong nước
SPDLGDP
Trang 4Du lịch là một trong những ngành kinh tế quan trọng, đóng vai trò ngàycàng quan trọng ở nhiều quốc gia, có tốc độ phát triển nhanh trên thế giới Hộinghị Bộ trưởng du lịch thế giới tại OSAKA (Nhật Bản) năm 1994, khẳng định:
Du lịch là nguồn lớn nhất tạo ra GDP và việc làm của thế giới, chiếm tới1/10 mỗi loại, đồng thời, đầu tư cho du lịch và các khoản thu từ thuế liênquan tới du lịch tương ứng cũng tăng cao Những sự gia tăng này cùngvới các chỉ tiêu khác của du lịch dự đoán sẽ tiếp tục tăng trưởng mộtcách vững chắc và như vậy du lịch sẽ là đầu tàu kéo nền kinh tế thế giớitrong thế kỷ XXI [149, tr.52]
Việt Nam là một quốc gia có nhiều tiềm năng, thế mạnh về du lịch, nằm
ở ngã ba giao thương quốc tế, thuận lợi cho du khách đi và đến, tài nguyên dulịch phong phú, đa dạng, cơ sở vật chất, hạ tầng du lịch ngày càng tốt hơn, lại
có nguồn nhân lực dồi dào phục vụ phát triển du lịch Việc phát triển du lịch
là một đòi hỏi khách quan
Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước rất quan tâm pháttriển du lịch, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) xác định:Phải nhanh chóng khai thác các điều kiện thuận lợi của đất nước để mở mang dulịch bằng vốn trong nước và hợp tác với nước ngoài Chỉ thị 46 - CT/TW ngày14/10/1994 về lãnh đạo, đổi mới và phát triển du lịch trong tình hình mới của Ban
Bí thư nhấn mạnh: “Phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trongđường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm góp phần thựchiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, văn minh” [2, tr.1] Đại hội IX của Đảng (4/2001) tiếp tục nêu rõ:
“Phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” [56, tr.178]
Trong giai đoạn 2006 - 2015, Đảng tiếp tục khẳng định chủ trươngphát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Du lịch Việt Nam đãtiến những bước dài, có sự đột phá, phát triển vượt bậc, thể hiện ở việc:Đóng góp lớn vào GDP của cả nước; tạo ra hàng triệu việc làm cho người
Trang 5lao động; góp phần bảo vệ nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;góp phần giữ vững ổn định chính trị, tăng cường sức mạnh quốc phòng toàndân,… Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề đặt ra trong thực tiễn phát triển du lịch,những hạn chế, yếu kém trong hoạt động xúc tiến, quảng bá; xây dựng, pháttriển sản phẩm; xây dựng nguồn nhân lực, làm cho Việt Nam chưa pháthuy hết tiềm năng, thế mạnh về du lịch
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về phát triển du lịch vớicách tiếp cận đa dạng, phong phú của các chuyên ngành khoa học Tuy nhiên,đối với khoa học Lịch sử Đảng, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu
về quá trình Đảng lãnh đạo phát triển du lịch từ năm 2006 đến năm 2015 Vìvậy, nghiên cứu vấn đề này để làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo, đưa ra nhận xét,đánh giá những ưu điểm, hạn chế và rút ra kinh nghiệm về quá trình ĐảngCộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển du lịch từ năm 2006 đến năm 2015 làviệc làm cần thiết, góp phần tổng kết quá trình lãnh đạo phát triển du lịch củaĐảng, cung cấp thêm những luận cứ để tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh đườnglối đẩy mạnh phát triển du lịch trong những năm tiếp sau
Từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển du lịch từ năm 2006 đến năm 2015” làm đề tài luận án
tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích
Làm rõ quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển du lịch
từ năm 2006 đến năm 2015; đúc kết những kinh nghiệm có giá trị tham khảo
Nhiệm vụ
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình Đảng lãnh đạo phát triển
du lịch từ năm 2006 đến năm 2015
Phân tích, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về phát triển dulịch từ năm 2006 đến năm 2015
Trang 6Nhận xét, đánh giá ưu điểm, hạn chế, làm rõ nguyên nhân và đúc kếtnhững kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo phát triển du lịch từ năm
2006 đến năm 2015
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo phát triển du lịch của Đảng Cộngsản Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu chủ trương và quá trình Đảng chỉ đạo phát
triển du lịch Chỉ thị 46 - CT/TW ngày 14/10/1994 về lãnh đạo, đổi mới và pháttriển du lịch trong tình hình mới của Ban Bí thư đã xác định 8 nội dung của dulịch bao gồm: (1) Quy hoạch du lịch; (2) SPDL; (3) thị trường du lịch; (4) đầu
tư du lịch; (5) XT, QBDL; (6) đào tạo nhân lực du lịch; (7) hợp tác quốc tế về
du lịch; (8) ứng dụng khoa học công nghệ vào du lịch Trong khuôn khổ luận
án, nghiên cứu sinh tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng về phát triển dulịch trên 5 nội dung: Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch; đầu tưphát triển du lịch; phát triển SPDL; XT, QBDL; phát triển nguồn nhân lực dulịch Bởi đây là những nội dung cơ bản nhất, tập trung và thể hiện rõ sự lãnhđạo của Đảng đối với phát triển du lịch trong giai đoạn này
Về thời gian: Tập trung trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm
2015 Nghiên cứu sinh chọn mốc 2006 và 2015 bởi năm 2006 là năm diễn
ra và khởi đầu nhiệm kỳ Đại hội X, năm 2015 là năm kết thúc nhiệm kỳĐại hội XI của Đảng, chọn mốc thời gian như vậy sẽ thể hiện rõ sự lãnhđạo của Đảng về phát triển du lịch qua hai kỳ đại hội, Đại hội X (2006 -2010) và Đại hội XI (2011 - 2015) Tuy nhiên, để đảm bảo tính hệ thống vàđạt được mục đích nghiên cứu đề tài có sử dụng tài liệu, tư liệu trước năm
2006 và sau năm 2015
Về không gian: Trên lãnh thổ Việt Nam
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Trang 7Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp lịch sử, phương pháplôgic và sự kết hợp của hai phương pháp đó Đồng thời, còn sử dụng phươngpháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, Các phương pháp được sử dụngphù hợp với yêu cầu của từng nội dung luận án
Phương pháp lịch sử được sử dụng nhiều để phục dựng, tái hiện trungthực những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo cuả Đảng về phát triển du lịch từnăm 2006 đến năm 2015, quá trình phát triển nhận thức, đề ra chủ trương và chỉđạo phát triển du lịch của Đảng qua hai giai đoạn 2006 - 2010 và 2011 - 2015
Phương pháp lôgic được sử dụng nhiều để nghiên cứu tổng quát sựlãnh đạo của Đảng về phát triển du lịch từ năm 2006 đến năm 2015, đưa ranhững nhận xét, đánh giá và chỉ ra nguyên nhân, từ đó đúc rút những kinhnghiệm có thể tham khảo, vận dụng
Phương pháp so sánh được sử dụng nhiều trong luận án nhằm sosánh sự lãnh đạo của Đảng về phát triển du lịch giữa hai giai đoạn 2006 -
2010 và 2011 - 2015; so sánh kết quả lãnh đạo phát triển du lịch với cácnước trong khu vực Đông Nam Á
Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp được sử dụng nhiều ởchương 1 khi nghiên cứu tổng quan các công trình có liên quan đến đề tài
Trang 8luận án Làm rõ chủ trương và các mặt chỉ đạo của Đảng về phát triển dulịch từ năm 2006 đến năm 2015.
5 Những đóng góp mới của luận án
Hệ thống hóa, phân tích, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng vềphát triển du lịch từ năm 2006 đến năm 2015
Đưa ra những nhận xét, đánh giá về quá trình Đảng lãnh đạo phát triển
du lịch từ năm 2006 đến năm 2015 trên cả 2 bình diện ưu điểm và hạn chế,làm rõ nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế
Đúc kết những kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo phát triển du lịch
từ năm 2006 đến năm 2015
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài
Luận án được nghiên cứu thành công bước đầu làm sáng tỏ những vấn
đề lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch; góp phần tổng kết sự lãnh củaĐảng về phát triển du lịch từ năm 2006 đến năm 2015
Những kinh nghiệm được đúc kết trong luận án có giá trị tham khảo, vậndụng vào phát triển du lịch trong những năm tiếp theo
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảotrong nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ở các nhàtrường, cơ quan nghiên cứu
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm: Mở đầu, 04 chương (08 tiết), kết luận, danh mục cáccông trình khoa học của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án,danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Trang 91.1 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài
Ward J, Higson P và Campbell W (1994), Leisure and Tourism [168], (Giải trí và Du lịch) Các tác giả tập trung phân tích các sản phẩm, dịch vụ
trong ngành du lịch và giải trí cũng như các tác động của nó đến kinh tế, xãhội, văn hóa và môi trường
Gareth Shaw và Allan M.Williams (1994), Critical issues in tourism: a geographical perspective [161], (Các vấn đề quan trọng trong du lịch: một góc độ địa lý) Công trình làm rõ sự phát triển của ngành du lịch từ sau 1945
đến đầu thập niên 1990 tại các đô thị du lịch và nông thôn ở nhiều quốc gia cảphát triển và đang phát triển Du lịch đã mang lại việc làm cho hàng triệungười và sự giải trí cho du khách Đồng thời du lịch cũng phá hủy và gây ônhiễm môi trường thiên nhiên, đe dọa nền văn hóa
Theobald W (1994), Global Tourism - The next decade [166], (Du lịch toàn cầu - Thập kỷ tới) Công trình này giới thiệu về khái niệm và phân loại loại
hình du lịch; xác định những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của du lịch; địnhhướng và kế hoạch phát triển du lịch; vai trò du lịch đối với hòa bình thế giới
Tribe J (1995), The Economis of Leisure and Tourism [167], (Kinh tế học về Giải trí và Du lịch) Nội dung xoay quanh các vấn đề về tổ chức,
quảng bá hoạt động giải trí và du lịch; mối tương quan giữa môi trường quốc
tế với giải trí và du lịch; tác động của giải trí và du lịch đối với nền kinh tếquốc gia; các vấn đề giữa môi trường, đầu tư với giải trí và du lịch
Oppermann Martin và Kye - Sung Chon (1997), Tourism in Developing Countries [163], (Du lịch ở các nước đang phát triển) Công trình tập trung phân
tích hai vấn đề: Sự phát triển du lịch ở các nước phát triển và đang phát triển theocác giai đoạn: 1930 - 1960, 1970 - 1985 và 1985 - 1993 Mối liên hệ giữa Chínhphủ và du lịch, các mô hình phân tích phát triển du lịch, các phương pháp đolường phát triển du lịch quốc tế, sự phát triển các điểm đến du lịch
Hall C.Michael, Sharples Liz, Mitchell Richard, Macionis Niki, Cambourne
Brock (2003), Food Tourism around the World: Development, management and
Trang 10markets [160], (Du lịch Thực phẩm trên thế giới: Phát triển, quản lý và thị trường).
Các tác giả phân tích 4 vấn đề chính: Các SPDL thực phẩm; du lịch thực phẩm;hành vi tiêu dùng; trường dạy nấu ăn trong du lịch Công trình tập trung luận giảivai trò quan trọng của thực phẩm trong phát triển du lịch, đang ngày càng được xem
như là động cơ chính thúc đẩy du lịch phát triển Food Tourism Around the World: Development, management and markets cung cấp một cái nhìn sâu sắc độc đáo về
mối tương quan giữa thực phẩm, các SPDL và những kinh nghiệm du lịch
Mathieson A và Wall G (2008), Tourism, economic, physical and social impacts [158], (Du lịch, tác động kinh tế, vật chất và xã hội) Công trình nghiên
cứu về bản chất của ngành du lịch và khách du lịch, xem xét các khung kháiniệm về du lịch và đánh giá sự phù hợp của các phương pháp tác động để đánhgiá tác động của du lịch đối với kinh tế, việc làm, môi trường, văn hóa bằng mộtloạt các ví dụ minh họa từ các nước phát triển và đang phát triển
Medlik S (1995), Managing Tourism [159], (Quản lý Du lịch), tác giả
phân tích và trả lời các câu hỏi về khả năng đóng góp của các nghiên cứutrong tương lai đối với chính sách về du lịch
Stephen J Page và Don Getz (1997), The Business of Rural Tourism International Perspectives [164], (Quan điểm quốc tế về việc phát triển kinh doanh du lịch tại khu vực nông thôn) Công trình nghiên cứu những vấn đề:
Chính sách, kế hoạch, các tác động về việc thương mại du lịch tại khu vựcnông thôn, trong đó tác giả phân tích về vấn đề tài chính cũng như quảng bácho du lịch tại khu vực nông thôn, đồng thời nêu ra một số mô hình mẫu tạicác nước như Mỹ, Canada, Trung Quốc, Đức, Úc, Niu Dilân… và một số tácđộng đối với việc phát triển loại hình du lịch tại khu vực này
Lumsdom Led và Stephen J Pace (2004), Tourism and Transport: Issues and Agenda for the New Millennium [162], (Du lịch và Giao thông vận tải: Các vấn đề và Chương trình nghị sự cho thiên niên kỷ mới) Công trình
tập trung làm rõ vai trò vô cùng quan trọng của giao thông đối với sự phát
Trang 11triển du lịch và đặt ra một số vấn đề quan trọng: Phạm vi của sự tiến bộ trongngành du lịch và nghiên cứu giao thông trong thiên niên kỷ mới là gì? Đãnghiên cứu thông qua một chương trình chung để giải quyết các vấn đề kháiniệm liên quan đến du lịch vận tải hay chưa?
Raju G P (2009), Tourism marketing and management [165], (Tiếp thị
và quản lý du lịch) Công trình khẳng định vai trò của ngành du lịch là ngành
công nghiệp lớn nhất thế giới tạo ra những thay đổi xã hội, kinh tế, môitrường nhanh chóng, đòi hỏi sự hiểu biết chi tiết và biện pháp để quản lý Tácgiả phân tích những yếu tố trong tiếp thị du lịch, bao gồm: SPDL, dịch vụ dulịch về vị trí, phân phối và giá cả,
1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài
Các nghiên cứu đề cập đến vị trí, vai trò du lịch
Phạm Thị Mộng Hoa và Lâm Thị Mai Lan (2000), Du lịch đối với các dân tộc thiểu số ở huyện Sa Pa [74] Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc phát
triển du lịch ở Sa Pa đã tác động to lớn đến đời sống của nhân dân bao gồm cảcác tác động tích cực và tiêu cực Về tích cực: Du lịch tạo nhiều cơ hội việclàm và tăng thu nhập cho người dân địa phương; mở rộng sự giao lưu, hiểubiết của người dân, qua đó góp phần nâng cao dân trí, bảo tồn, quảng bá cácgiá trị văn hóa; tăng cường đầu tư kinh tế xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuậtcho địa phương và thúc đẩy sự hòa nhập của kinh tế địa phương vào hoạtđộng kinh tế của cả nước Về tiêu cực: Sự biến mất hay biến đổi của các hoạtđộng văn hóa, nguy cơ thương mại hóa các giá trị văn hóa truyền thống, cáctác động của du lịch đối với bảo vệ môi trường tự nhiên
Phạm Ngọc Thắng (2010), Phát triển du lịch gắn với xóa đói giảm nghèo ở Lào Cai [114] Luận án chứng minh được những đóng góp của phát
triển du lịch đối với xóa đói giảm nghèo của tỉnh Lào Cai: Đóng góp một tỷ lệnhất định vào phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh; tăng thêm thu nhập cho dân
cư địa phương; tạo ra nhiều việc làm hơn cho người dân địa phương, đặc biệt
Trang 12là người nghèo; phát triển cơ sở hạ tầng cải thiện cuộc sống của người nghèo;nâng cao dân trí và thể lực, sức khỏe cho cộng đồng dân cư địa phương.
Nguyễn Duy Mậu (2011), Phát triển du lịch Tây Nguyên đến năm 2020 đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế [94] Khi bàn về vai trò du lịch, tác
giả nhận định: Thế kỷ XXI là thế kỷ của du lịch và làm rõ vai trò của du lịchtrên hai khía cạnh Đối với nền kinh tế, thúc đẩy các ngành kinh tế khác pháttriển, đóng góp quan trọng vào GDP, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế,thúc đẩy xuất khẩu phát triển, tạo nên quá trình “xuất khẩu tại chỗ”, tạo racông ăn việc làm, thu nhập cho người lao động, thúc đẩy giao thông vận tải,viễn thông tin học phát triển, tác giả nhấn mạnh: “Du lịch là một trong nhữngngành kinh doanh đạt hiệu quả cao so với nhiều ngành kinh tế khác do ngành
du lịch có tỷ suất lợi nhuận cao, vốn đầu tư ít và thời gian thu hồi vốn nhanh”[94, tr.36] Đối với văn hóa - xã hội, du lịch là công cụ trực tiếp, quan trọngđối với quá trình xóa đói, giảm nghèo, tăng cường quảng bá văn hóa, tình hữunghị giữa các dân tộc, giáo dục truyền thống yêu quê hương, đất nước, du lịch
là phương tiện giáo dục tốt thông qua sinh hoạt cộng đồng, là phương thứctăng cường sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống
Nguyễn Thị Hồng Lâm (2013), Kinh tế du lịch ở các tỉnh Bắc Trung bộ trong hội nhập kinh tế quốc tế [87] Trong tiểu tiết 2 chương 2 của luận án, từ
trang 47 đến 52, tác giả phân tích mối quan hệ giữa kinh tế du lịch đối với sựphát triển kinh tế, xã hội: “Trong phạm vi một quốc gia, sự phát triển của kinh
tế du lịch có vai trò quan trọng trong việc tạo nên thu nhập quốc dân, thúc đẩytăng trưởng kinh tế” [87, tr.48], cụ thể: Kinh tế du lịch phát triển góp phầnthúc đẩy tăng trưởng kinh tế; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướngtiến bộ; góp phần kích thích đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, qua đólàm tăng tổng cầu của nền kinh tế; góp phần củng cố và phát triển các mốiquan hệ kinh tế như: Quan hệ hợp tác đầu tư, quan hệ buôn bán, giữa các
Trang 13thành phần kinh tế; góp phần tăng quy mô việc làm và thu nhập trong xã hội;thông qua thu hút khách quốc tế, góp phần quảng bá hình ảnh nước nhà.
Nguyễn Thị Hương (2016), Đánh giá tác động của du lịch đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam thông qua bảng cân đối liên ngành [84] Tác giả
nhận định, trên thế giới, du lịch được coi là ngành công nghiệp không khói,ngành kinh tế vô cùng quan trọng, có đóng góp không nhỏ đối với tăngtrưởng kinh tế của nhiều quốc gia Tác giả đã phân tích và đo lường tác độngtổng hợp của du lịch quốc tế và du lịch nội địa đối với tăng trưởng kinh tếnăm 2013 ở Việt Nam Kết quả cho thấy, tác động tổng hợp của hoạt động
du lịch chiếm 6,69% GDP Việt Nam, trong đó tác động tổng hợp của du lịchquốc tế chiếm 4,00% và du lịch nội địa là 2,69%
Nguyễn Thị Thu Hà (2016), Quản lý di sản văn hóa và phát triển du lịch ở
đô thị cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam [67] Tác giả chỉ rõ các tác động của du lịch
trên các khía cạnh: Kinh tế, xã hội và di sản văn hóa:
Du lịch đã nổi lên trở thành một trong những ngành lớn về hoạt động tạo rathu nhập và mang đến nhiều cơ hội nghề nghiệp cho nhiều cộng đồng trêntoàn thế giới Với những lợi ích kinh tế nó mang lại, nhiều quốc gia trênthế giới đang đặt du lịch vào danh mục ưu tiên hàng đầu cho sự phát triểnquốc gia [68, tr.22-23]
Ngô Hoài Chung (2017), Phát triển du lịch biên giới là góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng quốc gia [49] Tác giả nhận định việc phát triển du
lịch tại các tỉnh biên giới có ý nghĩa vô cùng to lớn về kinh tế, xã hội Pháttriển du lịch biên giới sẽ góp phần giải quyết việc làm, nâng cao đời sống vậtchất cho cộng đồng dân cư và đẩy nhanh xóa đói, giảm nghèo đối với cộngđồng các dân tộc ít người ở vùng sâu, vùng xa, núi cao, biên giới Phát triển dulịch biên giới còn góp phần gìn giữ và làm tăng giá trị cảnh quan, các di tích, cácgiá trị văn hóa bản địa khu vực biên giới, đồng thời có ý nghĩa đặc biệt trongviệc góp phần tăng cường giao lưu giữa các dân tộc khu vực biên giới, củng cố
và giữ vững quốc phòng, an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội dọc
Trang 14biên giới để tiến tới xây dựng đường biên hòa bình, hữu nghị và phát triển Bêncạnh đó, bài báo phân tích những lợi thế của Việt Nam về phát triển du lịch biêngiới: Việt Nam có đường biên giới đất liền dài 4.550 km với ba nước: TrungQuốc, Lào, Campuchia, với 21 cửa khẩu quốc tế đường bộ Với lợi thế về vị tríđịa lý, đường biên giới dài, mạng lưới giao thông đường bộ đang phát triển, đặcbiệt có tuyến đường xuyên Á kết nối với các thị trường có nhu cầu du lịch đường
bộ cao Việt Nam đủ điều kiện cơ bản để phát triển du lịch biên giới đường bộ vàthu hút du khách quốc tế đến bằng đường bộ qua biên giới
Ngoài ra còn có các công trình: Nguyễn Trọng Nhân (2017), Những tác động của du lịch đối với kinh tế, xã hội và môi trường Huyện Phú Quốc qua cảm nhận của người dân địa phương [102]; Dương Hoàng Hương (2017), Phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Phú thọ [81]; Lê Đức Viên (2017), Phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng theo hướng bền vững [152],
Các nghiên cứu đề cập đến thực trạng phát triển du lịch
Hoàng Văn Hoan (2002), Hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động trong kinh doanh du lịch ở Việt Nam [76] Luận án hệ thống hóa các vấn đề lý
luận về lao động trong kinh doanh du lịch, đặc biệt là các nội dung cơ bảnquản lý Nhà nước đối với lao động trong kinh doanh du lịch Đồng thời luận
án khái quát thực trạng phát triển du lịch Việt Nam từ năm 1960 đến năm2000; phân tích và đánh giá quản lý Nhà nước về lao động trong kinh doanh
du lịch thông qua các chính sách quản lý của Nhà nước đối với lao động trongkinh doanh du lịch, khẳng định những thành công và những vấn đề đặt ra cầngiải quyết nhằm đổi mới và hoàn thiện nội dung quản lý Nhà nước đối với laođộng trong kinh doanh du lịch ở Việt Nam
Thái Vũ - Xuân Lộc (2009), Xúc tiến, quảng bá du lịch Việt Nam - Cần một hướng đi mới [157] Tác giả bàn về việc tổ chức triển khai thực hiện Luật
Du lịch 2005, Tác giả nhận định, tính đến năm 2009, Luật khó đi vào cuộcsống bởi Luật Du lịch có hiệu lực từ tháng 01/2006, nhưng đến đầu năm 2009mới có thông tư hướng dẫn thực hiện, nhiều quy định của Luật chưa đi vào
Trang 15cuộc sống, Tác giả dẫn chứng nhiều ví dụ và đề nghị cần hoàn thiện công tácpháp chế du lịch Đồng thời, Tác giả đi sâu phân tích về những bất cập trongcông tác XT, QBDL Công tác xúc tiến chậm, lực lượng mỏng Cách thứcquảng bá du lịch chưa phong phú, hiệu quả thấp Tính đến đầu năm 2009,hoạt động xúc tiến không theo kịp yêu cầu phát triển, Tổng cục Du lịch chưa
có văn phòng đại diện ở các nước trên thế giới, trong khi đó Thái Lan là 20,Malaysia có 2 văn phòng ở Việt Nam
Phạm Trương Hoàng (2012), Hình ảnh điểm đến du lịch Việt Nam trong con mắt khách du lịch quốc tế [77] Điểm đến du lịch là yếu tố quan
trọng để thu hút khách, tạo sức cạnh tranh để phát triển du lịch Tác giả xácđịnh thực trạng hình ảnh điểm đến du lịch Việt Nam dựa trên kết quả điều tra
1031 khách du lịch quốc tế đến Việt Nam Du lịch Việt Nam là một điểm đếnnổi bật về văn hóa, tự nhiên hoang sơ, lòng hiếu khách và sự đa dạng Đồngthời, Việt Nam được đánh giá là giàu tiềm năng tài nguyên du lịch song chưađược khách du lịch quốc tế đánh giá cao Tác giả chỉ ra những điểm mạnh,điểm yếu đối với du lịch Việt Nam từ nhận định của khách du lịch quốc tế và
đề xuất một số kiến nghị để phát triển hình ảnh và du lịch Việt Nam
Đặng Thị Thanh Loan, Bùi Thị Thanh (2014), Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút khách du lịch: Nghiên cứu trường hợp điểm đến du lịch Bình Định [89] Bài báo xác định có tám yếu tố ảnh hưởng đến thực tế thu hút du
khách được sắp xếp theo mức độ quan trọng lần lượt là: Tài nguyên thiênnhiên; văn hóa, lịch sử và nghệ thuật; môi trường du lịch; khả năng tiếp cận;dịch vụ ăn uống, mua sắm và giải trí; cơ sở hạ tầng; cơ sở lưu trú; giá cả cácloại dịch vụ Từ đó, nhóm tác giả đề xuất một số chính sách nhằm tăng cườngthu hút du khách đến Bình Định trong thời gian tới
Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (2016), Tác động kinh tế của Du lịch và Lữ hành ở Việt Nam - năm 2016 [78] Cuốn sách phân tích tác động
của du lịch đối với kinh tế - xã hội thông qua nghiên cứu sự phát triển ngành
du lịch tại 184 quốc gia, 24 khu vực trên thế giới và nêu rõ:
Trang 16Năm 2015 là năm thứ 5 liên tục, ngành du lịch và lữ hành có tốc độtăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng của nền kinh tế thế giới (ở mức2,8% so với 2,3%), thậm chí cao hơn so với một số ngành kinh tế chủyếu như công nghệ chế tạo và bán lẻ Năm 2015, ngành du lịch và lữhành đã tạo ra 7,2 nghìn tỷ USD (tương đương 9,8% GDP toàn cầu),tạo ra 284 triệu việc làm - tương đương với tỷ lệ 1/11 việc làm đượctạo ra trong nền kinh tế toàn cầu [78, tr.1].
Đối với Việt Nam, Năm 2015, đóng góp trực tiếp của du lịch vào GDP là279.287 tỷ đồng, tương đương 6,6% GDP; được dự báo tăng 5,2% trong năm
2016 và tăng 7,2% mỗi năm trong giai đoạn 2016 - 2026, đạt 587.593 tỷ đồngvào năm 2026 (7,2% GDP) Năm 2015, du lịch và lữ hành trực tiếp tạo ra2.783.000 việc làm (5,2% tổng việc làm); được dự báo tăng 0,7% trong năm 2016
và tăng 2,4% mỗi năm, đạt 3.553.000 việc làm vào năm 2026 (5,7% tổng việc làm)[78, tr.1] Cuốn sách còn nêu rõ giá trị xuất khẩu du lịch; mức đầu tư cho du lịchnăm 2015 và xếp hạng của du lịch Việt Nam năm 2015, dự báo năm 2016
Nguyễn Sơn Hà (2016), Đào tạo nguồn nhân lực du lịch hiện nay [66].
Tác giả khẳng định tầm quan trọng của nguồn nhân lực nói chung và nguồnnhân lực du lịch nói riêng, trình bày thực trạng nhân lực du lịch Việt Nam giaiđoạn 2011 - 2015 về quy mô, trình độ, cơ cấu và thực trạng công tác đào tạonhân lực du lịch, về số trường, cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ đội ngũ giáoviên, quy mô đào tạo, khung chương trình đào tạo: Cả nước có 62 trường đạihọc, 80 trường cao đẳng, 117 trường trung cấp, 2 công ty đào tạo và 23 trungtâm có tham gia đào tạo nghiệp vụ du lịch Hầu hết các tỉnh, thành phố cótrung tâm đào tạo, bồi dưỡng nghề du lịch ngắn hạn Tuy nhiên, những các cơ
sở đào tạo còn thiếu trang thiết bị phục vụ cho môn học; chương trình, phươngpháp đào tạo không đặt trọng tâm nhiều về kỹ năng mềm; đội ngũ giáo viên cònthiếu, kinh nghiệm thực tế còn ít, nên ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
Hoàng Thị Lan Hương (2016), Đào tạo du lịch tại các trường đại học và cao đẳng - hội nhập và phát triển [83] Tác giả đánh giá thực trạng đào tạo du
lịch bậc đại học, cao đẳng tại Việt Nam và chất lượng nguồn nhân lực du lịch
Trang 17bậc đại học, cao đẳng với những số liệu thuyết phục Tác giả nhận định: Đào tạo
du lịch nói chung và đào tạo nghề du lịch nói riêng ở Việt Nam đã có những tiến
bộ đáng kể cả về chất và về lượng, tuy nhiên vẫn tồn tại những bất cập, khó khăn
về chất lượng tuyển chọn đầu vào, khung và trình độ đào tạo theo chuẩn, chươngtrình, giáo trình, nội dung đào tạo, phương pháp giảng dạy tiên tiến và phùhợp… Từ đó, đề cập đến sự chuẩn bị của các ngành, các trường cho sự thay đổitrong đào tạo du lịch khi Việt Nam hội nhập khu vực và gợi mở một số đề xuấtnhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo du lịch trong quá trình hội nhập
Nguyễn Thị Thu Hương (2017), Thực trạng và giải pháp phát triển ngành du lịch Việt Nam hiện nay [85] Tác giả nêu lên thực trạng phát triển du
lịch Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2016, cụ thể: Năm 1990 Việt Nam thu hút250.000 lượt khách quốc tế, đến năm 2016 đạt 10 triệu lượt khách Khách du lịchnội địa cũng tăng mạnh liên tục, từ 01 triệu lượt năm 1990 lên 35 triệu lượt vàonăm 2016 Sự phát triển không ngừng của du lịch Việt Nam thể hiện ở: Năm
2015, đóng góp trực tiếp của du lịch vào GDP là 279.287 tỷ đồng (tương đương6,6% GDP) và tạo ra 2,783 triệu việc làm (chiếm 5,2% tổng số việc làm) Từ đó,tác giả đề xuất 5 giải pháp phát triển du lịch trong thời gian tiếp sau
Ngoài ra còn có các công trình: Lê Đỗ Mười (2007), Thực trạng và giải pháp phát triển kết cấu hạ tầng giao thông để tăng cường thu hút khách
du lịch quốc tế [97]; Trần Tiến Dũng (2007), Phát triển du lịch bền vững ở Phong Nha - Kẻ Bàng [52]; Nguyễn Trọng Nhân, Trần Thị Hoàng Anh (2015), Đánh giá của du khách đối với du lịch miệt vườn vùng Đồng bằng sông Cửu Long [101]; Đặng Thị Thanh Loan (2015), Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch đối với điểm đến Bình Định [90]; Nguyễn Mạnh Cường (2016), Vai trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong phát triển du lịch bền vững tỉnh Ninh Bình [51]; Nguyễn Xuân Hiệp (9/2016), Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến của khách du lịch: Trường hợp điểm đến TP Hồ Chí Minh [73]; Lê Hoằng Bá Huyền, Nguyễn Thu Hương (2017), Xác định nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước phát triển du lịch tỉnh Thanh Hóa [80],
Trang 18Các nghiên cứu đề cập đến giải pháp, kinh nghiệm phát triển du lịch Nguyễn Văn Mạnh (2007), Một số kiến nghị để đào tạo nguồn nhân lực bậc đại học đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của ngành du lịch [92].
Tác giả khái quát về thực trạng đào tạo quản trị du lịch và khách sạn bậc đạihọc, cao đẳng ở Việt Nam tính đến năm 2006 Trên cơ sở đó, Tác giả đưa ramột số kiến nghị để đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu của xã hội
Đỗ Cẩm Thơ (2007), Nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch Việt Nam có tính cạnh tranh trong khu vực, quốc tế [115] Đề tài hệ thống những vấn đề lý luận
về cạnh tranh SPDL; phân tích và đánh giá thực trạng hệ thống SPDL Việt Nam;nghiên cứu cạnh tranh và định vị SPDL Việt Nam trong thị trường du lịch khu vực
và quốc tế; phân tích và đánh giá hệ thống SPDL của các nước cạnh tranh trongkhu vực như Thái Lan, Malaysia, Singapo, Trung Quốc, Inđônexia; phân tích đặcthù và thế mạnh cho SPDL Việt Nam; đề xuất biện pháp chủ yếu góp phần tăngcường tính cạnh tranh của SPDL Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2015
Nguyễn Thị Hồng Lâm, Nguyễn Kim Anh (2016), Kinh nghiệm phát triển kinh tế du lịch ở một số nước và gợi ý cho Việt Nam [88] Tác giả nghiên
cứu quá trình phát triển du lịch ở các nước: Trung Quốc, Thái Lan, Singapore
là các nước thành công trong việc phát triển ngành kinh tế này Từ đó, rút ra 6bài học kinh nghiệm, có thể xem là những gợi ý hữu ích nhằm thúc đẩy dulịch Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới, cụ thể: Nhà nướcquan tâm phát triển kinh tế du lịch, coi đây là một ngành công nghiệp khôngkhói; lập chương trình xúc tiến, quảng bá du lịch; đào tạo nhân lực cho dulịch; xây dựng và đa dạng hóa sản phẩm du lịch; liên kết, hợp tác trong pháttriển du lịch; miễn thị thực cho khách du lịch, tạo môi trường chính trị ổnđịnh, đảm bảo an ninh, an toàn cho du khách
Nguyễn Quyết Thắng (2017), Giải phát phát triển du lịch bền vững cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh hội nhập [113] Tác giả nhận
định, đẩy mạnh phát triển du lịch bền vững Vùng đồng bằng sông Cửu Longtrong bối cảnh hội nhập hiện nay có vai trò quan trọng đối với Việt Nam và cácnước tiểu vùng sông Mekông Trong giai đoạn 2012 - 2016, du lịch Vùng đồng
Trang 19bằng sông Cửu Long đã có sự phát triển nhanh chóng, tốc độ tăng trưởng bìnhquân số lượng khách đến giai đoạn 2012 - 2016 là 16%/năm, tổng thu du lịchtăng nhanh qua các năm Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần khắcphục như việc đầu tư nhiều nơi vẫn chưa thực sự hiệu quả; việc phát triển sảnphẩm của Vùng vẫn bị trùng lắp; chưa khai thác hết tiềm năng hợp tác của cácđịa phương; vấn đề về xử lý môi trường chưa tốt;… Dựa trên việc đánh giáthực trạng và nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng, tác giả đã đề xuất 6 nhóm giảipháp nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển du lịch bền vững của Vùng trongbối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.
Đinh Văn An (2018), Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 1991 đến năm 2015 [1] Luận án nghiên cứu chủ
trương, chính sách và tổ chức chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàuphát triển kinh tế du lịch từ năm 1991 đến năm 2015 Tập trung vào 4 nộidung chính: Phân tích những nhân tố tác động đến quá trình Đảng bộ tỉnh BàRịa - Vũng Tàu lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch trong những năm 1991 -
2015; hệ thống chủ trương phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ tỉnh Bà Rịa
-Vũng Tàu từ năm 1991 đến năm 2015; làm rõ sự chỉ đạo phát triển kinh tế dulịch từ năm 1991 đến năm 2015 của Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nhậnxét những thành tựu, hạn chế, đồng thời rút ra 5 kinh nghiệm lãnh đạo pháttriển kinh tế du lịch giai đoạn 1991 - 2015
Ngoài ra, còn có các công trình: Hồ Đức Phớc (2009), Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng đô thị du lịch ở Việt Nam [105]; Trần Sơn Hải (2010), Phát triển nguồn nhân lực ngành Du Lịch khu vực Duyên Hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên [69]; Nguyễn Văn Đức (2013), Tổ chức các hoạt động du lịch tại một
số di tích lịch sử - văn hóa quốc gia của Hà Nội theo hướng phát triển bền vững [65]; Nguyễn Văn Hợp (2014), Giải pháp quản lý và khai thác du lịch sinh thái ở các vườn quốc gia Việt Nam theo hướng phát triển bền vững [79]; Thái Thị Kim Oanh (2015), Đánh giá năng lực cạnh tranh du lịch biển, đảo của tỉnh Nghệ An và khuyến nghị chính sách [103]; Thái Thanh Quý, Đặng Thanh Tùng (2015), Du lịch tỉnh Nghệ An: Thực trạng và định hướng phát triển [111]
Trang 201.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
1.2.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài
Về mặt tư liệu
Các công trình nghiên cứu về du lịch khá phong phú về các dạng tài liệu ở cảtrong nước và ngoài nước, bao gồm sách, đề tài khoa học các cấp, bài báo khoa học
và cũng đã được nhiều nghiên cứu sinh chọn làm luận án tiến sĩ Phát triển du lịch
đã được các nhà khoa học nghiên cứu, tiếp cận dưới nhiều góc độ, với nhiều phạm
vi không gian và thời gian khác nhau Kết quả nghiên cứu của các công trình đãcung cấp cho nghiên cứu sinh những thông tin khoa học khá sâu rộng, phong phú
và đa dạng về nội dung có liên quan đến du lịch để nghiên cứu sinh kế thừa, vậndụng vào luận án của mình Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học chuyên ngành Lịch sửĐảng Cộng sản Việt Nam, chưa có công trình nào nghiên cứu về Đảng Cộng sảnViệt Nam lãnh đạo phát triển du lịch từ năm 2006 đến năm 2015
Về cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu về du lịch được tiếp cận dưới nhiều góc độ khácnhau như kinh tế học, kinh tế chính trị, văn hóa và sử dụng nhiều phương phápnghiên cứu như: Phân tích, tổng hợp, so sánh, lôgic, Cách tiếp cận đa dạng vớinhiều mức độ và phạm vi nghiên cứu khác nhau đã cung cấp cho nghiên cứu sinhnhững kiến thức khá đầy đủ về du lịch, giúp nghiên cứu sinh có cách tiếp cận vấn
đề nghiên cứu đa diện hơn, với sự phân tích, luận giải du lịch trong mối quan hệtương hỗ với các ngành kinh tế khác và các lĩnh vực xã hội
Về nội dung nghiên cứu
Thứ nhất, đã làm rõ những vấn đề lý luận về du lịch
Một số nghiên cứu trong và ngoài nước đã luận giải khá đầy đủ những vấn
đề lý luận cơ bản về du lịch, phân tích và khẳng định vai trò của phát triển du lịch;xác định được những vấn đề cơ bản về du lịch, bao gồm: Khái niệm du lịch, vị trí,vai trò của du lịch, quy hoạch du lịch, quản lý du lịch, khách du lịch, doanh nghiệp
du lịch, thị trường du lịch, năng lực cạnh tranh, điểm đến, nguồn nhân lực du lịch,
Trang 21quản lý nhà nước về du lịch, ứng dụng khoa học công nghệ trong phát triển dulịch, đầu tư phát triển du lịch, các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch…
Những luận giải trên đã cung cấp cho nghiên cứu sinh hiểu rõ hơn nhữngvấn đề lý luận về du lịch, giúp nghiên cứu sinh trả lời cho các câu hỏi: Du lịch làgì? Quy hoạch du lịch là gì? Những điều đó là cơ sở để tác giả nhận diện rõhơn nội hàm, phạm vi về vấn đề nghiên cứu của đề tài luận án Đó là cơ sở vàcông cụ mang tính định hướng cơ bản cho nghiên cứu sinh phân tích các nộidung chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với phát triển du lịch
Thứ hai, phân tích khá rõ tiềm năng, thế mạnh về phát triển du lịch ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Một số công trình khẳng định Việt Nam là quốc gia có tiềm năng, thếmạnh về phát triển du lịch và khẳng định tầm quan trọng của phát triển du lịch
ở Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đây lànguồn tư liệu quý, trực tiếp cung cấp cho tác giả những tiền đề lý luận và cơ sởthực tiễn đúng đắn trong nhận thức về phát triển du lịch ở Việt Nam hiện nay.Trên cơ sở đó, giúp tác giả phát triển tư duy hệ thống, toàn diện và biện chứngtrong nghiên cứu quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển du lịch
từ năm 2006 đến năm 2015
Thứ ba, đánh giá khá rõ về thực trạng hoạt động, từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp phát triển du lịch ở Việt Nam và một số vùng, miền, địa phương
Một số công trình đã đánh giá những thành tựu và hạn chế trong quátrình phát triển du lịch ở Việt Nam và các vùng miền, địa phương vớinhững số liệu đáng tin cậy Trên cơ sở đó, đề xuất nhiều giải pháp đồng bộnhằm đẩy mạnh phát triển du lịch ở Việt Nam, các vùng, địa phương Đây
là những tư liệu quý, gợi mở cho nghiên cứu sinh thấy rõ những thành tựu,hạn chế và giải pháp về phát triển du lịch ở các vùng miền, địa phương đểnghiên cứu sinh có cái nhìn tổng thể, đa diện hơn về phát triển du lịch ởViệt Nam, những số liệu trong đánh giá những thành tựu, hạn chế về quátrình đẩy mạnh phát triển du lịch đã cung cấp cho nghiên cứu sinh cơ sở
Trang 22thực tiễn để rút ra những kết luận bổ sung làm phong phú bài học kinhnghiệm phát triển du lịch Việt Nam.
Ngoài ra, một số công trình đề cập đến sự phát triển du lịch ở các nước trênthế giới, đặc biệt là các nước có ngành du lịch phát triển, các nước Đông Nam Á,
là cơ sở để tác giả so sánh phát triển du lịch ở Việt Nam với các nước này, từ đórút ra kết luận và bài học kinh nghiệm cho phát triển du lịch ở Việt Nam
Thứ tư, khái lược chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch
Một số công trình đã bước đầu đề cập đến chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước về phát triển du lịch trong công cuộc đổi mới Nhữngvấn đề trên đã chỉ dẫn nghiên cứu sinh cách tiếp cận nội dung, văn bảnmang tính chất lãnh đạo của Đảng về phát triển du lịch Do góc độ tiếp cậnchủ yếu ở các chuyên ngành khoa học khác nhau nên các công trình chỉmới dừng lại ở góc độ khái lược giới thiệu văn kiện và định hướng nộidung biện pháp thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển dulịch ở Việt Nam Đây là những tư liệu để nghiên cứu sinh có cái nhìn đadiện, đi sâu luận giải chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam đối với phát triển du lịch
1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Một là, những yếu tố tác động đến quá trình Đảng lãnh đạo phát triển
du lịch từ năm 2006 đến năm 2015
Để làm rõ vấn đề này, luận án tập trung phân tích làm rõ bốn vấn đề: (1) Phântích vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và quốc phòng, anninh (2) Những tác động của tình hình thế giới, khu vực đến phát triển du lịch ở ViệtNam (3) Tiềm năng, thế mạnh và những khó khăn, thách thức của Việt Nam về dulịch (4) Thực trạng Đảng lãnh đạo phát triển du lịch trước năm 2006
Hai là, chủ trương và quá trình chỉ đạo phát triển du lịch của Đảng từ năm 2006 đến năm 2015
Trang 23Hệ thống hóa chủ trương của Đảng về phát triển du lịch từ năm 2006đến năm 2015 Đồng thời, luận án làm rõ quá trình Đảng chỉ đạo tổ chứcthực hiện phát triển du lịch từ năm 2006 đến năm 2015 trên 5 nội dung: Xâydựng quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch; phát triển SPDL; đầu tư pháttriển du lịch; XT, QBDL; phát triển nguồn nhân lực du lịch Đặc biệt, đểnâng cao tính lịch sử và làm rõ chủ trương, chỉ đạo phát triển du lịch trongnhững năm 2006 đến năm 2015, luận án phân tích so sánh làm rõ sự pháttriển trong hoạt động lãnh đạo của Đảng giữa hai giai đoạn 2006 - 2010 và
2011 - 2015; trong những năm 2006 - 2015 so với trước năm 2006 và sosánh du lịch Việt Nam với một số nước trong khu vực
Ba là, ưu điểm, hạn chế và những kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo phát triển du lịch từ năm 2006 đến năm 2015
Dựa vào kết quả nghiên cứu ở 2 chương mô tả lịch sử và các báo cáotổng kết của Đảng, Chính phủ, các cơ quan, ban ngành liên quan, luận án tổngkết, khái quát, đánh giá khách quan, toàn diện ưu điểm và khuyết điểm trên bamặt, nhận thức và xác định chủ trương, hoạt động chỉ đạo tổ chức thực hiệncủa Đảng và kết quả thực tiễn đạt được về phát triển du lịch trong những năm
2006 - 2015 trên 5 nội dung: Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển dulịch; Phát triển SPDL; đầu tư phát triển du lịch; XT, QBDL; phát triển nguồnnhân lực du lịch Nghiên cứu sinh xác định, đúc rút kinh nghiệm dựa trên cảnhững thành công và những vấn đề chưa thành công trong thực tiễn lãnh đạophát triển du lịch của Đảng từ năm 2006 đến năm 2015
Trang 24Kết luận chương 1
Phát triển du lịch là chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh
tế, VH - XH của nhiều quốc gia, nhằm tạo ra động lực để khai thác có hiệu quảnhững tiềm năng, điều kiện thuận lợi trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của nền kinh
tế Vì vậy, nghiên cứu về phát triển du lịch trên thế giới cũng như ở Việt Namđược đề cập ở nhiều công trình với sự đa dạng về nội dung và phương pháp tiếpcận cũng như cách thức giải quyết ở nhiều chuyên ngành khoa học khác nhau
Thành công của các công trình đã công bố có liên quan đến phát triển
du lịch là tương đối toàn diện giải quyết nhiều vấn đề về lý luận và thựctiễn về phát triển du lịch ở Việt Nam và thế giới Mặc dù tiếp cận dưới góc
độ các chuyên ngành khác nhau, nhưng đều khẳng định vị trí, vai trò, tầmquan trọng đặc biệt, sự tác động của du lịch đối với phát triển kinh tế, VH -
XH Các nghiên cứu cũng chỉ ra thực trạng phát triển, thành tựu, hạn chế
và những giải pháp phát triển du lịch ở Việt Nam, các vùng, địa phương.Kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan đến đề tài là cơ sở đểnghiên cứu sinh có thể tham khảo, kế thừa, đồng thời chỉ ra những vấn đềchưa được nghiên cứu làm rõ
Vận dụng phương pháp luận sử học mác xít, căn cứ vào đối tượng,chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu của khoa học Lịch sử Đảng, nghiên cứu sinh
đã xác định được khoảng trống khoa học và những vấn đề luận án tập trung
giải quyết Đề tài “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển du lịch từ năm 2006 đến năm 2015” là đề tài không trùng lặp với các công trình khoa
học đã công bố Đặt trong bối cảnh hiện nay, trước yêu cầu phát triển kinh tếnhanh, bền vững, phát triển du lịch có những nội dung, yêu cầu mới, pháttriển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn vào năm 2020, việc thực hiện
đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Thành công của đề tài sẽ gópphần tổng kết quá trình hiện thực hóa chủ trương, chính sách phát triển du lịchcủa Đảng, cung cấp thêm những luận cứ khoa học để tiếp tục bổ sung, hoànchỉnh đường lối đẩy mạnh phát triển du lịch
Trang 25Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG
VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH (2006 - 2010) 2.1 Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng về phát triển
2005, tại Điều 4, Chương I định nghĩa: Du lịch là các hoạt động có liên quanđến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằmđáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thờigian nhất định Tiếp cận dưới góc độ kinh tế, Pháp lệnh Du lịch Việt Nam 1999xác định: “Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng” [107, tr.3] Cươnglĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Đại hội VII củaĐảng khẳng định: “Du lịch là ngành kinh tế dịch vụ cần được đẩy mạnh phát
triển” [54, tr.253] Chỉ thị 46 - CT/TW, ngày 14/10/1994, Về lãnh đạo, đổi mới và phát triển du lịch trong tình hình mới, nêu rõ: “Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp
có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao” [2, tr.2]
Như vậy, có rất nhiều khái niệm du lịch dưới các góc độ khác nhau,
dưới góc độ văn hoá, xã hội thì cốt lõi của hoạt động du lịch là văn hoá, làmột dạng nghỉ dưỡng tích cực của con người, dưới góc độ kinh tế, du lịch làmột ngành kinh tế tổng hợp
Trang 26Nghiên cứu sinh lấy khái niệm du lịch nêu trong Chỉ thị 46 - CT/TW, ngày 14/10/1994 của Ban Bí thư, Về lãnh đạo, đổi mới và phát triển du lịch trong tình hình mới làm hướng nghiên cứu Theo đó, nghiên cứu sinh hiểu du lịch ở 3 khía cạnh: Một là, du lịch là ngành kinh tế có tính đặc thù, thuộc nhóm dịch vụ, là ngành
kinh tế tổng hợp, có nhiệm vụ khai thác các tài nguyên du lịch thành SPDL, đáp ứngnhu cầu của du khách, du lịch không phải là một ngành công nghiệp cụ thể, nó chỉ
hoạt động được khi có sự kết hợp của nhiều ngành khác Hai là, nội dung của du lịch
bao gồm: (1) Quy hoạch du lịch; (2) sản phẩm du lịch; (3) thị trường du lịch; (4) đầu
tư du lịch; (5) XT, QBDL; (6) đào tạo nhân lực du lịch; (7) hợp tác quốc tế về du lịch;
(8) ứng dụng khoa học công nghệ vào du lịch Ba là, hiệu quả của du lịch được thể
hiện bằng việc thu hút số lượng khách du lịch, tổng thu từ khách du lịch và đóng gópvào sự phát triển chung của kinh tế, VH - XH
Vai trò
Phát triển du lịch có tác động to lớn tới kinh tế, VH - XH, môi trường vàquốc phòng an ninh của mỗi quốc gia
Đối với kinh tế
Phát triển du lịch là nguồn thu quan trọng của ngân sách quốc gia.Phát triển du lịch có tác động lớn đến hoạt động xuất khẩu, làm cho hoạtđộng xuất khẩu đạt hiệu quả cao, điều này thể hiện ở chỗ: Tiêu dùng SPDLxảy ra cùng lúc, cùng nơi sản xuất ra chúng, do đó, du lịch có điều kiệnxuất khẩu tại chỗ những hàng hóa theo giá bán lẻ mà không gặp phải hàngrào thuế quan quốc tế Mặt khác, du lịch là ngành “xuất khẩu vô hình” cáccảnh quan, tài nguyên thiên nhiên, các giá trị tài nguyên nhân văn, các giátrị đó không bị mất đi qua mỗi lần mua bán, mà ngược lại giá trị của nótăng lên qua mỗi lần đưa ra thị trường, với hình thức xuất khẩu đó, việcphát triển du lịch thực sự là ngành kinh tế hiệu quả, thu hồi vốn nhanh, lãisuất cao, đóng góp lớn vào ngân sách Nhà nước
Phát triển du lịch sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành nghề khác,
vì SPDL mang tính liên ngành, có liên quan đến nhiều ngành kinh tế khác
Trang 27Khi một khu vực, thành phố nào đó trở thành khu du lịch, thành phố dulịch làm cho nhu cầu hàng hóa tăng lên Xuất phát từ nhu cầu của dukhách, ngành du lịch không ngừng mở rộng tính liên ngành, liên vùng củamình, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển cũng như chuyển dịch cơcấu nền kinh tế Hơn nữa, nhu cầu du khách ngày càng cao, do đó, SPDLphải ngày một đa dạng, phong phú, không ngừng được cải tiến, phát triển,muốn làm được điều này, doanh nghiệp buộc phải đầu tư, đào tạo, tuyểnchọn nguồn nhân lực có trình độ và không ngừng hoàn thiện hệ thống giaothông, mạng lưới điện, nước, thông tin liên lạc.
Phát triển du lịch góp phần vào củng cố và phát triển các mối quan hệkinh tế quốc tế Du lịch phát triển theo hướng quốc tế hóa vì khách du lịchthường đến nhiều nước, nhiều vùng khác nhau, hơn nữa, các tổ chức chínhphủ và phi chính phủ về du lịch đã và đang có những tác động tích cực trongviệc hình thành các mối quan hệ quốc tế Trong điều kiện Việt Nam cònnghèo, thiếu vốn đầu tư, thì việc hình thành các mối quan hệ kinh tế quốc tế,
từ đó thu hút vốn đầu tư càng có ý nghĩa quan trọng
Trên bình diện chung, hoạt động du lịch có tác dụng làm biến đổi cáncân thu chi của nền kinh tế Du khách quốc tế mang ngoại tệ vào các nơi họđến, làm tăng nguồn thu ngoại tệ của quốc gia đó, ngược lại, phần chi ngoại tệ
sẽ tăng lên đối với các quốc gia có nhiều du khách ra nước ngoài Trong phạm
vi một quốc gia, hoạt động du lịch góp phần điều tiết, luân chuyển tiền tệ,hàng hóa từ các vùng kinh tế phát triển sang các vùng kém phát triển hơn,kích thích sự tăng trưởng kinh tế của các vùng này
Đối với văn hóa, xã hội
Phát triển du lịch có tác động tích cực đến việc giải quyết các vấn đề xã hội,nhất là việc làm cho người lao động Đó là việc làm trực tiếp trong các nhà hàng,khách sạn, văn phòng du lịch, Năm 2005, tổng số lao động trong ngành du lịchchiếm 19,7% tổng số lao động toàn cầu, cứ 2,5 giây, du lịch tạo ra được một việclàm mới, cứ 8 lao động thì có một lao động làm trong ngành du lịch Một buồng
Trang 28khách sạn từ 1-3 sao trên thế giới thu hút 1,3 lao động Theo dự báo của Tổ chức
Du lịch thế giới, năm 2010, du lịch sẽ tạo thêm 150 triệu việc làm, chủ yếu tậptrung ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương [149, tr.52]
Phát triển du lịch góp phần giải quyết các vấn đề văn hóa xã hội ở cácvùng sâu, vùng xa, làm chậm quá trình đô thị hóa Thông thường, tài nguyênthiên nhiên thường có nhiều ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, việc khai thác đưavào sử dụng đòi hỏi phải đầu tư về giao thông, thông tin liên lạc, kinh tế, vănhóa, Vì vậy, phát triển du lịch sẽ làm thay đổi bộ mặt của khu vực đó, đồngthời góp phần làm giảm sự tập trung dân cư ở những trung tâm lớn
Phát triển du lịch góp phần quảng bá, giữ gìn các giá trị văn hóa truyềnthống XT, QBDL là phương tiện quan trọng để tuyên truyền, quảng bá hìnhảnh, văn hóa của các quốc gia, các dân tộc, thông qua đó, các giá trị truyềnthống văn hóa lịch sử, các phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc, cáclàng truyền thống đến với nhân dân cả nước, với bạn bè quốc tế, từ đó gópphần bảo tồn, giữ gìn các giá trị đó
Hoạt động du lịch, trong chừng mực nào đó, chế độ nghỉ dưỡng tối ưugóp phần hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ, tăng cường sức khỏe và khả nănglao động của con người Qua nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, nhờ dulịch mà số người mắc các bệnh tật giảm đáng kể Theo công trình nghiên cứucủa Crivôsep và Dorin nhờ du lịch nghỉ ngơi, số người mắc bệnh giảm trungbình 30%, trong đó bệnh đường hô hấp giảm 40%, bệnh thần kinh giảm 30%,bệnh đường tiêu hoá giảm 20%
Đối với môi trường, quốc phòng an ninh
Phát triển du lịch giúp cho con người biết được tầm quan trọng củathiên nhiên, ý thức phải bảo vệ thiên nhiên Việc làm quen với các danh thắng vàmôi trường tự nhiên bao quanh sẽ tạo điều kiện cho con người nhận thức vai tròquan trọng của thiên nhiên, thấy được giá trị của thiên nhiên đối với đời sốngcon người, hình thành quan niệm và thói quen bảo vệ tự nhiên Hơn nữa, để đápứng nhu cầu của du khách, phải xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên, các rừngquốc gia Muốn vậy, các quốc gia phải có chiến lược trong bảo vệ tài nguyên
Trang 29thiên nhiên, bảo vệ môi trường du lịch tự nhiên ngày càng hấp dẫn du khách,nhằm mục đích vừa tổ chức các hoạt động nghỉ ngơi giải trí vừa bảo vệ các cảnhquan tự nhiên có giá trị và các nguồn gen quý.
Hoạt động du lịch góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng và trật tự antoàn xã hội, phát triển du lịch ở các vùng biên giới, hải đảo đã góp phần tíchcực khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển và đất liền, đồng thời tạo ra hệthống phòng thủ từ xa cho đất nước
Như vậy, điều kiện kinh tế xã hội tác động to lớn đến sự phát triển du
lịch, ngược lại, phát triển du lịch có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh của quốc gia, do đó, phải luôn đảm bảo
sự lãnh đạo chặt chẽ, toàn diện của Đảng đối với du lịch, chỉ có như vậy mớibảo đảm cho du lịch phát triển mạnh mẽ, đóng góp vào sự phát triển chung củađất nước, đồng thời, trong quá trình phát triển du lịch, phải luôn quan tâm bảo
vệ tài nguyên du lịch, phát triển văn hóa, đảm bảo quốc phòng an ninh
2.1.1.2 Tác động của tình hình thế giới, khu vực đối với phát triển
xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, các vùng lãnh thổ vừa thúc đẩy hợp tác,vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế ngàycàng tăng lên Đa dạng hóa, đa phương hóa trong các mối quan hệ quốc tế đã tạo
ra những tiền đề thuận lợi cho sự phát triển của các quốc gia Quan hệ songphương, đa phương ngày càng được mở rộng trong các hoạt động kinh tế, vănhóa, xã hội, môi trường, hơn nữa, nhu cầu đi du lịch của con người tăng nhanh.Bối cảnh đó, mang lại cơ hội lớn trong hợp tác thúc đẩy phát triển du lịch
Hai là, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ
Trang 30Khoa học công nghệ được ứng dụng ngày càng có hiệu quả, có sức lantỏa vô cùng nhanh và rộng vào mọi mặt kinh tế, xã hội Điểm xuất phát của
du lịch Việt Nam thấp, thiếu kinh nghiệm quản lý và công nghệ tiên tiến hiệnđại, nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt công nghệ thông tin truyền thôngđược ứng dụng trong phát triển du lịch Do đó, với sự phát triển mạnh mẽ củakhoa học công nghệ, Việt Nam có cơ hội đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng khi cóthể tận dụng các thành tựu khoa học công nghệ, nhanh chóng tiếp thu côngnghệ mới ứng dụng trong phát triển du lịch
Ba là, khu vực châu Á-Thái Bình Dương phát triển năng động
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương có địa kinh tế, địa chính trị đặcbiệt quan trọng Tiếp giáp với nhiều đại dương, trong đó Thái Bình Dương là
“cửa ngõ” của thế giới Chiếm khoảng 1/2 dân số thế giới; là khu vực có trữlượng dầu mỏ, khí đốt rất lớn và dự trữ ngoại hối chiếm 2/3 tổng lượng củathế giới Từ khi bước vào thế kỷ XXI đến nay, kinh tế khu vực châu Á - TháiBình Dương phát triển nhanh chóng, là một trong những khu vực kinh tếphát triển năng động nhất, có thị trường mới nổi lớn nhất thế giới, xuất khẩuchiếm 30% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn cầu Ở Đông Nam Á, các nướctiếp tục tăng cường hợp tác trong khuôn khổ ASEAN; mở rộng quan hệthông qua Diễn đàn an ninh khu vực, Diễn đàn hợp tác Á - Âu, Khu vựckinh tế Đông Á, nên Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển du lịch: Thuhút vốn; tiếp thu khoa học công nghệ; mở rộng thị trường khách du lịch,
Những tác động tiêu cực
Một là, kinh tế, chính trị thế giới diễn biến phức tạp, khó lường
Mặc dù hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn trên thế giới, songchiến tranh cục bộ, xung đột sắc tộc, tôn giáo, khủng bố, bất ổn chính trị - xãhội, tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ diễn ra ở nhiều nơi, diễn biến phức tạp,các vấn đề thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng năng lượng, ô nhiễm môitrường, biến đổi khí hậu, ngày càng khó lường, chẳng hạn: Khủng hoảngkinh tế diễn ra đồng thời với những bất ổn về chính trị nội bộ ở Ukraine
Trang 312008 - 2009, khủng hoảng chính trị ở Iran, khủng hoảng tài chính từ Mỹtrong những năm 2007 - 2009 lan rộng, trở thành cuộc khủng hoảng tàichính và suy thoái kinh tế toàn cầu, kéo theo sự sụp đổ đồng loạt của nhiềuđịnh chế tài chính Năm 2009, dịch cúm A (H1N1) đã lan tới 75 nước vàvùng lãnh thổ trên thế giới, khiến khách du lịch không dám đến các nước
và trở thành những vấn đề nghiêm trọng trên quy mô toàn thế giới Nhữngđiều đó gây ra những khó khăn rất lớn đối với phát triển kinh tế xã hội nóichung và du lịch nói riêng
Hai là, khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Đông Nam Á diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nhân tố bất ổn
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương và khu vực Đông Nam Á tiềm ẩnnhiều bất trắc, gây mất ổn định nghiêm trọng Trong đó mâu thuẫn dân tộc,tôn giáo, sắc tộc diễn ra ở nhiều nơi; các tranh chấp về lãnh thổ, tài nguyên,
về địa vị quốc tế như: Khủng hoảng chính trị ở Thái Lan 2008 - 2010, tranhchấp chủ quyền quần đảo Senkaku (Điếu Ngư); tranh chấp chủ quyền trênbiển Đông là những vấn đề hết sức đáng lo ngại, gây cản trở và đe dọa trựctiếp đến an ninh chung của khu vực và thế giới, ảnh hưởng tiêu cực đến sựphát triển kinh tế xã hội của các nước, trong đó có du lịch
2.1.1.3 Tiềm năng, thế mạnh và những khó khăn, thách thức của du lịch Việt Nam
Tiềm năng, thế mạnh của du lịch Việt Nam
Tài nguyên du lịch
Việt Nam là quốc gia giàu tài nguyên du lịch, trong đó, nổi trội là tàinguyên du lịch thiên nhiên và nhân văn
Tài nguyên du lịch thiên nhiên
Việt Nam là một quốc gia nằm ở trung tâm Đông Nam Á, rất thuậntiện để giao lưu, hợp tác với các nước trên thế giới, trong việc phát triểncác ngành kinh tế, đặc biệt là du lịch Vị trí và hình thể chữ S, với 3/4 làđồi núi đã tạo nên sự phân hóa đa dạng, hình thành các vùng tự nhiên khácnhau giữa miền Bắc và miền Nam với nguồn tài nguyên du lịch thiên nhiên
Trang 32phong phú, là cơ sở quan trọng để phát triển du lịch từ khai thác, phát triểncác SPDL đến xúc tiến, thu hút khách du lịch, các nhà đầu tư, Cụ thể:
Các danh lam thắng cảnh, di sản thiên nhiên: Thành phố Đà Lạt (LâmĐồng), Sa Pa (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Hạ Long (Quảng Ninh), trong
đó Đà Lạt và Sa Pa ở độ cao trên 1.500 m được mệnh danh là thành phố trongsương mù, mang nhiều sắc thái của thiên nhiên vùng ôn đới, đã xây dựng thànhđiểm du lịch hơn 100 năm Đặc biệt là hệ thống di sản thiên nhiên thế giới baogồm: Vịnh Hạ Long, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Cao nguyên ĐáĐồng Văn là những địa điểm có sức hấp dẫn rất lớn đối với khách du lịch
Các Hang động: Việt Nam có khoảng 200 hang động có khả năng khaithác phục vụ du lịch, có nhiều cảnh đẹp lộng lẫy, tráng lệ và rất kỳ ảo, có sứchấp dẫn đặc biệt [20, tr.36] Tiêu biểu nhất là Động Phong Nha (Quảng Bình),Tam Cốc, Bích Động (Ninh Bình), Hang Pác Bó (Cao Bằng), các hang động ởVịnh Hạ Long (Quảng Ninh), thuận lợi để phát triển các loại hình du lịchthể thao, khám phá, tham quan
Các bãi biển: Có thế mạnh về biển với chiều dài hơn 3.260 km vớikhoảng 125 bãi biển có khả năng khai thác phục vụ du lịch [20, tr.37] Các bãibiển ở Việt Nam có chất lượng tương đối cao về độ dốc, độ mịn, độ trong nướcbiển, phân bố trải đều từ Bắc vào Nam, thuận lợi để khai thác phục vụ du lịch.Tiêu biểu là các bãi biển: Trà Cổ, Sầm Sơn, Cửa Lò, Thuận An, Lăng Cô, NonNước, Sa Huỳnh, Nha Trang, Bình Tiên, Cà Ná, Mũi Né,
Các đảo và quần đảo ven bờ: Vùng biển ven bờ Việt Nam có khoảng2.773 hòn đảo lớn nhỏ với nhiều bãi biển và phong cảnh đẹp, còn nguyên vẹn
vẻ hoang sơ, môi trường trong lành [20, tr.37] Đây là những điều kiện tự nhiênrất thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch biển, đảo, tiêu biểu nhất là cácđảo Cái Bầu, Quan Lạn, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Côn Đảo, Phú Quốc,
Các di tích danh thắng: Việt Nam có rất nhiều địa hình thiên tạo có giátrị hình tượng nghệ thuật gắn với các sự tích và truyền thuyết, như: Hòn Phụ
Tử, Núi Vọng Phu, Hòn Trống Mái, Hòn Đá Chông, Hang Từ Thức, Thác
Trang 33Bản Giốc, Hồ Ba Bể, Hồ Lăk, Hồ Tơ Nưng, làm tăng thêm tính hấp dẫn vàtrải nghiệm cho các hoạt động du lịch.
Khí hậu Việt Nam rất đa dạng phù hợp với việc tổ chức các hoạt động
du lịch, hình thành các khu nghỉ dưỡng du lịch lý tưởng Cụ thể: Khí hậu ấm
áp quanh năm đặc biệt là khí hậu biển nhiệt đới ở vùng Duyên Hải NamTrung Bộ và Nam Bộ có sức thu hút khách du lịch các vùng ôn đới; khí hậu 4mùa rõ rệt ở miền Bắc tạo nên sắc thái đa dạng của thiên nhiên hấp dẫn dulịch đối với du khách đến từ những vùng lãnh thổ không phân mùa rõ rệt; khuvực khí hậu Đà Lạt, Sapa, Tam Đảo, với đặc trưng ôn đới, hầu như quanhnăm mát mẻ thu hút khách từ vùng nhiệt đới
Nguồn tài nguyên sinh vật ở Việt Nam có giá trị hấp dẫn du lịch bởi tính đadạng sinh học, bảo tồn được nhiều nguồn gen, loài quý hiếm đặc trưng cho vùngnhiệt đới, trong đó có nhiều loài đặc hữu Việt Nam đã phát hiện được khoảng11.000 loài thực vật, gần 2000 loài động vật, cùng với đó là hệ thống các khu rừngđặc dụng, đặc biệt là các vườn quốc gia, là tiềm năng du lịch lớn, năm 2009 trênphạm vi cả nước đã có 30 vườn quốc gia, 69 khu bảo tồn thiên nhiên và 45 khurừng với tổng diện tích là 2,2 triệu ha bằng 10,5% diện tích đất lâm nghiệp và gần6% diện tích lãnh thổ Việt Nam [20, tr.38]
Bên cạnh đó, các điểm nước khoáng, suối nước nóng của Việt Nam là tàinguyên thiên nhiên rất quý giá để triển khai các loại hình du lịch tham quan,nghỉ dưỡng, chữa bệnh Ở Việt Nam, bước đầu đã điều tra khảo sát được trên
400 nguồn nước khoáng tự nhiên như: Mỹ Lâm Tuyên Quang , Thanh Thủy Phú Thọ, Kim Bôi - Hoà Bình, Phú Ninh - Quảng Nam, Thạch Bích - QuảngNgãi, Tháp Bà - Khánh Hòa, Vĩnh Hảo - Bình Thuận, [20, tr.38]
-Tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn rất phong phú đa dạng, bao gồm: Các di tíchlịch sử, nghệ thuật, kiến trúc, những phong tục tập quán, các làng nghề và truyềnthống văn hoá đặc sắc của các dân tộc tạo điều kiện phát triển nhiều loại hình
du lịch phong phú, hấp dẫn như: Nghỉ dưỡng, thể thao, nghiên cứu khoa học, hộichợ, hội nghị, festival dài ngày và ngắn ngày
Trang 34Về các di sản, di tích lịch sử - văn hóa: Ở Việt Nam hầu hết các tỉnh,thành đều có các di tích lịch sử - văn hóa, phản ánh quá trình dựng nước vàgiữ nước của dân tộc, nét xuyên suốt là truyền thống, bản ngã Việt Nam Năm
2010, có 3.125 di tích cấp quốc gia, trong đó 15 di sản văn hoá được Tổ chứcGiáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc công nhận [20, tr.41], tiêubiểu: Đền Hùng , nhắc con dân Việt hướng về cội nguồn, hướng về đất tổ,Kinh đô Huế với những nét kiến trúc độc đáo, nơi ghi dấu cuối cùng của nềnPhong kiến Việt Nam, được công nhận là di sản văn hóa thế giới Những ditích lịch sử - văn hoá là tài nguyên du lịch trọng yếu để xây dựng nhữngSPDL độc đáo, có sức cạnh tranh cao
Về Lễ hội: Theo thống kê 2009, cả nước có trên 3000 lễ hội dân gian [20,tr.42], tiêu biểu như: Hội Gióng (Sóc Sơn, Hà Nội), Lễ hội Đ ền Hùng (Phú Thọ),
Lễ hội Đền Trần, Phủ Dày (Nam Định ), Lễ hội Yên Tử (Quảng Ninh), Lễ hộiĐâm Trâu của bà con dân tộc Tây Nguyên, Hệ thống các lễ hội đang được lồngghép trong các SPDL và trở thành yếu tố đặc sắc để quảng bá về đất nước, conngười, văn hóa và du lịch Việt Nam
Các làng nghề Việt Nam: Việt Nam có gần 2.000 làng nghề [20, tr.42]như: Làng gốm Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội), Làng tranh Đông Hồ (ThuậnThành, Bắc Ninh), Làng đá Mỹ Nghệ Non Nước (Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng),Làng lụa Vạn Phúc (Hà Đông, Hà Nội, với 12 nhóm sản phẩm thủ côngchính, bao gồm: Mây tre đan; sản phẩm từ cói và lục bình; gốm sứ; điêu khắcgỗ; sơn mài; thêu ren; điêu khắc đá; dệt thủ công; giấy thủ công; tranh nghệthuật; kim khí và những sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác
Về Ẩm thực: Ẩm thực Việt Nam tuân theo hai nguyên lý là âm dươngphối triển và ngũ hành tương sinh, thiên về phối trộn gia vị một cách tinh tế,với nét đặc biệt mà các nước khác, nhất là nước phương Tây không có chính
là gia vị nước mắm Ẩm thực Việt Nam được chia ra ba miền rõ rệt là Bắc,Trung, Nam Mỗi miền có một nét, khẩu vị đặc trưng Ẩm thực miền Bắcthường không đậm các vị cay, béo, ngọt bằng các vùng khác Ẩm thực miềnNam thường cho thêm đường và hay sử dụng sữa dừa (nước cốt và nước dão
Trang 35của dừa) rất đặc biệt với những món ăn dân dã Đồ ăn miền Trung có hương
vị riêng biệt, nhiều món ăn cay và mặn hơn đồ ăn miền Bắc và miền Nam,màu sắc được phối trộn phong phú, rực rỡ, thiên về màu đỏ và nâu sậm.Ngoài ra, văn hoá ăn bằng đũa, cùng 54 dân tộc với từng món ăn mang bảnsắc riêng đã thực sự trở thành thương hiệu, quảng bá cho Du lịch Việt Nam
Các yếu tố dân tộc học: Với 54 dân tộc sống trên nhiều vùng, địa bàn khácnhau, điều kiện sinh sống, đặc điểm văn hoá, phong tục, tập quán, hoạt động sản xuấtvới những sắc thái riêng là yếu tố quan trọng để hình thành các loại hình du lịch như:Tham quan, tìm hiểu, Trong 54 dân tộc, nhiều dân tộc vẫn giữ nguyên được nhữngnét sinh hoạt văn hoá truyền thống của mình, đặc biệt là các dân tộc Tày, Nùng, Thái,Mường ở miền Bắc; các dân tộc Chăm, Gia Rai, Ê Đê, Ba Na ở miền Trung và TâyNguyên; các dân tộc Khơme ở Đồng bằng sông Cửu Long, đều có những truyềnthống văn hoá có giá trị cao có thể khai thác phục vụ phát triển du lịch
Những thuận lợi khác từ điều kiện kinh tế xã hội
Trong giai đoạn 2006 - 2010, Việt Nam đã vượt qua khó khăn, tháchthức do tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, kinh
tế vĩ mô cơ bản ổn định, tốc độ tăng trưởng khá, bình quân 5 năm đạt 7%, quy
và năng lực sản xuất đều tăng Năm 2010, GDP đạt 101,6 tỷ USD, bình quânđầu người đạt 1.168 USD, Việt Nam đã ra khỏi nhóm nước có thu nhập thấp,bước vào nhóm các nước đang phát triển có thu nhập trung bình [60, tr.91- 92]
Sự tăng trưởng và ổn định của nền kinh tế đã góp phần quan trọng, tạo điềukiện thuận lợi để du lịch phát triển
Quan hệ ngoại giao tích cực của Việt Nam với thế giới đang mở ra cơ hội thuhút đầu tư vốn và công nghệ vào du lịch Năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO, làđiều kiện thuận lợi để nền kinh tế nói chung và du lịch nói riêng có điều kiện để pháttriển Các nền kinh tế lớn, các tổ chức quốc tế đang tích cực hỗ trợ Việt Nam trongquá trình chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường và ngày một đầu tư nhiều hơnvào Việt Nam, đầu tư của nước ngoài cho phát triển du lịch ngày một tăng
Các lĩnh vực văn hóa, xã hội đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đời sốngvật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, tạo điều kiện thuận lợi để thúc
Trang 36đẩy du lịch phát triển Năm 2009, Dân số Việt Nam khoảng 86 triệu người, độ tuổilao động chiếm tỉ lệ cao, lao động cần cù, thông minh, chịu khó học hỏi, trình độhọc vấn ngày càng cao, là những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch Mặt khác,nhân dân ta nói chung, lực lượng lao động nói riêng là những con người trung hậu,yêu nước, chịu thương, chịu khó, lịch thiệp, hiếu khách, luôn tự hào là người ViệtNam Người Việt luôn coi trọng “nhân - lễ - nghĩa - trí - tín”, điều này đặc biệt quantrọng với những người làm hướng dẫn viên du lịch, bộ phận làm trong khách sạn,nhà hàng, nhân viên phục vụ du lịch Đó là tiềm năng để phát triển du lịch, bởi laođộng du lịch là lao động thỏa mãn nhu cầu của con người.
Cơ sở vật chất kỹ thuật và thiết bị du lịch như: Hệ thống giao thông, hệthống điện và cấp, thoát nước, hệ thống thông tin truyền thông, hệ thống đôthị, các công trình thể thao, vui chơi giải trí, hệ thống cơ sở lưu trú, nhàhàng… tuy chưa thật sự đầy đủ, song về cơ bản, điều kiện cơ sở vật chất kỹthuật và trang thiết bị du lịch có thể đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch Hệthống giao thông đang dần được hoàn thiện cả về đường sắt, đường bộ, đườnghàng không Hệ thống nhà hàng, khách sạn Việt Nam ngày càng nhiều và đầy
đủ hơn đáp ứng nhu cầu nghĩ dưỡng của du khách, hệ thống khu vui chơi, giảitrí, mua sắm du lịch đang được đầu tư mạnh mẽ
Những khó khăn, thách thức của du lịch Việt Nam
Từ năm 2006 đến năm 2010, Việt Nam đã đạt được những thành tựuquan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội và quốc phòng an ninh,tuy nhiên vẫn còn những hạn chế nhất định trong từng lĩnh vực Đại hội XIcủa Đảng (2011) nhận định: Kinh tế phát triển chưa bền vững; chất lượng,hiệu quả, sức cạnh tranh thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, cơ hội và yêucầu phát triển của đất nước [60, tr.165] Bên cạnh đó, các lĩnh vực giáo dục vàđào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, xã hội, môi trường còn nhiều hạnchế, yếu kém [60,tr.167] Những điều đó mang đến những khó khăn, tháchthức đối với phát triển kinh tế, văn hóa xã hội nói chung và phát triển du lịchnói riêng, những biểu hiện cụ thể là: Nguồn vốn đầu tư cho phát triển du lịchcòn ít; nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch còn thiếu và yếu; cơ sở hạ
Trang 37tầng du lịch về giao thông, điện, nước chưa thật sự đảm bảo; hệ thống SPDL,các khu vui chơi giải trí chưa thực sự hấp dẫn.
2.1.1.4 Thực trạng Đảng lãnh đạo phát triển du lịch trước năm 2006
Ưu điểm
Thứ nhất, Đảng đã hình thành và từng bước bổ sung hệ thống các quan
điểm, chủ trương, chính sách phát triển du lịch
Những chủ trương, chính sách phát triển du lịch của Đảng và Nhà nướcthể hiện trong các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII vàlần thứ IX, Chỉ thị 46 CT/TW ngày 14/10/1994 của Ban Bí thư Trung ương,
Thông báo số 179 TB/TW ngày 11/11/1998 của Bộ Chính trị về Phát triển du lịch trong tình hình mới Thông báo số 179/TB-TW nêu rõ: “Du lịch là một
ngành kinh tế tổng hợp quan trọng” [3, tr.1] Đại hội IX của Đảng xác định:Phát triển du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn
Thứ hai, Đảng quan tâm chỉ đạo phát triển du lịch, coi du lịch là ngành
kinh tế tổng hợp, quan trọng
Đại hội VII của Đảng (1991) nhận định: Du lịch là ngành kinh tế dịch vụcần được phát triển Chỉ thị 46 CT/TW ngày 14/10/1994 đã yêu cầu các cơ quannhà nước ban hành, sửa đổi, bổ sung các chính sách, luật pháp về công tác dulịch phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới và nhanh chóng kiệntoàn hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương đến địaphương Ban Bí thư Trung ương Đảng yêu cầu ngành du lịch phối hợp với cácban, ngành, địa phương, đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội để: Hướng dẫn, tổchức phát triển du lịch theo đúng pháp luật, quản lý và phục vụ tốt khách du lịch,huy động các nguồn lực trong và ngoài nước xây dựng cơ sở hạ tầng và cơ sởvật chất kỹ thuật du lịch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên du lịch, phối hợpchặt chẽ liên ngành để đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ hợp tác quốc tế.Đồng thời, yêu cầu các cơ quan thông tin đại chúng và Tổng cục Du lịch tiếnhành tuyên truyền phổ biến quan điểm, chủ trương của Đảng, các chính sách củaNhà nước về công tác du lịch, vai trò, vị trí và hiệu quả nhiều mặt của phát triển
du lịch, chống tiêu cực trong hoạt động du lịch Trên cơ sở đó, Chính phủ đã banhành Quyết định số 307/TTg, ngày 24/5/1995, Phê duyệt Quy hoạch Tổng thể
Trang 38phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995-2010, nêu rõ bối cảnh, mục tiêu, giảipháp phát triển du lịch từ năm 1995 đến năm 2010.
Đại hội VIII của Đảng (1996) chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa các ngành kinh tế, trong đó chú trọng phát triển du lịch với mục tiêu từng bước đưaViệt Nam trở thành trung tâm du lịch có tầm cỡ trong khu vực và chỉ rõ nhiệm vụ pháttriển du lịch trong thời gian tới là: “Triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển
du lịch tương xứng với tiềm năng to lớn của đất nước theo hướng du lịch sinh thái, vănhóa, môi trường [54, tr.194] Thông báo số 179 TB/TW nhấn mạnh: “Để tiếp tục thựchiện tốt các chức năng, hoạt động du lịch trong thời gian tới cần khai thác tốt hơn cáctiềm năng, thế mạnh về du lịch của đất nước, nâng cao ý thức phát triển du lịch phùhợp với truyền thống văn hoá dân tộc và văn minh quốc tế” [4, tr.1]
Đại hội IX của Đảng (2001) tiếp tục nêu rõ định hướng phát triển dulịch trong giai đoạn 2001 - 2010, trong đó nhấn mạnh phải nâng cao chấtlượng, quy mô và hiệu quả hoạt động du lịch [56, tr.287] Thực hiện sự chỉđạo đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 97/2002/QĐ-TTg, ngày22/7/2002, Phê duyệt Chiến lược Phát triển du lịch Việt Nam 2001-2010,đồng thời, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các bộ, ban, ngành tiếptục cụ thể hóa chủ trương phát triển du lịch của Đảng theo phạm vi nhiệm vụ
Thứ ba, du lịch Việt Nam có tốc độ tăng trưởng khá, đóng góp quan
trọng vào tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề VH - XH
Xây dựng, nâng cấp cơ sở lưu trú du lịch phát triển mạnh mẽ Đến năm
2005, cả nước có khoảng 6.000 cơ sở lưu trú, với 130.000 buồng, trong đó 2.575
cơ sở được xếp hạng với tổng số 72.458 buồng, cụ thể: 18 khách sạn 5 sao với5.251 buồng; 48 khách sạn 4 sao với 5.797 buồng; 119 khách sạn 3 sao với 8.724buồng; 449 khách sạn 2 sao với 18.447 buồng; 434 khách sạn 1 sao với 10.757buồng và 923 khách sạn đạt tiêu chuẩn tối thiểu với 23.482 buồng [136, tr.6]
Số lượng khách du lịch đến Việt Nam tăng nhanh và đều qua các năm.Lượng khách năm 1994 đạt một triệu Từ năm 1990 đến 2004 lượng khách dulịch luôn duy trì được mức tăng trưởng cao 2 con số (trung bình năm trên20%) Khách du lịch quốc tế tăng 11 lần từ 250.000 lượt (năm 1990) lên xấp
xỉ 3 triệu lượt (năm 2004) Khách du lịch nội địa tăng 14,5 lần, từ 1 triệu lượt
Trang 39(năm 1990) lên 14,5 triệu lượt (năm 2004) Số lượng người Việt Nam đi dulịch nước ngoài ngày càng tăng, hàng năm trên 1 vạn người [136, tr.10].
Thu nhập từ du lịch tăng nhanh, năm 1990 tổng thu từ khách du lịchmới đạt 1.350 tỷ đồng thì năm 2004 là 26.000 tỷ đồng, gấp 20 lần năm
1990 Đến năm 2005, đạt 30 ngàn tỷ đồng [37, tr.10] Tạo việc làm cho trên
23 vạn lao động trực tiếp và trên 50 vạn lao động gián tiếp, chiếm 2,5% laođộng toàn quốc [136, tr.16]
Nguyên nhân ưu điểm: Du lịch có sự tăng trưởng ổn đinh như vậy do nhiều
nguyên nhân, trong đó, nguyên nhân quyết định là đường lối đổi mới toàn diện đấtnước, những thành tựu trong phát triển kinh tế, xã hội, hội nhập quốc tế, kinh tếđối ngoại tạo điều kiện cho du lịch phát triển Bên cạnh đó, nhu cầu đi du lịch củacon người tăng mạnh theo thời gian, Việt Nam có tiềm năng, thế mạnh lớn về dulịch, mặt khác, Việt Nam có môi trường an ninh tốt, các điều kiện về cơ sở vậtchất, cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch được cải thiện ngày một tốt hơn
Hạn chế
Thứ nhất, chủ trương, chính sách phát triển du lịch của Đảng chưa được
quan tâm tương xứng với vai trò của nó
Từ năm 1975 đến năm 1991, du lịch chưa được Đảng quan tâm nhiều, vìvậy, trong giai đoạn này du lịch chưa có sự chuyển biến, phát triển chậm Giaiđoạn từ 1991 đến năm 2005, Đảng coi phát triển du lịch là một hướng chiến lượcquan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần thực hiệncông nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và phát triển du lịch trở thành ngành kinh
tế mũi nhọn Đại hội VII của Đảng xác định phát triển du lịch là cần thiết vàquan trọng nhằm đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,tuy nhiên, từ năm 1991 đến năm 1994 chưa triển khai thực hiện, đến năm 1995,mới xây dựng và triển khai quy hoạch phát triển du lịch Việt Nam lần đầu tiên.Năm 2001 Đảng xác định phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn,song chưa có kế hoạch triển khai thực hiện
Thứ hai, hiệu quả chỉ đạo một số nội dung phát triển du lịch còn hạn chế
Trang 40Việc tổ chức triển khai thực hiện Quy hoạch Tổng thể du lịch Việt Namthời kỳ 1995 - 2010 và Chương trình Hành động quốc gia về Du lịch giaiđoạn 2002-2005 còn thiếu tính chủ động và sáng tạo; đầu tư cho XT,QBDL chưa được chú trọng; tổ chức bộ máy quản lý còn có những bất cập,lực lượng trực tiếp triển khai phát triển du lịch còn mỏng, hoạt động kiêmnhiệm nên việc tổ chức thực hiện còn bị động, thiếu tính chuyên nghiệp vàhiệu quả chưa cao; chưa có chính sách ưu tiên huy động nguồn lực, nhất lànội lực, để phát triển du lịch; công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lựccòn nhiều hạn chế, chất lượng, quy mô, đội ngũ nhân lực du lịch chưa đápứng đầy đủ nhu cầu phát triển du lịch trong tình hình mới Báo cáo tổng kếtchương trình Hành động quốc gia về du lịch 2000 - 2005 đánh giá: Việc tổchức triển khai thực hiện Chương trình còn thiếu tính chủ động và thiếusáng tạo trong xã hội hóa các nguồn lực (nhân, tài, vật lực) cho phát triển
du lịch Đầu tư cho xúc tiến quảng bá du lịch chưa được nhận thức đúngtrong các cấp các ngành Các hoạt động xúc tiến du lịch ở nước ngoài chưađược tiến hành một cách sâu rộng, thường xuyên và hiệu quả [137, tr.18].SPDL còn thiếu hấp dẫn, trùng lắp nhiều, chưa có những SPDL chủ lực,độc đáo nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch, chưa pháthuy được với tiềm năng, thế mạnh của tài nguyên du lịch
Nguyên nhân hạn chế: Việt Nam là một nước nghèo, đang trong quá
trình khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh, kinh tế Việt Nam gặp nhiềukhó khăn và tụt hậu rất xa so với thế giới Du lịch Việt Nam mới mở cửa,trong khi du lịch thế giới đã phát triển cao về nhiều mặt, du khách thườngđến những nơi có nền du lịch phát triển cao, bởi ở đó, nhiều nhu cầu của
họ được đáp ứng Công tác tổ chức và quản lý du lịch thiếu sự ổn định,kinh nghiệm trong tổ chức, quản lý còn thiếu Cơ sở vật chất phục vụkhách du lịch chưa đầy đủ, các cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn quốc tế còn ítnên chưa hấp dẫn khách du lịch lại thiếu sự đồng bộ, chưa đáp ứng đượcnhu cầu của khách du lịch