Sau khi tách Đảng bộ huyện Nam Sách đã nỗ lực lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, khai thác, phát huy được các tiềm năng, thế mạnh của địa phương trong phát triển
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 33
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tài liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, bảo đảm tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong các công trình khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Trần Thị Hường
Trang 44
LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Tiến sĩ Đỗ Thị Thanh Loan, người đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo, định hướng để tôi có thể
tìm ra hướng nghiên cứu đúng đắn, khoa học trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới Ban Giám hiệu, phòng Sau đại học, các thầy, các cô trong bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn đã nhiệt tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo và tập thể Phòng Nông nghiệp & phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân huyện, Đảng ủy, Văn phòng lưu trữ huyện ủy, phòng Thống kê huyện Nam Sách, Văn phòng lưu trữ Tỉnh ủy Hải Dương, Cục Thống kê tỉnh Hải Dương,… đã giúp đỡ tôi trong quá trình sưu tập, khai thác và tìm kiếm tư liệu
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo khoa Xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước, Học viện An ninh nhân dân – nơi tôi đang công tác, đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh động viên, khích lệ để tôi hoàn thành khóa học
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Trần Thị Hường
Trang 55
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… ………….1
1 Lý do chọn đề tài……… ……….1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……… …… 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 7
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu……… … …8
6 Đóng góp của luận văn……… … 8
7 Kết cấu của luận văn……… 8
Chương 1 9
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN NAM SÁCH ĐỐI VỚI KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000………… …9
1.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp ở huyện Nam Sách và chủ trương của Đảng bộ huyện……… … 9
1.1.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp ở huyện Nam Sách……… ……… 9
1.1.2 Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Nam Sách từ năm 1997 đến năm 2000 21
1.2 Sự chỉ đạo thực hiện từ năm 1997 đến năm 2000……….25
1.2.1 Chỉ đạo tối ưu hóa quá trình sản xuất nông nghiệp……….26
1.2.1.1 Khai thác và phát huy các nguồn lực 26
1.2.1.2 Áp dụng khoa học kỹ thuật 32
1.2.1.3 Chuyên môn hóa sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường 33
1.2.1.4 Phát triển các ngành kinh tế nông nghiệp 35
1.2.2 Chỉ đạo phân phối, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp 38
1.2.2.1 Phát triển thị trường 38
1.2.2.2 Xây dựng thương hiệu 39
Tiểu kết chương 1 40
Chương 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN NAM SÁCH LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010……… 42
2.1 Những yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ huyện Nam Sách về đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp……….………42
2.1.1 Những yêu cầu mới đặt ra 42
Trang 66
2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ huyện Nam Sách về đẩy mạnh phát triển
kinh tế nông nghiệp 46
2.2 Sự chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010 62
2.2.1 Chỉ đạo tối ưu hoá quá trình sản xuất nông nghiệp 62
2.1.1.1 Khai thác và phát huy các nguồn lực 62
2.2.1.2 Áp dụng khoa học kỹ thuật 78
2.2.1.3 Chuyên môn hóa đáp ứng nhu cầu thị trường 81
2.2.1.4 Phát triển các ngành kinh tế nông nghiệp 83
2.2.2 Chỉ đạo phân phối, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp 87
2.2.2.1 Phát triển thị trường 87
2.2.2.2 Xây dựng thương hiệu 90
Tiểu kết chương 2 92
Chương III: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM……… ….94
3.1 Nhận xét………94
3.1.1 Ưu điểm……… 94
3.1.2 Hạn chế 106
3.2 Một số kinh nghiệm………110
Tiểu kết chương 3 116
KẾT LUẬN……….…… 118
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ………121
PHỤ LỤC……… ………130
Trang 7Trong quá trình lãnh đạo xây dựng và phát triển đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt ngành nông nghiệp ở vị trí quan trọng trong hệ thống các ngành kinh tế Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa từ năm 1960-1975 ở miền Bắc
và từ năm 1975-1985 trên phạm vi cả nước tập trung phát triển công nghiệp nặng, chưa đánh giá đúng vị trí, vai trò của nông nghiệp, chưa thực sự phát huy được tiềm năng to lớn của nông nghiệp là một trong những nguyên nhân làm cho đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội Đại hội VI với đường lối đổi mới toàn diện đất nước, Đảng đã đưa ra 3 chủ trương kinh tế lớn: sản xuất lương thực thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Chủ trương đúng đắn của Đảng đã được triển khai sâu rộng trên thực tế, sớm đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội
Nam Sách là mảnh đất “địa linh nhân kiệt”, có nhiều di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng như: Đền thờ Lưỡng Quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Chùa Trăm Gian, đền thờ Vua Lê Đại Hành, di tích khảo cổ gốm Chu Đậu Bên cạnh
đó, Nam Sách còn nằm ở vị trí giao thông thuận lợi cho phát triển kinh tế, có tuyến đường huyết mạch 37 nối liền 3 trung tâm kinh tế Hà Nội – Hải Phòng –
Trang 82
Quảng Ninh Nhưng nổi bật hơn cả, Nam Sách có tiềm năng phát triển kinh tế nông nghiệp: nằm trong vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng, đất đai được hình thành bởi sự bồi lắng phù sa của các sông Thái Bình, Kinh Thầy Địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc thâm canh trong sản xuất nông nghiệp và phát triển một số ngành nghề khác
Năm 1997, thực hiện Nghị định số 11/NĐ - CP ngày 17/2/1997 của Chính phủ, Chỉ thị số 03/CT - TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Kế hoạch số 2 108/KH - UB của Ủy ban nhân dân tỉnh, ngày 17/2/1997 huyện Nam Thanh (tỉnh Hải Dương) đã được chia tách ra thành hai huyện: Nam Sách và Thanh Hà Sau khi tách Đảng bộ huyện Nam Sách đã nỗ lực lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, khai thác, phát huy được các tiềm năng, thế mạnh của địa phương trong phát triển kinh tế, xã hội đặc biệt là phát triển kinh
tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa
Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Nam Sách đối với kinh tế nông nghiệp, nhận thức rõ tiềm năng, tổng kết ưu điểm, hạn chế và rút ra bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện là cần thiết Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về huyện Nam Sách nhưng chưa có công trình nào đề cập đến sự lãnh đạo của đảng bộ huyện Nam Sách với kinh tế nông nghiệp
Chính vì những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Đảng bộ huyện
Nam Sách (tỉnh Hải Dương) lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm
1997 đến năm 2010” làm luận văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng
cộng sản Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Kinh tế nông nghiệp là vấn đề rất quan trọng vì có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế của con người, ảnh hưởng đến đời sống văn hóa, xã hội và các hoạt động khác của mọi người dân Bởi vậy, trong lịch sử đã có rất nhiều công trình nghiên cứu có đề cập đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng Đây là một mảng đề tài lớn thu hút nhiều nhà
Trang 93
nghiên cứu Quá trình khảo sát tài liệu liên quan đến đề tài, tác giả chia những công trình nghiên cứu liên quan đến nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp thành 2 nhóm chính sau:
Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp nói chung, tiêu biểu như:
Năm 1995, Nguyễn Sinh Cúc đã xuất bản cuốn “Nông nghiệp Việt Nam
1945 – 1995” [15] Cuốn sách đã trình bày về điều kiện sản xuất, quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất; kết quả và hiệu quả kinh tế của Việt Nam, từng vùng, từng địa phương từ năm 1945 đến năm 1995 trong lĩnh vực nông nghiệp Bên cạnh đó, Nguyễn Sinh Cúc còn nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn qua công trình: “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới 1986-2002” [16] Tác giả đã khảo sát về thực trạng nông nghiệp nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới, các vấn đề đặt ra và các giải pháp, đặc biệt tác giả đã thống kê được số liệu nông nghiệp, nông thôn Việt Nam qua các năm
Bùi Huy Đáp xuất bản cuốn Nông nghiệp Việt Nam từ cội nguồn đến đổi
mới năm 1996 [27] Tác giả đã tổng kết quá trình phát triển của nông nghiệp
Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử; nông nghiệp truyền thống và kinh nghiệm làm nông nghiệp; quá trình đổi mới (công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nền nông nghiệp Việt Nam)
Đặng Phong đã chủ biên và cho xuất bản cuốn Lịch sử kinh tế Việt Nam
(1945 – 2000) tập 1 năm 2002 [51] Tác giả đã khái quát tình hình phát triển kinh
tế Việt Nam nói chung, trong đó kinh tế nông nghiệp trong những năm 1945 –
1954
Năm 2007, Nguyễn Văn Bích đã xuất bản cuốn Nông nghiệp, nông thôn
sau hai mươi năm đổi mới: Quá khứ và hiện tại [11] Tác giả với cách nhìn khái
quát, công trình nghiên cứu như một bản tổng kết về lĩnh vực nông nghiệp Việt Nam, phản ánh đầy đủ, toàn diện, thống kê số liệu qua các thời kỳ xây dựng và phát triển kinh tế nông nghiệp Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng
Trang 104
Năm 2008, tác giả Nguyễn Kim Sơn xuất bản cuốn Nông nghiệp, nông
dân, nông thôn Việt Nam– hôm nay và mai sau [69], đã làm rõ thực trạng về
nông nghiệp, nông dân và nông thôn, những thành tựu, những khó khăn còn tồn tại Và từ thực tiễn đó, tác giả Nguyễn Kim Sơn đã đề xuất, kiến nghị nhằm đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn phát triển
Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước, Đảng bộ địa phương trên lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn:
Năm 2002, Lê Đình Thắng đã chủ biên và cho xuất bản cuốn Chính sách
phát triển nông nghiệp và nông thôn sau Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (Sách
tham khảo) [71] Tác giả đã phân tích và xác định được tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn ở Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ sau Nghị quyết 10, từ đó có những kiến nghị, phương hướng và những giải pháp để đổi mới, phát triển kinh tế nông thôn trong giai đoạn tiếp theo
Năm 2004, tác giả Đào Thị Vân có luận văn thạc sĩ Đảng bộ tỉnh Hưng
Yên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 1997-2003 [90] Luận văn trình bày quá trình Đảng bộ Hưng Yên
vận dụng đường lối của Đảng để lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương từ 1997-2003, chỉ rõ thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của quá trình
đó Tổng kết một số kinh nghiệm trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ Hưng Yên làm cơ sở cho việc hoạch định công tác này trong thời gian tới
Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2005 với cuốn Đảng Cộng sản Việt Nam
với phong trào Hợp tác xã (tập 2) [20] Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Nghị quyết số 26 – NQ/TW của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương khóa X về vấn
đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn,…
Năm 2005, Đào Thị Bích Hồng với luận án tiến sĩ Lịch sử Đảng bộ tỉnh
Bạc Liêu lãnh đạo phát triển nông nghiệp, nông thôn từ năm 1997 đến năm
2003 [30] Luận án trình bày quá trình Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu vận dụng chủ
Trang 115
trương của Đảng về phát triển nông nghiệp, nông thôn vào thực tiễn địa phương,
từ đó đưa ra những đánh giá và bài học kinh nghiệm để vận dụng vào thực tế nhằm phát triển hơn nữa về nông nghiệp và nông thôn trong thời gian tới
Trần Thị Minh Châu năm 2007 đã xuất bản cuốn Về chính sách đất nông
nghiệp ở nước ta hiện nay [14] Tác giả đã khái quát những vấn đề cơ bản về
chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp Đồng thời, tác giả cũng đã nêu
ra tác động của chính sách đất nông nghiệp và vấn đề đặt ra, đưa ra một số giải pháp hoàn thiện chính sách đất nông nghiệp
Năm 2009, Nguyễn Tuấn Thành với luận văn Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh
đạo phát triển nông nghiệp, nông thôn trong những năm 1997 – 2006 [70] Luận
văn khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, cũng như chủ trương xây dựng nông nghiệp, nông thôn của đảng bộ tỉnh Bắc Giang Nghiên cứu quá trình chỉ đạo xây dựng nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ Bắc Giang theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Phân tích, đánh giá kết quả phát triển nông nghiệp, nông thôn của tỉnh qua giai đoạn từ 1997-2000, từ 2001-2006 Nêu những mặt đạt được và những mặt còn hạn chế trong phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Bên cạnh đó đưa ra một số bài học kinh nghiệm
Năm 2011, tác giả Đặng Kim Oanh với luận án tiến sĩ Lịch sử Đảng Cộng
sản Việt Nam lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp (1996-2006)
[50] Luận án đã trình bày và phân tích quan điểm, chủ trương, đường lối chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Đảng từ năm 1996 đến năm 2006 Trình bày quá trình chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2006 gắn với những kết quả cụ thể trong thời gian cụ thể Đánh giá ưu điểm và hạn chế của Đảng; bước đầu đúc rút một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đã có khá nhiều những công trình nghiên cứu về tỉnh Hải Dương và huyện Nam Sách, tuy nhiên các công trình nghiên cứu về địa phương này chủ
Trang 126
yêu là các luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ như: Trần Việt Dũng với luận văn
Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo phát triển nông nghiệp từ năm 1997 đến năm
2009 năm 2010 [19]; Luận văn của tác giả Phạm Thị Thanh Thủy Phát triển bền vững nông nghiệp ở tỉnh Hải Dương năm 2012 [75]; Vũ Thị Lương với Luận
văn Đảng bộ huyện Cẩm Giàng (tỉnh Hải Dương) lãnh đạo phát triển kinh tế
nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010 năm 2014 [49]; Đỗ Hồng Thịnh với
luận văn Tác động của thu hổi đất sản xuất nông nghiệp đến biến đổi chức năng
kinh tế của hộ gia đình ở huyện Nam Sách (nghiên cứu trường hợp ở xã Ái Quốc
và xã Đồng Lạc) năm 2014 [74]; Nguyễn Huy Hải với luận văn Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương năm 2015 [28];
Luận văn của tác giả Lê Thị Lan Phương Quản lý hoạt động kinh doanh của hợp
tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương năm
2015 [66]; Luận án tiến sĩ của tác giả Chu Thị Thu Thủy, Tình hình kinh tế nông nghiệp tỉnh Hải Dương thời kỳ 1883-1945 năm 2016 [76]; Trần Văn Triệu với
luận văn Đảng bộ Thị xã Chí Linh (tỉnh Hải Dương) lãnh đạo phát triển kinh tế
từ năm 2006 đến năm 2015 năm 2017 [80]
Đã có một số công trình nghiên cứu về quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh hoặc một số huyện ở Hải Dương (không phải là Nam Sách) về lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp Những công trình này đã đề cập đến chủ trương của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh Hải Dương về phát triển kinh tế nông nghiệp Tác giả đã kế thừa được những kết quả nghiên cứu này Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình cụ thể nào đi sâu nghiên cứu, phân tích cụ thể, chi tiết, có hệ thống về chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Nam Sách đối với kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ, toàn diện và khách quan sự lãnh đạo
và chỉ đạo của Đảng bộ huyện Nam Sách đối với vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010; đánh giá những thành tựu và hạn chế trong
Trang 137
quá trình lãnh đạo kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện; bước đầu rút ra một
số kinh nghiệm của Đảng bộ huyện Nam Sách trong lãnh đạo, chỉ đạo kinh tế nông nghiệp trong những năm 1997 - 2010
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp và hệ thống hóa lại các nguồn tư liệu liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Nam Sách đối với kinh tế nông nghiệp
- Trình bày chủ trương, sự chỉ đạo thực hiện phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Nam Sách trong thời gian từ năm 1997 đến năm
2010
- Đưa ra những nhận xét, đánh giá về ưu điểm, hạn chế trong lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Nam Sách đồng thời rút ra một số kinh nghiệm phục vụ hiện tại
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian: phạm vi huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Tuy nhiên, để thấy được quá trình phát triển nông nghiệp huyện Nam Sách từ năm
Trang 148
1997 đến năm 2010, đề tài có đề cập ở mức độ nhất định đến thời gian trước năm 1997, trong phạm vi huyện Nam Thanh
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
* Nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu chính của luận văn là các Nghị quyết Đại hội, Hội nghị của tỉnh ủy Hải Dương, Nghị quyết Đại hội, Hội nghị của huyện ủy Nam Sách; các Báo cáo tổng kết hàng năm của Ủy ban nhân dân huyện Nam Sách, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Nam Sách; niên giám thống kê các năm của huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương từ năm 1997 đến năm 2010 Ngoài ra, đề tài còn sử dụng những tư liệu thông qua sách, tạp chí, đặc biệt là các sách viết về chủ trương, chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng, Nhà nước có liên quan đến đề tài
* Phương pháp nghiên cứu
Với nội dung và phạm vi nghiên cứu như trên, luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu lịch sử truyền thống như phương pháp lịch sử, phương pháp logic, ngoài ra còn có các phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh để làm rõ nội dung nghiên cứu
6 Đóng góp của luận văn
- Góp phần trình bày và làm sáng tỏ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng
bộ huyện Nam Sách đối với kinh tế nông nghiệp
- Khẳng định những thành tựu đạt được, hạn chế còn tồn tại và rút ra một
số kinh nghiệm cho quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng
bộ huyện Nam Sách
- Làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu cho hoạt động giảng dạy, tuyên truyền về địa phương
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu làm 3 chương:
Trang 159
Chương 1 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Nam Sách đối với kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2000
Chương 2 Đảng bộ huyện Nam Sách lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh
tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010
Chương 3 Nhận xét và một số kinh nghiệm
Trang 16- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
Nam Sách là huyện nằm ở phía bắc của thành phố Hải Dương - Trung tâm kinh tế - chính trị của tỉnh Hải Dương, cách Thủ đô Hà Nội hơn 60 km về phía Tây, cách thành phố Hải Phòng 40 km về phía Đông Nam Sách có diện tích tự nhiên là 132.270 ha, được giới hạn bởi tọa độ địa lý trong khoảng từ
20055 đến 21000’28” vĩ Bắc và 106017’ đến 106023’ kinh Đông Phía Bắc giáp huyện Chí Linh; phía Đông giáp huyện Kinh Môn và huyện Kim Thành; phía Nam giáp thành phố Hải Dương; phía Tây giáp huyện Cẩm Giàng và huyện Lương Tài (tỉnh Bắc Ninh)
Toàn huyện có diện tích đất tự nhiên tính đến tháng 4 năm 1997 là 13.270
ha trong đó diện tích đất nông nghiệp là 7.195,3 ha Cơ cấu thành phần các loại đất chủ yếu như sau: Phân theo thành phần cơ giới của đất: Đất thịt nặng là 7.696,6 ha, chiếm 58% diện tích tự nhiên; Đất thịt nhẹ là 1.592,4 ha, chiếm 12%; Các loại đất khác là 3.981 ha, chiếm 30% [58, tr 3]
Như vậy, có thể khẳng định đất đai của huyện Nam Sách chủ yếu là là đất thịt nặng, ít chua có hàm lượng dinh dưỡng lân trung bình đến giàu, thích hợp để trồng nhiều loại cây ngắn ngày như lúa, ngô, khoai lang, các loại rau, đậu, đỗ, lạc và trồng một số loại cây ăn quả, các loại cây vụ đông như hành, tỏi,…
Huyện Nam Sách về cơ bản cả bốn phía đều có sông bao bọc, gồm sông Thái Bình và sông Kinh Thầy Do vậy, nguồn phù sa màu mỡ cộng với nguồn nước khá dồi dào, phục vụ hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của
Trang 1711
dân cư Tuy nhiên, đây cũng là một khó khăn cho huyện do có nguy cơ ngập lụt
về mùa mưa Tổng lượng mưa trung bình hàng năm của huyện khoảng 1.770 mm, năm cao nhất lên tới 2.311 mm và năm thấp nhất là 1.264 mm và phân bố không đều theo thời gian Lượng mưa tập trung chủ yếu vào các tháng 5, 6, 7, 8 (tháng 8
có lượng mưa cao nhất 476mm) nên thường gây ra tình trạng úng lụt vào những tháng này Một số xã ven sông như Thái Tân, Thượng Đạt, Nam Tân, Nam Hưng, Minh Tân, Cộng Hòa… có nguy cơ ngập úng cao, nhiều năm chịu thiệt hại nặng
nề trong sản xuất nông nghiệp [88, tr 9]
Bên cạnh đó, do nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với đặc trưng nóng ẩm, mưa vào mùa hè và hanh khô vào mùa đông, cuối mùa thường có gió bão ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp là điều không tránh khỏi Mùa đông khô lạnh, có những ngày nhiệt độ xuống thấp xuất hiện sương muối gây tác động lớn tới sản xuất các loại cây vụ đông như: hành, tỏi, dưa hấu,…
Qua khái quát điều kiện tự nhiên, có thể nói Nam Sách là một trong những huyện hội tụ được những điều kiện thuận lợi nhất để phát triển nông nghiệp của tỉnh Hải Dương Đảng bộ huyện Nam Sách cũng đã từng bước đưa ra những chủ trương, chính sách tận dụng, phát huy tối đa những điều kiện thuận lợi và hạn chế đến mức thấp nhất những tác động xấu của điều kiện tự nhiên đến quá trình phát triên nông nghiệp trên địa bàn huyện Trong xu thế chung của cả nước về hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, đảng bộ và nhân dân huyện Nam Sách đã và đang từng bước đưa nông nghiệp phát triển tương xứng với các huyện có nông nghiệp phát triển trong tỉnh Hải Dương nói riêng và trong khu vực đồng bằng sông Hồng nói chung
Điều kiện kinh tế - xã hội: Nam Sách là huyện có lịch sử phát triển lâu đời, con người đến sinh cơ lập nghiệp khá sớm Đây là vùng quê đã sinh ra nhiều danh nhân văn hóa của đất nước: Lĩnh vực văn học nổi tiếng với hai trạng nguyên họ Mạc là Mạc Hiển Tích và Mạc Đĩnh Chi (người xã Nam Tân) Huyện Nam Sách còn nổi tiếng bởi truyền thống hiếu học và khoa bảng Theo
số liệu thống kê, Nam Sách có 125 tiến sỹ, nhiều nhất cả nước tính theo địa bàn
Trang 18xứ Đông văn hiến Bên cạnh đó, Nam Sách cũng là địa phương có nhiều di tích lịch sử đền, chùa, miếu, trong đó có 11 di tích đã được Nhà nước xếp hạng, nổi bật là một số di tích như Chùa Trăm Gian (xã An Bình), Đền thờ Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (xã Nam Tân), Đình thờ Phạm Chiêm, Đình Nhân
Lý (Thị xã Chí Linh) [88, tr 17]Với cơ cấu dân số trẻ, Nam Sách có nguồn lao động dồi dào, số người trong độ tuổi lao động năm 1997 là 69.107 người, chiếm khoảng 59,2% dân số toàn huyện Tổng số lao động đang làm việc trong các lĩnh vực kinh tế là 59.404 người, chiếm 50,9% tổng dân số Trong đó, lao động của khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm khoảng gần 52,2% tổng lao động đang làm việc năm 1997 Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật đạt mức cao so với mặt bằng chung của tỉnh Năm 1997, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chiếm khoảng 22% tổng lực lượng lao động đang làm việc [58, tr 8]
Như vậy, có thể thấy chất lượng lao động của Nam Sách còn khá thấp Do
đó, để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong thời gian tới, đặc biệt khi đẩy mạnh phát triển khu vực công nghiệp, tỷ lệ lao động qua đào tạo trong tổng lực lượng lao động của huyện cần tiếp tục được nâng lên (theo phương pháp phân loại lao động qua đào tạo mới) đòi hỏi huyện phải có giải pháp và kế hoạch để chuẩn bị lực lượng nhân lực sẵn sàng đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai
Nhìn chung, người dân Nam Sách có truyền thống cần cù, chịu khó và có kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp (trồng lúa, cây lương thực, cây thực phẩm cây công nghiệp, chăn nuôi) Trong thực tế đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất kinh tế trang trại, gia trại… giúp người dân vươn lên làm giàu, xoá đói giảm nghèo Đây là những nhân tố mới, thúc đẩy kinh tế của huyện phát triển Tuy nhiên, mặc dù nguồn lao động của huyện khá dồi dào, tỷ lệ lao động trong
Trang 1913
độ tuổi có trình độ học vấn ở mức tương đối nhưng trình độ chuyên môn vẫn còn rất thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, vì vậy khi có nhu cầu về lao động
có trình độ tay nghề cao sẽ gây ra khó khăn cho huyện
Ngoài canh tác nông nghiệp, Nam Sách còn được nhắc đến với tư cách là một trong những huyện có thủ công nghiệp khá phát triển Nam Sách có nhiều nghề thủ công truyền thống và bàn tay tài hoa của các nghệ nhân đã tạo nên những sản phẩm khá nổi tiếng trong quá khứ như xã Phú Điền có nghề làm nồi,
ấm đất nung; xã Quốc Tuấn có nghề làm hương; xã Minh Tân và Thái Tân còn
có nghề dệt chiếu; đặc biệt nghề gốm sứ ở thôn Chu Đậu, xã Thái Tân Đây là trung tâm sản xuất gốm sứ cao cấp, phục vụ trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài từ thời Lê Ngoài ra, một số nghề truyền thống đang được phục hồi và phát triển
Khu công nghiệp Nam Sách có vị trí địa lý thuận lợi, tập hợp các doanh nghiệp sản xuất tương đối lớn đã góp phần không nhỏ giải quyết vấn đề việc làm cho người dân địa bàn huyện Những năm gần đây, tỉ trọng lao động sản xuất trong các ngành công nghiệp, dịch vụ có xu hướng tăng, lao động trong các ngành nông nghiệp, thủy sản có xu hướng giảm đi đáng kể Điều này phù hợp với xu thế chung của toàn tỉnh và cả nước Trong tương lai, đảng bộ huyện tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển, đồng thời phát huy những thế mạnh về nguồn lao động, vị trí địa lý tạo đà chuyển dịch cơ cấu kinh tế, không chỉ ở các ngành công nghiệp mà còn chuyển biến nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Thực trạng nông nghiệp huyện trước năm 1997
Quý I năm 1997 ngoài việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, toàn huyện
đã tập trung chỉ đạo và hoàn thành nhiệm vụ trọng tâm thực hiện việc chia tách huyện Nam Thanh thành hai huyện Nam Sách và Thanh Hà Từ ngày 1 tháng 4 năm 1997 huyện Nam Sách chính thức đi vào hoạt động theo địa giới hành chính mới
Trang 2014
Tính đến năm 1996, diện tích đất nông nghiệp toàn huyện Nam Thanh đạt 28.136,28 ha, trong đó diện tích trồng cây lương thực là 26.084 ha Trong số diện tích trồng cây lượng thực thì diện tích trồng lúa chiếm 24.964 ha chiếm 95,7%[65, tr8]
Như vậy, xét trong tổng số diện tích đất nông nghiệp thì diện tích trồng lúa chiếm đại đa số Tính đến năm 1996 Nam Thanh vẫn là một huyện thuần nông, lấy lúa nước là cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp
Bên cạnh việc phát triển lúa nước, trong những năm 1991-1996, Đảng bộ huyện đã chú trọng phát triển rau đậu, cây công nghiệp và cây ăn quả Tính đến tháng 10/1996, kết quả gieo trồng cây rau màu, cây công nghiệp vụ đông của toàn huyện đạt: 1380 ha So với năm 1994, diện tích trồng cây rau màu, công nghiệp vụ đông đã tăng 90 ha (năm 1994 là 1290 ha) Sản lượng cây ăn quả cũng có sự biến động không nhỏ, ngoài diện tích trồng vải thiều lâu năm tại các
xã Thanh Xuân, Thanh Thủy, Thanh Sơn, Trường Thành, Vĩnh Lập , thì diện tích cây ăn quả cũng được mở rộng với một số giống cây mới như: nhãn, bưởi, ổi, Đảng bộ huyện cũng đề ra chiến lược phát triển cây ăn quả, do cây ăn quả mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cây lúa và cây rau màu, đồng thời được bà con nông dân hưởng ứng nhiệt tình Tuy nhiên, để phát triển cây ăn quả cần có đội ngũ chuyên gia kỹ thuật hướng dẫn, tập huấn bà con cách trồng, chăm sóc và
xử lý khi cây bị sâu bệnh Đây cũng là vấn đề không nhỏ đặt ra đối với đảng bộ huyện
Với ngành chăn nuôi, đây cũng là một thế mạnh của huyện vì chăn nuôi di liền với trồng các loại cây lương thực, thực phẩm Diện tích trồng các loại cây lương thực, thực phẩm lớn kéo theo chăn nuôi phát triển Tính đến tháng 10 năm
1996, toàn huyện có tổng số đàn lợn là 65.610 con, đàn trâu 8.500 con, đàn bò 9.500 [65, tr 11] Thực hiện theo chủ trương của Tỉnh ủy về cải tạo, nâng cao chất lượng gia súc, gia cầm huyện ủy Nam Thanh đã đề ra nhiều biện pháp thiết thực nhằm cải tạo chất lượng con giống: nhập các loại lợn siêu nạc thay cho lợn Móng Cái trước, sind hóa đàn bò,…
Trang 2115
Nhìn chung, kinh tế xã hội huyện Nam Thanh tính đến tháng 12 năm 1996
có sự chuyển biến lớn so với giai đoạn trước, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp Tuy nhiên, kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện còn tồn tại những vấn đề khó khăn không nhỏ cần phải nhanh chóng khắc phục Canh tác nông nghiệp vẫn còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, các hiện tượng tự nhiên không thuận lợi như hạn hán, lũ lụt tác động mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện (trận bão tháng 8 năm 1996 gây ngập úng lớn dẫn tới xóa sổ diện tích trồng rau màu vụ thu đông ở các xã: Nam Hưng, Hợp Tiến, Thượng Đạt) Diện tích đất nông nghiệp chưa được quy hoạch, ruộng đất các hộ nông dân sở hữu còn tình trạng manh mún, nhỏ hẹp Trung bình 1 hộ nông dân có từ 8-10 mảnh ruộng, thuộc các khu gieo trồng khác nhau gây khó khăn cho việc canh tác Phân tầng địa chất không giống nhau dẫn đến độ màu mỡ các khu vực không đồng đều, có nhiều diện tích đất sử dụng gieo trồng các cây lương thực cằn cỗi, nông dân phải mất nhiều thời gian, công sức vài chi phí để tăng độ màu mỡ, cải tạo đất Trình
độ nhận thức của nông dân còn hạn chế, chủ yếu vẫn canh tác theo thói quen, tập quán, chưa có áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất dẫn tới năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao Tư duy kinh tế hàng hóa chưa phát triển, chủ yếu là tự cung tự cấp, dư thừa mới mang bán, chưa có quy hoạch vùng chuyên canh, sản xuất mang tính thương mại chưa có chỗ đứng Các giống cây trồng trên địa bàn huyện chủ yếu vẫn là nông dân tự lựa chọn và canh tác, chưa có quy hoạch của chính quyền cơ sở như các giống lúa thì chủ yếu vẫn là giống lúa dài ngày, năng suất thấp, giá thành không cao
Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp vẫn còn lạc hậu, hệ thống kênh mương dẫn nước tưới tiêu vẫn còn chủ yếu là bờ đất, nông dân tự đắp và nạo vét qua các năm, chưa được đầu tư, quan tâm đúng mực Các khu vực đồng
xa khó khăn hơn nhiều trong việc canh tác, sử dụng Các trạm bơm ở các xã chưa được đầu tư xây dựng, sửa chữa có những khu vực 2 xã phải chung nhau 1 trạm bơm do vậy việc phát huy hiệu quả để phục vụ nông nghiệp chưa cao
Trang 2216
Ở một số xã trên địa bàn huyện, hiện tượng bỏ hoang ruộng đất vẫn còn tồn tại Các vùng đất này chủ yếu do điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất không thuận lợi như: quá xa khu dân cư, không có hệ thống tưới tiêu phục vụ canh tác Những khó khăn cơ bản này chủ yếu không phù hợp với việc trồng lúa nhưng người nông dân lại chưa biết chuyển đổi mục đích canh tác sang các loại cây trồng khác Trách nhiệm của chính quyền cơ sở cũng chưa thực sự được nêu cao Hàng năm các hiện tượng sâu bệnh phá hoại mùa màng, các dịch bệnh trong chăn nuôi vẫn diễn ra mà chưa có sự chủ động của chính quyền cũng như các hộ nông dân, gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp Các hội thảo chuyển giao kỹ thuật có được tổ chức nhưng quá thưa thớt, một năm chỉ được 1 hoặc 2 lần, vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu học hỏi, nâng cao trình độ của người dân Các trạm bảo vệ thực vật của huyện chưa phát huy được vai trò của mình trong sản xuất nông nghiệp, trên địa bàn huyện còn xuất hiện các loại thuốc bảo
vệ thực vật giả, kém chất lượng Ngành chăn nuôi thì nhỏ lẻ, manh mún theo hộ gia đình, chưa có quy mô trang trại lớn, người nông dân chủ yếu vẫn tự tìm đầu
ra cho sản phẩm, chưa có sự quan tâm, can thiệp giúp đỡ của chính quyền địa phương Việc tiêm phòng bệnh cho các đàn gia súc, gia cầm ở một số xã còn thiếu quan tâm, hiệu quả tiêm phòng thấp
Để hạn chế những khó khăn, phát huy lợi thế, Đảng bộ huyện Nam Sách, Thanh Hà cần phát huy vai trò lãnh đạo của mình Trong điều kiện thay đổi địa giới hành chính, mỗi địa bàn lại có những thế mạnh riêng, Đảng bộ huyện cần phân tích cụ thể tình hình, đề ra những chủ trương phù hợp nhằm hạn chế, khắc phục hiệu quả nhất những khó khăn và phát huy tối đa thế mạnh đưa kinh tế nông nghiệp có bước phát triển vượt bậc
- Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng cộng sản Việt Nam
Từ khi thành lập đến nay, Đảng cộng sản Việt Nam luôn khẳng định tầm quan trọng của vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn Trong quá trình đổi mới, đường lối đúng đắn của Đảng về phát triển nông nghiệp, nông thôn đã khơi dậy nguồn động lực to lớn của nhân dân Đến năm 1996, công cuộc đổi mới do
Trang 2317
Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã tiến hành được 10 năm, thu được những thành tựu quan trọng về mọi mặt, đất nước từng bước thoát khỏi khủng hoảng, kinh tế đã có bước phát triển mới tạo ra nhiều tiền đề cần thiết cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn tiếp theo Trong những năm 1988 - 1998, sản xuất nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện, liên tục, với tốc độ cao (bình quân tăng 4,3%/năm) Cơ cấu kinh tế nông thôn bước đầu chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản tăng nhanh, một số mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn (gạo, cà phê, cao su, tôm ) Cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống thuỷ lợi được tăng cường Đời sống của đại bộ phận nông dân được cải thiện Nhiều nhân tố mới trong nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới xuất hiện Những thành tựu đó góp phần rất quan trọng vào sự ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đất nước, đồng thời tiếp tục khẳng định vị trí rất quan trọng của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam Những kết quả đạt được sau 10 năm đổi mới đất nước đã khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng, tuy nhiên, tình hình thế giới và trong nước đã có những chuyển biến không nhỏ đặt ra cho Đảng những nhiệm vụ và bước đi mới
Trong hoàn cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã diễn ra từ ngày 28/6/1996 đến ngày 1/7/1996 tại Hà Nội Đại hội tổng kết 10 năm đổi mới; khẳng định Việt Nam đã chấm dứt khủng hoảng kinh tế xã hội, bắt đầu bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đề ra mục tiêu, phương hướng, giải pháp thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đại hội xác định nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong những năm còn lại của thế kỷ XX là đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản,…
Trong định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp, Nghị quyết Đại hội VIII nhấn mạnh:
Trang 2418
“Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng hóa nhiều về số lượng, tốt về chất lượng đảm bảo an toàn về lương thực trong xã hội, đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp chế biến và yêu cầu của thị trường trong, ngoài nước… [21, tr 371]”
Hoàn thành cơ bản việc giao đất, khoán rừng cho hộ nông dân Điều chỉnh việc phân bổ vốn và huy động thêm nhiều nguồn vốn cho phát triển nông, lâm, ngư nghiệp và kinh tế nông thôn Có chính sách khuyến khích và trợ giúp nông dân trong xây dựng kết cấu hạ tầng, chuyển giao công nghệ và giải quyết các khó khăn về vốn, về giá cả vật tư nông nghiệp và hàng nông sản, về thị trường tiêu thụ sản phẩm,… [21, tr 372]
Để cụ thể hóa chủ trương của Đại hội VIII đối với vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn, ngày 10/11/1998 Bộ Chính trị đã họp và ra Nghị quyết
số 06 NQ/TW về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn Trên cơ sở đánh giá tình hình, Bộ Chính trị đã chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, yếu kém trong phát triển nông nghiệp giai đoạn trước, từ đó Nghị quyết
đã đưa ra 4 quan điểm, 6 mục tiêu và 6 chính sách lớn đối với nông nghiệp, nông thôn trong đó có những nội dung đề cập trực tiếp đến kinh tế nông nghiệp
Về mục tiêu phát triển, Nghị quyết nhấn mạnh: trong quá trình lãnh đạo phải coi trọng thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và xây dựng nông thôn, đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, là cơ sở để ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, củng cố liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức Đặc biệt coi trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp phải đi đôi với phát triển công nghiệp chế biến, gắn sản xuất với thị trường để hình thành sự liên kết nông - công nghiệp - dịch vụ và thị trường ngay trên địa bàn nông thôn; phát triển nông nghiệp phải gắn liền với xây dựng nông thôn mới Phát huy lợi thế của từng vùng và cả nước, áp dụng nhanh các tiến bộ khoa học, công nghệ để phát triển nông nghiệp hàng hoá đa dạng, đáp ứng ngày
Trang 2519
càng cao nhu cầu nông sản thực phẩm và nguyên liệu công nghiệp, hướng mạnh
ra xuất khẩu
Để tối ưu hóa quá trình sản xuất nông nghiệp, Nghị quyết đã đưa ra một
số chủ trương lớn Trong đó, về khai thác và phát huy các nguồn lực cho phát triển kinh tế nông nghiệp, Trung ương Đảng nhấn mạnh:
Có chính sách khuyến khích mạnh các nguồn vốn của dân cư, các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, dành một tỷ lệ quan trọng các nguồn vốn nhà nước huy động được để đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn hình thành các tổ hợp công - nông nghiệp - dịch vụ ở những địa bàn có điều kiện [22, tr 538]
Mở rộng tín dụng, tăng dần vốn vay trung và dài hạn, đáp ứng yêu cầu vốn cho công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn; thực hiện chính sách ưu đãi
về lãi suất và có thời hạn trả nợ riêng đối với tín dụng cho các chương trình ưu tiên về phát triển nông nghiệp, nông thôn Thời hạn cho vay vốn phải phù hợp với chu kỳ sinh trưởng của vật nuôi, cây trồng và thời gian khấu hao máy móc nông nghiệp [22, tr 538]
Về áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất, Trung ương Đảng cũng chỉ rõ: Hỗ trợ, khuyến khích sản xuất và sử dụng các loại máy móc thiết bị cơ khí sản xuất trong nước phục vụ sản xuất, chế biến nông, lâm, thuỷ hải sản Khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống Khuyến khích phát triển các cơ sở công nghiệp sử dụng nhiều lao động
Trang 26Có chính sách hỗ trợ nông, ngư dân khai thác tốt các diện tích mặt nước
có khả năng nuôi trồng thuỷ sản tổ chức sản xuất và cung cấp giống tốt, phòng chống các loại bệnh, hỗ trợ nông dân phát triển nuôi trồng thuỷ sản [22, tr 537]
Bên cạnh đó, Trung ương Đảng cũng đặc biệt quan tâm đến phát triển nội ngành nông nghiệp: khuyến khích kinh tế hộ, hợp tác xã và trang trại chăn nuôi quy mô vừa và lớn, chú trọng khâu giống và công nghiệp chế biến, thị trường xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi; thực hiện các biện pháp để nâng cao năng suất
và hạ giá thành, đưa chăn nuôi thực sự trở thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp [22, tr 537]
Những chủ trương lớn của Nghị quyết 06 NQ/TW đã đáp ứng được những yêu cầu cơ bản, tạo cơ chế thông thoáng đưa kinh tế nông nghiệp có bước phát triển mới, vấn đề nông dân, nông thôn được quan tâm chỉ đạo
Bên cạnh những chủ trương nhằm tối ưu hóa quá trình sản xuất, việc phân phối, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp cũng được Nghị quyết nhấn mạnh:
Phát triển thị trường tiêu thụ nông, lâm, thủy sản trong nước trên cơ sở tạo điều kiện tăng thu nhập của nhân dân và thực hiện cơ chế lưu thông hàng hóa thông thoáng Thực hiện các biện pháp mở rộng thị trường xuất khẩu;
có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các đơn vị sản xuất thuộc các thành phần kinh tế đẩy mạnh xuất khẩu nông sản [22, Tr 549-550]
Như vậy, Nghị quyết số 06 NQ/TW của Bộ Chính trị đã giải quyết được những vấn đề quan trọng trong nông nghiệp và nông thôn, cụ thể hóa chủ trương của Đảng trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, vạch ra mục tiêu và bước
đi cụ thể của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Nghị quyết số 06 NQ/TW đã mở đường cho một số nội dung quan trọng trong
Trang 2721
phát triển kinh tế nông nghiệp như chú trọng vấn đề đầu ra cho sản phẩm nông sản, tạo điều kiện phát triển kinh tế trang trại, giải quyết vấn đề lao động nông thôn
- Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về phát triển kinh tế nông nghiệp
Trong xu thế chung của cả nước, thực hiện Quyết định của kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX ngày 20/11/1996 về phân chia lại địa giới hành chính, tỉnh Hải Hưng được chia thành hai tỉnh: Hải Dương và Hưng Yên Ngày 01/01/1997, tỉnh Hải Dương được tái lập và Đảng bộ Hải Dương chính thức đi vào hoạt động Các đảng bộ tại các tỉnh mới được thành lập thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo mọi hoạt động của toàn tỉnh và chuẩn bị mọi điều kiện cho việc tiến hành Đại hội đảng bộ tỉnh theo sự chỉ đạo của Bộ Chính trị Tháng 11/1997, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XII được tổ chức trong không khí vui mừng khi Trung ương Đảng tuyên bố đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đại hội đại biểu Đảng
bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XII có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển chung của toàn tỉnh, đây là Đại hội đầu tiên sau khi tách tỉnh, Đại hội đánh dấu một bước ngoặt mới về đường lối lãnh đạo mọi hoạt động của toàn tỉnh, đồng thời đại hội cũng kiện toàn bộ máy tổ chức Đảng, đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng với các tổ chức chính trị - xã hội của tỉnh Đại hội đã đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội của tỉnh năm 1997 và đề ra phương hướng, nhiệm vụ 3 năm 1998-2000
Đánh giá quá trình sản xuất nông nghiệp của toàn tỉnh, Đại hội nhận xét: Sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, trồng trọt tăng 6,3%, chăn nuôi tăng 6,8%, chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa, đảm bảo an toàn lương thực và nâng cao hiệu quả kinh tế; tăng diện tích cây vụ đông, cây thực phẩm và cây xuất khẩu Sản lượng lương thực quy ra thóc năm 1997 đạt trên 84 vạn tấn, kinh tế vườn đồi và kinh tế
hộ gia đình phát triển mạnh [7, tr 8]
Trang 2822
Về phần nhiệm vụ và giải pháp phát triển nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp của tỉnh trong giai đoạn tiếp theo, Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII đã quán triệt chủ trương nhằm tối ưu hóa quá trình sản xuất nông nghiệp:
Phát triển sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn toàn diện, thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, tạo điều kiện cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh, coi đó là nhiệm vụ chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt Bố trí cơ cấu mùa vụ, cơ cấu trà lúa hợp
lý ở từng vùng, từng địa phương để vừa nâng cao sản lượng cây trồng, vừa tạo điều kiện mở rộng vụ đông [7, tr 9]
Để hiện thực hóa chủ trương của Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, ngày 20/4/1998, Tỉnh ủy Hải Dương khóa XII, kỳ họp thứ 4 đã ra Nghị quyết số 05/NQ-TU về Chương trình phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn đến năm 2000 Nghị quyết đã nhấn mạnh vấn đề phát triển thị trường tiêu thụ cho sản phẩm nông sản:
Phát triển nông nghiệp hàng hóa toàn diện gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm và công nghiệp chế biến nông sản, đảm bảo an toàn lương thực Đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với giải quyết việc làm, tăng thu nhập khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai, lao động Thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu
tư vào nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt ưu tiên ở vùng sâu, vùng xa có nhiều khó khăn và những xã nghèo [79, tr 11]
Chủ trương của Trung ương Đảng và Đảng bộ tỉnh Hải Dương về phát triển kinh tế nông nghiệp là cơ sở, điều kiện căn bản cho đảng bộ huyện Nam Sách đề ra những chủ trương đúng đắn và phù hợp để đổi mới cơ chế quản lý, thúc đẩy nông nghiệp huyện phát triển mạnh mẽ Nhờ có sự đúng đắn trong việc hoạch định đường lối và sự vận dụng sáng tạo chủ trương vào trong thực tiễn
Trang 29bộ, đường sắt, đường thủy Nông nghiệp đang phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, tài nguyên chính là đất nông nghiệp, vật liệu xây dựng Nhân dân với truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, năng động trong cơ chế mới là những tiềm năng, thế mạnh quan trọng để huyện tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Do điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi nên đảng ủy huyện đứng trước nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn
Về mặt thuận lợi: kinh tế - xã hội huyện đã thoát khỏi khủng hoảng, các ngành kinh tế đều có bước phát triển mới Nông nghiệp đã đáp ứng được toàn bộ nhu cầu về lương thực, thực phẩm và có khối lượng dư thừa tương đối lớn để phục vụ chăn nuôi Diện tích đất nông nghiệp sau khi tách huyện đã thu nhỏ lại,
dễ dàng trong việc quản lý, sử dụng và phát huy thế mạnh của từng xã Sự quan tâm của Đảng, Tỉnh ủy đã tạo ra cơ chế thông thoáng để đảng bộ huyện phát huy
có hiệu quả thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp Sự hỗ trợ về vốn, cây giống, con giống và khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp làm cho bà con nông dân tin tưởng, ủng hộ chính sách phát triển của đảng bộ huyện
Khó khăn: bên cạnh những thuận lợi cơ bản trên thì trong giai đoạn này, đảng bộ huyện phải đối mặt với những khó khăn không nhỏ trong sản xuất nông nghiệp Đầu tiên, do mới tách địa giới hành chính, ban chấp hành đảng bộ huyện
có một số cán bộ lần đầu đảm nhiệm chức trách, nhiệm vụ ở một vị trí mới, có thể xuất hiện sự không thống nhất trong cách hoạt dộng cũ và cách hoạt động
Trang 3024
mới, cần có thời gian để các bộ phận trong cơ quan hành chính thống nhất cách làm việc Thu hẹp diện tích tự nhiên kéo theo diện tích đất nông nghiệp cũng sụt giảm, ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng và giá trị kinh tế so với giai đoạn trước Tình trạng ruộng đất nhỏ lẻ, phân tán, một số nơi có diện tích đất nông nghiệp bị
bỏ hoang rất lớn Các hộ nông dân vẫn chủ yếu canh tác theo thói quen, tập quán chưa áp dụng khoa học – kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp Ở một số xã cây giống, con giống chưa thực sự được quan tâm, cải tạo hầu hết do bà con tự để giống để vụ sau cấy tiếp, nuôi tiếp Do vậy, hiệu quả kinh tế không cao, thoái hóa giống dẫn tới năng suất thấp, mất mùa,… Cơ cấu nông nghiệp chưa cân đối sản xuất lúa vẫn là chủ yếu, chăn nuôi phân tán, thị trường nông sản không phát triển, giá cả thấp Huyện có nhều đê lớn bao bọc, hàng năm toàn Đảng, toàn dân trong huyện phải giành nhiều nhân lực, vật lực, thời gian, công sức cho việc bảo
vệ đê điều (thường từ 3-4 tháng trong năm) ảnh hưởng đến các mặt công tác khác Vốn đầu tư cho nông nghiệp còn thấp, năng lực trình độ của đội ngũ cán
bộ chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển
Đứng trước những thuận lợi và khó khăn trên, Đảng bộ huyện Nam Sách bắt tay vào chuẩn bị cho Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXIII diễn ra vào tháng
10 năm 1997, để tổng kết tình hình kinh tế - xã hội nhiệm kỳ trước đồng thời vạch ra những phương hướng, bước đi cho nhiệm kỳ tiếp theo Trong Báo cáo chính trị trình Đại hội, đảng bộ huyện đã đánh giá kết quả đạt được trong giai đoạn trước, từ đó để ra chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế nhất là kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn 1997-2000
Trong khi đưa ra nhiệm vụ và giải pháp lớn, Báo cáo chính trị chỉ rõ để đưa kinh tế nông nghiệp huyện có bước phát triển mới cần quán triệt nghiêm túc, kịp thời chủ trương của Trung ương Đảng và Đảng bộ tỉnh Hải Dương Trên
cơ sở đó, Đảng bộ huyện Nam Sách đã đề ra chủ trương nhằm tối ưu hóa quá trình sản xuất nông nghiệp:
Phát triển toàn diện kinh tế nông nghiệp để đến năm 2000 đạt được cơ cấu giá trị: Lương thực – Cây công nghiệp, cây ăn quả, rau màu – Chăn nuôi là
Trang 3125
55%-17%-28% Đưa hệ số sử dụng đất lên 2,6 lần, cơ giới hóa khâu làm đất từ 60-70% diện tích, diện tích cấy lúa hàng năm ổn định từ 6000-6200 ha; năng suất bình quân đạt 12 – 12,5 tấn/ha, đảm bảo an toàn lương thực, bình quân từ 520-550kg/ người Phấn đấu đạt giá trị thu nhập/1ha canh tác là 30 triệu đồng [1,
tr 12]
Khai thác lợi thế để đẩy mạnh chăn nuôi, có bước đi cụ thể để nạc hóa đàn lợn, sind hóa đàn bò, đưa thêm một số đàn gia cầm có sản lượng trứng hoặc thịt cao Phát triển và đưa đàn lợn lên 65.000 con, đàn bò đạt 6000-7000 con Khai thác tốt các diện tích ao hồ và diện tích chuyển đổi, thực hiện thâm canh nuôi thả cá để có năng suất và sản lượng cao [1, tr 12]
Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên cơ sở luật pháp và các quy định của tỉnh Quy hoạch và lập kế hoạch khai thác, sử dụng đất trên địa bàn toàn huyện để xác định diện tích cho từng loại cây trồng, từng vùng kinh tế chuyển đổi Khai thác triệt để và có hiệu quả các loại diện tích đất lúa màu, đất màu, đất bãi trũng, đất ngoài đê, đất vườn, đất thổ cư… Có biện pháp và bước đi thích hợp trong việc chuyển đổi đất theo pháp luật để dần dần hình thành vùng đất có quy mô hợp lý để phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa [1, tr 12]
Đối với vấn đề phát triển thị trường tiêu thụ cho sản phẩm nông sản, trên
cơ sở phân tích những thuận lợi và hạn chế của địa phương, Báo cáo chính trị trình Đại hội chỉ rõ Đảng bộ huyện Nam Sách phải: “Gắn chặt sản xuất nông nghiệp với từng bước xây dựng các cơ sở chế biến nông sản và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân” [1, tr 13]
Để đạt được những mục tiêu trên, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển kinh tế nông nghiệp, Đảng bộ huyện chủ trương tập trung phát triển mạnh các vùng kinh tế sau:
Vùng lúa cao sản, thực hiện tôt các biện pháp thâm canh để đạt được mục tiêu đã đề ra về ản lượng lương thực Biện pháp cụ thể là hương dẫn nông dân thực hiện tốt lịch gieo cấy theo thời vụ; lựa chọn các loại giống lúa có năng suất
Trang 3226
và chất lượng cao, có khả năng kháng bệnh tốt Thực hiện ứng dụng nhiều quy trìn kỹ thuật vào gieo cấy Dành từ 20-30% diện tích để sản xuất lúa đặc sản ở các xã có trình độ thâm canh cao (Nam Hưng, Quốc Tuấn, An Bình) [1, tr 15]
Ngoài 2 vụ lúa phải phấn đấu trồng cây vụ đông hàng năm từ 4000 - 4.500 ha với cơ cấu cây vụ đông hợp lý, lựa chọn những cây có nhu cầu xã hội,
có khả năng xuất khẩu và có giá trị kinh tế cao [1, tr 15]
Vùng kinh tế chuyển đổi, trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để xác lập vùng kinh tế chuyển đổi Hướng tập trung vào các vùng bãi trũng 2 vụ lúa bấp bênh với diện tích khoảng 500 ha ở các xã Nam Tân, An Lâm, Phú Điền,
An Sơn, Nam Trung, Hồng Phong, Thái Tân,… Thúc đẩy các xã, nhóm hộ gia đình lập các dự án để chuyển đổi Nguồn vốn để chuyển đổi được huy động từ trong nội bộ nhân dân, vay vốn tín dụng lãi xuất thấp,… Hướng đầu tư chủ yếu
là đắp vùng cải tạo ao, nuôi các loại thủy sản giá trị kinh tế cao; trồng cây ăn quả… Đồng thời tích cực tìm và khai thác thị trường, mở rộng diện tích trồng các loại rau, quả xuất khẩu như dưa chuột, hành tỏi, rau đậu,… [1, tr 15]
Vùng kinh tế tổng hợp ven đê, chủ yếu là trồng đỗ, lạc, lương thực Chăn nuôi bò thịt và tiến tơi nuôi bò sữa kết hợp với nuôi thả cá ở các đầm, bãi ven
đê Chú trọng khai thác các lợi thế ven sông Thái Bình, sông Kinh Thầy Tích cực hướng dẫn nông dân ứng dụng các thành tựu kỹ thuật nông nghiệp, thực hiện các chính sách khuyến nông, tăng cường giáo dục hướng nghiệp và tập huấn kỹ thuật nông nghiệp cho nông dân Nhất là biện pháp, quy trình thâm canh tiên tiến, tăng đầu tư cho nông nghiệp để đạt mục tiêu đã đề ra [1, tr 15]
Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXIII đã khái quát những vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp Báo cáo đã đưa ra mục tiêu cân đối cơ cấu nội ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp
lý theo chủ trương của Trung ương Đảng và Đảng bộ tỉnh Hải Dương Bên cạnh
đó, Đảng bộ huyện đã căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương đưa ra phương
án phát triển các vùng nông nghiệp khác nhau, đáp ứng được yêu cầu thị trường
Trang 3327
1.2 Sự chỉ đạo thực hiện từ năm 1997 đến năm 2000
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XII, đảng bộ huyện Nam Sách đã chỉ đạo Phòng Nông nghiệp & phát triển nông thôn, Hội Nông dân, Trạm bảo vệ thực vật,…và khuyến khích bà con nông dân ra sức phấn đấu khắc phục mọi khó khăn, phát huy thế mạnh, tạo đà cho kinh tế nông nghiệp của huyện phát triển Thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được đề ra trong Nghị quyết đại hội đảng bộ huyện lần thứ XXIII đặc biệt là thắng lợi trên mặt trận nông nghiệp
Để hiện thực hoá chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp, Đảng bộ huyện Nam Sách đã khẩn trương đưa ra các chỉ đạo thực hiện Ngày 12/11/1997 Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XXIII đã ban hành Nghị Quyết 02-NQ/HU
“Định hướng phát triển nông nghiệp và nông thôn đến năm 2000” Các chỉ đạo
về phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện trong Nghị quyết NQ/HU về cơ bản đã tập trung vào các vấn đề liên quan đến hai nội dung: tối ưu hoá quá trình sản xuất nông nghiệp và phân phối, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
02-1.2.1 Chỉ đạo tối ưu hóa quá trình sản xuất nông nghiệp
Đảng bộ huyện Nam Sách đã tập trung chỉ đạo phát huy tối đa các nguồn lực, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyên môn hóa sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường, phát triển các ngành kinh tế nông nghiệp nhằm tối ưu hoá quá trình sản xuất nông nghiệp, tăng sản lượng lương thực, tăng chất lượng nông sản, nâng cao thu nhập cho bà con nông dân
1.2.1.1 Khai thác và phát huy các nguồn lực
Các nguồn lực trong phát triển kinh tế nông nghiệp bao gồm nguồn lực tự nhiên và nguồn lực kinh tế xã hội Các nguồn lực tự nhiên như: đất, khí hậu,…; nguồn lực kinh tế xã hội bao gồm: hạ tầng - kỹ thuật, nguồn nhân lực, vốn,… Để phát huy tối đa các nguồn lực, Đảng bộ huyện đã chỉ đạo Ủy ban nhân dân huyện và Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn căn cứ vào tình hình thực
Trang 341996, tần suất sử dụng đất của địa bàn huyện trung bình khoảng 2,1 lần/năm, diện tích đất nông nghiệp bị bỏ hoang nhiều, giá trị sản xuất không cao
Từ thực tiễn trên, Đảng bộ huyện Nam Sách chỉ đạo trong Nghị quyết NQ/HU phương hướng tổng quát và mục tiêu chủ yếu đến năm 2000: đưa hệ số
02-sử dụng đất lên 2,6 lần; cơ giới hóa khâu làm đất từ 60-70% diện tích,…Quy hoạch và lập kế hoạch khai thác sử dụng đất trên địa bàn toàn huyện để xác định diện tích diện tích đất cho từng loại cây trồng, từng vùng kinh tế chuyển đổi Khai thác triệt để và có hiệu quả các loại diện tích đất lúa màu, đất mầu, đất bãi trũng, đất ngoài đê, đất vườn, đất thổ cư,… Có biện pháp và bước đi thích hợp trong việc chuyển đổi đất theo pháp luật để dần dần hình thành vùng đất có quy
mô hợp lý để phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa [33, tr 5]
Thực hiện sự chỉ đạo của Huyện ủy, Phòng Nông nghiệp & phát triển nông thôn đã cử cán bộ chuyên trách khảo sát thực tế sử dụng đất nông nghiệp tại các xã trong huyện Trên cơ sở khảo sát và căn cứ vào chủ trương chuyển đổi
cơ cấu cây trồng của huyện ủy trong Nghị quyết Đại hội XXIII để lập kế hoạch khai thác, sử dụng đất cho các loại cây trồng phù hợp, phát huy được tối đa giá trị sử dụng đất nông nghiệp Sau 3 năm thực hiện từ 1997 đến năm 2000, hệ số
sử dụng đất tăng từ 2,1 lần/năm lên 2,6 lần/năm, thu nhập bình quân trên 1 ha canh tác năm 2000 ước đạt 30 triệu đồng (năm 1997 là 24,2 triệu đồng/ha) [52,
tr 3]
Trang 3529
Về chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phòng Nông nghiệp & phát triển nông thôn đã phối hợp với các xã chuyển đổi được 234 ha bãi trũng sang nuôi thả cá và trồng cây ăn quả, chuyển 120 ha trồng lúa sang trồng cây xuất khẩu; giá trị thu nhập trên 1 ha chuyển đổi cao hơn trồng lúa từ 1,5 đến 1,8 lần Công tác quản lý và sử dụng đất nông nghiệp có những chuyển biến tích cực, đã hoàn thành việc lập quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2005, cơ bản hoàn thành thủ tục cấp đất canh tác cho các hộ nông dân; hoàn thành tổng kiểm kê đất đai theo đúng kế hoạch đề ra [52, tr 4]
Về thâm canh gối vụ, Đảng bộ huyện đã đưa ra một số chỉ đạo cụ thể về
vấn đề thâm canh gối vụ, nhằm tạo điều kiện để nông dân nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp Mô hình nông nghiệp của huyện từ trước đến nay chủ yếu thực hiện 2 vụ lúa chính, ngoài ra có xen canh và luân canh các loại rau màu khác nhưng hiệu quả kinh tế chưa cao, chủ yếu được tiến hành nhỏ lẻ, tự phát, chưa có quy hoạch và chưa có sự chỉ đạo trực tiếp từ chính quyền địa phương
Xuất phát từ thực tế đó, Đảng bộ huyện đã chỉ đạo Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Nông nghiệp & phát triển nông thôn nghiên cứu các loại cây giống phù hợp với điều kiện thời tiết vụ đông, thổ nhưỡng của huyện để đưa vào sản xuất Vụ đông năm 1997, Phòng Nông nghiệp & phát triển nông thôn huyện
đã quy hoạch thí điểm vùng trồng ngô và khoai tây giống mới tại các xã Nam Tân, Nam Hưng, Hợp Tiến, trồng cải bẹ xanh, đậu xanh ở Hiệp Cát, trồng ngô tại các xã ven đê sông Thái Bình, … Thực hiện chủ trương thâm canh gối vụ, tăng năng xuất và sản lượng, Phòng Nông nghiệp & phát triển nông thôn khuyến khích bà con nông dân đa dạng các hoạt động xen canh, luân canh Trong thực tiễn sản xuất, một số hộ nông dân trồng hành tỏi ở các xã đã gieo trồng thêm củ cải đường và cải bẹ xanh vào những má luống hành khi cây hành chưa mọc, đến khi cây hành mọc lên mặt luống khoảng 10cm thì cải bẹ xanh và củ cải đường
đã cho thu hoạch, ngoài sản lượng hành thu hoạch thì bà con nông dân có thêm
từ 1-2 triệu đồng thu hoạch cả bẹ xanh và củ cải đường
Trang 3630
Kết quả thực hiện cho thấy bước đầu đã tăng số vụ trong năm, hiệu quả kinh tế ban đầu tương đối tốt, người dân có thêm thu nhập, hiệu số sử dụng đất cũng tăng lên Trong những năm tiếp theo, thâm canh tăng vụ được Đảng bộ tập trung chỉ đạo, Phòng Nông nghiệp & phát triển nông thôn có kế hoạch phát triển
cụ thể, nâng cao giá trị kinh tế
- Về nguồn nhân lực
Huyện có cơ cấu dân số trẻ, đây là lợi thế rất lớn về nguồn nhân lực tuy nhiên lao động nông nghiệp trên địa bàn huyện chủ yếu là nhân lực phổ thông, chưa có trình độ chuyên môn, làm việc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm tích lũy từ nhiều đời để lại, bản chất còn bảo thủ, chưa chịu tiếp thu những cái mới Cán bộ chuyên trách trong nông nghiệp khi vừa mới tách huyện còn rất mỏng, tính riêng Phòng Nông nghiệp & phát triển nông thôn chỉ có 5 cán bộ, Trạm bảo vệ thực vật chỉ có 3 cán bộ,… đây cũng là khó khăn lớn trong việc chỉ đạo thực hiện những chủ trương của huyện ủy vào thực tiễn
Nhận thức rõ những hạn chế trên và đánh giá đúng tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong nông nghiệp, Đảng bộ huyện đã chỉ đạo Ủy ban nhân dân
và Phòng Nông nghiệp & phát triển nông thôn triển khai công tác tuyển dụng cán bộ cho đủ với quy định, cử cán bộ tại chỗ đi đào tạo, đồng thời tổ chức các buổi chuyển giao kỹ thuật, các buổi học tập cho bà con nông dân tại địa bàn các
xã Tính trung bình thời gian từ năm 1997 đến năm 2000, đã tuyển dụng thêm 2 cán bộ chuyên trách làm việc tại Phòng Nông nghiệp & phát triển nông thôn, có
1 cán bộ cán bộ được cử đi học tập, nâng cao trình độ chuyên môn; 12 lượt đi học tập, bồi dưỡng của lãnh đạo và cán bộ phụ trách nông nghiệp, khoảng 300 lượt chuyển giao kỹ thuật cho bà con nông dân tại địa bàn các xã, 05 lượt tham quan các mô hình trang trại, mô hình cây xuất khẩu trong và ngoài địa bàn huyện [52, tr 5]
Sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân và Phòng Nông nghiệp & phát triển nông thôn huyện đã bước đầu phát huy được lợi thế của nguồn nhân lực huyện Tuy nhiên tính về tần suất học tập nâng cao trình độ của cán bộ chuyên trách trong 3
Trang 3731
năm chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn chỉ đạo Việc trao đổi, hỏi hỏi kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp từ các địa bàn khác là rất cần thiết, cần được chú trọng phát huy, nâng cao hiệu quả Chính quyền cần kết hợp với các
hộ dân xây dựng những mô hình sản xuất tiên tiến, cho hiệu quả kinh tế cao, phát huy được lợi thế so sánh của huyện
- Về hạ tầng kỹ thuật
Cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong quá trình thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển Đây cũng là một trong các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển của 1 địa phương hay một nền kinh tế Nhận thức rõ vấn
đề này, Đảng bộ huyện Nam Thanh nhiều nhiệm kỳ đã tập trung xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật nói chung và phát triển hạ tầng nông nghiệp nói riêng Năm 1997, địa giới hành chính mới của huyện được xác lập, Đảng bộ huyện Nam Sách đã tập trung chỉ đạo các ban, ngành lập kế hoạch đầu tư sửa chữa, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp như: trạm bơm, đường sá, đê điều, Nghị quyết 02- NQ/HU đã chỉ rõ: “Tập trung mọi nguồn lực xây dựng và tu bổ
cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp, kiên cố hóa kênh mương, làm tốt công tác thủy lợi nội đồng, huy động sức mạnh của chính quyền cơ sở và người dân [33,
tr 8]
Dựa trên báo cáo của các xã trong huyện về thực tế cơ sở hạ tầng và đề xuất xây dựng, sửa chữa trong nhiệm kỳ mới 1997-2000, Đảng bộ huyện đã chỉ đạo Phòng Kinh tế & hạ tầng lập kế hoạch sử dụng nguồn vốn cho đầu tư cơ sở
hạ tầng nông nghiệp, nông thôn Có sự phối hợp chặt chẽ từ Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Nông nghiệp & phát triển nông thôn, phòng Kinh tế & hạ tầng kết quả sau 3 năm từ 1997 đến năm 2000, trên toàn huyện đã làm tốt việc huy động các nguồn lực, khai thác tiềm năng để xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Năm 2000 ước đạt tổng mức đầu tư xây dựng cơ bản là 25,2 tỷ đồng, trong đó phân bổ từ Trung ương là 41%, vốn tỉnh
và huyện là 25,3%, vốn dân đóng góp là 33,7% [52, tr 5]
Trang 3832
Về việc tu bổ đê điều, xây dựng mới và nâng cấp các công trình thủy lợi, hàng năm, Nhà nước và nhân dân Nam Sách đã đầu tư đào đắp hàng vạn mét khối đất đê Các tuyến đê của huyện từ Cộng Hòa đến Thái Tân cơ bản đạt 3 mét mặt, cơ đê vững chắc Hoàn thành và đưa vào sử dụng trạm bơm Long Động (xã Nam Hưng), góp phần chủ động và nâng cao năng lực tưới tiêu của toàn huyện
Bên cạnh việc đầu tư cơ sở hạ tầng trực tiếp phục vụ nông nghiệp như đê điều, kênh mương, giao thông nội đồng,… việc đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn nói chung cũng góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp Việc đầu tư xây dựng, cải tạo hệ thống hạ tầng chung của nông thôn như: điện, đường,… cũng được Ủy ban nhân dân huyện quan tâm Từ năm 1997 đến năm 2000, đã đầu tư và nâng cấp các tuyến điện trung, hạ thế, đảm bảo 100% số hộ được dùng điện với chất lượng ngày càng cao Cải tạo và nâng cấp 301,4 km đường giao thông nông thôn, trong đó tuyến đường giao thông xã (100,6 km) cơ bản được rải bằng vật liệu cứng (cấp phối, nhựa); đường giao thông thôn xóm 200,8 km được rải bằng vật liệu cứng (cấp phối, nhựa, bê tông
và gạch lát nghiêng) Nhiều xã vận động nhân dân đóng góp, xây dựng theo quy hoạch như ở Phú Điền, Nam Đồng, Hồng Phong, Quốc Tuấn và Thượng Đạt,… Làm tốt các bước chuẩn bị để tiếp nhận dự án đầu tư ở các tuyến đường Thanh Quang – Hợp Tiến, Nam Hồng – An Sơn, Thanh Quang – Nam Tân,… Đã kiên
cố hóa được 30 km kênh tưới, đạt 15,85% (mục tiêu là 20-30%) [52, tr 9]
Việc nâng cao cơ sở hạ tầng nói chung góp phần cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, từ đó thúc đẩy kinh tế nông nghiệp có bước phát triển mới Cơ sở
hạ tầng được chú trọng tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, giảm thiểu chi phí, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế Trong giai đoạn tiếp theo, Đảng bộ huyện cần tiếp tục duy trì và phát huy công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt việc xây dựng, cải tạo cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn
- Về vốn
Trang 3933
Được sự quan tâm chỉ đạo của tỉnh ủy và Đảng bộ huyện Nam Sách, nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế nông nghiệp được huy động từ nhiều nguồn như: Ngân sách Nhà nước, ngân sách tỉnh, ngân sách huyện và vốn trong quần chúng nhân dân Trước khi tách huyện, nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp trung bình một năm khoảng 9,6 tỷ đồng (tính từ 1991-1996), trong đó chủ yếu là vốn trong quần chúng nhân dân Tuy nhiên, quá trình sử dụng vốn đầu tư chưa thực sự hiệu quả, chuyển biến cơ cấu ngành trong nông nghiệp còn chậm, giá trị kinh tế từ nông nghiệp mang lại không cao
Sau khi tách huyện, xét thấy cần phát huy tối đa nguồn lực trong nông nghiệp, khai thác và sử dụng vốn có hiệu quả, thực hiện sự chỉ đạo của Huyện
ủy, Ủy ban nhân dân huyện đã yêu cầu Phòng Nông nghiệp & phát triển nông thôn lập kế hoạch sử dụng vốn trong đầu tư cụ thể trên các địa bàn xã, căn cứ thực tiễn sản xuất phân bổ vốn có hiệu quả Đồng thời, huy động các nguồn vốn
từ doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế bên ngoài
Nghị quyết 02 - NQ/HU của Đảng bộ huyện Nam Sách đã nhấn mạnh: Từng bước có kế hoạch đầu tư chuẩn bị tích cực cho sản xuất Phát huy vai trò của các thành phần kinh tế trong việc tham gia hỗ trợ kinh tế nông nghiệp phát triển, đầu tư vào các hạng mục nông nghiệp ưu tiên vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn Chính quyền địa phương thiết lập cơ chế thông thoáng, có nhiều chính sách ưu đãi về vốn đối với đầu tư tại các khu vực này Thực hiện tốt chính sách khuyến nông, hỗ trợ nông dân về vốn, cây giống, con giống,… [33, tr9]
Thực hiện Nghị quyết 02-NQ/HU của Đảng bộ huyện, Uỷ ban nhân dân huyện đã tiến hành phân bổ ngân sách Nhà nước, ngân sách tỉnh và ngân sách huyện cho nông nghiệp một cách có hiệu quả, ưu tiên những xã khó khăn, vùng sâu, vùng xa
Trong 3 năm 1997-2000, hiệu quả sử dụng vốn cũng như huy động vốn cho phát triển kinh tế nông nghiệp bước đầu đã có sự chuyển biến Tính trung bình 3 năm, vốn đầu tư cho nông nghiệp đạt khoảng 13,2 tỷ đồng/ năm, chủ yếu được đầu tư vào cây giống, con giống, phân đạm, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn
Trang 4034
chăn nuôi,… Kinh tế nông nghiệp đã có sự chuyển biến nhưng chưa rõ nét, sử dụng vốn vẫn theo lối mòn cũ, chưa tạo được sự đột phá, nguồn vốn huy động bên ngoài còn hạn chế, các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế tham gia vào kinh tế nông nghiệp chủ yếu là đầu tư về mặt hiện vật, rủi ro thấp như: thức ăn chăn nuôi (cho nông dân mua trả chậm, đến khi xuất đàn mới trả lại doanh nghiệp với mức lãi suất thấp), phân lân bón cây trồng,… Trong thời gian tới cần vạch ra hướng đi cụ thể huy động vốn tổng lực cho kinh tế nông nghiệp, thúc đẩy phát triển đột phá, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ
1.2.1.2 Áp dụng khoa học kỹ thuật
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã tác động mạnh mẽ đến tất cả các mặt của đời sống xã hội trong đó có nông nghiệp Việc ứng dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại giúp nâng cao năng suất và chất lượng nông sản, giảm chi phí sản xuất, đưa nông nghiệp phát triển vượt bậc so với trước đây Nhận thức rõ những hiệu quả mà khoa học mang lại cho nông nghiệp, Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh Hải Dương, đã có những chủ trương cụ thể trong việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp Cụ thể hóa chủ trương của Trung ương Đảng và Đảng bộ tỉnh, Đảng bộ huyện Nam Sách đã nhấn mạnh nội dung áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất trong Nghị quyết 02-NQ/HU nhằm từng bước hiện đại hóa quá trình sản xuất nông nghiệp huyện Nghị quyết chỉ rõ: Tiếp tục đẩy mạnh việc chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi, đầu tư ngân sách cho việc mua sắm thiết bị, máy móc phục vụ nông nghiệp đưa nông nghiệp
và nông thôn từng bước thay đổi theo hướng tích cực [33, tr 9]
Thực hiện Nghị quyết 02-NQ/HU của Đảng bộ huyện, Phòng Nông nghiệp & phát triển nông thôn nghiên cứu những máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất như máy cày bừa, máy tuốt lúa, các loại giống lúa và cây trồng mới phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng của các xã trong huyện Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân huyện cũng đã chỉ đạo trích một phần ngân sách phục vụ nông nghiệp