1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp để phát triển và ứng dụng công nghệ phần mềm tại việt nam giai đoạn 2006 2010

102 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ đề cập và giới hạn trong một khía cạnh của công nghệ thông tin đó là: “Một số giải pháp để phát triển và ứng dụng công nghiệp phần mềm tại Việt Nam g

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

HỌC VIÊN: NGUYỄN VĂN LONG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

HỌC VIÊN: NGUYỄN VĂN LONG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Trang 3

Néi dung Trang

2 M ục đích, giới hạn và phạm vi của đề tài 2

5 Phương pháp nghiên cứu, đánh giá trong luận văn 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN VÀ ỨNG DỤNG CÔNG

1.1 T ổng quan về công nghiệp phần mềm 7 1.1.1 Là m ột ngành siêu sạch, siêu lợi nhuận 7 1.1.2 Là ngành công nghi ệp mới, có cơ hội cho các nước biết nắm thời cơ 7 1.1.3 V ừa có xu hướng tiếp tục phát triển tập trung ở một số quốc gia

nhưng cũng lại phân tán sang các nước khác 9 1.2 M ột số khái niệm về công nghiệp phần mềm 9

1.4.2 Tình hình m ột số thị trường lớn nhập khẩu công nghiệp phần mềm 20

1.4.3 Tình hình, kinh nghiệm của một số quốc gia thành công về xuất

1.5 Quan h ệ giữa phát triển công nghiệp phần mềm với các ngành công

nghi ệp khác trong nền kinh tế quốc dân 29 1.6 Kết luận chương 1 và nhiệm vụ chương 2 30 Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VÀ ỨNG DỤNG

2.1 Th ực trạng phát triển công nghiệp phần mềm 31 2.1.1 Th ực trạng phát triển doanh nghiệp 31

Trang 4

2.2 Nh ững nhân tố ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp phần mềm 46

2.2.2 Môi tr ường chính sách hỗ trợ phát triển 53 2.2.3 H ạ tầng viễn thông và Internet 54 2.2.4 Đầu tư nước ngoài cho công nghiệp phần mềm 55 2.3 Phân tích SWOT và các tiềm năng phát triển phần mềm 56 2.3.1 Phân tích SWOT (các điểm mạnh, yếu, cơ hội, thách thức) đối với

s ự phát triển của công nghiệp phần mềm 56 2.3.2 Các ti ềm năng phát triển và ứng dụng công nghiệp phần mềm 62 2.4 K ết luận chương 2 và nhiệm vụ chương 3 63 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN VÀ ỨNG DỤNG CÔNG

NGHIỆP PHẦN MỀM TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006-2010 VÀ SAU 2010 64

3.1 Các xu h ướng phát triển công nghiệp phần mềm tại các nước trong khu

3.2 M ục tiêu và định hướng chiến lược phát triển và ứng dụng công nghiệp

ph ần mềm tại Việt Nam trong thời gian tới (giai đoạn 2006-2010 và tầm

nhìn sau 2010)

66

3.2.1 M ục tiêu và định hướng chiến lược phát triển, ứng dụng công nghiệp

ph ần mềm tại Việt Nam giai đoạn 2006-2010 66 3.2.2 M ục tiêu định hướng chiến lược phát triển, ứng dụng công nghiệp

3.3 M ột số giải pháp chính để phát triển và ứng dụng công nghiệp phần

m ềm tại Việt Nam giai đoạn 2006-2010 71

Trang tóm t ắt luận văn bằng tiếng Anh

Trang tóm t ắt luận văn bằng tiếng Việt

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 S ự cần thiết và lý do chọn đề tài

Những thế kỷ vừa qua đã chứng kiến nhiều thay đổi cơ bản về kinh tế, mỗi sự thay đổi đổi về kinh tế này đã có tác động cơ bản đối với bản chất của

xã hội Trong thời gian gần đây, một thuật ngữ thường xuyên được nhắc tới

và được coi là một mẫu hình kinh tế mới, đó là “nền kinh tế tri thức” nền kinh

tế của hiện tại và tương lai Kinh tế tri thức được hiểu là nền kinh tế mà tri thức là một đầu vào (input) cơ bản Nếu như quan điểm cổ điển cho rằng các đầu vào sản xuất chỉ bao gồm: nguyên liệu, vốn, và lao động, thì khái niệm đầu vào tri thức đã thay đổi cách tư duy kinh tế học

Hàm số sản xuất cổ điển: P = F (R, C, L) [5]

Trong đó: P - sản xuất (Production) phụ thuộc vào: R - tài nguyên (Ressource), C - vốn (Capital), và L - lao động (Labor)

Hàm số sản xuất hiện đại: P = F (R, C, L, K) [5]

Ngoài R, C, L còn có đóng góp của tri thức K (Knowledge)

Trong nền kinh tế tri thức, K sẽ chiếm một tỷ trọng rất lớn so với các đầu vào còn lại Nền kinh tế tri thức là mục tiêu then chốt trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới, bởi vì tri thức là một sức mạnh kinh tế tạo ra tăng trưởng, phát triển và thay đổi đối với xã hội Tri thức, được biểu hiện bởi các yếu tố chính là con người và khoa học công nghệ, trong bối cảnh hiện nay khoa học công nghệ được nghiên cứu và phát triển theo nhiều hướng, ngành và lĩnh vực chuyên sâu khác nhau, trong đó có một ngành công nghệ được phát triển và lan truyền rộng rãi đó là “công nghệ thông tin” Có thể khái quát công nghệ thông tin bao gồm hai phần chính là phần cứng và phần mềm

Công nghiệp phần mềm là ngành kinh tế mang hàm lượng trí tuệ cao, lợi nhuận lớn, không ảnh hưởng tới môi trường, được ứng dụng rộng rãi trong hầu hết tất cả các ngành, các lĩnh vực, có tiềm năng xuất khẩu, là cơ hội lớn

Trang 6

cho các nước đang phát triển biết nắm đúng thời cơ, đồng thời là động lực và phương tiện để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Phát triển công nghiệp phần mềm không những có thể góp phần đẩy mạnh sự tăng trưởng của nền kinh tế, tạo công ăn việc làm mà nó còn là động lực thúc đẩy và cũng là công cụ hữu hiệu cho tất cả các ngành, các lĩnh vực cũng như góp phần hình thành và phát triển xã hội thông tin với tiêu chí Chính phủ điện tử, doanh nghiệp điện tử, công dân điện tử, giao dịch và thương mại điện tử Trong bối cảnh của xu thế hội nhập và toàn cầu hoá như hiện nay, để đối mặt với những thách thức và tận dụng cơ hội mới Việt Nam cần đẩy mạnh phát triển công nghệ thông tin nói chung và công nghiệp phần mềm nói riêng nhằm xây dựng công nghiệp phần mềm thành một ngành kinh

tế mũi nhọn, có tốc độ tăng trưởng cao

Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ đề cập và giới hạn trong một khía

cạnh của công nghệ thông tin đó là: “Một số giải pháp để phát triển và ứng

dụng công nghiệp phần mềm tại Việt Nam giai đoạn 2006-2010”

2 Mục đích, giới hạn và phạm vi của đề tài

Bộ Bưu chính, Viễn thông chủ trì giúp Chính phủ chỉ đạo và triển khai, theo dõi tiến độ thực hiện của các đơn vị được phân công nhằm thực hiện các giải pháp để phát triển và ứng dụng công nghiệp phần mềm Trong quá trình thực hiện trình Chính phủ các quyết định, chủ trương, chính sách và biện pháp

kịp thời để đạt mục tiêu của kế hoạch trong từng giai đoạn

Việc xây dựng một số giải pháp để phát triển và ứng dụng công nghiệp phần mềm tại Việt Nam giai đoạn 2006-2010 là một việc quan trọng nhằm giúp cho ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam có được góc nhìn toàn cảnh

về thực trạng và biết được vị trí của công nghiệp phần mềm Việt Nam trên

bản đồ công nghệ thông tin thế giới Định hướng chiến lược phát triển đến

năm 2010 ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam thực sự lớn mạnh đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước, gia công xuất khẩu phần mềm cho thị trường

Trang 7

thế giới, chú trọng các thị trường trọng điểm như Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu, mang lại kim ngạch xuất khẩu cao có đóng góp cho nền kinh tế quốc dân và

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của luận văn này nhằm xác định các vấn đề cụ thể như sau:

- Nhận dạng về hiện trạng, xu thế phát triển, các yếu tố tác động (tính tích cực, kìm hãm) và đề xuất một số giải pháp để phát triển và ứng dụng công nghiệp phần mềm tại Việt Nam giai đoạn 2006-2010

- Tổng hợp các định hướng phát triển và ứng dụng công nghiệp phần mềm tại Việt Nam có tính đến các yếu tố tác động trong xu hướng hội nhập

- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển và ứng dụng công nghiệp phần mềm tại Việt Nam

3 Nhi ệm vụ của đề tài

- Xây dựng cơ sở lý luận về sự phát triển và khả năng ứng dụng công nghiệp phần mềm tại Việt Nam

- Phân tích thực trạng và khả năng phát triển, ứng dụng công nghiệp phần mềm tại Việt Nam

- Xây dựng, đề xuất một số giải pháp khả thi cho sự phát triển và ứng dụng công nghiệp phần mềm tại Việt Nam giai đoạn 2006-2010

4 V ấn đề mới và giải pháp của đề tài

Công nghiệp phần mềm không những cũng làm ra các sản phẩm như các ngành công nghiệp khác mà ngành công nghiệp này còn sản xuất ra các

sản phẩm hiệu quả nhất về kinh tế và có sự bùng nổ về ứng dụng trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội Trong phạm vi của đề tài này xin được đề cập đến những vấn đề mới và giải pháp như sau:

(1) Công nghiệp phần mềm là một ngành công nghiệp mới, là một ngành siêu sạch, siêu lợi nhuận, chi phí đầu tư cho phát triển công nghiệp

phần mềm chủ yếu là chi phí cho hoạt động trí tuệ và tiếp thị Nếu các tài nguyên của tự nhiên là có hạn, thì tài nguyên của công nghiệp phần mềm là

Trang 8

vô tận, các vấn đề chủ yếu để sản xuất ra sản phẩm của ngành công nghiệp này là do các kỹ sư/chuyên viên phần mềm giải quyết Thị trường phần mềm toàn cầu nói chung và trong mỗi quốc gia nói riêng ngày càng lớn, bởi nhu

cầu về phần mềm, dịch vụ phần mềm và nhân lực phần mềm ngày càng tăng Các nước phát triển hiện nay đang đối mặt với sự thiếu hụt về nhân lực phần

mềm, dẫn đến nhu cầu tìm kiếm nguồn nhân lực đặc biệt là nhân lực giá rẻ từ các nước kém phát triển hơn Trong bối cảnh hiện nay Việt Nam đang có những điều kiện thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp phần mềm

Công nghiệp phần mềm tập trung chủ yếu ở Mỹ và xu hướng này tiếp tục tăng Ngoài Mỹ, Nhật Bản và các nước Tây Âu cũng là những khu vực có ngành công nghiệp phần mềm phát triển manh mẽ Bên cạch xu hướng tập trung như đã nêu trên, trong bối cảnh xu thế toàn cầu như hiện nay đang xuất hiện xu thế phân tán, nhiều tập đoàn, công ty phần mềm lớn đang hướng tới xây dựng các cơ sở sản xuất và gia công phần mềm tại nhiều nước khác nhau

để tận dụng lợi thế so sánh về nguồn nhân lực Đặc thù của sản phẩm phần

mềm là không có nước nào chỉ xuất khẩu mà không nhập khẩu phần mềm,

ngược lại chính những nước có doanh thu xuất khẩu phần mềm cao cũng là những thị trường nhập khẩu dịch vụ phần mềm nhiều nhất Những thị trường nhập khẩu các sản phẩm phần mềm lớn nhất hiện nay là Mỹ, Nhật Bản, Tây

Âu (chủ yếu là Đức, Anh, Pháp, Ý) và những nước đang phát triển, ứng dụng thành công nền công nghiệp phần mềm ở châu Á là Ấn Độ, Trung Quốc

(2) Về thực trạng phát triển và ứng dụng công nghiệp phần mềm tại Việt Nam: Hội tin học thành phố Hồ Chí Minh đã ước tính cho đến nay cả

nước có khoảng 720 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phần mềm, trong

đó Hà Nội có khoảng 290 doanh nghiệp (40%), thành phố Hồ Chí Minh có

khoảng 370 doanh nghiệp (52%) và các tỉnh thành khác ước tính có khoảng

60 doanh nghiệp phần mềm (8%)

Phần lớn các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ, theo thống kê của Hội tin học thành phố Hồ Chí Minh số doanh nghiệp có

Trang 9

nhân lực dưới 50 người chiếm 82%, số doanh nghiệp có nhân lực trên 100 người chiếm 18% Các doanh nghiệp chưa chú trọng đến việc nâng cao quy trình đảm bảo chất lượng và trình độ công nghệ sản xuất theo các chứng

nhận/tiêu chuẩn của các tổ chức quốc tế Điều này thực sự là rào cản của ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam để chiếm được lòng tin của các khách hàng, đối tác quốc tế và trong nước

Nhân lực làm phần mềm của Việt Nam thiếu về số lượng và yếu kinh nghiệm, kỹ năng lập trình và các kiến thức chuyên môn liên quan đến các lĩnh

vực ứng dụng phần mềm, đặc biệt yếu về trình độ tiếng Anh Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thiếu hụt về nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua các nhờ sự nỗ lực của các doanh nghiệp ngành công nghiệp phần mềm của Việt Nam đã có nhiều khởi sắc, tháng 5

năm 2004, tập đoàn tư vấn quốc tế AT Kearney đã xếp Việt Nam vào danh sách 25 nước có tiềm lực gia công phần mềm-dịch vụ tôt nhất

(3) Nắm rõ các điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức đối với công nghiệp phần mềm tại Việt Nam, đồng thời tham khảo tình hình phát triển của một số quốc gia trên thế giới và có hoạch định lộ trình phát triển đồng bộ, phù

hợp với thực tế đồng thời thì công nghiệp phần mềm Việt Nam sẽ trở thành

một ngành kinh tế mũi nhọn có nhiều đóng góp cho nền kinh tế quốc dân Với mong muốn đề ra mục tiêu và định hướng chiến lược phát triển và ứng dụng công nghiệp phần mềm tại Việt Nam giai đoạn 2006-2010 và tầm nhìn sau

2010, luận văn xin đề xuất 03 giải pháp khả thi cho sự phát triển và ứng dụng công nghiệp phần mềm tại Việt Nam như sau:

Giải pháp 01: “Nghiên cứu thị trường công nghiệp phần mềm trong nước và quốc tế làm cơ sở chiến lược phát triển và ứng dụng công nghiệp phần mềm”;

Giải pháp 02: “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và quản lý người tài trong hoạt động phát triển và ứng dụng công nghiệp phần mềm”;

Trang 10

Giải pháp 03: “ Hoạch định lộ trình phát triển sáng tạo dịch vụ phù hợp và nâng cao năng lực kinh doanh trong hoạt động phát triển và ứng dụng

c ông nghiệp phần mềm”

5 Phương pháp nghiên cứu, đánh giá trong đề tài

Viết luận văn là một quá trình thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học, có nhiều các phương pháp áp dụng cho việc nghiên cứu các đề tài khoa học, tuỳ thuộc vào nội dung của đề tài nghiên cứu Các phương pháp thường

áp dụng có thể là: phương pháp mô hình, phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp tư duy, phương pháp chuyên gia, phương pháp ngoại suy, phương pháp kịch bản hoặc tập hợp các phương pháp tuỳ thuộc vào nội dung của đề tài Trong luận văn này sử dụng một số phương pháp như sau:

- Phương pháp thống kê;

- Phương pháp phân tích;

- Phương pháp tổng hợp;

- Phương pháp điều tra khảo sát;

- Phương pháp mô hình phân tích SWOT

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận khuyến nghị Nội dung chính của luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển và ứng dụng công nghiệp phần mềm tại Việt Nam

Chương 2: Phân tích thực trạng phát triển và ứng dụng công nghiệp

Trang tóm tắt luận văn bằng tiếng Anh

Trang tóm tắt luận văn bằng tiếng Việt

Trang 11

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN VÀ ỨNG DỤNG

CÔNG NGHI ỆP PHẦN MỀM TẠI VIỆT NAM 1.1 Tổng quan về công nghiệp phần mềm

Phần mềm là một tập hợp các chuỗi câu lệnh được viết bằng một hoặc nhiều ngôn ngữ lập lập trình theo một trật tự xác định nhằm tự động thực hiện

một số chức năng hoặc giải quyết một bài toán nào đó [18]

Công nghiệp phần mềm là một ngành kinh tế nhằm phát triển, sản xuất, phân phối các sản phẩm phần mềm và cung cấp các dịch vụ phần mềm như đào tạo, huấn luyện, tư vấn, cung cấp giải pháp, hỗ trợ kỹ thuật và bảo trì cho các đối tượng sử dụng

Công nghiệp phần mềm có một số đặc điểm chính như sau:

1.1.1 Là một ngành siêu sạch, siêu lợi nhuận

Khác với những ngành kinh tế khác đòi hỏi đến nguyên liệu, vật liệu, Công nghiệp phần mềm chủ yếu dựa trên trí tuệ Vì vậy, đây là một ngành công nghiệp siêu sạch, không ảnh hưởng đến môi trường

Chi phí đầu tư cho phát triển phần mềm chủ yếu là chi phí từ hoạt động trí tuệ và tiếp thị Chính vì vậy lợi nhuận từ ngành công nghiệp này rất lớn, có thể nói là ngành đem lại lợi nhuận lớn nhất so với các ngành kinh tế khác Thông thường lợi nhuận này chiếm khoảng 50% tổng chi phí Trong những năm gần đây, đã xuất hiện nhiều tập đoàn, công ty đa quốc gia hàng đầu thế giới hoạt động trong lĩnh vực Công nghiệp phần mềm và rất nhiều doanh nhân, chuyên gia đã nhanh chóng trở thành triệu phú, tỷ phú nhờ ngành công nghiệp mới mẻ này

1.1 2 Là ngành công nghiệp mới, có cơ hội cho các nước biết nắm thời cơ

Công nghiệp phần mềm là một ngành công nghiệp mới, phần lớn các doanh nghiệp phần mềm mới bắt đầu hoạt động trong vòng 20 năm trở lại đây Đặc điểm nổi bật của ngành công nghiệp này là không đòi hỏi phải đầu

Trang 12

tư nhiều về trang thiết bị, nguyên, nhiên liệu, mà chủ yếu là đầu tư cho đào tạo nhân lực, nâng cao kỹ năng, trí tuệ Do vậy có những công ty khi thành lập rất nhỏ, nhưng biết sử dụng nhân tài và có chiến lược phát triển đúng đắn, sau 05 đến 10 năm thành lập đã có thể có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của toàn ngành trên phạm vi toàn cầu

Thị trường phần mềm toàn cầu nói chung và trong mỗi quốc gia nói riêng đều tăng trưởng khá nhanh Nhu cầu về phần mềm, dịch vụ phần mềm

và nhân lực công nghiệp phần mềm ngày càng tăng Các nước có mức độ phát triển càng cao thì nhu cầu về phần mềm và dịch vụ càng lớn, vượt xa so với khả năng cung cấp và nguồn nhân lực của chính họ, điều này làm cho sự thiết hụt về nhân lực phần mềm ngày càng nhiều và giá nhân công ngày càng cao ở các nước đó Điều này dẫn đến một nhu cầu tự nhiên cần tìm kiếm các nhà cung cấp và nguồn nhân lực phần mềm giá rẻ từ các nước kém phát triển hơn Đây là cơ hội lớn cho các nước đang phát triển biết nắm đúng thời cơ, có những biện pháp mạnh và đúng đắn để có thể vượt lên

Nắm được thời cơ này, bắt đầu từ năm 1982 các doanh nghiệp phần mềm Ấn Độ đã tiến hành gia công xuất khẩu phần mềm cho Mỹ và Châu Âu, đến nay Ấn Độ đã trở thành quốc gia đứng đầu thế giới về gia công xuất khẩu phần mềm, doanh thu lên đến hàng chục tỷ USD mỗi năm [14] Trung Quốc mặc dù mới bắt đầu đẩy mạnh phát triển công nghiệp phần mềm từ những năm cuối của thế kỷ 20, tuy nhiên với lợi thế thị trường trong nước, đến nay doanh thu của ngành công nghiệp này cũng đã đạt trên 10 tỷ USD [14]

Các nước khác trong khu vực như Phillippines, Malaysia cũng đang đạt được nhiều thành công lớn trong phát triển công nghiệp phần mềm Đây là những bài học thành công mà Việt Nam hoàn toàn có thể học tập, áp dụng vào hoàn cảnh thực tế của mình

Trang 13

1.1 3 Vừa có xu hướng tiếp tục phát triển tập trung ở một số quốc gia nhưng cũng lại phân tán sang các nước khác

Công nghiệp phần mềm tập trung phát triển chủ yếu ở Mỹ và xu hướng này tiếp tục tăng Đến nay, ngành công nghiệp này phần lớn do các công ty

của Mỹ thống trị với các tập đoàn đa quốc gia hùng mạnh có chi nhánh hoạt động trên toàn cầu

Ngoài Mỹ, Nhật Bản và các nước Tây Âu cũng là những khu vực có ngành công nghiệp phần mềm phát triển mạnh mẽ Tại những khu vực này công nghiệp phần mềm phát triển và ứng dụng chủ yếu là những phần mềm đáp ứng nhu cầu nội địa và phần mềm điều khiển các thiết bị, sản phẩm công nghiệp do các hãng của các nước này sản xuất

Bên cạnh xu hướng tập trung như đã nêu trên, hiện nay đang xuất hiện

xu hướng phân tán Ngày nay sự chuyển dịch dòng người, dòng tiền, dòng hàng hoá và thông tin đã vượt khỏi biên giới các quốc gia Điều đó tạo nên sự phân tán trong phát triển phần mềm Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Internet và thương mại điện tử, sự chuyển dịch này ngày càng lớn Việc hợp tác sản xuất và gia công, xử lý số liệu thông qua mạng đã và đang trở nên phổ biến, tận dụng được sự chênh lệch thời gian giữa các quốc gia Xuất hiện việc

sử dụng nhân công giá rẻ, trình độ ở mức trung bình hoặc thấp ở các nước đang phát triển để gia công phần mềm và xử lý số liệu cho các hãng, các công

ty ở những nước phát triển Nhiều hãng, công ty phần mềm đã và đang có xu hướng xây dựng các cơ sở sản xuất phần mềm và gia công phần mềm tại nhiều nước khác nhau để tận dụng lợi thế so sánh về nguồn nhân lực

1.2 M ột số khái niệm về phần mềm

Thuật ngữ “công nghệ phần mềm” lần đầu tiên được đưa ra vào cuối những năm 1960 trong hội nghị thảo luận về “ sự khủng hoảng phần mềm” [16, 11] Công nghệ phần mềm được định nghĩa khác nhau bởi những người khác nhau Định nghĩa về công nghệ phần mềm bởi IEEE (Institute of

Trang 14

Electrical and Electronic Engineers - Học viện của các kỹ sư Điện và Điện tử)

là sự áp dụng một cách tiếp cận có hệ thống, có kỷ luật, và định lượng được cho việc phát triển, hoạt động và bảo trì phần mềm [20]

Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm sản phẩm phần mềm cũng

như cách phân loại sản phẩm phần mềm, thông thường sản phẩm phần mềm được phân loại theo phương thức hoạt động và theo khả năng ứng dụng của sản phẩm Trong luận văn này sản phẩm phần mềm được phân thành 03 loại, bao gồm: phần mềm đóng gói, phần mềm sản xuất theo hợp đồng và các dịch

- Phần mềm ứng dụng [1, 1]: là phần mềm được phát triển nhằm giúp

giải quyết các công việc hàng ngày cũng như các hoạt động nghiệp vụ như soạn thảo văn bản, quản lý học sinh, quản lý kết quả học tập, quản lý thư viện, phần mềm kế toán, phần mềm quản trị doanh nghiệp v.v

- Phần mềm phát triển [1] (còn gọi là phần mềm công cụ): là các phần

mềm được dùng làm công cụ để cho các lập trình viên, những người phát triển phần mềm sử dụng nó để phát triển các phần mềm ứng dụng Có thể hình dung tương tự như để chế tạo động cơ ô tô người ta dùng máy công cụ Các phần mềm dịch tự động các giải thuật viết trong một hệ thống qui ước nào đó thành các chương trình trên mã máy mà máy tính có thể thi hành được, các phần mềm hỗ trợ tổ chức dữ liệu, những phần mềm phát hiện lỗi lập trình

và sửa lỗi, đều thuộc các phần mềm phát triển

Trang 15

- Phần mềm hệ thống [1, 1]: là các phần mềm tạo môi trường cho các

phần mềm khác làm việc Những phần mềm này phải thường trực vì nó phải cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu của các phần mềm khác mà không biết trước yêu cầu đó xuất hiện khi nào Hệ điều hành, phần mềm gõ bàn phím theo kiểu tiếng Việt, hệ quản trị cơ sở dữ liệu hoạt động theo kiểu khách - chủ, thuộc phần mềm hệ thống

1.2.2 Phần mềm sản xuất theo hợp đồng [1, 2]

Phần mềm sản xuất theo hợp đồng là những sản phẩm phần mềm được sản xuất đơn lẻ hoặc được phát triển từ những phần mềm sẵn có theo các đơn đặt hàng hay theo hợp đồng giữa người sử dụng với nhà sản xuất phần mềm Phần mềm sản xuất theo hợp đồng có thể là một sản phẩm hoàn chỉnh, một phần mềm gia công hoặc một phần mềm nhúng:

- Phần mềm gia công [1, 2]: là một hay nhiều phần của một sản phẩm

phần mềm nào đó được một công ty (thường là công ty phần mềm lớn - gọi là người thuê gia công) thuê lại một công ty phần mềm khác (gọi là người nhận gia công) thực hiện

- Phần mềm nhúng [1, 2]: là phần mềm được nhà sản xuất thiết bị cài

sẵn vào thiết bị và chúng được sử dụng ngay cùng với thiết bị mà không cần

có sự cài đặt của người sử dụng hay người thứ ba

1.2 3 Dịch vụ phần mềm [1, 2]

Dịch vụ phần mềm là các dịch vụ liên quan đến phần mềm như dịch vụ bảo hành bảo trì, dịch vụ đào tạo, dịch vụ chuyên môn, dịch vụ dự án, dịch vụ

hỗ trợ triển khai, cấp phép sử dụng bản quyền phần mềm, v.v

1.2.4 Chu trình ph ần mềm và các mô hình phát triển phần mềm [16, 15]

Quá trình phát triển phần mềm là tập hợp các thao tác và các kết quả tương quan để sản xuất ra một sản phẩm phần mềm Hầu hết các thao tác này

Trang 16

được tiến hành bởi các kỹ sư phần mềm Các công cụ hỗ trợ máy tính về kỹ thuật phần mềm được dùng để giúp trong một số thao tác

Có 04 thao tác là nền tảng của hầu hết các quá trình phần mềm là:

- Đặc tả phần mềm: các chức năng của phần mềm và điều kiện để nó hoạt động phải được định nghĩa

- Sự phát triển phần mềm: để phần mềm đạt được đặc tả thì phải có quá trình phát triển này

- Đánh giá phần mềm: phần mềm phải được đánh giá để chắc chắn rằng

nó làm những gì mà khách hàng muốn

- Sự tiến hóa của phần mềm: phần mềm phải tiến hóa để thỏa mãn sự thay đổi các yêu cầu của khách hàng

1.2.4.1 Mô hình thác nước của chu trình phát triển phần mềm [16]

Hình 1.1: Mô hình thác nước của chu trình phát triển phần mềm

Trang 17

- Thiết kế phần mềm và hệ thống: trên cơ sở các định nghĩa và yêu cầu, các yêu cầu được phân và các hệ phần cứng hoặc hệ phần mềm Quá trình này gọi là thiết kế hệ thống Thiết kế phần mềm là quá trình biểu diễn các chức năng của mỗi hệ phần mềm sao cho có thể dễ dàng biến đổi chúng sang các

- Tổng hợp và thử nghiệm toàn bộ hệ thống: các đơn vị chương trình hoặc các chương trình được tích hợp lại và thử nghiệm như là một hệ thống hoàn thiện để đảm bảo thoả mãm các yêu cầu của phần mềm Sau khi thử nghiệm phần mềm được chuyển giao đến người sử dụng

- Hoạt động sản xuất và bảo trì: thông thường đây là giai đoạn lâu nhất trong chu trình Hệ thống phần mềm được cài đặt và sử dụng trong thực tế

Việc bảo trì đòi hỏi sửa các lỗi mà chưa được phát hiện trong các giai đọan trước, cải tiến các đơn vị chương trình hoặc các dịch vụ của hệ thống mỗi khi

có thêm các yêu cầu mới

Chỗ yếu của mô hình này là nó không linh hoạt các bộ phận của đề án chia ra thành những phần riêng của các giai đoạn Hệ thống phân phối đôi khi không dùng được vì không thỏa mãn được yêu cầu của khách hàng Mặc dù vậy mô hình này phản ảnh thực tế công nghệ Như là một hệ quả đây vẫn là

mô hình cơ sở cho đa số các hệ thống phát triển phần mềm

1.2.4.2 Mô hình ph át triển tiến hoá của phần mềm [18]

Phân loại sự phát triển tiến hóa:

- Lập trình thăm dò: đối tượng của quá trình thăm dò bằng cách làm việc với khách hàng để thăm dò các yêu cầu và phân phối phần mềm dứt

Trang 18

điểm Sự phát triển nên bắt đầu với những phần nào đã được hiểu rõ Phần mềm sẽ được thêm vào các chức năng mới khi mà nó được đề nghị cho khách hàng (và nhận về các thông tin)

- Mẫu thăm dò: đối tượng của phát triển tiến hoá này là nhằm hiểu các yêu cầu của khách hàng và do đó phát triển các định nghĩa yêu cầu tốt hơn cho phần mềm Các mẫu tập trung trên các thí nghiệm với những phần đòi hỏi nào của khách hàng mà có thể gây sự khó hiểu hay ngộ nhận

Hình 1.2: Mô hình p hát triển phần mềm theo kiểu tiến hoá

cá nhân phải năng động

Mô hình này thích hợp với:

- Phát triển các loại phần mềm tương đối nhỏ

Trang 19

- Phát triển các loại phần mềm có đời sống tương đối ngắn

- Tiến hành trong các hệ thống lớn hơn ở những chỗ mà không thể biểu thị được các đặc tả chi tiết trong lúc tiến hành Thí dụ của trường hợp này là các hệ thống thông minh nhân tạo và các giao diện cho người dùng

Mô hình Boehm có dạng xoắn ốc Mỗi vòng lặp đại diện cho một pha của quá trình phần mềm Vòng trong cùng tập trung về tính khả thi, vòng kế

lo về định nghĩa các yêu cầu, kế đến là thiết kế,

Không có một pha nào được xem là cố định trong vòng xoắn Mỗi vòng

có 04 phần tương ứng với một pha

Trang 20

- Cài đặt đối tượng: chỉ ra các đối tượng của pha trong đề án Những khó khăn hay cưỡng bức của quá trình và của sản phẩm được xác định và được lên kế hoạch chi tiết Xác định các yếu tố rủi ro của đề án Các phương

án thay thế tùy theo các rủi ro này có thể được dự trù

- Lượng định và giảm thiểu rủi ro Tiến hành phân tích mỗi yếu tố rủi

ro đã xác định Các bước đặt ra để giảm thiểu rủi ro

- Phát triển và đánh giá: sau khi đánh giá các yếu tố rủi ro, một mô hình phát triển cho hệ thống được chọn

- Lên kế hoạch: đ ề án được xem xét và quyết định có nên hay không tiếp tục pha mới trong vòng lặp

1.3 Các điều kiện chính về phát triển và ứng dụng công nghiệp

ph ần mềm

Các điều kiện chính để phát phát triển và ứng dụng công nghiệp phần

mềm tại Việt Nam trong bối cảnh hiện nay là: chính trị, kinh tế, xã hội, công nghệ và khả năng tác động của các yếu tố này tới sự phát triển và ứng dụng của ngành công nghiệp phần mềm tại Việt Nam

Bảng 1.1: Bảng phân tích các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và công nghệ để phát triển, ứng dụng công nghiệp phần mềm tại Việt Nam

1 Political - Chính trị

- Sự ổn định về chính trị: ổn định (+)

- Các điều kiện về thương mại: việc

phê chuẩn hiệp định thương mại với

Mỹ và chuẩn bị gia nhập WTO đặt

đất nước vào tình thế thuận lợi hơn

với các khách hàng (+)

- Chính sách thuế: rất ưu đãi cho các

công ty phần mềm (+)

- Chính sách tiền lương: mức lương tối

thiểu thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn

của ngành (+)

- Hỗ trợ về chính sách cho ngành:

ngành được ưu đãi (+)

- Tuần làm việc: theo quốc tế (bt)

2 Economic - Kinh tế

- Chi phí nhân công: thấp (+)

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế: cao (+)

- Hình ảnh quốc gia (về khía cạnh kinh tế) trên thế giới: đang được cải thiện (+)

- Hệ thống kinh tế: theo đuổi hoà nhập vào hệ thống toàn cầu, định hướng thị trường, đang hoàn thiện (bt)

- Mức ổn định tỷ giá hối đoái: khá ổn định (bt)

- Mức độ lành nghề của lực lượng lao động: tương đối khá về kỹ thuật, yếu về quản lý (bt)

- Tỷ lệ thất nghiệp: tương đối cao (bt)

Trang 21

- Lợi ích của người lao động: tuỳ thuộc

thoả thuận, xu hướng bảo vệ người

lao động (bt)

- Khung pháp lý cho hiệu lực của hợp

đồng: đang phát triển (bt)

- Bảo vệ sỡ hữu trí tuệ: vào loại yếu

nhất trên toàn thế giới (-)

- Chất lượng hạ tầng cơ sở: nghèo nàn (-)

Tổng: 3 (+), 2 (-) và 5 (bt)

3 Social - Xã hội

- Dân cư: trẻ, rất thiết tha hoà nhập vào

giao lưu kinh tế toàn cầu (ví dụ: kỹ

năng tiếng anh trong lớp người trẻ rất

phổ biến) (+)

- Khuynh hướng giáo dục: khuynh

hướng giáo dục theo chiều hướng tốt

ngày càng được cải thiện (+)

- Ham muốn đầu tư kinh doanh: cao,

các ngành có lợi nhuận nhìn thấy

nhiều người mới vào tham gia (+)

- Cơ hội giáo dục: nghèo nàn, các

trường học không theo kịp trình độ

cần thiết (-)

- Chia sẻ thông tin: các thông tin không

được chia sẻ mà thường bị dấu kín

Tạo nên rủi ro khi ra quyết định (-)

Tổng: 3 (+), 2 (-)

4 Technological - Công nghệ

- Các công nghệ phổ biến: cơ sở công nghệ hiện còn hạn chế nên không bị lệ thuộc vào công nghệ nào => có cơ hội

đi tắt, đón đầu (+)

- Tốc độ phổ biến công nghệ: cơ chế cho phổ biến công nghệ và thông tin nghèo nàn nên các quyết định đưa ra thường không có luận cứ (-)

Tổng: 1 (+) và 1 (-)

Nguồn: Bảng 1.1 Được lập bởi nhóm tác giả thuộc Bộ Bưu chính, Viễn thông: Nguyễn Văn Long; Hoàng Ngọc Tân; Nguyễn Lâm Thái, nghiên cứu đề tài “Chương trình phát triển công nghiệp phần mềm Việt Nam giai đoạn 2006-2010”

Trong bảng phân tích trên, yếu tố được đánh giá (+) có nghĩa là điều kiện tác động tích cực cho phát triển công nghiệp phần mềm, đánh giá (-) là ngược lại, sẽ gây ra những khó khăn, cản trở và (bt) là bình thường Theo kết quả phân tích, có thể thấy số các yếu tố (+) là 12 yếu tố, vượt trội so với số yếu tố (-), có 7 yếu tố, điều này có nghĩa là Việt Nam đang có những điều kiện thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp phần mềm

Trang 22

1.4 Th ực tiễn và tình hình phát triển, ứng dụng công nghiệp phần

m ềm trên thế giới

1.4.1 Nhận định chung:

Công nghiệp phần mềm là ngành đem lại lợi nhuận cao và có tốc độ tăng trưởng rất nhanh Theo IDC (Industrial Devolopment Corporation of South Afica Ltd), chỉ trong khoảng 30 năm từ 1965 đến 1995, doanh thu ngành công nghiệp này trên toàn thế giới tăng lên khoảng hơn 900 lần (từ 0,3

tỷ USD lên 275,3 tỷ USD) Thời kỳ từ 1996 đến 2000 ngành công nghiệp này cũng phát triển rất mạnh với tỷ lệ tăng trưởng hàng năm từ 10,6% đến 24,5% (gấp từ 03 đến 05 lần tỷ lệ tăng trưởng GDP thế giới) Giai đoạn 2001-2003,

do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới và nạn khủng bố (nhất là sự kiện 11/9/2001), nên sự tăng trưởng công nghiệp phần mềm thế giới chậm lại ở mức khá thấp, nhưng vẫn cao hơn tăng trưởng GDP cùng kỳ

Doanh thu của công nghiệp phần mềm không còn chỉ tập trung ở các nước phát triển, mà đang có sự phân bố lại doanh thu theo hướng tỷ trọng của các nước đang phát triển đang tăng lên nhanh chóng Trong những năm đầu thập niên 80, các nước OECD (Organisation for Economic Co-operation and Devolopment -Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) chiếm gần 97% doanh thu phần mềm thế giới Năm 1990, Mỹ chiếm 57% với khoảng 120 tỷ USD,

05 nước khác là Nhật Bản, Pháp, Đức, Anh và Canađa chiếm hơn 37% [1]

Tuy nhiên, khoảng 10 năm trở lại đây sự phân bố công nghiệp phần mềm thế giới đang có sự thay đổi với sự nổi lên của một số nước đang phát triển nhưng có ngành công nghiệp phần mềm tuy hình thành muộn hơn nhưng phát triển khá nhanh là ấn Độ, Trung Quốc Hiện nay, công nghiệp phần mềm của 02 nước nằm ngoài OECD này chiếm khoảng 04%, còn của Mỹ giảm xuống còn khoảng 39% và của 05 nước Nhật, Pháp, Đức, Anh, Canađa là 27% [1] Điển hình thành công về công nghiệp phần mềm của Ấn Độ, Trung Quốc, khẳng định việc hỗ trợ phát triển và ứng dụng công nghiệp phần mềm

là một chính sách đúng đắn của các nước đang phát triển như Việt Nam

Trang 23

Cơ cấu doanh thu của công nghiệp phần mềm phần lớn là từ dịch vụ phần mềm chứ không phải là từ phần mềm đóng gói Thống kê cho thấy cơ cấu các loại sản phẩm trong ngành công nghiệp phần mềm trong suốt quá trình phát triển là tương đối ổn định, Phần mềm đóng gói thường chiếm khoảng gần 1/3 tổng giá trị doanh thu phần mềm toàn cầu và khoảng hơn 2/3 còn lại là các dịch vụ phần mềm Ở các nước có nền công nghiệp phần mềm phát triển như Mỹ cũng như các nước OECD tỷ lệ phần mềm đóng gói thường chiếm hơn 1/3 tổng doanh thu, nhưng ở các nước đang phát triển, tỷ lệ phần mềm đóng gói thường thấp hơn rất nhiều Trong tổng số doanh thu của phần mềm đóng gói, phần mềm ứng dụng luôn chiếm phần lớn nhất (khoảng gần 1/2), phần mềm hệ thống luôn chiếm khoảng 1/3 và phần mềm phát triển chiếm phần còn lại (gần 1/4) [1]

Hầu hết các quốc gia đều đang phải đối mặt với sự thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực làm phần mềm và giá nhân công tăng rất nhanh, đặc biệt là ở các nước phát triển Nhân lực là yếu tố quyết định thành công của công nghiệp phần mềm Cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp phần mềm thế giới, nhân công trong lĩnh vực này tăng mạnh hàng năm, đến năm

2001 trên toàn thế giới ước tính có khoảng 2,6 triệu nhân lực phần mềm [1] Đặc biệt số lượng nhân công phần mềm của Trung Quốc tính đến năm 2002

có khoảng 600.000 người, tăng gấp đôi so với năm 2001 (China’s National Statistical Bureau)

Tuy nhiên, sự phát triển nguồn nhân lực phần mềm không theo kịp yêu cầu của ngành công nghiệp công nghệ cao này, hầu hết tất cả các nước có nền công nghiệp phần mềm phát triển đều phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân lực và phải nhập khẩu lao động phần mềm từ các nước đang phát triển Thiếu hụt nhân lực cùng với áp lực giảm giá thành và tăng năng suất lao động

đã làm cho việc thuê gia công phầm mềm (Software Outsourcing) đang trở thành một trào lưu rộng rãi trên thế giới Trong bối cảnh nguy cơ đối diện với

Trang 24

nạn khủng bố hiện nay, do đòi hỏi đảm bảo an ninh, các nước công nghiệp phát triển đang hạn chế nhập cư và tăng cường đem thuê gia công phần mềm tại các nước đang phát triển, điều này càng làm cho nhu cầu gia công phầm mềm tăng mạnh

Về phân bố doanh nghiệp, các tập đoàn phần mềm lớn hầu hết thuộc các nước OECD Trong danh sách 10 và 20 các doanh nghiệp phần mềm lớn nhất thế giới, hầu như toàn bộ các doanh nghiệp đều là của các nước OECD

mà riêng Mỹ chiếm khoảng một nửa trong số đó Năm 2001, trong 10 công ty hàng đầu có 08 công ty của Mỹ, tuy nhiên con số này của Mỹ đang có xu hướng giảm xuống, phù hợp với xu hướng tỷ lệ công nghiệp phần mềm của

Mỹ giảm dần trong tổng số chung của thế giới Các nước đang phát triển như Trung Quốc và Ấn độ thường có số lượng doanh nghiệp nhiều nhưng quy mô doanh nghiệp vẫn hạn chế Chẳng hạn, năm 2002 với 300 doanh nghiệp, công nghiệp phần mềm Israel đạt doanh thu 4,2 tỷ USD; còn với 4.700 doanh nghiệp, công nghiệp phần mềm Trung Quốc chỉ đạt doanh thu 13,3 tỷ USD Chỉ một mình công ty Microsoft của Mỹ đã có doanh thu phần mềm 25,9 tỷ USD, gần gấp đôi của cả ngành công nghiệp phần mềm Trung Quốc để tăng sức cạnh tranh, các nước đi sau như Ấn Độ, Trung Quốc đang có chiến lược tập trung xây dựng một số công ty phần mềm hàng đầu để dẫn dắt nền công nghiệp phần mềm của mình [1]

1.4.2 Tình hình một số thị trường lớn nhập khẩu công nghiệp phần mềm

Công nghiệp phần mềm là một ngành công nghiệp có nhiều tiềm năng, triển vọng thành công lớn, do vậy nhiều quốc gia đã có chiến lược, chính sách phát triển công nghiệp phần mềm và đã thành công Đặc thù của sản phẩm phần mềm là không có nước nào chỉ xuất khẩu mà không nhập khẩu phần mềm, mà ngược lại chính những nước có doanh số xuất khẩu phần mềm cao cũng là những thị trường nhập khẩu dịch vụ phần mềm nhiều nhất Sau khi khảo sát tình hình của một số nước có thị trường nhập khẩu phần mềm lớn

Trang 25

như Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu, đồng thời sẽ phân tích và đúc rút kinh nghiệm phát triển, ứng dụng Công nghiệp phần mềm của một số nước đang phát triển

ở châu Á như Ấn Độ và Trung Quốc

1.4.2.1 Mỹ

Mỹ là quốc gia đứng đầu thế giới về công nghiệp phần mềm Doanh thu công nghiệp phần mềm của Mỹ hiện nay ước khoảng hơn 280 tỷ USD Thị trường tiêu thụ phần mềm của Mỹ luôn lớn nhất thế giới, với khoảng gần 50%, trong những năm 90 của thế kỷ trước và hiện nay vẫn chiếm hơn 35% tiêu thụ phần mềm toàn cầu Tiêu thụ phần mềm của Mỹ luôn thấp hơn sản lượng sản xuất được vì nước này xuất siêu về phần mềm Đồng thời Mỹ cũng

là nước đứng đầu thế giới về nhập khẩu phần mềm Năm 1992 tổng giá trị phần mềm nhập khẩu của Mỹ là 0,4 tỷ USD, trong đó phần mềm đóng gói là 0,1 tỷ USD và các dịch vụ phần mềm là 0,3 tỷ USD Đến năm 2000 lượng phần mềm nhập khẩu của Mỹ tăng đến 11,07 tỷ USD, trong đó phần mềm đóng gói là 5,67 tỷ USD và dịch vụ phần mềm là 5,4 tỷ USD Phần mềm đóng gói nhập khẩu của Mỹ chủ yếu từ Iceland và Israel (gần 1/3 xuất khẩu phần mềm đóng gói của Iceland đến Mỹ) Các dịch vụ phần mềm nhập khẩu

của Mỹ chủ yếu từ Ấn Độ (từ 58% đến 71% xuất khẩu các dịch vụ phần mềm của Ấn Độ là thị trường Mỹ) và một số nước đang phát triển khác dưới dạng gia công phần mềm [1]

Các công ty phần mềm của Mỹ thường áp dụng mô hình quản lý chất lượng CMM/CMMI của SEI (Capabiliti Maturity Model/Intergration Mô hình CMM/CMMI do Viện kỹ thuật SEI-Sofware Engineering Institute liên kết với đại học Carnegie Mellon - Mỹ phát triển Mô hình gồm 5 mức: khởi đầu, lặp lại được, được định nghĩa, được quản lý và tối ưu) Theo META Group, trong năm 2001 tại nước này có khoảng 5,5% số công ty phần mềm đạt CMM-5; khoảng 9,6% đạt CMM-4; 11,0% đạt CMM-3; 32,9% đạt CMM-2; và 41,1% đạt CMM-1 Hiện nay có khoảng 02 triệu lao động trong ngành công nghiệp phần mềm của Mỹ, nhưng nước này vẫn thiếu hụt một lượng lớn

Trang 26

nhân lực phần mềm Do tình trạng thiếu nhân lực phần mềm, trước năm 2001 Chính phủ Mỹ đã tạo nhiều cơ hội cho nhiều nhân lực phần mềm nước ngoài được nhập cư vào nước này Tuy nhiên, hiện nay do tình trạng gia tăng nguy

cơ khủng bố, để đảm bảo an ninh, Mỹ đang hạn chế lượng người nhập cư vào nước này Điều này tạo ra xu hướng mới là các công ty của Mỹ tăng cường thuê gia công phần mềm ở nước ngoài, đặc biệt là ở các nước đang phát triển

Việc thuê gia công phần mềm ở nước ngoài còn do các công ty của Mỹ muốn giảm giá thành sản xuất, và nhằm đối phó với sự suy thoái kinh tế toàn cầu Theo đánh giá của hãng nghiên cứu thị trường Garner, Mỹ hiện nay là nước chiếm tỷ trọng thuê gia công phần mềm ở nước ngoài lớn nhất (gần 40%, dự báo sẽ đạt tới 65% trong tương lai), 79% các doanh nghiệp lớn của

Mỹ đã thuê gia công ở nước ngoài và số còn lại dự kiến cũng sé sớm gia nhập trào lưu này Hãng nghiên cứu thị trường IDD dự báo chi tiêu của Mỹ cho thuê gia công phần mềm ở nước ngoài sẽ tăng từ 9 tỷ USD năm 2002 lên 17,2

tỷ USD trong năm 2005 (tức mỗi năm tăng khoảng 25%)

Ấn Độ rất thành công trong việc giành được các hợp đồng gia công từ

Mỹ do khả năng thực hiện hợp đồng tốt, chất lượng sản phẩm cao và giá nhân công rẻ Các công ty của Trung Quốc, Nga, Philippines và Việt Nam cũng đã nhận được những hợp đồng gia công từ Mỹ Đến năm 2005 nhu cầu sử dụng các nhân viên Công nghệ thông tin nước ngoài của Mỹ sẽ lớn hơn 01 triệu người, trong khi ở Ấn Độ lúc đó sẽ chỉ có thể cung cấp tối đa 700.000 người Đây là cơ hội cho những nước đang phát triển như Việt Nam để cung cấp nguồn nhân lực có chi phí thấp hơn so với Ấn Độ [1]

1.4.2.2 Nhật Bản

Nhật Bản là nước có doanh thu phần mềm lớn thứ hai sau Mỹ, với tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm lên tới trên 45% Hiện Nhật Bản có khoảng 450.000 nhân lực phát triển phần mềm [1] Theo đánh giá của META, thị trường phần mềm của Nhật hiện nay khoảng 100 tỷ USD/Năm chiếm khoảng

Trang 27

29% thị trường phần mềm thế giới, trong đó giá trị nhập khẩu khoảng 03 tỷ USD Theo báo cáo năm 2004 của các Hiệp hội Công nghệ thông tin lớn nhất Nhật Bản là JISA, JPSA, JEITA thì mức tăng trưởng trong việc thuê nước ngoài gia công phần mềm sẽ vượt xa mức tăng trưởng bình quân của toàn ngành công nghệ thông tin Nhật Bản do ngày càng nhiều doanh nghiệp Nhật Bản áp dụng chiến lược thuê gia công để cắt giảm chi phí

Nhật Bản luôn yêu cầu phần mềm phải mang tính thích hợp cao với mô hình kinh tế sẵn có của họ, bởi vậy phần mềm theo đặt hàng chiếm thị phần rất lớn Gần như toàn bộ ngành công nghiệp phần mềm Nhật Bản chỉ để đáp ứng cho tiêu dùng nội địa, ngoài ra hàng năm Nhật Bản phải nhập khẩu phần mềm khá lớn cho thị trường trong nước, chủ yếu các phần mềm dịch vụ (hơn 80%) Khoảng 90% phần mềm nhập khẩu của Nhật Bản là từ Mỹ [1]

Thị trường phần mềm Nhật Bản là rất lớn và các công ty Nhật Bản đang phải đối mặt với tình trạng thiếu nhân lực trầm trọng Ngày càng nhiều doanh nghiệp Nhật Bản áp dụng chiến lược thuê gia công để cắt giảm chi phí Nhiều hãng công nghệ thông tin của Nhật Bản đang tích cực tìm kiếm các đối tác hoặc lập trình viên biết tiếng Nhật và hiểu văn hoá Nhật Đối tác gia công phần mềm chủ yếu của Nhật Bản cho đến nay là Trung Quốc và Ấn Độ Ngôn

ngữ và văn hoá là rào cản lớn nhất làm cho Ấn Độ rất khó khăn khi thâm nhập thị trường Nhật Bản Đến năm 2000 mới chỉ có khoảng 800 kỹ sư phần mềm Ấn Độ được tuyển dụng làm việc ở Nhật, trong khi tại Mỹ con số này gấp tới xấp xỉ một trăm lần [1]

Các hãng, công ty Nhật Bản hiện đang tìm cách chuyển hướng sang các nước khác trong khu vực như Việt Nam, Thailand, Phillippines và Myanmar, các công ty của Trung Quốc, Ấn Độ đang ngày một lớn mạnh và trở thành những đối thủ cạch tranh trực tiếp với Nhật Bản Chính phủ và các công ty Nhật Bản rất quan tâm đến ngành phần mềm Việt Nam Rất nhiều công ty Nhật bản đã vào Việt Nam tìm đối tác và tuyển dụng nhân lực phần mềm

Trang 28

Thị trường Nhật Bản hứa hẹn rất nhiều tiềm năng cho gia công xuất khẩu phần mềm của Việt Nam nhờ những yếu tố: (1) Sự tương đồng về văn hoá; (2) khoảng cách địa lý; (3) sự ổn định về chính trị; (4) quan hệ mật thiết giữa hai chính phủ, nhiều chính sách hỗ trợ việc hợp tác; (5) nguồn nhân lực giá rẻ

Khai thác được thị trường Nhật Bản có thể tạo ra bước ngoặt lớn cho các doanh nghiệp phần mềm và cho cả ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam Nhật Bản có đủ khả năng hỗ trợ ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam ở các khía cạnh: xuất khẩu, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực của các doanh nghiệp phần mềm Tuy nhiên, bài toán đặt ra cho ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam là nguồn nhân lực Hợp tác với Nhật Bản đòi hỏi phải có một số lượng lớn các kỹ sư/chuyên viên phần mềm thông thạo tiếng Nhật, am hiểu văn hoá và phong cách kinh doanh của người Nhật Đa số các công ty Nhật Bản không chịu giao tiếp bằng tiếng Anh mà thường ra điều kiện cho các đối tác phải giao tiếp bằng tiếng Nhật

1.4.2.3 Các nước Tây Âu

Tây Âu với 17 nước có giá trị tiêu thụ phần mềm chiếm khoảng 24% tổng tiêu thụ toàn cầu, trong đó phần mềm đóng gói trên 1/3 và các dịch vụ phàn mềm gần 2/3 Các nước Tây Âu (trừ Ireland, Phần Lan, Thụy Điển) đều

có nhập khẩu phần mềm cao hơn xuất khẩu Các nước Tây Âu nhập khẩu phần mềm đóng gói chủ yếu từ Ireland, Mỹ và Israel, còn nhập khẩu các dịch

vụ phần mềm chủ yếu từ Ấn Độ Trong các nước Tây Âu, 04 nước có thị

trường nhập khẩu dịch vụ phần mềm lớn hơn cả là: Đức, Anh, Pháp, Ý [1]

- Đức: Là thị trường tiêu thụ phần mềm lớn nhất Tây Âu và lớn thứ ba

thế giới, chỉ sau Mỹ, Nhật Bản Loại sản phẩm phần mềm có mức tiêu thụ tăng trưởng mạnh nhất ở Đức hiện nay là phần mềm quản trị doanh nghiệp Việc thiếu hụt nhân lực phần mềm làm tăng doanh số nhập khẩu dịch vụ gia công phần mềm từ nước ngoài Có tới 20% xuất khẩu phần mềm của Ấn Độ cho châu Âu là đến Đức Đức cũng là thị trường mà các công ty phần mềm của các nước đang phát triển khác đang đẩy mạnh xuất khẩu tới

Trang 29

- Anh: Là nước lớn thứ tư trên thế giới về tiêu thụ phần mềm với giá trị chiếm khoảng 05% toàn cầu Anh nhập khẩu phần mềm đóng gói chủ yếu từ Ireland, Mỹ, Israel và nhập khẩu các dịch vụ phần mềm chủ yếu từ Ấn Độ,

Mỹ Các công ty phần mềm của Pakistan, Bangladesh, Srilanka và Philippines cũng tìm được khách hàng ở Anh Vì vậy, ở Anh có sự cạnh tranh mạnh giữa các nhà xuất khẩu nước ngoài Hiện đã có hơn 80 công ty Ấn Độ lập cơ quan đại diện của mình ở Anh

- Pháp: Là nước có sức tiêu thụ phần mềm đứng thứ năm trên thế giới với giá trị chiếm khoảng 4,7% toàn cầu Pháp nhập khẩu phần mềm đóng gói chủ yếu từ Ireland, Mỹ, Israel và nhập khẩu các dịch vụ phần mềm từ các nước đang phát triển Vấn đề ngôn ngữ và văn hóa đã hạn chế xuất khẩu phần mềm từ các nước không phải thuộc địa cũ của Pháp vào nước này Pháp chỉ chiếm 4% xuất khẩu phần mềm từ Ấn Độ vào châu Âu

- Ý: Cũng là một nước tiêu thụ phần mềm lớn ở Tây Âu, chiếm khoảng 2,4% toàn cầu Ý nhập khẩu phần mềm chủ yếu từ Ireland, Mỹ, Israel và các nước Tây Âu khác Các công ty phần mềm ở các nước đang phát triển khó thâm nhập được vào thị trường nước này do cả hai vấn đề ngôn ngữ và văn hóa (ngay tại Ý cũng đã có sự khác nhau lớn giữa miền Bắc và miền Nam về kinh tế cũng như văn hóa) Các công ty phần mềm Ấn Độ đang rất nỗ lực vượt qua các vấn đề trên để thâm nhập vào thị trường này

1.4.3 Tình hình, kinh nghi ệm của một số quốc gia thành công về xuất khẩu công nghiệp phần mềm

1.4.3.1 Ấn Độ

Ấn Độ là một nước đang phát triển, còn nhiều hạn chế về hạ tầng, về điều kiện kinh tế nhưng vẫn được xếp là một trong những cường quốc về gia công xuất khẩu phần mềm Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của công nghiệp phần mềm Ấn Độ rất cao, trung bình là 45,15% thời kỳ từ năm 1993 đến 2000 Do nạn khủng bố và suy thoái kinh tế trong giải đoạn 2001-2002 tỷ lệ tăng trưởng

Trang 30

phần mềm Ấn Độ chỉ đạt khoảng 23%, tuy nhiên vẫn cao hơn tốc độ tăng trưởng trung bình của thế giới từ 05 đến 07 lần

Tính đến năm 2001 Ấn Độ có tổng số khoảng 3.000 công ty phần mềm, trong đó có 06 công ty với nhân công trên 5.000 người và 30 công ty với nhân công trên 1.000 người, còn lại phần lớn là các công ty có quy mô vừa và nhỏ

Ấn Độ cũng là nơi có nhiều công ty đa quốc gia lập các trung tâm nghiên cứu

và phát triển phần mềm như: IBM, Microsoft, Cisco, GE, Oracle, Novell, Sun, Hyghes, nhằm tận dụng nhân công giá rẻ và chất lượng cao của Ấn Độ

Cơ cấu sản phẩm ngành công nghiệp phần mềm Ấn Độ nghiêng mạnh

về hướng các dịch vụ Doanh thu xuất khẩu phần mềm của Ấn Độ hầu như chỉ dựa vào các dịch vụ phần mềm Tỷ lệ phần mềm đóng gói của Ấn Độ chỉ chiếm khoảng hơn 20% và hơn 3/4 trong số này dùng cho thị trường nội địa

Để tăng sức cạnh tranh, các doanh nghiệp phần mềm Ấn Độ rất quan tâm đến việc xây dựng quy trình quản lý chất lượng Cho đến năm 2001 Ấn

Độ đã có 29 công ty phần mềm được cấp chứng nhận CMM-5, 43 công ty đạt CMM-4 Quá trình phát triển của công nghiệp phần mềm Ấn Độ đi từ mô hình giá thấp, chất lượng chấp nhận được đến giá vừa phải và chất lượng cao

Ấn Độ có chính sách phát triển mạnh mẽ nguồn nhân lực công nghệ thông tin và phần mềm Hàng năm Ấn Độ đào tạo được khoảng 80.000 kỹ sư công nghệ thông tin và 20.000 người trên đại học Để tăng tốc đào tạo Chính phủ Ấn Độ đã khuyến khích các doanh nghiệp đào tạo kỹ sư tin học thực hành

và các khoá học ngắn hạn nhằm nhận được chứng chỉ của các công ty có danh tiếng Hiện nay nhân lực phần mềm Ấn Độ đã vượt qua con số 500.000 người Phần lớn các doanh nghiệp phần mềm lớn của Ấn Độ trong giai đoạn đầu phát triển đều cử người đi làm thuê tại các các công ty Mỹ Đóng vai trò rất lớn cho công nghiệp phần mềm Ấn Độ là lực lượng Ấn kiều đông đảo hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin đã quay trở về đầu tư phát triển công nghiệp phần mềm ở quê hương

Trang 31

Chính phủ Ấn Độ đã có nhiều chính sách khuyến khích phát triển các công viên phần mềm nhằm thu hút các công ty nước ngoài và trong nước vào làm việc Các công viên phần mềm được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại, được hưởng các ưu đãi về đường truyền viễn thông, miễn giảm thuế, giảm giá thuê đất và nhiều chính sách ưu đãi khác

1.4.3.2 Trung Quốc

Ngành công nghiệp phần mềm của Trung Quốc chưa đạt được sự thành công rực rỡ như Ấn Độ, tuy nhiên trong mấy năm gần đây công nghiệp phần mềm của Trung Quốc đang vươn lên mạnh mẽ và trở thành một đối thủ đối với ngành phần mềm Ấn Độ So với Ấn Độ, công nghiệp phần mềm Trung Quốc có điểm mạnh hơn để phát triển, đó là nhu cầu nội địa phần mềm của Trung Quốc cao hơn hẳn, nhưng lại có điểm yếu, đó là khả năng xuất khẩu và chất lượng phần mềm của Trung Quốc còn thấp hơn nhiều so với Ấn Độ

Doanh thu của ngành phần mềm Trung Quốc từ năm 1992 là 530 triệu USD, đã tăng vọt lên đến 13,3 tỷ USD năm 2002 Tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm từ năm 1992 đến năm 2002 là 36,1% (cao gấp 04 lần so với tỷ

lệ tăng trưởng GDP)

Với chiến lược ban đầu là phát triển công nghiệp phần mềm để phục vụ nhu cầu trong nước, trước năm 2000, cơ cấu sản phẩm phần mềm Trung Quốc nghiêng mạnh về phía phần mềm đóng gói Tuy nhiên, trong mấy năm gần đây công nghiệp phần mềm Trung Quốc đang chuyển hướng mạnh mẽ sang xuất khẩu, và cơ cấu sản phẩm phần mềm Trung Quốc cũng đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ sang hướng các dịch vụ để tăng cường xuất khẩu Năm

2002 doanh thu phần mềm đóng gói của Trung Quốc tăng 20% so với năm

2001, trong khi đó các dịch vụ tăng tới 87,3%

Trung Quốc khá thành công trong việc thu hút các tập đoàn đa quốc gia

và các công ty nước ngoài lớn về công nghệ thông tin đầu tư lập các trung tâm nghiên cứu phát triển phần mềm cũng như các nhà máy sản xuất thiết bị công

Trang 32

nghệ cao Số công ty nước ngoài đầu tư vào Trung Quốc trong lĩnh vực phần mềm tính đến năm 2002 là 455 công ty, chiếm 9,7% tổng số công ty trong lĩnh vực phần mềm tại Trung Quốc, nhưng có doanh thu chiếm tới 18,3% tổng doanh thu phần mềm của Trung Quốc

Trước đây, phần lớn các doanh nghiệp phần mềm Trung Quốc định hướng cho nhu cầu thị trường nội địa, do vậy có ít doanh nghiệp phần mềm Trung Quốc đạt chứng nhận chất lượng cao Năm 2001 Trung Quốc chỉ mới

có 02 công ty phần mềm được chứng nhận CMM-5; 01 công ty đạt CMM-4;

02 công ty đạt CMM-3 và 06 công ty đạt CMM-2 Tuy nhiên, cho đến hiện nay, trong số hơn 100 công ty phần mềm hàng đầu của Trung Quốc, có

khoảng 24 công ty có chứng nhận CMM-3, 07 công ty đạt chứng nhận CMM

cấp 4 và 5, điều đó chứng tỏ các doanh nghiệp phần mềm Trung Quốc đang

có xu hướng tích cực chuyển sang tiếp cận thị trường phần mềm thế giới

Tổng số nhân lực phần mềm của Trung Quốc đến năm 2002 có khoảng 590.000 người (gấp đôi năm 2001), trong số đó nhân lực cấp cao có khoảng 43.000 người (7%), nhân lực trình độ chuyên gia có khoảng 196.000 người (33%), và nhân lực phần mềm bình thường có khoảng 99.000 người (17%) Trung Quốc đang muốn đẩy mạnh việc xuất khẩu phần mềm, và hiện đang có 200.000 người tham gia vào việc sản xuất phần mềm xuất khẩu Theo dự đoán của nhiều chuyên gia về thị trường (Furniss, 2003), Trung Quốc sẽ trở thành một cường quốc về xuất khẩu phần mềm trong tương lai gần Ưu điểm của nước này là có một lực lượng lao động đông và giá thành nhân công rẻ

Sự phát triển của công nghiệp phần mềm Trung Quốc trong thời gian qua là nhờ dựa vào một số thuận lợi như thị trường phần mềm nội địa lớn và tăng nhanh, giá nhân công phần mềm thấp, khả năng tin học, tư duy toán của người Trung Quốc khá tốt cũng như nhờ sự quan tâm, ưu tiên hỗ trợ phát triển của Chính phủ Tuy nhiên, công nghiệp phần mềm Trung Quốc cũng phải đối mặt với những khó khăn do sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường, sự ít tín

nhiệm của quốc tế với phần mềm Trung Quốc, nạn sao chụp phần mềm bất

Trang 33

hợp pháp cao, cơ sở hạ tầng viễn thông còn hạn chế, năng lực tài chính yếu, trình độ tiếng Anh hạn chế

1.5 Quan hệ giữa phát triển công nghiệp phần mềm với các ngành công nghiệp khác trong nền kinh tế quốc dân

Quá trình phát triển và chủ động hội nhập kinh tế sẽ tạo ra nhiều áp lực mới cho xã hội, đòi hỏi công nghệ thông tin và truyền thông phải nhanh chóng phát triển ở một trình độ cao hơn Lượng thông tin ngày càng lớn đòi hỏi việc xử lý thông tin phải kịp thời đưa ra được thông tin cần thiết, chính xác Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông đã và ngày càng trở thành nhu cầu bức thiết của toàn thể xã hội Các chương trình, dự án phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông đã được bắt đầu trong giai đoạn 2000-2005 chắc chắn sẽ được đẩy mạnh hơn nữa trong thời gian tới nhờ những quyết tâm, nỗ lực chung của các doanh nghiệp và định hướng phát triển của các bộ, ngành và chính phủ

Công nghệ thông tin và truyền thông sẽ ngày càng thâm nhập nhiều vào các ngành kinh tế khác nhau, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả trong công tác quản lý, điều hành Những ngành phát triển đi trước một bước

và có giao dịch quốc tế lớn như tài chính, ngân hàng, viễn thông, giao thông

vận tải, quảng cáo và tiếp thị, xuất nhập khẩu, sản xuất tự động hóa theo dây chuyền,… sẽ đòi hỏi ngày càng nhiều ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông và phần mềm chuyên biệt Đây sẽ là môi trường hấp dẫn cho ngành

công nghiệp phần mềm phát triển

Những thành tựu bước đầu mà ngành công nghiệp phần mềm đã đạt được, chẳng hạn như sự thành công của một số công ty tên tuổi tại Việt Nam

như: FPT, PSV, TMA, Tân Thế Kỷ, …, sự nhìn nhận của thế giới đối với ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam qua đánh giá của tập đoàn Kearey (tháng 04/2005) và các tổ chức quốc tế khác, hay sự quan tâm và hiện diện của các tập đoàn công nghệ thông tin hàng đầu thế giới tại Việt Nam trong hơn 10 năm qua đã dần xoá bỏ được những hoài nghi về việc xây dựng và

Trang 34

phát triển ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam

Để công nghiệp phần mềm Việt Nam ngày càng trở thành một công cụ quan trọng hỗ trợ đắc lực cho tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân thì cần xây dựng và phát triển được nhiều mô hình doanh nghiệp

phần mềm đa dạng, linh hoạt thường xuyên cải tiến quy trình sản xuất, quản

lý chất lượng; nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp; phát triển đội ngũ nhân lực dồi dào về số lượng, chất lượng đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và hướng ra thế giới

1.6 K ết luận chương 1 và nhiệm vụ chương 2

Nội dung Chương 1 của luận văn đã cho thấy công nghiệp phần mềm là một ngành mới mang hàm lượng trí tuệ cao, có lợi nhuận lớn và không ảnh

hưởng tới môi trường Công nghiệp phần mềm đang được phát triển và ứng

dụng mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, nhiều quốc gia xác định công nghiệp phần mềm là một trong những ngành chính để làm động lực thúc đẩy kinh tế-

xã hội phát triển

Hiện nay tại Việt Nam, chúng ta sẽ rất ngạc nhiên khi biết có một ngành/lĩnh vực nào đó không ứng dụng công nghệ thông tin/phần mềm trong công việc của mình Với xu thế hội tụ giữa công nghệ thông tin, viễn thông, truyền thông, điện tử thì công nghiệp phần mềm đã và đang lan truyền đến tất

cả các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân và toàn xã hội

Qua những phân tích, đánh giá trong Chương 1, cho thấy trong bối

cảnh hiện nay Việt Nam có đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển và ứng dụng công nghiệp phần mềm

Tiếp theo trong Chương 2 sẽ phân tích thực trạng cũng như tiềm năng phát triển và ứng dụng công nghiệp phần mềm

Trang 35

Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VÀ ỨNG

2.1 Th ực trạng phát triển công nghiệp phần mềm

2.1.1 T hực trạng phát triển doanh nghiệp

Tính đến nay cả nước có khoảng 4.000 doanh nghiệp có đăng ký sản xuất kinh doanh về phần mềm, tuy nhiên các doanh nghiệp khi đăng ký kinh doanh thường ghi nhiều ngành nghề (từ 10-40 hạng mục kinh doanh) để dễ hoạt động, do đó số doanh nghiệp thực sự sản xuất phần mềm ít hơn số đăng

ký rất nhiều Để xác định số doanh nghiệp thực sự làm phần mềm, Hội tin học thành phố Hồ Chí Minh sử dụng phương pháp thống kê 50/50, trong đó một doanh nghiệp sẽ được coi là doanh nghiệp chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin, nếu có trên một nửa số hạng mục đăng ký kinh doanh (từ 50% trở lên) thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin, và doanh nghiệp công nghệ thông tin đó sẽ được coi là doanh nghiệp phần mềm nếu có từ 50% doanh số

công nghệ thông tin trở lên là doanh số phần mềm

Áp dụng phương pháp thống kê 50/50 nói trên và một số kết quả điều tra khảo sát khác, Hội tin học thành phố Hồ Chí Minh đã ước tính cho đến nay cả nước có khoảng 720 doanh nghiệp phần mềm đang hoạt động, trong đó

Hà Nội có khoảng 290 doanh nghiệp (40%), thành phố Hồ Chí Minh có

khoảng 370 doanh nghiệp (52%) và các tỉnh thành khác ước tính có khoảng

60 doanh nghiệp phần mềm (8%)

Như vậy, có thể thấy Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, với lợi thế về địa lý, hạ tầng, nguồn nhân lực dồi dào và tập trung các khu công nghiệp phần mềm hoặc trung tâm phần mềm lớn, vẫn là 02 địa phương thu hút được nhiều nhất các công ty phần mềm Các địa phương khác như Đà Nẵng, Thừa Thiên-Huế, Bình Dương, Cần Thơ, Hải Phòng, Bắc Ninh, … cũng đang rất nỗ lực phát triển hạ tầng và ban hành nhiều chính sách ưu đãi nhằm thu hút hoạt động sản xuất, dịch vụ phần mềm

Trang 36

Về cơ cấu thành phần doanh nghiệp phần mềm, đại bộ phận doanh nghiệp (86%) là các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc doanh nghiệp tư nhân Chỉ có 5,1% trong tổng số các đơn vị này thuộc quốc doanh, và 8% là các doanh nghiệp liên doanh hay 100% vốn nước ngoài Các doanh nghiệp nước ngoài chủ yếu lập văn phòng đại diện để bán phần mềm của họ sản xuất tại nước ngoài Tuy nhiên, các doanh nghiệp này lại giành được nhiều hợp đồng khá lớn về cung cấp các giải pháp ở thị trường Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng Có thể nói các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam đang bị cạnh tranh gay gắt ngay trên sân nhà

2.1.1.1 Quy mô, cơ cấu nhân lực các doanh nghiệp phần mềm

Trong mấy năm qua công nghiệp phần mềm Việt Nam đã chứng kiến

sự tăng trưởng vượt bậc về quy mô của nhiều doanh nghiệp, điển hình trong

đó có FPT và TMA có số nhân lực đã vượt con số 500 người, cả nước cũng

đã có gần 10 doanh nghiệp có số nhân lực từ 300 đến 500 người và khá nhiều doanh nghiệp đã có số nhân lực trên 100 người Đây là những dấu hiệu rất đáng mừng về quy mô phát triển của các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam

Tuy nhiên phần nhiều doanh nghiệp phần mềm Việt Nam chủ yếu vẫn

có quy mô vừa và nhỏ Điều này được thể hiện ở 02 chỉ tiêu chủ yếu là số lượng nhân viên trong đó quan trọng nhất là số nhân viên trực tiếp làm phần mềm và doanh thu từ kinh doanh phần mềm Theo thống kê của Hội tin học thành phố Hồ Chí Minh, số doanh nghiệp phần mềm có số lượng nhân lực dưới 50 người chiếm 82%, số doanh nghiệp có số nhân lực trên 100 người chiếm 18% Bức tranh toàn cảnh của nền công nghiệp phần mềm Việt Nam chủ yếu vẫn là doanh nghiệp phần mềm vừa và nhỏ Vì vậy, bên cạnh những biện pháp hỗ trợ có tính cách đột phá dành cho số doanh nghiệp lớn, chúng ta cần xây dựng một môi trường thật sự hướng về các doanh nghiệp phần mềm vừa và nhỏ Nhà nước cũng nên phát triển các doanh nghiệp phần mềm chuyên gia công cấp thấp, cần sử dụng số lượng nhân viên kỹ thuật tin học

Trang 37

trình độ trung cấp đông đảo, để góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động từ các ngành nghề khác sang công nghiệp phần mềm

Về cấu trúc tổ chức nguồn nhân lực, kết quả khảo sát chung cho thấy tỷ

lệ giữa nhân lực trực tiếp/nhân lực gián tiếp của các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam vào khoảng 3,5 Tỷ lệ này tương đối gần với các số liệu của các nước có nền công nghiệp phần mềm phát triển ở giai đoạn đầu

Bảng 2.1: Cơ cấu tổ chức nguồn nhân lực

Loại công ty phân hoạch

theo nhân viên

Nhân lực trực tiếp (trung bình)

Nhân lực gián tiếp (trung bình)

Tỷ lệ NLTT/NLGT

Nguồn: Bộ Bưu chính, Viễn thông

2.1.1.2 Trình độ sản xuất và năng lực hoạt động của các doanh nghiệp

Trong những năm qua, nhiều doanh nghiệp phần mềm Việt Nam đang

nỗ lực nâng cao quy trình đảm bảo chất lượng và trình độ công nghệ sản xuất Hiện nay trong số các đơn vị làm phần mềm và dịch vụ phần mềm tại Việt Nam đã có 01 doanh nghiệp có chứng nhận CMMI-5 (Công ty Paragon Solution Việt Nam), 01 doanh nghiệp có chứng nhận CMM-5 (FPT Software), 05 doanh nghiệp đạt CMM-3 hoặc CMM-4, và trên 30 doanh nghiệp đạt ISO 9001 Ngoài ra có rất nhiều doanh nghiệp khác cũng đang cố gắng xây dựng quy trình để xin chứng chỉ chất lượng CMM, CMMI hoặc ISO

Trang 38

vào năm 2006 Chúng ta cũng đã có những doanh nghiệp có trình độ công nghệ ngang hàng với các doanh nghiệp của Ấn độ, Ireland, có khả năng thắng thầu những dự án lớn về gia công phần mềm và dịch vụ như công ty TMA, công ty Paragon Solutions v.v Hiệp hội doanh nghiệp phần mềm Việt Nam

đã thành lập câu lạc bộ chất lượng với mục tiêu thúc đẩy công tác quản lý chất lượng phần mềm

Theo khảo sát của Hội tin học thành phố Hồ Chí Minh, có khoảng 29% doanh nghiệp hoà vốn sau 02 năm thành lập Đây là một tỷ lệ tương đối tốt, nhưng cũng có 28% doanh nghiệp hoà vốn sau từ 03 đến 04 năm thành lập

Số doanh nghiệp phần mềm có lãi suất hàng năm từ 10% đến 30% chiếm tỷ lệ 42%, điều này cho thấy đa số doanh nghiệp phần mềm có thể khẳng định sự thành công ban đầu của mình Tuy nhiên, chỉ có 13% doanh nghiệp phần mềm có doanh thu cao hơn chi phí từ 30% đến 50% Đây không phải là một

tỷ lệ khích lệ và nó giải thích phần nào về tình trạng chưa phát triển của thị trường phần mềm

Hiện nay tâm lý muốn làm tất cả từ đầu đến cuối, với mong muốn kiếm siêu lợi nhuận bán phần mềm đóng gói cho nhiều khách hàng đã khiến cho một số doanh nghiệp phần mềm Việt Nam có quy mô nhỏ khi tham gia thị trường phần mềm đóng gói rất cạnh tranh đã gặp nhiều khó khăn cản trở,

mà bỏ qua thị trường làm dịch vụ phần mềm còn khá rộng Thêm vào đó, các qui định về chuyển giao công nghệ, bảo vệ bản quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực phần mềm của chúng ta chưa phù hợp, phần nào trói chân các doanh nghiệp phần mềm làm dịch vụ

Hơn nữa, phần lớn các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam đang có quy

mô nhỏ, năng suất thấp, quy trình sản xuất và quản lý chất lượng chưa cao, đội ngũ chuyên gia bậc cao còn rất ít, chưa có kinh nghiệm marketing Nhiều doanh nghiệp phần mềm Việt Nam chưa có chiến lược lâu dài về sản phẩm, chưa đầu tư nhiều cho các công tác nghiên cứu phát triển sản phẩm, quy trình quản lý chất lượng cũng như công tác phát triển thị trường Thống kê của Hội

Trang 39

tin học thành phố Hồ Chí Minh cho thấy số doanh nghiệp chi cho marketing

từ 10% đến trên 20% so với tổng chi phí chỉ vào khoảng 27%, đây là tỷ lệ tương đối thấp, để tạo vị thế trên thị trường thì tỷ lệ này cần nâng lên khoảng 50% doanh nghiệp chi nhiều hơn cho khâu yếu nhất này Đặc biệt là khâu thương mại hóa sản phẩm và nhãn hiệu Cũng thống kê này cho thấy có đến 33% doanh nghiệp có tổng chi cho đào tạo và nghiên cứu phát triển dưới mức 5% so với tổng chi phí, và cũng chỉ có 30% doanh nghiệp chi từ 5-10%

Phần lớn các doanh nghiệp phần mềm kinh doanh tại thị trường nội địa, chưa dám mạnh dạn đầu tư để tiến ra thị trường thế giới Số các doanh nghiệp

có thể gia công xuất khẩu khá khiêm tốn, phần lớn các doanh nghiệp chưa đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe của thị trường quốc tế

Thống kê cho thấy các doanh nghiệp phần mềm quy mô lớn thường đã

có thời gian họat động trên 05 năm Sự tăng tốc đều đến ở giai đoạn sau năm hoạt động thứ 05 trở đi Các doanh nghiệp này thường có định hướng xây dựng thị trường chuyên môn hóa cao, rất chuyên nghiệp trong lĩnh vực gia công, làm dịch vụ phần mềm, từ đó quảng bá được năng lực, bước đầu xây dựng được thương hiệu riêng Họ coi sự liên kết trong sản xuất phần mềm, chuyên sâu vào trong một số lĩnh vực là giải pháp quan trọng để đặt chân vào

thị trường gia công xuất khẩu, giữ được khách hàng cũ và phát triển thêm các khách hàng mới, tăng quy mô hợp đồng, tạo ra uy tín và thương hiệu

Với nhu cầu thị trường ngoài nước tăng mạnh, doanh nghiệp phần mềm quy mô lớn càng có cơ hội có được nhiều khách hàng hơn Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự tăng trưởng mạnh của các doanh nghiệp phần mềm hàng đầu Hầu hết các doanh nghiệp hàng đầu được khảo sát đều có quy mô doanh số phần mềm tăng gấp đôi trở lên trong 02 năm trở lại đây Công nghiệp phần mềm Việt Nam cần xúc tiến quảng bá của bản thân các doanh nghiệp hoặc hiệp hội các doanh nghiệp cũng như của các cấp chính quyền nhằm nâng cao uy tín, thương hiệu giúp các doanh nghiệp mở rộng được đối tác và thị trường

Trang 40

2.1.2 Thực trạng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

2.1.2.1 Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực phần mềm

Số lượng nhân lực làm phần mềm của Việt Nam đã tăng từ xấp xỉ 5.000 người năm 2000 lên tới khoảng 15.000 người vào năm 2004 Năng suất trung bình của lập trình viên Việt Nam trong năm 2004 khoảng hơn 10.000 USD/người/năm, tuy nhiên ở một số doanh nghiệp phần mềm lớn, có nhiều

dự án gia công cho nước ngoài, năng suất lên tới 17.000 đến 20.000 USD/người/năm (ví dụ: FPT Software, TMA, Paragon Solutions Viet Nam, Tân Thế Kỷ)

Theo đánh giá của các chuyên gia sản xuất phần mềm, lao động phần mềm Việt Nam trẻ, thông minh và có kiến thức cơ bản, có khả năng đào tạo nâng cao trình độ nhanh, dễ thích nghi với điều kiện làm việc cường độ cao,

và điều đặc biệt là giá nhân công thấp

Bi ểu đồ 2.1: Số doanh nghiệp và nhân lực phần mềm 1996-2004

170 230 300 400

570 600

0 100

S ố h

S ố doanh nghiệp S ố nhân lực

Nguồn: Bộ Bưu chính, Viễn thông

Tuy nhiên, các lập trình viên Việt Nam còn thiếu về kinh nghiệm, yếu

về kỹ năng lập trình và kiến thức chuyên môn liên quan đến các lĩnh vực ứng dụng phần mềm và đặc biệt yếu về trình độ tiếng Anh Đa số các nhân viên lập trình có kinh nghiệm từ 03 đến 05 năm Các doanh nghiệp phần mềm cũng đưa ra con số rất đáng buồn về chất lượng đào tạo Tỷ lệ trung bình khi

Ngày đăng: 26/02/2021, 16:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w