1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá chất lượng đào tạo đại học và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường đại học dân lập hải phòng

131 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở giáo dục đại học được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ khi bảo đảm các điều kiện sau đây: a Có đội ngũ giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ đủ số lượng, có khả năng xây dựng, thực h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-

NGUYỄN VĂN THỤ

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC VÀ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG

Chuyê n ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Nguyễn Văn Nghiến

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện đề tài: "Đánh giá chất lượng đào tạo và một

số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Dân lập Hải Phòng " học viên đã tích lũy được một số kinh nghiệm bổ ích, ứng

dụng các kiến thức đã học ở trường vào thực tế Để hoàn thành đề tài này, học viên đã được sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Văn Nghiến và các thầy

cô giáo trong khoa Kinh tế và Quản lý trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Học viên xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Văn Nghiến là giáo viên

trực tiếp hướng dẫn, cùng các thầy cô trong khoa Kinh tế và Quản lý đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện đề tài này

Học viên cũng xin chân thành cào ơn Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp trường Đại học Dân lập Hải Phòng, các nhà quản lý doanh nghiệp cùng các

em sinh viên đã giúp đỡ trong quá trình hoàn thành đề tài này

Xin chân thành cảm ơn !

Hải Phòng, ngày 20 tháng 10 năm 2009

Học Viên

Nguyễn Văn Thụ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bài luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi; nội dung bài luận văn không trùng lặp với các bài luận văn khác; các số liệu làm dẫn chứng phân tích trong bài đúng với thực tế Nhà trường

Hải Phòng, ngày 20 tháng 10 năm 2009

Học Viên

Nguyễn Văn Thụ

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Sự cần thiết nghiên cứu dề tài

Xã hội hóa giáo dục là chủ trương, chính sách được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm trong thời gian vừa qua Đã có rất nhiều trường đại học công lập cũng như dân lập được thành lập nhằm thực hiện chủ trương đó Trường Đại học Dân lập Hải Phòng được thành lập nhằm đào tạo nguồn nhân lực cho Thành phố Hải Phòng cũng như đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các tỉnh phía bắc Không có được những điều kiện thuận lợi như các trường đại học công lập khác, trong những năm vừa qua Trường Đại học Dân lập Hải Phòng phải tự mình phấn đấu khắc phục những khó khăn để tồn tại và phát triển Sự cạnh tranh gay gắt giữa các trường buộc Nhà trường phải tìm cách nâng cao chất lượng đào tạo của mình Trong

quá trình hoạt động, Nhà trường luôn quán triệt phương châm: “ Chất

lượng đào tạo là sự sống còn của nhà trường”

Để nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường trong giai đoạn hiện nay, Nhà trường cần phân tích, đánh giá một cách toàn diện, tìm ra các nhân tố ảnh hưởng từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của cơ

sở mình Xuất phát từ những lý do trên, học viên đã lựa chọn đề tài: "Đánh

giá chất lượng đào tạo đại học và một số giải pháp nhằm nâng cao chất

l ượng đào tạo tại Trường Đại học Dân lập Hải Phòng " làm nội dung

nghiên cứu và viết luận văn tốt nghiệp cao học của mình

Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu, hệ thống hoá những vấn đề lý luận về quản lý chất lượng đào tạo trong các trường đại học, phân tích thực trạng chất lượng đào tạo, tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo tại trường Đại học Dân lập Hải Phòng từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất

lượng đào tạo tại Trường Đại học Dân lập Hải Phòng

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu chất lượng đào tạo trong

các trường đại học, đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo tại trường Đại học Dân lập Hải Phòng nhằm tìm giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường

Trang 5

- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là chất lượng

đào tạo tại trường Đại học Dân lập Hải Phòng

Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Học viên đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa Mác - Lênin (duy vật biện chứng, duy vật lịch sử) làm nền tảng và các phương pháp

thường được dùng trong quản lý giáo dục: phương pháp phân tích - tổng hợp,

phương pháp điều tra - khảo sát để giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu

Những đóng góp của đề tài

Về mặt lý luận, đề tài góp phần hệ thống hóa lại những lý luận chung về

quản lý chất lượng đào tạo trong các trường đại học

Về mặt thực tiễn, đề tài đã đánh giá được thực trạng chất lượng đào tạo

tại Trường Đại học Dân lập Hải Phòng, tìm ra các nhân tố ảnh hưởng từ đó đưa ra các đề xuất nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Dân lập Hải Phòng trong thời gian tới, đồng thời bổ sung thêm những kiến thức về quản lý chất lượng đào tạo đối với bản thân học viên nhằm thực hiện tốt hơn công việc được giao

Kết cấu của đề tài

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn tốt nghiệp được chia ra làm 3 chương:

Ch ương 1 - Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng đào tạo đại học

Ch ương 2 - Đánh giá thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Dân lập Hải Phòng

Ch ương 3 - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Dân lập Hải Phòng

Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn

Văn Nghiến, các thầy cô giáo khoa Kinh tế và Quản lý Trường Đại học Bách

khoa Hà Nội, cùng với sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp trường Đại học Dân lập Hải Phòng

Trang 6

CH ƯƠNG I

ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC

1.1 Đào tạo đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân

1.1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ

1.1.1.1 Giá o dục và đào tạo

a) Giáo dục

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về giáo dục; Theo từ điển Oxford, giáo dục là hệ thống các hoạt động đào tạo và giảng dạy ở trường học nhằm trang bị kiến thức và phát triển kỹ năng cho con người

Theo Đại từ điển tiếng Việt , giáo dục là việc tác động có hệ thống đến

sự phát triển tinh thần, thể chất của con người, để họ dần có được phẩm chất

và n ăng lực như yêu cầu đặt ra

Các nhà giáo dục học thường đề cập đến giáo dục theo hai góc độ: giáo dục theo nghĩa rộng và giáo dục theo nghĩa hẹp

Theo nghĩa rộng, giáo dục được hiểu là quá trình hình thành nhân

cách, được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục với người được giáo dục để truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người,

từ đó chuẩn bị cho con người tham gia vào đời sống xã hội, lao động và sản xuất

Theo nghĩa hẹp, giáo dục được hiểu là quá trình rèn luyện nhằm hình

thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những nét tính cách, những hành vi và thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội cho con người, thuộc các lĩnh vực tư tưởng, chính trị, đạo đức, lao động, học tập, thẩm mỹ, vệ sinh

Từ những quan niệm trên, có thể rút ra bản chất của giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội, tri thức của các thế hệ loài người

Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm

Trang 7

chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

b) Đào tạo

Đào tạo là một loạt các hoạt động được tổ chức có hệ thống để trang bị cho người lao động nhận thức, kỹ năng tay nghề, và động lực thực hiện công việc Đây cũng là một quá trình tiếp tục hoàn thiện nhân cách cho mỗi người Tuy nhiên, việc hình thành nhân cách người học đã được định hướng theo một ngành nghề xác định để họ có thể đem những kiến thức đã được tiếp thu, lĩnh hội áp dụng vào sản xuất kinh doanh

Mục tiêu của đào tạo bắt nguồn từ nhu cầu đào tạo của mỗi một lĩnh vực

đó Song tựu trung lại, mục tiêu của đào tạo thể hiện mong muốn trang bị được nhiều kỹ năng cũng như nhận thức mới cho người lao động để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội trong các điều kiện xác định

Như vậy, đào tạo và giáo dục là hai khái niệm khác nhau nhưng có mối quan hệ gắn kết với nhau Giáo dục có tính bao trùm hơn, chung hơn nhưng lại ít thực tiễn hơn Còn đào tạo chỉ là một lĩnh vực của giáo dục Đào tạo giúp trang bị cho con người những nhận thức và kỹ năng thực tiễn, nó giúp cho con người lao động thực hiện tốt hơn các công việc được giao

1.1.1.2 Đào tạo đại học

Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên có phẩm chất chính trị, đạo đức,

có ý thức phục vụ nhân dân, nắm vững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo, có sức khoẻ đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

1.1.2 Vị trí, vai trò của đào tạo đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân

Hệ thống giáo dục quốc dân là tập hợp các cấp học - các giai đoạn giáo dục, đào tạo - của một quốc gia, cùng với các trình độ đào tạo của từng cấp học Hệ thống giáo dục Việt Nam gồm 4 cấp học, đó là:

a) Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo;

b) Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông; c) Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề;

d) Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ

Trang 8

Theo điều 43 của Luật giáo dục thì giáo dục đại học bao gồm:

Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành;

Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ bốn đến sáu năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ hai năm rưỡi đến bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành;

Đào tạo trình độ thạc sĩ được thực hiện từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học;

Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện trong bốn năm học đối với người

có bằng tốt nghiệp đại học, từ hai đến ba năm học đối với người có bằng thạc

sĩ Trong trường hợp đặc biệt, thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ có thể được kéo dài theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

Mục tiêu của giáo dục đại học

Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đào tạo trình độ cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản để giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo

Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn

và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo

Đào tạo trình độ thạc sĩ giúp học viên nắm vững lý thuyết, có trình độ cao về thực hành, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo

Đào tạo trình độ tiến sĩ giúp nghiên cứu sinh có trình độ cao về lý thuyết

và thực hành, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát hiện giải quyết những vấn đề mới về khoa học, công nghệ, hướng dẫn nghiên cứu khoa học

và hoạt động chuyên môn

Trang 9

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng đã có sự vận động, thay đổi để đáp ứng nhu cầu của xã hội trong từng giai đoạn Giáo dục đại học hiện nay đang phát triển theo những xu thế mới

T hứ nhất, tập trung đào tạo cho sinh viên một cách toàn diện trên cả ba lĩnh

vực: kiến thức, kỹ năng, thái độ, được định hướng bởi nhu cầu của xã hội Sau khi tốt nghiệp, sinh viên có khả năng làm việc với hiệu suất, chất lượng cao

Thứ hai, thiết lập mối quan hệ giữa nhà trường với xã hội Nó thể hiện ở

các nội dung: xã hội cùng tham gia vào quá trình đào tạo của nhà trường, nhà

trường đào tạo theo nhu cầu của xã hội, kinh phí đào tạo được hỗ trợ một phần

từ xã hội

Thứ ba, tiếp cận đào tạo theo mô đun để đảm bảo sự liên thông giữa đào

tạo ngắn hạn và dài hạn, giữa các ngành nghề với nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho người học được học theo nhu cầu của mình

1.1.3 C ơ sở giáo dục đại học

Theo điều 42 của Luật giáo dục ban hành ngày 14 tháng 06 năm 2005 thì

cơ sở giáo dục đại học bao gồm:

a) Trường cao đẳng đào tạo trình độ cao đẳng;

b) Trường đại học đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học; đào tạo trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ khi được Thủ tướng Chính phủ giao

Viện nghiên cứu khoa học đào tạo trình độ tiến sĩ, phối hợp với trường đại học đào tạo trình độ thạc sĩ khi được Thủ tướng Chính phủ giao

Cơ sở giáo dục đại học được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ khi bảo đảm các điều kiện sau đây:

a) Có đội ngũ giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ đủ số lượng, có khả năng xây dựng, thực hiện chương trình đào tạo và tổ chức hội đồng đánh giá luận án; b) Có cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm yêu cầu đào tạo trình độ tiến sĩ;

c) Có kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu khoa học; đã thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu thuộc đề tài khoa học trong các chương trình khoa học cấp nhà nước; có kinh nghiệm trong đào tạo, bồi dưỡng những người làm công tác nghiên cứu khoa học

Mô hình tổ chức cụ thể của các loại trường đại học do Chính phủ quy định

1.1.4 Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục đại học

Trang 10

a) Nội dung giáo dục đại học phải có tính hiện đại và phát triển, bảo đảm

cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học cơ bản, ngoại ngữ và công nghệ thông tin với kiến thức chuyên môn và các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc; tương ứng với trình độ chung của khu vực và thế giới

Đào tạo trình độ cao đẳng phải bảo đảm cho sinh viên có những kiến thức khoa học cơ bản và kiến thức chuyên môn cần thiết, chú trọng rèn luyện

kỹ năng cơ bản và năng lực thực hiện công tác chuyên môn

Đào tạo trình độ đại học phải bảo đảm cho sinh viên có những kiến thức khoa học cơ bản và kiến thức chuyên môn tương đối hoàn chỉnh; có phương pháp làm việc khoa học; có năng lực vận dụng lý thuyết vào công tác chuyên môn

Đào tạo trình độ thạc sĩ phải bảo đảm cho học viên được bổ sung và nâng cao những kiến thức đã học ở trình độ đại học; tăng cường kiến thức liên ngành; có đủ năng lực thực hiện công tác chuyên môn và nghiên cứu khoa học trong chuyên ngành của mình

Đào tạo trình độ tiến sĩ phải bảo đảm cho nghiên cứu sinh hoàn chỉnh và nâng cao kiến thức cơ bản; có hiểu biết sâu về kiến thức chuyên môn; có đủ năng lực tiến hành độc lập công tác nghiên cứu khoa học và sáng tạo trong công tác chuyên môn

b) Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng

c) Phương pháp đào tạo trình độ thạc sĩ được thực hiện bằng cách phối hợp các hình thức học tập trên lớp với tự học, tự nghiên cứu; coi trọng việc phát huy năng lực thực hành, năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề chuyên môn

d) Phương pháp đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện chủ yếu bằng tự học, tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của nhà giáo, nhà khoa học; coi trọng rèn luyện thói quen nghiên cứu khoa học, phát triển tư duy sáng tạo trong phát hiện, giải quyết những vấn đề chuyên môn

1.2 Chất lượng đào tạo và quản lý chất lượng đào tạo trong trường đại học

1.2.1 Bản chất của chất lượng đào tạo

1.2.1.1 Quan niệm về chất lượng và quản lý chất lượng

Trang 11

Chất lượng là một thuật ngữ thường xuyên được nhắc đến trong bất cứ một lĩnh vực nào Tuy vậy, đứng trên những góc độ khác nhau, với mục tiêu khác nhau thì chất lượng được quan niệm khác nhau Nói như vậy không phải chất lượng là một khái niệm quá trừu tượng đến mức mà người ta không thể đi đến một cách diễn giải tương đối thống nhất, mặc dù sẽ còn thay đổi Một trong những quan niệm về chất lượng được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa của tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn ISO, trong bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000,

đã đề cập đến nội dung này thông qua định nghĩa sau: "Chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có"

Yêu cầu ở đây được hiểu là các nhu cầu hay mong đợi đã được công bố (đã được nêu ra dưới dạng các tài liệu hay có thể bằng lời, ngầm hiểu chung hay bắt buộc, những yêu cầu mang tính thông lệ hay phổ biến, không được quy định trong hợp đồng nhưng mặc nhiên mọi người có liên quan đều hiểu rõ)

Đặc tính vốn có của một đối tượng là những đặc tính tồn tại dưới dạng nào đó thuộc đối tượng đó, nó khác với đặc tính được gán cho đối tượng

Để nhấn mạnh mức độ đạt được về chất lượng, có thể sử dụng kèm theo

từ "chất lượng” các tính từ như kém, trung bình, tốt, tuyệt hảo

Định nghĩa trên đề cập đến chất lượng của một đối tượng bất kỳ, đó có thể là sản phẩm, hệ thống hay quá trình Từ định nghĩa trên, có thể rút ra những điểm cần lưu ý về chất lượng, đó là:

- Chất lượng được đo bởi sự thoả mãn yêu cầu chứ không phải được đo bằng mức độ hiện đại của công nghệ sản xuất sản phẩm Nếu một sản phẩm vì

lý do nào đó mà không được các yêu cầu, không được thị trường chấp nhận, thì sản phẩm đó phải được coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ chế tạo ra sản phẩm đó là hiện đại hay giá trị của chỉ tiêu chất lượng có cao đến đâu đi chăng nữa

- Do chất lượng được đo bởi sự thoả mãn yêu cầu, mà yêu cầu luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng

- Nguời kinh doanh không chỉ đáp ứng nhu cầu của khách hàng, mà muốn tồn tại hay phát triển cần phải lưu ý đến các bên quan tâm khác, ví như các yêu cầu pháp luật hay chế định, các tập quán hay văn hóa, sinh hoạt của cộng đồng xã hội

Trang 12

- Chất lượng không chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hoá mà ta vẫn hiểu hàng ngày Chất lượng có thể áp dụng cho một đối tượng bất kỳ, như hệ thống, quá trình

- Để quản lý chất lượng hiệu quả, một tổ chức ngoài việc nắm bắt được các yêu cầu đã được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn còn phải hiểu được những yêu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận được chúng hoặc chỉ phát hiện được chúng trong quá trình sử dụng Chất lượng không tự sinh ra, chất lượng không phải là một kết quả ngẫu nhiên, nó là kết quả của các sự tác động của hàng loạt các yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này tức là cần phải quản lý chất lượng

Như vậy có thể nói: "Quản lý chất lượng là hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng”

1.2.1.2 Khách hàng và sản phẩm của các cơ sở giáo dục đại học

a- Khách hàng của các cơ sở giáo dục đại học:

Trong nền kinh tế thị trường, với môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, khi chất lượng sản phẩm trở thành một trong những căn cứ quan trọng nhất quyết định sự mua hàng của khách hàng thì việc xác định chính xác khách hàng và nhu cầu của khách hàng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các cơ sở giáo dục đại học Khách hàng là điều kiện tiên quyết để mỗi cơ sở giáo dục đại học có thể tồn tại và phát triển Khách hàng được coi là quan tòa của chất lượng

Khách hàng của các cơ sở giáo dục đại học phải kể đến các đối tượng sau:

- Học sinh, sinh viên (người học):

Người học chính là những người được trang bị những kiến thức mà cơ sở giáo dục đại học phải truyền đạt, đồng thời, họ còn là những người trực tiếp nhận cung cấp toàn bộ các dịch vụ mang tính hỗ trợ cho hoạt động đào tạo của

cơ sở giáo dục đại học, như: dịch vụ giáo trình, tài liệu, thông tin; vệ sinh, ăn uống, nghỉ ngơi

- Các đơn vị sử dụng lao động (doanh nghiệp, trường học ):

Các đơn vị sử dụng lao động là khách hàng của các cơ sở giáo dục đại học được hiểu ở góc độ: họ chính là người sử dụng kết quả đầu ra của quá trình đào tạo và họ có những yêu cầu, đòi hỏi nhất định đối với chất

lượng đào tạo mà các cơ sở giáo dục đại học phải tìm hiểu, nắm bắt và đáp ứng Xu hướng chung hiện nay trong giáo dục đại học đó là: đào tạo theo nhu cầu của các đơn vị sử dụng lao động để không chỉ đơn thuần đáp

Trang 13

ứng về mặt số lượng lao động mà còn đáp ứng được nhu cầu về chất lượng lao động

Theo quan điểm của quản lý chất lượng toàn diện hiện nay, khách hàng được hiểu là toàn bộ những đối tượng có liên quan trực tiếp đến đòi hỏi về chất lượng sản phẩm, dịch vụ mà tổ chức phải đáp ứng nhu cầu của họ

Như vậy, theo cách tiếp cận này, ngoài 2 loại khách hàng trên, khách hàng của các cơ sở giáo dục đại học còn bao gồm:

- Cha mẹ sinh viên: Họ luôn mong muốn đầu tư cho con em mình theo học

ở một cơ sở giáo dục đại học nào đó mà có thể đáp ứng được những yâu cầu, kỳ vọng của họ, ví dụ: các kỹ năng làm việc mà con em họ sẽ được trang bị, cách quản lý người học, ngành học có đảm bảo nhu cầu xã hội sau này hay không

- Toàn bộ thành viên, bộ phận trong cơ sở đào tạo: có tiêu dùng các sản

phẩm, dịch vụ cung cấp nội bộ trong đơn vị (được gọi là khách hàng bên trong) Ví dụ, người giảng viên cũng được coi là khách hàng của các cơ sở giáo dục đại học vì họ có sử dụng các sản phẩm, dịch vụ mà nội bộ các cơ sở giáo dục đại học làm ra, như: lịch trình giảng dạy, đề cương môn học, danh sách sinh viên do phòng đào tạo cung cấp, thống kê khối lượng

- Các c ơ quan quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo: Các cơ quan này

luôn có những yêu cầu, đòi hỏi nhất định đối với hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt là việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn: Lịch trình giảng dạy, chương trình đào tạo, giáo án, sổ đầu bài

- C ơ quan chủ quản: Cơ quan chủ quản cũng là khách hàng của các cơ sở

giáo dục đại học vì họ luôn có các yêu cầu về chất lượng hoạt động của cơ sở giáo dục đại học mà cơ sở phải đáp ứng và thực hiện theo các yêu cầu đó Ví

dụ như các yêu cầu về số lượng tuyển sinh, số lượng sinh viên tốt nghiệp đạt loại giỏi/khá, tỷ lệ và cơ cấu giảng viên, cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học, sử dụng kinh phí và các nguồn tài chính khác để đầu tư

cho chất lượng giảng dạy

- Các tổ chức xã hội: Các tổ chức xã hội cũng có tiếng nói nhất định ảnh

hưởng đến quá trình hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học

b- Sản phẩm của cơ sở giáo dục đại học:

Đối với sinh viên: Sản phẩm của cơ sở giáo dục đại học lại là toàn bộ những

kiến thức, kỹ năng, kỹ sảo của một ngành mà họ nhận được trong thời gian theo học tại trường; là những dịch vụ mà cơ sở giáo dục cung cấp cho sinh viên trong quá trình học tập tại trường như: giáo trình, tài liệu tham khảo

Trang 14

Đối với xã hội: Sản phẩm của cơ sở giáo dục đại học chính là những sinh

viên đã được đào tạo tại trường đang làm việc tại các doanh nghiệp Họ được trang bị những kiến thức cần thiết theo chương trình đào tạo Sau khi đào tạo,

họ có đầy đủ những kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành, thái độ làm việc theo đúng mục tiêu đào tạo đã đề ra Đây chính là nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của của xã hội; sự tốt, xấu, phù hợp của sinh viên được thể hiện thông qua hành vi, năng lực của họ trong quá trình làm việc và công tác

1.2.1.3 Bản chất của chất lượng đào tạo

Chất lượng là sự phù hợp với những tuyên bố sứ mệnh và kết quả đạt được của mục tiêu trong phạm vi các chuẩn mực được chấp nhận công khai Khi đề cập đến chất lượng đào tạo, các nhà quản lý giáo dục thường nhấn mạnh đến việc đạt được các mục tiêu đào tạo đã đặt ra Như vậy, để đánh giá chất lượng đào tạo của một trường cần phải phân tích đánh giá việc thực hiện các mục tiêu về mặt kiến thức, kỹ năng và ý thức thái độ đã

đề ra

Các đơn vị sử dụng lao động có những quan điểm riêng về chất lượng đào tạo Đối với họ, chất lượng đào tạo là mức độ đáp ứng các yêu cầu đặt ra trong quá trình làm việc đối với người lao động Người lao động mà các đơn

vị sử dụng lao động có đáp ứng được yêu cầu công việc hay không; người lao động có được trang bị những kỹ năng cần thiết để đáp ứng được nhu cầu của đơn vị sử dụng hay không

Đối với người học, chất lượng đào tạo lại thường được nhìn nhận thông qua nội dung chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo, các điều kiện cơ sở vật chất trang thiết bị và đội ngũ giảng viên của cơ sở giáo dục đại học Theo

họ, một chương trình đào tạo có chất lượng phải là một chương trình có nội dung kiến thức phù hợp với công việc của họ sau này, phương pháp giảng dạy của đội ngũ giảng viên phải phù hợp với mỗi đối tượng; bên cạnh đó là vấn đề trang thiết bị dạy học, cơ sở vật chất có đảm bảo cho việc học của họ hay không Một trường đào tạo có chất lượng phải là một trường có cơ sở vật chất khang trang, hiện đại, đội ngũ giảng viên có trình độ cao, có bề dày về kinh nghiệm giảng dạy, có uy tín

Từ các nhận định trên về chất lượng đào tạo, có thể nhận thấy các đặc

trưng cơ bản của chất lượng đào tạo, đó là:

- Chất lượng đào tạo phải phù hợp với các tiêu chuẩn (thông số kỹ thuật): Cách tiếp cận chất lượng đào tạo từ góc độ tiêu chuẩn hay các thông số

Trang 15

kỹ thuật có nguồn gốc từ kiểm soát chất lượng trong các ngành sản xuất và dịch vụ; bởi chất lượng đào tạo phải được do bằng sự phù hợp với các tiêu chuẩn đã được quy định trước đó

- Chất lượng đào tạo phải phù hợp với mục đích: Tính phù hợp với mục tiêu

đào tạo đã đặt ra, tức là kết quả đào tạo phải khớp với mục tiêu đào tạo Cách tiếp cận này cho phép cung cấp một hình mẫu để xác định các tiêu chí mà sản phẩm từ đào tạo cần phải có

- Chất lượng đào tạo với tư cách là hiệu quả của việc đạt mục đích: Tính

phù hợp với yêu cầu của xã hội, tức là kết quả đào tạo phải thoã mãn được nhu cầu của xã hội về lao động cả về mặt số lượng và đặc biệt là về mặt chất

lượng điều đó có nghĩa là đơn vị đã đáp ứng được yêu cầu của xã hội đối với sản phẩm đào tạo của mình

- Chất lượng đào tạo là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng: Sản phẩm

đào tạo không chỉ phù hợp với các tiêu chuẩn, mục tiêu đề ra mà điều quan trọng nó còn phải phù hợp với nhu cầu của khách hàng - nhu cầu của người sử dụng sản phẩm đó

1.2.2 Quản lý chất lượng đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại học

Vấn đề đề chất lượng giáo dục đại học được các cơ quan chính phủ, các tổ chức doanh nghiệp, nguời học và toàn xã hội quan tâm không chỉ ở nước ta mà hầu hết các nước trên thế giới Vấn đề chất lượng được đặt ra trong mối quan hệ phụ thuộc giữa nguời sử dụng dịch vụ (sinh viên, cha mẹ sinh viên, người sử dụng lao động và các nhóm xã hội khác); nguời cung cấp dịch vụ (giảng viên, các nhà quản lý nhà trường); và chính phủ cũng như xã hội

Quản lý chất lượng nói chung và quản lý chất lượng đào tạo nói riêng là một khía cạnh của chức năng quản lý Đây chính là quá trình tổ chức thực hiện có hệ thống các biện pháp quản lý toàn bộ các khâu trong quá trình đào tạo (từ khâu khảo sát tìm hiểu nhu cầu của thị trường lao động, thiết kế nội dung chương trình đào tạo, đến công tác tuyển sinh, tổ chức đào tạo và kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo) nhằm đảm bảo và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người sử dụng lao động

Quản lý chất lượng đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại học có những đặc điểm cơ bản sau:

Trang 16

Thứ nhất: Quản lý chất lượng đào tạo có mục tiêu là đảm bảo chất lượng

đào tạo phù hợp với mục tiêu đào tạo đã xây dựng và cải tiến chất lượng đào

tạo theo hướng phù hợp với nhu cầu của xã hội

Thứ hai: Thực chất của quản lý chất lượng đào tạo trong các cơ sở giáo

dục đại học là tổng hợp các hoạt động chức năng quản lý trong lĩnh vực đào tạo, gồm: hoạch định, tổ chức thực hiện, lãnh đạo và kiểm soát

Thứ ba: Do chất lượng đào tạo được tạo được tạo ra từ tất cả các khâu,

các công việc trong quá trình đào tạo nên việc đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo là trách nhiệm của tất cả các thành viên, các bộ phận trong các

cơ sở giáo dục đại học

1.2.2.1 Quản lý chất lượng đào tạo trong các trường đại học theo hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000

ISO 9000 là bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng do tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế (International Standardization Organization - ISO) ban hành, đề cập đến các lĩnh vực tiêu chuẩn hoá và quản lý chất lượng

Thực chất của bộ tiêu chuẩn ISO 9000 là chứng nhận hệ thống đảm bảo chất lượng, áp dụng các biện pháp cải tiến chất lượng không ngừng để thoả mãn khách hàng và nâng cao hiệu quả hoạt động, chứ không phải là kiểm định chất lượng sản phẩm

ISO 9000 dựa trên việc văn bản hoá và được xây dựng theo các nguyên tắc: Viết ra những cái gì bạn làm; Làm theo những gì bạn viết; Triển khai, duy trì và cải tiến hệ thống văn bản Phiên bản mới nhất của bộ tiêu chuẩn ISO

9000 là ISO 9000:2000, gồm 3 tiêu chuẩn: ISO 9000 - cơ sở và thuật ngữ, ISO

9001 - các yêu cầu và ISO 9004 - hướng dẫn cải tiến hiệu quả hoạt động

Trong quản lý chất lượng đào tạo nói chung, quản lý chất lượng đào tạo đại học nói riêng, có thể vận dụng một số nguyên tắc của quản lý chất lượng theo ISO 9000, cụ thể như sau:

Nguyên tắc 1: Luôn định hướng vào khách hàng

Chất lượng là sự thỏa mãn khách hàng Các trường đại học phụ thuộc vào khách hàng của mình và vì thế cần hiểu những nhu cầu hiện tại và tương lai của khách hàng, không chỉ đáp ứng mà còn phấn đấu vượt mức cao hơn sự mong đợi của họ Quản lý chất lượng là phải không ngừng tìm hiểu các nhu cầu của khách hàng và xây dựng nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu đó một cách tốt nhất Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ sở giáo dục đại học:

Trang 17

- Phải luôn hướng mọi hoạt động của mình về phía người học, luôn phải tìm hiểu những nhu cầu, mong đợi của họ để giải quyết, điều chỉnh hoạt động của mọi bộ phận trong đơn vị Tuỳ từng đối tượng người học cụ thể mà xây dựng phương pháp giảng dạy và các biện pháp quản lý phù hợp Đồng thời, các cơ sở giáo dục đại học phải định kỳ thực hiện đo lường, đánh giá sự thoả mãn của người học đối với hoạt động của đơn vị mình thông qua việc lấy ý kiến của người học, khuyến khích các giảng viên thường xuyên đánh giá sự tiếp thu của người học từ đó có những phương án điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu của người học

- Thường xuyên nghiên cứu nhu cầu của xã hội về nguồn nhân lực và đánh giá của xã hội về nguồn nhân lực mà cơ sở mình đào tạo Công việc này

sẽ giúp các cơ sở giáo dục đại học xây dựng mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình đào tạo phù hợp, đảm bảo đào tạo ra những người lao động có trình độ kiến thức, kỹ năng thực hành và tinh thần thái độ làm việc phù hợp với nhu cầu của xã hội; tránh được việc làm ra những sản phẩm què quặt, không hoàn chỉnh hay còn gọi là các "phế phẩm"

Nguyên tắc 2: Sự lãnh đạo của các cấp quản lý

Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất đồng bộ giữa mục đích, đường lối và môi trường nội bộ nhà trường Lãnh đạo nhà trường phải hoàn toàn lôi cuốn toàn bộ tập thể giảng viên, cán bộ công nhân viên trong việc đạt được các mục tiêu do nhà trường đưa ra Hoạt động chất lượng của nhà trường sẽ không thể đạt được kết quả nếu không có sự cam kết triệt để của cấp quản lý và lôi kéo mọi người cùng tham gia để đạt được mục tiêu chung của nhà trường

Muốn vậy người lãnh đạo cần phải có tầm nhìn cao, xây dựng những giá trị rõ ràng, cụ thể và hướng vào khách hàng là học sinh sinh viên, vào cha mẹ

họ, cũng như những đối tượng có nhu cầu sử dụng lao động Để củng cố mục tiêu này, phải có sự cam kết tham gia của từng cán bộ công nhân viên và giảng viên với tư cách là thành viên của trường Lãnh đạo phải chỉ đạo và tham gia xây dựng các chiến lược, hệ thống và các biện pháp huy động sự tham giam và tính sáng tạo của mọi thành viên để xây dựng nâng cao năng lực của đơn vị và đạt được kết quả tốt nhất có thể được Qua việc tham gia trực tiếp vào các hoạt động như lập kế hoạch, xem xét đánh giá hoạt động của trường, ghi nhận kết quả đạt được của nhân viên, giảng viên, người lãnh đạo

có vai trò củng cố giá trị và khuyến khích sự sáng tạo, đi đầu trong mọi cấp trong nhà trường

Trang 18

Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi thành viên

Giảng viên, công nhân viên là lực lượng quan trọng nhất cho sự phát triển của một trường đại học và sự tham gia đầy đủ với những hiểu biết và kinh nghiệm của họ có thể được sử dụng cho lợi ích của nhà trường Thành công trong cải tiến chất lượng đào tạo phụ thộc rất nhiều vào kỹ năng, nhiệt tình hăng say trong công việc của lực lượng lao động Nhà trường phải tạo điều kiện để giảng viên, cán bộ công nhân viên học hỏi, nâng cao kiến thức và thực hành những kỹ năng mới để truyền đạt những kiến thức, kỹ năng đó cho sinh viên

Nhà trường cần xây dựng chính sách khen thưởng và ghi nhận những kết quả đạt được của các cá nhân tập thể để tăng cường sự tham gia của mọi thành viên vào mục tiêu chất lượng đào tạo của nhà trường Những yếu tố liên quan đến khen thưởng, phúc lợi xã hội của mọi nhân viên cần phải gắn với mục tiêu cải tiến liên tục hệ thống quản lý chất lượng đào tạo của nhà trường

Nguyên tắc 4: Quản lý chất lượng theo cách tiếp cận quá trình

Quá trình là một hoạt động hoặc tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau hoặc tương tác để biến các đầu vào thành các đầu ra Đầu vào của quá trình này là đầu ra của quá trình trước đó Sự biến đổi trong quá trình tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm Một tổ chức muốn điều hành có hiệu lực và hiệu quả, cần phải xác định và quản lý các quá trình Lợi ích của cách tiếp cận quá trình là việc kiểm soát tiếp diễn từ quá trình nọ sang quá trình kia, đem lại mối liên kết giữa các quá trình cá lẻ trong hệ thống các quá trình cũng như việc kết hợp và tương tác giữa chúng

Hoạt động đào tạo trong các trường đại học cũng là một mạng lưới các quá trình có mối liên hệ chặt chẽ, tương tác với nhau Chính vì vậy, chất

lượng đào tạo không chỉ do hoạt động giảng dạy quyết định, mà nó được tạo nên bởi toàn bộ các hoạt động trong trường đại học Mỗi một bộ phận trong trường đại học có thể thực hiện một hoặc một số các quá trình Mỗi quá trình này đều có đầu vào, đầu ra riêng và trường đại học cần phải nhận biết được chúng để quản lý

Trang 19

Hình 1.1: Quá trình đào tạo tổng thể trong các trường đại học

:

Nguyên tắc 5: Quản lý chất lượng theo cách tiếp cận hệ thống

Như trên đã trình bày, ta không thể giải quyết bài toán chất lượng đào tạo theo từng yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo một cách riêng lẻ mà phải xem xét toàn bộ các yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo một cách có hệ thống và đồng bộ, phối hợp hài hòa các yếu tố này Phương pháp hệ thống quản lý là cách huy động, phối hợp toàn bộ nguồn lực để thực hiện mục tiêu chung của nhà trường

- Kỹ năng thực hành

- Thái độ làm việc

Trang 20

Hỡnh 1.2: Mụ hỡnh quản lý chất lượng dựa trờn quỏ trỡnh

Nguyờn tắc 6: Quản lý chất lượng theo cỏch cải tiến liờn tục

Cải tiến liờn tục là mục tiờu, đồng thời cũng là phương phỏp của mọi

doanh nghiệp cũng như của cơ sở giỏo dục đại học Muốn cú được chất lượng

đào tạo cao nhất, cơ sở giỏo dục đại học phải khụng ngừng cải tiến chất lượng

đào tạo Sự cải tiến cú thể thực hiện theo từng bước nhỏ hay nhảy vọt Cỏch

thức cải tiến cần phải bỏm chắc và cụng việc của nhà trường

1.2.2.2 Quản lý chất lượng đào tạo trong cỏc cơ sở giỏo dục đại học học theo

hệ thống quản lý chất lượng toàn diện(TQM)

Chất lượng toàn diện là hệ thống quản lý tập trung vào con người nhằm

tăng liờn tục sự hài lũng của khỏch hàng và giảm liờn tục chi phớ Chất lượng

toàn diện là một phương phỏp hệ thống tổng hợp và là một phần tổng thể của

chiến lược cấp cao, nú làm việc với cỏc bộ phận chức năng ngang, liờn quan

Quản lý nguồn lực

Đo lường, phân tích và cải tiến

Sản phẩm Đầu ra

Đầu vào Thực hiện

Thỏa mãn

Trang 21

đến mọi nhân viên, từ cấp cao nhất và thâm nhập phía sau cũng như phía trước bao gồm cá hệ thống cung cấp và khách hàng Đối với chất lượng toàn diện thay đổi liên tục như là một yếu tố quan trọng trong sự hình thành của một tổ chức

Theo quan điểm của giáo sư Nhật (Histoshi Kume, TQM Promotion, Guide Book Japanese Standards Association, 1996), cho rằng: TQM là một dụng pháp quản trị đưa đến thành công tạo thuận lợi cho tăng trưởng bền vững của một tổ chức thông qua việc huy động hết tất cả tâm trí của các thành viên nhằm tạo ra chất lượng một cách kinh tế theo yêu cầu của khách hàng

Theo TCVN 5814-1994 Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management - TQM) là một phương thức quản lý của một tổ chức, định hướng vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên và nhằm đem lại sự thành công lâu dài thông qua sự thoả mãn khách hàng, lợi ích của mọi thành viên của tổ chức đó và của xã hội

Mục tiêu tổng quát của TQM là đạt được chất lượng thoả mãn được nhu cầu của khách hàng một cách tiết kiệm nhất Đây là mục tiêu chung cần chia sẻ giữa tất cả các thành viên của tổ chức từ những nhà quản lý đến những người trực tiếp tác nghiệp Các nguyên tắc cơ bản của TQM

đó là:

- Nguyên tắc: Thỏa mãn mọi yêu cầu của khách hàng

Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ sở giáo dục đại học phải tìm hiểu khách hàng của mình là ai; là khách hàng bên trong hay khách hàng bên ngoài), mong muốn của từng loại khách hàng là gì, từ đó đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của khách hàng Nguyên tắc này phải được từng thành viên, từng bộ phận trong các cơ sở giáo dục đại học thấu hiểu và vận dụng

- Nguyên tắc: Liên tục cải tiến chất lượng bằng cách áp dụng vòng tròn Deming

Giáo sư Deming của Mỹ, người đã đặt nền móng cho triều đại chất lượng Nhật Bản, đã nêu quy tắc PDCA này Theo đó, chu trình quản lý chất lượng gồm 4 bước: PDCA Qua việc liên tục vận dụng vòng tròn này, tổ chức sẽ đạt

được chất lượng ngày càng cao Điều này được minh hoạ ở hình 1.3

Có thể vận dụng vòng tròn Deming trong quản lý chất lượng đào tạo theo những nội dung như sau:

Hình 1.3 Vòng tròn Deming trong quản lý chất lượng

Trang 22

+ Hoạch định chất lượng (Plan - P): là hoạt động xác định mục tiêu và

các phương tiện nguồn lực và biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu chất lượng đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại học

Nội dung chủ yếu của hoạch định chất lượng sản phẩm bao gồm:

- Xác lập những mục tiêu chất lượng tổng quát và chính sách chất lượng của cơ sở giáo dục

- Xác định khách hàng

- Xác định nhu cầu và đặc điểm nhu cầu của khách hàng

- Chuyển giao các kết quả của hoạch định cho bộ phận tác nghiệp

+ Tổ chức thực hiện (Do - D): Đây là quá trình điều khiển các hoạt động

tác nghiệp (huấn luyện giảng viên và cán bộ, giảng dạy, đi thực tế, cung ứng thiết bị ) thông qua các hoạt động, những kỹ thuật, phương tiện, phương pháp cụ thể nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo theo đúng mục tiêu đã đặt ra

Tổ chức thực hiện có ý nghĩa quyết định đến việc biến các kế hoạch chất lượng thành hiện thực Mục đích, yêu cầu đặt ra đối với các hoạt động triển khai là:

- Đảm bảo mọi người có trách nhiệm thực hiện các kế hoạch, nhận thức một cách đầy đủ mục tiêu và sự cần thiết của chúng

- Giải thích cho mọi người biết chính xác những nhiệm vụ kế hoạch chất lượng cụ thể cấn thiết phải thực hiện

- Tổ chức những chương trình đào tạo và giáo dục, cung cấp những kiến thức, kinh nghiệm cần thiết đối với thực hiện kế hoạch

- Cung cấp đầy đủ những nguồn lực ở những nơi và lúc cần thiết kể cả những phương tiện kỹ thuật dùng để kiểm soát chất lượng

+ Kiểm tra (Check - C): Kiểm tra chất lượng và hoạt động theo dõi, thu

thập, phát hiện và đánh giá những trục trặc, những điểm bất hợp lý ở tất cả các khâu của quá trình đào tạo; tìm kiếm những nguyên nhân gây ra chúng để có

Trang 23

những biện pháp ngăn chặn kịp thời, đảm bảo ở những lần thực hiện sau có thể làm đúng ngay từ đầu ở tất cả mọi khâu, mọi công việc Những nhiệm vụ chủ yếu của kiểm soát chất lượng là:

- Đánh giá tình hình thực hiện chất lượng và xác định mức độ chất lượng đạt được trong thực tế của các cơ sở giáo dục đại học

- So sánh chất lượng thực tế với kế hoạch để phát hiện các sai lệch và đánh giá các sai lệch đó trên các phương diện kinh tế - kỹ thuật và xã hội

- Phân tích các thông tin về chất lượng làm cơ sở cho cải tiến và khuyến khích cải tiến chất lượng trong các cơ sở giáo dục đại học

- Tiến hành các hoạt động cải tiến

+ Hoạt động điều chỉnh và cải tiến (Action - A): Hoạt động điều chỉnh và

cải tiến nhằm làm cho các hoạt động của hệ thống nhà trường có khả năng thực hiện được những tiêu chuẩn chất lượng đề ra, đồng thời cũng là hoạt động đưa chất lượng sản phẩm thích ứng với tình hình mới nhằm giảm dần khoảng cách giữa mong muốn của khách hàng và thực tế chất lượng đạt được, nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng ở mức độ cao hơn

1.2.3 Nội dung quản lý chất lượng đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại học

1.2.3.1 Xác định mục tiêu của quản lý chất lượng đào tạo

Mục tiêu của quản lý chất lượng đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại học là đảm bảo cho cơ sở đào tạo ra những người lao động có đầy đủ kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành và thái độ làm việc phù hợp với từng ngành nghề phù hợp với yêu cầu của xã hội Nói cách khác, mục tiêu của quản lý chất lượng đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại

học, cũng tương tự như trong các doanh nghiệp là nhằm thoả mãn nhu cầu khách hàng thông qua việc sử dụng sản phẩm, dịch vụ của mình

Điều này có nghĩa là: quản lý chất lượng đào tạo là nhằm tạo sự tin tưởng của người học và thoã mãn nhu cầu của xã hội khi sử dụng lao động do cơ sở mình đào tạo

1.2.3.2 Xây dựng và thực hiện chính sách chất lượng đào tạo

Chính sách chất lượng đào tạo được hiểu là toàn bộ ý đồ và định hướng

về chất lượng do lãnh đạo cao nhất của một cơ sở đào tạo công bố Đây là lời tuyên bố về việc cơ sở giáo dục định đáp ứng các nhu cầu của khách hàng, nên tổ chức như thế nào và biện pháp để đạt được điều này Việc xây dựng chính sách chất lượng đào tạo thuộc trách nhiệm của Hiệu trưởng - cấp quản

lý cao nhất trong các cơ sở giáo dục đại học Việc thực hiện thành công chính

Trang 24

sách đó phụ thuộc vào cam kết của lãnh đạo đối với việc triển khai và điều hành hiệu quả hệ thống chất lượng

Sở dĩ trong cơ sở giáo dục đại học của hệ thống giáo dục quốc dân trong giai đoạn hiện nay cần thiết phải xây dựng và thực hiện chính sách chất lượng là vì việc tuyên truyền khẩu hiệu hoặc phong trào thi đua trong các cơ sở giáo dục đại học hiện nay không hiệu quả và không còn phù hợp; căn bệnh chạy theo thành tích, hình thức đã xuất hiện trong các

cơ sở giáo dục đại học Nếu không có biện pháp khắc phục, ngăn chặn kịp thời thì rất khó có thể đảm bảo được các mục tiêu đào tạo đã được xây dựng

Chính sách chất lượng đào tạo bao gồm những nội dung cơ bản: thiết lập một tiểu ban có chức năng tham mưu về vấn đề chất lượng cho lãnh đạo cơ sở giáo dục đại học; hình thành và không ngừng hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn đánh giá tất cả các hoạt động trong quá trình đào tạo tại cơ sở mình; thường xuyên khảo sát mức độ đạt được các tiêu chuẩn đã xây dựng, coi trọng phòng ngừa hơn khắc phục; đào tạo, bồi dưỡng các thành viên trong cơ sở mình; có chính sách thưởng, phạt rõ ràng để kích thích tinh thần và năng lực làm việc của người lao động

1.2.3.3 Xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng

Hệ thống quản lý chất lượng là tổ chức, công cụ, là phương tiện để thực hiện mục tiêu và các chức năng quản lý chất lượng Các cơ sở giáo dục đại học cần lựa chọn cho mình một hệ thống quản lý chất lượng phù hợp Việc xây dựng và áp dụng một hệ thống quản lý chất lượng cũng tương tự như việc tiến hành một dự án Đây là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự quyết tâm và

nỗ lực của toàn bộ tập thể cơ sở giáo dục đại học mà trước hết là sự quan tâm

và cam kết của lãnh đạo cơ sở giáo dục

Chẳng hạn, nếu cơ sở giáo dục lựa chọn hệ thống quản lý chất lượng ISO

9000 thì việc xây dựng & áp dụng hệ thống chất lượng này được thực hiện theo các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: Phân tích và hoạch định

Các công việc cần thực hiện trong giai đoạn này:

- Sự cam kết của lãnh đạo

- Lập kế hoạch thực hiện, thành lập ban chỉ đạo, nhóm công tác

- Chọn tư vấn bên ngoài nếu thấy cần thiết

Trang 25

- Xây dựng nhận thức chung về ISO 9000 trong cơ sở giáo dục đại học

- Đào tạo về xây dựng hệ thống tài liệu

- Khảo sát hệ thống hiện có

- Lập kế hoạch thực hiện chi tiết

Giai đoạn 2: Viết các tài liệu trong hệ thống của quản lý chất lượng:

Các công việc cần thực hiện trong giai đoạn này:

- Viết tài liệu

- Phổ biến, đào tạo

Giai đoạn 3: Thực hiện và cải tiến

Các công việc cần thực hiện trong giai đoạn này:

Để thực thi hệ thống quản lý chất lượng và đạt được các mục tiêu chất

lượng đào tạo đã đề ra thì các cơ sở giáo dục đại học phải đảm bảo và sử dụng

có hiệu quả các nguồn lực, bao gồm: nguồn nhân lực (giảng viên, cán bộ quản lý), tài liệu chuyên môn, cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy, trong đó, nguồn nhân lực đóng vị trí quan trọng nhất Do đó, cần phải đảm bảo cả về chất

lượng và số lượng giảng viên và cán bộ quản lý trong cơ sở; tạo điều kiện cho đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn; nâng cao phẩm chất đạo đức nghề nghiệp

1.2.4 Yêu cầu quản lý chất lượng đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại học

Thứ nhất, nội dung quản lý chất lượng đào tạo trong cơ sở giáo dục

đại học phải được thực hiện phù hợp với từng ngành đào tạo, từng cấp bậc đào tạo

Trang 26

Thứ hai, phải có sự cam kết của lãnh đạo trong việc quản lý chất lượng

đào tạo Đây là điều kiện tiên quyết để quản lý chất lượng đào tạo được thực hiện thành công

Thứ ba, việc quản lý chất lượng phải được thực hiện đồng bộ ở tất cả các

khâu, các giai đoạn trong quá trình đào tạo, tất cả các bộ phận chức năng trong nội bộ cơ sở giáo dục Đây cũng là trách nhiệm chung của toàn thể người lao động trong các cơ sở giáo dục đại học

Thứ tư, tránh những sai lầm về chất lượng đào tạo và quản lý chất lượng

đào tạo, như: chất lượng đào tạo cao đòi hỏi chi phí lớn, quy lỗi về chất lượng đào tạo cho đội ngũ giảng viên trực tiếp giảng dạy hay chất lượng đào tạo được đảm bảo do kiểm tra chặt chẽ hồ sơ, giáo án của giảng viên

Thứ năm, trong giai đoạn hội nhập - cạnh tranh hiện nay, quản lý chất

lượng đào tạo luôn phải được coi là nhiệm vụ hàng đầu và phải được thực hiện thường xuyên

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại học

Chất lượng đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại học được hình thành và chịu ảnh hưởng bởi tất cả các khâu trong quá trình đào tạo Quá trình đào tạo lại chịu tác động bởi những nhân tố chủ quan, nhân tố khách quan, trong các nhân tố đó lại bao gồm cả các nhân tố thuộc môi trường bên trong lẫn các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài Các nhân tố này có mối quan hệ chặt chẽ ràng buộc với nhau, tác động tổng hợp đến chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục đại học

1.3.1 Các nhân tố môi trường bên ngoài

1.3.1.1 Tình hình thị trường lao động

Đây là nhân tố quan trọng nhất, xuất phát điểm, tạo lực hút định hướng cho sự phát triển chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học Sản phẩm của các cơ sở giáo dục đại học chỉ có thể được tồn tại khi nó đáp ứng được nhu cầu cảu thị trường lao động Xu hướng phát triển và hoàn thiện chất lượng đào tạo phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm và xu hướng vận động của nhu cầu thị trường lao động Do vậy, sản phẩm của các cơ sở giáo dục đại học phải là những con người với đầy đủ những kiến thức, kỹ năng, thái độ lao động cần thiết về một ngành nghề cụ thể Nhưng nếu người học sau khi ra trường không tìm được việc làm hoặc tìm được việc làm không theo đúng nghề đã được đào tạo thì đó chính là dấu hiệu cho thấy sản phẩm của cơ sở giáo dục đại học

Trang 27

không phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động Nói cách khác, chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục đại học này là thấp, không đáp ứng được yêu cầu của xã hội

- Nhu cầu của thị trường lao động là căn cứ quan trọng để các cơ sở giáo dục đại học xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo Nhu cầu này càng trở nên khắt khe hơn: các doanh nghiệp và những đơn vị sử dụng lao động khác ngày càng có những yêu cầu, đòi hỏi ở người lao động trên tất cả các mặt: kiến thức (chuyên môn, xã hội), kỹ năng thực hành, thái độ làm việc Các cơ sở giáo dục đại học không còn cách nào khác là phải nhận biết, nắm bắt đúng các nhu cầu này để có thể điều chỉnh mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo cho phù hợp, hướng đến phát triển chất lượng đào tạo, đảm bảo sản phẩm đào tạo phù hợp với nhu cầu sử dụng

- Nguồn cung lao động có xu hướng ngày càng tăng cả về số lượng lẫn chất lượng, sự cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục đại học ngày cảng trở nên gay gắt Nếu các cơ sở giáo dục đại học không tự nhận thức được vấn đề chất

lượng đào tạo thì chắc chắn sẽ dần bị đào thải

Vì vậy, việc xác định đúng nhu cầu, cấu trúc, đặc điểm và xu hướng vận động của nhu cầu thị trường lao động là căn cứ đầu tiên, quan trọng nhất đến hướng phát triển chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học

1.3.1.2 Tình hình phát triển của nền kinh tế

Tình hình phát triển của nền kinh tế có tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó có lĩnh vực đào tạo, qua đó ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học Nền kinh tế càng phát triển thì Nhà nước càng quan tâm đến lĩnh vực giáo dục Do vậy, việc đầu tư cho lĩnh vực giáo dục đào tạo ngày càng được quan tâm

Kinh tế phát triển đi cùng với đó là sự nhận thức ngày càng tăng của người học Những đòi hỏi của họ đối với chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học ngày khắt khe hơn Hơn nữa, họ ngày càng có nhiều sự lựa chọn ngành nghề, trường theo học để có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của xã hội Bên cạnh đó, yêu cầu của các đơn vị sử dụng lao động đối với người lao động cũng ngày càng cao không những về số lượng mà còn về chất lượng Sự cạnh tranh tăng lên gay gắt cùng với sự bão hòa của thị trường tạo ra sức ép buộc các cơ sở giáo dục đại học phải giải được bài toán làm thế nào nâng cao chất lượng đào tạo để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội

Trang 28

Xu hướng toàn cầu hóa với sự tham gia hội nhập của các cơ sở giáo dục đại học vào nền kinh tế thế giới của mọi quốc gia cũng tạo nhiều cơ hội cho các cơ sở giáo dục đại học có điều kiện mở rộng quan hệ hợp tác với các cơ sở giáo dục có chất lượng trên thế giới, giao lưu học hỏi được kinh nghiệm quản

lý đào tạo, chương trình đào tạo của họ Sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ

khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin đã làm thay đổi nhiều cách tư duy cũ và đòi hỏi các cơ sở giáo dục đại học phải có khả năng thích ứng nhanh chóng Xu hướng hội nhập quốc tế cũng tạo điều kiện cho giảng viên cán bộ công nhân viên của mình đi học tập nâng cao trình độ qua đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục đại học

Tuy vậy, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế cũng là nguyên nhân làm nảy sinh những mặt trái trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo Đó là nảy sinh nhiều tiêu cực trong giáo dục như thương mại hoá giáo dục Nếu không nhận thức và giải quyết tốt các vấn đề này thì chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo học sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng

1.3.1.3 Sự phát triển của khoa học kỹ thuật - công nghệ

Trình độ chất lượng sản phẩm không thể vượt quá giới hạn khả năng của trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật - công nghệ của một giai đoạn lịch sử nhất định Tiến bộ khoa học kỹ thuật - công nghệ tạo ra khả năng không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ chính là phương tiện giúp cơ sở giáo dục đại học thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn việc điều tra, nghiên cứu nhu cầu và những biến đổi nhu cầu thành đặc điểm của thị trường lao động; công tác nghiên cứu khoa học, thực nghiệm; các hoạt động chuyên môn, hoạt động hỗ trợ nhờ các trang thiết bị đo lường, dự báo, thí nghiệm, thiết kế tốt hơn, hiện đại hơn Qua đó, chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học cũng dần được cải thiện

Khoa học quản lý phát triển hình thành những phương pháp quản lý tiên tiến hiện đại góp phần nắm bắt nhanh hơn, chính xác hơn nhu cầu của khách hàng từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học, tăng mức thỏa mãn nhu cầu của khách hàng

1.3.1.4 Các c ơ chế, chính sách, chế độ của Nhà nước trong lĩnh vực giáo dục

và đào tạo đại học

Bất kỳ một đơn vị nào cũng hoạt động trong một môi trường nhất định, trong đó môi trường pháp lý với những cơ chế, chính sách, chế độ của Nhà nước có tác động trực tiếp và to lớn đến việc tạo ra và nâng cao chất lượng sản

Trang 29

phẩm của các cơ sở giáo dục đại học Cơ chế, chính sách, chế độ của Nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là lĩnh vực đào tạo đại học có sự tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo Trong thời vừa qua, lĩnh vực giáo dục - đào tạo đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và nhà nước Nó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo của toàn ngành nói chung cũng

như của các cơ sở giáo dục đại học nói riêng Điều này được thể hiện ở một số nội dung sau:

- Các cơ chế, chính sách của Nhà nước tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các cơ sở giáo dục đại học hoạt động

- Các cơ chế, chính sách của Nhà nước tạo ra một sức ép buộc các cơ sở giáo dục đại học (gồm cả cơ sở công lập và ngoài công lập) phải nâng cao chất lượng đào tạo của mình Với chủ trương xã hội hoá giáo dục trong thời gian vừa qua, đã có rất nhiều trường đại học dân lập được thành lập Các cơ sở này muốn tồn tại và phát triển được thì vấn đề trước tiên và quan trọng nhất là

phải đảm bảo được chất lượng đào tạo

- Các cơ chế, chính sách của Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi giúp các

cơ sở giáo dục đại học trong nước có thể trao đổi, hợp tác, học hỏi kinh nghiệm với các trường trong khu vực và trên toàn thế giới trong lĩnh vực đào tạo đại học như trao đổi chương trình đào tạo, trao đổi giảng viên, trao đổi sinh viên, trao đổi trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học…

1.3.2 Các nhân tố bên trong các trường đại học

1.3.2.1 Lực lượng lao động trong các trường đại học

Con người là nhân tố trực tiếp tạo ra và quyết định đến chất lượng sản phẩm Trong các cơ sở giáo dục đại học, đội ngũ giảng viên và cán bộ công nhân viên chính là nhân tố trực tiếp quyết định đến chất lượng đào tạo Chất

lượng đào tạo được hình thành từ tất cả các khâu của quá trình đào tạo, được đảm bảo bởi tất cả các mặt của quá trình đào tạo, mà ở tất cả các khâu này, các mặt này đều có sự tham gia của đội ngũ giảng viên, cán bộ công nhân viên nhà trường Chính vì vậy, chất lượng đào tạo phụ thuộc rất lớn vào trình

độ chuyên môn, tay nghề, kinh nghiệm, ý thức trách nhiệm và tình thần hợp tác của tất cả các giảng viên cũng như cán bộ công nhân viên trongo0 cơ sở giáo dục đại học Năng lực và tinh thần của đội ngũ giảng viên, cán bộ công nhân viên, những giá trị chính sách nhân sự đặt ra trong mỗi cơ sở giáo dục đại học có tác động sâu sắc toàn diện đến hình thành chất lượng sản phẩm của các cơ sở mình Chất lượng không chỉ thỏa mãn nhu cầu khách hàng bên

Trang 30

ngoài mà còn phải thỏa mãn nhu cầu của khách hàng bên trong của các cơ sở giáo dục đại học

Như vậy, việc hình thành và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu về thực hiện mục tiêu chất lượng là một trong những nội dung cơ bản của quản lý chất lượng trong giai đoạn hiện nay

1.3.2.2 Trình độ tổ chức quản lý của cơ sở giáo dục đại học

Quản lý chất lượng dựa trên quan điểm lý thuyết hệ thống Cơ sở giáo dục đại học được nhìn nhận như là một hệ thống trong đó có sự phối hợp đồng bộ thống nhất giữa các bộ phận chức năng Mỗi bộ phận đều có một vai trò nhất định trong việc hình thành, đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo Chính vì vậy, cần phải có sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa các bộ phận chức năng này với nhau trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo

do nhà trường đề ra

Nói cách khác, trình độ tổ chức quản lý có ảnh hưởng lớn đến chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục đại học đó Sự phối hợp, khai thác hợp lý giữa các nguồn lực hiện có để tạo ra sản phẩm lại phụ thuộc nhiều vào nhận thức, sự hiểu biết về chất lượng và quản lý chất lượng, trình độ xây dựng và chỉ đạo tổ chức thực hiện chương trình, chính sách, mục tiêu kế hoạch chất lượng của các cấp lãnh đạo Nhà trường Cơ chế quản lý tốt sẽ khai thác, phát huy được mọi điểm mạnh, khắc phục được những điểm yếu, huy động được mọi nguồn lực cần thiết tham gia vào hoạt động đào tạo của nhà trường, là cơ hội tốt cho nâng cao chất lượng đào tạo Một chủ trương quản lý, cách làm sai lầm sẽ để lại hậu quả khôn lường đến chất lượng đào tạo và hoạt động chung của cơ sở giáo dục đại học

1.3.2.3 Ph ương pháp giảng dạy của giảng viên

Phương pháp giảng dạy được hiểu là cách thức mà người giảng viên truyền đạt những nội dung đào tạo đã được xây dựng theo chương trình đào tạo đến người học Phương pháp dạy học phù hợp, lôi cuốn sẽ có tác động tích cực tới nhận thức của sinh viên, sinh viên sẽ chủ động hơn trong quá trình tiếp nhận kiến thức, rèn luyện kỹ năng và thái độ lao động, nhờ đó mà mục tiêu đào tạo được thực hiện Ngược lại, phương pháp giảng dạy không phù hợp sẽ làm cho học sinh thụ động, cảm thấy nhàm chán, khó tiếp thu nội dung đào tạo, từ đó, kết quả đào tạo sẽ thấp

Phương pháp giảng dạy phải luôn luôn đổi mới lấy người học là trung tâm Phương pháp này được gọi là phương pháp giảng dạy tích cực: giảng

Trang 31

viên rất coi trọng tính chủ động, sáng tạo của người học Người học phải chuẩn bị bài trước, đọc bài giảng trước khi lên lớp Trong giờ giảng, giảng viên dành thời gian cho người học tham gia vào bài giảng của giảng viên để tự phát hiện ra vấn đề, tự phát hiện ra chân lý bằng các con đường khác nhau Giảng viên tổng kết, đánh giá, kết luận, khẳng định, khái quát lại các vấn đề cốt lõi thuộc về bản chất của từng vấn đề

1.3.2.4 Hệ thống giáo trình và tài liệu tham khảo

Kiến thức mà học sinh cần phải có ngày càng rộng và sâu Để tiến hành đổi mới phương pháp dạy và học rất cần có hệ thống giáo trình và tài liệu tham khảo để phục vụ cho quá trình đào tạo Chúng có những tác động nhất định đến chất lượng đào tạo của một cơ sở giáo dục đại học Sự tác động này thể hiện ngay ở vai trò, tác dụng của hệ thống giáo trình và tài liệu tham khảo đối với hoạt động dạy và học:

- Giáo trình cung cấp cho người học những kiến thức cần thiết mà trên lớp giảng viên không thể truyền đạt được hết do giới hạn về mặt thời gian, khi

mà phần nhiều thời gian trên lớp dành cho việc rèn những kỹ năng thực hành

và cũng như phục vụ cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy đó là tạo cho sinh viên thói quan tự nghiên cứu; chủ động trong việc nghiên cứu Tài liệu tham khảo giúp người học bổ sung thêm những kiến thức cần thiết khác mà ở trên lớp hoặc trong chương trình đào tạo không có Giáo trình và tài liệu tham khảo phù hợp là một phương tiện quan trọng giúp người học có thể tự nghiên cứu, bổ sung thêm những kiến thức cần thiết cho mình, chuẩn bị bài tốt trước khi đến lớp

- Giáo trình giúp cho giảng viên biết được những nội dung kiến thức mà mình cần phải truyền đạt cho học sinh, từ đó tìm phương pháp dạy học phù hợp Các tài liệu tham khảo giúp cho giảng viên nhanh chóng cập nhật, bổ sung những kiến thức mới vào bài giảng của mình Hơn nữa, khi được phân công biên soạn giáo trình, giảng viên phải tìm tòi, nghiên cứu, tìm hiểu thực tế Nhờ vậy mà kiến thức của người giảng viên được củng cố và mở rộng

1.3.2.5 C ơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học

Đây là những điều kiện không thể thiếu phục vụ cho hoạt động đào tạo

Cơ sở vật chất khang trang, trang thiết bị dạy học hiện đại là một yếu tố quan trọng giúp nâng cao chất lượng đào tạo Không thể có một kết quả tốt nếu như

cơ sở vật chất trang bị cho học tập thiếu thốn Ví dụ, chất lượng dạy và học ngoại ngữ sẽ cao hơn khi có phòng chuyên dùng để học ngoại ngữ, chất lượng

Trang 32

học ngoại ngữ sẽ kém nếu như không có phòng chuyên dùng cho học ngoại ngữ Một phòng học có điều hoà rõ ràng người học sẽ cảm thấy thoải mái hơn trong những ngày hè nóng bức và tất nhiên kết quả của họ cũng cao hơn

1.3.2.6 Hoạt động nghiên cứu khoa học

Ảnh hưởng của yếu tố này đến chất lượng đào tạo được thể hiện như sau:

- Tổ chức tốt hoạt động nghiên cứu khoa học sẽ giúp cơ sở giáo dục tìm

ra được các phương pháp giảng dạy lý thuyết, thực hành mới, phù hợp với từng ngành đào tạo Qua các hoạt động nghiên cứu khoa học, nhiều kiến thức chuyên môn mới được khám phá, tìm hiểu và dần được vận dụng, đưa vào nội dung giảng dạy, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa nội dung chương trình đào tạo với yêu cầu, đòi hỏi của thị trường lao động

- Tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học còn là cơ sở để các cơ sở giáo dục đại học tiếp cận với những tiến bộ khoa học kỹ thuật và vận dụng chúng vào quá trình đào tạo của mình tạo điều kiện cho sinh viên có thể kết hợp lý luận với thực tiễn một cách tốt hơn

1.3.2.7 Sự ảnh hưởng của người học đến chất lượng đào tạo

Chất lượng đào tạo chịu sự tác động của chất lượng người học Rõ ràng

là những cơ sở đào tạo tuyển được người học có lực học ở các cấp trước đó cao hoặc đã học qua nhiều môn học có liên quan đến ngành nghề sẽ học sẽ có nhiều thuận lợi trong quá trình đào tạo Ví dụ như chất lượng đầu vào của sinh viên các trường đại học dân lập thấp hơn các trường công lập sẽ làm cho chất

lượng đào tạo của trường bị ảnh hưởng

1.4 Đánh giá chất lượng đào tạo trong cơ sở giáo dục đại học

1.4.1 Một số quan điểm đánh giá chất lượng đào tạo trong cơ sở giáo dục đại học

Một vấn đề đặt ra là sử dụng phương pháp nào để đánh giá chất lượng của một cơ sở giáo dục đại học là tốt nhất Trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau khi đánh giá chất lượng của một cơ sở giáo dục đại học Trong thực tiễn, các nhà quản lý giáo dục đã sử dụng các cách đánh giá chính sau:

1.4.1.1 Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng "Đầu vào":

Quan điểm cho rằng "Chất lượng đào tạo một cơ sở giáo dục đại học phụ

thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào của trường đó” Quan điểm này

được gọi là "quan điểm nguồn lực” có nghĩa là Nguồn lực = Chất lượng Một

trường đại học tuyển được nhiều học sinh giỏi, đội ngũ cán bộ giảng dạy uy tín, nguồn tài chính cần thiết để trang bị cơ sở vật chất một cách tốt nhất được xem

Trang 33

là cơ sở giáo dục có chất lượng cao Trước kia, quan điểm này thường hay được

sử dụng để đánh giá chất lượng đào tạo Quan điểm này lại rất phù hợp với quan điểm chọn trường theo học của người học, bởi người học luôn mong muốn mình sẽ học tại các trường có điều kiện tốt nhất về mọi mặt

1.4.1.2 Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng bằng "Đầu ra":

Quan điểm này cho rằng, "Đầu ra" của cơ sở giáo dục đại học có tầm quan trọng hơn nhiều so với "Đầu vào" của quá trình đào tạo "Đầu ra" chính

là sản phẩm của giáo dục đại học được thể hiện bằng năng lực của sinh viên tốt nghiệp (Sinh viên tốt nghiệp với điểm số cao chứng tỏ chất lượng đào tạo

là tốt), hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của cơ sở giáo dục đó Đánh giá đầu ra nhằm xem xét sản phẩm đào tạo (sinh viên) của cơ sở giáo dục đại học đạt chất lượng đến mức nào Việc đánh giá sinh viên tốt nghiệp phải tập trung vào mức độ kiến thức tiếp thu được; kỹ năng, thái độ và hệ thống giá trị của họ Đánh giá đầu ra không chỉ nhằm xác định mức độ chất lượng mà cần xác định sự tiến bộ về các mặt từ khi sinh viên vào trường tới khi sinh viên ra trường

1.1.4.3 Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng "Giá trị gia tăng"

Quan điểm này cho rằng một cơ sở giáo dục đại học có tác động tích cực tới sinh viên khi nó tạo ra được sự khác biệt trong sự phát triển về năng

lực(tức là phần giá trị gia tăng của quá trình đào tạo) "Giá trị gia tăng" được xác định bằng giá trị "Đầu ra" trừ đi giá trị "Đầu vào" , kết quả thu được là

"Giá trị gia tăng" mà cơ sở giáo dục đại học đã đem lại cho sinh viên và được

dùng làm thước đo chất lượng giáo dục đại học

Một vấn đề nan giải đặt ra khi áp dụng quan điểm này trong đánh giá chất lượng đào tạo đó là phải xây dựng một thước đo thống nhất để đánh giá chất lượng đầu vào, chất lượng đầu ra để có thể xác định được phần giá trị gia tăng

1.4.1.4 Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng "Giá trị học thuật":

Đây là quan điểm truyền thống của nhiều cơ sở giáo dục đại học phương Tây, chủ yếu dựa vào đánh giá các chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ cán bộ giảng dạy trong từng trường trong quá trình thẩm định chất lượng đào tạo đại học Điều này có nghĩa là một cơ sở giáo dục đại học có đội ngũ giáo sư, tiến sĩ đông, có uy tín thì được xem là cơ sở giáo dục đại học đó có chất lượng cao

1.4.1.5 Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng "Văn hóa tổ chức riêng":

Trang 34

Quan điểm này dựa trên nguyên tắc các cơ sở giáo dục đại học phải tạo

ra được "Văn hóa tổ chức riêng" hỗ trợ cho quá trình liên tục cải tiến chất

lượng Vì vậy một cơ sở giáo dục đại học được đánh giá là có chất lượng khi

có được "Văn hóa tổ chức riêng" với nét đặc trưng quan trọng là không ngừng

nâng cao chất lượng đào tạo

Từ những quan điểm trên ta thấy chất lượng đào tạo của một cơ sở giáo dục đại học được đánh giá từ những quan điểm khác nhau, song quan điểm cho rằng: Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng đầu ra là phù hợp nhất Bởi, đầu ra thể hiện kết quả đào tạo của một cơ sở giáo dục đại học là tốt hay không tốt; nó thể hiện kết quả đào tạo có phù hợp với mục tiêu đào tạo của cơ

sở giáo dục đại học hay không, sản phẩm của các cơ sở giáo dục đại học có được thị trường chấp nhận hay không Còn các quan điểm đánh giá khác được xem như những điều kiện đảm bảo cho chất lượng của cơ sở giáo dục đại học

1.4.2 Một số tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục đại học

1.4.2.1 Sứ mạng và mục tiêu đào tạo của trường đại học

Sứ mạng của trường đại học được xác định rõ ràng, phù hợp với chức năng, với các nguồn lực và định hướng phát triển của nhà trường; phù hợp

và gắn kết với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và của

cả nước

Mục tiêu của trường đại học được định kỳ rà soát, bổ sung, điều chỉnh, được quán triệt và thực hiện trong tập thể nhà trường

Mục tiêu đào tạo có đúng đắn, sát với thực tiễn lao động sản xuất thì chất

lượng đào tạo mới được đảm bảo Mục tiêu đào tạo sẽ phác hoạ chân dung người lao động mà trường đại học sẽ đào tạo ra, là căn cứ để xây dựng nội dung chương trình đào tạo

lý các hoạt động của nhà trường một cách có hiệu quả Trường đại học có chiến lược và kế hoạch phát triển ngắn hạn, trung hạn và dài hạn phù hợp với

sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương và của cả nước; có biện pháp giám sát và định kỳ đánh giá việc thực hiện kế hoạch

Trang 35

1.4.2.3 Chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo của trường đại học được xây dựng trên cơ sở chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, phù hợp với sứ mạng, mục tiêu giáo dục và chức năng, nhiệm vụ của nhà trường, đồng thời gắn liền với nhu cầu học tập của người học, nhu cầu nguồn nhân lực của thị trường lao động Việc xây dựng chương trình đào tạo, kế hoạch giảng dạy và học tập cho các ngành đào tạo phải trên cơ sở chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, có sự tham gia của các giảng viên và cán bộ quản lý Chương trình đào tạo có mục tiêu rõ ràng, cụ thể, có cấu trúc hợp lý, được thiết kế một cách hệ thống, đáp ứng yêu cầu về kiến thức, kỹ năng của từng trình độ đào tạo và đáp ứng linh hoạt nhu cầu nhân lực của xã hội

Tiêu chuẩn này giúp đánh giá sự phù hợp của chương trình đào tạo với mục tiêu đào tạo của trường đại học và của ngành học theo các nội dung: sự phù hợp của chương trình đào tạo với mục tiêu của ngành học (khối lượng và thời gian, nội dung, kiến thức chuyên sâu), với yêu cầu của người tuyển dụng lao động và xã hội; tính rõ ràng của mục tiêu của từng môn học; tỷ lệ trung bình đầu sách giáo trình, sách tham khảo trên một môn học

1.4.2.4 Các hoạt động đào tạo

Các hoạt động đào tạo được tổ chức theo qui trình và học chế mềm dẻo phát huy tính tích cực của người học, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo toàn diện Thực hiện đa dạng hoá các phương thức tổ chức đào tạo, nhằm đáp ứng yêu cầu học tập của người học theo những chuẩn mực thích hợp Thực hiện chế độ công nhận kết quả học tập của người học theo học phần (tích luỹ theo học phần); chuyển qui trình tổ chức đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu và làm việc tập thể của người học Phương pháp và qui trình kiểm tra đánh giá được đa dạng hoá, đảm bảo nghiêm túc, khách quan, chính xác, công bằng và phù hợp với phương thức đào tạo, hình thức học tập; đánh giá được mức độ tích luỹ của người học về kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành và năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề

Kết quả học tập của người học được thông báo công khai, kịp thời theo qui định, được lưu giữ đầy đủ, chính xác và an toàn Văn bằng tốt nghiệp và chứng chỉ học tập được cấp đúng qui định

1.4.2.5 Đội ngũ quản lý, giảng viên và nhân viên

Trang 36

Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên của trường đáp ứng các yêu cầu về số lượng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và được đảm bảo các quyền lợi theo qui định Trường đại học có kế hoạch tuyển dụng, bồi dưỡng

và phát triển đội ngũ giảng viên và nhân viên, qui hoạch bổ nhiệm cán bộ quản lý đáp ứng mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ và phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường; có qui trình, tiêu chí tuyển dụng, bổ nhiệm rõ ràng, minh bạch Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên được đảm bảo các quyền dân chủ trong trường đại học Nhà trường có chính sách và biện pháp tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên tham gia các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ ở trong và ngoài nước

Mức độ đảm bảo đội ngũ giảng viên được đánh giá bằng tỷ lệ giảng viên trên sinh viên Tiêu chuẩn này cho biết đội ngũ giảng viên trong các trường đại học có đáp ứng được yêu cầu của công tác giảng dạy hay không Đây là tiêu chuẩn đánh giá việc đảm bảo hiệu quả và hiệu suất đào tạo Tỷ lệ giảng viên trên số sinh viên cao sẽ giảm chất lượng đào tạo, tỷ lệ thấp sẽ giảm hiệu suất đào tạo

Ngoài ra còn đánh giá tỷ lệ cán bộ giảng dạy có học hàm, học vị Tiêu chí này đo lường mức độ đảm bảo về chuyên môn và nghiệp vụ trong quá trình đào tạo của trường đại học Tỷ lệ này cao cho biết giảng viên giảng dạy

có trình độ chuyên môn cao và sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo Do vậy chất lượng đào tạo sẽ tăng

1.4.2.6 Người học

Cơ sở giáo dục đại học phải có những biện pháp cụ thể để làm tốt công tác đối với người học, nhằm đảm bảo quyền lợi, thúc đẩy, tạo điều kiện cho người học tu dưỡng, rèn luyện và đạt kết quả cao nhất trong học tập Người học khi tốt nghiệp phải có năng lực đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động Đảm bảo mọi người học được hướng dẫn đầy đủ về mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo và các yêu cầu kiểm tra đánh giá Người học được đảm bảo các chế độ chính sách xã hội và được chăm sóc sức khoẻ theo qui định y tế học đường, được tạo điều kiện hoạt động, tập luyện văn nghệ, thể dục thể thao, được đảm bảo an toàn trong trường học; người học chấp hành tốt qui chế đào tạo Công tác rèn luyện chính trị tư tưởng, đạo đức và lối sống cho người học

Năng lực của người học được đánh giá thông qua kết quả học tập của họ Thông qua việc đánh giá, so sánh giữa các năm học, khoá học về kết quả học

Trang 37

tập của người học, như: tỷ lệ học sinh khá giỏi của từng môn học; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp xếp loại khá, giỏi; mức độ thành thạo trong việc thực hiện các kỹ

năng nghề khi thực tế làm việc các trường đại học có thể đánh giá năng lực tiếp thu kiến thức lý thuyết, rèn luyện các kỹ năng thực hành của người học; so sánh, đối chiếu với mục tiêu đề ra Đây còn là một căn cứ để các trường đại học đánh giá lại việc xây dựng chương trình đào tạo, tài liệu giảng dạy của mình (mức độ nặng, nhẹ của chương trình đào tạo )

Tiêu chuẩn này giúp đánh giá sự chấp nhận của xã hội đối với người lao động do trường đào tạo Tỷ lệ người học ra trường có việc làm là một căn cứ quan trọng chứng tỏ việc đào tạo trường đại học là phù hợp với yêu cầu, mong muốn của xã hội tỷ lệ này thấp cho thấy trường đại học là không phù hợp với yêu cầu của xã hội

1.4.2.7 Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong trường đại học được

tổ chức thực hiện trên cơ sở huy động được nguồn lực (tài chính và con người), được đánh giá bằng số lượng và chất lượng các công trình công bố hoặc ứng dụng có hiệu quả trong thực tiễn Các trường đại học có nhiều công trình nghiên cứu được ứng dụng trong thực tế điều đó cho thấy chất lượng đào tạo là tốt

1.4.2.8 Hoạt động hợp tác quốc tế

Trường đại học chủ động thiết lập các quan hệ quốc tế, triển khai các hoạt động hợp tác với các trường đại học, các tổ chức giáo dục, khoa học và công nghệ nước ngoài nhằm nâng cao năng lực đào tạo và nghiên cứu khoa học Các hoạt động hợp tác quốc tế về đào tạo có hiệu quả thể hiện qua các chương trình hợp tác đào tạo, trao đổi học thuật; các chương trình trao đổi giảng viên và người học, các hoạt động tham quan khảo sát, hỗ trợ, nâng cấp

cơ sở vật chất, trang thiết bị của trường Các mối quan hệ hợp tác quốc tế sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường

1.4.2.9 Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác

Trường đại học đảm bảo các điều kiện về phòng học, thư viện, trang thiết

bị học tập và cơ sở vật chất khác để triển khai các hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học, nhằm đạt được mục tiêu và nhiệm vụ đề ra Hệ thống phòng học, phòng thực hành, thư viện, thí nghiệm trang thiết bị đầy đủ sẽ tạo điều kiện tốt cho người học chủ động trong việc nghiên cứu

1.4.2.10 Tài chính và quản lý tài chính

Trang 38

Cơ sở giáo dục đại học phải có các giải pháp và kế hoạch tự chủ về tài chính, có một hệ thống quản lý tài chính chặt chẽ, phù hợp với các qui định của Nhà nước; thực hiện phân bổ và sử dụng tài chính hợp lý, công khai, minh bạch và có hiệu quả Tài chính của cơ sở giáo dục sẽ liên quan đến cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học cũng như liên quan đến các vấn đề khác Chất lượng đào tạo sẽ cao nếu có tiềm lực tài chính dồi dào để có thể trang bị đầy đủ cơ sở vật chất cho việc dạy và học và ngược lại Chất lượng đào tạo của trường đại học sẽ thấp nếu như Nhà trường luôn trong tình trạng thiếu tài chính cũng như công tác quản lý tài chính kém hiệu quả

Có thể chia các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo của một cơ sở giáo dục đại học ra làm 3 nhóm như sau:

- Nhóm các tiêu chí đánh giá sự phù hợp của kết quả đào tạo so với mục tiêu và nội dung chương trình đào tạo: tính đúng đắn và rõ ràng của

mục tiêu đào tạo, sự phù hợp của nội dung chương trình đào tạo với mục tiêu đào tạo, tính chất của chương trình đào tạo

- Nhóm các tiêu chí đánh giá kết quả đào tạo: kết quả học tập của sinh

viên, kết quả rèn luyện đạo đức, lối sống của sinh viên, kết quả làm việc, tỷ lệ

người học có việc làm đúng ngành nghề đào tạo, sự thích ứng của người học với môi trường làm việc

- Nhóm các tiêu chí đánh giá điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo:

đội ngũ giảng viên, phương pháp giảng dạy của giảng viên, phương tiện dạy học, hệ thống giáo trình tài liệu học tập

Để vận dụng các tiêu chí trên vào việc đánh giá chất lượng đào tạo, các

cơ sở giáo dục đại học cần phải thực hiện các công việc như sau:

Thứ nhất, với mỗi tiêu chí phải xây dựng chi tiết các chỉ sổ đánh giá cụ thể (tức là các nội dung đánh giá cụ thể) Chẳng hạn, với tiêu chí Chương trình đào tạo có thể xây dựng các chỉ số (nội dung) đánh giá như sau:

(1) Mức độ phù hợp của nội dung chương trình đào tạo so với mục tiêu đào tạo của từng ngành;

(2) Tính chất của chương trình đào tạo: nặng về lý thuyết / thực hành hay kết hợp hợp lý giữa lý thuyết với thực hành ;

(3) Tỷ lệ số giờ lý thuyết, giờ thực hành, giờ thực tập; tỷ lệ số giờ các môn học chung, môn học cơ sở và chuyên ngành

Thứ hai, xây dựng các mức đánh giá với mỗi chỉ số (nội dung) của từng

tiêu chí Có thể sử dụng cách đánh giá định tính theo các mức: RẤT CAO,

Trang 39

CAO, TRUNG BÌNH, THẤP, RẤT THẤP hoặc KHÔNG THÍCH, CHƯA THÍCH, BÌNH THƯỜNG, THÍCH, RẤT THÍCH hoặc xây dựng thang điểm

để đánh giá

Thứ ba, xác định người tham gia đánh giá ứng với mỗi tiêu chí, đồng thời

xây dựng một bản đánh giá riêng cho từng nhóm người tham gia đánh giá

1.4.3 Một số phương pháp phân tích đánh giá chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục đại học

1.4.3.1 Ph ương pháp điều tra - khảo sát

Phương pháp điều tra - khảo sát là phương pháp sử dụng một hệ thống các câu hỏi theo những nội dung xác định nhằm thu thập những thông tin khách quan nói lên nhận thức và thái độ của người được điều tra (có thể là cán

bộ quản lý, giảng viên, sinh viên, phụ huynh sinh viên…

Phương pháp này có hai hình thức cơ bản:

+ Phương pháp phỏng vấn: Là phương pháp dùng hệ thống các câu hỏi miệng để người được phỏng vấn trả lời bằng miệng nhằm thu được những thông tin nói lên nhận thức hoặc thái độ của người được hỏi

+ Phương pháp điều tra bằng an - két: Là phương pháp dùng hệ thống câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn trên giấy theo những nội dung xác định, người được hỏi

sẽ trả lời bằng cách viết trong một thời gian nhất định Phương pháp này cho phép điều tra, thăm dò ý kiến đồng loạt của nhiều người nên thường đượng sử dụng trong các cuộc điều tra xã hội học, trong nghiên cứu khoa học giáo dục… Ngoài hai hình thức cơ bản trên, hiện nay với sự phát triển của công nghệ thông tin, phương pháp điều tra - khảo sát còn có thể được tiến hành trên mạng internet

Trong nghiên cứu, đánh giá chất lượng đào tạo, đối tượng điều tra khá rộng, có thể bao gồm các nhà quản lý giáo dục các cấp, người sử dụng lao động, người dạy, người học Chính vì vậy, cần phải thực hiện chọn mẫu điều tra (giới hạn đối tượng điều tra) bằng các phương pháp: chọn mẫu ngẫu nhiên, chọn máy móc hoặc chọn phân loại

Phạm vi các vấn đề cần điều tra cũng khá rộng, từ các vấn đề về tổ chức quản lý đào tạo, đến các vấn đề cụ thể của quá trình đào tạo: chương trình đào tạo, kế hoạch đào tạo, cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, tài liệu học tập, cơ

sở vật chất

Trang 40

Công cụ quan trọng của phương pháp điều tra - khảo sát là phiếu điều tra (còn gọi là phiếu xin ý kiến, phiếu thăm dò, phiếu khảo sát ) với một hệ thống các câu hỏi được đặt ra cho đối tượng điều tra

1.4.3.2 Ph ương pháp phân tích - tổng hợp

Phân tích - tổng hợp là sự chia nhỏ các sự vật, hiện tượng thành từng phần để nghiên cứu đặc trưng riêng của từng bộ phận rồi sau đó tổng hợp các đặc trưng để tìm ra bản chất, tính quy luật của các sự vật, hiện tượng cần nghiên cứu

Theo phương pháp này, để đánh giá chất lượng đào tạo của một cơ sở giáo dục đại học, toàn bộ quá trình đào tạo được phân tách làm nhiều mặt, nhiều thành phần cấu trúc (đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, ngành nghề đào tạo, tài liệu giảng dạy ), nhiều giai đoạn với mối liên hệ chặt chẽ với nhau (nghiên cứu thị trường, xây dựng mục tiêu, chương trình đào tạo, thiết lập kế hoạch đào tạo, thực hiện giảng dạy ) để phân tích đánh giá, xem xét, tìm ra các đặc trưng bản chất, đặc trưng riêng của từng mặt, từng giai đoạn Sau đó, các kết quả phân tích được tổng hợp lại để có thể đánh giá tổng quát về chất

lượng đào tạo

Trong phân tích chất lượng đào tạo, có thể áp dụng cả các phân tích định tính lẫn các phân tích định lượng Phân tích định tính cho biết các tính chất,

xu hướng, đặc trưng, thuộc tính của các mặt, các quá trình Phân tích định

lượng cho phép xác định, đánh giá các vấn đề nghiên cứu theo các tiêu chí đánh giá định lượng đã xây dựng và phù hợp với thang điểm đánh giá chuẩn cho từng đối tượng phân tích trên cơ sở số liệu thống kê được Như vậy, một vấn đề đặt ra là người phân tích cần nhận thức được các đặc trưng định tính và định lượng của đối tượng phân tích

1.4.3.3 Ph ương pháp chuyên gia

Đây là phương pháp đánh giá chất lượng đào tạo dựa trên việc lấy ý kiến của các chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan Chuyên gia được hiểu là những nhà chuyên môn có trình độ cao cả về mặt lý thuyết lẫn thực tế Họ có thể là những nhà quản lý đào tạo lâu năm có nhiều kinh nghiệm, các nhà khoa học sư phạm có trình độ chuyên môn cao, các giảng viên giỏi có nhiều kinh nghiệm ở các cơ sở giáo dục đại học, những nhà quản lý doanh nghiệp

Việc tổ chức lấy ý kiến chuyên gia để đánh giá chất lượng đào tạo của một cơ sở giáo dục đại học có thể thực hiện theo các hình thức sau:

Ngày đăng: 26/02/2021, 16:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w