Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2 CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRONG ĐƠN VỊ ĐÀO TẠO 1.2.2 Giáo viên là người trực tiếp trang bị tri thức khoa học kỹ thuật và
Trang 2NGUYỄN TIẾN LỢI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ THỊ ANH VÂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Hội nhập kinh tế toàn cầu, các doanh nghiệp Việt Nam đứng trước những cơ hội mới cùng những thách thức mới, Khoa Kinh tế trường ĐH Công nghiệp cũng đang gặp những khó khăn thách thức trong tiến trình hội nhập chung Sau quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội em đã chủ động đề
nghị và được chấp nhận cho làm tốt nghiệp theo đề tài: “Một số giải pháp nâng cao
chất lượng đội ngũ giáo viên khoa Kinh tế trường ĐH Công nghiệp HN”
Trong quá trình làm luận văn em đã thực sự dành nhiều thời gian cho việc tìm kiếm cơ sở lý luận, thu thập dữ liệu; vận dụng kiến thức để phân tích và đề xuất cải tạo thực trạng đội ngũ giáo viên khoa Kinh tế trường ĐH Công nghiệp HN
Em xin cam đoan: luận văn này là của em tự làm và chưa được công bố ở bất
kỳ dạng nào
Trang 4MỤC LỤC
Trang
1 Lý do chọn đề tài luận văn 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO
VIÊN TRONG ĐƠN VỊ ĐÀO TẠO
1.2.2 Giáo viên là người trực tiếp trang bị tri thức khoa học kỹ thuật và
công nghệ cho học sinh- sinh viên, từ đó góp phần tạo nguồn nhân
lực chất lượng cao cho đất nước
18
1.3 Bản chất và phương pháp đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên của
đơn vị đào tạo
21
1.3.1 Phương pháp đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên hiện có tại cơ sở
đào tạo thuần túy theo kết quả điều tra, khảo sát và so sánh với chuẩn
24
1.3.2 Phương pháp đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên của các đơn vị
giáo dục và đào tạo bằng cách: đo lường theo các tiêu chuẩn- so với
mức chuẩn của từng tiêu chuẩn- đưa ra mức độ đạt chuẩn
25
1.3.3 Phương pháp đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên của đơn vị đào
tạo bằng cách điều tra, phân tích chất lượng các công việc được phân
công đảm nhiệm
27
Trang 51.4 Các nhân tố và phương hướng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
trong đơn vị đào tạo
vị đào tạo
35
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN KHOA KINH TẾ TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHIỆP HN
39
2.1 Đặc điểm sản phẩm- khách hàng, đặc điểm cơ sở vật chất và tình
hình hoạt động của trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
39
2.1.1 Đặc điểm sản phẩm dịch vụ, khách hàng 46 2.1.2 Đặc điểm cơ sở vật chất -công nghệ 50 2.1.3 Tình hình hoạt động của khoa Kinh tế trường ĐH Công nghiệp HN 52 2.2 Đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên khoa Kinh tế trường ĐH Công
nghiệp Hà Nội
55
2.2.1 Đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên khoa Kinh tế trường ĐH Công
nghiệp theo quy mô
56
2.2.2 Đánh giá mức độ đáp ứng, phù hợp của đội ngũ giáo viên khoa Kinh
tế trường ĐH Công nghiệp về cơ cấu giới tính
56
2.2.3 Đánh giá mức độ đáp ứng, phù hợp của đội ngũ giáo viên khoa Kinh
tế trường ĐH Công nghiệp về cơ cấu khoảng tuổi
58
2.2.4 Đánh giá mức độ đáp ứng, phù hợp của đội ngũ giáo viên khoa Kinh
tế trường ĐH Công nghiệp về cơ cấu ngành nghề, trình độ
60
2.2.5 Đánh giá mức độ đáp ứng, phù hợp của đội ngũ giáo viên khoa Kinh
tế trường ĐH Công nghiệp trên cơ sở khảo sát mức độ đáp ứng tiêu
chuẩn
62
Trang 62.2.6 Đánh giá chất lượng công tác của đội ngũ giáo viên khoa Kinh tế
trường ĐH Công nghiệp
65
2.2.7 Đánh giá chất lượng công tác của đội ngũ giáo viên khoa Kinh tế
trường ĐH Công nghiệp theo thông tin phản hồi về chất lượng đào
tạo của doanh nghiệp sử dụng học sinh đã qua đào tạo tại khoa
68
2.2.8 Tổng hợp kết quả đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên khoa Kinh
tế trường ĐH Công nghiệp
70
2.3 Những nguyên nhân dẫn đến chất lượng đội ngũ giáo viên khoa Kinh
tế trường ĐH Công nghiệp chưa cao
71
2.3.1 Về mức độ sát đúng của kết quả xác định nhu cầu, quy hoạch giáo
viên, mức độ hợp lý của công tác tuyển dụng giáo viên khoa Kinh tế
trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
78
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN KHOA KINH TẾ TRƯỜNG ĐH
CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
82
3.1 Những thách thức và những yêu cầu mới đối với đội ngũ giáo viên
khoa Kinh tế trường ĐH Công nghiệp Hà Nội đến năm 2010.2015
82
3.1.1 Những thách thức đối với sự phát triển của khoa Kinh tế trường ĐH
Công nghiệp HN đến năm 2010.2015
82
3.1.2 Những yêu cầu đối với đội ngũ giáo viên khoa Kinh tế trường ĐH
Công nghiệp HN đến năm 2010.2015
84
3.2 Giải pháp 1: Hoàn thiện công tác tuyển dụng và đổi mới chính sách 86
Trang 7đãi ngộ giáo viên khoa Kinh tế trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
3.2.1 Về chính sách đãi ngộ giáo viên 86 3.2.2 Về công tác tuyển dụng 89 3.3 Giải pháp 2: Đổi mới chính sách hỗ trợ và tổ chức đào tạo nâng cao
trình độ cho đội ngũ giáo viên khoa Kinh tế trường ĐH Công nghiệp
Hà Nội
95
3.3.1 Xác định nhu cầu đào tạo và phát triển trình độ giáo viên của khoa
Kinh tế trường ĐH Công nghiệp Hà Nội đến năm 2010.2015
96
3.3.2 Xác định chính sách hỗ trợ đào tạo nâng cao trình độ đội ngũ giáo
viên khoa Kinh tế trường ĐH Công nghiệp Hà Nội đến năm
2010.2015
98
3.3.3 Đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo nâng cao trình độ đội ngũ
giáo viên khoa Kinh tế trường ĐH Công nghiệp Hà Nội đến năm
2010.2015
101
3.4 Giải pháp 3: Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá đội ngũ giáo viên
khoa Kinh tế trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 ĐH Đại học
2 TCCN Trung cấp chuyên nghiệp
3 HS - SV Học sinh sinh viên
4 GVCN Giáo viên chủ nhiệm
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ
Trang Bảng 1.1 Mẫu bảng đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên của các đơn vị đào
tạo trên cơ sở kết quả khảo sát mức độ đáp ứng tiêu chuẩn
24
Bảng 1.2 Mẫu bảng đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên đơn vị đào tạo
theo cơ cấu giới tính
25
Bảng 1.3 Mẫu bảng đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên đơn vị đào tạo
theo cơ cấu khoảng tuổi
25
Bảng 1.4 Mẫu bảng so sánh đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên đơn vị đào
tạo theo chuyên gia tư vấn
26
Bảng 1.5 Mức dộ đạt chuẩn cho phép về chất lượng đội ngũ giáo viên trong
dơn vị đào tạo Việt nam
Bảng 1.9 Kết quả tổng hợp các chỉ số của chính sách hỗ trợ đào tạo nâng cao
trình độ cho đội ngũ giáo viên đơn vị đào tạo
37
Bảng 1.10 Kết quả tổng hợp chính sách hỗ trợ đào tạo nâng cao trình độ cho
đội ngũ giáo viên tại đơn vị đào tạo
Bảng 2.2 Bảng kết quả xin ý kiến chuyên gia về tỷ lệ % hợp lý của đội ngũ
giáo viên theo cơ cấu giới tính của Khoa Kinh tế trường ĐH Công nghiệp giai
đoạn 2010-2015
57
Bảng 2.3 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá mức độ đáp ứng theo cơ cấu giới 57
Trang 10tính đội ngũ giáo viên khoa kinh tế trường ĐH Công Nghiệp
Bảng 2.4 Bảng kết quả xin ý kiến chuyên gia về tỷ lệ % hợp lý của đội ngũ
giáo viên theo cơ cấu khoảng tuổi của Khoa KT trường ĐH Công Nghiệp
HN giai đoạn 2010-2015
58
Bảng 2.5 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá mức độ đáp ứng theo cơ cấu
khoảng tuổi đội ngũ giáo viên của Khoa kinh tế trường ĐH Công Nghiệp Hà
Nội
59
Bảng 2.6 Bảng kết quả tổng hợp về tỷ lệ % hợp lý của đội ngũ giáo viên theo
cơ cấu ngành nghề được đào tạo của 12 trường ĐH
Bảng 2.9 Bảng kết quả khảo sát sinh viên khoa về mức độ đáp ứng tiêu
chuẩn của đội ngũ giáo viên Khoa KT trường ĐH Công Nghiệp HN giai
đoạn 2010-2015
64
Bảng 2.10 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá chất lượng công tác của đội ngũ
giáo viên Khoa kinh tế trường ĐH Công nghiệp
65
Bảng 2.11 Bảng kết quả điều tra, khảo sát chất lượng công tác của đội ngũ
giáo viên Khoa kinh tế trường ĐH Công nghiệp
67
Bảng 2.12 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá chất lượng công tác của đội ngũ
giáo viên Khoa kinh tế trường ĐH Công nghiệp
67
Bảng 2.13 Bảng kết quả điều tra, khảo sát chất lượng công tác của đội ngũ
giáo viên Khoa kinh tế trường ĐH Công nghiệp theo thông tin phản hồi về
chất lượng đào tạo của các doanh nghiệp sử dụng sinh viên của khoa:
69
Bảng 2.14 Các nội dung đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên khoa Kinh tế
trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
70
Hình 2.1 Sơ đồ quá trình tuyển dụng 73
Trang 11Bảng 2.15 Kết quả tổng hợp các chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ giáo viên
khoa Kinh tế trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
77
Bảng 2.16 Kết quả tổng hợp các chỉ số của chính sách hỗ trợ đào tạo nâng
cao trình độ cho đội ngũ giáo viên khoa Kinh tế trường ĐH Công nghiệp HN
80
Bảng 3.1 Kết quả tổng hợp chính sách hỗ trợ đào tạo nâng cao trình độ cho
đội ngũ giáo viên tại khoa Kinh tế trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
88
Bảng 3.2 Kết quả tổng hợp chính sách hỗ trợ đào tạo nâng cao trình độ cho
đội ngũ giáo viên khoa Kinh tế trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
101
Trang 12LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay với sự tăng nhanh của dân số thế giới, nguồn nguyên liệu ngày càng khan hiếm, tiềm lực của mỗi quốc gia không còn phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có, vào nguồn nhân công rẻ Sức mạnh đó giờ đây phụ thuộc vào kiến thức, kỹ năng và chất lượng của nguồn nhân lực mà họ sở hữu để từ đó tìm
ra các nguồn năng lượng mới và các công nghệ hiện đại Hơn nữa, xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang là thời cơ và cũng là thách thức lớn, mở ra cơ hội giao lưu và phát triển Các quốc gia kém phát triển có thể tranh thủ thời cơ, bằng chiến lược đi tắt đón đầu để tiếp cận, tiếp nhận khoa học công nghệ kỹ thuật tiên tiến và học tập những kinh nghiệm quản lý, điều hành của các quốc gia phát triển Các nước phát triển mở rộng thị trường, thị phần và giảm chi phí sản xuất bằng việc sử dụng nhân công bản địa với giá rẻ, tăng dịch vụ bán và chuyển giao công nghệ, chuyên gia Trong bối cảnh đó, để trở thành cường quốc chính là đào tạo được, sở hữu được lực lượng lao động có trình độ cao, thích ứng nhanh với sự thay đổi của khoa học công nghệ và nền kinh tế toàn cầu hướng vào thị trường
Việt Nam là một đất nước đang phát triển ở trình độ thấp Đảng và nhà nước
ta ý thức được tầm quan trọng của phát triển giáo dục và khoa học công nghệ Báo cáo chính trị của BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại đại hội IX đã chỉ
rõ: “phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm Con
đường công nghiệp hoá của Việt Nam cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước… gắn công nghiệp hoá với hiện đại hoá, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ tiên tiến, hiện đại về khoa học – công nghệ, từng bước phát triển kinh
tế tri thức Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, đặc biệt coi trọng phát triển giáo dục, khoa học và công nghệ, xem đây là nền tảng
và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá” Trong Báo cáo chính trị
của BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại đại hội IX còn khẳng định
“Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá tinh thần tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước
Trang 13công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về căn bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao”
Là một giáo viên hiện đang giảng dạy tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội đồng thời cũng đang theo học thạc sỹ chuyên ngành Quản trị Kinh doanh tôi nhận thấy chất lượng đội ngũ giáo viên có ý nghĩa vô cùng quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của trường Đại học Công Nghiệp trong thời gian tới Được sự giúp
đỡ, hướng dẫn tận tình của PGS.TS Lê Thị Anh Vân và GS.TS: Đỗ Văn Phức tôi đã
mạnh dạn chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên khoa kinh tế trường Đại học Công nghiệp Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu
luận văn tốt nghiệp của mình với mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào sự phát triển chung của nhà trường
2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Đánh giá chất lượng và xây dựng một số biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên khoa kinh tế trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
Xuất phát từ mục đích trên luận văn giải quyết các vấn đề:
Nghiên cứu cơ sở lý luận và những căn cứ có liên quan đến chất lượng đội ngũ giáo viên TCCN – CĐ – ĐH
Phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên hiện nay tại khoa kinh tế trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
Xây dựng những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên khoa kinh tế trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đánh giá và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là một công việc có ý nghĩa rất quan trọng hiện nay đối với các đơn vị nhà trường trong cả nước nhằm cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực có trình độ, có phẩm chất, có tư duy, có đạo đức Đó là chìa khoá để thực hiện sự nghiệp CNH- HĐH trong giai đoạn hiện nay
Trang 14Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là một đề tài rộng lớn, và phức tạp mang tính thời đại Do thời gian, kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế, luận văn này chỉ tập trung vào việc phân tích và đề ra các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên khoa kinh tế trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp điều tra ; Phương pháp lý luận ; Phương pháp thống kê ; Phương pháp quan sát ; Phương pháp phân tích tổng hợp
5 Ý nghĩa của đề tài
Đối với nhà trường và khoa có ý nghĩa thiết thực trong việc giám sát, đánh giá, đảm bảo và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Giúp cho các phòng ban chức năng, các khoa ban khác có những căn cứ và phương pháp đánh giá nhằm xây dựng kế hoạch cho mình Cung cấp thông tin cho những ai muốn biết về chất lượng đội ngũ giáo viên và định hướng phát triển trong tương lai của trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
6 Bố cục của luận văn
Nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ giáo viên trong đơn vị đào
tạo
Chương 2: Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên của khoa kinh
tế trường ĐH Công nghiệp HN
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tại
khoa kinh tế trường ĐH Công nghiệp HN
Tôi xin cảm ơn các phòng ban trong nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Kinh
Tế cùng toàn thể các thầy cô giáo, giáo vụ trong khoa đã cung cấp nhiều thông tin quý báu cho đề tài Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn PGS TS Lê Thị Anh Vân và GS.TS Đỗ Văn Phức đã tận tình giúp đỡ, quan tâm hướng dẫn chu đáo để em hoàn thành đề tài này
Trang 15Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình học tập và nghiên cứu song do kiến thức còn hạn chế, chắc chắn luận văn của em còn nhiều thiếu sót Em xin lĩnh hội, tiếp thu những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, các cô trong khoa Kinh
Tế và Quản Lý trường ĐHBK HN để luận văn tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn nũa
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRONG ĐƠN VỊ ĐÀO TẠO
1.1 BẢN CHẤT VÀ MỤC ĐÍCH HOẠT ĐỘNG CỦA ĐƠN VỊ ĐÀO TẠO TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Một trong số các hoạt động cơ bản, quan trọng nhất của con người là hoạt động kinh tế Loài người đã sáng lập ra nền kinh tế, sáng lập ra thị trường nhằm mục đích phát triển nhanh và có hiệu quả hoạt động kinh doanh Nền kinh tế là một phương thức tiến hành các hoạt động kinh tế chủ yếu Thị trường là nơi gặp gỡ và diễn ra quan hệ mua bán (trao đổi) giữa người có và người cần hàng hóa Từ đó chúng ta có thể phát biểu rằng nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hoạt động chủ yếu theo quy luật cạnh tranh đáp ứng nhu cầu hàng hóa
Vậy đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường là hàng hóa, là tự do kinh doanh hàng hóa trong khuôn khổ pháp luật Do mưu cầu lợi ích của con người và do được
tự do kinh doanh trong nền kinh tế, cạnh tranh diễn ra mạnh mẽ, quyết liệt, đa dạng Trong hoạt động kinh tế cạnh tranh là sự giành giật thị trường khách hàng, đối tác trên cơ sở các ưu thế về chất lượng hàng hóa, giá hàng hóa, thời hạn, sự thuận tiện
và uy tín lâu dài Cạnh tranh trên cơ sở các ưu thế là cạnh tranh lành mạnh Để có các ưu thế về chất lượng sản phẩm, dịch vụ người sản xuất phải đầu tư thích đáng cho việc nghiên cứu đổi mới sản phẩm, đổi mới quản lý, đổi mới công nghệ cho nhân tố con người Để doanh nghiệp tồn tại và phát triển được trong cạnh tranh ngày càng khốc liệt ta cần phải hiểu và quán triệt bản chất và mục đích hoạt động của doanh nghiệp trong khi giải quyết tất cả các vấn đề, các mối quan hệ của hoặc liên quan đến quá trình kinh doanh Như vậy, quản lý kinh doanh cần nắm bắt được chất lượng mà người tiêu dùng yêu cầu đối với sản phẩm hàng hóa là phải biết quan
hệ giữa chất lượng với chi phí
Trong nền kinh tế thị trường do đảm bảo chất lượng phù hợp với yêu cầu người tiêu dùng nên sản lượng sản xuất tiêu thụ thông thường là tăng và có tăng rất
Trang 17mạnh, điều đó dẫn tới chi phí cố định cho sản phẩm, giá thành đối với sản phẩm dịch vụ giảm, tức là lợi thế cạnh tranh về giá càng đảm bảo Cạnh tranh lành mạnh giữa những người sản xuất, giữa các nhà cung cấp tạo ra nhiều phản ứng dây chuyền tích cực đem lại nhiều lợi ích thiết thực trước hết cho người tiêu dùng, cho những người cạnh tranh thành công, cho cộng đồng, cho toàn xã hội
Như vậy, bản chất của hoạt động của đơn vị đào tạo là đầu tư, sử dụng các nguồn lực tranh giành với các đối thủ phần nhu cầu của thị trường, những lợi ích mà các đơn vị cần và có thể tranh giành Mục đích hoạt động của đơn vị đào tạo là đạt được hiệu quả hoạt động cao nhất, bền lâu nhất có thể Theo GS,TS kinh tế Đỗ Văn
Phức [12, tr15], hiệu quả hoạt động của đơn vị đào tạo là kết quả tương quan, so
sánh những lợi ích thu được từ hoạt động của doanh nghiệp quy tính thành tiền với tất cả các chi phí cho việc có được các lợi ích đó cũng quy tính thành tiền
Hiệu quả hoạt động của đơn vị đào tạo là tiêu chuẩn được sáng tạo để đánh giá, lựa chọn mỗi khi cần thiết Do đó, cần tính toán tương đối chính xác và có chuẩn mực
để so sánh Để tính toán được hiệu quả hoạt động của đơn vị đào tạo trước hết cần tính toán được toàn bộ các lợi ích và toàn bộ các chi phí tương thích Do lợi ích thu được từ hoạt động của đơn vị đào tạo cụ thể hàng năm thường rất phong phú, đa dạng, hữu hình và vô hình (tiền tăng thêm, kiến thức, kỹ năng tăng thêm, quan hệ tăng thêm, tăng thêm về công ăn việc làm, cần bẳng hơn về phát triển kinh tế, thu nhập, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, môi trường chính trị, xã hội…) nên cần nhận biết, thống kê cho hết và biết cách quy tính tương đối chính xác ra tiền Nguồn lực được huy động, sử dụng cho hoạt động của đơn vị đào tạo cụ thể trong năm thường bao gồm nhiều loại, nhiều dạng, vô hình và hữu hình và có loại chỉ tham gia một phần nên cần nhận biết, thống kê đầy đủ và bóc tách, quy tính ra tiền cho tương đối chính xác
Khác với quá trình sản xuất công nghiệp, các loại hình dịch vụ hàng hóa, dịch vụ hành chính công, lĩnh vực giáo dục và đào tạo có những đặc trưng riêng về quá trình đào tạo từ các yếu tố đầu vào như chương trình, nội dung giảng dạy, cơ sở vật chất trường, lớp, trang thiết bị dạy học, đội ngũ giáo viên, học sinh…đến các
Trang 18hoạt động dạy-học và giáo dục đa dạng, với nhiều hình thức khác nhau trong quá trình đào tạo và đặc biệt “sản phẩm đào tạo” là con người, với nhiều giai đoạn phát triển theo lứa tuổi và trình độ giáo dục
Tư tưởng kinh tế giáo dục theo chủ nghĩa Mác thì lao động giáo dục là một loại lao động có tính phục vụ (hoặc dịch vụ) có thể tạo ra giá trị sử dụng đặc biệt cho xã hội, là một loại hoạt động không có được trong sản xuất
Giáo dục sản xuất ra khả năng lao động cho người lao động và phát triển lực lượng sản xuất có hình thái tri thức khoa học cho xã hội Giáo dục có thể tái sản xuất khả năng lao động của con người, có thể thay đổi tính chất và hình thái của khả năng lao động của con người, là phương pháp quan trọng của tái sản xuất lực lượng sản xuất có hình thái tri thức khoa học
Chi phí giáo dục là bộ phận cấu thành giá trị sức lao động Theo sự phát triển sản xuất của xã hội và tiến bộ khoa học, giá trị kinh tế xã hội của lao động phức tạp
sẽ ngày càng cao, chi phí đào tạo cũng càng ngày càng lớn, vì thế thù lao của người lao động phức tạp cũng tăng tương ứng
Lao động giáo dục sẽ ảnh hưởng đến việc hình thành giá trị kinh tế xã hội Sức lao động và chỉ có sức lao động mới là lực lượng sáng tạo ra của cải vật chất của xã hội, nhưng sức lao động có thể tạo ra giá trị mới thì tuyệt đối không thể được hình thành một cách tự nhiên cũng không phải là một quá trình tự nhiên, nó có mối tương quan mật thiết, có tỉ lệ tương thích với mức độ giáo dục của sức lao động
Về góc độ kinh tế, lợi nhuận đầu tư cho giáo dục có hai phần: phần của cá nhân và phần của xã hội Nhà nước đầu tư cho giáo dục để mang lại lợi ích cho toàn
xã hội Các thành phần kinh tế đầu tư cho giáo dục để tăng chất lượng người lao dộng, từ đó tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm, hạ giá thành và tăng sức cạnh tranh Gia đình và cá nhân đầu tư cho giáo dục để tăng năng lực hiểu biết,
cơ hội tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập cá nhân do tăng năng xuất lao động và khả năng kiếm được việc làm có lương cao hơn Vì thế, lợi nhuận trong giáo dục không được thể hiện trực tiếp và cụ thể như những hoạt động kinh tế
Trang 19Trong gần thập kỷ qua, trong nhiều diễn đàn ở hội thảo, trên báo chí, phát thanh truyền hình trong nước cũng như ngoài nước, đề tài "có hay không yếu tố thương mại trong hoạt động giáo dục" đã được đề cập đến khá sôi nổi Ý kiến khác nhau diễn ra kéo dài, có khi tranh luận rất gay gắt Nhưng thực tiễn đã nhanh chóng trở thành người trọng tài công minh; sự phát triển của nền kinh tế mới với cuộc hành trình toàn cầu hoá của nhân loại đã cho phép chúng ta nhận thức lại nhiều điều
có ý nghĩa Thương mại không còn chỉ là cái đuôi của sản xuất, không còn chỉ là một thứ sinh hoạt trao đổi hàng hoá giản đơn mà nó đã trở thành một hoạt động quan trọng có tác dụng rộng lớn đến nhiều mặt của đất nước; nó có khả năng phát ra nhiều tín hiệu có ý nghiã định hướng cho các hoạt động kinh tế, xã hội Xin đừng nuôi giữ những định kiến sai lầm về việc buôn bán, xin đừng nhìn thương mại qua những kẻ buôn gian, bán lậu, đầu cơ, trốn thuế qua những từ có tính phê phán như
"con phe", "cai đầu dài", "đầu nậu", "trùm sò" , xin đừng coi thương mại là một hoạt động thấp kém, xin đừng dùng từ "thương mại hoá" để chỉ những biểu hiện cá nhân, tiêu cực, làm tiền bất chính trong nhà trường Cần phân biệt những tiêu cực trong giáo dục với việc vận dụng hợp lý những yếu tố thương mại trong việc thực hiện xã hội hoá giáo dục Trong xã hội mà nền kinh tế phát triển nhanh thì yếu tố thương mại càng can thiệp vào hoạt động giáo dục mạnh Đó là điều hiển nhiên, không thể không thừa nhận
Từ những phân tích trên cho thấy việc phát triển giáo dục trong nền kinh tế thị trường là một vấn đề cấp thiết và phải được thực hiện dựa trên những quan điểm đúng đắn Theo đa số các nhà kinh tế học trên thế giới, phát triển giáo dục, phát triển nhà trường theo các thiết chế hiện hành song phải không ngừng cải tiến chúng
để chúng thích nghi với động thái kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, thích ứng với tiến bộ của mỗi thời đại Người ta nhấn mạnh việc phải coi giáo dục như một ngành kinh tế, áp dụng tư duy kinh tế vào quá trình đào tạo, nhưng phải coi đó là một ngành kinh tế có tính đặc thù vừa mang đặc trưng kinh tế chuẩn tắc vừa mang đặc trưng kinh tế thực chứng Mô hình tổ chức xí nghiệp cần được vận dụng vào tổ chức quá trình đào tạo của các nhà trường Mỗi nhà trường là một xí nghiệp hoạt
Trang 20động theo mục tiêu phi lợi nhuận, song phải tính được giá thành đào tạo Các nhà trường giáo dục chuyên nghiệp phải biết marketing trong hoạt động đào tạo, phải có mối liên hệ chặt chẽ với các cơ sở sản xuất, cơ quan nghiên cứu khoa học, các tổ chức kinh doanh dịch vụ
Tổ chức phát triển giáo dục, tổ chức quá trình đào tạo ở các đơn vị giáo dục vừa phải nhằm vào sự phát triển kin tế vừa nhằm vào sự ổn định và công bằng xã hội Giáo dục một mặt giúp cho các cá nhân có sợ năng động xã hội trong đời sống sản xuất, mặt khác phải luôn luôn đào tạo ra những con người biết sống trong tình đoàn kết hợp tác xã hội
Sự phát triển giáo dục ngày nay không phải là điều dễ dàng; phải biết ngăn ngừa các mục tiêu vụ lợi, thiển cận, song cũng phải ngăn ngừa sự biệt lập, sự giáo điều, sự sáo mòn trong phương thức hành động
Lâu nay, người ta vẫn cho giáo dục là sự nghiệp công ích, là phúc lợi xã hội cần phải được bao cấp hoàn toàn; đối với các nho sĩ phong kiến thì giáo dục là một hình thái hoạt động thanh cao, thuần tuý trau dồi hiểu biết và đức hạnh, không liên quan gì đến những sinh hoạt vật chất như sản xuất hàng hoá, tính toán giá cả, lưu thông trao đổi Thời đại của nền văn minh trí tuệ đã bật sáng những tín hiệu mới, buộc chúng ta phải chuyển đổi quan niệm Giáo dục không thể là một ốc đảo, đứng ngoài nền kinh tế thị trường, đứng ngoài nhưũng yêu cầu phát triển của xã hội; sản phẩm của giáo dục cũng phải coi là hàng hoá, dù là một thứ hàng hoá đặc biệt Hoạt động của giáo dục phải phù hợp với kế hoạch tổng thể của đất nước, chịu sự chi phối trực tiếp những yêu cầu của kinh tế, xã hội
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) coi giáo dục là dịch vụ thương mại Trong lần đàm phán với ta, WTO đã đề cập nhiều đến giáo dục Trong hiệp nghị thương mại Việt - Mỹ cũng có điều khoản nêu rõ giáo dục phải chịu sự điều chỉnh một phần của hoạt động thương mại Rõ ràng ngày nay, thương mại có một tầm hoạt động và tác dụng rộng lớn, có tính xã hội rất cao Nhiều nước ở Âu Châu xác định nền kinh tế xã hội hiện nay gồm 3 loại: kinh tế khai thác, kinh tế chế biến và kinh tế dịch vụ Người ta liệt giáo dục vào loại kinh tế 3
Trang 21Trong kế hoạch đến năm 2010, ngành giáo dục quyết tâm mở rộng loại trường ngoài công lập, phấn đấu đạt chỉ tiêu có được 40% học sinh, sinh viên trong tổng số người học Khi giáo dục được xã hội hoá cao thì sự cạnh tranh để tồn tại và phát triển trong các nhà trường là điều không tránh khỏi Điều quan trọng là chúng
ta phải tạo ra được không khí cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy nhau cùng phát triển chứ không phủ định nhau Những người chủ các nhà trường tự lập có tính toán thế nào đó để có lãi, đảm bảo bền vững cho sự tồn tại và phát triển là điều hiển nhiên, hợp pháp, thậm chí cần thiết Xin đừng ai vội phê phán là tiêu cực Tiêu cực hay không chủ yếu là ở chỗ cách tạo ra lãi như thế nào, chất lượng đào tạo có tương xứng với mức lãi không, việc tuyển sinh và công nhận tốt nghiệp có theo đúng quy chế không Những người chủ, những cấp quản lý giáo dục phải chấp nhận sự thử thách của thị trường nhân lực đối với học sinh, sinh viên ra trường của mình, nghĩa
là phải chấp nhận sự đánh giá, sự trả giá, sự lựa chọn, sự sử dụng, sự thải hồi những sản phẩm nhân lực của mình, theo góc nhìn của khách hàng, của những người tiếp nhận
1.2 ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRONG ĐƠN VỊ ĐÀO TẠO
Đẩy tới một bước sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, đất nước ta từng bước tiến lên XHCN, không thể không coi trọng bồi dưỡng và sử dụng nguồn tài nguyên quý giá nhất là con người
Bất cứ một sự phát triển nào cũng đều phải có một động lực thúc đẩy và phải dựa trên nhiều nguồn lực: nhân lực (nguồn lực con người) và vật lực (nguồn lực vật chất: công cụ lao động, đối tượng lao động, tài nguyên thiên nhiên…), tài lực (nguồn lực về tài chính, tiền tệ)…Song chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy được tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người Từ thời kỳ xa xưa con người bằng công cụ lao động thủ công và nguồn lực do chính bản thân mình tạo ra để sản xuất ra sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của bản thân Sản xuất ngày càng phát triển, phân công lao động
Trang 22ngày càng chi tiết, hợp tác ngày càng chặt chẽ tạo cơ hội để chuyển dần hoạt động của con người cho máy móc thiết bị thực hiện, làm thay đổi tính chất của lao động
từ lao động thủ công sang lao động cơ khí và lao động trí tuệ Nhưng cả trong điều kiện đạt được tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại như hiện nay thì cũng không thể tách rời nguồn lực con người, bởi lẽ:
- Chính con người đã tạo ra những máy móc thiết bị hiện đại đó
- Ngay cả đối với máy móc thiết bị hiện đại, nếu thiếu sự điều khiển, kiểm tra của con người (tức tác động của con người) thì chúng chỉ là vật chất, chỉ có tác động của con người mới phát động chúng, đưa chúng vào hoạt động
Vì vậy, nếu xem xét nguồn lực là tổng thể những năng lực (cơ năng và trí năng) của con người được huy động vào quá trình sản xuất, thì năng lực đó là nội lực con người Đối với những nước có nền kinh tế đang phát triển như nước ta, dân
số đông, nguồn nhân lực dồi dào đã trở thành nội lực quan trọng nhất Nếu biết khai thác nó sẽ tạo nên một động lực to lớn cho sự phát triển
Ở Việt Nam hiện đang tồn tại ít nhất 5 loại nguồn lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Nguồn nhân lực con người, tài nguyên thiên nhiên,
cơ sở vật chất và khoa học- kỹ thuật, vị trí địa lý và nguồn lực nước ngoài Các nguồn lực này có vai trò tác động không như nhau trong toàn bộ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ở đây nguồn lực con người là quý nhất, quyết định nhất Vai trò quyết định của nguồn nhân lực con người đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa được thể hiện trên những mặt sau:
Nguồn nhân lực là một nguồn lực vô giá
Đó là điều mà ai cũng biết Giá trị của con người đối với xã hội chủ yếu được thể hiện ở năng lực lao động của con người Trong khi năng lực lao động không thể tồn tại ngoài một cơ thể khoẻ mạnh Do đó, một con người có năng lực nghề nghiệp
mà doanh nghiệp cần có, một cơ thể khoẻ mạnh, có tinh thần chủ động làm việc và
ý thức sáng tạo cái mới, có khả năng thích ứng với môi trường tổ chức và văn hoá doanh nghiệp chính là nguồn lực quan trọng nhất của doanh nghiệp
Trang 23Trước hết, sự phát triển của doanh nghiệp là dựa vào sự phát triển năng lực chuyên môn của công giáo viên và ngược lại Nhưng khi chúng ta coi trọng năng lực chuyên môn của con người thì trước hết phải coi trọng bản thân con người Doanh nghiệp thông qua công tác tuyển dụng, đào tạo, khai thác, thực hiện các chính sách điều chỉnh, khích lệ chính là để cổ vũ công giáo viên không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn và tự nguyện sử dụng năng lực chuyên môn đó để làm việc cho doanh nghiệp Nếu không doanh nghiệp sẽ không thể thích ứng với môi trường cạnh tranh ngày càng ngay gắt
Hai là, muốn có năng lực lao động thì phải có một cơ thể khỏe mạnh Nhiều doanh nghiệp và nhiều nhà quản lý chỉ quan tâm đến việc khai thác năng lực cuả lao động mà không quan tâm đến sức khoẻ của họ Điều đó sẽ khiến cho sức khoẻ của người lao động giảm sút, năng lực lao động của họ sẽ sớm bị suy thoái có một hiện tượng phổ biến đáng chú ý là các nhà quản lý thường thêm việc cho những giáo viên có năng lực bởi vì giao việc cho những người này thì họ tương đối yên tâm Nhưng họ không nghĩ rằng nếu để lao động làm việc quá sức từ năm này qua năm khác thì sức khoẻ của họ sẽ bị suy giảm, khó hồi phục Điều đó cũng giống như một cái móc sắt chỉ chịu được tải trọng là 1kg nhưng lại treo nên nó quá nhiều thì chắc chắn nó sẽ gãy Việc dùng người cũng thế
Ba là, nguồn nhân lực là một nguồn lực có ý thức, có quan niệm giá trị, đó là
sự khác nhau giữa nguồn nhân lực với các nguồn lực khác Khi một người nào đó tự nguyện làm việc anh ta sẽ làm việc với tinh thần chủ động Anh ta sẽ khắc phục khó khăn, hoàn thành công việc một cách sáng tạo và cảm thấy hạnh phúc vui vẻ khi công việc hoàn thành thành công Ngược lại nếu một người nào đó làm việc một cách miễn cưỡng thì anh ta sẽ tỏ ra uể oải ngay từ đầu, trách móc người khác, thậm chí có ý phá rối kỷ luật, làm hỏng máy móc thiết bị Từ đó có thể thấy rằng làm thế nào để động viên tính tích cực của công giáo viên, tăng cường sự đồng cảm của họ đối với doanh nghiệp khiến họ có thái độ cộng tác tốt là một nhiện vụ có ý nghĩa sâu sa trong công tác quản lý nguồn nhân lực
Bốn là, mỗi người đều trưởng thành trong một môi trường nhất định nên trong họ đều mang theo những tập quán sinh hoạt, tâm lý, phẩm chất riêng hình thành trong quá trình trưởng thành cuả mỗi người Doanh nghiệp là một tổ chức có
Trang 24mục đích nhất định và do nhiều cá nhân hợp thành Để thực hiện mục đích của tổ chức doanh nghiệp phải xây dựng một quan niệm giá trị thống nhất, xây dựng những tập quán riêng có của doanh nghiệp Quan niệm giá trị và những tập quán thống nhất đó gọi là văn hoá của doanh nghiệp Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có nền văn hoá của mình, nhưng nếu nền văn hoá đó không được xây dựng một cách
có ý nghĩa và phù hợp với nhu cầu cạnh tranh cuả xã hội thì nó không những không thể thúc đẩy sự phát triển của xã hội mà sẽ trở thành ung nhọt gây tổn hại cho doanh nghiệp Nhiều người cùng làm việc với nhau tất nhiên sẽ có nhiều quan niệm giá trị khác nhau Những quan niệm giá trị đó sẽ xung khắc với nhau Nếu doanh nghiệp không có chính sách để dẫn dắt mọi người bằng những biện pháp thích hợp thì khó
có thể xây dựng được một nền văn hoá của doanh nghiệp có lợi cho sự thành công trong kinh doanh
Nguồn nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp
Nếu chúng ta phân tích giá trị của một hàng hoá nào đó thì phát hiện ra rằng
nó được cấu thành hai bộ phận chủ yếu có tính khác nhau bộ phận thứ nhất là giá trị chuyển dịch, bộ phận thứ hai là giá trị gia tăng Giá trị chuyển dịch là những yếu tố sản xuất mà chúng ta mua về trong quá trình tạo ra sản phẩm như vật liệu năng lượng khấu hao nhà xưởng,thiết bị Trong quá trình tạo thành giá trị cuả hàng hóa, giá trị những yếu tố sản xuất này không tăng thêm mà chỉ chuyển hóa giá trị vốn có của nó vào sản phẩm mới Do đó bộ phận này không tạo ra lợi nhuận Nhưng ý nghĩa của phần giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp lại hoàn toàn khác Đó là bộ phận chênh lệch giữa giá trị của hàng hoá với giá trị chuyển dịch Phần giá trị này
về cơ bản là do lao động sáng tạo ra Đó chính là nguồn gốc lợi nhuận của doanh nghiệp Giá trị gia tăng của doanh nghiệp càng cao thì lợi nhuận doanh nghiệp càng lớn mà muốn có giá trị gia tăng lớn thì phải dựa vào chất lượng và kết quả nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lược
Việc quản lý nguồn nhân lực có liên quan đến sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp.Cùng với sự hình thành của kinh tế tri thức, sự phát triển về kinh tế xã hội đã khiến cho vai trò của nguồn tài lực, vật lực, thể lực của người lao động bị suy giảm so với thời kỳ công nghiệp hoá và vai trò, tri thức của người lao
Trang 25động tăng lên Do đó, nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực có hiểu biết, tri thức khoa học kỹ thuật cao ngày càng là nguồn lực quan trọng nhất, có ý nghĩa chiến lược trong xã hội ngày nay, thậm chí còn trong thế kỷ sau
Nguồn nhân lực luôn là nguồn lực tích cực nhất, năng động nhất trong hoạt động kinh tế xã hội
Trước cuộc cách mạng công nghiệp và trong thời đại công nghiệp cơ khí lớn, đặc trưng chủ yếu của lao động là dựa vào thể lực Để đáp ứng nhu cầu xã hội tăng nên một cách nhanh chóng, người ta không thể không đầu tư những lượng lao động
có thể lực ngày càng lớn Nhưng thể lực của con người là có hạn Do đó trong thời
kỳ cách mạng công nghiệp, người ta đã tìm ra một vật có thể thay thế lao động thể lực nhằm mở rộng sản xuất, nâng cao năng suất lao động của doanh nghiệp Đó là tiền vốn và máy móc Do tiền vốn và máy móc có khả năng thay thế nhiều lao động thể lực nên trong thời kỳ cách mạng công nghiệp, mà tiêu biểu là sản xuất đại cơ khí, giá trị con người đã không được coi trọng Mặt khác, do lao động chủ yếu là lao động thể lực, quá trình lao động có nhìn thấy được, kết quả lao động có thể đo đếm được nên nhà quản lý có thể thông qua phương tiện giám sát và chỉ huy để thực hiện yêu cầu quản lý một cách hiệu quả, không cần dựa nhiều vào tính tích cực cuả người lao động Nhưng trong thời kỳ hậu công nghiệp và với sự hình thành của kinh
tế tri thức, vai trò của lao động thể lực đang dần dần bị lao động trí óc thay thế Do
đó tính chất của lao động đã thay đổi và phương thức quản lí cũng phải thay đổi
Trong thời đại của kinh tế tri thức lao động trí óc giữ vai trò cực kỳ quan trọng Người ta không thể nhìn thấy quá trình lao động như trước nữa, kết quả lao động không dễ gì đo đếm được Lao động trí óc là loại lao động mà máy móc không thể thay thế được( máy tính có thể vượt qua khả năng của trí óc con người về nhiều mặt nhưng hiện nay vẫn không thể thay thế trí óc) Do đó, phương thức quản lý dựa vào sự giám sát và chỉ huy nghiêm ngặt không có ý nghĩa nữa Nó đã bị thay thế bởi một phương thức quản lý chú trọng nhiều hơn đến tính nhân văn, một phương thức quản lý có khả năng kích thích tính chủ động, sáng tạo nhiều hơn và nhấn mạnh đến văn hoá tổ chức
Vì những lẽ trên, có thể kết luận rằng, đứng trước thách thức của thế kỷ mới, cần phải coi trọng ý nghĩa to lớn của nguồn nhân lực đối với toàn bộ đời sống kinh
Trang 26tế xã hội và sự tồn tại phát triển của doanh nghiệp, phải nhận thức và đối xử với việc quản lý nguồn nhân lực trên tầm cao chiến lược
Chúng ta phải đánh giá đúng thời đại của kinh tế tri thức, nhìn thẳng vào tương lai của doanh nghiệp để xem xét lại mô thức quản lý nguồn nhân lực, tính khoa học và tính hợp lý của sách lược quản lý nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nguồn lực vô tận
Xã hội không ngừng tiến lên, doanh nghiệp không ngừng phát triển và nguồn lực con người là vô tận Hơn nữa, chu trình sáng tạo cái mới thông qua lao động trí
óc sẽ ngày càng ngắn Sự phát triển của tri thức là vô tận và vịêc khai thác nguồn nhân lực cũng vô hạn
Khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển Năng lực học tập của con người không ngừng được nâng cao Đối với những người chịu khó học hỏi, năng lực chuyên môn của họ tất nhiên cũng không ngừng phát triển Do tốc độ đổi mới của tri thức ngày càng nhanh nên sau khi một sinh viên tốt nghiệp, những điều mà anh
ta học được trong nhà trường chưa hẳn đã có thể thích ứng hoàn toàn vớí nhu cầu nghề nghiệp đã thay đổi Cho nên, công tác giáo dục từ nay về sau, kể cả giáo dục đại học chỉ có thể coi là giáo dục tố chất con người, còn việc đào tạo và phát triển năng lực chuyên môn, có lẽ phải dựa vào việc đào tạo chuyên môn sau khi tốt nghiệp Do đó , doanh nghiệp không thể không gánh vác trách nhiệm không ngừng giáo dục công giáo viên và chỉ có làm tốt việc đào tạo và khai thác nguồn nhân lực doanh nghiệp mới có thể phát triển
Tất cả các doanh nghiệp đều là các tổ chức kinh tế xã hội, đều có mục đích
rõ ràng và bao giờ cũng dựa theo những thay đổi của hoàn cảnh để xác định chiến lược cho doanh nghiệp mình Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều do con người cụ thể hoàn thành Chính con người chứ không phải doanh nghiệp đã đề ra các chính sách, tạo ra những sản phẩm mới, tổ chức sản xuất, khai thác thị trường mới và phục vụ khách hàng có hiệu quả Do đó, chất lượng nhân lực đóng vai trò quyết định đến việc quản lý chất lượng nói chung
Nhân lực là nguồn lực quan trọng của mọi tổ chức Trong doanh nghiệp, mỗi một người lao động đều được giao đảm nhận những công việc nhất định và có chức
Trang 27danh nhất định Họ- mỗi người đều góp phần làm nên thành công trong mọi hoạt động của doanh nghiệp Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng mọi hoạt động của doanh nghiệp, nâng cao chất lượng nhân lực được xem là hoạt động không thể thiếu
Giải thưởng Nobel năm 1992 của giáo sư tiến sĩ Gary Backer do những thành tích của ông trong vấn đề xây dựng công trình khoa học mang tính lý thuyết
về “ vốn con người ’’ (The Human Capital) đã đề cập tới tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Ông cho rằng nếu chi tiền lâu dài cho một cá nhân hay một nhóm thì có thể nâng cao năng lực hoạt động của đối tượng và ông đề nghị: Các công ty nên tính toán phân chia hợp lý cho năng suất cao nhất Chi phí chăm sóc sức khỏe, giáo dục, đào tạo phải được xem như một khoản đầu tư quan trọng của doanh nghiệp
Nếu hoạt động vật chất của con người là sự tác động của con người vào đối tượng vật chất nhằm biến đổi đối tượng ấy và tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người và xã hội, thì hoạt động giáo dục-đào tạo tác động vào chính con người với tư cách là chủ thể của mọi hoạt động xã hội, nhằm biến đổi chủ thể đó thành con người có nhân cách Nhờ lĩnh hội được kinh nghiệm của xã hội ngày càng phong phú hơn, cao hơn mà trình độ con người ở thế hệ sau cao hơn thế hệ trước, do đó có sức mạnh thể chất và tinh thần của con người ngày càng tăng, khả năng tham gia vào hoạt động xã hội ngày càng lớn Hoạt động giáo dục đào tạo, trong đó đội ngũ giáo viên là lực lượng đóng vai trò nòng cốt là một hoạt động xã hội đặc thù- hoạt động tái sản xuất ra nhân cách và năng lực của con người (con người là chủ thể của mọi hoạt động xã hội) khi trực tiếp tham gia vào sự hình thành nhân cách con người, giáo dục bao hàm cả quá trình tự phát lẫn tự giác, trong đó quá trình tự giác đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người, giáo dục bao hàm cả quá trình tự giác và tự phát, trong đó quá trình tự giác đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách toàn diện, đào tạo con người, hình thành sức mạnh bản chất của con người để con người tham gia vào hoạt động xã hội
Trang 28Trong các đơn vị giáo dục và đào tạo nói riêng và trong sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo nói chung, đội ngũ giáo viên nắm giữ những vai trò vô cùng quan trọng:
1.2.1 Giáo viên là người góp phần trực tiếp, tích cực vào việc hình thành và
phát triển nhân cách cho học sinh, sinh viên
“Dạy người” hay “học lễ” là nhiệm vụ đầu tiên, quan trọng nhất, có tính tiên quyết của giáo dục- đào tạo tại Việt nam đối với học sinh- sinh viên, những chủ nhân tương lai của đất nước Dù học sinh-sinh viên có học giỏi, có kiến thức chuyên môn khoa học kỹ thuật cao đến đâu mà nhân cách đạo đức kém, động cơ lao động
và học tập mơ hồ, không đúng đắn…thì khó trở thành những con người hữu ích cho
xã hội Điều này phù hợp với truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta: coi trọng đạo đức, nhân cách con người Đảng và Nhà nước ta đòi hỏi phải đào tạo xây dựng đội ngũ cán bộ công chức “vừa hồng vừa chuyên”
Nhân cách, đạo đức của học sinh- sinh viên hình thành và phát triển như thế nào, tốt hay xấu chịu sự chi phối, tác động của nhiều nhân tố, nhiều lực lượng, tổ chức xã hội: gia đình, bạn bè, làng xóm, đoàn thể, môi trường sống…và nhà trường Trong suốt cuộc đời, con người chịu nhiều tác động của ba loại giáo dục: giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội Mỗi loại giáo dục này chi phối tác động đến con người ở một giai đoạn nhất định: giáo dục gia đình chủ yếu chi phối con người ở tuổi ấu thơ và một phần trong giai đoạn học đường; giáo dục nhà trường gắn với giai đoạn con người đang trưởng thành, đang đi học; giáo dục xã hội gắn với giai đoạn con người đã vào đời, đã trưởng thành Trong ba loại giáo dục này, giáo dục nhà trường đóng vai trò quyết định vì đây là giai đoạn nhân cách và tri thức con người mới hình thành, phát triển và dần dần được hoàn thiện Đây chính
là giai đoạn “trồng người”
Có nhiều cách thức, nhiều con đường để người thầy hình thành và hoàn thiện-phát triển nhân cách của học sinh-sinh viên Có thể thông qua việc “tự làm gương của chính người thầy” Có thể thông qua bằng chính trình độ chuyên môn cao, qua năng lực sáng tạo của người thầy Nói cách khác, người thầy phải làm sao
Trang 29cho người học tiếp nhận đầy đủ, sâu sắc tri thức khoa học kỹ thuật và công nghệ trên cơ sở một quan niệm, động cơ, nhân sinh quan đúng đắn, từ đó sáng tạo nên những sản phẩm, của cải…phục vụ cho xac hội
1.2.2 Giáo viên là người trực tiếp trang bị tri thức khoa học kỹ thuật và công
nghệ cho học sinh-sinh viên, từ đó góp phần tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước
Mỗi loại lao động xã hội đều tạo ra những sản phẩm với công dụng khác nhau trong đó lao động của người thầy tạo ra những con người, những chủ nhân tương lai của đất nước Lao động của người thầy là lao động đặc thù và đặc biệt quan trọng Đặc thù bởi lao động của người thầy không tạo ra của cải vật chất cụ thể, mà là tạo ra con người và chính những con người –sản phẩm lao động của người thầy lại tạo ra của cải vật chất Do đó, chất lượng, hiệu suất của cải làm ra phụ thuộc vào chính tri thức khoa học của người lao động- những người đã qua lao động sáng tạo của người thầy
Thực hiện chỉ thị số 40/CT-TW ngày 15-06-2004 của Ban Bí thư Trung ương về việc xây dựng và nâng cao đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, các trường đã quán triệt và xác định đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý là lực lượng nòng cốt trong việc duy trì và phát triển nhà trường, là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo Nhà trường phải coi trọng theo hướng chuẩn hóa việc xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đảm bảo chất lượng,
đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, đặc biệt nâng cao phẩm chất đạo đức, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, nâng cao năng lực đội ngũ đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục
Đối với đơn vị giáo dục trung học và dạy nghề, giáo dục nghề nghiệp có mục tiêu là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh
Trang 30Giáo dục nghề nghiệp nhằm đào tạo người lao động có kiến thức kỹ năng thực hành cơ bản một nghề, có khả năng làm việc độc lập và có tính sáng tạo, ứng dụng công nghệ vào công việc
Dạy nghề nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo
Đội ngũ giáo viên đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của các đơn vị giáo dục và đào tạo nói chung và trường trung học chuyên nghiệp
và dạy nghề nói riêng Hoạt động giảng dạy của người thầy trong trường Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề là truyền thụ kiến thức, hướng dẫn kỹ năng tay nghề, tạo lập nhân cách, cung cấp phương pháp tư duy…Qua hoạt động này người học lĩnh hội được những tri thức-kỹ năng-kỹ xảo theo mục tiêu giáo dục đã định Do đó người thầy phải tâm huyết với nghề, có nhân cách, có trình độ chuyên môn, tài năng
sư phạm và sử dụng thành thạo các thiết bị theo hướng hiện đại…
Cũng chính hoạt động của đội ngũ giáo viên trong đơn vị đào tạo là một hoạt động đặc thù, nó không chỉ đào tạo ra con người có trình độ chuyên môn và kỹ năng mà nó còn phát triển nhân cách, giáo dục cho con người có một ý tưởng cách mạng, có phẩm chất đạo đức chính trị, làm cho con người sống có ích không chỉ cho chính bản thân mình mà còn cho cả xã hội Hoạt động của đội ngũ giáo viên trong đơn vị đào tạo thực chất là giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng những yêu cầu cơ bản của sự nghiệp phát triển nền kinh tế đất nước nói chung và sự nghiệp giáo dục và đào tạo nói riêng Để hoạt động này có hiệu quả, thì bản thân đội ngũ giáo viên trong đơn vị đào tạo phải đảm bảo về chất lượng, được trang bị những yêu cầu cơ bản về: kiến thức, trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức-chính trị, có kỹ năng-nghiệp vụ, có bề dày kinh nghiệm và cả được trang bị cơ sở vật chất thiết bị phục vụ cho hoạt động của mình một cách hiện đại, tiên tiến, đủ về số lượng và có
sự phù hợp về cơ cấu loại hình nhân lực
Bản thân hoạt động của đội ngũ giáo viên trong đơn vị đào tạo là một hoạt động mang tính xã hội cao, sản phẩm của nó tạo ra có đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi của xã hội hay không, điều đó còn phụ thuộc vào môi trường xã hội vì sản
Trang 31phẩm của hoạt động này tạo ra phải có một quá trình tác động nhất định và phải có một môi trường nhất định mới khẳng định được Chẳng hạn hoạt động nghiên cứu khoa học hay sinh viên tốt nghiệp ra trường có trình độ kiến thức, kỹ năng hay không hay nói cách khác có đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi của xã hội hay không thì phải được thu hút sử dụng –tức có việc làm, có môi trường làm việc tốt,
có chính sách xã hội thích hợp…thì mới đánh giá được sản phẩm của hoạt động giáo dục cao hay thấp Như vậy, môi trường xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của hoạt động đội ngũ giáo viên trong các đơn vị đào tạo Môi trường xã hội ở đây bao gồm cả môi trường pháp luật, các chính sách xã hội: việc làm, thu nhập, trả công lao động…; gia đình, các tổ chức xã hội, đoàn thể…
Kết quả hoạt động cuối cùng của đội ngũ giáo viên là đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng và nhằm biến đổi nguồn nhân lực theo từng thời kỳ khác nhau cho phù hợp với yêu cầu khách quan của nền kinh tế Để tạo
ra một nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn nhất định và có một kỹ năng vững chắc thì phụ thuộc phần lớn vào đội ngũ giáo viên trong đơn vị đào tạo, tức là cần
có một đội ngũ những người làm công tác giảng dạy có trình độ chuyên sâu, có kỹ năng sư phạm, có một lòng nhiệt tình…cùng với các trang thiết bị cơ sở vật chất trong giáo dục mới tạo ra một kết quả nguồn nhân lực cao, có hiệu quả đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của sự phát triển nền kinh tế và quá trình hội nhập nền kinh tế
Nhưng hoạt động giáo dục- đào tạo là một hoạt động đặc thù như đã phân tích ở trên, nó đòi hỏi cần phải có một môi trường xã hội tốt như: chính sách xã hội
ưu tiên phát triển giáo dục- đào tạo, cần có sự quan tâm các cấp, ngành có liên quan, môi trường gia đình kết hợp…có như vậy mới tạo ra được đội ngũ giáo viên vừa có tính năng động xã hội vừa có nhân cách hoàn chỉnh có khả năng tham gia vào đời sống xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển Chất lượng đội ngũ giáo viên trong đơn vị đào tạo quyết định đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực nói chung của quốc gia Chất lượng nguồn nhân lực nói chung liên quan đến nhiều vấn đề như: đảm bảo dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe, giáo dục- đào tạo và các mối quan hệ khác, trong đó giáo dục và đào tạo có vai trò quyết định Nói một cách khác việc
Trang 32đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho quốc gia (vùng lãnh thổ) chỉ có thể thực hiện được bởi đội ngũ giáo viên trong các đơn vị giáo dục- đào tạo Những lực lượng này là người trực tiếp kết hợp các yếu tố khác (cơ sở vật chất, trang thiết bị…) để đào tạo ra đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn cao từ công nhân kỹ thuật cho đến đại học và sau đại học cho xã hội
Ở nước ta để có một nguồn nhân lực vừa đảm bảo về số lượng, chất lượng đáp ứng những yêu cầu đòi hỏi cao của sự phát triển kinh tế- xã hội, của sự hội nhập kinh tế quốc tế, thì nguồn nhân lực nói chung ở nước ta phải được đào tạo theo một quy trình nhất định (dù đào tạo chính quy hay tại chức hay dưới dạng hình thức khác), hay nói cách khác để nguồn nhân lực nói chung có một trình độ chuyên môn nhất định thì phụ thuộc phần lớn vào đội ngũ giáo viên trong các đơn vị đào tạo Chiến lược phát triển giáo dục của Việt Nam 2001-2010 đã định hướng cho phát triển nguồn nhân lực Việt Nam với mục tiêu “ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học, công nghệ trình độ cao, cán bộ quản
lý kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế (GD VN thập niên đầu thế kỷ 21)
1.3 BẢN CHẤT VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CỦA ĐƠN VỊ ĐÀO TẠO
Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, chất lượng đội ngũ giáo viên có ý nghĩa quyết định sự phát triển bền vững của nhà trường Đội ngũ giáo viên là lực lượng trung tâm trong sự nghiệp giáo dục, giữ vai trò quyết định việc thực hiện mục tiêu
và kế hoạch đào tạo của nhà trường
Chất lượng của đội ngũ giáo viên trong nhà trường được quyết định bởi chất lượng từng thành viên và mối quan hệ tương tác giữa các thành viên cùng hoạt động trong một môi trường làm việc tích cực với sự quản lý đội ngũ giáo viên có hiệu quả
Chất lượng đội ngũ giáo viên được thể hiện qua các tiêu chí sau:
Về phẩm chất:
Trang 33- Thế giới quan khoa học: Thế giới quan của nhà giáo chi phối nhiều mặt hoạt động cũng như thái độ đối với các mặt hoạt động đó, như việc lựa chọn nội dung và phương pháp giảng dạy và giáo dục; việc kết hợp giữa giáo dục với nhiệm vụ chính trị, xã hội; việc gắn nội dung giáo dục, giảng dạy với thực tiễn đời sống,, cũng như phương pháp xử lý và đánh giá các biểu hiện tâm lý của học sinh (Mạc Văn Trang- Quản lý nhân lực trong giáo dục, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, Hà Nội)
- Lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ: Lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ là hạt nhân trong cấu trúc nhân cách nhà giáo Đó là “ngôi sao dẫn đường” cho mọi hoạt động tích cực của nhà giáo, giúp họ thấy được giá trị lao động của mình,
tự hào và có trách nhiệm, lương tâm nghề nghiệp…
- Lòng yêu mến học sinh, sinh viên: Nghề dạy học đòi hỏi tính nhân đạo thể hiện ở sự yêu mến, cảm thông, tôn trọng, có trách nhiệm với học sinh Tình yêu và sự tôn trọng là cơ sở của sự giao tiếp ứng xử đúng đắn, có trách nhiệm với các em, “tất cả vì học sinh thân yêu” là động lực cho những cảm hứng, tìm tòi, sáng tạo phương pháp, nghệ thuật giáo dục, giảng dạy…(Mạc Văn Trang- Quản lý nhân lực trong giáo dục, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, Hà Nội)
- Lòng yêu nghê: Yêu người và yêu nghề dạy học gắn liền với nhau Nghề dạy học có mức độ tự do, sáng tạo cá nhân, trách nhiệm cá nhân cao Do vậy, chỉ có say mê nghề nghiệp mới thúc đẩy tính tự giác, tích cực học hỏi, rèn luyện để không ngừng nâng cao phẩm chất và năng lực nghề nghiệp đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của xã hội (Mạc Văn Trang- Quản lý nhân lực trong giáo dục, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, Hà Nội)
Về năng lực:
Đội ngũ giáo viên trong nhà trường phải đạt trình độ đào tạo chuẩn do Bộ giáo dục và đào tạo quy định; hiểu biết tình hình chung của đất nước, tình hình văn hóa xã hội và nghề nghiệp ở địa phương, thực hiện chương trình bồi dưỡng thường
Trang 34xuyên về văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ, không ngừng nâng cao năng lực để dạy tốt môn mình phụ trách, đáp ứng được yêu cầu phân hóa môn học, tham gia các hoạt động giáo dục, có năng lực tổ chức phối hợp hoạt động giáo dục giữa trường học, gia đình và các lực lượng xã hội
Một số năng lực cụ thể của giáo viên trong nhà trường như:
- Tri thức và tầm hiểu biết của giáo viên: Đòi hỏi văn hóa chung rộng và kiến thức, kỹ năng chuyên sâu về môn mình giảng dạy; đồng thời có khả năng tự học, tự nghiên cứu, không ngừng bổ xung hoàn thiện vốn tri thức
để đáp ứng yêu cầu ngày một cao và mới cho học sinh
- Năng lực ngôn ngữ và giao tiếp sư phạm: Đó là năng lực biểu đạt rõ ràng mạch lạc ý nghĩa và tình cảm của mình bằng lời nói cũng như nét mặt, điệu bộ, thể hiện trong việc xử lý các mối quan hệ thường ngày cũng như trong hoạt động sư phạm
- Năng lực hiểu biết và cảm hóa học sinh; Năng lực hiểu học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục; năng lực gây được ảnh hưởng trực tiếp của mình đến học sinh về mặt tình cảm và ý chí, hướng dẫn học sinh đạt được những mục tiêu cụ thể trước mắt Nói cách khác, làm cho các em nghe, tin và làm theo mình bằng tình cảm và cả niềm tin
- Năng lực giảng dạy: Đó là năng lực chế biến tài liệu học tâp, thiết kế bài giảng sao cho phù hợp chương trình, sát hợp với người học để bài giảng đạt hiệu quả cao; Đó là năng lực tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của người học trong quá trình tiếp nhận bài giảng Quá trình này đòi hỏi nhà giáo không chỉ nắm được những nguyên tắc, phương pháp dạy học nói chung mà còn phải nắm vững thành thạo những kỹ năng, kỹ thuật, công nghệ cụ thể trong quá trình tiến hành dạy học
- Năng lực tổ chức hoạt động giáo dục: Là năng lực tổ chức xây dựng tập thể học sinh, hướng dẫn học sinh tiến hành có hiệu quả nhiều hoạt động khác: hoạt động xã hội, nghiên cứu khoa học, sinh hoạt tập thể, các hoạt động giáo dục chuyên biệt…
Trang 35Giáo viên là những người đã qua một quá trình đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn nhất định, đủ điều kiện (tiêu chuẩn) được giao nhiệm vụ giảng dạy ở một lĩnh vực khoa học nào đó tương ứng với trình độ được đào tạo
1.3.1 Phương pháp đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên hiện có tại cơ sở đào
tạo thuần túy theo kết quả điều tra, khảo sát và so sánh với chuẩn
Trong kinh tế thị trường, đơn vị đào tạo cũng cần có hiệu quả kinh tế cao, bền vững, nghĩa là đơn vị cũng cần đầu tư thỏa đáng cho việc đảm bảo môi trường
và mặt chính trị- xã hội Chỉ khi có môi trường chính trị-xã hội, môi trường tự nhiên, môi trường lao động ổn định tốt thì doanh nghiệp mới duy trì, phát triển được hoạt động kinh doanh, đạt được hiệu quả kinh tế cao bền vững Để đạt được hiệu quả kinh tế cao bền vững đơn vị lại càng phải có đội ngũ giáo viên và cán bộ quản
lý giáo dục mạnh, đồng bộ Theo GS.TS kinh tế Đỗ Văn Phức: Chất lượng đội ngũ
giáo viên trong các đơn vị giáo dục và đào tạo quyết định chất lượng của các yếu
tố đầu vào, chất lượng của các sản phẩm trung gian, chất lượng của các sản phẩm đầu ra, khả năng cạnh tranh của sản phẩm đầu ra và hiệu quả kinh doanh của đơn vị
a Đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên về mặt toàn bộ
- Số lượng thực tế - số lượng nhu cầu
- Số lượng thực tế/số lượng nhu cầu x100%
b Đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên của các đơn vị đào tạo trên cơ
sở kết quả khảo sát mức độ đáp ứng tiêu chuẩn
Bảng 1.1 Mẫu bảng đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên của các đơn vị đào
tạo trên cơ sở kết quả khảo sát mức độ đáp ứng tiêu chuẩn
Trang 361.3.2 Phương pháp đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên của các đơn vị giáo
dục và đào tạo bằng cách: đo lường theo các tiêu chuẩn- so với mức chuẩn của từng tiêu chuẩn – đưa ra mức độ đạt chuẩn
a Đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên đơn vị đào tạo theo cơ cấu giới tính:
Số lượng và % của nam và nữ thực có; so sánh với cơ cấu (%) theo chuyên gia
tư vấn để đánh giá chất lượng:
Bảng 1.2 Mẫu bảng đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên đơn vị đào tạo
theo cơ cấu giới tính:
Theo giới tính Số lượng
năm 200…
Cơ cấu (%)
Cơ cấu theo chuyên gia
Đánh giá mức
độ đáp ứng
Nam
Nữ
b Đánh giá lượng đội ngũ giáo viên đơn vị đào tạo về cơ cấu khoảng tuổi:
Số lượng và % của cao, trung, trẻ tuổi thực có; so sánh với cơ cấu chuyên gia tư vấn để đánh giá chất lượng
Bảng 1.3 Mẫu bảng đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên đơn vị đào tạo
theo cơ cấu khoảng tuổi:
Theo khoảng tuổi Số lượng
năm 200…
Cơ cấu (%)
Cơ cấu theo chuyên gia
Trang 37Lấy số liệu từ bảng tổng hợp tình hình được đào tạo đội ngũ giáo viên của đơn
vị đào tạo tính số lượng và % thực có theo trình độ ngành nghề; so sánh với cơ cấu (
%) theo chuyên gia tư vấn để đánh giá chất lượng:
Bảng 1.4 Mẫu bảng so sánh đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên
Đơn vị đào tạo theo chuyên gia tư vấn
Được đào tạo
Số lượng năm 200…
Cơ cấu (%)
Cơ cấu theo chuyên gia
Đánh giá mức độ đáp ứng
Để có các dữ liệu, tính toán, so sánh đánh giá trước hết cần lập phiếu xin ý kiến, chọn mẫu (đối tượng xin ý kiến và quy mô); Tổng hợp, xử lý, tính toán, sử dụng kết quả xin ý kiến Theo chúng tôi để đánh giá chất lượng công tác của đội ngũ giáo viên ta sử dụng các tiêu chí sau:
- Hoàn thành công việc đạt 75 đến 100%
Trang 38- Hoàn thành công việc đạt 50 đến 74%
- Không hoàn thành công việc
1.3.3 Phương pháp đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên của đơn vị đào tạo
bằng cách điều tra, phân tích chất lượng các công việc được phân công đảm nhiệm
Để có các dữ liệu, tính toán, so sánh đánh giá trước hết cần lập phiếu xin ý kiến, chọn mẫu (đối tượng xin ý kiến và quy mô); Tổng hợp, xử lý, tính toán, sử dụng kết quả xin ý kiến Theo chúng tôi để đánh giá chất lượng công tác của đội ngũ giáo viên ta sử dụng các tiêu chí sau:
- Mức độ sai lỗi đáng kể, thường xuyên;
- Mức độ sai lỗi đáng kể, không thường xuyên;
- Mức độ sai lỗi nhỏ, không thường xuyên;
- Không sai lỗi;
Trên thực tế rất khó có được số liệu thống kê chính thức về các tiêu chí nêu ở trên Do đó chúng ta cần xin ý kiến của những người trong cuộc, am hiểu, tâm huyết- nguồn số liệu thống kê không chính thức Trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp và nếu được tổ chức tốt thì chúng ta có thể chọn mẫu điều tra: 15-25 phiếu của bản thân những người thuộc đội ngũ giáo viên của đơn vị đào tạo, 15-25 phiếu của cấp trên đơn vị đào tạo và 15-25 phiếu của những người chịu tác động của đội ngũ giáo viên đơn vị đào tạo Sau khi có được các kết quả điều tra (xin ý kiến) chúng ta nên tổng hợp kết quả theo tổng loại đối tượng, xem xét mức độ khác nhau giữa chúng Tiếp theo cần tổng hợp kết quả của 3 loại
Tiếp theo cần so sánh kết quả điều tra với mức chấp nhận được, mức trung bình thực tế của các đơn vị đào tạo cùng ngành và mức độ của đơn vị đào tạo cùng loại thành đạt để đánh giá Trong lãnh đạo, quản lý không thể không có chậm trễ, sai lầm (yếu kém) chỉ khác nhau ở mức độ (tỷ lệ %) Khi chưa có mức chuẩn để so sánh có thể so với mức độ chấp nhận được trình bày ở bảng 1.5 sau:
Trang 39Bảng 1.5 Mức dộ đạt chuẩn cho phép về chất lượng đội ngũ giáo viên
trong dơn vị đào tạo Việt nam
Biểu hiện về chất lượng công tác Giai đoạn
2006-2010 2011-2015 2016-2020
Sai lỗi đáng kể thường xuyên 1.5 1.0 0.5 Sai lỗi đáng kể không thường xuyên 2.5 2.0 1.5 Sai lỗi nhỏ không thường xuyên 7.5 5.0 3.0
Chất lượng nhân lực của đơn vị đào tạo phải được xem xét, đánh giá bằng cách xem xét phối hợp kết quả đánh giá từ ba cách tiếp cận: mức độ đạt chuẩn, chất lượng công việc và hiệu quả hoạt động của cả tập thể
Bảng 1.6 Các nội dung đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên trong nhà trường
1 Mức độ đáp ứng nhu cầu toàn bộ 1-5
2 Mức độ đáp ứng nhu cầu về cơ cấu chuẩn giới tính 1-3
3 Mức độ đáp ứng nhu cầu về cơ cấu khoảng tuổi 1-2
4 Mức độ đáp ứng nhu cầu về cơ cấu ngành nghề trình độ 5-20
5 Mức độ đáp ứng yêu cầu trình độ theo kết quả khảo sát 7-20
6 Mức độ đạt chất lượng công tác 10-30
7 Chất lượng đội ngũ giáo viên theo thông tin phản hồi về chất lượng
sản phẩm của đơn vị đào tạo
5-20
Sau khi nghiên cứu đánh giá từng mặt chất lượng đội ngũ giáo viên của các đơn vị giáo dục và đào tạo ta cần đi đến kết luận cuối cùng, cần định lượng kết quả đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên trong nhà trường bằng điểm Theo đề tài NCKH cấp bộ B2005-28-182 do GS.TS Đỗ Văn Phức làm chủ nhiệm có ba rem tính điểm trên đây
Trang 40Sau khi cho điểm các mặt và cộng lại nếu
Đạt từ 75 đến 100 điểm : xếp loại A Đạt từ 50 đến 74 điểm : xếp loại B Đạt dưới 50 điểm :xếp loại C
1.4 CÁC NHÂN TỐ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRONG ĐƠN VỊ ĐÀO TẠO
Nói đến nhà trường là nói đến hai lực lượng: người học (học sinh, sinh viên, học viên) và người dạy (giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục, người phục vụ giáo dục) Nếu như lực lượng thứ nhất, người học là trọng tâm của nhà trường thì lực lượng thứ hai, người dạy là lực lượng quyết định nội dung, chất lượng của người học, của quá trình giáo dục và đào tạo Do vậy, để nâng cao chất lượng đào tạo trước hết phải lưu ý đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Trong trường hợp này các đơn vị nhà trường phải có các biện pháp cụ thể trong việc quản lý đội ngũ giáo viên Quản lý đội ngũ giáo viên là hoạt động bao gồm tuyển chọn, sử dụng, duy trì, động viên, phát triển và tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên làm việc
có hiệu quả, nhằm đạt được những mục tiêu của nhà trường, đồng thời cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của họ ngày một tốt hơn
Sản phẩm của quá trình đào tạo, hay nói cách khác đầu ra trong quá trình đào tạo là người lao động Để người lao động đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động thì các yếu tố đầu vào phải tốt, trong đó chất lượng, năng lực và trình độ của đội ngũ giáo viên là điều kiện tiên quyết
Chất lượng đội ngũ giáo viên của đơn vị đào tạo có thể do nhiều yếu tố tạo nên, ảnh hưởng Sau đây là những nhân tố chủ yếu tác động đến chất lượng đội ngũ giáo viên và đồng thời cũng là phương hướng để có thể nâng cao chất lượng của đội ngũ này
- Mức độ sát đúng của kết quả xác định nhu cầu và mức độ hợp lý của công tác tuyển dụng
- Mức độ hợp lý của việc phân công giảng dạy