1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại việt nam liên bang nga

126 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ KINH TẾ - THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ 1.1 Tổng quan về quan hệ quốc tế 1.1.1 Khái niệm và vài trò của quan hệ quốc tế Về cơ bản, quan hệ quốc tế là tổng thể c

Trang 1

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM

THÚC ĐẨY QUAN HỆ KINH TẾ - THƯƠNG MẠI

VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-

LÊ VÂN HÀ

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC

ĐẨY QUAN HỆ KINH TẾ - THƯƠNG MẠI

VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA

Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh

LUẬN VĂN THẠC SỸ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Trần Thị Thanh Hồng

Trang 3

CHƯƠNG I Cơ sở lý luận về quan hệ kinh tế - thương mại và đầu tư quốc tế 6

1.1 Tổng quan về quan hệ quốc tế 6

1.1.1 Khái niệm và vài trò của quan hệ quốc tế 6

1.1.2 Đặc điểm của quan hệ quốc tế 6

1.1.3 Vai trò của việc nghiên cứu quan hệ quốc tế 8

1.1.4 Hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá 9

1.2 Quan hệ kinh tế - thương mại quốc tế 17

1.2.1 Thực chất của thương mại quốc tế 17

1.2.2 Các hình thức quan hệ kinh tế - thương mại quốc tế 24

d Các trường hợp áp dụng Điều ước quốc tế 26

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả quan hệ kinh tế - thương mại 35

CHƯƠNG II Phân tích kết quả quan hệ kinh tế - thương mại Việt - Nga trong những năm gần đây 39

2.1 Khái quát chung về quan hệ Việt - Nga trong những năm qua 39

2.1.1 Lịch sử quan hệ Việt Nam - Nga trong những năm 1990 và đầu thế kỷ 21 39

2.1.2 Những đặc điểm tình hình của mỗi nước có ảnh hưởng đến quan hệ kinh tế - thương mại 43

2.2 Thực trạng quan hệ kinh tế - thương mại Việt - Nga 62

2.2.1 Giai đoạn chuyển đổi tính chất quan hệ (1991 – 1994) 63

2.2.2 Giai đoạn phục hồi và xây dựng cơ sở quan hệ mới (1994 – 2000) 66

2.2.3 Giai đoạn tăng cường quan hệ trên cơ sở đối tác chiến lược (từ 2000 đến nay) 71

2.3 Phân tích kết quả quan hệ song phương 82

2.3.1 So sánh giữa các thời kỳ 82

2.3.2 So sánh với một số quốc gia khác 88

2.4 Tồn tại 92

2.5 Nguyên nhân của tồn tại 93

CHƯƠNG III Một số giải pháp phát triển quan hệ kinh tế - thương mại Việt - Nga 97

3.1 Chính sách của Nga đối với Việt Nam trong thời gian tới 97

3.2 Chính sách của Việt Nam đối với Nga trong thời gian tới 99

3.2.1 Phương châm 99

3.2.2 Những định hướng lớn và các biện pháp tăng cường quan hệ Việt - Nga 100

3.3 Một số giải pháp tăng cường quan hệ Việt - Nga 104

3.3.1 Đối với cấp Nhà nuớc 104

3.3.2 Đối với các Bộ, ngành 108

3.3.3 Đối với các doanh nghiệp 112

Kết luận

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MERCOSUR Khối thị trường chung Nam Mỹ

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế 46

Bảng 2.2 Biểu đồ kim ngạch ngoại thương Việt Nam – Nga

giai đoạn 1992 - 1994 66

Bảng 2.3 Kim ngạch thương mại giữa Việt Nam – Liên bang Nga

giai đoạn 1995 - 1999 69

Bảng 2.4 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Nga và EU 70

Bảng 2.5 Kim ngạch thương mại Việt Nam và Liên bang Nga

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế và

thị trường của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực

tự do hoá và mở cửa trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương

Thực chất HNKTQT đối với một quốc gia là việc quốc gia đó thực hiện chính

sách kinh tế mở, tham gia các định chế kinh tế - tài chính quốc tế, thực hiện tự

do hoá thương mại, đầu tư cũng như các yếu tố sản xuất khác như công nghệ,

lao động, Trong những năm gần đây, Việt Nam đang tích cực đổi mới trong

quan hệ hợp tác thương mại và đầu tư với các quốc gia và đã thu được nhiều

kết quả rất khả quan, giúp nền kinh tế nước nhà phát triển vượt bậc Nghị

quyết 01 của Bộ Chính trị về mở rộng và nâng cao hiệu quả các hoạt động

kinh tế đối ngoại chỉ rõ: “Đa phương hoá, đa dạng hoá hoạt động kinh tế đối

ngoại nhưng có trọng tâm, trọng điểm, khai thác lợi thế so sánh của ta và vận

dụng xu thế phát triển của thế giới, tạo được nhiều thị trường ổn định, chú

trọng những thị trường lớn”

Liên bang Nga là quốc gia Âu –Á trải dài trên hai châu lục, có diện tích

17,075 triệu km2 (bằng 1,8 lần diện tích nước Mỹ) Do tác động của các biến

cố chính trị to lớn tại châu Âu sau Chiến tranh Lạnh, sự tan rã của Liên bang

Xô Viết và phe xã hội chủ nghĩa, trong hơn một thập kỷ nước Nga lâm vào

khủng hoảng kinh tế, chính trị và xã hội sâu sắc Tuy nhiên, từ năm 2000,

dưới sự lãnh đạo của cựu Tổng thống Pu-tin, nước Nga từng bước thoát khỏi

khủng hoảng kinh tế, lập lại ổn định chính trị và cải thiện vị thế quốc tế

Liên bang Nga là nước bạn truyền thống của Việt Nam, trước đây là

đồng minh chiến lược, nay là đối tác chiến lược (từ tháng 3/2001) Phát triển

và tăng cường quan hệ với Nga là yêu cầu chiến lược, là một trong những

Trang 7

Việt Nam và Liên bang Nga đã tìm thấy ở nhau những điều kiện thuận

lợi, cũng như lợi ích kinh tế của mỗi nước khi xây dựng, phát triển và củng cố

mối quan hệ hợp tác song phương Thời gian qua, quan hệ hợp tác giữa hai

nước phát triển tích cực, tuy nhiên sự hợp tác trên nhiều lĩnh vực còn chưa

tương xứng với tiềm năng và yêu cầu của hai nước Việc nghiên cứu những

thành tựu và những mặt tồn tại đó là rất cần thiết Vì vậy, tác giả đã mạnh dạn

lựa chọn đề tài: “Phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc

đẩy quan hệ kinh tế - thương mại Việt Nam – Liên bang Nga”

2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

- Mục đích: Phân tích thực trạng quan hệ kinh tế - thương mại Việt

Nam - Nga Tìm ra những mặt mạnh, yếu, cũng như nguyên nhân của nó để từ

đó đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện quan hệ kinh tế - thương mại

- Phạm vi của đề tài: Quan hệ kinh tế - thương mại song phương

3 Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp duy vật

biện chứng Phương pháp khảo sát thực tế, thống kê, so sánh, phân tích, tổng

hợp…

4 Kết cấu của luận văn được trình bày trong ba chương:

Chương I Cơ sở lý luận về quan hệ kinh tế - thương mại quốc tế

Chương II Phân tích thực trạng trong quan hệ kinh tế - thương mại

Việt - Nga trong thời gian qua

Chương III Một số giải pháp phát triển quan hệ kinh tế - thương mại

Việt - Nga

Trang 8

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ KINH TẾ -

THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ 1.1 Tổng quan về quan hệ quốc tế

1.1.1 Khái niệm và vài trò của quan hệ quốc tế

Về cơ bản, quan hệ quốc tế là tổng thể các quan hệ giữa các quốc gia

với nhau trong cuộc đấu tranh vì lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp trên phạm

vi toàn thế giới

Về cụ thể, quan hệ quốc tế biểu hiện qua các giao tiếp, giao dịch, các

tương tác (tức các hoạt động có ảnh hưởng qua lại) trên phạm vi xuyên quốc

gia, thể hiện qua sự hợp tác và đấu tranh trên mọi lĩnh vực chính trị, quân sự,

kinh tế, văn hóa - xã hội giữa các quốc gia, nhằm thực hiện các lợi ích về kinh

tế, an ninh, chính trị, văn hóa - xã hội Quan hệ quốc tế có thể biểu hiện trên

các lĩnh vực trao đổi hoặc cạnh tranh, hợp tác hoặc xung đột trong mọi lĩnh

vực, trên quy mô song phương hoặc đa phương, khu vực hoặc quốc tế, liên

chính phủ hoặc phi chính phủ

Về mặt tính chất, quan hệ quốc tế thể hiện sự hợp tác hoặc đấu tranh

giành lợi ích - lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp, lợi ích của nhóm người khác

nhau trong các xã hội trên thế giới Tính chất giai cấp của một hoạt động quốc

tế thể hiện ở việc xác định lợi ích, mục đích cụ thể, cách tiếp cận và phương

pháp xử lý mối quan hệ đó

Quan hệ quốc tế đã phát triển qua nhiều thời kỳ lịch sử, và trong mỗi

thời kỳ lại có các giai đoạn phát triển nhất định Nhìn vào lịch sử, đã xuất hiện

quan hệ quốc tế thời cổ đại, quan hệ quốc tế kiểu phong kiến, quan hệ quốc tế

tư bản chủ nghĩa, quan hệ quốc tế xã hội chủ nghĩa, quan hệ quốc tế trong thời

đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội

1.1.2 Đặc điểm của quan hệ quốc tế

Quan hệ quốc tế là kết quả của sự đấu tranh và hợp tác giữa các quốc

Trang 9

lợi ích chung của loài người Do đó, quan hệ quốc tế trước hết và chủ yếu là

sự giao lưu, sự tác động qua lại giữa các cách tiếp cận của các nước đối với

các vấn đề quốc tế, tức là sự tác động qua lại của việc thực hiện chính sách

đối ngoại của các nước

Các quốc gia là chủ thể độc lập

Mỗi quốc gia là một thực thể chính trị độc lập, có lãnh thổ, chủ quyền

và lợi ích dân tộc riêng, mà theo luật pháp và thông lệ quốc tế thì không ai

được xâm phạm Hành động quốc tế của mỗi quốc gia xuất phát từ nhiều yếu

tố như việc xác định lợi ích quốc gia và sức mạnh quốc gia, vai trò và vị trí

của nước đó trên trường quốc tế, và cơ bản là do lợi ích của giai cấp cầm

quyền hay liên minh của giai cấp cầm quyền nước đó quyết định

Các quốc gia chịu sự phụ thuộc lẫn nhau

Trong quan hệ quốc tế tính độc lập và tự do hành động của mỗi quốc

gia cũng luôn bị tác động bởi các nhân tố bên ngoài Các quốc gia còn phụ

thuộc lẫn nhau về mọi mặt kinh tế, an ninh để duy trì sự tồn tại và phát triển

Sự phụ thuộc lẫn nhau bắt nguồn từ việc phân bổ tài nguyên không đồng đều,

sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia trong lĩnh vực kinh tế, khoa

học - kỹ thuật và còn do đường lối chính trị của mỗi quốc gia Khi nghiên cứu

về sự phụ thuộc lẫn nhau, có cách nhìn toàn diện, không chỉ trên một vài lĩnh

vực, không chỉ trên bình diện song phương hoặc một số nước, mà phải nhìn

tổng thể trên mọi lĩnh vực và mọi hệ thống quốc tế Sự phụ thuộc lẫn nhau là

một trong các nhân tố cơ bản tạo dựng luật chơi trong quan hệ quốc tế, tác

động trực tiếp đến cung cách ứng xử của các quốc gia trong quan hệ quốc tế

Vai trò của các trung tâm quyền lực

Về nguyên tắc, các nước lớn nhỏ đều là bình đẳng trong quan hệ quốc

tế Nhưng trên thực tế, các nước lớn, nhất là các nước siêu cường luôn luôn

đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế Các siêu

Trang 10

cường, các nước lớn là các nước có sức mạnh kinh tế, quân sự, có ảnh hưởng

lớn trên thế giới

Tính chất hòa giải của các cơ quan quốc tế

Để điều hành quan hệ trong một quốc gia, giai cấp cầm quyền thiết lập

nên bộ máy chuyên chính để ắp đặt ý chí của mình Trong quan hệ quốc tế,

các cơ quan điều hành quốc tế phần lớn chỉ có vai trò giải hòa Hòa giải chỉ

đuợc thực hiện khi có sự thỏa hiệp về quyền lợi trong các bối cảnh cụ thể, và

sự thỏa hiệp đó phần nhiều phụ thuộc vào so sánh lực lượng và tính phụ thuộc

lẫn nhau trong các tình huống cụ thể Sẽ không có hòa giải thực sự khi áp đặt

thực lực và sử dụng sức mạnh để giải quyết quan hệ quốc tế

Xu hướng dân chủ hóa trong quan hệ quốc tế

Trong tám mươi năm qua, quan hệ quốc tế không ngừng phát triển và

biến đổi theo hướng dân chủ hóa và phát triển Xu hướng dân chủ thể hiện ở

số chủ thể tăng, kể cả các chủ thể phi chính phủ, cả xã hội dân chủ Ngòai ra,

sự phụ thuộc lẫn nhau về mọi mặt, sự tác động qua lại giữa các nhân tố, các

vấn đề, lĩnh vực trong quan hệ quốc tế cũng làm giảm tính đơn phương, độc

quyền Tuy nhiên, dân chủ hóa đến mức nào, ở đâu, ở vấn đề gì còn phụ thuộc

ở tính chất, quy mô, tầm quan trọng của vấn đề và so sánh lực lượng cụ thể ở

mỗi giai đoạn

1.1.3 Vai trò của việc nghiên cứu quan hệ quốc tế

- Để phục vụ việc hoạch định chính sách quốc gia

Quan hệ quốc tế là các trao đổi, tác động qua lại trên mọi lĩnh vực giữa

các chủ thể khác nhau của hệ thống thế giới Quan hệ quốc tế có thể có quy

mô khu vực hoặc quy mô toàn cầu, có tính chất đa phương hoặc song phương

Số lượng, vai trò, quy mô, tính chất và tác động của các vấn đề trong quan hệ

quốc tế luôn luôn biến động và diễn ra ngày càng đa dạng, phức tạp Những

biến động thuộc nội dung của quan hệ quốc tế xưa nay phần lớn là kết quả của

Trang 11

quốc gia theo những cung cách nhất định Như vậy, tùy từng thời gian, thời

điểm của lịch sử quan hệ quốc tế, nội dung và tính chất cụ thể của quan hệ

quốc tế trên mọi lĩnh vực, mọi quy mô đều bắt nguồn từ các chính sách đối

ngoại do các quốc gia khác nhau thực hiện Từ quan hệ quốc tế, có thể hiểu

những đường lối chính trị của các quốc gia, cũng như các nhân tố kinh tế, an

ninh và văn hóa – xã hội của các quốc gia đó Nhận thức được các điều trên sẽ

làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách quốc gia, cả chính sách đối nội và

đối ngoại

- Để đấu tranh cho tiến bộ xã hội

Việc nghiên cứu quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại các nước giúp

cho việc nhận thức các phương thức hành động của các quốc gia và các tổ

chức chính trị, xã hội, mà qua đó, tìm ra các nhân tố tích cực để ủng hộ và các

nhân tố tiêu cực để đấu tranh vì lợi ích của dân tộc và của nhân loại, vì tương

tri con người và cuộc sống lâu dài trên trái đất

- Nghiên cứu quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại các nước là một

khâu của quá trình nghiên cứu khoa học chính trị, nghiên cứu về lý luận khoa

học nhân văn và quan hệ quốc tế

1.1.4 Hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá

1.1.4.1 Khái niệm

Thuật ngữ tiếng Anh để chỉ khái niệm hội nhập được sử dụng phổ biến

và tương đối thống nhất trên thế giới là Intergration Song, cũng như toàn cầu

hoá kinh tế, do mục đích nghiên cứu khác nhau, do xuất phát từ các góc độ

khác nhau nên có nhiều quan niệm khác nhau về hội nhập

Theo các nhà nghiên cứu trên thế giới, có 3 cách tiếp cận với thuật

ngữ Intergration:

Cách tiếp cận thứ nhất: thuộc về phái theo tư tưởng liên bang, quan

niệm Intergration là một sản phẩm cuối cùng hơn là một quá trình Sản phẩm

Trang 12

đó là sự hình thành một nhà nước liên bang kiểu Hoa Kỳ hay Thuỵ Sỹ Những

người theo phái này chủ yếu quan tâm tới khía cạnh luật định và thể chế

Cách tiếp cận thứ hai (gắn với Karl W Deutsch): xem Intergration

trước hết là sự liên kết các quốc gia thông qua sự phát triển các luồng giao lưu

như thương mại, thư tín, du lịch, di trú…, từ đó hình thành các cộng đồng an

ninh (Security Community) Theo Deutsch, có 2 loại cộng đồng an ninh: loại

cộng đồng an ninh hợp nhất (Amalgamated Security Community) như kiểu

Hoa Kỳ và loại cộng đồng an ninh đa nguyên kiểu Tây Âu và Bắc Mỹ Cách

tiếp cận này cho rằng, Intergration là một quá trình thể hiện sự tiến triển các

luồng giao lưu, đồng thời sản phẩm cuối cùng (thể hiện sự ra đời của cộng

đồng an ninh)

Cách tiếp cận thứ ba: thuộc về những người theo phái Tận chức năng

Cũng giống như cách tiếp cận thứ hai, trường phái này quan niệm Intergration

vừa là quá trình, vừa là sản phẩm cuối cùng Song, có điểm khác là, để đánh

giá quá trình liên kết, những người theo trường phái Tân chức năng chú trọng

phân tích quá trình hợp tác trong việc hoạch định chính sách và thái độ của

tầng lớp tinh tuý trong xã hội

Ở nước ta, thuật ngữ hội nhập xuất hiện trong bối cảnh chúng ta xúc

tiến mạnh mẽ chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế Thuật

ngữ hội nhập được Đảng ta sử dụng đầu tiên trong Văn kiện Đại hội VIII

(1996): “Xây dựng nền kinh tế mở hội nhập với khu vực và thế giới” 1; được

nhấn mạnh và sử dụng phổ biến từ Đại hội IX, như trong Văn kiện Đại hội

IX: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối

đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ và định

Trang 13

hướng xã hội chủ nghĩa” 2 và trong các văn kiện khác về hội nhập kinh tế

quốc tế

Bản thân tôi cho rằng, khi xem xét nội hàm của khái niệm hội nhập

kinh tế quốc tế phải đặt trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế gắn trực tiếp với

quá trình này Trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế ngày nay, hội nhập kinh tế

quốc tế là quá trình tham gia của các chủ thể kinh tế ở mỗi quốc gia và cả

quốc gia đó vào dòng chảy chung của đời sống kinh tế thế giới Đó là một quá

trình tự nhiên, có tính quy luật, bởi toàn cầu hoá là một xu thế khách quan,

một tất yếu kinh tế được thúc đẩy bởi sự phát triển mạnh mẽ, quốc tế hoá của

lực lượng sản xuất

Trên cơ sở nhận thức như vậy, có thể nói rằng: hội nhập kinh tế quốc tế

là quá trình liên kết kinh tế có mục tiêu, định hướng nhằm gắn kết nền kinh tế

thị trường của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới

1.1.4.2 Bản chất của kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá

Nói đến hội nhập kinh tế quốc tế, không thể không đề cập đến toàn cầu

hoá, trước hết là toàn cầu hoá kinh tế Hội nhập kinh tế quốc tế có liên quan

trực tiếp và là quá trình đồng hành với quá trình toàn cầu hoá kinh tế Không

thể có toàn cầu hoá kinh tế nếu không có sự tham gia ngày càng đông của các

quốc gia, dân tộc Nếu toàn cầu hoá kinh tế là tất yếu thì hội nhập kinh tế

cũng là một đòi hỏi khách quan Dưới sự tác động của xu thế toàn cầu hoá

kinh tế, thì nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế cũng xuất hiện Có thể coi hội

nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá kinh tế là hai mặt của một quá trình

Toàn cầu hoá kinh tế, xét về bản chất, là quá trình gia tăng mạnh mẽ

của những mối liên hệ, sự phụ thuộc lẫn nhau, tác động qua lại của các quốc

gia, khu vực ở lĩnh vực kinh tế trên thế giới Tập hợp những quan niệm chung

nhất về toàn cầu hoá kinh tế, ta có thể khẳng định: Toàn cầu hoá kinh tế là

2

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia 2001

Trang 14

một quá trình phát triển kinh tế của các nước trên thế giới và các quan hệ kinh

tế quốc tế vượt khỏi biên giới quốc gia, hướng tới phạm vi toàn cầu, trong đó

hàng hóa, vốn, ngoại tệ, thông tin, lao động vận động thông thoáng; mối

quan hệ kinh tế giữa các quốc gia và khu vực được vận hành theo "luật chơi"

chung được xác lập qua hợp tác và đấu tranh giữa các thành viên trong cộng

đồng quốc tế; sự phân công hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng; các nền kinh

tế ngày càng có quan hệ mật thiết với nhau và tuỳ thuộc lẫn nhau; tính xã hội

hoá của sản xuất ngày càng tăng Có ý kiến khác lại cho rằng: Toàn cầu hoá

kinh tế là giai đoạn phát triển cao của quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế

Nó đưa tới sự hình thành một thị trường thế giới thống nhất và một hệ thống

tín dụng toàn cầu, là sự phân công lao động quốc tế theo chiều sâu, là sự mở

rộng giao lưu kinh tế và khoa học - công nghệ giữa các quốc gia trên phạm vi

thế giới, là giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội có tính toàn cầu, như vấn đề

dân số, tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái

Nhận định về toàn cầu hoá kinh tế như một quá trình khách quan phức

tạp, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, tạo

ra vừa thời cơ vừa thách thức, vừa hợp tác vừa đấu tranh đã được phản ánh

trong nhiều tham luận Đặc biệt, những khía cạnh tích cực và tiêu cực của

toàn cầu hoá kinh tế được phân tích rất kỹ Những khía cạnh tích cực là: Thúc

đẩy rất nhanh, rất mạnh sự phát triển và xã hội hoá lực lượng sản xuất, đưa tới

sự tăng trưởng kinh tế nói chung ngày càng cao; làm tăng thêm sự tuỳ thuộc,

tác động và thúc đẩy lẫn nhau của các nền kinh tế các nước; mỗi nước phải tự

điều chỉnh chính sách và các phương thức phát triển kinh tế, hình thành các

mối quan tâm chung trong quan hệ quốc tế; thúc đẩy quá trình cạnh tranh đối

với mỗi nước và với từng doanh nghiệp trên thương trường, đòi hỏi phải cải

tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh; mở

ra những địa bàn và thị trường mới, những đối tác mới cho tất cả các nước

Trang 15

những góc độ sau: Quá trình toàn cầu hoá kinh tế càng được tăng cường thì

chủ quyền quốc gia của mỗi nước càng bị hạn chế và thu hẹp một cách tương

đối; thúc đẩy các nguồn vốn đầu cơ tăng nhanh, hình thành các "bong bóng xà

phòng" - nguyên nhân gây ra các cuộc khủng hoảng tài chính trên phạm vi

rộng lớn; khoảng cách giàu nghèo trên thế giới và trong mỗi quốc gia ngày

càng mở rộng hơn; môi trường toàn cầu hoá là điều kiện thuận lợi cho các

nước phương Tây tiến hành chiến tranh kinh tế, chiến tranh tâm lý, "diễn biến

hoà bình" hòng buộc các nước đang và chậm phát triển theo sự áp đặt của họ;

môi trường sinh thái suy giảm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống

của nhân loại

1.1.4.3 Các hình thức và cấp độ hội nhập

a Các hình thức hội nhập

Hội nhập có các hình thức và cấp độ khác nhau, thể hiện độ rộng và độ

sâu khác nhau trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Có 3 hình

thức hội nhập là hội nhập đơn phương, hội nhập song phương và hội nhập đa

phương Hình thức hội nhập chính là thể hiện độ rộng của hội nhập

Hội nhập đơn phương: tự mỗi nước nỗ lực cải cách một cách tự nguyện

các điều kiện bên trong của quốc gia mình cho phù hợp với các tiêu chuẩn và

thông lệ quốc tế, cũng như các quy định của các tổ chức khu vực và toàn cầu

Hội nhập song phương: hai nước ký kết các hiệp định song phương

theo nguyên tắc một khu vực mậu dịch tự do, song hành với các khu vực mậu

dịch tự do đa phương (ký kết các FTA song phương)

Hội nhập đa phương: nhiều nước tham gia vào các định chế quốc tế,

hình thành các tổ chức/ khối kinh tế khu vực và liên khu vực như Liên minh

Châu Âu (EU), Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), khu vực mậu

dịch tự do ASEAN (AFTA), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình

Dương (APEC) và các tổ chức kinh tế tài chính quốc tế như: Tổ chức thương

Trang 16

mại thế giới (WTO), Ngân hàng thế giới (WB), Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF),

Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)…

Các tổ chức kinh tế toàn cầu như WTO, WB, IMF nêu trên mang tính

chất các tổ chức kinh tế liên chính phủ, đang đóng vai trò lớn nhất thúc đẩy

hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việc thiết kế và chi phối các “luật chơi

chung” mang tính chất toàn cầu, trước hết là những qui định đối với các dòng

chảy thương mại và đầu tư Bên cạnh các tổ chức toàn cầu liên chính phủ đó,

các tổ chức kinh doanh toàn cầu (các công ty xuyên quốc gia) đang rất phát

triển và phình lên nhanh chóng về qui mô thông qua sáp nhập và bao quát

hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực sán xuất, kinh doanh

Để tham gia các hình thức hội nhập trên, mỗi quốc gia phải tiến hành

xây dựng, thương lượng, ký kết và tuân thủ các cam kết song phương và đa

phương ngày càng đa dạng hơn, cao hơn, đồng bộ hơn trong các lĩnh vực của

đời sống kinh tế quốc gia và quốc tế Có nghĩa là mỗi quốc gia phải gắn kết

nền kinh tế quốc gia mình vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực hoặc toàn

cầu và quan hệ với các quốc gia khác trong tổ chức theo những qui định

chung

b Các cấp độ hội nhập

Các cấp độ hội nhập hay mức độ hội nhập chính là thể hiện độ sâu của

hội nhập Với các nội dung hội nhập kinh tế quốc tế nêu trên thì mức độ hội

nhập được thể hiện ở mức độ tự do thực hiện các quan hệ kinh tế về thương

mại, dịch vụ, về đầu tư, về chuyển giao công nghệ, về dịch chuyển lao

động…

Có nhiều cách để đánh giá về cấp độ hội nhập, nhưng phổ biến hơn cả

là cách chia mức độ hội nhập thành 5 cấp độ sau:

Thứ nhất, xây dựng khu vực mậu dịch tự do Khu vực mậu dịch tự do là

hình thức và mức độ hội nhập đầu tiên và thấp nhất của quá trình liên kết kinh

Trang 17

quốc gia trên cơ sở dỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan để hàng

hoá, dịch vụ được di chuyển tự do giữa các nước Các nước thành viên trong

khu vực áp dụng một bỉểu thuế quan thống nhất Tuy nhiên, trong quan hệ với

các nước không phải thành viên, các nước trong khu vực vẫn duy trì các chính

sách ngoại thương độc lập Trên thế giới hiện nay có rất nhiều khu vực mậu

dịch tự do của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (AFTA), Khu vực mậu

dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực mậu dịch tự do Trung Mỹ, Hiệp hội

thương mại tự do Mỹ Latinh (LAFTA)… Việt Nam hiện đang tham gia khu

vực mậu dịch tự do AFTA với mốc thời gian hoàn thành việc giảm thuế là

2006 (0 - 5%)

Thứ hai, liên mình thuế quan - giai đoạn tiếp theo trong quá trình hội

nhập Liên minh thuế quan là hình thức liên kết cao hơn so với khu vực buôn

bán tự do Trình độ cao hơn chỉ được thể hiện ở việc loại bỏ các hạn chế về

thuế quan và hạn chế về mậu dich khác giữa các nước thành viên giống như

khu vực buôn bán tự do mà còn thiết lập biểu thuế quan chung của khối với

các nước ngoài liên minh Với hình thức liên kết khu vực này, chính sách mậu

dịch của các nước thành viên trở thành một bộ phận chính sách mậu dịch của

các nước trong cộng đồng Ngoài việc thực hiện tự do hoá mậu dịch thông

qua cắt giảm thuế quan và các biện pháp phi thuế quan như ở khu vực mậu

dịch tự do, các thành viên còn cùng nhau xây dựng biểu thuế quan chung áp

dụng cho các nước ngoài liên minh Ở đây quá trình nhất thể hoá về thuế quan

bắt đầu được thực hiện Khối cộng đồng chung Châu Âu (EC) trước đây thuộc

dạng này

Thứ ba, Thị trường chung - mô hình liên minh thuế quan cộng với việc

tự do lưu chuyển các yếu tố sản xuất: vốn, khoa học - công nghệ, lao động…

Thị trường chung là một hình thức liên kết kinh tế quốc tế cao hơn so với các

hình thức trên đây Các nước tham gia thị trường chung ngoài việc áp dụng

các biện pháp giống như liên minh thuế quan trong buôn bán quốc tế còn cho

Trang 18

phép tư bản và lao động tự do di chuyển giữa các nước thông qua việc hình

thành một thị trường thống nhất Ngoài việc tự do hoá thương mại hàng hoá

như ở khu vực mậu dịch tự do, các yếu tố khác như vốn, công nghệ, nhân lực,

dịch vụ,… cũng được tự do lưu thông giữa các nước thành viên trong thị

trường chung Thị trường chung đầu tiên trên thế giới là thị trường chung

Châu Âu, chính thức hoạt động từ ngày 01/01/1993 Ngoài ra còn một số thị

trường chung khác như: MERCOSUR ở Nam Mỹ, thị trường chung Châu Phi,

thị trường chung A rập,…

Thứ tư, Liên minh kinh tế - mô hình ở giai đoạn cao trên cơ sở thị

trường chung cộng thêm sự phối hợp các chính sách kinh tế, xã hội giữa các

thành viên Để thực hiện liên minh kinh tế, trước hết phải thực hiện liên minh

tiền tệ Tham gia vào liên minh này, các nước phải phối hợp các chính sách

tiền tệ với nhau và thực thi một chính sách tiền tệ thống nhất trong toàn khối,

thống nhất đồng tiền dự trữ trong khu vực, thống nhất ngân hàng trung ương

khối và thống nhất các giao dịch tiền tệ và thanh toán quốc tế với các tổ chức

tài chính thế giới Liên minh tiền tệ Châu Âu là hình thức biểu hiện của hai

loại hình liên kết này

Cho đến nay, liên minh kinh tế là hình thức cao nhất của hội nhập kinh

tế quốc tế đã được thực hiện trên thực tế Liên minh kinh tế được xây dựng

trên cơ sở các nước thành viên thống nhất thực hiện các chính sách thương

mại, tài chính và một số chính sách kinh tế - xã hội chung giữa các thành viên

với các luồng vốn, hàng hoá, lao động và dịch vụ được tự do lưu thông như ở

thị trường chung, các nước còn tiến tới thống nhất các chính sách quản lý kinh

tế, xã hội, sử dụng chung một đồng tiền Hiện nay, EU đang hoạt động theo

hướng loại hình tổ chức này

Thứ năm, Liên minh toàn diện - giai đoạn cao nhất của hội nhập - các

thành viên thống nhất với nhau về các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội,

Trang 19

dẫn đến sự ra đời kiểu nhà nước liên bang như Hoa Kỳ hoặc hình thành các

“cộng đồng an ninh đa nguyên”

Nghiên cứu cấp độ của hội nhập cho thấy quá trình tham gia hội nhập

không chỉ đòi hỏi lộ trình về mặt thời gian, mà còn đòi hỏi những điều kiện,

yêu cầu về trình độ phát triển nhất định Mặt khác, tuỳ thuộc độ sâu của quá

trình hội nhập mà có mức độ tác động khác nhau của hội nhập lên tư duy và

đời sống kinh tế - xã hội

1.2 Quan hệ kinh tế - thương mại quốc tế

1.2.1 Thực chất của thương mại quốc tế

1.2.1.1 Khái niệm thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các nước thông

qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế tối đa Trao đổi hàng hoá là một hình

thức của các mối quan hệ kinh tế - xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau

giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hoá riêng biệt của các quốc gia

Thương mại quốc tế là một lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các

nước tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu

cho đất nước Ngày nay, thương mại quốc tế không chỉ mang ý nghĩa đơn

thuần là buôn bán mà là sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào phân công

lao động quốc tế Vì vậy, phải coi thương mại quốc tế như một tiền đề một

nhân tố phát triển kinh tế trong nước trên cơ sở lựa chọn một cách tối ưu sự

phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế

Thương mại quốc tế một mặt phải khai thác được mọi lợi thế tuyệt đối

của đất nước phù hợp với xu thế phát triển và quan hệ kinh tế quốc tế Mặt

khác, phải tính đến lợi thế tương đối có thể được theo quy luật chi phí cơ hội

Phải luôn luôn tính toán cái có thể thu được so với các giá phải trả khi tham

gia vào buôn bán và phân công lao động quốc tế để có đối sách thích hợp Vì

vậy, để phát triển thương mại quốc tế có hiệu quả lâu dài cần phải tăng cường

khả năng liên kết kinh tế sao cho mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng

Trang 20

lớn

1.2.1.2 Lý thuyết cơ bản về thương mại quốc tế

- Do điều kiện Cung và Cầu khác nhau nên nếu không có thương mại

quốc tế thì giá cả giữa các nước cũng khác nhau Thương mại bắt đầu hình

thành từ việc một số người tiến hành mua đi bán lại để thu lợi nhuận từ sự

chênh lệch giá giữa các thị trường Người ta sẽ xuất khẩu sản phẩm từ những

nước có giá thấp sang các nước có giá trị cao hơn

- Việc chuyển từ không có thương mại sang cân bằng trong điều kiện

thương mại tự do làm thay đổi giá sản phẩm từ mức ban đầu (không có

thương mại) đến mức giá quốc tế (hoặc giá thế giới) cân bằng trong điều kiện

thương mại tự do Giá thay đổi làm cho lượng sản xuất và lượng tiêu dùng

thay đổi, ở nước nhập khẩu, thương mại làm tăng lượng tiêu dùng và làm

giảm lượng sản xuất của hàng hoá nhập khẩu Ngược lại, ở nước xuất khẩu,

thương mại dẫn đến tăng lượng sản xuất và giảm lượng tiêu dùng

- Cả hai nước xuất khẩu và nhập khẩu đều được lợi từ thương mại, cụ

thể là, mỗi nước thu được một khoản lợi ích ròng tỷ lệ với sự thay đổi giá

Sản phẩm ở nước đó khi chuyển từ điều kiện không có thương mại sang

thương mại tự do Nước nào có sự thay đổi giá lớn hơn sẽ được lợi nhiều hơn

từ thương mại quốc tế

- Người được lợi là người tiêu dùng hàng hoá nhập khẩu và những

người sản xuất hàng xuất khẩu Người bị thiệt hại là những người sản xuất

hàng hoá cạnh tranh với hàng nhập khẩu và người tiêu dùng hàng hoá có khả

năng xuất khẩu

1.2.1.3 Các học thuyết thương mại quốc tế

Buôn bán nói chung và buôn bán quốc tế nói riêng là hoạt động kinh tế

trao đổi hàng hoá - tiền tệ đã có từ lâu đời và sự phát triển của nó luôn luôn

gắn liền với sự phát triển văn minh của xã hội loài người Như vậy, con người

Trang 21

khoa học về nguồn gốc của những lợi ích thương mại quốc tế thì đó đã không

phải là vấn đề đơn giản Quá trình nghiên cứu của các trường phái kinh tế

khác nhau trong lịch sử phát triển tư tưởng kinh tế thế giới đã đưa ra những lý

thuyết để lý giải vấn đề này, khẳng định tác động tích cực của thương mại

quốc tế đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế theo trình tự nhận thức từ

thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ phiến diện đến toàn diện, từ hiện

tượng đến bản chất

a Học thuyết trọng thương

Kinh tế học cũng như một khoa học tổ chức đã được công bố trong

cuốn “Sự giầu có của các quốc gia” do Adam Smith viết, được xuất bản năm

1776 Trước đó đã có các tác phẩm về thương mại quốc tế được viết tại các

nước như Anh, Tây Ban Nha, Pháp, Bồ Đào Nha và Hà Lan Đặc biệt, trong

thế kỷ XVII và XVIII, một nhóm (những người buôn bán, ngân hàng, viên

chức Chính phủ và cả nhiều nhà triết học) viết các bài luận và cuốn sách nhỏ

về thương mại quốc tế biện hộ lý luận kinh tế được gọi là trường phái trọng

thương Nói một cách ngắn gọn, các nhà trọng thương cho rằng, một quốc gia

để trở nên giàu có phải xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu Thặng dư xuất khẩu

được thu hồi trở lại bằng tiền tệ thực là vàng bạc Một quốc gia càng nhiều

vàng bạc thì càng là quốc gia giàu có Vì vậy, Chính phủ phải làm tất cả trong

khả năng của họ để khuyến khích xuất khẩu, đồng thời hạn chế nhập khẩu

(đặc biệt là nhập khẩu những hàng hoá xa xỉ phẩm) Mặc dù vậy, các quốc gia

không thể cải thiện được thặng dư thương mại của họ, và tổng số vàng bạc

vẫn cố định Một quốc gia có thể thu được thặng dư từ sự chi trả của các quốc

gia khác, các nhà trọng thương đã thuyết giáo chủ nghĩa dân tộc về kinh tế, tin

tưởng như họ đã lý luận, các lợi ích quốc gia bị xung đột lẫn nhau

Lưu ý rằng, các nhà trọng thương đo lường sự giàu có của một quốc gia

bởi số lượng vàng bạc mà quốc gia đó có Ngược lại, ngày nay sự giàu có của

một quốc gia được đo lường bởi khả năng của họ về nguồn lực con người, tài

Trang 22

nguyên có thể xung cấp cho sản xuất và dịch vụ Nguồn lực này càng phong

phú, sử dụng càng có hiệu quả thì dòng chảy hàng hoá và dịch vụ thoả mãn

con người càng dồi dào, tiêu chuẩn sống của quốc gia càng cao

Trong mọi sự kiện, các nhà trọng thương ủng hộ sự kiểm soát Chính

phủ chặt chẽ về các hoạt động kinh tế và tăng cường chủ nghĩa dân tộc về

kinh tế bởi vì họ tin tưởng rằng, một quốc gia có thể thu được thặng dư từ

thương mại chỉ khi chiếm đoạt được của nước khác (vì thương mại là một

cuộc chơi có tổng lợi ích không đổi) Quan điểm này quan trọng vì: 1) ý

tưởng của Adam Smith, David Ricardo và các nhà kinh tế học cổ điển khác có

thể hiểu một cách tốt nhất nếu họ trong vị trí phản bác lại quan điểm trường

phái trọng thương về thương mại và về vai trò của Chính phủ; 2) hiện nay,

dường như có sự phục hồi của trường phái trọng thương mới, khi các quốc gia

vấp phải nạn thất nghiệp cao có khuynh hướng hạn chế nhập khẩu để thúc đẩy

sản xuất trong nước và công ăn việc làm Trên thực tế, không kể tới nước

Anh, trong giai đoạn 1815 – 1914 không có nước Phương Tây nào vượt hoàn

toàn khỏi ý tưởng của trường phái trọng thương

b Học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

Adam Smith bắt đầu với sự thật giản đơn, hai quốc gia trao đổi thương

mại trên cơ sở tình nguyện thì cả hai quốc gia đều thu được từ thặng dư Nếu

một quốc gia không thu được gì, hoặc bị lỗ, họ sẽ từ chối thương mại

Theo Adam Smith, thương mại giữa hai quốc gia được dựa trên cơ sở

lợi thế tuyệt đối Khi một quốc gia sản xuất một hàng hoá có hiệu quả hơn so

với quốc gia khác nhưng kém hiệu quả hơn trong sản xuất hàng hoá thứ hai,

hai quốc gia có thể thu được lợi ích bằng cách mỗi quốc gia chuyên môn hoá

sản xuất và xuất khẩu hàng hoá, họ có lợi thế tuyệt đối, nhập khẩu hàng hoá

không có lợi thế Thông qua quá trình này, các nguồn lực được sử dụng một

cách hiệu quả nhất và sản lượng của cả hai hàng hoá đều tăng Sự tăng lên về

Trang 23

sản lượng của hai hàng hoá này do lượng thặng dư từ chuyên môn hoá trong

sản xuất được phân bố lại giữa hai quốc gia thông qua thương mại

Một quốc gia cũng tương tự như một cá nhân, không nên cố gắng sản

xuất tất cả hàng hoá cho mình, mà nên tập trung sản xuất hàng hoá mình có sở

trường nhất, đem trao đổi một phần sản phẩm đó lấy sản phẩm khác cần dùng,

theo cách này tổng sản lượng của các cá nhân cộng lại sẽ tăng, phúc lợi của

mỗi cá nhân cũng tăng

Như vậy, trong khi các nhà trọng thương tin tưởng một quốc gia chỉ có

thể thu được thặng dư từ thương mại bằng cách tước đoạt của nước khác và

ủng hộ sự quản lý Chính phủ chặt chẽ về hoạt động kinh tế và thương mại, thì

Adam Smith (và các nhà kinh tế học cổ điển khác theo trường phái ông) tin

tưởng rằng, một quốc gia có thể thu được thặng dư từ thương mại và ủng hộ

mạnh mẽ cho chính sách tự do kinh doanh Thương mại tự do có thể làm cho

nguồn lực của thế giới được sử dụng một cách hữu hiệu nhất và có thể tối đa

hoá phúc lợi toàn cầu Có thể có một vài trường hợp ngoại lệ bằng cách tự do

kinh doanh, một trong số này là sự bảo hộ các ngành công nghiệp quan trọng

của quốc gia Dường như có nghịch lý là ngày nay hầu hết các quốc gia sử

dụng nhiều biện pháp hạn chế thương mại tự do Các biện pháp hạn chế

thương mại được tỷ lệ hoá theo phúc lợi của quốc gia Trên thực tế, các biện

pháp hạn chế thương mại được một số ngành công nghiệp và những công

nhân của ngành đó (những người bị tổn thương nhất vì hàng nhập khẩu) ủng

hộ Như vậy, các biện pháp hạn chế thương mại tạo ra lợi ích cho thiểu số

nhưng làm tổn thất tới đa số (những người phải trả giá cao hơn để cạnh tranh

với hàng hoá trong nước)

Cũng cần chú ý thêm rằng, học thuyết của Adam Smith được sự ủng hộ

của các ông chủ, những người có thể trả tiền lương ít hơn cho công nhân vì

thực phẩm hạ giá do nhập khẩu, nhưng gây tổn thất cho chủ đồn điền tại Anh

Trang 24

vì giá thực phẩm hạ, điều này cho thấy mối quan hệ giữa các áp lực xã hội và

sự phát triển của các học thuyết kinh tế mới ủng hộ cho chúng

c Học thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo

Năm 1817 Ricardo xuất bản cuốn sách “Những nguyên tắc của kinh tế

chính trị và thuế”, trong đó ông đã trình bày quy luật về lợi thế so sánh Đây

là một trong những quy luật kinh tế quan trọng nhất được ứng dụng rộng rãi,

chưa có sự thay đổi Trong phần này, chúng ta sẽ nghiên cứu khái niệm của

lợi thế so sánh, sau đó trình bày lợi thế so sánh bằng ví dụ về số, cuối cùng là

phần phân tích cho thấy cả hai quốc gia đều có thể thu được thặng dư nếu mỗi

quốc gia chuyên môn hoá trong sản xuất và xuất khẩu hàng hoá có lợi thế so

sánh của họ

- Quy luật về lợi thế so sánh

Theo quy luật về lợi thế so sánh, thậm chí một quốc gia sản xuất cả hai

hàng hoá đều kém hiệu quả hơn quốc gia kia vẫn có thể thu được lợi ích

thương mại Quốc gia đó sẽ tập trung sản xuất và xuất khẩu hàng hoá kém lợi

thế hơn, nhập khẩu hàng hoá kém lợi thế nhiều hơn

Tuy nhiên, trong mô hình chỉ có hai quốc gia, hai hàng hoá, nếu một

quốc gia có lợi thế so sánh trong hàng hoá này thì quốc gia kia sẽ có lợi thế so

sánh trong hàng hoá thứ hai

d Lợi thế so sánh và chi phí cơ hội

Ricardo phân tích quy luật lợi thế so sánh trên cơ sở các giả thiết đơn

giản: 1) có hai quốc gia và hai hàng hoá; 2) thương mại tự do; 3) chuyển dịch

nguồn lực hoàn toàn trong mỗi quốc gia nhưng không chuyển dịch giữa các

quốc gia; 4) chi phí cố định theo quy mô; 5) không có chi phí vận tải; 6)

không có sự thay đổi về kỹ thuật; 7) dựa vào học thuyết lao động về giá trị

- Lợi thế so sánh và học thuyết lao động về giá trị

Theo học thuyết lao động về giá trị, giá trị hoặc giá cả của hàng hoá

Trang 25

Điều này ngụ ý 1) lao động là yếu tố đầu vào duy nhất của sản xuất, hoặc lao

động được sử dụng với tỷ lệ như nhau trong sản xuất tại tất cả các loại hàng

hoá và 2) lao động là đồng nhất chỉ có một loại Nếu một trong hai giả thiết

này không đúng, chúng ta không thể giải thích lợi thế so sánh trên cơ sở học

thuyết lao động về giá trị

Điều hiển nhiên, lao động không phải là yếu tố đầu vào duy nhất, hoặc

được sử dụng với tỷ lệ như nhau trong sản xuất tất cả các loại hàng hoá Ví

dụ, một số ngành sản xuất sản phẩm cần sử dụng nhiều tiền vốn (như cơ khí)

các ngành khác cần ít vốn hơn (như dệt) Hơn nữa, thường có sự thay thế giữa

các loại lao động, vốn và các nhân tố đầu vào khác đối với hầu hết các hàng

hoá Lao động cũng không phải là đồng nhất mà khác nhau khá nhiều về đào

tạo, năng suất lao động và tiền công Một điều tối thiểu, nên cho phép đưa lao

động với các mức năng suất khác nhau vào trong mô hình Đây chính là vấn

đề tại sao học thuyết về loại thế so sánh không nhất thiết dựa trên cơ sở học

thuyết lao động về giá trị, nó đã được giải thích trên cơ sở học thuyết chi phí

cơ hội

- Học thuyết chi phí cơ hội

Vấn đè chưa giải quyết đã dành cho nhà kinh tế học Haberler giải thích

năm 1936 Cơ sở của học thuyết về lợi thế so sánh là học thuyết chi phí cơ

hội Trong hình thái này, quy luật của lợi thế so sánh đôi khi được ngụ ý như

quy luật của chi phí so sánh

Theo học thuyết về chi phí cơ hội, chi phí của một hàng hoá là lượng

hàng hoá thứ hai phải bỏ không sản xuất bằng nguồn lực được chuyển sang

sản xuất thêm một đơn vị hàng hoá đó Tại đây không có giả thiết nào nói

rằng, lao động là yếu tố đầu vào duy nhất hoặc lao động là đồng nhất, hoặc

giả thiết là chi phí hay giá cả của hàng hoá phụ thuộc lượng lao động xã hội

chi phí trong hàng hoá đó Vì vậy, quốc gia có chi phí cơ hội thấp hơn trong

Trang 26

sản xuất một loại hàng hoá thì có lợi thế so sánh trong hàng hoá đó (và bất lợi

thế so sánh trong hàng hoá kia)

1.2.2 Các hình thức quan hệ kinh tế - thương mại quốc tế

1.2.2.1 Điều ước quốc tế

Điều ước quốc tế là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa các chủ thể Luật

quốc tế và được pháp luật quốc tế điều chỉnh

Nguyên tắc và nội dung của điều ước quốc tế: các điều ước quốc tế

phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế và nội dung của nó

bao gồm quyền, nghĩa vụ của các bên ký kết mà họ đã thỏa thuận

Theo Điều 2, Khoản 1 Luật ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước

quốc tế 2005: “Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký

kêt hoặc gia nhập là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân

danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của

pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp

định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi

hoặc văn kiện có tên gọi khác”

1.2.2.2 Điều ước quốc tế về thương mại

a Khái niệm

Điều ước quốc tế về thương mại là các văn bản pháp lý quốc tế do các

quốc gia ký kêt hoặc tham gia nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của mình với

nhau trong giao dịch thương mại quốc tế

Điều ước quốc tế thể hiện dưới nhiều tên gọi như: Công ước, Hiệp

định, Hiệp ước, Nghị định thư, Hiến chương…, Luật Điều ước quốc tế về

pháp luật điều ước quốc tế của các quốc gia đều không quy định cụ thể về tên

gọi của điều ước quốc tế Điều ước quốc tế được ký kết nhằm thành lập tổ

chức quốc tế liên chính phủ thường được gọi là Hiến chương, Quy chế, Điều

Trang 27

có thường được gọi là Nghị định thư; điều ước quốc tế được ký kết dưới sự

bảo trợ của Liên Hợp Quốc thường được gọi là Công ước …

b Vai trò của điều ước quốc tế

Điều ước quốc tế về thương mại ngày càng có vai trò quan trọng thể

hiện ở một số điểm chính sau đây:

- Tạo khung pháp lý quốc tế cho các quan hệ kinh tế - thương mại giữa

các quốc gia theo xu hướng toàn cầu hóa

- Là phương tiện pháp lý để điều chỉnh sự hợp tác, đấu tranh và cạnh

tranh giữa các nước, các nền kinh tế

- Thiết lập các thiết chế tổ chức quốc tế về thương mại

- Là phương tiện cơ bản hội nhập kinh tế quốc tế ở các nước, các nền

kinh tế

- Giữ vai trò quan trọng đối với quá trình pháp điển hóa và phát triển

pháp luật quốc tế hiện đại về thương mại theo hướng không phân biệt đối xử,

cạnh tranh công bằng, cùng có lợi

c Phân loại

* Căn cứ vào số lượng chủ thể, Điều ước quốc tế về thương mại gồm:

- Các điều ước quốc tế về thương mại đa biên toàn câu của Tổ chức

Thương mại Thế giới như Hiệp định về thương mại dịch vụ (GATS)

- Điều ước quốc tế song phương: là điều ước quốc tế do hai bên chủ thể

trong quan hệ quốc tế soạn thảo và ký kết như Hiệp định thương mại Việt –

Mỹ (BTA) do hai bên chủ thể là Việt Nam và Mỹ ký kết

- Điều ước quốc tế đa phương: là điều ước quốc tế do ba chủ thể trong

quan hệ quốc tế trở lên ký kết và tham gia như Hiệp định ưu đãi thuế quan có

hiệu lực chung (CEPT) do các quốc gia thuộc khu vực mậu dịch tự do AFTA

ký kết

* Căn cứ vào tính chất điều chỉnh của điều ước quốc tế :

Trang 28

- Các điều ước quốc tế về thương mại đưa ra những nguyên tắc, những

quy định chung như Hiệp định chung vê thuế quan và thương mại (GATT) là

hiệp định khung điều chỉnh thương mại hàng hóa

- Các điều ước quốc tế về thương mại chứa đựng có quy tắc thực chất

điều chỉnh các vấn đề một cách cụ thể, rõ ràng như Công ước của Liên Hợp

Quốc về hợp đồng mua bán ngoại thương (1980) chỉ điều chỉnh các vấn đề về

hợp đồng mua bán ngoại thương

d Các trường hợp áp dụng Điều ước quốc tế

Có hai trường hợp áp dụng:

- Trường hợp 1: điều ước quốc tế về thương mại quốc tế đương nhiên

có giá trị pháp lý bắt buộc nếu các bên chủ thể có quốc tịch hoặc nơi cư trú tại

các quốc gia là nước thành viên của điều ước quốc tế dó

- Trường hợp 2: Trong trường hợp các bên chủ thể không mang quốc

tịch hoặc không có nơi cư trú ở các nước thành viên của điều ước quốc tế thì

các bên có thể thỏa thuận áp dụng các quy định của điều ước quốc tế đó

1.2.2.2 Xuất nhập khẩu hàng hóa

a Một số hoạt động chính của thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế bao gồm nhiều hoạt động khác nhau Trên giác độ

một quốc gia đó chính là hoạt động ngoại thương, gồm:

- Xuất và nhập khẩu hàng hóa hữu hình (nguyên vật liệu, máy móc thiết

bị, lương thực thực phẩm, các loại hàng tiêu dùng…) thông qua xuất nhập

khẩu trực tiếp hoặc xuất nhập khẩu ủy thác

- Xuất và nhập khẩu hàng hóa vô hình (các bí quyết công nghệ, bằng

sáng chế phát minh, phần mềm máy tính, các bản thiết kế kỹ thuật, các dịch

vụ lắp ráp thiết bị máy móc, dịch vụ du lịch và nhiều loại hình dịch vụ

khác…) thông qua xuất nhập khẩu trực tiếp hoặc xuất nhập khẩu ủy thác

- Gia công thuê cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia công Khi trình

Trang 29

phải chú trọng các hoạt động gia công thuê cho nước ngoài, nhưng khi trình

độ phát triển ngày càng cao thì nên chuyển qua hình thức thuê nước ngoài gia

công cho mình và cao hơn là phải sản xuất và xuất khẩu trực tiếp (trong ngoại

thương gọi là hình thức xuất khẩu FOB) Hoạt động gia công mang tính chất

công nghiệp nhưng chu kỳ gia công thường rất ngắn, đầu vào và đầu ra của nó

gắn liền với thị trường nước ngoài, nên nó được coi là một bộ phận của hoạt

động ngoại thương

- Tái xuất khẩu và chuyển khẩu Trong hoạt động tái xuất người ta tiến

hành nhập khẩu tạm thời hàng hóa từ bên ngoài và sau đó lại tiến hành xuất

khẩu sang một nước thứ ba với điều kiện hàng hóa đó không qua gia công,

chế biến Như vậy, ở đây có cả hành động mua và hành động bán Còn trong

hoạt động chuyển khẩu không có hành vi mua bán mà chỉ thực hiện các dịch

vụ như vận tải, quá cảnh, lưu kho - lưu bãi, bảo quản… Bởi vậy, mức độ rủi

ro trong hoạt động chuyển khẩu nói chung là thấp và lợi nhuận không cao

- Xuất khẩu tại chỗ: trong trường hợp này hàng hóa và dịch vụ có thể

chưa vượt ra ngoài biên giới quốc gia nhưng ý nghĩa kinh tế của nó tương tự

như hoạt động xuất khẩu Đó là việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các

ngoại giao đoàn, cho khách du lịch quốc tế…

b Các công cụ chủ yếu của chính sách thương mại quốc tế

Có nhiều công cụ được sử dụng để thực thi chính sách thương mại quốc

tế Công cụ quen thuộc nhất là khoản thuế đánh vào hàng nhập khẩu, thường

được gọi là thuế quan nhập khẩu Đương nhiên xuất khẩu cũng có thể bị đánh

thuế, và cả nhập lẫn xuất khẩu đôi khi được trợ cấp (khi ấy chính là mức thuế

âm) Ngoài ra, còn có nhiều trở ngại phi thuế quan không có liên quan gì đến

các khoản thuế hoặc trợ cấp, chẳng hạn các biện pháp hạn chế về số lượng có

tác dụng nhằm hạn chế mức cung (hoặc mức cầu) của những hàng hóa đặc

biệt có thể được nhập khẩu (hoặc đôi khi cả xuất khẩu) Về nguyên tắc có các

mức hạn ngạch quy định số lượng của một mặt hàng có thể được nhập khẩu

Trang 30

trong khoảng thời gian nhất định là hình thức phổ biến nhất Đôi khi thuế

quan nhập khẩu cao hơn mức hạn ngạch nhưng sẽ quy định mức thuế cao hơn

so với mức đánh vào lượng hàng nhập khẩu trên hạn ngạch

Ngoài việc hạn chế số lượng còn có nhiều hàng rào phi thuế quan khác,

chẳng hạn như luật pháp quy định các thủ tục có ảnh hưởng quan trọng đến

việc trao đổi thương mại quốc tế Những biện pháp thanh tra y tế, các quy

định về an toàn có tính thiên vị đối với hàng hóa sản xuất trong nước, các biện

pháp khuyến khích việc phát triển những vùng sản xuất đặc biệt cho các

ngành xuất khẩu… cũng là những công cụ được sử dụng khá phổ biến trong

chính sách thương mại quốc tế

1.2.2.3 Đầu tư quốc tế

a Khái niệm

Đầu tư quốc tế là một hình thức của di chuyển quốc tế về vốn, trong đó

vốn được di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác để thực hiện một hoặc

một số dự án đầu tư nhằm đem lại lợi ích cho các bên tham gia

Thực chất, đầu tư quốc tế là sự vận động của tiền tệ và tài sản giữa các

quốc gia nhằm điều chỉnh tỷ lệ giữa các yếu tố sản xuất, tạo điều kiện cho nền

kinh tế các quốc gia phát triển, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh

tế toàn cầu nói chung

Trong thực tế, đầu tư quốc tế được thực hiện với nhiều nguyên nhân

khác nhau, trong đó có thể tổng kết một sồ nguyên nhân sau:

Thứ nhất, do sự mất cân đối về các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia

nên có sự chênh lệch về giá cả các yếu tố, đầu tư quốc tế được thực hiện nhằm

đạt được lợi ích từ sự chênh lệch đó (khai thác lợi thế so sánh của mỗi quốc

gia)

Thứ hai, do sự gặp gỡ về lợi ích của các bên tham gia, cụ thể là:

- Đối với bên có vốn đầu tư: Cần tìm nơi đầu tư có lợi, cần tránh hàng

Trang 31

cần khuyếch trương thị trường, uy tín, tăng cường vị thế và mở rộng quy mô

kinh doanh

- Đối với bên tiếp nhận vốn đầu tư: Do thiếu vốn tích lũy, do nhu cầu

tăng trưởng nhanh, nhu cầu đổi mới kỹ thuật, công nghệ và tiếp nhận kinh

nghiệm quản lý tiên tiến để khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên và tạo

việc làm cho lao động trong nước, đầu tư quốc tế được thực hiện để đáp ứng

các nhu cầu đó Đặc biệt, đối với các nước đang phát triển, thực hiện tiếp

nhận đầu tư quốc tế còn nhằm mục đích chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng

các khu công nghiệp và khu công nghệ cao, góp phần thực hiện công cuộc

công nghiệp hóa đất nước

Thứ ba, trong nhiều trường hợp, đầu tư quốc tế nhằm giải quyết các

nhiệm vụ đặc biệt như xây dựng các công trình có quy mô vượt ra ngoài phạm

vi biên giới quốc gia, đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều quốc gia

b Tác động của đầu tư quốc tế

Thức tế cho thấy rằng, đầu tư quốc tế có những tác động mang tính hai

mặt (tác động tích cực và tác động tiêu cực) cả đối với nước chủ đầu tư (nước

chủ nhà) và nước tiếp nhận đầu tư (nước sở tại)

+ Đối với nước chủ đầu tư

* Tác động tích cực:

- Khắc phục được xu hướng giảm sút lợi nhuận trong nước, có điều

kiện thu được lợi nhuận cao hơn cho chủ đầu tư do tìm được môi trường đầu

tư thuận lợi hơn;

- Là biện pháp để vượt qua hàng rào bảo hộ mậu dịch nhằm mở rộng

thị trường; tận dụng triệt để những ưu ái của nước nhận đầu tư;

- Khuyếch trương được sản phẩm, danh tiếng, tạo lập uy tín và tăng

cường vị thế của họ trên thị trường thế giới;

- Khai thác được nguồn yếu tố đầu tư vào sản xuất với chi phí thấp hơn

so với đầu tư trong nước

Trang 32

* Tác động tiêu cực:

- Nếu chiến lược, chính sách không phù hợp thì các nhà kinh doanh

không muốn kinh doanh trong nước, mà chỉ lao ra nước ngoài kinh doanh, do

đó quốc gia có nguy cơ tụt hậu;

- Dẫn đến làm giảm việc làm ở nước chủ đầu tư;

- Có thể xảy ra hiện tượng chảy máu chất xám trong quá trình chuyển

- Góp phần giải quyết khó khăn do thiếu vốn;

- Tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động trong nước;

- Học tập kinh nghiệm quản lý, tác phong làm việc tiên tiến, tiếp nhận

công nghệ hiện đại từ nước chủ đầu tư;

- Tạo điều kiện để khai thác các nguồn tài nguyên một cách có hiệu

quả;

- Giúp cho việc xây dựng các khu công nghiệp, khu công nghệ cao

nhằm hỗ trợ cho quá trình công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế;

- Góp phần khắc phục những khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn và giải

quyết các vấn đề xã hội

* Tác động tiêu cực:

- Có thể dẫn tới tình trạng khai thác tài nguyên thái quá, gây ô nhiễm

môi trường;

- Gây ra sự phân hóa, tăng khoảng cách phát triển giữa các vùng và

giữa các tầng lớp dân cư;

- Có thể làm tăng các vấn đề về tệ nạn xã hội, bệnh tật;

Trang 33

- Có thể bị ảnh hưởng hoặc lệ thuộc vào những yêu cầu từ phía chủ đầu

c Các hình thức đầu tư quốc tế

* Đầu tư gián tiếp nước ngoài

Đầu tư gián tiếp nước ngoài là một loại hình di chuyển vốn giữa các

quốc gia, trong đó người chủ sở hữu vốn không trực tiếp quản lý và điều hành

các hoạt động sử dụng vốn Nói cách khác, đầu tư gián tiếp nước ngoài là một

loại hình đầu tư quốc tế mà quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng đối với một

tài sản đầu tư Chủ đầu tư nước ngoài có thể đầu tư dưới hình thức cho vay và

hưởng lãi suất hoặc đầu tư mua cổ phiếu, trái phiếu và hưởng lợi tức

Đặc điểm của đầu tư gián tiếp nước ngoài:

- Nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài được cung cấp bởi các Chính

phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ và tư nhân Nếu là vốn

đều tư của các tổ chức quốc tế thì thường khối lượng lớn và kèm theo là điều

kiện ưu đãi về lãi suất và thời gian (gồm thời gian ân hạn và thời gian trả nợ)

Ngoài ra, nó còn gắn liền với các yếu cầu mang sắc thái chính trị của các tổ

chức quốc tế Nếu là vốn đầu tư của tư nhân thì được thực hiện thông qua việc

mua cổ phiếu, trái phiếu và bị khống chế ở mức dưới 10 - 25% vốn pháp định

- Chủ đầu tư nước ngoài không trực tiếp tham gia điều hành hoạt động

của đối tượng đầu tư

- Chủ đầu tư nước ngoài thu được lợi nhuận thông qua lãi suất cho vay

hoặt lợi tức cổ phần

Các hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài

Đầu tư gián tiếp nước ngoài được thực hiện từ nhiều nguồn khác nhau,

dưới các hình thức sau: viện trợ có hoàn lại và viện trợ không hoàn lại, vay ưu

đãi hoặc không ưu đãi, mua cổ phiếu hoặc trái phiếu

Hình thức mua cổ phiếu, trái phiếu là hình thức đầu tư của tư nhân Chủ

đầu tư sẽ lựa chọn các doanh nghiệp làm ăn có lãi hoặc có triển vọng phát

Trang 34

triển trong tương lai để đầu tư mua cổ phiếu, trái phiếu, nhưng số lượng cổ

phần sẽ bị khống chế ở mức độ nhất định, tùy theo luật đầu tư của từng nước

quy định Chủ đầu tư sẽ được hưởng lợi tức cổ phần và giá trị của lợi tức thu

được sẽ phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Ngoài các hình thức trên, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức cũng

có thể được coi là một bộ phận quan trọng của đầu tư gián tiếp nước ngoài

Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA là hoạt động hợp tác phát

triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ một nước với các Chính phủ nước ngoài,

các Tổ chức liên Chính phủ hoặc liên Quốc gia

Lợi thế và bất lợi của đầu tư gián tiếp nước ngoài

- Lợi thế

+ Bên tiếp nhận vốn đầu tư hoàn toàn chủ động trong việc sử dụng vốn,

do đó vốn đầu tư được phân bổ hợp lý cho các vùng, các ngành, các lĩnh vực

+ Doanh nghiệp có khả năng phân tác rủi ro kinh doanh trong những

người mua cổ phiếu, trái phiếu

+ Chủ đầu tư nước ngoài ít chịu rủi ro vì lợi nhuận thu được luôn theo

một tỷ lệ lãi suất cố định

- Bất lợi

+ Hạn chế khả năng thu hút vốn đầu tư vì chủ đầu tư nước ngoài bị

khống chế ở mức độ góp vốn tối đa

+ Đầu tư gián tiếp nước ngoài hạn chế khả năng tiếp thu công nghệ, kỹ

thuật hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ các chủ đầu tư nước ngoài

+ Phạm vi đầu tư bị hạn chế do chủ đầu tư nước ngoài chỉ đầu tư vào

các doanh nghiệp có triển vọng kinh doanh

+ Hiệu quả sử dụng vốn không cao ở các nước tiếp nhận vốn đầu tư và

thường dẫn đến tình trạng nợ nước ngoài, có nước còn rơi vào tình trạng

không có khả năng trả nợ

Trang 35

+ Các tiếp nhận vốn đầu tư dễ bị các chủ đầu tư nước ngoài trói buộc

vào vòng ảnh hưởng chính trị của họ

* Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hình thức đầu tư quốc tế,

trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều

hành hoạt động sử dụng vốn

Về thực chất, FDI là sự đầu tư của các công ty nhằm xây dựng các cơ

sở, chi nhánh ở nước ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần cơ sở đó Đây

là loại hình đầu tư, trong đó chủ đầu tư nước ngoài tham gia đóng góp một số

vốn đủ lớn váo việc sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ và cho phép họ trực tiếp

tham gia quản lý, điều hành đối tượng đầu tư

FDI chủ yếu được thực hiện từ nguồn vốn tư nhân, vốn của các công ty

nhằm mục đích thu được lợi nhuận cao hơn qua việc triển khai hoạt động sản

xuất kinh doanh ở nước ngoài

Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài:

- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số tối thiểu vào vốn

pháp định, tùy theo luật doanh nghiệp của mỗi nước

- Quyền quản lý, điều hành đối tượng đầu tư tùy thuộc vào mức độ góp

vốn Nếu góp 100% vốn thì đối tượng đầu tư hoàn toàn do chủ đầu tư nước

ngoài điều hành quản lý

- Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản

xuất kinh doanh và được phân chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định

- FDI được xây dựng thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua

lại toàn bộ hay từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phiếu để

thôn tính hay sáp nhập các doanh nghiệp với nhau

Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trong thực tiễn, FDI được thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau,

trong đó những hình thức được áp dụng phổ biến gồm:

Trang 36

- Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh,

- Doanh nghiệp liên doanh,

- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Bên cạnh đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, Chính phủ

nước sở tại còn lập ra các khu vực ưu đãi đầu tư trong lãnh thổ nước mình

như: khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao và đặc khu

kinh tế, đồng thời còn áp dụng các hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển

giao (BOT), xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO) và xây dựng -

chuyển giao (BT)

Lợi thế và bất lợi của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trong quá trình triển khai thực hiện, đầu tư trực tiếp nước ngoài có

những điểm mạnh (lợi thế) và hạn chế (bất lợi) nhất định cả đối với nước chủ

đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư

Lợi thế:

- Đối với nước chủ đầu tư (nước chủ nhà)

+ Chủ đầu tư có khả năng kiểm soát hoạt động sử dụng vốn đầu tư và

có thể đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ Do đó, vốn đầu tư thường

được sử dụng với hiệu quả cao

+ Giúp chủ đầu tư nước ngoài tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch và

chiếm lĩnh thị trường nước sở tại

+ Chủ đầu tư nước ngoài có thể giảm được chi phí, hạ giá thành sản

phẩm do khai thác được nguồn nguyên liệu và lao động với giá cả thấp của

nước sở tại Vì vậy, thông qua thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, chủ

đầu tư có thể nâng cao được khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường thế

giới

- Đối với nước tiếp nhận đầu tư (nước sở tại)

Trang 37

+ Tạo điều kiện cho nước sở tại có thể tiếp thu được kỹ thuật và công

nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý và tác phong làm việc tiên tiến của nước

ngoài

+ Giúp cho nước sở tại khai thác một cách có hiệu quả nguồn lao động

và nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn vốn trong nước, từ đó góp phần mở

rộng tích lũy và nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế

Bất lợi

- Đối với nước chủ đầu tư

+ Chủ đầu tư có thể gặp rủi ro cao nếu không hiểu rõ về môi trường đầu

tư của nước sở tại

+ Có thể xảy ra tình huống chảy máu chất xám nếu chủ đầu tư nước

ngoài để mất bản quyền sở hữu công nghệ, bí quyết sản xuất trong quá trình

chuyển giao

- Đối với nước tiếp nhận đầu tư

+ Nước sở tại khó chủ động trong việc bố trí cơ cấu đầu tư theo ngành

và theo vùng lãnh thổ Nếu nước sở tại không có một quy hoạch đầu tư cụ thể

và khoa học, dễ dẫn đến hiện tượng đầu tư tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên

thiên nhiên bị khai thác quá mức và nạn ô nhiễm môi trường trầm trọng

+ Nếu không thẩm định kỹ sẽ dẫn đến sự du nhập của các loại công

nghệ lạc hậu, công nghệ gây ô nhiễm môi trường với giá đắt làm thiệt hại lợi

ích của nước sở tại

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả quan hệ kinh tế - thương

mại

Trong quan hệ thương mại toàn cầu, mỗi nước có những nét khác biệt

ảnh hưởng rất lớn đến quan hệ thương mại các nước như luật pháp, chính trị,

kinh tế, văn hóa và cạnh tranh… Đối với mỗi nước, mỗi môi trường khác

nhau, nhà nước phải đưa ra được những chính sách thương mại phù hợp dựa

trên cơ sở tìm hiểu phân tích đánh giá môi trường đó Cụ thể là:

Trang 38

1.2.3.1 Môi truờng chính trị - luật pháp

Môi trường chính trị đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong

kinh doanh buôn bán quốc tế Tính ổn định về chính trị của các quốc gia sẽ là

một trong những nhân tố thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trong môi

trường nước ngòai Không có sự ổn định về chính trị thì sẽ không có điều kiện

ổn định và phát triển kinh tế, lành mạnh xã hội Chính vì vậy, khi tham gia

kinh doanh buôn bán trên thị trường thế giới, doanh nghiệp phải am hiểu môi

trường chính trị ở các quốc gia, ở các nước trong khu vực mà doanh nghiệp

muốn hoạt động

Mỗi quốc gia có hệ thống pháp luật riêng để điều chỉnh các họat động

kinh tế, bao gồm luật thương mại quốc tế (luật xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch

vụ), luật đầu tư nước ngòai, luật thuế, luật ngân hàng… Giữa các nước thường

tiến hành ký kết các Hiệp định, Hiệp ước và dần dần hình thành nên luật khu

vực và luật quốc tế Thực tế thế giới trong những năm qua đã chỉ ra rằng,

cùng với sự xuất hiện các liên minh kinh tế, liên minh chính trị, liên minh

thuế quan… đã xuất hiện những thỏa thuận mới, đa dạng, song phương hoặc

đa phương, đang tạo điều kiện cho kinh doanh buôn bán trong khu vực và trên

thế giới Vì vậy, có thể khẳng định rằng, chỉ trên cơ sở nắm chắc hệ thống luật

pháp của từng nước và các hiệp định giữa các nước, mới cho phép doanh

nghiệp đưa ra những quyết định đúng đắn trong việc lựa chọn quốc gia, khu

vực kinh doanh, hình thức kinh doanh, mặt hàng kinh doanh… và ở đâu và

cái gì là chủ yếu nhằm tăng lợi nhuận và hạn chế rủi ro

1.2.3.2 Môi truờng kinh tế

Tính ổn định hay bất ổn định về kinh tế và chính sách kinh tế của một

quốc gia nói riêng, của các quốc gia trong khu vực và thế giới nói chung có

tác động trực tiếp đến quan hệ kinh doanh buôn bán giữa các nước Tính ổn

định về kinh tế trước hết và chủ yếu là ổn định nền tài chính quốc gia, ổn định

Trang 39

kinh tế đã tạo ra những thuận lợi, khó khăn và cơ hội kinh doanh khác nhau

cho các doanh nghiệp

1.2.3.3 Môi trường văn hóa và con người

Văn hóa được hiểu như một tổng thể phức tạp, bao gồm ngôn ngữ,

niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, phong tục và tất cả các khả năng khác mà con

người có được Văn hóa quy định hành vi của mỗi con người thông qua mối

quan hệ giữa người với người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

1.2.3.4 Nhân tố khoa học – công nghệ

Cách mạng khoa học – kỹ thuật là một trong những nhân tố làm biến

đổi sâu sắc nội dung quan hệ quốc tế Các cuộc cách mạng công nghiệp ở

Châu Âu đã tạo ra một bước nhảy vọt trong đời sống con người Loài người

bước vào thời đại công nghiệp hóa, có yêu cầu mở rộng sản xuất, tìm hương

liệu, nguyên liệu và thị trường tiêu thụ, cũng như nguồn nhân công, quan hệ

quốc tế mở rộng ra toàn cầu Sự phát triển của các phương tiện giao thông do

kết quả của các phát hiện về máy hơi nước, máy bay… đã tạo điều kiện cho

việc phát triển giao lưu quốc tế

1.2.3.4 Nhân tố địa lý - tự nhiên

Tác động của hoạt động phát triển đến môi trường thể hiện ở khía cạnh

có lợi là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải

tạo đó, nhưng có thể gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo Mặt

khác, môi trường tự nhiên đồng thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế

xã hội và qua đó đến quan hệ kinh tế - thương mại quốc tế thông qua việc làm

suy thoái nguồn tài nguyên đang là đối tượng của hoạt động phát triển hoặc

gây ra thảm hoạ, thiên tai đối với các hoạt động kinh tế xã hội trong khu vực

Trang 40

Tóm tắt Chương I

Chường I đã xem xét lý thuyết về quan hệ quốc tế, kinh tế quốc tế và

toàn cầu hóa và lý thuyết về quan hệ kinh tế - thương mại song phương

Quan hệ quốc tế là tổng thể các quan hệ giữa các quốc gia với nhau

trong cuộc đấu tranh vì lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp trên phạm vi toàn thế

giới Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình liên kết kinh tế có mục tiêu trong

tổng thể các quan hệ giữa các quốc gia Thương mại và đầu tư quốc tế không

thể tách rời khỏi liên kết kinh tế quốc tế

Các vấn đề được xem xét trong Chương I làm cơ sở lý luận cho việc

xem xét thực trạng quan hệ kinh tế - thương mại song phương giữa Việt Nam

và Liên bang Nga

Ngày đăng: 26/02/2021, 16:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w