1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện nghị định 1152005nđ cp và đổi mới cơ chế quản lý tại viện khoa học thủy lợi việt nam

147 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng 2.6 Danh mục các công nghệ mới do Viện nghiên cứu ứng dụng 74 Bảng 3.4 Kết quả đánh giá về quản lý nhân lực khoa học công nghệ 85 Bảng 3.5 Hệ số tương quan Pearson giữa các tiêu chí

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-

TRẦN THỊ LAN HƯƠNG

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ-CP VÀ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ TẠI VIỆN KHOA

HỌC THUỶ LỢI VIỆT NAM

Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Nguyễn Văn Nghiến

HÀ NỘI – 2009

Trang 2

Tôi, Trần Thị Lan Hương xin cam đoan nghiên cứu này là do cá nhân tôi thực hiện Kết quả nghiên cứu trong luận văn không trùng với bất kỳ công bố khoa học nào trước đây

Trang 3

ĐỔI CÁC TỔ CHỨC KHCN CÔNG LẬP SANG CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM

7

1.1 LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 7

1.1.3 Cơ sở hình thành cơ chế quản lý của các tổ chức KHCN ở

Việt Nam

10

1.2 KINH NGHIỆM ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ CỦA TỔ CHỨC

KHCN Ở TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

29

1.2.1 Kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động của một số viện

nghiên cứu trên thế giới

Trang 4

Đề mục Tiêu đề Trang

2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN VIỆN QUA CÁC

GIAI ĐOẠN

37

2.2 THỰC TRẠNG VIỆN KHOA HỌC THUỶ LỢI VIỆT NAM 38

QUẢN LÝ TẠI VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI VIỆT NAM

78

3.1 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ Ở

VIỆN KHTLVN

78

3.1.1 Thực trạng việc áp dụng cơ chế quản lý ở Viện KHTLVN 78

3.2 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THỰC HIỆN nđ115 VÀ ĐỔI MỚI CƠ

CHẾ QUẢN LÝ CỦA VIỆN KHTLVN

Trang 5

Bảng 2.6 Danh mục các công nghệ mới do Viện nghiên cứu ứng dụng 74

Bảng 3.4 Kết quả đánh giá về quản lý nhân lực khoa học công nghệ 85 Bảng 3.5 Hệ số tương quan (Pearson) giữa các tiêu chí về tổ chức, bộ

máy với hiệu quả hoạt động

91

Bảng 3.6 Hệ số tương quan (Pearson) giữa các tiêu chí về chiến lược

phát triển với hiệu quả hoạt động

92

Bảng 3.7 Hệ số tương quan (Pearson) giữa các tiêu chí đánh giá cơ

chế quản lý tài chính với hiệu quả hoạt động

94

Bảng 3.8 Hệ số tương quan (Pearson) giữa các tiêu chí đánh giá cơ

chế quản lý nguồn nhân lực với hiệu quả hoạt động

95

Bảng 3.9 Hệ số tương quan (Pearson) giữa các chỉ tiêu cán bộ với

hiệu quả hoạt động

96

Trang 6

MỤC LỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Hình 2.2 Cơ cấu nguồn thu của Viện theo số lượng các hợp đồng kinh

tế

70

Hình 2.3 Doanh thu/người từ nghiên cứu KHCN và chuyển giao công

nghệ hàng năm của Viện KHTLVN

73

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADB: Asian Development Bank (Ngân hàng Phát triển Châu Á) AFD: Agency de France Development (Tổ chức Phát triển Pháp) BT: Building and Transfer (Xây dựng và chuyển giao)

BOT: Building, Operation and Transfer (Xây dựng, vận hành và

chuyển giao) CGCN: Chuyển giao công nghệ

CNXH: Chủ nghĩa xã hội

DANIDA: Danish Development Agency (Tổ chức Phát triển Đan

Mạch DNKH: Doanh nghiệp khoa học

DNKH&CN: Doanh nghiệp khoa học và công nghệ

DNNN: Doanh nghiệp nhà nước

DVTTB: Dịch vụ Trang thiết bị

FAO: Food and Argricultural Organization (Tổ chức Nông

Lương Thế giới) ISO: International Standard Organization (Tổ chức Tiêu chuẩn

Quốc tế) JICA: Japanese International Cooperation Agency (Tổ chức Hợp

tác Phát triển quốc tế Nhật Bản) JSDF: Japanese Social Development Funs (Quỹ phát triển xã hội

Nhật bản) KHCN: Khoa học công nghệ

KH&CN: Khoa học và công nghệ

KHTLVN: Khoa học thủy lợi Việt Nam

NĐ115: Nghị định số 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ

Trang 8

NN & PTNT: Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

PIM: Participatory Irrigation Management (Quản lý Tưới có sự

tham gia) QĐ594: Quyết định số 594/QĐ của Thủ tướng Chính phủ

SCADA: Supervisory Control and Data Acquisition (điều khiển,

giám sát và thu thập số liệu xa) SPSS: Software Package for Social Science (Bộ phần mềm để

nghiên cứu Khoa học xã hội) SXKD: Sản xuất kinh doanh

TCĐLCL: Tiêu chuẩn đo lường chất lượng

TĐKT: Tập đoàn kinh tế

TNHH: Trách nhiệm hữu hạn

XDCB: Xây dựng cơ bản

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

WB: Worl Bank (Ngân hàng thế giới)

WTO: World Trade Organization (Tổ chức Thương mại thế giới)

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Bối cảnh chung

Từ nhiều năm trước, Viện nghiên cứu ở nước ta là tổ chức sự nghiệp, hoạt động dựa chủ yếu vào ngân sách Nhà nước cấp Do được đặc hưởng ưu đãi nên hầu hết các Viện nghiên cứu được đánh giá là hoạt động kém hiệu quả, sản phẩm nghiên cứu vì thế ít có khả năng cạnh tranh, xâm nhập vào thị trường và ứng dụng vào thực tiễn đời sống

Trước những yêu cầu bức xúc về phát triển kinh tế xã hội, trong thời gian gần đây, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách mới nhằm đổi mới hoạt động khoa học công nghệ (KHCN) và phát triển tiềm lực KHCN Trong số đó

có Nghị định số 115/2005/NĐ-CP (NĐ115) của Chính phủ, ban hành ngày 05/9/2005, quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập

Theo NĐ115, từ 2010 trở đi, chỉ có một số ít các tổ chức khoa học công nghệ được Nhà nước bao cấp hoàn toàn (đó là những viện nghiên cứu cơ bản: Viện Toán học, Viện nghiên cứu trái đất và các đơn vị trực thuộc khác của Viện khoa học công nghệ Việt Nam, Viện khoa học xã hội Việt Nam, các viện chính sách chiến lược) Còn hầu hết các Viện nghiên cứu khác phải chuyển đổi thành tổ chức khoa học tự trang trải kinh phí hoặc doanh nghiệp khoa học công nghệ

Qua hơn 3 năm quá độ, thực hiện việc chuyển đổi của nhiều Viện nghiên cứu diễn ra chậm hơn rất nhiều so với yêu cầu của Chính phủ Theo phân tích của các nhà khoa học, chuyển sang hoạt động theo NĐ115, điều đáng sợ nhất của người làm khoa học là mất định hướng và các sản phẩm nghiên cứu không có đầu ra Cho đến nay, hầu hết các viện nghiên cứu chỉ quen làm đề tài nghiên cứu, không có bộ phận quan hệ công chúng (PR), quảng cáo sản phẩm, tạo thị trường Có ý kiến cho rằng, các nhà hoạch định chính sách chỉ

Trang 10

nhìn thấy thuận lợi của NĐ115, mà ít chú ý đến những khó khăn của các Viện khi triển khai, từ đó thiếu những giải pháp hỗ trợ để thực thi hiệu quả nghị định Chẳng hạn, về vấn đề nhân sự, cần có quy định cụ thể đối với những người làm việc không có hiệu quả, tồn tại từ thời bao cấp đến nay Về tài chính, Nhà nước cần có chính sách khoán đề tài để trả lương chính đáng, công khai cho người nghiên cứu

Là một trong số các Viện nghiên cứu khoa học lớn của cả nước, năm

2007 Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam (KHTLVN) đã được thành lập trên

cơ sở sắp xếp lại tổ chức của Viện Khoa học Thuỷ lợi và Viện Khoa học Thuỷ lợi Miền Nam và dự kiến chính thức vận hành theo NĐ115 từ đầu năm 2010 theo lộ trình do Chính phủ yêu cầu

2 Các vấn đề còn tồn tại

Viện bắt đầu vận hành theo cơ cấu tổ chức mới từ tháng 5 năm 2008 Hiện trong giai đoạn quá độ chuyển sang hoạt động theo cơ chế mới, Viện KHTLVN cũng đang gặp một số khó khăn như đã đề cập trên đây Bên cạnh

đó, phương thức quản lý truyền thống theo mô hình cũ đang là rào cản lớn cho không chỉ lãnh đạo mà đối với hầu hết cán bộ công nhân viên của Viện Câu hỏi được đặt ra là, đặc thù của ngành khoa học thuỷ lợi có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của Viện? Tổ chức và phương thức quản lý cũ có ảnh hưởng như thế nào khi chuyển đổi? Làm thế nào để Viện KHTLVN có thể thích ứng một cách nhanh nhất với cơ chế vận hành chế vận hành mới? Cơ chế quản lý của Viện cần hoàn thiện như thế nào?

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát

Đề tài này nghiên cứu đề xuất các giải pháp thực hiện NĐ115 và đổi mới

cơ chế quản lý nhằm nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh của Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam

Trang 11

3.2 Mục tiêu cụ thể

1- Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về yêu cầu chuyển đổi mô hình của các

tổ chức hoạt động khoa học công nghệ

2- Đánh giá thực trạng mô hình, cơ chế quản lý KHCN của Viện KHTLVN

3- Đề xuất định hướng và các giải pháp nhằm thực hiện, chuyển đổi thành công sang hoạt động theo tinh thần NĐ115 của Chính phủ và đổi mới cơ chế quản lý của Viện KHTLV

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Thu thập số liệu thứ cấp (secondary data)

Các tài liệu, văn bản pháp quy của Nhà nước liên quan đến hoạt động của

tổ chức KHCN, các doanh nghiệp được thu thập để tìm hiểu về môi trường, khung pháp lý và các yêu cầu đối với tổ chức KHCN Các tài liệu này được thu thập tại Bộ KHCN, Bộ NN & PTNT (cơ quan chủ quản của Viện KHTLVN) Các tài liệu khác liên quan đến hoạt động của Viện KHTLVN được thu thập ngay trong Viện, tại các Ban chức năng Sau khi thu thập, tài liệu đã được phân tích dưới nhiều dạng khác nhau để làm rõ định hướng của Nhà nước đối với các tổ chức KHCN, vai trò của các tổ chức KHCN đối với công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước Các tài liệu thống kê, tổng hợp lưu trữ của Viện cũng là cơ sở để phân tích, đánh giá thực trạng về tổ chức bộ máy, cơ chế quản lý điều hành Viện trong thời gian gần đây

4.2 Thu thập tài liệu nguyên thuỷ (primary data)

4.2.1 Điều tra phỏng vấn

Để đánh giá được thực trạng về tổ chức bộ máy, chiến lược phát triển

và cơ chế quản lý, hoạt động của Viện KHTLVN, đề tài đã tiến hành điều tra phỏng vấn ở các đơn vị thành viên của Viện

Những người được phỏng vấn bao gồm: lãnh đạo các đơn vị, cán bộ

Trang 12

chủ trốt của đơn vị, những người am tường về phương thức quản lý, tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ Những người cung cấp thông tin cũng được yêu cầu đánh giá về tổ chức quản lý, cơ chế quản lý của đơn vị mình cũng như của Viện KHTLVN đối với đơn vị

4.2.2 Điều tra theo phiếu câu hỏi

Do điều kiện thời gian có hạn, ở đây đề tài không tiến hành xác định quy mô của mẫu số liệu Các thông tin được thu thập ở các đơn vị thành viên của Viện KHTLVN theo phiếu, mỗi đơn vị 01 phiếu

Đánh giá của người được phỏng vấn được cho điểm với thang điểm 10

4.3 Công cụ phân tích số liệu

Số liệu thu thập được tổ chức thành các bảng biểu trong MS Excel Để đánh giá thực trạng về tổ chức bộ máy, cơ chế quản lý của Viện và mức độ ảnh hưởng của từng khía cạnh khác nhau đến hiệu quả NCKH và sản xuất kinh doanh của Viện, đề tài sử dụng bộ phần mềm SPSS (Software Package for Social Science) để phân tích số liệu Hàm thống kê của phần mềm được sử dụng trong nghiên cứu này là Bivariate Correlation

Hàm Bivariate Correlation cho phép xác định hệ số tương quan tuyến tính giữa các tập hợp số liệu (Pearson's correlation coefficient, viết tắt là hệ số Pearson) tương ứng các mức ý nghĩa khác nhau Hệ số Pearson có giá trị từ -1 đến 1 Giá trị dương biểu hiện cho tương quan thuận giữa hai tập hợp, ngược lại giá trị âm biểu hiện cho tương quan nghịch

Theo lý thuyết thống kê, nếu hai tập hợp số liệu có tương quan chặt thì mức ý nghĩa của kết quả tính toán sẽ được biểu hiện ở mức 0.01 hoặc 0.05 (mức ý nghĩa 0.01 thể hiện tương quan chặt chẽ hơn ở mức 0.05) [11]

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một tổ chức hoạt động KHCN công

Trang 13

lập đang trong quá trình chuyển đổi sang mô hình tự chủ, tự trang trải kinh phí theo tinh thần NĐ115 của Chính phủ

5.2 Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu các giải pháp nhằm thực hiện NĐ115 và đổi mới cơ chế quản lý cho một tổ chức hoạt động KHCN, cụ thể là Viện KHTLVN

6 Những đóng góp của luận văn

Đề tài đã khái quát được những thuận lợi, khó khăn đối với các tổ chức hoạt động KHCN nói chung và Viện KHTLVN nói riêng, đặc biệt trước yêu cầu thực hiện NĐ115 của Chính phủ và Hội nhập quốc tế

Định hướng và các giải pháp nhằm thực hiện NĐ115 của Chính phủ và đổi mới cơ chế quản lý đối với Viện KHTLVN trong bối cảnh mới

7 Bố cục của luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận khuyến nghị, luận văn được xây dựng thành 3 chương Cụ thể như sau:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về yêu cầu chuyển đổi các tổ

chức KHCN công lập sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Chương II: Khái quát về Viện Khoa học Thủy lợi Việt nam

Chương III: Phân tích và đề xuất giải pháp áp dụng cơ chế quản lý

tại Viện KHTL Việt Nam

Kết luận và khuyến nghị

Trang 14

8 Lời cảm ơn của tác giả

Để hoàn thành luận văn này, bên cạnh nỗ lực của bản thân, tác giả nhận được rất nhiều động viên, khích lệ của các thầy cô giáo, gia đình và đông đảo các bạn đồng nghiệp Trước tiên, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Văn Nghiến vì những định hướng khoa học và hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của Thầy

Sau đó, tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Bách khoa

Hà Nội, các thầy cô giáo, Khoa sau đại học, các phòng chức năng của trường

đã giành cho học viên sự nhiệt thành và hỗ trợ tích cực, giúp tác giả hoàn thành khoá học và triển khai nghiên cứu tốt nghiệp

Có được thành quả ngày hôm nay, tác giả muốn gửi lời trân trọng cảm ơn đến lãnh đạo Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam; Ban Tài chính, Kế toán của Viện đã tạo điều kiện, giành thời gian cho tác giả tham gia khoá học, góp ý chi tiết cho đề cương nghiên cứu và các bản thảo luận văn Tác giả cũng trân trọng và đánh giá cao sự ủng hộ của cán bộ, lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Viện KHTLVN, những người trả lời phỏng vấn và cung cấp số liệu thông tin

để thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn các bạn cùng lớp, các đồng nghiệp vì sự cổ vũ và

hỗ trợ có hiệu quả của họ

Cuối cùng, tác giả không thể không nhắc đến ghi nhận của mình về sự chia sẻ hết sức cảm động của gia đình, đặc biệt là của con gái Điều đó đã tiếp thêm động lực để tác giả hoàn thành khoá học thạc sỹ và luận văn tốt nghiệp Trong điều kiện thời gian có hạn, chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót trong quá trình thực hiện nghiên cứu Xin trân trọng cảm ơn và tiếp thu các ý kiến đóng góp để tác giả hoàn thiện luận văn này

Trang 15

- Tổ chức nghiên cứu khoa học;

- Tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;

- Tổ chức dịch vụ khoa học công nghệ

Các tổ chức này do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập Trước khi có NĐ115, tất cả các hoạt động của tổ chức KHCN đều dưới sự chỉ đạo, quản lý của Nhà nước (từ lập kế hoạch, tổ chức triển khai, phân phối sản phẩm và lợi nhuận)

Về hình thức thì tổ chức KHCN hoàn toàn giống các doanh nghiệp nhà nước trước kia Tuy nhiên, các tổ chức KHCN được ưu đãi hơn về thuế và tham gia thực hiện các nhiệm vụ đặc thù khác do Nhà nước quản lý

1.1.2 Cơ chế quản lý khoa học công nghệ

Cơ chế quản lý nói chung rất quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của bất cứ tổ chức nào Mặc dù vậy, khái niệm về cơ chế quản lý cũng được hiểu rất khác nhau ở từng tổ chức, trong từng bối cảnh cụ thể Vậy, cơ chế quản lý là gì?

Về mặt pháp lý và chính thống thì đến nay khái niệm này vẫn chưa được diễn giải rõ ràng [28]

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, “cơ chế là cách thức

mà theo đó một quá trình được thực hiện” [22] Tuy vậy, theo cách nhìn của

Trang 16

các nhà quản lý thì khái niệm này được diễn giải cụ thể hơn Theo đó, cơ chế quản lý là sự tương tác giữa các nguyên tắc, phương pháp quản lý khi chúng đồng thời tác động lên một đối tượng quản lý Như vậy, cơ chế quản lý chỉ sự diễn biến nội tại của một hệ thống, sự tương tác giữa các yếu tố cấu thành hệ thống trong quá trình vận động của mỗi yếu tố, nhờ đó hệ thống có thể vận hành, phát triển theo những mục đích đã định [10]

Đối với lĩnh vực khoa học công nghệ ở Việt Nam, để đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong các giai đoạn khác nhau, cơ chế quản lý đã sớm được hình thành và từng bước hoàn thiện Mặc dù đã có những tiến bộ nhất định, cơ chế quản lý KHCN còn chưa được đổi mới cơ bản nhằm phù hợp với cơ chế thị trường, yêu cầu của hoạt động KHCN trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, theo Bộ KHCN, các hạn chế

về mặt cơ chế đối với các tổ chức KHCN ở nước ta trước khi có NĐ115 được biểu hiện qua những vấn đề cụ thể sau [2]:

- Các tổ chức KHCN của Nhà nước chưa được thực hiện đầy đủ quyền

tự chủ về kế hoạch, tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế để phát huy tính năng động, sáng tạo và gắn kết giữa nghiên cứu, đào tạo và sản xuất, kinh doanh Chưa xây dựng được các tiêu chí cụ thể đánh giá chất lượng và hiệu quả của hoạt động KHCN nói chung và các tổ chức KHCN nói riêng

- Cơ chế, chính sách tài chính chưa tạo động lực và điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân hoạt động KHCN Cơ chế tài chính còn chưa tạo ra sự tự chủ cao đối với các tổ chức KHCN Thiếu biện pháp hữu hiệu để huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước cho KHCN Thiếu các nguồn vốn đầu tư mạo hiểm để khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, kinh doanh

- Cơ chế quản lý cán bộ KHCN chưa tạo động lực để phát huy năng lực sáng tạo của cán bộ KHCN Chậm chuyển đổi từ chế độ công chức sang chế

Trang 17

độ viên chức và hợp đồng, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu chuyển

và đổi mới cán bộ Thiếu cơ chế, biện pháp cụ thể xây dựng và nâng cao vai trò của đội ngũ cán bộ KHCN đầu ngành và các tập thể KHCN mạnh Chế độ tiền lương còn bất hợp lý, không khuyến khích cán bộ toàn tâm với sự nghiệp KHCN Chưa có các chính sách cụ thể khuyến khích mạnh lực lượng KHCN ngoài nước tham gia đóng góp vào sự nghiệp phát triển đất nước

- Chưa phát triển được thị trường công nghệ Hoạt động mua, bán công nghệ và lưu thông các kết quả nghiên cứu còn rất hạn chế do thiếu nhiều tác nhân quan trọng, các yếu tố cấu thành thị trường và các quy định pháp lý cần thiết

- Phần lớn các kết quả nghiên cứu còn dừng ở phạm vi phòng thí nghiệm, chưa tạo ra được nhiều công nghệ hoàn chỉnh có thể thương mại hoá Chưa chú trọng việc mua sáng chế công nghệ của các nước tiên tiến để đổi mới công nghệ

- Chưa quan tâm khai thác, thương mại hóa các kết quả nghiên cứu được tạo ra bằng kinh phí từ ngân sách nhà nước

Như vậy, từ đánh giá của cơ quan quản lý nhà nước cấp cao nhất (Bộ KHCN) thì cơ chế quản lý KHCN ở Việt Nam nói chung và cơ chế quản lý KHCN trong các tổ chức nghiên cứu nói riêng vẫn tồn tại nhiều bất cập, cần phải nghiên cứu chỉnh sửa và hoàn thiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP, ngày 05/9/2005 (NĐ115) của Chính phủ ban hành được cho là một chủ trương có tính chất chìa khóa trong cải cách quản lý hoạt động KH&CN ở nước ta hiện nay

Mặc dù vậy, trước thực tế triển khai NĐ115 của các tổ chức KHCN chậm hơn yêu cầu của Chính phủ, câu hỏi được đặt ra là liệu việc hoàn thiện

cơ chế quản lý KHCN có thể dựa trên cơ sở pháp lý và hệ thống lý luận của một mô hình cụ thể nào?

Trang 18

1.1.3 Cơ sở hình thành cơ chế quản lý của các tổ chức KHCN ở Việt Nam

Như các đối tượng khác trong xã hội, tổ chức KHCN chịu chi phối chung của hệ thống luật pháp; chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước Tuy nhiên, thực tế thì các định chế có liên quan nhiều nhất đến hoạt động của các tổ chức KHCN ở nước ta bao gồm:

1.1.3.1 Luật khoa học và công nghệ:

Sau quá trình xây dựng, sửa đổi, Luật KHCN (ngày 9/6/2000) đã có những bước tiến rõ rệt, giúp cho các đơn vị KHCN có môi trường hoạt động thông thoáng hơn, thể hiện ở chỗ Luật đã qui định rõ Các tổ chức KHCN, các doanh nghiệp, tổ chức xã hội thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia xây dựng

và thực hiện nhiệm vụ KHCN của Nhà nước, tự chủ trong việc xác định nhiệm vụ KHCN của tổ chức mình Luật KHCN được ban hành với một số mục tiêu cụ thể sau:

- Tăng cường sự điều phối của Chính phủ trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ KHCN để tránh sự chồng chéo và trùng lặp Bộ Khoa học và Công nghệ giúp Chính phủ tổ chức thực hiện việc điều phối này

- Hoàn thiện cơ chế xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ KHCN của Nhà nước

- Xác định rõ các nhiệm vụ KHCN ưu tiên ở các cấp Cơ quan quản lý nhà nước về KHCN các cấp tổ chức việc trao đổi giữa các viện, trường, doanh nghiệp và cơ quan hoạch định chính sách để xác định các nhiệm vụ ưu tiên

- Đối với các nhiệm vụ KHCN mang tính ứng dụng, xuất phát từ nhu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của các sản phẩm, thực hiện cơ chế liên kết giữa tổ chức KHCN với cơ sở áp dụng kết quả nghiên cứu trong toàn bộ quá trình từ xác định nhiệm vụ, tổ chức thực hiện, đánh giá và đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

- Áp dụng rộng rãi phương thức tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện

Trang 19

nhiệm vụ KHCN theo cơ chế cạnh tranh, công khai, dân chủ Việc giao trực tiếp cho tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ KHCN phải được thực hiện công khai dựa trên các tiêu chí lựa chọn rõ ràng Hoàn thiện quy chế tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ KHCN

- Đổi mới căn bản công tác đánh giá hoạt động KHCN dựa trên những tiêu chuẩn rõ ràng, cụ thể, phù hợp với từng loại hình nghiên cứu: đối với nghiên cứu cơ bản phải đánh giá bằng chất lượng khoa học phù hợp với chuẩn mực quốc tế; đối với nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ phải lấy hiệu quả kinh tế - xã hội của việc ứng dụng trong thực tiễn làm tiêu chuẩn chủ yếu

- Hoàn thiện các quy định về thành lập và hoạt động của các hội đồng tư vấn xác định, tuyển chọn và đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ KHCN, bảo đảm tính độc lập và khách quan của hội đồng Xây dựng cơ sở dữ liệu về chuyên gia đánh giá, tiêu chuẩn thành viên và cơ cấu hội đồng phù hợp với từng loại hình nghiên cứu

- Đưa nhanh các kết quả nghiên cứu KHCN áp dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống

- Cơ quan quản lý KHCN các cấp có trách nhiệm xây dựng và bảo đảm thực hiện cơ chế đưa nhanh các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ áp dụng vào thực tiễn Tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ KHCN có trách nhiệm thực hiện các quy định về lưu giữ, bảo mật, phổ biến và sử dụng và chuyển giao kết quả nghiên cứu KHCN Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có trách nhiệm đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Nhà nước ban hành các chính sách khuyến khích và thúc đẩy các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đổi mới công nghệ

Trang 20

1.1.3.2 Luật sở hữu trí tuệ

Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, được Quốc hội Việt Nam khoá XI trong kỳ họp thứ 8, thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 và có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2006, là luật quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó Về cơ bản, các quyền của tổ chức và cá nhân liên quan đến KHCN bao gồm:

- Quyền sở hữu trí tuệ: quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng;

- Quyền tác giả: quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu;

- Quyền sở hữu công nghiệp: quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh;

- Tên thương mại: tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực

1.1.3.3 Luật doanh nghiệp:

Năm 2005, Luật doanh nghiệp thống nhất được ban hành, Luật doanh nghiệp 2005 có mục đích kết hợp và tiến tới thay thế các quy định hiện hành

về thành lập, tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp trong các luật như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Luật Luật Doanh nghiệp tạo ra khung pháp lý áp dụng theo loại hình, đặc trưng của doanh nghiệp chứ không theo chủ thể sở hữu doanh nghiệp Cụ thể là Luật Doanh nghiệp qui định về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của bốn loại hình

Trang 21

doanh nghiệp cơ bản: doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty TNHH và công ty cổ phần Bất cứ doanh nghiệp nào thuộc một trong bốn loại hình này đều được điều chỉnh bởi Luật doanh nghiệp thống nhất mà không phụ thuộc vào tính chất sở hữu của doanh nghiệp

Quyền kinh doanh của doanh nghiệp được mở rộng, tính tự chủ kinh doanh được nâng cao, việc quản trị cũng được cải thiện và ít phải phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước hơn

Quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu là quyền của doanh nghiệp được tự chủ quyết định các vấn đề trong các hoạt động kinh doanh, đặc biệt là quyền đầu tư kinh doanh và quyền huy động vốn Mở rộng quyền

tự do kinh doanh của doanh nghiệp cũng có nghĩa là hạn chế sự can thiệp hành chính tùy ý của các cơ quan nhà nước vào hoạt động của doanh nghiệp Nhìn chung Luật doanh nghiệp đã đáp ứng được những yêu cầu đặt ra trong tư tưởng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đó là: i) mở rộng quyền tự

do kinh doanh để tất cả các doanh nghiệp được kinh doanh và đầu tư trong mọi lĩnh vực luật pháp không cấm cũng như được tự chủ và tự chịu trách nhiệm về doanh nghiệp của mình; ii) đổi mới chức năng quản lý hành chính nhà nước cho phù hợp với nền kinh tế thị trường và tăng cường tính minh bạch; iii) phù hợp với các nguyên tắc quốc tế và cam kết của Chính phủ Việt Nam trong các thoả thuận hội nhập

Tuy nhiên, để Luật doanh nghiệp có thể phát huy được hiệu lực và đi vào cuộc sống thì cần có sự thống nhất giữa nội dung của Luật này và các quy định hiện hành khác có liên quan (ví dụ Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư, một

số luật chuyên ngành và các cam kết quốc tế); Đồng thời, phụ thuộc vào tiến

độ chuyển đổi, sắp xếp lại các doanh nghiệp

1.1.3.4 Luật lao động

Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật

Trang 22

chất và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của các tổ chức sự nghiệp, kinh tế, xã hội nói chung và của đất nước nói riêng

Luật lao động quy định quyền và nghĩa vụ của người lao động và của người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động, góp phần thúc đẩy sản xuất

Luật lao động bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hoà và ổn định, góp phần phát huy trí sáng tạo và tài năng của người lao động trí óc và lao động chân tay, của người quản lý lao động, nhằm đạt năng suất, chất lượng và tiến bộ xã hội trong lao động, sản xuất, dịch vụ, hiệu quả trong sử dụng và quản lý lao động, góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì

sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh

1.1.3.5 Cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế mà thị trường đóng vai trò quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực và các quan hệ kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân thông qua các qui luật của thị trường, trước hết là qui luật giá trị; đồng thời có sự bổ sung, kết hợp của các qui luật của CNXH như qui luật phát triển có kế hoạch, cân đối, công bằng giữa các vùng và thành phần kinh tế

Nền kinh tế Việt Nam hiện nay là nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường định hướng XHCN trong giai đoạn đầu của CNXH Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam mới bước đầu hình thành và còn cần phải tiếp tục xây dựng, phát triển và hoàn thiện Nó không phải là kinh tế thị trường phát

Trang 23

triển hay kinh tế thị trường tự nhiên phát triển, và cũng chưa phải là kinh tế thị truờng XHCN

Quá trình xây dựng và từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam đã và đang được thực hiện trên các mặt:

+ Thứ nhất, xây dựng, hoàn thiện pháp luật về kinh tế, tạo khung pháp lý cho kinh tế thị trường định hướng XHCN Trong những năm qua, Nhà nước Việt Nam đã ban hành mới, sửa đổi bổ sung nhiều Luật và văn bản dưới luật

về tổ chức và hoạt động của các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng

Tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng, mặc dù đã có nhiều đổi mới và đáp ứng ngày càng tốt hơn các yêu cầu của kinh tế thị trường mà Luật Doanh nghiệp là một ví dụ, nhưng hệ thống pháp luật của Việt Nam vẫn thiếu nhiều qui định quan trọng; còn nhiều nội dung chưa phù hợp với các nguyên tắc của WTO và chậm được cải tiến so với các nước trong khu vực Quy định của pháp luật còn thiếu cụ thể, rõ ràng và quá hay bị thay đổi, thiếu nhất quán nên khó dự đoán trước được Đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng thực thi pháp luật yếu kém; pháp luật không đi vào cuộc sống hoặc bị lợi dụng, vi phạm

Để hoàn thiện khung khổ pháp luật phù hợp và phục vụ cho phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, Việt Nam đang đẩy mạnh thực hiện chương trình xây dựng pháp luật phù hợp không những với thực tế Việt Nam

mà còn cả với các cam kết hội nhập và các qui định của WTO Thực hiện tự

do hoá kinh tế, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bình đẳng của các chủ thể kinh

tế, một mặt bằng pháp lý và các điều kiện kinh doanh chủ yếu trên thương trường cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế là yêu cầu đang được đặt ra trong công tác xây dựng pháp luật về kinh tế ở Việt Nam

Trang 24

+ Thứ hai, thực hiện cải cách hành chính Trong những năm đổi mới vừa qua, công tác cải cách hành chính đã được chú trọng nhiều hơn, gắn kết và phục vụ tốt hơn cho quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN

+ Thứ ba, đổi mới quản lý Nhà nước về kinh tế Đổi mới về chức năng

kinh tế của nhà nước và phương thức quản lý nhà nước về kinh tế Trong đó, đối với doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước chung đối với mọi loại hình doanh nghiệp, vừa thực hiện chức năng của chủ sở hữu (hoặc đại diện chủ sở hữu) theo hướng ngày càng phải phân định rõ hơn giữa hai chức năng này Nhà nước có thể và cần biết sử dụng doanh nghiệp nhà nước như một công cụ quan trọng để định hướng XHCN cho nền kinh tế thị trường

Về phương thức quản lý kinh tế cơ bản được đổi mới theo hướng căn cứ pháp luật, sử dụng tốt hơn các công cụ vĩ mô, các nguồn lực vật chất trong tay nhà nước, các DNNN để định hướng và thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN Tuy nhiên cũng phải chỉ ra rằng, hệ thống pháp luật kinh tế hiện nay chưa hoàn toàn đã là thị trường, lại càng chưa là thị trường định hướng XHCN Các công cụ chiến lược, qui hoạch, kế hoạch, và các công cụ vĩ mô khác chưa thật sắc bén, hiệu quả và thị trường, đồng thời trong không ít trường hợp cũng chưa được sử dụng đúng mục đích và đúng cách Điều này được thể hiện ở không ít trường hợp có sự can thiệp trực tiếp quá sâu, thậm chí không phù hợp với qui định của pháp luật của một số cơ quan nhà nước vào các dự án, doanh nghiệp, nhất là DNNN; ở tình trạng đầu

tư của Nhà nước, DNNN còn lớn và kém hiệu quả Hiện nay, đổi mới quản

lý nhà nước đang được ưu tiên hàng đầu Một loạt những chính sách, biện pháp đã được đề ra và áp dụng nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng công tác qui hoạch, kế hoạch hoá phát triển kinh tế xã hội

Trang 25

+ Thứ tư là hình thành, phát triển các loại thị trường chủ yếu, bao gồm thị trường hàng hoá, dịch vụ thông thường và các thị trường nhân tố sản xuất Thị trường tự do ngày càng được mở rộng; thị trường độc quyền nhà nước hoặc độc quyền doanh nghiệp nhà nước, thị trường gia nhập có điều kiện ngày càng

bị thu hẹp; cơ chế thị trường ngày càng được áp dụng phổ biến và triệt để hơn Thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ cũng từng bước được hình thành và phát triển Tuy nhiên, thị trường phi chính qui vẫn chiếm tỷ lệ khá lớn, khung pháp lý cho việc hình thành thị trường chính qui còn mới mẻ, nhiều bất cập, hệ thống các tổ chức quản lý nhà nước và các chủ thể tham gia các thị trường này còn nhỏ bé, yếu kém, cần được tạo điều kiện để phát triển

Về mặt lý luận, nhìn sang các doanh nghiệp, mặc dù vẫn tồn tại một số bất cập nhưng các doanh nghiệp đã có thời gian rất dài với bề dầy kinh nghiệm về triển khai đổi mới cơ chế quản lý Đến nay, vấn đề này đã được đúc kết thành hệ thống lý luận tương đối hoàn thiện về mặt học thuật [5], [8], [24] Trong khi tổ chức KHCN được đánh giá là có đặc điểm tương đồng với các doanh nghiệp, việc đổi mới cơ chế quản lý trong tổ chức KHCN có thể vận dụng được những gì? Dưới đây đề tài khái quát những nét cơ bản nhất về

cơ chế quản lý trong các doanh nghiệp hiện nay

1.1.3.6 Đổi mới cơ chế quản lý và hoạt động của các tổ chức KHCN

Cùng với quá trình cải cách thủ tục hành chính của đất nước, việc đổi mới cơ chế quản lý và hoạt động của các tổ chức KHCN là giải pháp cơ bản

để nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu [25] Cụ thể:

- Đổi mới cơ chế quản lý và hoạt động của các tổ chức KHCN nhằm tạo điều kiện thuận lợi phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức, cá nhân hoạt động KHCN Xây dựng một số tổ chức KHCN của Nhà nước đạt trình độ tiên tiến trong khu vực thuộc các lĩnh

Trang 26

vực trọng điểm được xác định trong Chiến lược phát triển KHCN đến năm

2010 Tăng cường mối liên kết giữa nghiên cứu - đào tạo - sản xuất

- Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức KHCN của Nhà nước hoạt động nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược và chính sách, nghiên cứu các lĩnh vực KHCN trọng điểm và một số lĩnh vực khác do Nhà nước quy định

- Tự chủ về hoạt động KHCN: các tổ chức KHCN phải có trách nhiệm thực hiện tốt các nhiệm vụ Nhà nước giao đồng thời tự chủ tiến hành các hoạt động KHCN khác theo quy định của pháp luật (liên kết, hợp tác, ký hợp đồng nghiên cứu và dịch vụ KHCN, chuyển giao công nghệ v.v )

- Tự chủ về tài chính: Nhà nước đảm bảo kinh phí hoạt động để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao theo phương thức khoán chi quỹ lương, hoạt động bộ máy và kinh phí thực hiện nhiệm vụ KHCN Các tổ chức này được tự chủ trong việc sử dụng các nguồn thu khác từ hợp đồng KHCN với các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài

- Tự chủ về quản lý nhân sự: Thực hiện phân cấp và trao quyền tự chủ nhân sự cho tổ chức KHCN của Nhà nước trên cơ sở thực hiện chế độ viên chức và hợp đồng lao động đối với cán bộ KHCN Cơ chế tự chủ về quản lý nhân sự được quy định cụ thể hơn

- Tự chủ về quan hệ hợp tác quốc tế: phân cấp mạnh hơn nữa cho các tổ chức KHCN trong việc cử cán bộ KHCN ra nước ngoài, thuê chuyên gia nước ngoài thực hiện nghiên cứu, đào tạo, tư vấn KHCN và đảm nhiệm chức vụ quản lý trong các tổ chức KHCN thuộc các lĩnh vực do Nhà nước quy định

- Nhà nước giao cho người đứng đầu các tổ chức khoa học và công nghệ thực hiện quyền tự chủ và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của tổ chức

- Chuyển các tổ chức nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp

Trang 27

- Chuyển các tổ chức nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ có sản phẩm gắn với thị trường sang hoạt động theo một trong các hình thức sau: doanh KHCN; doanh nghiệp; tổ chức KHCN tự trang trải kinh phí

- Doanh nghiệp KHCN có quyền và nghĩa vụ sau đây:

+ Về chức năng nhiệm vụ:

 Thực hiện các hoạt động KHCN, đào tạo nhân lực KHCN theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Giáo dục và các quy định pháp luật khác có liên quan

 Tổ chức sản xuất và kinh doanh sản phẩm mới, dịch vụ KHCN dựa trên kết quả nghiên cứu và phát triển theo Luật Doanh nghiệp

+ Về tổ chức:

 Các doanh nghiệp KHCN được tổ chức theo loại hình Công ty có nhiều hình thức sở hữu (nhà nước, tập thể, tư nhân) hoặc theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con, với cơ cấu gồm:

 Các đơn vị nghiên cứu và phát triển có chức năng nghiên cứu phát triển công nghệ, tiếp nhận, thích nghi công nghệ mới và tổ chức chuyển giao công nghệ này vào các đơn vị sản xuất - kinh doanh bên trong hoặc bên ngoài doanh nghiệp KHCN Giá trị sáng chế và giá trị công nghệ chuyển giao của các đơn vị nghiên cứu và phát triển được tính vào vốn điều lệ khi thành lập các đơn vị sản xuất - kinh doanh hoặc liên doanh, liên kết với tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài

 Các đơn vị sản xuất - kinh doanh được tổ chức dưới dạng các loại doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, hoạt động theo quy định của pháp luật hiện hành

 Bộ máy tổ chức và cơ chế quản lý của doanh nghiệp KHCN được xác định phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của loại hình doanh nghiệp này

+ Về quản lý tài sản và tài chính:

Trang 28

 Nhà nước giao quyền sử dụng và quản lý toàn bộ tài sản cho các doanh nghiệp KHCN chuyển đổi từ các tổ chức nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ theo quy định hiện hành của pháp luật về giao tài sản cho doanh nghiệp

 Doanh nghiệp KHCN phải trích ít nhất 2% doanh thu để đầu tư cho hoạt động KHCN, kể từ khi có thu nhập và được hưởng các ưu đãi theo quy định của pháp luật Nhà nước hỗ trợ một phần quỹ lương và hoạt động bộ máy trong 3 năm kể từ khi có quyết định chuyển đổi; hỗ trợ một phần vốn cố định và lưu động khi thành lập các công ty sản xuất - kinh doanh trực thuộc;

có chính sách hỗ trợ cán bộ KHCN, viên chức trong khi chờ việc, thuyên chuyển, đào tạo lại, thôi việc v.v

+ Về quản lý nhân lực và quan hệ hợp tác, liên kết:

 Tự chủ trong việc ký kết hợp đồng lao động đối với cán bộ, viên chức theo Luật Lao động, Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Doanh nghiệp và các quy định pháp luật có liên quan

 Chủ động thực hiện các quan hệ hợp tác quốc tế về KHCN, kinh tế, thương mại theo quy định của pháp luật

 Tổ chức nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ chuyển sang hình thức doanh nghiệp, tổ chức KHCN tự trang trải kinh phí:

 Tổ chức nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ chuyển sang hình thức doanh nghiệp, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Các tổ chức chuyển đổi sang hình thức doanh nghiệp được giao tài sản như đối với doanh nghiệp KHCN và hưởng các ưu đãi về thuế, phí, lệ phí và các ưu đãi khác như đối với doanh nghiệp mới thành lập

 Tổ chức khoa học và công nghệ tự trang trải kinh phí hoạt động theo Luật KHCN Các tổ chức chuyển đổi này được Nhà nước giao toàn bộ tài sản, được hỗ trợ quỹ lương và hoạt động bộ máy kể từ khi có quyết định chuyển

Trang 29

đổi Mức và thời gian hỗ trợ quỹ lương và hoạt động bộ máy được căn cứ vào kết quả đánh giá của cơ quan quản lý KHCN có thẩm quyền về chất lượng và hiệu quả hoạt động của các tổ chức chuyển đổi này

1.1.4 Cơ chế quản lý trong các doanh nghiệp

Nội dung cơ chế quản lý doanh nghiệp bao gồm: cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý; chiến lược và kế hoạch phát triển doanh nghiệp; cơ chế tài chính; cơ chế quản lý nguồn lực [5] Để đặt cơ sở cho việc nghiên cứu hoàn thiện cơ chế quản lý trong các tổ chức KHCN, đề tài tổng hợp và phân tích những nội dung lý luận về cơ chế quản lý như sau:

1.1.4.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý

Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp không phải là cái gì bất biến Ngược lại, việc định hình cơ cấu tổ chức thường phức tạp Vì vậy, vai trò và ảnh hưởng

của người quản lý rất quan trọng [6]

Jay W.Lorsch, tiến sĩ về quản lý công thương nghiệp của Trường Đại học Harvard và là nhân vật nổi tiếng của lý luận quản lý hiện đại thuộc trường phái lý luận quyền biến cho rằng, trước hết phải phân biệt một cách chính xác

“cơ cấu cơ bản” và "cơ chế vận hành" Khi nói đến cơ cấu cơ bản của một doanh nghiệp, người ta cần phải xét đến những vấn đề chủ yếu như sự phân công trong nội bộ tổ chức việc sắp xếp nhiệm vụ công tác cho các phòng, ban khác nhau, làm thế nào để thực hiện sự điều hòa, phối hợp cần thiết nhằm bảo đảm thực hiện được mục tiêu tổng thể của doanh nghiệp

Việc xác lập và tăng cường cơ chế vận hành sẽ làm cho công nhân viên hiểu rõ rằng, cái mà doanh nghiệp yêu cầu và mong muốn ở họ là cái gì? Một

cơ chế vận hành tốt sẽ khích lệ công nhân viên đồng tâm hiệp lực, gắng sức thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp Điều đó cũng có nghĩa là cơ chế vận hành đem lại nội dung và sức sống cho cơ cấu cơ bản của doanh nghiệp

Trang 30

Lý luận quản lý cổ điển về cơ cấu tổ chức:

Lorsch cho rằng, kinh nghiệm chủ yếu của các học giả nổi tiếng của lý luận cổ điển và những người theo họ là kinh nghiệm thực tế của các doanh nghiệp ở thời kỳ đầu của thế kỷ XX

Đối với những nhà lý luận quản lý cổ điển, việc điều hòa, phối hợp trong nội bộ doanh nghiệp không quan trọng Họ nhận định một cách đơn giản rằng, sau khi phân công trong nội bộ doanh nghiệp, những mục tiêu nhỏ của các tổ hợp lao động được tổng hợp lại sẽ trở thành mục tiêu lớn của doanh nghiệp Nếu cần điều phối thì hoàn toàn có thể dựa vào nhân viên quản lý kinh doanh

ở tầng lớp trên giải quyết Lý luận của họ là công nhân viên phải nghe theo sự chỉ huy của giám đốc Do đó, cơ cấu điều phối có hiệu quả duy nhất chỉ có thể

là tầng lớp giám đốc

Nhưng lý luận quản lý cổ điển còn có rất nhiều khiếm khuyết Trước hết,

nó rất khó khích lệ tính tích cực của doanh nghiệp Thứ hai, sự hạn chế của lý luận đó rất dễ biểu hiện ở những doanh nghiệp lớn vì ở đó, tầng nấc phân công rất phức tạp Thứ ba, trên thực tế các giám đốc ngày càng nhận thức được rằng, nếu chỉ dựa vào sự lãnh đạo ở tầng cao của doanh nghiệp thì rất khó thực hiện được sự điều hòa, phối hợp trong tổ hợp lao động cơ sở và nó

sẽ không tự động hợp thành mục tiêu lớn của doanh nghiệp

Lý luận quản lý hiện đại về thiết kế cơ cấu tổ chức doanh nghiệp:

Trường phái quản lý hệ thống trong lý luận quản lý hiện đại cho rằng, thiết kế tổ chức là do nhiệm vụ sản xuất và tố chất (chất lượng) của công nhân viên của doanh nghiệp quyết định Về mặt này, nghiên cứu của một số học giả

Mỹ về quản lý đều thừa nhận tính hữu hiệu của lý luận này Họ cho rằng, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp là vấn đề quan trọng có liên quan đến thành công của doanh nghiệp

Các học giả Mỹ đã trình bày những yếu tố chủ yếu cấu thành cơ cấu tổ

Trang 31

chức của những doanh nghiệp thành công, nhưng lại chưa đề ra được một đường lối hữu hiệu, hoàn chỉnh để giải quyết vấn đề cơ cấu tổ chức doanh nghiệp một cách có hệ thống Trên cơ sở những nghiên cứu của mình, Lorsch

đã tiếp tục tìm tòi, nghiên cứu và viết ra cuốn "Thiết kế cơ cấu tổ chức”, hình thành một hệ thống lý luận hoàn chỉnh về thiết kế cơ cấu tổ chức

Một khái niệm cơ bản khác là sự "tổng hợp” Khái niệm này là để chỉ những sức ép, thách thức và đòi hỏi trong những hoàn cảnh nhất định, năng lực và trình độ hợp tác, điều hòa của các bộ phận trong nội bộ doanh nghiệp

1.1.4.2 Chiến lược và kế hoạch phát triển doanh nghiệp

Chiến lược có thể coi là tập hợp những quyết định và hành động hướng mục tiêu để các năng lực và nguồn lực của tổ chức đáp ứng được những cơ hội và thách thức từ bên ngoài Vì vậy, trước hết chiến lược liên quan tới các mục tiêu của doanh nghiệp Thứ đến, chiến lược doanh nghiệp bao gồm không chỉ những gì doanh nghiệp muốn thực hiện, mà còn là cách thức thực hiện những việc đó là một loạt các hành động và quyết định có liên quan chặt chẽ với nhau và lựa chọn phương pháp phối hợp những hành động và quyết định đó Chiến lược của doanh nghiệp phải khai thác được những điểm mạnh

cơ bản của mình (các nguồn lực và năng lực) và phải tính đến những cơ hội, thách thức của môi trường [17]

Các chiến lược tồn tại ở vài cấp độ khác nhau - trải dài từ toàn bộ doanh nghiệp (hoặc một nhóm doanh nghiệp) cho tới từng cá nhân làm việc trong

đó Tuy nhiên, nhìn chung chiến lược và kế hoạch phát triển doanh nghiệp cần được cụ thể hoá trong một số mội dung, bao gồm:

Chiến lược doanh nghiệp – liên quan đến mục tiêu tổng thể và quy mô

của doanh nghiệp để đáp ứng được những kỳ vọng của người góp vốn Đây là một cấp độ quan trọng do nó chịu ảnh hưởng lớn từ các nhà đầu tư trong doanh nghiệp và đồng thời nó cũng hướng dẫn quá trình ra quyết định chiến

Trang 32

lược trong toàn bộ doanh nghiệp

Chiến lược kinh doanh - liên quan nhiều hơn tới việc làm thế nào một

doanh nghiệp có thể cạnh tranh thành công trên một thị trường cụ thể Nó liên quan đến các quyết định chiến lược về việc lựa chọn sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, giành lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, khai thác và tạo ra được các cơ hội mới v.v

Chiến lược tác nghiệp - liên quan tới việc từng bộ phận trong doanh

nghiệp sẽ được tổ chức như thế nào để thực hiện được phương hướng chiến lược ở cấp độ công ty và từng bộ phận trong doanh nghiệp Bởi vậy, chiến lược tác nghiệp tập trung vào các vấn đề về nguồn lực, quá trình xử lý và con người

Quản trị chiến lược - là một loạt các bước mà doanh nghiệp phải thực

hiện: Phân tích tình hình hiện tại; các quyết định nhằm đưa chiến lược vào thực thi đánh giá, điều chỉnh, thay đổi chiến lược khi cần thiết Nó bao gồm tất cả các chức năng cơ bản của quản lý: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm soát Như vậy, quy trình quản trị chiến lược bao gồm cả việc xây dựng chiến lược, thực hiện chiến lược và đánh giá chiến lược

Nói một cách tổng quát, quản trị chiến lược là một quá trình sắp xếp linh hoạt các chiến lược, tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh, nó bao gồm nhân lực, lãnh đạo, kỹ thuật và cả phương pháp xử lý

Một chiến lược cho tổ chức – dù chiến lược đó là cho toàn bộ hoạt động kinh doanh hay chỉ là hệ thống thông tin – cũng đều phải bao gồm:

- Một “tầm nhìn” chiến lược – một tầm nhìn dài hạn xem tổ chức mong muốn tự đặt mình vào trong mối quan hệ tới môi trường kinh doanh như thế nào – ví dụ, vai trò và chức năng của tổ chức, sản phẩm và dịch vụ mà tổ chức cung cấp, mối quan hệ giữa tổ chức với khách hàng và đối thủ cạnh tranh

- Các công việc cần làm cho sự thay đổi - những khu vực thay đổi quan

Trang 33

trọng mà tổ chức tham gia nhằm ứng phó với những khó khăn và cơ hội mà

nó phải đối mặt; những điều này sẽ là “chủ điểm” trong chiến lược trong đó

nó đưa ra một số chủ đề như cơ cấu và tổ chức, chức năng và hoạt động kinh doanh, cung cấp sản phẩm và dịch vụ, các vấn đề về quản lý và nhân viên; công nghệ hay các mối quan hệ bên ngoài; một chủ điểm được thực hiện trong khoảng thời gian dài hoặc trung hạn

- Các chính sách hướng dẫn quá trình ra quyết định và đưa ra một khuôn khổ chung cho các quyết định quản trị - những chính sách này sẽ ảnh hưởng tới những đặc điểm hành vi dẫn dắt tổ chức hướng tới một tương lai như mong muốn

Xem xét đánh giá lại chiến lược là một phần trong nhiệm vụ giám sát tình hình tổ chức Các nội dung cần xem xét:

- Tầm nhìn cho tổ chức vẫn còn có giá trị? Tầm nhìn về tương lai mong muốn cho doanh nghiệp có còn phù hợp, con đường mà hoạt động kinh doanh đang phát triển và những thay đổi đã diễn ra - hoặc dường như sẽ diễn ra - trong môi trường kinh doanh

- Các chủ điểm trong chiến lược có còn đúng không? Có cần phải thêm vào các chủ điểm khác trong “danh mục những công việc quan trọng cần làm”

do tình hình kinh doanh đã thay đổi, xuất hiện công nghệ mới và có áp lực từ môi trường bên ngoài hoặc thay đổi trong khả năng kinh doanh hay không?

Có chủ điểm chiến lược nào không còn phù hợp với“danh mục những công viêc quan trọng cần làm”?

- Tiến trình đang thực hiện đối với chủ điểm chiến lược, và có cần phải xác định lại thứ tự ưu tiên hoặc lập lại kế hoạch để đảm bảo rằng tỷ lệ thay đổi đáp ứng được những yêu cầu kinh doanh

Đồng thời, phải luôn đánh giá lại các cấp độ chiến lược hoặc kế hoạch sau:

- Tầm nhìn chiến lược

Trang 34

- Lộ trình đã được chọn để hướng tới tầm nhìn

- Các kế hoạch chi tiết để thực hiện

Trong nền kinh tế thị trường, bất cứ doanh nghiệp nào cũng theo đuổi các mục đích chủ yếu: sự tồn tại, phát triển, đa dạng hoá và hiệu quả kinh doanh Những mục đích này hình thành hệ thống mục tiêu toàn diện trong chiến lược hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm: cơ cấu sản phẩm, dịch vụ chủ yếu; doanh thu và tốc độ tăng trưởng hàng năm; hiệu quả

sử dụng vốn, công suất thiết bị; tổng lợi nhuận, nghĩa vụ Ngân sách, năng suất lao động và thu nhập bình quân; các chương trình, dự án đầu tư phát triển; hướng nghiên cứu sản xuất mới; hướng mở rộng thị trường, Các mục tiêu trên được hoạch định theo thời gian: dài hạn (10 đến 15 năm), trung hạn (5 năm) và ngắn hạn (hàng năm)

1.1.4.3 Cơ chế tài chính

Cơ chế tài chính là những cách thức, phương thức và công cụ tài chính

mà qua đó, quá trình quản lý tài chính được thực hiện Trọng tâm của cơ chế tài chính là: vấn đề huy động, sử dụng vốn; cơ chế hạch toán kinh doanh; cơ chế phân phối lợi nhuận [24]

(i) Cơ chế huy động vốn: Vốn là điều kiện tiên quyết cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Cơ chế huy động vốn có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Doanh nghiệp có hai con đường cơ bản để tạo vốn: thứ nhất là huy động vốn từ nội bộ nền kinh tế; thứ hai là huy động vốn từ nước ngoài thông qua các dự án đầu tư nước ngoài, liên doanh, liên kết, phát hành cổ phiếu, trái phiếu và vay vốn nước ngoài

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp huy động vốn thông qua thị trường tài chính

Nguồn hình thành vốn của doanh nghiệp được phân thành 2 nhóm: nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản vốn vay

Trang 35

Nguồn vốn chủ sở hữu gồm: Nguồn vốn Ngân sách đầu tư ban đầu; Nguồn hình thành thông qua phát hành cổ phiếu; Nguồn vốn bổ sung từ lợi nhuận sau thuế

Nguồn vốn vay gồm: Vay thông qua phát hành trái phiếu; Vay từ các tổ chức tín dụng; Nguồn vốn tín dụng thương mại; Thuê tài sản

(ii) Cơ chế quản lý và sử dụng vốn:

Cơ chế quản lý, sử dụng vốn trong doanh nghiệp chủ yếu là những qui định về quản lý, sử dụng vốn và tài sản, các qui định liên quan đến việc phân cấp đầu tư, mua sắm, thanh lý tài sản, của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp

Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thì cơ chế quản lý và sử dụng vốn phải trên

cơ sở đánh giá các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng chứ không thực hiện quản lý theo kiểu hành chính, can thiệp quá sâu vào quyền quyết định của các đơn vị sử dụng vốn

(iii) Cơ chế hạch toán, xác định kết quả:

Hiện nay ở các doanh nghiệp nói chung ở Việt Nam đang tồn tại các hình thức hạch toán: hạch toán tập trung, hạch toán phân tán, hạch toán vừa tập trung vừa phân tán

Bản chất của hình thức hạch toán tập trung là hạch toán phụ thuộc: doanh thu, chi phí của các đơn vị thành viên được tập trung về công ty mẹ, lợi nhuận và thu nhập của các đơn vị thành viên do công ty mẹ quyết định Hình thức hạch toán này tạo nên sự thụ động, ỷ lại của các đơn vị cấp dưới do không xác định chính xác kết quả SXKD của đơn vị mình mà hưởng theo sự điều tiết chung

Hình thức hạch toán độc lập (phân tán) cho phép mỗi đơn vị xác định đúng hiệu quả SXKD của đơn vị mình; do đó, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của từng đơn vị thành viên nhưng không tạo được mối liên kết chặt

Trang 36

chẽ giữa các đơn vị thành viên và công ty mẹ

Cơ chế phân phối lợi nhuận và thu nhập trong doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng của cơ chế hạch toán Chính vì vậy, việc lựa chọn hình thức hạch toán phù hợp rất quan trọng trong các doanh nghiệp đăc biệt là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ

Để giảm bớt những hạn chế trong mỗi hình thức, các doanh nghiệp thường kết hợp giữa hai hình thức: vừa tập trung, vừa phân tán Tuỳ theo đặc điểm SXKD, các đơn vị lựa chọn hình thức hạch toán để vừa đảm bảo mục tiêu phát triển của cả doanh nghiệp, mà vẫn tạo sự chủ động cho các thành viên

1.1.4.4 Cơ chế quản lý nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực được coi là một trong các yếu tố có vai trò tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong kinh doanh Yêu cầu của quản trị nguồn nhân lực là làm thế nào để sử dụng nguồn lực lao động hiệu quả nhất nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp [6]

Quản trị nguồn nhân lực liên quan mật thiết tới việc thực hiện kế hoạch chiến lược phát triển doanh nghiệp

Ngày nay, các doanh nghiệp không chỉ đối mặt với sự cạnh tranh dữ dội trong việc giành giật nhân tài mà còn phải đối mặt với sự phức tạp khi hoạch định nguồn nhân lực cho doanh nghiệp

Khảo sát của Cedar Crestone (Mỹ) cho thấy những doanh nghiệp không ứng dụng các giải pháp về nhân lực chỉ đạt mức tăng doanh số 2% Giới phân tích cũng khẳng định rằng các công nghệ quản trị con người mang lại kết quả

rõ ràng từ hạ tầng cho đến thượng tầng

Các giai đoạn trong chiến lược nguồn nhân lực gồm các bước cơ bản sau:

Trang 37

(i) Công tác tuyển dụng:

Cách thức tuyển dụng: Thông báo thi tuyển công khai hoặc đến trực tiếp các trường đại học, các cơ sở đào tạo để tuyển dụng

Chế độ tuyển dụng thông thường được áp dụng hiện nay là tuyển dụng suốt đời hoặc theo chế độ hợp đồng linh hoạt Sau khi tuyển dụng, người lao động sẽ có một thời gian thử thách, sát hạch sau đó là hợp đồng chính thức (ii) Giữ và phát huy năng lực

Giai đoạn này tập trung vào việc: làm sao để phát huy được hết khả năng

và lòng trung thành của người lao động với doanh nghiệp Nó liên quan đến các vấn đề: bố trí việc làm phù hợp khả năng; thực hiện chế độ quản lý khoa học; chế độ đãi ngộ thích đáng

(iii) Công tác phát triển nguồn nhân lực

Người lao động phải được cập nhật kiến thức thường xuyên thông qua đào tạo, đạo tạo lại dưới các hình thức Bên cạnh đó, phải chú trọng việc thu hút nhân tài từ bên ngoài để tăng cường năng lực cho doanh nghiệp mà không mất chi phí đào tạo

1.2 KINH NGHIỆM ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ CỦA TỔ CHỨC KHCN Ở TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1.2.1 Kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động của một số viện nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới tồn tại rất nhiều mô hình tổ chức khoa học công nghệ hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên, có thể nhóm thành 3 mô hình

cơ bản: KHCN công lập, KHCN độc lập và doanh nghiệp KHCN

- Mô hình của tổ chức KHCN công lập: Viện nghiên cứu thuỷ lợi và thuỷ điện Trung Quốc: Viện đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề thuỷ lợi và thuỷ điện Bên cạnh đó Viện cũng đảm nhận công tác thiết kế cá dự án thuỷ điện

Trang 38

Về tổ chức Viện có 16 trung tâm và phòng ban nghiên cứu với đội ngũ cán bộ khoảng 1400 người, trong đó 54% là các nhà khoa học và cán bộ kỹ thuật chuyên sâu, 415 kỹ sư bậc cao, 340 kỹ sư khác Viện còn có 2 người là Viện

sỹ Viện hàn lâm khoa học tự nhiên, 4 cán bộ là Viện sỹ Viện hàn lâm Kỹ thuật xây dựng Về xây dựng cơ sở vật chất Viện có 32 phòng thí nghiệm với khoảng 120 thiết bị thí nghiệm hiện đại chuyên dụng cho công tác thí nghiệm

Về hợp tác quốc tế Viện đã rất năng động trong các hoạt động này bằng việc tạo các mối quan hệ, cộng tác với các Viên nghiên cứu, các trường đại học nổi tiếng trên thế giới và các tổ chức khoa học lớn Tóm lại, từ cách tổ chức của Viên nghiên cứu thuỷ lợi thuỷ điện Trung Quốc có thể thấy đây là một Viện nghiên cứu được Nhà nước bao cấp, tuy nhiên Viện đã có những đột phá trong công tác nghiên cứu và thực hiện các dự án về thuỷ lợi và thuỷ điện Với lực lượng cán bộ hùng hậu, tinh nhuệ, năng động Viện đã trở thành một đơn vị đứng đầu trong công tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ các dự án thuỷ lợi và thuỷ điện ở Trung Quốc

- Mô hình tổ chức hoạt động của tổ chức KHCN độc lập: Đây là mô hình

tổ chức khá phổ biến đặc biệt là ở các nước phát triển Có thể kể đến như Viện Omnimedix của Mỹ, Viện là một đơn vị hoạt động phi lợi nhuận và được điều hành bởi ban giám đốc trong đó có một chủ tịch – cũng là người sáng lập và một giám đốc điều hành Các hoạt động của Viện được dựa vào chính sách y tế của Mỹ, những nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của bệnh nhân và cộng đồng chăm sóc sức khoẻ trực tuyến Chức năng của Viện là thông qua các hoạt động tuyên truyền sâu rộng và sử dụng công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng, khả năng và đảm bảo tính công bằng trong chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Mục tiêu của Viện là sử dụng công nghệ máy tính về chăm sóc sức khoẻ để mang lại sự đảm bảo, chất lượng và khả năng tiếp cận với các điều kiện chăm sóc tốt hơn mà lại giảm được chi phí cho người dân Tất cả

Trang 39

các hoạt động của Viện, các thông tin về các dự án đã và đang được thực hiện đều được quản lý bằng một hệ thống cơ sở dữ liệu chuẩn dựa trên các biểu mẫu đã được thiết lập sẵn Về tài chính, Viện có nhiều nguồn tài chính khác nhau trên cơ sở huy động tài trợ từ các tổ chức và cá nhân với mục đích từ thiện tự nguyện Quỹ tài trợ chủ yếu của Viện là các quỹ từ thiện và các tập đoàn tư nhân - những người đã nhận thấy tác dụng của công nghệ máy tính hoá trong hệ thống chăm sóc sức khoẻ cũng như các kết quả mà Viện đã đạt được bằng việc áp dụng công nghệ thông tin để chăm sóc sức khoẻ cộng đồng

- Mô hình tổ chức hoạt động của doanh nghiệp KHCN

Điển hình cho mô hình tổ chức khoa học này có thể kể đến tập đoàn công

ty 3M của Mỹ Nổi tiếng về khả năng quản lý tập đoàn có các công ty thành viên ở hầu hết các nước trên thế giới Sản phẩm của công ty đều có khả năng cạnh tranh trên thế giới, chủ yếu là từ băng đĩa nhạc, linh kiện điện tử, máy móc y học Sự thành công của công ty có thể đánh giá từ nhiều khía cạnh khác nhau như: Công ty có những tổ chức nghiên cứu khoa học mạnh với nhiều Viện nghiên cứu trực thuộc Công ty đánh giá được sự cạnh tranh khốc liệt giữa các quốc gia, các tập đoàn trên thế giới Vì thế công ty đã không tiếc đầu tư mỗi năm 590 triệu USD cho các phòng nghiên cứu tiến hành nghiên cứu và khai phá sản phẩm mới Về nhân sự công ty đã tuyển dụng hơn 7100 nhà nghiên cứu các loại, tương đương với khoảng 10% công nhân viên công

ty Trong đó người có học vị tiến sỹ có khoảng 100 người, chiếm khoảng 14% Các Viện nghiên cứu đều là tổ chức độc lập có quyền tự chủ độc lập tuyển dụng nhân tài Địa vị giữa các Viện nghiên cứu là bình đẳng vừa hợp tác, vừa cạnh tranh Ngay từ ngày đầu thành lập công ty 3M đã chú trọng đến triết lý “Thành công là sự thể hiện của sức mạnh” và “người làm việc lớn phải lấy con người làm gốc” Nhận thức được rằng thành công của sự nghiệp ắt

Trang 40

phải xây dựng ưu thế tuyệt đối của đơn vị mà sức mạnh của con người là mấu chốt Xuất phát từ điều đó công ty tìm mọi cách thu hút những người tài Về quản lý bất kể một người quản lý xí nghiệp thành công nào đều phải có bản lĩnh lãnh đạo, thể hiện ở chỗ giỏi sử dụng tài nguyên đặc biệt là con người Công ty có hơn 7 vạn công nhân viên, trong đó số lượng lớn là chuyên gia nghiên cứu khoa học Người quyết định chính sách của công ty 3M cho rằng chỉ có kết hợp mục tiêu mà mình cần thực hiện với lợi ích của đông đảo công nhân viên mới có thể điều động một cách có hiệu quả sự tham gia của nhân viên Vì thế công ty đã thực hiện chế độ khuyến khích công nhân viên và chuyên viên nghiên cứu kỹ thuật ra sức phấn đấu Đối với người có phát minh sáng tạo thì tuỳ giá trị lớn nhỏ để tặng thưởng khác nhau, đối với cá nhân hoặc phân xưởng sản xuất không có thứ phẩm thì được khen thưởng, đối với các nhân hoặc phân xưởng sản xuất ra thứ phẩm thì bị phạt Để khuyến khích chuyên viên nghiên cứu và chuyên viên quản lý, công ty 3M còn còn thực hiên chế độ thăng chức xen nhau giữa chức vụ quản lý và chuyên môn hoặc có thể được thăng chức vượt cấp Việc phát triển các tổ chức hoạt động khoa học là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự phát triển của toàn xã hội Mỗi tổ chức khoa học được thành lập có mục tiêu phát triển, chức năng và nhiệm vụ, tuy nhiên với mỗi loại hình thì các mục tiêu và chức năng nhiệm vụ đều gắn chặt với các nhu cầu xã hội đặt ra Đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học phải là người có trình độ cao, yêu thích nghiên cứu, luôn tìm tòi phát hiện các ý tưởng mới

Việc tự chủ tài chính trong các cơ quan khoa học của các nước phát triển

đã được thực hiện một cách khá hoàn chỉnh Các cơ quan nghiên cứu khoa học có sản phẩm thị trường thì hoàn toàn có thể tự chủ tài chính Các cơ quan nghiên cứu khoa học cơ bản, chính sách thì được tách riêng từng phần có thể

tự chủ, phần còn lại vẫn bao cấp Các đơn vị hoạt động khoa học theo mô

Ngày đăng: 26/02/2021, 15:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w