Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong công ty TNHH Viễn thông An Bình Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong công ty TNHH Viễn thông An BìnhHoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong công ty TNHH Viễn thông An BìnhHoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong công ty TNHH Viễn thông An BìnhHoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong công ty TNHH Viễn thông An BìnhHoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong công ty TNHH Viễn thông An BìnhHoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong công ty TNHH Viễn thông An BìnhHoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong công ty TNHH Viễn thông An BìnhHoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong công ty TNHH Viễn thông An Bình Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong công ty TNHH Viễn thông An BìnhHoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong công ty TNHH Viễn thông An BìnhHoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong công ty TNHH Viễn thông An BìnhHoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong công ty TNHH Viễn thông An BìnhHoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong công ty TNHH Viễn thông An BìnhHoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong công ty TNHH Viễn thông An BìnhHoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong công ty TNHH Viễn thông An BìnhHoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong công ty TNHH Viễn thông An BìnhHoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong công ty TNHH Viễn thông An Bình
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển nhất là sau khi gia nhập tổ chứcthương mại thế giới WTO, tham gia tổ chức thương mại thế giới đã mang lại cho nềnkinh tế Việt Nam nói chung và ngành kinh doanh điện thoại di động nói riêng cơ hộilớn để phát triển Môi trường kinh doanh được mở rộng, cơ hội lớn để phát triển nhưngkèm theo đó luôn là những rủi ro thường trực, đa dạng và khó biết trước được Đặcbiệt môi trường kinh doanh luôn thay đổi và biến động một cách chóng mặt càng khiếnkhó có thể dự đoán và lường trước được những rủi ro có thể xảy ra, nhất là ngành kinhdoanh thiết bị công nghệ điện tử như điện thoại di động là mặt hàng có tốc độ thay đổi
vô cùng nhanh chóng càng khiến cho những rủi ro của các doanh nghiệp thường trựchơn và cũng là mối quam tâm lớn của nhiều doanh nghiệp
Thực tế hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp cho thấy các doanh nghiệpthường xuyên phải đối mặt với rất nhiều các loại rủi ro với những mức độ, cường độkhác nhau và những rủi ro có những ảnh hưởng nhất định tới hoạt động sản xuất kinhdoanh cũng như hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Do vậy việc nhận dạng, xácđịnh chính xác những rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải, mức độ thiệt hại mà nó
có thể gây ra đối với doanh nghiệp để từ đó có những biện pháp phòng tránh và khắcphục khi có rủi ro xảy ra một cách hiệu quả giúp cho doanh nghiệp có thể hoạt độngmột cách tốt nhất cũng như để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp là một việc hết sứcquan trọng của bất kỳ một doanh nghiệp nào
Nền kinh tế thế giới hiện nay đang trong tình trạng khủng hoảng, các doanhnghiệp kinh doanh mặt hàng điện thoại di động tai Việt Nam cũng không tránh khỏinhững tác động từ khủng hoảng kinh tế thế giới Từ đó các doanh nghiệp cũng phải đốimặt với nhiều loại nguy cơ như tài chính, khách hàng, sản phẩm, đối thủ cạnh tranh Cùng với những biến động của nền kinh tế thị trường những nguy cơ này đã trở thànhnhững rủi ro đối với các doanh nghiệp Các doanh nghiệp kinh doanh điện thoại diđộng sẽ phải đối mặt với những rủi ro lớn do mặt hàng này có đặc thù thay đổi chóngmặt, ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế đã kéo theo rất nhiều các nguy cơ và rủi
ro cho các doanh nghiệp kinh doanh điện thoại di động
Trang 2Công ty TNHH Viễn Thông An Bình là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnhvực điện thoại di động Doang nghiệp tập trung phân phối các điện thoại giá rẻ tại thịtrường Việt Nam mà chủ yếu là sản phẩm Qmobile với giá rẻ so với các dòng điệnthoại khác của các hãng khác với các chức năng tương tự Hoạt động phân phối điệnthoại Qmobile đã mang lại phần lớn doanh thu cho công ty Tuy vậy trong một môitrường kinh tế biến động như hiện nay công tác quản trị rủi ro của An Bình chưa đượcquan tâm tới, điều này làm cho hoạt động của công ty gặp rất nhiều khó khăn.
Nhằm hạn chế và tối thiểu hóa các thiệt hại do rủi ro gây ra công ty cần chú ý tớiviệc hoàn thiện công tác quản trị rủi ro để công ty An Bình có thể hoạt động một cáchtốt nhất và hiệu quá nhất, tránh và giảm thiểu được những tổn thất cho doanh nghiệpkhi có rủi ro xảy ra
Nhận thấy đây là vấn đề vô cùng quan trọng và cần thiết đối với các doanhnghiệp nói chung và công ty TNHH Viễn Thông An Bình nói riêng Dưới sự hướngdẫn của PGS.TS Trần Hùng em đã thực hiện khóa luận với chuyên đề “Hoàn thiệncông tác quản trị rủi ro trong công ty TNHH Viễn thông An Bình”
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Liên quan tới hoạt động quản trị rủi ro trong doanh nghiệp có rất nhiều công trìnhnghiên cứu, sau đây là một số công trình nghiên cứu có liên quan:
Đề tài: “ Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại chi nhánh công ty cổ phần thương mại dịch vụ vùng đất kỹ thuật số” ( khóa luận tốt nghiệp-Đào Thị Oanh-Khoa
quản trị doanh nghiệp năm 2012- Đại học Thương Mại)
Đề tài tiếp cận nhằm tìm hiểu công tác quản trị rủi ro trong công ty cổ phầnthương mại dịch vụ vùng đất kỹ thuật số để đề xuất ra giải pháp hoàn thiện công tácquản trị rủi ro tại chi nhanh công ty
Đề tài: “ Giải pháp ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh tại công ty TNHH điện tử thương mại và sản xuất hàng xuất khẩu trimexco” ( Chuyên đề tốt
nghiệp-Đinh Thị Hằng-K5HQ1D-Khoa quản trị doanh nghiệp-Đại học Thương Mại)
Đề tài đi vào nghiên cứu thực trạng công tác ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro tronghoạt động kinh doanh của công ty TNHH điện tử thương mại và sản xuất hàng xuấtkhẩu trimexco và đề xuất những giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro trong kinh doanhcủa công ty trong hoàn cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các doanh nghiệp và
Trang 3hội nhập kinh tế phát triển cũng ẩn chứa vô số những rủi ro mà doanh nghiệp có thểgặp phải.
Ngoài ra còn rất nhiều đề tài khác liên quan tới quản trị rủi ro trong doanh nghiệpnhưng hầu hết các đề tài chỉ tập trung vào khắc phục rủi ro trong doanh nghiệp Vì vậybài viết của em có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất: Được tiếp cận dưới góc độ môn học Quản trị rủi ro vì vậy sẽ đi sâu vào
công tác quản trị rủi ro để hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong doanh nghiệp
Thứ hai: Đề tài được nghiên cứu trong công ty TNHH viễ thông An Bình nên sẽ
có những đặc điểm khác so với các doanh nghiệp, tổ chức khác
Thứ ba: Đề tài đi sâu vào nghiên cứu các quá trình trong quản trị rủi ro trong
doanh nghiệp để thấy được thực trạng quản trị rủi ro trong công ty TNHH viễn thông
An Bình
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Tìm ra các giải pháp để hoàn thiện công tác quản trị rủi ro
trong công ty TNHH viễn thông An Bình trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng công tác quản trị rủi ro trong công ty.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về không gian: hoạt động của công ty viễn thông An Bình là phân phối
điện thoại ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam nhưng công ty em nghiên cứu được đặt tại HàNội do đó em giới hạn không gian nghiên cứu tại thị trường miền Bắc
- Phạm vi về thời gian: Thực trang hoạt động quản trị rủi ro của công ty từ năm
2011 đến năm 2013, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trịrủi ro giai đôạn 2014 – 2017
Trang 45 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp là qua quan sát, điều tra, phỏng vấn cácnhân viên trong công ty TNHH viễn thông An Bình
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp thông qua các báo cáo hoạt động kinhdoanh, các thống kê, bảng cân đối kế toán, các khóa luận của sinh viên Thương Mạikhóa trước, một số trang web
Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu: Thông tin, dữ liệu được xử lý bằngphương pháp thông kê, tổng hợp, phân tích và so sánh Thu thập các báo cáo của công
ty tiến hành phân tích dưới góc độ xem xét, nhận dạng và đánh giá các loại rủi ro màdoanh nghiệp có thể hoặc đang gặp phải So sanh số liệu 3 năm ( 2011-2013) có thểcho cái nhìn và đánh giá chính xác hơn về rủi ro trong doanh nghiệp
6 Kết cấu đề tài khóa luận
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro
Chương 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro của công ty TNHH viễn thông AnBình
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiên công tác quản trị rủi ro của công tyTNHH viễn thông An Bình
Trang 5CHƯƠNG 1: CƠ SỞ VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm về rủi ro và công tác quản trị rủi ro trong doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại rủi ro
a Khái niệm và đặc điểm của rủi ro
Khái niệm:Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm, khó khăn hoặc điều
không chắc chắn có thể xảy ra cho con người
Khái niệm rủi ro trong kinh doanh: Rủi ro trong kinh doanh được hiểu là những
vận động khách quan bên ngoài chủ thể kinh doanh, gây khó khăn trở ngại cho chủ thểtrong quá trình thực hiện mục tiêu, tàn phá các thành quả đang có, bắt buộc chủ thểphải chi phí nhiều hơn về nhân lực, vật lực thời gian trong qua trình phát triển củamình
Đặc điểm của rủi ro:
Rủi ro có tính đối xứng hay không đối xứng tùy thuộc vào quan điểm của mỗingười đối với rủi ro và hậu quả của nó
Tính đối xứng: không phải lúc nào tính bất định cũng đem lại rủi ro Rủi ro vàmay mắn luôn đi song hành
Tính không đối xứng: Con người có thể nắm được sự bất định, biến rủi thànhmay
Tần suất của rủi ro: Là thông số phản ánh việc rủi ro có thể xảy ra hay không?Xảy ra nhiều hoặc ít trong khoảng thời gian nhất định Tần số rủi ro phụ thuộc vàonhiều yếu tố: loại rủi ro; môi trường kinh doanh; hành vi, suy nghĩ của người tác độngđến rủi ro
Biên độ rủi ro: Là thông số phản ánh mức độ thiệt hại mà rủi ro gây ra của mỗilần xảy ra rủi ro
b Phân loại rủi ro
Hiện nay theo từng quan điểm khác nhau và theo nhiều cách phân loại theo cáctiêu chí khác nhau nên sẽ chia thành các loại rủi ro khác nhau Dưới đây là một số cáchphân loại rủi ro như sau:
Rủi ro sự cố và rủi ro cơ hội:
- Rủi ro sự cố: Là những rủi ro gắn liền với sự cố ngẫu nhiên ngoài dự kiến
Trang 6khách quan và khó tránh khỏi.
- Rủi ro cơ hội: là những rủi ro gắn liền với việc ra quyết định, bao gồm rủi ro ởgiai đoạn trước quyết định, trong khi quyết định và sau khi quyết định
Rủi ro thuần túy và rủi ro suy đoán:
- Rủi ro thuần túy tồn tại khi có 1 nguy cơ tổn thất nhưng không có cơ hội kiếmlời, hay nói cách khác rủi ro trên đó không có khản ăng có lợi cho chủ thể
- Rủi ro suy đoán tồn tại khi có một cơ hội kiếm lời cũng như một nguy cơ tổnthất, hay nói cách khác là rủi ro vừa có khả năng lợi, vừa có khả năng tổn thất
Rủi ro trong các giai đoạn phát triển của doanh nghiệp:
Giai đoạn khởi sự: khi công ty mới bắt đầu đi vào hoạt động, những rủi ro vềnhân sự, thủ tục …
Giai đoạn trưởng thành: khi công ty đã đi vào hoạt động và có những bước pháttriển ban đầu thì gặp phải rất nhiều rủi ro trong giai đoạn này như rủi ro về hợp đồng,thanh toán, công tác lãnh đạo…
Giai đoạn suy vong: là những rủi ro mà công ty có thể gặp phải khi mà hoạt độngcủa công ty đi xuống có thể là phá sản, hoặc không thanh toán được lương cho côngnhân viên…
Rủi ro có thể phân tán và rủi ro không thể phân tán:
- Rủi ro có thể phân tán là rủi ro có thể giảm bới tổn thất thông qua những thỏahiệp đóng góp và chia sẻ rủi ro của công ty với các tổ chức tín dụng hay giữa các thànhviên trong liên minh
- Rủi ro không thể phân tán là rủi ro mà những thỏa hiệp đóng góp về tiền bạchay tài sản không có tác dụng gì đến việc giảm bớt tổn thất cho những người tham giavào quỹ đóng góp chung
Rủi ro do tác động của các yếu tố môi trường kinh doanh: yếu tố luật pháp, kinh
tế, văn hóa – xã hội, điều kiện tự nhiên
Rủi ro theo chiều dọc và rủi ro theo chiều ngang:
- Rủi ro theo chiều dọc là rủi ro theo chiều chức năng chuyên môn truyền thốngcủa doanh nghiệp
- Rủi ro theo chiều ngang là rủi ro xảy ra ở các bộ phận chuyên môn như: Nhân
sự, tài chính, nghiên cứu phát triển
Trang 71.1.2 Khái niệm và vai trò của quản trị rủi ro trong doanh nghiệp
a Khái niệm công tác quản trị rủi ro
Quản trị rủi ro là quá trình bao gồm các hoạt động nhận dạng, phân tích, đo lường đánh giá rủi ro và tìm các biện pháp kiểm soát, tài trợ khắc phục các hậu quả của rủi ro đối với hoạt động kinh doanh nhằm sử dụng tối ưu các nguồn lực trong doanh nghiệp.
Nhà quản trị trong doanh nghiệp phải thực hiện các hoạt động nhận dạng, phântích, đo lường đánh giá rủi ro và tìm ra các biện pháp kiểm soát, tài trợ khắc phục rủi
ro để có thể lường trước được những gì có thể xảy ra đối với doanh nghiệp và cónhững biện pháp xử lý thích hợp nhằm giúp cho doanh nghiệp phát triển một cách tốtnhất Hoạt động quản trị rủi ro không chỉ là phòng ngừa rủi ro mà còn tìm cách khắcphục rủi ro một cách tốt nhất giúp chủ động đương đầu và xử lý mọi tình huống rủi roxảy ra và có thể xảy ra đối với doanh nghiệp
b Vai trò của công tác quản tị rủi ro trong doanh nghiệp
Quản trị rủi ro có vai trò quan trọng trong doanh nghiệp nó gắn liền với các hoạtđộng quản trị khác trong doanh nghiệp như quản trị chiến lược, quản trị sản xuất và thểhiện cụ thể như:
Thứ nhất: xây dựng khuôn khổ nhằm giúp doanh nghiệp thực hiện kế hoạch
tương lai có tính nhất quán và có thể kiểm soát
Thứ hai: Tăng cường năng lực trong việc ra quyết định, lập kế hoạch và sắp
xếp thứ tự ưu tiên trong công việc trên cơ sở hiểu biết thấu đáo và chặt chẽ về hoạtđộng kinh doanh, môi trường kinh doanh, cơ hội và thách thức của doanh nghiệp;
Thứ ba: Góp phần phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong doanh
nghiệp; giảm thiểu mọi sai xót trong mọi khía cạnh hoạt động của doanh nghiệp;
Thứ tư: Bảo vệ và tăng cường tài sản cũng như hình ảnh của doanh nghiệp; Thứ năm: Phát triển và hỗ trợ nguồn nhân lực và nền tảng tri thức của doanh
nghiệp;
Thứ sáu: Tối ưu hóa hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp.
1.2 Nội dung công tác quản trị rủi ro của doanh nghiệp
1.2.1 Nhận dạng rủi ro:
Khái niệm: Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định một cách liên tục và có hệ
Trang 8thống các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhận dạng rủi ro nhằm tìm kiếm các thông tin về: Tên, loại rủi ro, các mối hiểmhọa các mối nguy hiểm
Cơ sở nhận dạng rủi ro:
Một là: Dựa trên các số liệu thống kê để phân tích, tìm kiếm các thông tin có thể
gây ra rủi ro cho daonh nghiệp
Hai là: Dựa trên các thông itn thu thập được từ môi trường.
Ba là: Dựa trên phân tích hoạt động của doanh nghiệp.
Bốn là: Dựa trên kinh nghiệm, trực giác của nhà quản trị.
Nhận dạng rủi ro cần tập trung vào hai vấn đề chính: Nguồn rủi ro và nhóm đốitượng rủi ro
- Nguồn rủi ro thường được tiếp cận là ở yếu tố của môi trường hoạt động củadoanh nghiệp bao gồm môi trường chung là môi trường chính trị, pháp luật, môitrường kinh tế , tự nhiên và môi trường đặc thù gồm khách hàng, nhà cung cấp, đối thủcạnh tranh, các cơ quan hữu quan và mooit trường bên trong gồm nhận thức của conngười nói chung, của nhà quản trị nói riêng
- Nhóm đối tượng rủi ro gồm nguy cơ rủi ro về tài sản, nguy cơ rủi ro về tráchnhiệm pháp lý, nguy cơ về rủi ro nguồn lực
Các phương pháp nhận dạng rủi ro:
Thứ nhất: Phương pháp phân tích báo cáo tài chính.
Bằng cách phân tích bản báo cáo hoạt động kinh doanh, bản dự báo về tài chính
và dự báo ngân sách, kết hợp với các tài liệu bổ trợ khác, nhà quản trị có thể xác địnhđược các nguy cơ rủi ro của doanh nghiệp về tài sản, về trách nhiệm pháp lý và vềnguồn nhân lực Bằng cách kết hợp các báo cáo này với các dự báo về tài chính và dựtoán ngân sách, ta cũng có thể phát hiện các rủi ro trong tương lai Lý do là vì các haotjđộng của tổ chức cuối cùng rồi cũng gắn liền với tiền hay tài sản
Theo phương pháp này, từng tài khoản sẽ được nghiên cứu kỹ để phát hiện cácrủi ro tiềm năng có thể phát sinh Kết quả nghiên cứu được báo cáo cho từng tài khoản.Phương pháp này đáng tin cậy, khách quan, dựa trên các số liệu sẵn có, có thể trìnhbày ngắn gọn, rõ ràng và có thể dùng được cho cả nhà quản trị rủi ro và các nahf tưvấn chuyên nghiệp
Trang 9Thứ hai: Phương pháp phân tích lưu đồ.
Trên cơ sở xây dựng một hay một dãy các lưu đồ diễn tả các haotj động diễn ratrong những điều kiện cụ thể và trong những hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp, nhàquản trị có điều kiện phân tích những nguyên nhân, liệt kê các tổn thất tiềm năng về tàisản, về trách nhiệm pháp lý và về nguồn nhân lực
Thứ ba: Phương pháp thanh tra hiện trường.
Bằng cách quan sát trực tiếp các hoạt động diễn ra ở mỗi đơn vị, mỗi bộ phận,
mỗi cá nhân trong doanh nghiệp và các haotj động tiếp theo sau đó của nó, nhà quảntrị tìm hiểu được các mối hiểm họa, nguyên nhân và các đối tượng rủi ro Qua đó, họ
có thể rút ra các nhận định khách quan về những rủi ro thường gặp trong hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp
Thứ tư: Phương pháp làm việc với bộ phận khác của doanh nghiệp.
Nhà quản trị có thể nhận dạng các rủi ro thông qua việc giao tiếp trao đổi với các
cá nhân và bộ phận khác trong doanh nghiệp hoặc thông qua hệ thống tổ chức khôngchính thức Với phương pháp này, thông tin có thể thu thập được bằng văn bản hoặcbằng miệng
Thứ năm: Phương pháp làm việc với bộ phận khác bên ngoài.
Thông qua sự tiếp xúc, trao đổi, bàn luận với các cá nhân tổ chức bên ngoàidoanh nghiệp, có mối quan hệ đối với doanh nghiệp, nhà quản trị có điều kiện bổ sungcác rủi ro mà bản thân họ có thể bỏ sót, đồng thời có thể phát hiện các nguy cơ rủi ro
từ chính các đối tượng này
Thứ sáu: Phương pháp phân tích hợp đồng.
Do có nhiều rủi ro phát sinh từ các quan hệ hợp đồng với những người khác, nhàquản trị rủi ro nên nghiên cứu kỹ các hợp đồng để xem rủi ro có tăng hay giảm qua cáchợp đồng này
Thứ bảy: Phương pháp nghiên cứu sơ lượng tổn thất trong quá khứ.
Bằng cách tham khảo hồ sơ được lưu trữ về các tổn thất trong quá khứ nhà quảntrị có thể dự báo được các xu hướng tổn thất có thể xảy ra trong tương lai
1.2.2 Phân tích rủi ro
Khái niệm: Phân tích rủi ro là quá trình nghiên cứu những hiểm họa, xác định
những nguyên nhân gây ra rủi ro và phân tích những tổn thất
Trang 10Nội dung phân tích rủi ro gồm:
Thứ nhất: Phân tích hiểm họa là phân tích các điều kiện, các yếu tố tạo ra hoặc
tăng các khả năng tổn thất, các yếu tố này là những yếu tố đã gây ra tổn thất hoặc cóthể gây ra tổn thất
Thứ hai: Phân tích nguyên nhân rủi ro là việc phân tích được yếu tố trực tiếp gây
nên rủi ro đây là công việc phức tạp vì không phải mỗi rủi ro chỉ là do một nguyênnhân gây nên mà thường do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân trực tiếpnguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân gần, nguyên nhân xa theo lý thuyết DOMINOcủa H.W, Henrich để tìm ra biện pháp phòng ngừa hiệu quả thì cần phân tích rủi ro,tìm ra các nguyên nhân, thay đổi chúng, từ đó sẽ phòng ngừa được rủi ro
Thứ ba: Phân tích tổn thất có hai trường hợp rủi ro và tổn thất đã xảy ra và rủi ro
và tổn thất chưa xảy ra
1.2.3 Đo lường và đánh giá rủi ro
Khái niệm: Là xây dựng tần suất xuất hiện rủi ro và tiến độ hay mức độ nghiêm
trọng của rủi ro
Các phương pháp đo lường rủi ro: Gồm phương pháp định lượng và phương
pháp định tính
- Phương pháp định lượng:
Phương pháp trực tiếp: phương pháp này xác định các tổn thất bằng cách cân đo
đong đếm thông thường
Ưu điểm: Sử dụng trực tiếp các công cụ để lượng hóa được chính xác những tổn
thất được xảy ra trong thực tế
Nhược điểm: Cho phép đo lường lớn do doanh nghiệp sử dụng trực tiếp các công
cụ đo lường và nếu đối tượng rủi ro chi phí thấp thì phương pháp này không kinh tế
Phương pháp gián tiếp: Là phương pháp đánh giá tổn thất thông qua việc dự
đoán những tổn thất Phương pháp này thường được sử dụng đối với những thiệt hại
vô hình như tính toán cho phép cơ hội, giảm sút về sức khỏe tinh thần, hoặc mất uy tínhoặc mất thương hiệu sản phẩm
Ưu điểm: Giúp cho việc đánh giá những tổn thất mà phương pháp trực tiếp không
thể xác định được
Nhược điểm: Độ tin cậy không cao vì sự suy đoán tổn thất bằng cách xác định
Trang 11mẫu đại diện trên cơ sở đó người ta tính được tỷ lệ tổn thất trung bình, qua đó xác địnhđược tổng thể tổn thất.
- Phương pháp định tính: Gồm phương pháp cảm quan và phương pháp phân
tích tổng hợp
Phương pháp cảm quan: Là phương pháp bằng kinh nghiệm của các chuyên gia
người ta xác định tỷ lệ tổn thất từ đó ước lượng tổng tổn thất
Ưu điểm: Nhanh chóng, kịp thời đánh giá sơ bộ về tổn thất.
Nhược điểm: Độ tin cậy không cao có thể mắc sai lầm do mâu thuẫn giữa nội
dung và hình thức
Phương pháp phân tích tổng hợp: Là phương pháp sử dụng tổng hợp các công cụ
kỹ thuật và tư duy suy đoán của con người để đánh giá mức độ tổn thất
Ưu điểm: Đánh giá chính xác về mức độ tổn thất về hình thức và nội dung
Nhược điểm: Tốn kém nhiều thời gian và tiền bạc nếu có nhiều rủi ro xảy ra
1.2.4 Kiểm soát và tài trợ rủi ro
a Kiểm soát rủi ro: kiểm soát rủi ro là việc sử dụng các biện pháp để né tránh,
ngăn ngừa, giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể đếnvới tổ chức khi rủi ro xảy ra
- Nội dung của kiểm soát rủi ro:
Thứ nhất: Né tránh rủi ro là né tránh những hoạt động, con người, tài sản làm
phát sinh tổn thất có thể có bởi không thừa nhận nó ngay từ đầu hoặc bởi loại bỏnguyên nhân dẫn tổn thất đã được thừa nhận Biện pháp đầu tiên của né tránh rủi ro làchủ động né tránh trước khi rủi ro xảy ra và sau đó là loại bỏ những nguyên nhân gây
ra rủi ro
Ưu điểm: giúp loại bỏ hoàn toàn khả năng gặp rủi ro hay tổn thất, chi phí thấp và
trong nhiều trường hợp đây là biện pháp duy nhất và cuối cùng có thể áp dụng
Nhược điểm: Rủi ro và lợi ích tồn tại song song nên nếu né tránh rủi ro sẽ mất đi
lợi ích có được từ tài sản và hoạt động đó Rủi ro tồn tại trong mọi hoạt động của conngười vì thế có thể tránh rủi ro này sẽ gặp phải rủi ro khác
Thứ hai: Ngăn ngừa rủi ro là việc sử dụng các biện pháp để giảm thiểu tần suất
và mức độ rủi ro khi chúng xảy ra
Các hoạt động ngăn ngừa rủi ro sẽ tìm cách can ngăn vào 3 mắc xích đó là mối
Trang 12hiểm họa, môi trường rủi ro và sự tương tác Sự can thiệp đó là thay thế sửa đổi mốihiểm họa, thay thế, sửa đổi môi trường mà mối hiểm họa tồn tại hoặc can thiệp vàoquy trình tác động lẫn nhau giữa mối hiểm họa và môi trường kinh doanh
Thứ ba: Giảm thiểu tổn thất là làm giảm bớt hư hại khi tổn thất xảy ra.Gồm các
biện pháp cứu lấy những tài sản còn sử dụng được, chuyển nợ, kế hoạch giải quyếthiểm họa, dự phòng, phân chia rủi ro
Ưu điểm: Làm giảm tổn thất khi rủi ro đã xảy ra.
Nhược điểm: Thực hiện khi rủi ro đã xảy ra.
Thứ tư: Quản trị thông tin hiệu quả để đo lường, xác định một cách chính xác rủi
ro và mức độ của chúng
Ưu điểm: Cung cấp thông tin về rủi ro giúp các nhà quản trị rủi ro đưa ra các
biện pháp hiệu quả nhất để ngăn ngừa, hạn chế rủi ro
Nhược điểm: Việc cung cấp thông tin thiếu chính xác có thể làm cho việc phòng
tránh, ngăn ngừa hạn chế rủi ro không gây hiệu quả làm tổn thất
Thứ năm: Đa dạng hóa rủi ro là chia rủi ro của doanh nghiệp thành các dạng khác
nhau, tận dụng sự khác biệt để dùng lợi ích của rủi ro này để nhằm bù đắp tổn thất chorủi ro khác
b Tài trợ rủi ro
Khái niệm: tài trợ rủi ro là hoạt động cung cấp những phương tiện để đền bù tổnthất xảy ra hoặc là tạo lập các quỹ cho các chương trình khác nhau để bớt tổn thất
Biện pháp cơ bản để tài trợ rủi ro gồm: Tài trợ rủi ro bằng các biện pháp tự
khắc phục rủi ro của doanh nghiệp, chuyển giao rủi ro hoặc trung hòa rủi ro
Thứ nhất: Tài trợ rủi ro bằng biện pháp tự khắc phục là biện pháp cá nhân/ tổ
chức bị rủi ro thanh toán các chi phí tổn thất
Nội dung việc tự khắc phục rủi ro: Xác định mức tự khắc phục, thực hiện các
hoạt động tự bảo hiểm và chi trả cho tổn thất
Ưu điểm: Tiết kiệm chi phí và khuyến khích né tránh, ngăn ngừa và giảm thiểu
Trang 13dự đoán, đo lường một cách hiệu quả, mức độ nghiêm trọng của rủi ro không quá lớn,không thể áp dụng các biện pháp tài trợ rủi ro khác.
Thứ hai: Cuyển giao rủi ro là công cụ kiểm soát rủi ro, tạo ra nhiều thực thể khác
nhau thay vì một thực thể phải ghánh chịu rủi ro
Chuyển giao rủi ro có thể được thực hiện bằng cách bảo hiểm, chuyển tài sản vàhoạt động có rủi ro đến một người hay một nhóm người khác hoặc chuyển giao bằnghợp đồng giao ước
Thứ ba: Phương pháp trung hòa là phương pháp mô tả hành động thắng được bù
trừ cho một khả năng thua
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.1 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
a Môi trường chính trị:
Mỗi quốc gia tồn tại và phát triển đều có một thể chế chính trị nhất định Pháttriển kinh tế luôn có mối quan hệ biện chứng với chính trị Kinh doanh trong môitrường chính trị ổn địn thì sẽ có nhiều cơ hội phát triển hơn, ít các rủi ro, hiểm họa cóthể xảy ra cho doanh nghiệp ít hơn.Môi trường chính trị không ổn định doanh nghiệp
sẽ luôn gặp phải những khó khăn không thể lường trước được và những rủi ro nàythường là tiền đề cho chuỗi các rủi ro khác
b Môi trường pháp lý:
Môi trường pháp lý ổn định là một trong những cơ sở quan trọng giúp cho cácdoanh nghiệp hoạt động ổn định, yên tâm phát triển kinh doanh Sự thay đổi theohướng bất lợi của các quy phạm phạm luật, quy định của pháp luật hoặc có sự chồngchéo của pháp luật sẽ làm gia tăng rủi ro trong kinh doanh, làm suy giảm niềm tin củacác doanh nghiệp
c Yếu tố kinh tế:
Kinh tế là nhân tố tác động phức tạp, ảnh hưởng một cách trực tiếp tới hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Có những ảnh hưởng tích cực làm chodoanh nghiệp phát triển hơn nhưng cũng có những ảnh hưởng tiêu cực làm doanhnghiệp bị tổn thất, kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp.Nhóm nhân tố này gồm có
sự biến động cung- cầu, giá cả, chu kì kinh tế, tài chính, tền tệ
Trang 14d Điều kiện tự nhiên:
Điều kiện tự nhiên là một thế giới luôn có những hiểm họa, rủi ro rình rập bởinhững hiện tượng thiên tai như bão, lũ lụt động đất Những thiên tai này gây ra nhữngrủi ro to lớn cho các doanh nghiệp Những rủi ro về thiên tai ngày càng có xu hướngtăng cao và gây tổn thất nặng nề hơn cho doanh nghiệp
e Điều kiện kỹ thuật công nghệ:
Kỹ thuật công nghệ ngày nay phát triển với tốc độ chóng mặt, nó ảnh hưởngmạnh mẽ tới sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm, tốc
độ sản cuất từ đó ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm Từ đó ta có thể thấy được nhữnglợi ích mà khoa học công nghệ mang lại nhưng đồng thời nó cũng mang theo nhữngrủi ro to lớn trong cuộc sống và kinh doanh của doanh nghiệp Nó có thể tạo ra nhữngrủi ro mới do máy móc trục trặc, thiệt bioj hiện đại chưa kịp nắm bắt và vân hành mộtcách đầy đủ, tốt nhất
f.Điều kiện xã hội:
Điều kiện xã hội nếu được chú ý đúng mức và xem xét một cách chu đáo sẽ giúpích rất tốt cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng kèm thẻo đó luôn luôn là nhữngrủi ro và bất trắc có thể xảy ra do không tương thích với các vấn đề về tập tục, tôngiáo, văn hóa vùng miền Do đó nhà quản trị cần có mối quan tâm đặc biệt đối vớiđiều kiện xã hội khu vực mà doanh nghiệp hoạt động
1.3.2 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
a Nhóm nhân tố con người trong doanh nghiệp:
Nhân tố con người giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong doanh nghiệp nó thamgia quyết định trực tiếp vào sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Trong cácnguồn lực của doanh nghiệp, nguồn nhân lực luôn luôn được đánh giá là nguồn lượcquan trọng nhất.Thái độ của con người trong doanh nghiệp cũng sẽ ảnh hưởng lớn đếnhoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp.Nhà quản trị cần có sựquan tâm đúng mức tới nhân tố đặc biệt quan trọng này vì rủi ro thuộc về nhân tố conngười thường rất lớn và nghiêm trọng, có ảnh hưởng to lớn đến sự tồn tại và phát triểncủa doanh nghiệp
Trang 15b Tài chính của doanh nghiệp:
Tài chính doanh nghiệp có ảnh hưởng không nhỏ tới công tác quản trị rủi ro củadoanh nghiệp, quyết định sự hoạt động tốt, tiếp tục hoạt động hay không của doanhnghiệp Nếu có nguồn tài chính đủ mạnh thì doanh nghiệp có thể chủ động với các loạirủi ro từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động và tránh khỏi, đươngđầu hiệu quả với những rủi ro có thể xảy ra của doanh nghiệp
c Quy mô kinh doanh của doanh nghiệp
Quy mô tổ chức của doanh nghiệp ảnh hưởng lớn tới quản trị rủi ro trong doanhnghiệp đó Nó quyết định tới mức hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa và giảmthiểu rủi ro cho doanh nghiệp Quyết định tới mức tổn thất mà doanh nghiệp phải hứngchịu, có thể làm giảm tổn thất nhưng cũng có thể làm tăng tổn thất cua rdoanh nghiệplên mức rất cao.Nhà quản trị rủi ro cần căn cứ vào quy mô và tổ chức của doanhnghiệp để đưa ra các hoạt động phù hợp trong công tác quản trị rủi ro
Trang 16CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA CÔNG TY TNHH VIỄN THÔNG AN BÌNH 2.1 Khái quát về công ty TNHH viễn thông An Bình
Năm 2003 ABTEL bắt đầu là nhà phân phối điện thọai di động SIEMENS.KhiBENQ và SIEMENS sát nhập, ABTEL tiếp tục là nhà phân phối độc quyền và bán cácsản phẩm BENQ – SIEMENS và BENQ
Tháng 1 năm 2007, ABTEL đã được Tập đoàn Dopod International – Singapore,
là nhà phân phối điện thoại PDA và smart phone hàng đầu trong khu vực Châu Á chọn
là đối tác phân phối sản phẩm điện thoại hi-end nhãn hiệu Dopod và hiện nay là HTC.Tháng 5 năm 2008, với nỗ lực và kinh nghiệm trong làm việc điện thoại di độngnắm bắt được nhu cầu và sở thích của người tiêu dung Việt Nam, ABTEL đã mạnhdạng đầu tư và tâm huyết mang lại cho thị trường điện thoại di động Việt Nam mộtthương hiệu Việt –Qmobile
ABTEL đã xây dựng và củng cố kênh phân phối của mình và liên tục mở rộng thịtrường Công ty đã đạt mục tiêu vào top những công ty phân phối hàng đầu tại ViệtNam trong lĩnh vực của mình Bên cạnh đó, ABTEL còn cấu trúc lại hệ thống quản lýcủa mình trên tòan quốc nhằm đáp ứng và thích nghi với yêu cầu về một hệ thốngchuyên nghiệp về tài chính, xuất nhập khẩu, kiểm tra và lựa chọn sản phẩm địaphương hóa các sản phẩm và thực hiện các dịch vụ marketing
ABTEL có đội ngũ hơn 100 nhân viên làm việc chuyên nghiệp trong lĩnh vựcthiết bị cầm tay và dày kinh nghiệm, ABTEL luôn đạt mức tăng trưởng 140% nămtrong vòng 2 năm vừa qua và sẽ còn cố găng tiếp tục nâng cao mức tăng trưởng trongthời gian đến
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của công ty
a Chức năng nhiệm vụ của công ty
Chức năng: công ty TNHH viễn thông An Bình hoạt động trong kĩnh vực viễnthông do đó chức năng của công ty là cung cấp các sản phẩm điẹn thoại di dộng ra thịtrường Hà Nội, đặc biệt là sản phẩm điện thoại Qmobile
Nhiệm vụ: Công ty TNHH An Bình hoạt động theo Luật Doanh Nghiệp củaNhà nước, thực hiện theo các quy định của pháp luật, điều lệ tổ chức của Nhà nướcViệt Nam, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về phí, thuế Công ty cung cấp các sản phẩm,
Trang 17GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
kỹ thuật có tay nghề cao; có chế độ đãi ngộ tốt dành cho nhân viên, thực hiện tham giađầy đủ bảo hiểm lao động, có mức lương, thưởng phù hợp, có trách nhiệm chi trả đầy
đủ cổ tức và đảm bảo đầy đủ quyền lợi của cổ đông
b Cơ cấu tổ chức của công ty
Sơ đồ 2.1: cấu trúc tổ chức của công ty TNHH viễn thông AN BÌNH
(Nguồn: Phòng Nhân sự) -Giám đốc: là người đứng đầu công ty, chịu trách nhiệm toàn diện và điều hành
toàn bộ hoạt động của Công ty, là người đại diện cho quyền lợi và nghĩa vụ của toàncông ty trước nhà nước và pháp luật
-Phó giám đốc:là người giúp việc cho giám đốc phụ trách hoạt động kỹ thuật,
kinh doanh của công ty và được giám đốc uỷ quyền điều hành công ty khi vắng mặt
-Phòng tổ chức, nhân sự: Có chức năng tham mưu cho giám đốc về việc sắp xếp,
bố trí cán bộ, đào tạo và phân loại lao động để bố trí đúng người, đúng ngành nghềcông việc, thanh quyết toán chế độ cho người lao động theo chính sách, chế độ nhànước và quy chế của công ty
-Phòng tài chính kế toán: Ghi chép phản ánh toàn bộ hoạt động sản xuất kinh
doanh trong đơn vị, giám sát tình hình tài chính của công ty cũng như việc sử dụng cóhiệu quả tiền vốn, lao động, vật tư, giám sát việc chấp hành chế độ hạch toán, các chỉ
Trang 18tiêu kinh tế tài chính theo quy định của pháp luật, lập báo cáo tổng hợp, xác định kếtquả tiêu thụ, kết quả tài chính và hiệu quả kinh doanh của công ty.
-Phòng kinh doanh: Tổ chức phân phối, tìm kiếm khách hàng, thực hiện các chế
độ ghi chép ban đầu, thực hiện chế độ thông tin báo cáo, tiếp thị và cung ứng trực tiếphàng hoá cho mọi đối tượng, quản lý tiền, hàng, cơ sở vật chất do công ty giao
-Phòng kỹ thuật: Chịu trách nhiệm sửa chữa, bảo dưỡng các sự cố về máy móc,
bán
1023.453 1107.256 1015.475 83.803 8.19 -91.781 -8.29
Chi phí bán 452.435 437.652 442.054 -14.783 -3.27 4.402 1.01Chi phí quản lý 327.505 298.751 282.415 -37.754 -11.53 -16.336 -5.47Lợi nhuận trước
thuế 725.112 468.755 833.215 -256.357 -35.3541 364.46 77.75064Thuế thu nhập
doanh nghiệp 145.0224 93.751 166.643 -51.2714 -35.3541 72.892 77.75064Lợi nhuận
sau thuế 580.0896 375.004 666.572 -205.086 -35.3541 291.568 77.75064
(Nguồn: Phòng Tài chính Kế toán)
Nhận xét: từ bảng số liệu 1.4 ta có thể kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp An Bình có những biến động trong 3 năm từ năm 2012 – 2013 Ta thấy đượcnăm 2012 cùng với biến động chung của nền kinh tế An Bình là doanh nghiệp viễnthông nên cũng chịu chung nhưng ảnh hưởng đó doanh thu của công ty giảm đáng kể
so với năm 2011 trong khi đó giá vốn hàng bán tăng lên 8.19% cùng với các chi phíkhác của công ty cũng tăng lên làm cho lợi nhuận của năm 2012 thấp hơn năm 20111