Các giá trị ước lượng của điện cảm, điện dung BBĐ DC-DC ∆t max Thời gian huy động công suất tối đa của dàn siêu tụ A Diện tích đón gió của cánh turbine PĐSG C Giá trị tụ điện của mạc
Trang 31
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng các kết quả khoa học được trình bày trong luận án này
là thành quả nghiên cứu của bản thân tôi trong suốt thời gian làm nghiên cứu sinh và chưa từng xuất hiện trong công bố của các tác giả khác Các kết quả đạt được là chính xác và trung thực
Tác giả luận án
Phạm Tuấn Anh
Trang 42
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, học trò xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc GS TSKH Nguyễn Phùng Quang – người Thầy hướng dẫn khoa học của luận án đã chỉ bảo tận tình, tạo mọi điều kiện thuận lợi, hỗ trợ và động viên kịp thời trong suốt quá trình thực hiện luận án
Cảm ơn Ban Lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ Viện Kỹ thuật Điều khiển và Tự động hóa Trường ĐHBK Hà Nội đã có những sự trao đổi thiết thực về nội dung chuyên môn cũng như những sự hỗ trợ quý báu về cơ sở vật chất để tôi có thể hoàn thành luận án Cám ơn Ban chủ nhiệm đề tài KC.03.01/11-15 và TS Vũ Hoàng Phương (BM Tự động hóa công nghiệp – ĐHBK Hà Nội, thành viên thực hiện đề tài KC.03.01/11-15) đã hỗ trợ tôi trong quá trình thí nghiệm
Cảm ơn Ban Chủ nhiệm cùng các bạn đồng nghiệp Bộ môn Điện tự động công nghiệp – Trường ĐH Hàng hải Việt Nam với những sự hỗ trợ về công việc tại cơ quan công tác trong quá trình tôi thực hiện luận án
Tôi dành những lời biết ơn chân thành nhất gửi đến gia đình Sự động viên, chia sẻ và giúp đỡ của gia đình là động lực mạnh mẽ giúp tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành luận án này
Trang 53
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC BẢNG 11
DANH MỤC HÌNH VẼ 12
MỞ ĐẦU 17
1 TỔNG QUAN 22
1.1 Khái niệm về hệ thống điện ốc đảo 22
1.2 Vấn đề đảm bảo chất lượng điện năng 24
1.3 Phân cấp điều khiển trong hệ thống điện ốc đảo 25
1.3.1 Điều khiển cấp hệ thống 25
1.3.1.1 Điều khiển tập trung 25
1.3.1.2 Điều khiển phân tán 26
1.3.2 Điều khiển cấp thiết bị 26
1.3.2.1 Điều khiển thiết lập lưới cơ sở 27
1.3.2.2 Điều khiển cấp năng lượng lên lưới 28
1.3.2.3 Điều khiển hỗ trợ lưới 28
1.4 Tình hình nghiên cứu về thiết bị kho điện trên thế giới 29
1.4.1 Khái quát về một số loại kho năng lượng 29
1.4.1.1 Hệ thống có khả năng đáp ứng dài hạn, tốc độ chậm 31
1.4.1.2 Hệ thống có khả năng đáp ứng ngắn hạn, tốc độ cao 32
1.4.2 Vấn đề điều khiển thiết bị kho điện 34
1.5 Lựa chọn hướng nghiên cứu 38
1.6 Các nhiệm vụ cần giải quyết của luận án 42
1.7 Kết luận chương 1 43
2 CÁC NGUỒN PHÁT TRONG HỆ THỐNG ĐIỆN ỐC ĐẢO 44
2.1 Hệ thống phát điện sức gió 44
2.1.1 Nguyên tắc làm việc 44
2.1.2 Các cấu trúc PĐSG cơ bản 46
2.1.3 Chế độ điều khiển của hệ thống PĐSG 47
2.1.4 Các vấn đề điều khiển trong hệ thống PĐSG 48
2.1.5 Các vấn đề điều khiển cấp thiết bị 49
2.1.6 Sự khác biệt chính về ĐK giữa DFIG và PMSG 51
2.1.7 Điều khiển khi xảy ra lỗi lưới 53
2.1.8 Cấu trúc điều khiển hệ PĐSG sử dụng PMG với BBĐ CLKĐK 54
2.2 Hệ thống phát điện diesel 57
2.2.1 Nguyên tắc làm việc 57
2.2.2 Mô hình động cơ diesel 57
Trang 64
2.2.3 Điều chỉnh tốc độ động cơ diesel 58
2.2.4 Điều chỉnh điện áp 59
2.3 Kết luận chương 2 60
3 MÔ HÌNH THIẾT BỊ KHO ĐIỆN SỬ DỤNG SIÊU TỤ 61
3.1 Cấu trúc thiết bị kho điện 61
3.2 Thiết kế kho điện 62
3.2.1 Tính chọn dải điện áp làm việc của siêu tụ 63
3.2.2 Tính chọn điện dung của siêu tụ 66
3.2.3 Tính chọn dung lượng tụ DC-link 71
3.2.4 Tính chọn giá trị cuộn cảm 71
3.3 Mô hình hóa thiết bị kho điện 72
3.3.1 Mô hình động học siêu tụ 72
3.3.1.1 Sơ lược về cấu tạo 72
3.3.1.2 Mô hình của siêu tụ dùng trong thiết bị kho điện 73
3.3.2 Mô hình bộ biến đổi DC-DC dùng trong thiết bị kho điện 75
3.3.2.1 Mô hình chính xác 76
3.3.2.2 Mô hình trung bình ngắn hạn 79
3.3.2.3 Kiểm chứng mô hình 80
3.3.3 Mô hình bộ biến đổi DC-AC dùng trong thiết bị kho điện 83
3.3.3.1 Mô hình bộ biến đổi DC-AC 83
3.3.3.2 Mô hình BBĐ DC-AC ghép với lưới điện 87
3.4 Kết luận chương 3 90
4 CÁC VẤN ĐỀ ĐIỀU KHIỂN 91
4.1 Cấu trúc điều khiển tổng thể 91
4.2 Điều khiển bộ biến đổi DC-AC 93
4.2.1 Khâu điều chỉnh dòng điện 93
4.2.2 Điều khiển điện áp DC-link 95
4.3 Điều khiển bộ biến đổi DC-DC 96
4.3.1 Điều khiển tuyến tính 96
4.3.2 Điều khiển phi tuyến 99
4.3.2.1 Cơ sở lý thuyết của phương pháp 99
4.3.2.2 Các bước thiết kế 99
4.4 Kết luận chương 4 104
5 KẾT QUẢ MÔ PHỎNG VÀ THÍ NGHIỆM 105
5.1 Mô phỏng Offline 105
5.1.1 Chương trình mô phỏng Offline 105
5.1.1.1 Hệ phát điện sức gió 107
5.1.1.2 Hệ phát điện diesel 107
5.1.1.3 Thiết bị kho điện 108
5.1.2 Tham số mô phỏng 112
5.1.3 Khảo sát ảnh hưởng của hệ phát điện sức gió đến hệ thống điện ốc đảo 114
5.1.3.1 Kịch bản mô phỏng 114
Trang 75
5.1.3.2 Kết quả các quá trình động học của hệ thống điện ốc đảo 115 5.1.4 Mô phỏng động học hệ thống điện ốc đảo tích hợp với cấu trúc điều
khiển tuyến tính của thiết bị kho điện 117
5.1.5 Mô phỏng động học hệ thống điện ốc đảo tích hợp với cấu trúc điều khiển phi tuyến của thiết bị kho điện 122
5.1.6 Nhận xét kết quả mô phỏng 127
5.2 Mô phỏng thời gian thực 128
5.3 Hệ thống thí nghiệm 130
5.3.1 Xây dựng mô hình thí nghiệm thiết bị kho điện 130
5.3.2 Chuẩn hóa cấu trúc điều khiển 132
5.3.3 Kết quả thí nghiệm 134
5.4 Kết luận chương 5 138
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 139
TÀI LIỆU THAM KHẢO 140
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ 150
PHỤ LỤC A 151
PHỤ LỤC B 160
PHỤ LỤC C 163
Trang 8ĐCVTKG
SVM Điều chế vector không gian
Space Vector Modulation
Doubly Fed Induction Generator
DGs Tổ hợp Diesl – Generator
DPC Điều khiển trực tiếp công suất (Direct Power Control)
DSP Bộ xử lý tín hiệu số (Digital Signal Processor)
ESS Thiết bị kho điện (Energy Storage System)
FC Bộ biến đổi phía lưới (Frontend converter)
GC Bộ biến đổi phía máy phát (Generator-side converter)
GCs Tiêu chuẩn lưới điện (Grid-Codes)
HPS Hệ thống điện lai (Hybrid Power System)
IG Máy phát không đồng bộ rotor lồng sóc
Squirrel Cage Induction Generator
(Maximum power point tracking)
PLL Vòng khóa pha (Phase Locked Loop)
PMSG/PMG Máy phát đồng bộ nam châm vĩnh cửu
Permanent Magnet Synchronous Generator
PWM Điều chế độ rộng xung (Pulse Width Modulation)
SuperCapacitor Energy Storage System
SG Máy phát đồng bộ (Synchronous Generator)
VFOC Điều khiển tựa từ thông ảo (Virtual Flux Oriented Control)
Trang 97
VOC Điều khiển tựa điện áp lưới (Voltage Oriented Control)
WDHPS Hệ thống điện lai sức gió – diesl (Win – Diesel HPS)
Conversion System)
WPS Hệ thống điện gió (Wind Power System)
WT Tua-bin gió (Wind Turbine)
Trang 10 Các giá trị ước lượng của điện cảm, điện dung BBĐ DC-DC
∆t max Thời gian huy động công suất tối đa của dàn siêu tụ
A Diện tích đón gió của cánh turbine PĐSG
C Giá trị tụ điện của mạch DC-Link trong SCESS
C p Hệ số khai thác công suất từ gió của turbine PĐSG
C SC Giá trị điện dung của dàn siêu tụ trong SCESS
d Hệ số điều chế của BBĐ DC-DC
D Giá trị xác lập của hệ số điều chế BBĐ DC-DC
d 1 , d 2 Hệ số điều chế hai vector chuẩn trong mỗi sector
d a , d b , d c Hệ số điều chế mỗi pha của nghịch lưu nguồn áp
d S1 ÷d S6 Hệ số điều chế cho mỗi van bán dẫn BBĐ DC-AC
E max Năng lượng huy động tối da từ dàn siêu tụ
e N Vector điện áp lưới
ESR Điện trở nối tiếp trong mạch điện tương đương mô hình siêu tụ
i gd , i gq Thành phần dòng điện phía lưới theo trục d, q của hệ tọa độ
tựa điện áp lưới VOC
i inv Dòng điện phía DC-AC trao đổi với lưới quy đổi về phía một
chiều
i L Giá trị tức thời của dòng điện chảy qua cuộn cảm BBĐ DC-DC
i sd , i sq Thành phần dòng điện đầu ra DC-AC theo trục d, q của hệ tọa
độ tựa điện áp lưới VOC
J D Mô men quán tính của động cơ diesel trong tổ hợp phát điện
diesel
J dg Mô men quán tính của rotor máy phát PMG
J ge Mô men quán tính của máy phát trong tổ hợp phát điện diesel
k 1 , k 2 Các hằng số dương là tham số của bộ điều khiển phi tuyến
BBĐ DC-DC
k ψ Hằng số điện áp của máy phát PMG
L Giá trị điện cảm của mạch DC-DC
L g Điện cảm phía mạch nghịch lưu
m GD Mô men điện từ sinh ra bởi tải của máy phát trong tổ hợp phát
điện diesel
m GD ,m MD Mô men cơ của máy phát, động cơ diesel
m MD Mô men cơ sinh ra bởi động cơ diesel
N s , N p Số lượng siêu tụ mắc nối tiếp, song song
Trang 119
P opt Công suất khai thác tối ưu turbine PĐSG
P wt Công suất cơ khai thác bởi rotor hệ PĐSG
q Hàm chuyển mạch của BBĐ DC-DC khi điều khiển hợp nhất
R Chiều dài cánh turbine PĐSG
R g Nội trở của cuộn cảm Lg
R L Giá trị điện trở cuộn cảm DC-DC
R p Điện trở song song trong mạch điện tương đương mô hình siêu
tụ
s Toán tử Laplace
T S-dc Chu kỳ điều chế PWM BBĐ DC-DC
T wt Mô men cơ khai thác từ gió
u DC Giá trị tức thời của điện áp một chiều trung gian
u dc , U dc Giá trị trung bình, xác lập điện áp một chiều trung gian DC-AC
u dcg Điện áp sau chỉnh lưu hệ PĐSG sử dụng PMG
u ge Điện áp đầu cực PMG
U gem Giá trị điện áp dây lớn nhất đầu cực PMG
U LN Giá trị hiệu dụng điện áp pha
u N , i N Vector điện áp, dòng điện đầu ra mạch DC-AC
v, v wind Tốc độ gió
x 1 Giá trị trung bình ngắn hạn của dòng điện qua cuộn cảm BBĐ
DC-DC
x 2 Giá trị trung bình ngắn hạn của điện áp một chiều trung gian
x DSP Đại lượng x được cài đặt trên DSP (sau khi chuẩn hóa)
z 1 Sai lệch điều khiển của dòng điện chảy qua cuộn cảm BBĐ
DC-DC
z 2 Sai lệch giữa giá trị thật của biến trạng thái với giá trị mong
muốn BBĐ DC-DC
z p Số cực của máy phát PMG
z pD Số cặp cực của máy phát trong tổ hợp DG
α, α 1 Hàm ổn định hóa (Stabilizing function) của bộ điều khiển phi
Trang 1210
λ Tỷ lệ vận tốc quay của turbine với vận tốc gió
ρ Mật độ không khí
τ ge Mô men điện từ sinh ra bởi tải của máy phát PMG
ω ge Tốc độ cơ học của máy phát trong tổ hợp phát điện diesel
ω gm Tốc độ cơ học của máy phát PMG
ω r Tốc độ quay turbine
ω s , ω N Tần số góc của thành phần cơ bản điện áp lưới
Trang 1311
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại kho năng lượng theo thời gian 30
Bảng 1.2 Phân loại kho năng lượng theo hình thức tích lũy 31
Bảng 1.3 Tóm tắt các hướng nghiên cứu về kho điện 37
Bảng 1.4 Một số tiêu chuẩn đánh giá tần số 41
Bảng 3.1 Thống kê dữ liệu các bộ lọc thông thấp 70
Bảng 3.2 Các tham số của dàn siêu tụ 70
Bảng 5.1 Tham số hệ phát điện Diesel 112
Bảng 5.2 Tham số hệ phát điện sức gió PMG[9] 112
Bảng 5.3 Tham số kho điện 112
Bảng 5.4 So sánh chất lượng điều khiển BĐK tuyến tính và phi tuyến 113
Bảng 5.5 Tham số thí nghiệm thiết bị kho điện SCESS 131
Bảng 5.6 Giới hạn đại lượng chuẩn hóa theo mạch đo lường 132
Trang 1412
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Minh họa hệ thống điện hải đảo nguồn phát hỗn hợp gió - diesel 23
Hình 1.2 Cấu trúc điều khiển dòng điện bộ biến đổi phía lưới điển hình 27
Hình 1.3 Đặc tính điều khiển theo độ dốc giữa các nguồn phát 27
Hình 1.4 Cấu trúc điều khiển cấp năng lượng lên lưới 28
Hình 1.5 Cấu trúc điều khiển hỗ trợ lưới 28
Hình 1.6 Mối quan hệ giữa công suất và thời gian giải phóng theo lĩnh vực ứng dụng của kho năng lượng 30
Hình 1.7 Hệ thống thủy điện PHS 31
Hình 1.8 Hệ thống tích trữ năng lượng CAES 32
Hình 1.9 Hệ thống tích trữ năng lượng sử dụng bánh đà 32
Hình 1.10 Hệ thống tích trữ năng lượng SMES 33
Hình 1.11 Hệ thống tích trữ năng lượng sử dụng acqui 33
Hình 1.12 Hệ thống tích trữ năng lượng sử dụng siêu tụ 34
Hình 1.13 Minh họa thiết bị kho điện sử dụng siêu tụ 34
Hình 1.14 Hai khả năng tích hợp thiết bị kho điện vào hệ thống PĐSG 35
Hình 1.15 Cấu trúc WD–HPS được lựa chọn để nghiên cứu 39
Hình 2.1 Quá trình biến đổi năng lượng của một turbine PĐSG 44
Hình 2.2 Lớp đường đặc tính khai thác điện năng từ gió 45
Hình 2.3 Các hệ phát điện sức gió 47
Hình 2.4 Cấu trúc điều khiển tổng quát của hệ thống PĐSG 48
Hình 2.5 Khái quát về các vấn đề ĐK 3 loại máy phát trong hệ thống PĐSG 50
Hình 2.6 Chế độ điều khiển của máy phát DFIG phụ thuộc tốc độ quay trên đồng bộ hay dưới đồng bộ 52
Hình 2.7 Chế độ điều khiển của máy phát PMSG không phụ thuộc tốc độ quay 53 Hình 2.8 Chuẩn hóa khả năng ride through của tập đoàn E.On Netz, CHLB Đức 54
Trang 1513
Hình 2.9 Cấu trúc hệ PĐSG sử dụng PMG với BBĐ CLKĐK 54
Hình 2.10 Cấu trúc điều khiển hệ thống PĐSG sử dụng PMG với BBĐ CLKĐK 56 Hình 2.11 Sơ đồ khối của tổ hợp diesel – máy phát 57
Hình 2.12 Mô hình toán học của động cơ diesel 58
Hình 2.13 Mô hình hệ thống điều chỉnh tốc độ động cơ Diesel 59
Hình 2.14 Sơ đồ điều khiển hệ thống kích từ máy phát đồng bộ 60
Hình 3.1 Cấu trúc hệ thống biến đổi điện năng SCESS 62
Hình 3.2 Profile gió được sử dụng trong luận án 63
Hình 3.3 Sự thay đổi năng lượng theo điện áp của siêu tụ 65
Hình 3.4 Cách xác định lượng đặt công suất cho kho điện 67
Hình 3.5 Khảo sát hiệu quả của bộ lọc thông thấp bậc 1 với các tần số cắt khác nhau 68
Hình 3.6 Khảo sát hiệu quả của bộ lọc thông thấp bậc 2 với các tần số cắt khác nhau 68
Hình 3.7 Khảo sát hiệu quả của bộ lọc thông thấp bậc 3 với các tần số cắt khác nhau 69
Hình 3.8 Khảo sát hiệu quả của bộ lọc thông thấp khi thay đổi bậc 69
Hình 3.9 Cấu trúc siêu tụ - hai lớp 72
Hình 3.10 Mô hình của siêu tụ 74
Hình 3.11 Cấu trúc mạch lực bộ biến đổi DC-DC dùng trong SCESS 76
Hình 3.12 Phân tích các cấu hình mạch điện của DC-DC ở chế độ nạp 77
Hình 3.13 Phân tích các cấu hình mạch điện của DC-DC ở chế độ xả 78
Hình 3.14 Kiểm chứng động học của mô hình trung bình với mô hình switched ở tần số 5 kHz 80
Hình 3.15 Ảnh hưởng của tần số PWM đến dạng tín hiệu dòng điện giữa mô hình trung bình với mô hình switched 81
Hình 3.16 Ảnh hưởng của tần số PWM đến sai số giữa mô hình trung bình với mô hình switched 81 Hình 3.17 Khảo sát sự thay đổi chế độ làm việc của DC-DC theo hệ số điều chế 82
Trang 1614
Hình 3.18 Sơ đồ mạch lực của nghịch lưu nguồn áp 3 pha[95, 96] 83
Hình 3.19 Sơ đồ tổng quát BBĐ DC-AC ghép với lưới điện [95] 88
Hình 3.20 Sơ đồ thay thế tương đương BBĐ DC-AC ghép với lưới điện [95] 88
Hình 3.21 Sơ đồ tối giản BBĐ DC-AC ghép với lưới điện [95] 88
Hình 4.1 Cấu trúc điều khiển tổng thể thiết bị kho điện 92
Hình 4.2 Cấu trúc điều khiển nghịch lưu phía lưới 95
Hình 4.3 Các thành phần công suất trong SCESS 95
Hình 4.4 Sơ đồ cấu trúc tổng hợp bộ điều khiển điện áp DC-link 96
Hình 4.5 Đồ thị Bode hệ kín khi thay đổi Kp 98
Hình 4.6 Đáp ứng hệ kín với tín hiệu step 98
Hình 5.1 Chương trình mô phỏng tổng thể RAPS trên MATLAB/Simulink 106
Hình 5.2 Mô hình turbine hệ PĐSG 107
Hình 5.3 Cấu trúc điều khiển bộ biến đổi phía máy phát hệ PĐSG 107
Hình 5.4 Cấu trúc điều khiển bộ biến đổi phía lưới hệ PĐSG 107
Hình 5.5 Cấu trúc hệ thống điều tốc Diesel trên MATLAB/Simulink 108
Hình 5.6 Cấu trúc hệ thống tự động điều chỉnh điện áp AVR trên MATLAB/Simulink 108
Hình 5.7 Cấu trúc điều khiển bộ biến đổi DC-AC trong SCESS 108
Hình 5.8 Cấu trúc điều khiển tuyến tính BBĐ DC-DC 109
Hình 5.9 Cấu trúc điều khiển phi tuyến BBĐ DC-DC 109
Hình 5.10 Hàm trung gian trong cấu trúc ĐK phi tuyến BBĐ DC-DC 109
Hình 5.11 Hàm điều khiển trong cấu trúc ĐK phi tuyến BBĐ DC-DC 110
Hình 5.12 Cấu trúc điều khiển phi tuyến thích nghi tham số BBĐ DC-DC 110
Hình 5.13 Hàm trung gian trong cấu trúc ĐK phi tuyến thích nghi tham số 111
Hình 5.14 Hàm điều khiển trong cấu trúc ĐK phi tuyến thích nghi tham số 111
Hình 5.15 Đáp ứng dòng điện nạp/xả siêu tụ với tín hiệu step 113
Hình 5.16 Phóng to đáp ứng dòng điện phóng/nạp siêu tụ 114
Hình 5.17 Profile gió được sử dụng trong quá trình mô phỏng[53] 114
Trang 1715
Hình 5.18 Kịch bản thay đổi tải trong quá trình mô phỏng 115Hình 5.19 Động học của hệ thống điện ốc đảo chỉ có nguồn phát Diesel 116Hình 5.20 Các thành phần công suất trong hệ thống điện ốc đảo nguồn phát hỗn hợp
Gió-Diesel 116Hình 5.21 Tần số lưới trong hệ thống điện ốc đảo nguồn phát hỗn hợp Gió -Diesel
117Hình 5.22 Công suất tác dụng và diến biến năng lượng của SCESS với cấu trúc điều
khiển tuyến tính 118Hình 5.23 Điện áp một chiều trung gian và dòng điện phóng/nạp siêu tụ của SCESS
với cấu trúc điều khiển tuyến tính 118Hình 5.24 Đáp ứng các thành phần của vector dòng điện 3 pha của SCESS với cấu
trúc điều khiển tuyến tính 119Hình 5.25 Tác dụng lọc công suất WT của SCESS với cấu trúc điều khiển tuyến tính
119Hình 5.26 Hiệu quả ổn định tần số lưới khi có tích hợp SCESS với cấu trúc điều
khiển tuyến tính 120Hình 5.27 Điện áp một chiều trung gian trong quá trình đảo chiều dòng công suất từ
xả sang nạp với cấu trúc điều khiển tuyến tính 121Hình 5.28 Dòng điện 3 pha trong quá trình đảo chiều dòng công suất từ xả sang nạp
với cấu trúc điều khiển tuyến tính 121Hình 5.29 Điện áp một chiều trung gian trong quá trình đảo chiều dòng công suất từ
nạp sang xả với cấu trúc điều khiển tuyến tính 122Hình 5.30 Dòng điện 3 pha trong quá trình đảo chiều dòng công suất từ nạp sang xả
với cấu trúc điều khiển tuyến tính 122Hình 5.31 Công suất tác dụng và diến biến năng lượng của SCESS với cấu trúc điều
khiển phi tuyến 123Hình 5.32 Điện áp một chiều trung gian và dòng điện phóng/nạp siêu tụ của SCESS
với cấu trúc điều khiểnphi tuyến 123Hình 5.33 Đáp ứng các thành phần của vector dòng điện 3 pha của SCESS với cấu
trúc điều khiển phi tuyến 124
Trang 1816
Hình 5.34 Tác dụng lọc công suất WT của SCESS với cấu trúc điều khiển phi tuyến
124
Hình 5.35 Hiệu quả ổn định tần số lưới khi có tích hợp SCESS với cấu trúc điều khiển phi tuyến 125
Hình 5.36 Điện áp một chiều trung gian trong quá trình đảo chiều dòng công suất từ xả sang nạp với cấu trúc điều khiển phi tuyến 126
Hình 5.37 Dòng điện 3 pha trong quá trình đảo chiều dòng công suất từ xả sang nạp với cấu trúc điều khiển phi tuyến 126
Hình 5.38 Điện áp một chiều trung gian trong quá trình đảo chiều dòng công suất từ nạp sang xả với cấu trúc điều khiển phi tuyến 127
Hình 5.39 Dòng điện 3 pha trong quá trình đảo chiều dòng công suất từ nạp sang xả với cấu trúc điều khiển phi tuyến 127
Hình 5.40 Hệ thống mô phỏng thời gian thực với DS1104 129
Hình 5.41 Kết quả mô phỏng với dSPACE DS1104 129
Hình 5.42 Cấu trúc hệ thống thiết bị kho điện trong phòng thí nghiệm 131
Hình 5.43 Hình ảnh thiết bị thí nghiệm SCESS 132
Hình 5.44 Kết quả điều khiển phía DC-AC 135
Hình 5.45 Động học quá trình SCESS trao đổi công suất hai chiều với lưới và quá trình đảo chiều dòng công suất từ nạp sang xả 136
Hình 5.46 Động học quá trình SCESS trao đổi công suất hai chiều với lưới và quá trình đảo chiều dòng công suất từ xả sang nạp 137
Trang 1917
MỞ ĐẦU
Điện năng giữ một vai trò then chốt trong phát triển kinh tế xã hội Nhưng hơn 1,3 tỷ người trên thế giới vẫn chưa được tiếp cận với điện [38, 54] ở những khu vực xa xôi như các hải đảo, vùng núi cao, vùng băng tuyết - những nơi mà lưới điện quốc gia không có khả năng vươn tới Hệ thống điện ở những khu vực đó
tạm gọi tên là hệ thống điện ốc đảo hay Remote Area Power Systems (RAPS)
Nguồn điện trong RAPS sinh ra từ các tổ hợp phát điện diesel, quy mô phụ tải nhỏ và vừa, lưới điện có dung lượng hạn chế mang tính chất lưới yếu độc lập hoàn
toàn với lưới điện quốc gia mang tính chất lưới cứng Các nguồn năng lượng tái
tạo đặc biệt là năng lượng gió được xem là một nguồn năng lượng tiềm năng để
bổ sung cho hệ thống điện ốc đảo Hệ thống điện ốc đảo thông thường lấy nguồn năng lượng từ tổ hợp phát điện diesel làm nền, là nguồn cung cấp năng lượng chính, nguồn năng lượng từ hệ thống phát điện sức gió (PĐSG) được huy động
để giảm thiểu lượng tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch [17, 61]
Nguyên tắc cơ bản để một hệ thống điện ổn định là sự cân bằng công suất giữa nguồn phát và tải tiêu thụ Mối quan hệ cân bằng nói trên phản ánh sự cân bằng giữa công suất cơ của các nguồn năng lượng cơ sơ cấp cung cấp cho các máy phát với công suất điện tiêu thụ của phụ tải và các tổn hao Trong hệ thống PĐSG, công suất cơ sản sinh từ turbine gió lại biến động thất thường theo tốc độ gió, ngẫu nhiên và không thể điều khiển được [16, 90] Khi một hệ thống PĐSG hòa vào lưới quốc gia thì phải tuân theo những tiêu chuẩn cơ bản của nhà quản trị về
điện áp, tần số, sóng hài được quy định trong Grid-Codes, lưới điện quốc gia coi
như một kho năng lượng vô hạn có khả năng hấp thụ tất cả lượng công suất phát vào Với hệ thống điện ốc đảo, công suất nguồn phát lẫn dung lượng dây truyền tải là hữu hạn Hệ thống điện ốc đảo mang đặc điểm lưới yếu, quán tính thấp nên rất nhạy cảm với những biến động của cả nguồn phát cũng như phụ tải
Để đảm bảo nguyên tắc cân bằng cân bằng công suất nói trên, hệ thống điều khiển giám sát (SCADA) có những sự tác động mang tính chất điều độ để vận hành lưới ổn định như: Điều chỉnh công suất nguồn phát, sa thải phụ tải Khi điều chỉnh công suất nguồn phát, hệ thống điện ốc đảo có hai khả năng tác động: Điều chỉnh nguồn phát sức gió và điều chỉnh nguồn phát diesel Với hệ thống PĐSG, công suất đầu ra không chủ động huy động được vì phụ thuộc vào yếu tố gió tự nhiên Với nguồn phát diesel, tác động điều độ có thể diễn chủ động ra theo cả chiều tăng và giảm công suất nguồn phát Khi nguồn phát sức gió được huy động cùng với nguồn phát diesel, sự chia sẻ công suất tác dụng giữa các nguồn phát dẫn tới đòi hỏi điều chỉnh công suất liên tục đưa tới hệ thống điều khiển tốc độ của động cơ diesel để điều chỉnh công suất cơ của động cơ sơ cấp Trong khi đó ở RAPS, nguồn phát diesel đóng vai trò hình thành lưới, tần số lưới
tỷ lệ với tốc độ quay của động cơ sơ cấp diesel Chính hiện tượng điều chỉnh liên tục công suất nguồn phát làm cho tần số lưới luôn biến động gây suy giảm nghiêm
Trang 2018
trọng chất lượng điện năng, ảnh hưởng tiêu cực đến sự hoạt động của các thiết
bị điện cũng như chính bản thân tuổi thọ của động cơ diesel Vì vậy, để khai thác hiệu quả năng lượng gió trong hệ thống điện ốc đảo cần thiết phải có giải pháp
kỹ thuật phù hợp để giảm thiểu hiện tượng biến động công suất sao cho chất lượng điện năng (tần số) của cả hệ thống phải được đảm bảo phù hợp với một số tiêu chuẩn IEEE 1547.4, EN 50160 hoặc IEC như Bảng 1.4 Một trong những giải pháp phát huy được hiệu quả đó là sử dụng thiết bị kho điện để bổ sung công suất thiếu hụt hoặc hấp thụ công suất dư thừa của nguồn phát sức gió qua
đó làm làm trơn (smoothing) công suất đầu ra của các hệ thống PĐSG Siêu tụ
có những ưu thế vượt trội so với các công nghệ tích trữ năng lượng khác trong những ứng dụng đòi hỏi động học nhanh Thiết bị kho điện sử dụng siêu tụ
(SCESS – Supercapacitor Energy Storage Systems) bao gồm siêu tụ và hệ thống
biến đổi năng lượng (tầng công suất) có khả năng trao đổi công suất hai chiều đã được một số nhà khoa học nghiên cứu, thử nghiệm tích hợp trong hệ thống điện với mục tiêu đảm bảo chất lượng điện năng [12, 14, 21, 27, 29, 49, 61, 64, 90] Các chiến lược điều khiển và cấu trúc điều khiển của các công trình nghiên cứu trước đây phong phú nhưng vấn đề điều khiển bộ biến đổi DC-DC hai chiều còn nhiều hạn chế như: điều khiển tách biệt hai chiều năng lượng đòi hỏi phải có khóa chuyển giữa các chế độ; hoặc điều khiển hợp nhất hai chiều năng lượng sử dụng một cấu trúc điều khiển nhưng cơ sở thiết kế bộ điều khiển không tường minh do thiếu một mô hình động học phù hợp với các phương pháp điều khiển tuyến tính, phi tuyến Những tồn tài đó dẫn tới nguy cơ suy giảm chất lượng hay thậm chí hệ mất ổn định khi điểm công tác thay đổi, tham số của hệ thay đổi Vì vậy, trong luận án này, tác giả thực hiện phân tích các chế độ làm việc của bộ biến đổi DC-DC hai chiều không cách ly để dẫn tới một mô hình động học mô tả thống nhất hai chiều năng lượng Các phương pháp điều khiển tuyến tính có thể làm suy giảm chất lượng động học của hệ thống khi điểm làm việc thay đổi và thực sự chưa phù hợp với bản chất phi tuyến của mô hình động học thống nhất hai chiều năng lượng của hệ Do đó, luận án tiếp tục giải quyết vấn đề điều khiển phi tuyến thiết bị kho điện SCESS nhằm nâng cao chất lượng điều khiển hệ thống biến đổi điện năng gồm 2 bộ biến đổi DC-DC và DC-AC làm cơ sở để hoàn thành mục tiêu ổn định ngắn hạn công suất tác dụng đầu ra của turbine PĐSG, đảm bảo chất lượng tần số lưới
Đối tượng nghiên cứu:
Thiết bị kho điện sử dụng siêu tụ với ba thành phần: Siêu tụ, bộ biến đổi
DC-DC hai chiều, bộ biến đổi DC-DC-AC hai chiều
Mục đích nghiên cứu:
Đề xuất cấu trúc điều khiển thích hợp và có hiệu quả đối với hệ thống kho điện sử dụng siêu tụ để đảm bảo chất lượng điện năng của hệ thống điện ốc đảo nguồn phát hỗn hợp gió – diesel
Chỉ ra mối tương quan giữa công suất của hệ PĐSG với SCESS, xác định các thông số kỹ thuật của SCESS đối với các mức độ yêu cầu công suất theo profile gió cụ thể đối với hệ PĐSG
Trang 2119
Kiểm chứng cấu trúc điều khiển hệ thống kho điện được đề xuất thông qua những minh chứng bằng lý thuyết và thực nghiệm
Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu trên lý thuyết các thuật toán điều khiển thiết bị kho điện đảm bảo tính ổn định, chất lượng điện năng của hệ thống điện ốc đảo nguồn phát hỗn hợp gió – diesel
Tổng hợp hệ thống bằng mô phỏng trên phần mềm MATLAB/Simulink để đánh giá kết quả nghiên cứu thuật toán điều khiển trên lý thuyết
Kiểm chứng khả năng làm việc của các cấu trúc điều khiển đề xuất cho SCESS trên công cụ mô phỏng thời gian thực dSPACE-DS1104 và trên mô hình thí nghiệm SCESS trao đổi công suất hai chiều với lưới điện xoay chiều
o Luận án chỉ tập trung vấn đề điều khiển SCESS – điều khiển cấp thiết bị không giải quyết bài toán điều khiển mang đặc điểm “điều độ” toàn bộ hệ thống điện ốc đảo
Ý nghĩa của đề tài:
Sự phát triển mạnh mẽ của các hệ thống phát điện sức gió trên thế giới cũng như tại trường ĐHBK Hà Nội (xem PHỤ LỤC C) trong những năm gần đây trên
cả phương diện nghiên cứu lẫn ứng dụng nhưng đa số tập trung vào những hệ thống PĐSG hòa lưới quốc gia Với đặc điểm giàu tài nguyên gió, đặc biệt là các khu vực hải đảo, Việt Nam gần đây đã nghiên cứu, triển khai một số dự án phát điện sức gió tại một số hải đảo Phú Quý, Côn Đảo, Bạch Long Vĩ,… nhưng chưa thể đi vào vận hành khai thác hiệu quả do kiến trúc tổng thể của hệ thống điện trên những khu vực đó không đảm bảo sự ổn định và chất lượng điện năng khi được tích hợp các turbine PĐSG, rất cần phải có giải pháp kỹ thuật để giải quyết vấn đề giảm thiểu sự ảnh hưởng của hiện tượng biến động công suất đầu ra của turbine PĐSG đến hệ thống điện ốc đảo trong khi chưa có một công trình nghiên cứu nào tại Việt Nam về vấn đề thiết bị kho điện cho hệ thống PĐSG hoạt động trong hệ thống điện ốc đảo
Luận án đặt ra mục tiêu thiết kế cấu trúc điều khiển quá trình trao đổi năng lượng của thiết bị kho điện nhằm ổn định ngắn hạn công suất đầu ra của turbine
Trang 22 Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu này sẽ là tiền đề cho việc tích hợp thiết bị kho điện phù hợp với một số lưới điệc ốc đảo nói riêng và hệ thống điện vi lưới cô lập nói chung tại Việt Nam để nâng cao độ tin cậy vận hành, giảm thiểu sự tiêu thụ năng lượng hóa thạch so với lưới điện truyền thống (chưa tích hợp kho điện)
Những kết quả mới của luận án:
- Xây dựng mô hình động học hợp nhất hai chế độ trao đổi năng lượng của
bộ biến đổi DC-DC hai chiều không cách ly mang đặc điểm phi tuyến phù hợp với mục tiêu thiết kế điều khiển kho điện sử dụng siêu tụ
- Đề xuất cấu trúc điều khiển thiết bị kho điện sử dụng siêu tụ có tích hợp
thuật toán toán điều khiển phi tuyến cho bộ biến đổi DC-DC hai chiều không cách ly đảm bảo kiểm soát độc lập các thành phần công suất tác dụng, công suất phản kháng với động học phù hợp với những biến động công suất đầu ra của turbine PĐSG có đầu ra là điện xoay chiều ba pha
- Chứng minh tính khả thi của thuật toán điều khiển thiết bị kho điện được
đề xuất nhằm ổn định ngắn hạn công suất đầu ra của hệ thống PĐSG với giải pháp bù phân tán bằng các bằng các kết quả mô phỏng offline
- Kiểm chứng cấu trúc điều khiển thiết bị kho điện được đề xuất trong luận
án bằng các kết quả mô phỏng thời gian thực trên nền tảng DSP dSPACE DS1104 và trên mô hình thí nghiệm SCESS
Bố cục luận án gồm 5 chương chính như sau:
Chương 1 TỔNG QUAN giới thiệu cấu trúc hệ thống điện hải đảo Vấn đề
phân cấp điều khiển trong hệ thống điện hải đảo nguồn phát hỗn hợp được nghiên cứu khái quát để định hướng rõ ràng về các yêu cầu điều khiển đối với thiết bị kho điện hỗ trợ ổn định ngắn hạn công suất tác dụng đầu ra của turbine PĐSG Tác giả cũng phân tích đánh giá các công trình nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến thiết bị kho điện sử dụng siêu tụ Từ
đó nêu những vấn đề còn tồn tại, chỉ ra những vấn đề mà luận án cần tập trung nghiên cứu, giải quyết
Chương 2 CÁC NGUỒN PHÁT TRONG HỆ THỐNG ĐIỆN ỐC ĐẢO trình bày
về hệ thống điện ốc đảo sử dụng nguồn phát hỗn hợp giữa gió và diesel Hệ thống phát điện sức gió và hệ thống phát điện diesel sẽ được phân tích những điểm cốt lõi về nguyên tắc làm việc, các cấu trúc cơ bản và các vấn đề điều khiển
Chương 3 MÔ HÌNH THIẾT BỊ KHO ĐIỆN SỬ DỤNG SIÊU TỤ trình bày về
mô hình toán của siêu tụ, bộ biến đổi DC-DC hai chiều không cách ly và nghịch
Trang 2321
lưu nguồn áp DC-AC Các mô hình toán học được xây dựng trên cở sở phân tích các trạng thái làm việc của các bộ biến đổi để thiết lập các mối quan hệ về điện giữa các biến trạng thái, biến điều khiển, biến đầu ra sẽ được trình bày chi tiết
Chương 4 CÁC VẤN ĐỀ ĐIỀU KHIỂN trình bày về cấu trúc điều khiển tổng
thể của SCESS và cấu trúc điều khiển chi tiết của các bộ biến đổi AC và
DC-DC
Chương 5 KẾT QUẢ MÔ PHỎNG VÀ THÍ NGHIỆM thể hiện những kết quả
kiểm chứng cho các cấu trúc điều khiển đã đã đề xuất Các kết quả thu được trên phần mềm mô phỏng MATLAB/Simulink/SimPowerSystems, mô phỏng thời gian thực trên dSPACE DS1104 và mô hình thí nghiệm SCESS chứng minh cho khả năng làm việc, hiệu quả của những giải pháp được đề xuất
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ chỉ ra những đóng góp của luận án và hướng phát triển tiếp theo
Trang 241 TỔNG QUAN 22
1 TỔNG QUAN
Các hệ thống phát điện sức gió tăng trưởng rất mạnh mẽ [44, 90, 104] Đó phần lớn là những hệ thống hòa vào các lưới điện quốc gia Tuy nhiên, những hệ phát điện sức gió công suất nhỏ trên hải đảo (nơi mà lưới điện quốc gia không vươn tới được) cũng không mất đi sự quan tâm của các nhà sản xuất, nhà khoa học Theo [8, 17, 44, 61, 90], hệ phát điện sức gió loại này hoạt động kết hợp với những nguồn năng lượng truyền thống từ các tổ hợp diesel – máy phát (DGs), hình thành hệ thống điện ốc đảo nguồn phát hỗn hợp gió – diesel (WDHPS – Wind-Diesel Hybrid Power Systems)
Nội dung chương này trình bày tổng quan về cấu trúc hệ thống, các vấn đề về điều khiển, đồng thời tóm lược những xu hướng nghiên cứu về thiết bị kho điện thực hiện chức năng hỗ trợ turbine PĐSG trong hệ thống điện ốc đảo nguồn phát hỗn hợp Từ đó tác giả xác định mục tiêu nghiên cứu và các nhiệm vụ cần giải quyết trong luận án này
1.1 Khái niệm về hệ thống điện ốc đảo
Hệ thống điện ốc đảo (RAPS) là một hệ thống điện độc lập hoàn toàn với lưới điện quốc gia nằm ở những khu vực xa xôi – nơi mà lưới điện quốc gia không có khả năng vươn tới được Hệ thống điện nói chung bao gồm các nhà máy điện, trạm biến áp, các đường dây tải điện và các thiết bị khác (như tụ bù, thiết bị bảo vệ,…) được liên kết với nhau[1] Đối với RAPS truyền thống, nguồn phát điện thường là các trạm phát sử dụng năng lượng từ dầu diesel (gọi là tổ hợp phát điện diesel – DG) Sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ năng lượng tái tạo, các turbine phát điện sức gió được tích hợp thêm vào RAPS với mục tiêu giảm tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch Khi đó, RAPS trở thành một hệ thống điện với nguồn phát hỗn hợp như minh họa Hình 1.1 Hệ thống điện ốc đảo có thể phối hợp nhiều nguồn phát điện nhưng phổ biến nhất là hệ thống kết hợp giữa các hệ PĐSG với các tổ hợp phát điện diesel, hệ thống khi đó được gọi là Wind-Diesel HPS (WDHPS) WDHPS được hình thành bởi một hoặc vài turbine phát điện sức gió kết hợp với một hoặc vài trạm phát điện diesel cung cấp điện năng cho phụ tải thông qua lưới điện thấp áp (dưới 1 kV AC) hoặc trung bình (1 kV đến dưới
36 kV AC)[17, 61] Theo tiêu chuẩn IEC 61400-2 năm 2013 [44, 122] thì những
hệ phát điện sức gió dựa trên máy phát đồng bộ kích thích vĩnh cửu (PMG) là phù hợp cho hệ thống điện ốc đảo Tùy theo quy mô và đặc điểm phân bố của phụ tải mà RAPS có thể có hoặc không có lưới truyền tải Phụ tải điện của khu vực hải đảo chủ yếu là phụ tải 0,4kV
Theo phân loại hệ thống điện trong [1], RAPS được gọi là hệ thống điện cô lập,
là hệ thống không thể nối vào hệ thống điện quốc gia Một số thuật ngữ tiếng Anh
tương đương có thể được sử dụng để mô tả về RAPS như: standalone power
Trang 251.1 ẠẽáẾ ểẾ Ể ị ẽ ỉẽ ểẼ đẾ ể c đ o 23
systems, off-grid power systems, isolated power systems đ Ị đ cẽ ỉíểẽ cẽ ỉ
ỉácẽ bẾ ỉ ị Ế ề Ế đẾ ể ỆỊ c ẼẾa ịà có ỉẽ Ỉ d ểẼ ỉ ểẼ đ ểẼ ểẽaỊ Ả ỉ Ỉ ỉẽỊ ỉ
ểẼ Ềẽác ểẽ mini-grids đ cẽ ểẽ ểẼ ẽ ỉẽ ểẼ ễẽáỉ đẾ ể ỉ ễ ỉệỊểẼ cẽo Ể ỉ ỀẽỊ
ị c có côểẼ ỈỊ ỉ ề ể ẽ ể ầĂấS, đó có ỉẽ ềà Ể ỉ ỉẽ ỉệ ể, Ể ỉ ểẼôẾ ềàểẼ TẽỊ ỉ
ểẼ autonomous power systems dùểẼ đ cẽ Ể ỉ ẽ ỉẽ ểẼ ễẽáỉ đẾ ể có côểẼ
ỈỊ ỉ ỉ ịàẾ ỉệ Ể ẬaỉỉỈ đ ể ịàẾ ỂeẼa-ẬaỉỉỈ ểẽ ểẼ ỀẽôểẼ có ề Ế ỉệỊỎ ể ỉ Ế ề ể
Microgrid ềà Ể ỉ ỉẽỊ ỉ ểẼ đ c đ ểẽ ểẼẽ a ỉệoểẼ ƯEEE 2030, ƯEEE 1547 đ cẽ
Ể ỉ ẽ ỉẽ ểẼ đẾ ể có Ềẽ ể ểẼ ị ể ẽàểẽ đ c c ẽaẾ cẽ đ : Đ c ề ễ (island
mode) ịà Ề ỉ ể Ế ị Ế ề Ế đẾ ể ỆỊ c ẼẾa (grid-connected mode) ảẼ c ề Ế, ầĂấS
ềỊôể ềỊôể ẽo ỉ đ ểẼ cẽ đ đ c ề ễ, ỀẽôểẼ bao ẼẾ ỉệao đ Ế ể ểẼ ề ểẼ ị Ế ề Ế
ENGINE SGGovernor AVR
HT đo l ng và đi u khi n turbine P SG1
HT đo l ng và đi u khi n turbine P SG2
HT đo l ng và đi u khi n turbine P SGn
HT O L NG & I U KHI N
L I S D NG
HT O L NG & I U KHI N WIND PARK
HT SCADA
Hình 1.1 Minh h a h th ng đi n h i đ o ngu n phát h n h p gió - diesel
cẽ đ đ c ề ễ ẢẾcệoẼệẾdỈ c ểẼ ểẽ ầĂấS ỉ cẽ Ị ỉệácẽ ểẽẾ Ể ị câể b ểẼ
ẼẾ a các ểẼỊ ể ễẽáỉ ị Ế ỉ Ế ỉẾêỊ ỉẽ đ dỊỎ ỉệì các cẽ ỉẾêỊ cẽ ỉ ề ểẼ đẾ ể ể ểẼ
ểẽ ỉ ể Ỉ , đẾ ể áễ ỉệoểẼ ẼẾ Ế ẽ ể cẽo ễẽéễ Các ểẼỊ ể ễẽáỉ ỉrong RAPS và ẢẾcệoẼệẾdỈ bao Ẽ Ể: ểẼỊ ể ễẽáỉ có Ềẽ ể ểẼ đẾ Ị đ ềà ểẽ ểẼ ỉệ Ể ễẽáỉ đẾ ể dẾeỈeề ịà ểẽ ểẼ ểẼỊ ể ễẽáỉ bẾ ể đ ểẼ ỉẽ ỉ ỉẽ ểẼ ỉ ỉỊệbẾểe gió Do đó, đ đ Ể
b o cẽ ỉ ề ểẼ đẾ ể ể ểẼ ịà đ ỉẾể c Ỏ, ầĂấS ịà ẢẾcệoẼệẾdỈ ỉẽ ểẼ đ c tích
ẽ ễ ỉẽêỂ ỉẽẾ ỉ b ỉícẽ ỉệ ể ểẼ ề ểẼ ỉ Ể Ẽ Ế ỉ ỉ ềà kho đi n (Energy Storage
Systems – ESS) TẽẾ ỉ b Ềẽo đẾ ể có ỉẽ đ c ề ễ đ ỉ ệ Ế ệác ểẽ ểẼ ị ỉệí c ể
Trang 261 TỔNG QUAN 24
bù (bù phân tán) hoặc lắp đặt tập trung ở bus kết nối tất cả các nguồn phát (bù tập trung) như thể hiện trên Hình 1.1
1.2 Vấn đề đảm bảo chất lượng điện năng
Khi hệ PĐSG hòa vào lưới quốc gia thì phải tuân theo những tiêu chuẩn cơ bản
của lưới về điện áp, tần số, các thành phần sóng hài được quy định trong
Grid-Codes Lưới điện quốc gia coi như một kho năng lượng vô hạn có khả năng hấp
thụ tất cả lượng công suất hệ PĐSG phát vào Với RAPS, công suất nguồn phát lẫn dung lượng lưới truyền tải là hữu hạn RAPS không trao đổi công suất với lưới điện quốc gia, RAPS phải tự đảm bảo các chỉ tiêu chất lượng điện năng trên
cơ sở nguyên tắc cơ bản của bất cứ hệ thống điện nào: Công suất nguồn phát
phải cân bằng với tải tiêu thụ Trong những nhân tố đó, phụ tải biến động ngẫu
nhiên (có thể dự đoán được nhưng không hoàn toàn chính xác); nguồn phát sức gió có công suất đầu ra hoàn toàn biến động ngẫu nhiên theo những yếu tố địa lý
tự nhiên, gần như không thể dự đoán chính xác Vì vậy, đảm bảo cân bằng trong
hệ thống RAPS là một vấn đề không đơn giản Nếu công suất tác dụng của các nguồn phát nhỏ hơn yêu cầu của phụ tải thì tần số sẽ giảm và ngược lại Tần số
là thước đo cân bằng công suất tác dụng Khi tần số nằm trong phạm vi cho phép (quy định bởi tiêu chuẩn chất lượng điện năng) thì có nghĩa là đủ công suất tác dụng Với công suất phản kháng, nếu công suất phản kháng phát nhỏ hơn yêu cầu thì điện áp sẽ giảm, còn khi công suất phản kháng nguồn lớn hơn yêu cầu của phụ tải thì điện áp sẽ tăng Điện áp là thước đo cân bằng công suất phản kháng trong hệ thống điện
Trong hệ thống điện ốc đảo, công suất phản kháng được đáp ứng bởi nguồn phát diesel, các bộ tụ bù, kháng điện, các bộ SVC, STATCOM được tích hợp một cách hợp lý để đảm bảo chất lượng điện áp [7, 8, 116, 119]
Đối với vấn đề ổn định công suất tác dụng: RAPS mang đặc điểm lưới yếu,
quán tính thấp nên rất nhạy cảm với những biến động của cả nguồn phát cũng như phụ tải Khi huy động thêm nguồn phát điện sức gió biến động (công suất cơ của các turbine gió tỷ lệ với tốc độ gió [16, 90]) Trung tâm điều khiển phải thực hiện tác động điều độ các nguồn phát về công suất tác dụng để giữ ổn định hệ thống
- Đối với hệ thống PĐSG: tốc độ gió biến động ngẫu nhiên nên tác động điều độ công suất tác dụng chỉ có thể diễn ra theo chiều hướng giảm công suất thông qua điều chỉnh góc cánh đón gió hoặc đơn giản là sử
dụng tải giả (Dump load) Điều này gây lãng phí năng lượng và hiệu quả
điều chỉnh không đủ nhanh để giữ ổn định hệ thống
- Đối với nguồn phát diesel, tác động điều độ có thể diễn ra theo cả chiều tăng và giảm công suất nguồn phát bằng hai phương pháp độc lập: điều chỉnh công suất phản kháng thông qua điều chỉnh kích từ máy phát sử dụng bộ AVR và điều chỉnh công suất tác dụng thông qua điều chỉnh
Trang 271.3 Phân cấp điều khiển trong hệ thống điện ốc đảo 25
lượng nhiên liệu cung cấp cho động cơ sơ cấp sử dụng bộ điều tốc (Governor)[36, 68, 74, 121]
Ở RAPS, tần số lưới tỷ lệ trực tiếp với tốc độ của động cơ sơ cấp diesel Trong trường hợp mất cân bằng công suất tác dụng, bộ điều tốc tác động điều chỉnh công suất cơ của động cơ diesel để đưa tần số trở lại giá trị định mức trong khoảng thời gian cho phép từ 10-15 giây gọi là tác động điều chỉnh sơ cấp
(Primary load frequency control)[61, 62, 68] Tuy nhiên, tác động điều chỉnh
của bộ điều tốc thường chậm hơn so với những biến động nhanh của nguồn PĐSG làm cho trạng thái cân bằng trong hệ thống không được đảm bảo Hiện tượng này làm suy giảm chất lượng điện năng, ảnh hưởng tiêu cực đến sự hoạt động của các thiết bị điện cũng như chính bản thân tuổi thọ của động cơ diesel
Giải pháp điều độ các nguồn phát sức gió là không khả thi, thay vào đó người
ta sử dụng giải pháp “vá – patch” những biến động của công suất tác dụng đầu
ra hệ PĐSG bằng thiết bị kho điện: tích hợp kho điện tại từng turbine PĐSG (bù phân tán) hoặc tích hợp kho điện tại bus chung của các nguồn phát (bù tập trung) Kho điện sẽ hấp thụ công suất khi nguồn sơ cấp dư thừa và giải phóng
công suất khi nguồn sơ cấp thiếu hụt Khả năng “vá” những khoảng lồi lõm đến
đâu, trong thời gian bao lâu phụ thuộc vào mục tiêu điều độ cấp trên như: Ổn định ngắn hạn, ổn định theo đặc điểm phụ tải, ổn định theo mùa…
1.3 Phân cấp điều khiển trong hệ thống điện ốc đảo
Như đã thể hiện trên Hình 1.1 nguồn phát trong hệ thống điện ốc đảo chia làm
2 loại: Nguồn phát kết nối trực tiếp với AC-bus (các tổ hợp DGs) và nguồn phát kết nối với AC-bus thông qua các bộ biến đổi công suất (nguồn phát sức gió, thiết
bị kho điện) Vấn đề điều khiển trong RAPS được chia thành hai cấp: Cấp hệ
thống (system-level controls) và cấp thiết bị (component-level controls)[57, 58,
62] Mỗi nguồn phát phải đáp ứng những yêu cầu điều khiển khác nhau trong cấu trúc điều khiển tổng thể của hệ thống điện hải đảo
1.3.1 Điều khiển cấp hệ thống
Điều khiển cấp hệ thống mang đặc điểm điều khiển giám sát (SCADA) phục
vụ mục tiêu đảm bảo các chế độ vận hành an toàn của cả hệ thống thông qua các tác động mang tính chất điều độ công suất giữa các nguồn phát
Có hai chiến lược điều khiển cấp hệ thống là: Điều khiển tập trung (Centralized Control Strategies - CCS) và điều khiển phân tán (Decentralized
Control Strategies - DCS)
1.3.1.1 Điều khiển tập trung
Chiến lược điều khiển tập trung được vận hành dựa trên cơ chế trao đổi thông tin giữa trung tâm điều khiển với các bộ điều khiển cấp thấp gọi là LCs (Local Controllers) LCs gửi thông tin về các điều kiện hoạt động như: Công suất đầu ra của các nguồn phát, sự biến động về tần số và điện áp, ước lượng về nhu cầu phụ
Trang 2887, 93, 106] Điểm yếu của chiến lược điều khiển này là sự cố liên quan đến lỗi truyền thông Độ tin cậy vận hành cả hệ thống phụ thuộc vào một trung tâm điều khiển
1.3.1.2 Điều khiển phân tán
RAPS sử dụng chiến lược điều khiển phân tán sẽ không đòi hỏi một trung tâm điều khiển để ra một quyết định tối ưu Mỗi thành phần trong RAPS sẽ tự chịu trách nhiệm dựa trên những thông tin nhận được từ các thành phần khác Có hai chiến lược điều khiển phổ biến đó là: Điều khiển chia sẻ công suất theo độ dốc
đặc tính nguồn phát (Droop control strategy) và điều khiển theo nguyên lý hệ đa tác tử (multi-agent control strategy)
a) Điều khiển chia sẻ công suất theo độ dốc đặc tính các nguồn phát
Đây là phướng pháp điều khiển phổ biến nhất để đảm bảo khả năng chia sẻ công suất tác dụng, phản kháng giữa các nguồn phát Tần số và điện áp phụ thuộc vào độ lệch của P và Q so với giá trị đặt trước Đối với các nguồn phát truyền thống, yêu cầu về công suất tác dụng đầu ra phụ thuộc vào góc công suất hoặc tần số; trong khi đó, yêu cầu về công suất phản kháng được xác định theo biên độ điện áp Luật điều khiển này có thể phải được sửa chữa cho phù hợp với đặc điểm điện kháng của đường dây điện áp thấp Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp điều khiển này có thể tìm thấy ở [22, 36, 59, 114]
b) Nguyên lý điều khiển đa tác tử
Phương pháp này sử dụng các thành tựu thuộc về khoa học tính toán để tạo
ra cơ chế phản ứng thông minh cho mỗi nguồn phát sao cho nó có thể tự phán quyết hành động tương lai độc lập với môi trường xung quanh Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp điều khiển này có thể tìm thấy ở [56, 98]
1.3.2 Điều khiển cấp thiết bị
Các nguồn phát phân tán như: hệ PĐSG, kho điện kết nối với AC-bus thông qua các thiết bị biến đổi công suất Tùy theo dạng máy phát hay dạng năng lượng tích lũy trong kho mà cấu trúc thiết bị biến đổi công suất có thể khác nhau nhưng thông thường bao gồm hai thành phần: Bộ biến đổi phía máy phát (GC -
Generator-side Converter) và bộ biến đổi phía lưới (FC - Frontend Converter)[8]
- GC thực hiện chức năng cơ bản nhất là biến đổi điện năng được sinh ra bởi nguồn sơ cấp thành dạng điện một chiều cung cấp cho mạch một chiều trung gian (DC-link)
Trang 291.3 Phân cấp điều khiển trong hệ thống điện ốc đảo 27
- FC được điều khiển rất linh hoạt theo những mục đích khác nhau: Thiết
lập lưới cơ sở (Grid-forming), cấp năng lượng lên lưới (Grid-feeding) hoặc điều khiển hỗ trợ lưới (Grid-supporting) Cho dù điều khiển FC
theo mục đích nào thì nhiệm vụ cơ bản nhất vẫn là điều khiển dòng điện
FC Hình 1.2 thể hiện một cấu trúc điều khiển dòng điện kinh điển trên
hệ tọa độ quay dq Tùy theo mục đích điều khiển mà các mạch vòng
phía bên ngoài sẽ được bổ sung tương ứng Các chiến lược điều khiển cho GC hay FC ở cấp thiết bị luôn mang tính thời gian thực (real-time control) Nội dung tiếp theo sẽ trình bày các cấu trúc điều khiển tương ứng với các mục đích như đã nói ở trên đối với bộ biến đổi phía lưới
-Qm
K fP
K vQ
Hình 1.3 Đặc tính điều khiển theo độ dốc giữa các nguồn phát
1.3.2.1 Điều khiển thiết lập lưới cơ sở
Trong hệ RAPS, các giá trị tham chiếu về điện áp và tần số có thể được hình thành theo 3 cách: xác định từ trạm phát diesel, xác định từ hệ PĐSG sử dụng PMG hoặc xác định từ hệ PĐSG sử dụng DFIG kết hợp với trạm phát diesel tải thấp Nếu có nhiều tổ hợp thì một những tổ hợp còn lại sẽ điều chỉnh theo một
tổ hợp làm tham chiếu Trong trường hợp DGs không hoạt động, tự các bộ biến đổi công suất phải xác định giá trị tham chiếu điện áp, tần số và duy trì ổn định chúng Nếu có nhiều hơn 1 bộ FC thực hiện chức năng thiết lập lưới cơ sở thì phải có sự chia sẻ công suất giữa chúng theo phương pháp điều khiển kinh điển
Trang 301 TỔNG QUAN 28
tần số–công suất tác dụng f-P (frequency-droop control) và điện áp–công suất phản kháng U-Q (voltage-droop control) tương tự như mục tiêu điều khiển hỗ
trợ lưới được trình bày dưới đây
1.3.2.2 Điều khiển cấp năng lượng lên lưới
Các bộ biến đổi công suất được điều khiển để trao đổi chính xác các lượng đặt công suất được đưa ra bởi điều khiển cấp trên Ở chế độ điều khiển này, FC không tham gia trực tiếp vào vấn đề điều khiển tần số, điện áp như ứng dụng thiết lập lưới cơ sở Lượng đặt các thành phần công suất được xác định bởi hệ
thống điều khiển cấp cao (Supervisory power management unit)
i
N
Nq i Nd
i
*
Nq i Nd i
Nq u Nq
i
*
Nd i
P
*
Q U
f
Hình 1.5 Cấu trúc điều khiển hỗ trợ lưới
1.3.2.3 Điều khiển hỗ trợ lưới
Khi các nguồn phân tán (hệ PĐSG, kho điện) tích hợp vào những vị trí ngay đầu ra của nguồn phát chính, lưới truyền tải hoặc lưới phân phối sẽ có những
yêu cầu khác nhau của nhà quản trị hệ thống điện được định nghĩa trong Grid
Codes về những yêu cầu cơ bản liên quan đến tần số, điện áp ở chế độ vận hành
bình thường (Normal operation) và chế độ khi lưới gặp sự cố (Behaviour under
grid disturbances) Điều khiển bộ biến đổi phía lưới mang lại khả năng can thiệp
Trang 311.4 Tình hình nghiên cứu về thiết bị kho điện trên thế giới 29
vào tần số, điện áp của hệ thống thông qua trao đổi các thành phần công suất P,
Q hoặc thực hiện các chức năng như lọc tích cực, STATCOM, xử lý trường hợp
sự cố lưới như tải mất cân bằng, lõm/lồi điện áp Phương pháp điều khiển theo
độ dốc đặc tính tần số - công suất tác dụng dụng f-P và điện áp–công suất phản kháng U-Q được áp dụng cho vòng điều khiển phía ngoài cùng để tính toán lượng
đặt các thành phần công suất cho các vòng điều khiển phía trong như minh họa trên Hình 1.5
Để hoàn thiện cấu trúc điều khiển, FC còn phải được điểu khiển theo chiến
lược đặc biệt trong trường hợp lưới gặp sự cố [8, 101] Sự cố lưới thường được
quan tâm là hiện tượng biến động điện áp (lõm - sags hoặc lồi - swells) tác động
đến thiết bị bảo vệ ngắt nguồn phát phân tán ra khỏi lưới Điều này làm cho lưới mất cân bằng và có thể dẫn tới hiện tượng cực đoan không mong muốn là tan rã
lưới (Blackout) Grid-Codes thường yêu cầu khả năng trụ lưới thậm chí khi điện
áp lưới giảm về không trong khoảng thời gian lên tới 150ms (thường được biết
đến với thuật ngữ low-voltage ride-through – LVRT), khả năng hỗ trợ phục hồi
điện áp thông qua tác động đẩy công suất phản kháng vào lưới và khả năng điều
chỉnh độ dốc đặc tính công suất (ramp-up) sau sự cố Khi xảy ra sự cố lưới, điện
áp tại điểm kết nối mất cân bằng, dòng điện mà bộ biến đổi phía lưới của các nguồn phân tán đẩy vào lưới sẽ mất dạng sin, mất cân bằng Sự ghép nối giữa nguồn phân tán với lưới khi đó mất khả năng kiểm soát các thành phần công suất Những chiến lược điều khiển ở chế độ vận hành bình thường lúc này không phát huy được hiệu quả nên không được vận dụng Thay vào đó, một số tác giả [3, 101] đã phải sử dụng kỹ thuật phân tích các thành phần dòng điện thứ tự thuận, thứ tự nghịch, thứ tự không để áp đặt riêng từng lượng đặt cho phù hợp Chiến lược điều khiển bộ biến đổi công suất phía lưới dưới chế độ vận hành sự
cố là một thách thức cuối cùng trong tổng thể các vấn đề cần giải quyết của một
hệ thống điều khiển các nguồn phân tán nối lưới
1.4 Tình hình nghiên cứu về thiết bị kho điện trên thế giới
Trong mục này, tác giả trình bày khái quát về các công trình nghiên cứu gần gũi, liên quan đến hướng nghiên cứu của tác giả về thiết bị kho điện nói chung cũng như ESS ứng dụng trong hệ RAPS
1.4.1 Khái quát về một số loại kho năng lượng
Chức năng cơ bản của thiết bị kho điện là tích lũy khi nguồn sơ cấp (sức gió)
dư thừa và xả ra khi nguồn sơ cấp thiếu hụt Các hệ thống kho năng lượng được đặc trưng bởi khả năng tích lũy/xả ra khoảng thời gian (ngắn hạn hay dài hạn) với công suất danh định Theo một số công trình nghiên cứu [28, 33, 50, 61, 64],
thời gian cỡ một vài giây được xem là ngắn hạn, trong khi đó lớn hơn một giờ được coi là dài hạn Thời gian huy động năng lượng từ kho điện quyết định chức
năng của kho trong hệ thống
Trang 321 TỔNG QUAN 30
Zn-Br
Ni-Cd L/A
Na-S
CAES
PHS VR
Li-ion Ni-MH
Hình 1.6 Mối quan hệ giữa công suất và thời gian giải phóng theo lĩnh vực ứng
dụng của kho năng lượng[61]
Tùy theo ứng dụng mà kho cần phải đáp ứng về công suất cũng như thời gian giải phóng năng lượng phù hợp như ví dụ trên Hình 1.6 các tên viết tắt xem ở Bảng 1.2 [50]:
- Ứng dụng quản lý năng lượng yêu cầu ESS phải có dung lượng lớn, thời gian giải phóng có thể kéo dài hàng giờ;
- Ứng dụng chuyển nguồn yêu cầu dung lượng thấp hơn, thời gian giải phóng năng lượng có thể kéo dài cỡ vài phút;
- Ứng dụng đảm bảo chất lượng điện năng và độ tin cậy đòi hỏi ESS phải
có khả năng giải phóng nhanh (cỡ mili giây) [34, 61]
Bảng 1.1 Phân loại kho năng lượng theo thời gian
(Long-term) Pumped storage
Các công nghệ tích trữ năng lượng được nghiên cứu ứng dụng và triển khai cho đến nay có thể được phân nhóm như Bảng 1.1, Bảng 1.2 [50] Theo IEC[50], ESS với các mục đích sử dụng khác nhau đòi hỏi thời gian đáp ứng và tần suất rất khác nhau Với mục tiêu đảm bảo chất lượng điện năng, ESS hỗ trợ ổn định điện
áp và tần số Tần số được ổn định thông qua điều chỉnh công suất tác dụng ở
Trang 331.4 Tình hình nghiên cứu về thiết bị kho điện trên thế giới 31
đầu ra của WT Điện áp được điều chỉnh thông qua điều chỉnh công suất phản kháng Các công nghệ tích trữ năng lượng cần thiết phải có một hệ thống biến đổi năng lượng để có thể trao đổi công suất với lưới điện Dưới đây là một số hình ảnh (Hình 1.7, Hình 1.8, Hình 1.9, Hình 1.10, Hình 1.11, Hình 1.12) minh họa phương thức vận hành của các thiết bị kho điện được trích từ một số nguồn tài liệu [34, 61, 66]
Bảng 1.2 Phân loại kho năng lượng theo hình thức tích lũy
1.4.1.1 Hệ thống có khả năng đáp ứng dài hạn, tốc độ chậm
Hình 1.7 Hệ thống thủy điện PHS[61]
Hệ thống thủy điện tích năng PHS (Pumped Hydro Storage) như minh họa ở Hình 1.7 phục vụ nhu cầu tích trữ năng lượng dài hạn, công suất có thể lên đến hàng trăm GW Năng lượng lúc dư thừa được sử dụng để bơm nước lên hồ chứa trên cao Thời điểm phụ tải đỉnh, nước được xả để làm quay turbine máy phát điện – quá trình biến thủy năng thành điện năng Hệ thống PHS đòi hỏi kinh phí xây dựng rất tốn kém
Trang 341 TỔNG QUAN 32
Hình 1.8 Hệ thống tích trữ năng lượng CAES[61]
Hệ thống kho năng lượng khí nén CAES (Compressed Air Energy Storage) như minh họa ở Hình 1.8 cũng phục vụ nhu cầu tích trữ năng lượng dài hạn, công suất lớn Năng lượng lúc dư thừa được biến thành khí nén và được huy động ngược trở lại để cung cấp cho lưới trong quá trình phụ tải đỉnh
1.4.1.2 Hệ thống có khả năng đáp ứng ngắn hạn, tốc độ cao
Hệ thống tích trữ năng lượng sử dụng bánh đà FES (Flywheels Energy Storage) như minh họa ở Hình 1.9 thường được sử dụng cho những ứng dụng đòi hỏi động học nhanh, đảm bảo chất lượng điện năng trong thời gian ngắn Năng lượng được tích trữ dưới dạng cơ năng dự trữ dưới dạng động năng trong thiết bị bánh đà với quán tính rất lớn nối trục với máy điện có thể hoạt động ở cả chế độ động cơ (tích trữ năng lượng) và máy phát (giải phóng năng lượng)
Hình 1.9 Hệ thống tích trữ năng lượng sử dụng bánh đà[61]
Hệ thống siêu dẫn từ SMES (Superconducting Magnetic Energy Storage) như minh họa ở Hình 1.10 sử dụng năng lượng được tích trữ dưới dạng từ trường khi dòng điện một chiều chảy qua cuôn dây siêu dẫn Hệ SMES có động học nhanh, hiệu suất cao (lên đến 90%) Vấn đề khó khăn chính của công nghệ này là phải duy trì nhiệt độ cỡ 50-77oK để bảo đảm tính siêu dẫn của vật liệu kéo theo chi
Trang 351.4 Tình hình nghiên cứu về thiết bị kho điện trên thế giới 33
phí vận hành lớn SMES có thể gặp trong những ứng dụng về khử lõm điện áp,
ổn định tần số trên hệ thống điện ốc đảo
Hình 1.10 Hệ thống tích trữ năng lượng SMES[61]
Hệ thống acqui BESS (Battery Energy Storage System) như minh họa ở Hình 1.11 là công nghệ tích trữ năng lượng được sử dụng rộng rãi nhất BESS phù hợp với cả những ứng dụng về quản lý năng lượng, hỗ trợ phụ tải đỉnh, hỗ trợ lưới khi nguồn chính gặp sự cố (UPS) Thông thường các acqui được ghép nối với nhau thành bộ để tăng dung lượng, tăng điện áp công tác
Hình 1.11 Hệ thống tích trữ năng lượng sử dụng acqui[61]
Hệ thống tích trữ năng lượng sử dụng siêu tụ SCESS (Supercapacitor Energy Storage Systems) như minh họa ở Hình 1.12 Siêu tụ có khả năng tích lũy trực tiếp năng lượng ở dạng điện năng DC Siêu tụ được biết đến với những tên gọi: SuperCapacitor (SC); Ultra-Capacitor (UC) hay Electric Double-layer Capacitor (EDLC) Các nghiên cứu [27, 29, 54, 112, 117] đã chỉ ra một số ưu điểm vượt trội như:
Điện dung lớn với kích thước nhỏ gọn (có thể đến hàng nghìn Farad);
Động học nhanh: thời gian xả nạp năng lượng cực nhanh với công suất lớn;
Mật độ công suất lớn hơn nhiều so với tụ thường, acqui;
Trang 361 TỔNG QUAN 34
Hiệu năng cao, tần số xả nạp lớn, có thể xả kiệt mà không bị ảnh hưởng đến tuổi thọ, ít bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ và thân thiện với môi trường
Hình 1.12 Hệ thống tích trữ năng lượng sử dụng siêu tụ[61]
Vì điện áp công tác tối đa của mỗi tụ chỉ vài Vol nên sẽ phải mắc nối tiếp một lượng lớn tụ để đạt được điện áp cần thiết Tùy thuộc yêu cầu về công suất huy động để mắc song song nhiều nhánh tụ Các bộ biến đổi công suất kiểm soát quá trình nạp/xả của siêu tụ với lưới điện có thể trao đổi công suất một chiều sử dụng
bộ nạp và bộ nghịch lưu riêng biệt hoặc sử dụng các bộ biến đổi công suất có khả năng trao đổi công suất hai chiều như minh họa trên Hình 1.13
Hình 1.13 Minh họa thiết bị kho điện sử dụng siêu tụ
1.4.2 Vấn đề điều khiển thiết bị kho điện
Như đã giới thiệu ở mục 1.3, trong hệ thống điện hải đảo phân chia thành nhiều cấp điều khiển, các nguồn phát có vai trò khác nhau trong hệ thống sẽ phải đáp ứng các yêu cầu về điều khiển khác nhau Đối với RAPS nguồn phát hỗn hợp gió – diesel có tích hợp thiết bị kho điện:
Trang 371.4 Tìểẽ ẽìểẽ ểẼẽẾêể c Ị ị ỉẽẾ ỉ b Ềẽo đẾ ể ỉệêể ỉẽ ẼẾ Ế 35
Ph ng án bù phân tán, ỉẽẾ ỉ b Ềẽo đẾ ể cẽ ẽ ỉệ các ỉỊệbẾểe ấĐSƠ
ệẾêểẼ ề , Ỉ d ểẼ ỉẽôểẼ ỉẾể ị côểẼ ỈỊ ỉ đ Ị ệa c a ỉ ểẼ ỉỊệbẾểe ấĐSƠ
đ ỉẽ c ẽẾ ể cẽ c ể ểẼ c ễ ể ểẼ ề ểẼ ềêể ề Ế (ểẽ đã ẼẾ Ế ỉẽẾ Ị Ể c 1.3.2) ểẽ Ể ể đ ểẽ ểẼ ể ẽ ể côểẼ ỈỊ ỉ đ Ị ệa
DC-AC DC-DC
Gió
GRID
H p s
Generator-Side Converter
Frontend Converter
Filter
Hình 1.14 Hai kh n ng tích h p thi t b kho đi n vào h th ng PĐSG
TệoểẼ ỉẽ c ỉ , ểẽ ểẼ ỀẽỊ ị c ểẽ ẽ Ế đ o, ễẽ ỉ Ế ẽ Ị ẽ ỉ ềà d ểẼ ĂC ểêể ỉác
ẼẾ Ỉ cẽ ỉ ễ ỉệỊểẼ ịào ẽ ầĂấS Ỉ d ểẼ bỊỈ ĂC ỉ ễ ỉệỊểẼ Ạẽ ể ểẼ ỉícẽ ẽ ễ SCESS ịào ẽ ỉẽ ểẼ ấĐSƠ c ểẼ đeỂ ề Ế ẽaẾ Ỉ ề a cẽ ể đ c ỂẾểẽ ẽ a ỉệêể Hình 1.14:
SCESS Ề ỉ ể Ế ịào Ể cẽ Ể ỉ cẽẾ Ị ỉệỊểẼ ẼẾaể c a các ỉ ểẼ bẾ ể đ Ế đẾ ể
ể ểẼ c a ẽ ỉẽ ểẼ ấĐSƠ Ẽ Ế ềà DC-coupled
Trang 38quy định của nhà quản trị hệ thống điện được định nghĩa trong Grid-Codes Các
vấn đề điều khiển trong hệ PĐSG sẽ được phân tích chi tiết hơn ở Chương 3 Điều khiển quá trình trao đổi năng lượng giữa kho điện với lưới bản chất là quá trình điều khiển các bộ biến đổi điện tử công suất DC-DC và DC-AC Nếu phân loại chiều dòng năng lượng trao đổi của kho điện thì có hai phương pháp
điều khiển: Điều khiển hai chế độ độc lập ([72, 113] đối với phương án coupled và [42, 65, 83] đối với phương án AC-coupled) hoặc điều khiển hợp nhất
DC-([40, 41, 80-82, 94] đối với phương án DC-coupled và [11, 69-71, 99, 100] đối với phương án AC-coupled)
Phương pháp điều khiển hai chế độ độc lập: Hai chiều trao đổi công suất ứng
với hai chế độ nạp/xả của kho điện được điều khiển riêng biệt bởi hai cấu trúc điều khiển
- Nếu là kho điện DC [72, 113], bộ biến đổi DC-DC được điều khiển với hai
cấu trúc điều khiển tách biệt: ở chế độ nạp đòi hỏi điều khiển dòng điện nạp siêu tụ; ở chế độ xả đòi hỏi điều khiển ổn định điện áp một chiều trung gian Các bộ điều khiển có thể được thiết kế theo phương pháp tuyến tính hay phi tuyến
- Nếu là kho điện AC [42, 65, 83], bộ biến đổi DC-AC được xen vào giữa kho
điện DC với lưới xoay chiều ba pha Khi đó, cấu trúc điều khiển BBĐ
DC và BBĐ AC được phối hợp với nhau: ở chế độ nạp, cấu trúc ĐK
DC-AC thực hiện chức năng ổn định điện áp một chiều trung gian, cấu trúc ĐK DC-DC thực hiện chức năng điều khiển dòng nạp siêu tụ; ở chế độ xả, cấu trúc ĐK DC-AC thực hiện chức năng điều khiển độc lập các thành phần công suất tác dụng và phản kháng trao đổi với lưới, cấu trúc ĐK DC-DC thực hiện chức năng ổn định điện áp một chiều trung gian
Điểm hạn chế của phương pháp điều khiển hai chế độ độc lập là luôn
đòi hỏi một khóa chuyển chế độ Điều này không những làm suy giảm chất lượng động học mà còn tiểm ẩn những nguy cơ gây mất ổn định hệ thống khi yêu cầu chuyển trạng thái nạp/xả xảy ra với tần số cao hoặc trạng thái nạp/xả không thực sự rõ ràng
Phương pháp điều khiển hợp nhất: Một cấu trúc điều khiển duy nhất được sử dụng để điều khiển cho cả hai chế độ nạp/xả của kho điện
- Nếu là kho điện DC [40, 41, 80-82, 94], bộ biến đổi DC-DC sẽ được điều
khiển luân phiên hoạt động ở cả hai chế độ nạp và xả trong một khoảng thời gian dẫn tới công suất trung bình của cả quá trình sẽ tương đương với quá trình siêu tụ nhận công suất từ DC-bus, quá trình siêu tụ đưa công suất lên DC-bus hoặc quá trình nhận và xả cân bằng
Trang 391.4 Tình hình nghiên cứu về thiết bị kho điện trên thế giới 37
- Nếu là kho điện AC [11, 69-71, 99, 100], bộ biến đổi DC-AC được xen vào
giữa kho điện DC với lưới xoay chiều ba pha Khi đó, cấu trúc điều khiển BBĐ DC-DC và BBĐ DC-AC được phối hợp với nhau: Cấu trúc ĐK DC-AC luôn thực hiện chức năng ổn định điện áp một chiều trung gian (chỉnh lưu tích cực) đồng thời đáp ứng yêu cầu về điều khiển công suất phản kháng
Q do Grid-Codes quy định, công suất tác dụng do điều khiển cấp trên đưa tới được quy đổi về dòng điện phóng/nạp siêu tụ cả về chiều và độ lớn do
bộ điều khiển BBĐ DC-DC thực hiện; hoặc BBĐ DC-DC được điều khiển
ổn định điện áp một chiều trung gian, trong khi đó BBĐ DC-AC được điều khiển bám chính xác các thành phần công suất trao đổi với lưới do điều khiển cấp trên yêu cầu
So với phương pháp điều khiển hai chế độ độc lập, phương pháp điều khiển hợp nhất hai chế độ đem lại độ tin cậy về điều khiển cao hơn do số lượng các bộ điều khiển giảm đi, không tồn tại khóa chuyển giữa các cấu trúc điều khiển
Sản phẩm thương mại trên thị trường: Trong quá trình thực hiện luận án này,
tác giả mới chỉ thấy sự hiện diện của thiết bị kho điện sử dụng siêu tụ của công
ty M&P CHLB Đức [39]
Bảng 1.3 Tóm tắt các hướng nghiên cứu về kho điện
Hướng nghiên cứu Các nhiệm vụ
- Mô hình hóa BBĐ DC-DC và thiết kế điều khiển chế độ nạp với cấu trúc mạch Buck
- Mô hình hóa BBĐ DC-DC và thiết kế điều khiển chế độ xả với cấu trúc mạch Boost
- Tác động gián tiếp tới công suất đầu ra turbine PĐSG thông qua DC-bus Đối với hệ PĐSG sử dụng DFIG không phát huy hiệu quả vì dòng năng lượng chính không chảy qua bộ biến đổi công suất
- Đòi hỏi can thiệp vào mạch bộ biến đổi ĐTCS và cấu trúc điều khiển bộ biến đổi phía lưới hệ PĐSG
- Đòi hỏi sự chuyển chế độ giữa trạng thái nạp và xả tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định
hệ thống
Điều khiển hợp nhất hai chế độ [40, 41, 80-82, 94]
- Mô hình hóa
thống nhất cả hai chiều và thiết kế một cấu trúc điều
- Phương pháp điều khiển đồng thời hai chế độ nạp/xả của BBĐ DC-DC đã được thực hiện với phương pháp điều khiển tuyến tính
Trang 40- Mô hình hóa BBĐ DC-DC, BBĐ DC-AC và thiết kế điều khiển chế độ nạp
- Mô hình hóa BBĐ DC-DC, BBĐ DC-AC và thiết kế điều khiển chế độ nạp
- Tác động trực tiếp đến công suất phía đầu ra xoay chiều 3 pha của hệ PĐSG mà không đòi hỏi can thiệp vào cấu trúc điều khiển của bộ biến đổi hệ PĐSG
- Đòi hỏi sự chuyển chế độ giữa trạng thái nạp và xả tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định
hệ thống
Điều khiển hợp nhất hai chế độ [11, 69-71,
99, 100]
- Mô hình hóa BBĐ DC-DC,
thống nhất cả hai chiều và thiết kế một cấu trúc điều khiển cho cả hai chế độ nạp và xả
- Tác động trực tiếp đến công suất phía đầu ra xoay chiều 3 pha của hệ PĐSG mà không đòi hỏi can thiệp vào cấu trúc điều khiển của bộ biến đổi hệ PĐSG
- Chưa có công trình nào chỉ ra
đặc điểm phi tuyến của mô hình thống nhất hai chế độ năng lượng nạp/xả của BBĐ DC-DC và thiết kế điều khiển phi tuyến
1.5 Lựa chọn hướng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là thiết bị kho điện Hệ thống điện ốc đảo nguồn phát hỗn hợp gió – diesel là môi trường để kiểm chứng hiệu quả của cấu trúc điều khiển thiết bị kho điện giúp ổn định ngắn hạn công suất tác dụng đầu
ra, chất lượng ổn định tần số lưới được xem là chỉ tiêu đánh giá
Vì vậy, bài toán thiết kế cấu trúc hệ thống điện hải đảo không thuộc phạm vi nghiên cứu mà tác giả sử dụng (giả thiết) một cấu trúc đơn giản đủ để đáp ứng các yêu cầu về kiểm nghiệm chất lượng quá trình điều khiển ổn định ngắn hạn công suất turbine PĐSG như minh họa ở Hình 1.15 Hệ thống có cấu trúc AC-BUS tập trung, không sử dụng lưới truyền tải trung thế, khoảng cách từ nguồn phát đến phụ tải ngắn (một vài km) nên bỏ qua điện kháng đường dây Đối với nguồn phát diesel, các tổ hợp phát điện diesel được đơn giản hóa bằng một tổ hợp có công suất tương đương cấp nguồn chính cho toàn bộ hệ thống qua BUS1-400V Trong thực tế có một số cấp điện áp đầu ra turbine PĐSG là 400V, 690V