Đáng chú ý là những rối loạn tâm thần trong bệnh động kinh biểu hiện là các rối loạn về trí tuệ, cảm xúc, tư duy và nhân cách.. Định nghĩa động kinh Động kinh là những cơn ngắn, định hìn
Trang 1Chuyên ngành: CHĂM SÓC s ứ c KHỎE TÂM THẦN
BÁO CÁO CHUYÊN ĐÊ TỐT NGHỆP ĐIỀU DƯỠNG CHUYÊN KHOA CÁP I
Giảng viên hướng dẫn: Ths Vũ Thu Thủy
I1ỈƯỜNG ĐẠi Hạc Đlẽù DƯỠNG
_ NÁM DINH
THƯ VIỆN
SỐ:Q.ICí 5j
NAM Đ ỊN H - 2 0 1 5
Trang 2MỤC LỤC
ĐẶT VÂN ĐỀ 5
Chương 1 7
TÓNG QUAN TÀI LIỆ U 7
I KIẾN THỨC C ơ BẢN VỀ ĐỘNG KINH 7
1 Định nghĩa động k in h 7
2 Dịch tễ bệnh động k in h 7
3 Đặc điểm lâm sàng động kinh 9
4 Cận lâm sàng 12
5 Phân loại động kinh 12
6 Động kinh tâm thần và các rối loạn tâm thần trong động kin h 14
7 Các phương pháp điều trị động kinh 18
8 Tình hình quản lý và điều trị bệnh động kinh ờ Việt Nam 20
9 Chăm sóc người bệnh động kinh 21
Chăm sóc người bệnh động kinh sau cơn 22
10 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh động kinh 25
Chương 2 27
THỤC TRẠNG CHĂM sóc NGƯỜI BỆNH ĐỘNG K IN H 27
TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN TỈNH NAM ĐỊNH 27
Bệnh nhân 1: 27
Bệnh nhân 2: 29
Bệnh nhân 3: 29
BÀN LUẬN 33
2.1 Các mặt tốt trong quá trình chăm sóc người bệnh 33
2.2 Một số tồn tại trong quá trình chăm sóc người tại bệnh viện tâm thần Tỉnh Nam Định 33
2.3 Một vài nhận xét về thực trạng chăm sóc và phục hồi của người bệnh động kinh tại bệnh viện tâm thần Tỉnh Nam Định 34
GIÀI PHÁP 36
KẾT LU Ậ N 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt chuyên đề này Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Th.s Vũ Thu Thủy - Phó Trưởng Bộ môn Tâm thần kinh - Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã giúp đỡ và hướng dẫn tôi rất tận tình trong suốt thời gian tôi thực hiện chuyên đề này
Xin được cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn Tâm thần kinh - Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, các cán bộ y tế của Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định đã giúp đỡ, chia sẻ cho tôi những kinh nghiệm quý báu trong thời gian học tập và làm chuyên đề này
Xin được cảm ơn các bạn trong lóp Chuyên khoa 1, khóa 2, dã cùng vai sát cánh với tôi để hoàn thành tốt chuyên đề này
Xin được cảm ơn những người bệnh, gia đình người bệnh đà thông cảm và tạo điều kiện cho tôi được thăm khám, tiếp xúc, lắng nghe và thực hiện nghiêm túc những lời khuyên dành cho họ
Xin chân thành cảm ơn mọi người!
Trang 4Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Phòng Đào tạo sau đại học Trường Đại học Điêu dưỡng Nam Định
Học viên : Lớp Chuyên khoa 1, khóa 2
Sau một thời gian học tập tại trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, dưới
sự hướng dẫn nhiệt tình của Th.s Vũ Thu Thủy và các thầy cô trong bộ môn Tâm thần kinh Em đã hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp với đề tài
" Chăm sóc ngưòi bệnh động kinh tại bệnh viện tâm thần tỉnh Nam Định "
Chuyên đề tốt nghiệp của tôi không sao chép từ bất kỳ chương trình nghiên cứu, luận văn hay luận án nào, đó là công sức nghiên cứu và tìm hiểu của bản thân Tuy tôi có sử dụng một số tài liệu nhưng chỉ mang tính chất để tham khảo phục vụ cho việc hoàn thành chuyên đề
Tôi xin cam đoan những lời trên đây là đúng sự thật, nếu vi phạm tôi sẽ chịu mọi hình thức kỷ luật của nhà trường
Tên em là: Lê Thị Thúy
Nam Định, ngày 10 tháng 05 năm 2015
Lê Thị Thúy
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Động kinh là một bệnh nặng, mạn tính, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và khả năng lao động của bệnh nhân Bệnh chiếm tỷ lệ 0,6% dân số Động kinh có thể khởi phát ở bất kỳ lứa tuổi nào, nhưng có đến 1/2 số trường hợp bệnh khởi phát ở độ tuổi trước 20, vì vậy, chúng để lại di chứng rất nặng nề cho bệnh nhân, khiến họ dễ trở thành người tàn phế, thành gánh nặng cho bản thân, gia đình và xã hội [9]
Biểu hiện lâm sàng của động kinh rất đa dạng và phức tạp, gồm những rối loạn đột ngột kịch phát các chức năng của não về vận động, cảm giác, giác quan,
ý thức Ngoài những biểu hiện rối loạn trong cơn, thì những rối loạn trước cơn, sau cơn và giữa cơn cũng phong phú Đáng chú ý là những rối loạn tâm thần trong bệnh động kinh biểu hiện là các rối loạn về trí tuệ, cảm xúc, tư duy và nhân cách Đó là do hậu quả của quá trình bệnh lý lâu dài gây nên Vì vậy người bệnh động kinh thường giảm cơ hội hòa nhập, thiếu tự tin, hay lo lắng, thất vọng và điều quan trọng nhất là mặc cảm tự ty về bệnh tật của mình nên ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống
Động kinh không được điều trị hoặc động kinh mạn tính có thể dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng về mặt cơ thể, tâm lý và xã hội Nhưng những hiểu biết sai lầm về động kinh làm cho người ta sợ hãi, e ngại, tìm cách che dấu, hổ thẹn Tình trạng không hiểu biết và những thái độ tiêu cực đối với loại bệnh này khá phổ biến ở mọi nước khiến cho động kinh bị dấu diếm hoặc bỏ qua[7]
Nam Định là một trong những tỉnh có số lượng bệnh nhân động kinh tương đối cao, theo thống kê của phòng kế hoạch tổng họp tính đến tháng 12 năm 2014, toàn tỉnh hiện có 1893 bệnh nhân động kinh Năm 1999, Chính phủ Việt Nam đưa vào Chương trình mục tiêu Quốc gia dự án bảo vệ sức khoẻ tâm thần cộng đồng[2] Bệnh động kinh là môt trong ba bệnh chính được đưa vào chương trình
Do vậy việc chăm sóc người bệnh động kinh ngày càng được quan tâm, nhằm cải
Trang 7thiện vấn đề này tôi thực hiện chuyên đề: Chăm sóc người bệnh động kinh tại Bệnh viện Tâm thần tinh Nam Định với các mục tiêu sau:
1 Nhận xét thực trạng chăm sóc người bệnh động kinh tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định
2 Đe xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả chăm sóc người bệnh động kinh tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định
Trang 8Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU
I KIẾN THỨC C ơ BẢN VÈ ĐỘNG KINH
1 Định nghĩa động kinh
Động kinh là những cơn ngắn, định hình, đột khởi, có khuynh hướng chu
kỳ và tái phát do sự phóng điện đột ngột quá mức từ vỏ não hoặc qua vỏ não của nhũng nhóm nơ ron, gây rối loạn chức năng của hệ thần kinh trung ươns (TKTW) (cơn vận động, cảm giác, giác quan, thực vật, ), điện nào đồ ghi được các đợt sóng kịch phát Panayiotis N Varelas (2008),
Humana Press, pp 1 - 2
2 Dich tễ bênh đông kinh
Theo tổ chức Y tế Thế giới, qua điều tra 108 nước trên thế giới với tỷ lệ 85,4% dân số toàn cầu, đã phát hiện được 43.704.000 người mắc động kinh
Tỷ lệ trung bình mắc động kinh là 8,93 đối với 1000 người tính theo 105 nước Con số mà biến đổi theo các nước khác nhau: ờ châu Mỹ là 12,59 cho 1000 người, ở châu Phi là 11,29; ở phía đông Địa Trung Hải là 9,4; ở châu Âu là 8,23; còn ở Tây Thái Bình Dương là 3,66 [1]
về giới, hầu hết các nghiên cứu (không phải toàn bộ) ở Châu Á nhận thấy
tỉ lệ nam bị động kinh cao hơn đôi chút so với nữ [14]
về tỉ lệ các loại cơn, theo tài liệu nước ngoài thì ở người lớn động kinh cục
bộ hoặc những cơn liên quan đến cục bộ chiếm 55 - 60 %, cơn toàn thể tiên phát chiếm 26 - 32 %, cơn động kinh không phân loại chiếm 8 - 17 % Tổng hợp các nghiên cứu ở các nước phát triển cho thấy cơn cục bộ phổ biến hơn cơn toàn thể
ở cả trẻ em và người lớn mặc dù ưu thế của động kinh cục bộ vẫn trội hơn ở
Trang 9người lớn Trên lâm sàng nhiều cơn biểu hiện toàn thể nhưng bản chất là cơn cục
bộ toàn thể hóa [14]
1.2 Một số nghiên cứu về bệnh nguyên bệnh sinh của động kinh.
1.2.1 Nguyên nhân của động kinh.
+ Động kinh không rõ nguyên nhân
- Động kinh căn nguyên ẩn, biểu hiện nguyên nhân được che giấu khi thăm khám lâm sàng và cận lâm sàng không thấy tổn thương ở não Động kinh căn nguyên ẩn chiếm 60,5% và hay gặp ờ trẻ em
- Động kinh nguyên phát: cơn động kinh xảy ra mà không có tổn thươníi khu trú não Tỷ lệ gặp động kinh nguyên phát là 28,4%
- Động kinh có nguyên nhân (động kinh triệu chứng) Là do các tổn thương
ở não đã cố định hoặc tiến triển, gây xuất hiện cơn động kinh trên lâm sàng hay trên điện não đồ
1 Cơ chế bệnh sinh của động kinh.
Cơ chế bệnh sinh của động kinh đã và đang được làm sáng tỏ nhưng cho đến nay vẫn chưa rõ cơ chế bệnh sinh của động kinh và còn nhiều những quan điểm khác nhau về vấn đề này Hiện nay có nhiều giả thuyết giải thích về cơ chế bệnh sinh của động kinh nhưng đáng chú ý nhất là giả thuyết giảm hoạt động của GABA
Gamma aminobutyric acid (GABA) là một chất dẫn truyền thần kinh có tác dụng ức chế chủ yếu của hệ thần kinh GABA có tác dụng lên tế bào bìa ở vỏ não, tăng ngưỡng chịu kích thích của các neuron vỏ não, đồng thời kiểm soát tính thấm của tế bào với ion cr, Na+, K+, tăng phân cực màng tế bào Các yếu tố làm giảm chất GABA hoặc làm ức chế cơ quan cảm nhận GABA sẽ gây nên cơn động kinh Trong thực tế lâm sàng, Valproic acid có tác dụng làm giảm chuyển
Trang 10hóa GABA, do đó làm tăng nồng độ GABA trong hệ thần kinh trung ương nên có tác dụng chống động kinh.
3 Đặc điểm lâm sàng động kinh
Các cơn co giật động kinh là những triệu chứng rối loạn chức năng của não do mất cân bằng của các quá trình kích thích và ức chế trong toàn bộ các tế bào thần kinh dẫn tới các đợt kịch phát đồng thì của các tế bào thần kinh ờ vỏ não Sự tham gia của các vùng chức năng vỏ não sẽ quyết định các biểu hiện lâm sàng của các cơn co giật Các cơn co giật động kinh thường là tự phát, kéo dài 1 -2 phút, sau đó là giai đoạn ức chế của não như trạng thái lú lẫn, yếu vận động hoặc nói khó
a Cơn động kinh cục bộ.
Gồm các loại: cục bộ vận động, cục bộ thùy thái dương, cục bộ thùy trán, thùy chẩm Hay gặp nhất là cục bộ thùy thái dương và thùy chẩm
* Động kinh cục bộ thùy thái dương:
- Cơn vắng ý thức: gặp chủ yếu ở người lớn, biểu hiện như: người bệnh đang nói chuyện hay làm việc bỗng sắc mặt nhợt nhạt, vẻ mặt ngơ ngác, miệng nhai tóp tép hoặc chép miệng, gãi đầu, sờ tay lên mặt, xoa tay không theo ý muốn Trong cơn người bệnh không biết gì Cơn kéo dài khoảng 50-60 giây
- Cơn tâm thần giác quan: người bệnh có vui mừng hoặc sợ hãi vô cớ, bỗng chốc người bệnh cảm thấy con người và đồ vật xung quanh vô cùng xa lạ như chưa bao giờ trông thấy Ngược lại có những người bệnh cảm thấy cảnh vật trở nên xa lạ, có những người chưa bao giờ gặp hoặc lại cảm thấy như mình đã thấy rồi hoặc đã gặp rồi Có thể gặp ảo thính, ảo khứu, ảo vị
- Cơn tâm thần vận động: biểu hiện bằng những hành động không ý thức trong khi người bệnh thức tỉnh hoặc ngủ Những vận động có thể đơn giản như trên: chép miệng, nhai tóp tép, gãi đầu C ó thể có hành động phức tạp hơn như người bệnh gấp chăn màn, quần áo, đi giầy dép, sắp sếp đồ dung, dụng cụ
Trang 11Trong khi làm như vậy người bệnh như tách rời với môi trường xung quanh, mọi hành động đều vô thức, hết cơn người bệnh không nhớ gì về hành động của mình cả.
Có khi người bệnh có những hành động không có ý thức như đột ngột vùng chạy thẳng về phía trước bất kể phía trước có trở ngại hoặc nguy hiểm gì Người bệnh có thể có những hành động tàn nhẫn tấn công bất cứ người nào khi lên cơn đâm, chém, bắn, đánh đập Ngược lại có những người bệnh chạy chốn những ảo giác đe dọa người bệnh Cơn kéo dài vài phút, có khi lâu hơn, sau cơn người bệnh hoàn toàn không biết mình đã có những hành động gì
* Động kinh cục bộ vận động
Biểu hiện bằng cơn co giật nửa người không mất ý thức, khởi phát có thề
là co giật ở bàn tay, bàn chân hoặc ở cả mặt sau đó lan ra nửa naười: giật quay nhãn cầu, đầu và thân sang một bên Cơn kéo dài 2-3 phút cũng có khi chuyển thành cơn co giật toàn thân và mất ý thức (toàn bộ cơn lớn)
b Cơn toàn thể
Thuật ngữ toàn bộ có ý nghĩa là trong loại động king này toàn bộ não và toàn bộ cơ thể bị xâm phạm Trong động kinh toàn bộ có: Động kinh cơn lớn ( cơn co giật), động kinh cơn nhỏ (cơn vắng ý thức), động kinh co thắt trẻ em, động kinh giật cơ và động kinh mất trương lực
- Động kinh cơn lớn: trước khi xảy ra cơn có thể có triệu chứng báo trước như đau đầu, đầy hơi, rầu rĩ, lạnh lùng ít giờ hoặc ít ngày Triệu chứng báo trước thường là bất thường cảm giác, vận động, co cứng cơ chi trên, các ảo giác, rối loạn tâm thần nhưng chỉ kéo dài 1/10 giây Cơn thực sự có 3 giai đoạn:
Giai đoạn co cứng: đột ngột ngã xuống bất tỉnh nên có thể gây thương tích, các chi duỗi cứng, các ngón tay gấp, đầu ưỡn ngửa quay sang một bên, hàm nghiến chặt và có thể cắn vào lưỡi, hai mắt trợn ngược, tím vì không thở được, tiểu dầm hoặc đại tiện không tự chủ Giai đoạn này kéo dài 10 -20 giây
Trang 12Giai đoạn giật: cơ thân và chi giật liên tiếp, ngắn, mạnh, có nhịp; hai mắt giật ngang hoặc giật lên Có thể cắn phải lưỡi, sùi bọt mép Giai đoạn này dài 1 -
2 phút, ít khi quá 6 phút
Giai đoạn duỗi: hôn mê, các cơ doãi ra, phản xạ gân xương giảm, có thể có Babinski, thở bù lại mạnh, nhanh, ồn ào, thờ ngáy sau vài phút tỉnh lại, không nhớ những gì đã xảy ra Giai đoạn này kéo dài 5 - 10 phút
Loại cơn này xuất hiện đầu tiên vào lứa tuổi 10 - 20 (80 % các trường
họp), nếu ít cơn thì đáp ứng tốt với điều trị
Động kinh cơn bé (cơn vắng ý thức): gồm nhiều loại nhung chung một số đặc điểm là thường gặp ở trẻ em, các cơn ngắn từ 1/10 - 10 giây, nhiều cơn trone ngày Thường đột ngột mất ý thức hoàn toàn nên bất động, rơi chén đũa khi ăn, ngừng công việc, Có thể không hoặc mất trương lực, giật cứng c ơ đó là cơn vắng phức tạp Tuổi thường gặp 3 - 1 2 tuổi, tiến triển có 3 khả năng:
- Hết cơn
- Tiếp tục duy trì cơn (6 %).
- Xuất hiện cơn co cứng giật cơ (40 %): thường 6 năm sau cơn vắng ý thức Nếu cơn vắng ý thức đầu tiên sau 7 tuổi thường đáp ứng kém với điều trị,
dễ bị kích thích bởi ánh sáng, cũng thường cách ly với xã hội nên tiên lượng xấu
- Hội chứng West: gặp ở trẻ 4 - 7 tháng tuổi Có ba dấu hiệu chính sau:+ Co cứng, gấp cổ, chi, thân mình
+ Rối loạn tính tình và tác phong
+ Điện não đồ có loạn nhịp biên độ cao của các nhọn
+ Loại này tiên lượng xấu vì gây đần độn
- Hội chứng Lennox - Gastaut: gặp ở trẻ từ 2 - 6 tuổi với tam chứng vắng
ý thức không điển hình, cơn cứng, mất trương lực Suy sụp tâm thần vận động
Trang 13Điện não đồ có nhọn - sóng chậm lan tỏa Tiên lượng xấu [5].
4 Cận lâm sàng
a Điện não đồ
Giúp xác định động kinh, loại ccm, vị trí động kinh Tuy nhiên điện não đồ
bình thường không loại được động kinh, ngược lại 10 - 15 người bình thường
có bất thường điện não không bao giờ lên cơn [4],
b Các xét nghiệm khác
Tìm nguyên nhân như chụp phim sọ, chụp động mạch não, glucoza máu,
điện giải đồ, dịch não tủy, chụp cắt lóp vi tính, cộng hưởng từ não,
5 Phân loại động kinh
Năm 1981 Liên đoàn chống động kinh quốc tế (ILAE) đã đưa ra bảng
phân loại động kinh và cách phân loại này được sử dụng rộng rãi cho đến nay[6]
Trang 144 Với các triệu chứng tâm thần
B Các con cục bộ phức tạp (có rối loạn ý thức)
1 Khởi phát cục bộ đơn giản, tiếp theo sau là rối loạn ý thức
2 Có rối loạn ý thức ngay lúc khởi phát
c Con cục bộ đon giản hay con cục bộ phức tạp diễn tiến thành con toàn thể hóa thứ phát
II Con toàn thể nguyên phát
Trang 15bắt đầu bằng nhũng cơn thoáng như: ngửi thấy mùi cao su cháy, thấy đồ vật lớn
lên hay nhỏ đi, có cảm giác đã từng thấy hoặc chưa bao giờ thấy, các ảo giác
Trong cơn, người bệnh có thê có những rôi loạn vận dộng như ngáp, nhai,
nuôt, chép môi, đứng lên, ngôi xuông, mặc áo vào, cởi áo ra, di lang thang, vùng
chạy hỗn loạn, đi trốn, đi tìm hoặc thực hiện những hoạt động có kĩ năng cao như
lái xe, chơi những bản nhạc phức tap Những hành vi này có tính chất tự động,
không mục đích và người bệnh sau đó không nhớ những gì xảy ra
Nấu tổn thương có liên quan đến bán cầu chủ đạo thì người bệnh có thêm những rối loạn về ngôn ngữ như đang nói bỗng nhiên dừng lại, nói nãng không
liên quan Hầu hết những cơn này đều bắt nguồn ở thùy thái dương đặc biệt là hồi
hải mã hoặc hạnh nhân, hệ thống viền hoặc những vùng khác của não
b Các rối loạn tâm thần trong bệnh động kinh.
Các rối loạn tâm thần rất hay gặp ở bệnh nhân động kinh Theo nhiều tác giả, khoảng 30-40% bệnh nhân động kinh có những khó khăn về tâm thần Các
rối loạn tâm thần cấp tính và mãn tính trong động kinh chiếm một vị trí quan
trọng trong lâm sàn của bệnh động kinh Các rối loạn tâm thần cấp tính có thể
xảy ra có tính chất kế tiếp, các rối loạn tâm thần mãn tính xuất hiện ở các giai
đoạn xa của bệnh nhân Theo tài liệu của Smedt R.các rối loạn tâm thần xuât
hiện ở 2-5 % các bệnh nhân động kinh Sự kéo dài của bệnh nhân động kinh là
yếu tố quyết định cho sự phát sinh các rối loạn tâm thần Một số trường hợp rối
loạn tâm thần do động kinh có liên quan đến ổ động kinh vùng thái dương bên
phải, chuẩn đoán các rối loạn thần kinh do rối loạn thần kinh thường gặp khó
Trang 16khăn vì chưa có tiêu chuẩn chuẩn đoán, phân biệt có sức thuyết phục đẻ phân biệt chúng với các rối loạn tâm thần tương tự trong các bệnh khác.
• Các trạng thái rối loạn tâm thần cấp của động kinh
Cơn thoáng báo tâm thần:
Thường là những ơn cảm xúc lo âu, cảm giác lạ lùng, ccm khoái cảm, cơn hồi ức dồn dập, cơn sống lại trong dĩ vãng, hoặc cơn tư duy cưỡng bức, tư duy ngừng lại Sau cơn thường bệnh nhân còn giữ lại một số hình ảnh rất sinh động với sắc thái trải nghiện và cảm xúc đặc biệt, cảm giác đã thấy rồi hoặc cảm giác chưa bao giờ thấy
Cơn tương đương:
Cơn tương đương còn gọi là cơn tự động hay cơn tâm thần vận động tức là cơn tương đương với cơn toàn bộ hóa thứ phát sau cơn thoáng qua báo tâm thần (aura), trong cơn hoạt động ý thức giảm nhẹ, bệnh nhân còn nhớ và còn nhận thức được hành vi của mình
Cơn tương đương thường được biểu hiện bằng hành vi tự động, vd bệnh nhân đang lau nhà mà lên cơn thì cứ lau mà không ngưng được, có khi cơn tương đương mang tính chất xung đột ám ảnh, bệnh nhân chống lại và kết thúc bằng một cơn giận giữ như cơn ăn cắp, cơn khiêu dâm, cơn giết người
Có khi cơn tương đương có ý thức rối loạn nặng hơn, hành vi tự động sẽ mang tính chất mù mờ ý thức, tác phong mơ hồ, bệnh nhân không thấu hiểu được hành vi của mình và ngạc nhiên khi nghe người khác kể lại Hành vi tự động có thể là cơn đi lang thang, cơn bỏ chay Trong cơn có những hành vi phạm pháp, có khi là những hành vi lố bịch, hài ước Cơn bỏ chạy thường là những cơn chạy thẳng do ý thức bị thu hẹp
Các cơn tương đương có thể xuất hiện riêng biệt, có thể trước hoặc sau cơn toàn bộ
về phương diện thần kinh một số tác giả cho rằng những cơn không giốngnhư cơn lớn hoặc cơn bé là những cơn tương đương như cơn ngáp hoặc cơn nấc
Trang 17Trạng thái lú lẫn.
Lú lẫn động kinh thường đi kèm với trạng thái lo âu, thường có khuynh hướng kích động giận giữ, lú lẫn có nhiều mức độ và sắc thái khác nhau, thường kết hợp với các trạng thái lo âu, mê sảng, mộng du, hay bùng nổ, nhưng có đặc điểm là các trạng thái này đều có đặc điểm quên sau con
Trạng thái lú lẫn thường xuất hiện sau một loạt cơn kịch phát, nhưng cũng
có trường hợp trong quá trình lú lẫn lại nổi lên cơn kịch phát, cơn lú lẫn thường kéo dài vài giờ đến vài ngày, có khuynh hướng tái phát cơn sau giống cơn trước
Các trạng thái hoàng hôn.
Hoàng hôn là trạng thái loạn thần kinh cơ bản của động kinh và hay gặp trong pháp y tâm thần, có đặc điểm khởi đầu đột ngột, cơn ngắn và quên sau con
Đột nhiên ý thức mù mờ bệnh nhân trờ nên ngơ ngác phân vân, trả lời chậm, bàng quang với các vấn đề thực tế xung quanh, tư duy hướng về các vấn
đề trừu tượng như tôn giáo, chính trị vũ trụ .V V
Có khi ý thức rối loạn nhẹ bệnh nhân như sống trong cảnh mộng, còn nhớ
và còn định hướng đúng và còn thích nghi với môi trường, nhưng trạng thái này rất bấp bênh trong vài ngày, giai đoạn hoàng hôn, tỉnh táo, xen kẽ nhau Chính trong trạng thái này thường xuất hiện những cơn bỏ chạy, với khuynh hướng giết người, hành hung hoặc tự sát Trong cơn xuất hiện những hiện tượng la lùng, ảo mộng, ảo tưởng, ảo giác, ý tưởng thần bí ở bệnh nhân có hai hiện tượng, có những hành vi phá hoại độc ác nhưng có những hành vi cao đẹp, xây dựng tôn giáo, trật tự , xã hội
Các cơn loạn khỉ sắc.
Trong cơn bệnh nhân cảm thấy những cảm xúc lẫn lộn vừa buồn rầu, vùa giận giữ, vùa bất mãn, vừa hằn học Đặc biệt trong cơn mê dễ bị kích thích đồng thời có những ý tưởng nghi bệnh Thường xuất hiện các cảm giác sợ hãi, có trường hợp xuất hiện khoái cảm nhưng rất hiếm Một số bệnh nhân trong cơn loạn khí sắc uống nhiều rượu, đi lang thang, rất nguy hiểm
Trang 18Cơn trầm cảm và hưng cảm.
Trong quá trình tiến triển của động kinh thường thường xuất hiện con trầm cảm và hưng cảm, thường là những cơn không điển hình, trong cơn thường có rối loạn ý thức giống trạng thái hoàng hôn, trước hoặc sau cơn thường có biến đổi khí sắc
• Các rối loạn tâm thần mãn tính của động kinh
độ lượng khi thì hung giữ xấu xa Khi thì lễ phép quá đỗi khi thì thô lỗ, láo xược, khi thì vui vẻ niềm nở, khi thì cau có yên lặng
Bệnh nhân động kinh thường có phức cảm về bệnh, tự ti, bi quan về sự bất lực, đau khổ và sút kém, đa nghi về sự khinh miệt của người khác cho nên bệnh nhân dễ phản ứng với xung quanh Phản ứng có thể bùng nổ cho nên một lời nói
sơ ý có thể làm bệnh nhân xanh xám mặt mày, vứt bỏ công việc đang làm, thậm chí bị kích động và chửi bới, vì vậy bệnh nhân động kinh dễ mất lòng những người xung quanh Có khi gặp khó khăn trong vấn đề đời sống, thời tiết thay đổi cũng có thể làm cho bệnh nhân bực tức, gây gổ với người than
TRƯỜNG #AI HỌC ĐIỄÙ DƯỠNG
NẦM ĐỊNH _
THƯ VIỂN
S 6 : C L 5 á
Trang 19thường bảo vệ những tập quán cũ thích nghi lễ ton giáo, có khuynh hướng tìm cái chính xác chi ly, thích ngăn nắp chật tự cái gì cũng đi vào chi tiết, không thích ngắn gọn, bệnh nhân bám sát thầy thuốc, theo dõi, chữa bệnh, và kiên trì uống đủ thuốc.
Nếu loại trừ những nhóm động kinh trẻ em sớm, và não tổn thương rõ rệt nhũng bệnh nhân điều trị nội trú mà có trí tuệ bình thường trước khi bị độna kinh thì mất trí động kinh chỉ chiếm 5- 10% bệnh nhân động kinh
Không có một trạng thái đơn điệu do động kinh mà chỉ có hình thái trí tuệ giảm sút với các mức độ khác nhau tùy theo quá trình, tính chất và vị trí của các tổn thương thực thể ở não
Cái gọi là mất trí kiểu động kinh thực ra chỉ là những nét biến đổi nhân cách cùng thời gian trở nên trầm trọng hơn mà thôi Vd; tuy duy chậm chạm làm cho bệnh nhân không phân biệt được cái chính cái phụ, bị vướng vào những chi tiết vụn vặt vô nghĩa Ngôn ngữ trở nên nghèo nàn bệnh nhân quên ngày tháng có vẻ như mất trí
7 Các phương pháp điều trị động kinh
a Hóa liệu pháp
Cơ bản là thuốc chống động kinh Bắt đầu phát triển từ năm 1938 khi Merritt và Putnam phát hiện ra phenytoin [14] Thời gian sau đó nhiều thế hệ thuốc chống động kinh mới ra đời với nhiều ưu điểm so với các thuốc thế hệ trước, ví dụ: valproic acid, carbamazepine,lamotrigine,topiramate,oxcarbazepine,
Trang 20vigabatrine, felbamate, Depakine, Thuốc điều trị động kinh cần được uống đủ liều - hàng ngày, liều lượng chia làm 2-3 lần; liều lượng tính theo cân nặng cơ thể, tuổi và nhất là căn cứ vào thể lâm sàng Khi xảy ra cơn động kinh liên tục cần phải sử dụng thuốc chống động kinh theo đường tĩnh mạch Thầy thuốc điều trị là người quyết định điều chỉnh tăng hoặc giảm liều lượng thuốc, người bệnhđộng kinh thường được theo dõi chặt chẽ về tác dụng của thuốc đặc biệt chú
ý tới các chức năng máu, gan, thận, và luôn cảnh giác với các tai biến có thể xảy
ra như ngộ độc, dị ứng, viêm gan, viêm thận, Dùng thuốc là để kiểm soát cơn động kinh giúp cho người bệnhvẫn đảm bảo được đời sổng bình thường hàng ngày trong gia đình và xã hội Như vậy trong khi điều trị người bệnhvẫn có thể tham gia lao động sinh hoạt bình thường, trẻ em vẫn có thể vui chơi học tập như những trẻ em khác
Trong điều trị động kinh hóa liệu pháp nhằm mục đích chính sau: kiểm soát hoàn toàn cơn co giật, giảm mức độ nghiêm trọng của cơn động kinh, tránh tác dụng phụ, giảm tỉ lệ từ vong, tránh tương tác thuốc, nâng cao CLS bệnh nhân động kinh [10]
b Phẫu thuât
Các bằng chứng khảo cổ học cho thấy một số nền văn minh cổ đã thực hiện khoan xương sọ để cắt bỏ mô bệnh (epileptogenic(bad) tissue) trong não Phẫu thuật chữa động kinh thực sự phát triển cuối thế kỷ 19 nhờ công trình nghiên cứu của Victor Horsley, Bệnh viện Quốc gia, Luân Đôn Ông đã tiến hành nghiên cứu trên 100 con khỉ, dùng kích thích điện để xác định và vẽ bản đồ các vùng chức năng và các đường dẫn truyền thần kinh trong não Trên cơ sở các nghiên cứu này, đến cuối năm 1886 ông đã tiến hành 10 ca phẫu thuật chữa bệnh động kinh, trong đó 9 ca được đánh giá là rất thành công[14] Tiếp theo Victor Horsley nhiều tác giả khác đã thực hiện và tiếp tục nghiên cứu phẫu thuật chữa động kinh cho đến nay
Trang 21Ngày nay phẫu thuật được chỉ định chủ yếu cho các thể động kinh sau: động kinh cục bộ không có tổn thương lan rộng, động kinh cục bộ toàn bộ hóa, động kinh do dị dạng mạch ở nông, động kinh do u não [13].
c Điều trị các rối loạn tâm thần kết hợp
Trầm cảm, lo âu, loạn thần, kích động Nguyên tắc là sử dụng các loại thuốc ít có khả năng kích hoạt cơn động kinh Để điều trị Trầm cảm có thể dùng sertraline, venlafaxine Điều trị lo âu có thể dùng các benzodiazepine, buspirone Điều trị loạn thần có thể dùng olanzapine, haloperidol Riêng với trầm cảm và lo
âu có thể kết hợp điều trị bằng liệu pháp tâm lý [5],
d Phục hồi chức năng tâm lý xã hội dựa vào cộng đồng.
Hướng dẫn người bệnh tham gia các lao động đơn giản, vệ sinh cá nhân, các chức năng sinh hoạt, giao tiếp xã hội, lao động nghề nghiệp giúp phục hồi chức năng đã mất, dần đưa bệnh nhân trở lại cuộc sống và hoà nhập với cộng đồng
e Chế độ làm việc, nghỉ ngoi
Tránh làm việc trên cao, dưới nước, gần lửa, lái xe, tránh làm việc lâu ngoài nắng, không làm việc có ánh sáng chói lòe như hàn Tuy nhiên cần khuyến khích người bệnh lao động, làm việc nhẹ nhàng, tránh căng thẳng và sang chấn, giúp người bệnh sớm hòa nhập cộng đồng Tránh cho người bệnh làm việc quá sức, trong môi trường độc hại, cần có chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý
8 Tình hình quản lý và điều trị bệnh động kinh ở Việt Nam
Việt Nam chưa có một nghiên cứu trên quy mô toàn quốc về tỉ lệ và sốbệnh nhân động kinh, do vậy dựa vào tỉ lệ chung của các nghiên cứu đã có thì với dân số 80 triệu người nước ta có khoảng 800.000 bệnh nhân động kinh
Để thuận tiện cho công tác quản lý và chăm sóc bệnh nhân động kinh, ngành Tâm thần Trung ương đã lồng ghép bệnh động kinh vào Chương trình mục tiêu quốc gia chăm sóc sức khỏe ban đầu Theo đó có một hệ thống để phát hiện,
Trang 22điều trị, theo dõi và quản lý bệnh nhân động kinh Hệ thống này được nhà nước cấp kinh phí hoạt động do vậy các bệnh nhân động kinh được hưởng nhiều ưu đãi trong quá trình điều trị chăm sóc Mô hình này theo từng cấp như sau:
Bảng 1 :Quản lý điều trị động kinh ở việt Nam
Tỉnh/ thành phố trực thuộc trung ương Bệnh viện tâm thần tỉnh/ thành phố
hoặc Trung tâm phòng chống bệnh xã
tâm y tế quận/ huyện
Cộng tác viên
Tại Nam Định, Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định quản lý và điều trị ngoại trú cho khoảng 446 bệnh nhân động kinh (tính đến thời điểm 12/2014) Nhũng bệnh nhân này được chẩn đoán xác định bệnh bởi các bác sĩ chuyên khoa tâm thần/ thần kinh, sau đó được lập hồ sơ bệnh án và chuyển về quản lý, điều trị ngoại trú tại các trạm y tế xã/ phường Những bệnh nhân này được nhận thuốc điều trị ngoại trú tại trạm y tế và được khám, kiểm tra định kỳ bởi các bác sĩ chuyên khoa tâm thần của bệnh viện
9 Chăm sóc người bệnh động kinh,
a Chăm sóc người bệnh trong cơn
Ngay lập tức đưa người bệnh vào nơi an toàn, nới rộng quần áo, giữ tay chân (không đè quá chặt), bảo vệ đầu khi ngã, trong cơn giật mạnh không nên di