Rủi ro tín dụng là loại rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra, rủi ro tín dụng không phải là nỗi ám ảnh của một Ngân hàng mà là nỗi ám ảnh của toàn bộ hệ thống Ngân hàng, nó mang lại ng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LYÙ
NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đặng Đình Vinh Người hướng dẫn khoa học : PGS-TS Trần Văn Bình
Hà Nội - 2006
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1 7
TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHTM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 7
1.1/ Tổng quan về tín dụng và sự cần thiết của tín dụng trong nền kinh tế thị trường: 7
1.1.1/ Bản chất chức năng vai trò của tín dụng Ngân hàng 7
1.1.1.1/ Sự hình thành và phát triển của tín dụng- Khái niện về tín dụng Ngân hàng: 7 1.1.1.2// Bản chất và chức năng của tín dụng Ngân hàng : 8
1.1.1.3/ Các hình thức tín dụng Ngân hàng : 11
1.1.2/ Phân lọai tín dụng Ngân hàng : 13
1.1.2.1/ Căn cứ vào thời hạn cho vay: 13
1.1.2.2/ Căn cứ vào đối tượng cho vay: 13
1.1.2.3/ Căn cứ vào mục đích: 14
1.1.2.4/ Căn cứ vào mức độ tín nhiệm với khách hàng: 14
1.1.2.5/Căn cứ vào hình thái giá trị: 14
1.1.2.6 Căn cứ vào phương pháp hoàn trả: 15
1.1.2.7/ Căn cứ vào mối quan hệ giữa các chủ thể: 15
1.2/ Rủi ro trong họat động kinh doanh Ngân hàng : 16
1.2.1/ Khái niệm rủi ro trong kinh doanh ngân hàng : 16
1.2.2/ Các loại Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng: 16
1.2.3/ Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong kinh doanh ngân hàng: 19
1.2.3.1/ Rủi ro tín dụng: 20
1.3/ Quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng: 24
1.3.1/ Sự cần thiết của hoạt động quản lý rủi ro trong ngân hàng: 24
1.3.2/ Hoạt động quản lý rủi ro ngân hàng 25
1.3.3/ Nâng cao trình độ quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam để chuẩn bị hội nhập 26
1.3.4/ Hiệp ước Basel II – Áp dụng và triển khai tại Việt Nam 27
THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC CHI NHÁNH 29
NHNo & PTNT TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH 29
2.1/ tổng quan về NHNo & PTNT Việt Nam và các chi nhánh NHNo& PTNT trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh : 29
2 1.1/ Vài nét về NHNo & PTNT Việt Nam: 29
2.1.2 Sự ra đời và phát triển của các Chi nhánh NHNo&PTNT trên địa bàn TP HCM: 30
2.1.3/ Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của các Chi nhánh NHNo&PPNT: 30
2.2/ Thực trạng, đặc thù rủi ro của các Ngân hàng thương mại Việt Nam: 37
2.2.1/ Đánh giá mức độ cạnh tranh của Ngân hàng Thương Mại Việt Nam trong quá trình hội nhập 37
2.2.1.1/ Sức mạnh tài chính: 38
2.2.1.2/ Cơ cấu tổ chức vận hành 39
2.2.1.3/ Trình độ kinh doanh 40
Trang 32.2.1.4/ Khả năng quản lý và điều hành 40
2.2.1.5/ Mức độ minh bạch tình hình kinh doanh và tài chính 41
2.2.1.6/ Trình độ công nghệ thông tin 41
2.2.1.7/ Quản lý rủi ro yếu kém 42
2.2.2/ Hạn chế và các thách thức thường gặp của thị trường Việt Nam ảnh hưởng đến sự an toàn trong hoạt động của các ngân hàng thương mại 44
2.2.2.1/ Hoạt động định hướng của Nhà nước còn yếu: 44
2.2.2.2/ Thông tin số liệu thống kê ngành nghề không tin cậy: 45
2.2.2.3/ Lịch sử của số liệu ngắn ngủi 45
2.2.2.4/ Trình độ quản lý doanh nghiệp kém 46
2.2.2.5/ Sức cạnh tranh và khả năng thích ứng với sự thay đổi của các doanh nghiệp kém 46
2.2.2.6/ Thông tin của các cá nhân và doanh nghiệp chưa được tập trung và chia sẻ một các hiệu quả cho việc đánh giá uy tín tín dụng của khách hàng tín dụng: 47
2.3/Thực trạng hoạt động tín dụng NHNo&PTNT trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh : Error! Bookmark not defined 2.3.1/ Về cơ chế hoạt động tín dụng : 47
2.3.2/Quy trình xét duyệt cho vay: 48
a Thẩm định và giải ngân: 48
b.Kiểm tra sau cho vay,theo dõi thu nợ gốc và thu lãi: 49
2.3.3/ Về huy động vốn: 31
Đơn vị tính: tỷ VNĐ 31
2.3.4/ Về sử dụng vốn: 33
2.3.5./ Thực trạng hoạt động tín dụng , vấn đề rủi ro tín dụng của các Chi nhánh NHNo & PTNT trên địa bàn TPHCM: 47
2.3.5.1/ Phân lọai rủi ro 47
2.3.5.2/ Phân tích cho vay theo thành phần kinh tế (dư nợ cho vay trung dài hạn tỷ trọng 100%) 51
2.3.5.3/ Tình hình thu nợ xấu của các Chi nhánh NHNo&PTNT Trên địa bàn TPHCMt: 52
2.3.5.4/ Những vấn đề dẫn đến rủi ro tín dụng: 53
CHƯƠNG 3 56
MỘT SỐ BỊÊN PHÁP NHẰM PHÒNG NGỪA RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNGTHÔN TRÊN ĐỊA BÀN TP.HỒ CHÍ MINH 56
3.1./ Những đề xuất thuộc tầm quản lý vĩ mô của nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng và phòng ngừa rủi ro tín dụng đang thực hiện tại các NHTM : 57
3.1.1/ Một số vấn đề mang tính quản lý vĩ mô của nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng trung và dài hạn tại NHTM: 57
3.1.2/ Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra kiểm toán: 59
3.1.3/ Chấn chỉnh việc sắp xếp lai doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhằm góp phần làm lành mạnh hoá môi trường tín dụng: 59
3.1.4/ Nâng cao chất lượng hoạt động công chứng: 59
3.1.5/ Đa dạng các hình thức bảo hiểm: 60
Trang 43.1.6/ Tăng cường hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng, viết tắt là CIC (Credit
information Center) 60
3.1.7/ Bổ sung và hoàn thiện một số chính sách cho vay, cơ chế nghiệp vụ của ngân hàng nhà nước nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng: 61
3.1.9/ Xác định nguồn gốc phát sinh rủi ro tín dụng 63
3.2 Giải pháp nhằm phòng ngừa rủi ro tín dụng tại các Chi nhánh NHNo & PTNT trên địa bàn TPHCM : 65
3.2.1/ Xây dựng hệ thống quản lý rủi ro tín dụng 65
Các định hướng và đúc kết về mặt thực tiễn này sẽ giúp ích cho chúng ta rất nhiều trong việc cải tiến hệ thống quản lý tín dụng của một ngân hàng trở nên an toàn và hiệu quả Việc triển khai đồng bộ, có chiều sâu đối với tất cả các thành phần cần thiết của hệ thống quản lý rủi ro tín dụng là một yêu cầu rất quan trọng trong công tác triển khai, rà soát và điều chỉnh sau này 66
3.2.1.1/ Chính sách quản lý rủi ro tín dụng 66
3.2.1.2/ Chiến lược quản lý rủi ro tín dụng 68
3.2.1.3/ Giám sát và quản lý rủi ro 70
3.2.2./ Tiến hành phân tích và phân loại khách hàng: 73
3.2.2.1/ Phân tích khách hàng: 73
3.2.2.2/ Phân loại khách hàng: 75
Từ kết quả phân loại khách hàng sẽ giúp cho tiến trình phân tích ngày càng sâu sắc hơn, đồng thời đây là cơ sở có thể đa dạng hoá các hình thức tín dụng tạo điều kiện để cải tiến các thủ tục cho vay, quản lý khách hàng một cách có hiệu quả hơn 75
3.2.3/ Ngân hàng cần phải định kì hạn nợ chính xác: 76
3.2.4/ Thiết lập các đảm bảo tín dụng chặt chẽ hơn: 76
3.2.5/ Đổi mới cơ cấu tổ chức tín dụng: 78
3.2.6./ Không ngừng nâng cao chất lượng cán bộ Ngân hàng nói chung và đội ngũ cán bộ tín dụng nói riêng: 81
3.2.6.1/ Lượng giá tín dụng: 81
3.2.6.2/ Aùp dụng các biện pháp đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng 83
3.2.7./Xử lý nợ quá hạn-các khoản vay có vấn đề: 84
PHẦN KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NHNN : Ngân hàng nhà nước
CBCNV : Cán bộ công nhân viên
NHTW : Ngân hàng trung ương
NHTM : Ngân hàng thương mại
TCTD : Tổ chức tín dụng
CBTD : Cán bộ tín dụng
NHNo & PTNT : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện kinh tế hiện nay kinh doanh ở bất cứ lĩnh vực nào cũng không loại trừ yếu tố rủi ro Nền kinh tế thị trường với đủ loại hình và các hình thức kinh doanh khác nhau cộng với yếu tố cạnh tranh khắc nghiệt thì việc một số người giàu lên và một số khác bị thua lỗ, phá sản là chuyện bình thường, trong những cái bình thường lại kéo theo những kết quả khi một doanh nghiệp phá sản sẽ kéo theo sự khó khăn về tài chính của một số người hoặc tổ chức kinh tế có quan hệ mua bán, tín dụng với doanh nghiệp Các ngân hàng thương mại hoạt động trong kinh tế thị trường tất nhiên không thoát khỏi cái chung
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngày càng đa dạng và phong phú trong đó hoạt động của tín dụng được xem là một mũi nhọn của Ngân hàng và trong hoạt động tín dụng thường dẫn đến rủi ro Rủi ro tín dụng là loại rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra, rủi ro tín dụng không phải là nỗi ám ảnh của một Ngân hàng mà là nỗi ám ảnh của toàn bộ hệ thống Ngân hàng, nó mang lại nguy cơ làm xơ cứng mạch tín dụng khiến cho Ngân hàng không thực hiện được chức năng vốn của mình, tác động dây chuyền ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế thị trường.Do tính cấp thiết và vô cùng quan trọng ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của hoạt động Ngân hàng công tác qủan lý rủi ro là vấn đề đang được các nhà qủan lý trong hệ thống Ngân hàng hết sức quan tâm
Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ cịn gia tăng mạnh khi Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới với những chính sách thống hơn để đĩn các quyết định đầu tư tại Việt Nam của các tổ chức tài chính nước ngồi vốn cĩ tiềm lực tài chính, thương hiệu mạnh và kinh nghiệm quản lý và kinh doanh hơn hẳn các ngân hàng trong nước Chính yếu tố cạnh tranh sẽ vơ tình đẩy các ngân hàng thương mại vào việc hạ bớt chuẩn về yêu cầu
an tồn đối với khách hàng của mình nhằm duy trì thị phần, do vậy làm tăng mức
độ rủi ro cho ngân hàng Chính vì vậy, hệ thống quản lý rủi ro của các ngân hàng thương cũng cĩ những điều chỉnh tích cực nhằm ngăn chặn và khai khác tiềm năng lợi nhuận khai thác từ cơ hội hội nhập quốc tế
Ở Việt Nam trong những năm qua rủi ro tín dụng liên tiếp xẩy ra trong nhiều Ngân hàng và đỉnh cao là sự đổ vỡ hàng loạt các tổ chức tín dụng trong giai đoạn vừa qua Một thực tế Ngân hàng Việt Nam, với sự non yếu về nghiệp vụ đồng thời hoạt động trong môi trường kinh doanh tiền tệ cò tiềm ẩn rủi ro cao Vì thế phòng ngừa rủi ro là một nhiệm vụ đặt ra thường xuyên lâu dài đối với tất cả các Ngân hàng Đặt biệt trong tình trạng hiện nay thì vấn đề đó trở
Trang 7nên bức thiết Hơn thế nữa, ở góc độ vấn đề rủi ro trong tín dụng Ngân hàng và các biện pháp hạn chế rủi ro vẫn chưa được hoàn thiện
Với tính chất quan trọng của công tác qủan lý rủi ro mục tiêu của đề tài nhằm đưa ra các giải pháp hửu hiệu nhằm hạn chế rủi ro trong tầm kiểm soát mà trong hoạt động kinh doanh tiền tệ đang được các nhà qủan lý quan tâm
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn là một Ngân hàng nằm trong hệ thống Ngân hàng thương mại nhà nước thì thực trạng trên vẫn không thể loại trừ Trong phạm vi nghiên cứu hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh
Trên cơ sở nghiên cứu nhằm đưa ra một số đề xuất để phát triển thành những giải pháp thiết thực nhằm khắc phục và hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng trên địa bàn TP.HCM
Xuất phát từ những ý nghĩ trên, nhận thức được mức độ nghiêm trọng của vấn đề rủi ro tín dụng trong kinh doanh Ngân hàng Theo tôi ngoài việc nắm vững kiến thức cơ bản về Ngân hàng, kinh tế, pháp luật, tài chính – kế toán quản trị và qu công tác thực tiễn từ đó bản thân tôi còn phải tự tìm hiểu, đào sâu nghiên cứu thêm vấn đề rủi ro tín dụng trong kinh doanh Ngân hàng – một vấn đề không kém phần quan trọng trong sự tồn tại – phát triển hay lụn bại – phá sản của một Ngân hàng
Với những suy nghĩ trên tôi đã chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng của hệ thống Quản lý rủi ro tín dụng tại các Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triễn nông thôn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh ” để làm luận
văn tốt nghiệp Mặt khác, thời gian tìm hiểu về nghiệp vụ có hạn, nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy rất mong được sự góp ý của thầy hướng dẫn, các thầy cô trong khoa Kinh tề và qủan lý Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và thầy giáo hướng dẫn gúp đỡ bài viết của em có giá trị thực tiễn hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH NHTM
1.1/ Tổng quan về tín dụng và sự cần thiết của tín dụng trong nền kinh tế thị trường:
1.1.1/ Bản chất chức năng vai trò của tín dụng Ngân hàng
1.1.1.1/ Sự hình thành và phát triển của tín dụng- Khái niện về tín dụng Ngân hàng:
Trong thời kì tan rã của chế độ cộng sản nguyên thuỷ cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự phân công lao động xã hội đã được mở rộng thì quan hệ H-T ( Hàng hoá – Tiền tệ ) cũng được hình thành và bước đầu phát triển tiền tệ ngày càng thể hiện đầy đủ hơn các chức năng của mình
Đây chính là những tiền đề làm nẩy sinh ra quan hệ Tín dụng, ban đầu người ta cho vay bằng hiện vật, sau này quan hệ chủ yếu dưới dạng tiền tệ Cũng trong thời kì này có sự khác nhau ngày càng lớn về mức thu nhập dẫn đến phân hoá giai cấp trong xã hội bấy giờ thành kẻ giàu và người nghèo.Với thực trạng đó để có tiền đóng thuế, nộp tô, để bù đắp những thiếu hụt trong sinh hoạt hằng ngày, những người nghèo phải đi vay mượn tiền của những người giàu và thế chấp bằng tư liệu sản xuất Quan hệ tín dụng ra đời trong giai đoạn này là tín dụng nặng lãi và đã phát triển từ chế độ chiếm hữu nô lệ đến chế độ phong kiến Trong thời kỳ này lãi suất cho vay rất cao, nên người
đi vay chỉ sử dụng tiền vay, lãi suất Tín dụng không phải là nhân tố kích thích sản xuất
Cho đến khi chủ nghĩa tư bản ra đời, quá trình tái sản xuất giản đơn với qui mô nhỏ đã được thay thế dần bằng quá trình tái sản xuất mở rộng với qui mô lớn mạnh cả về chiều sâu lẫn chiều rộng Với thực trạng đó các nhà tư bản cần bổ sung thêm vốn nhưng không thể sử dụng tiền vay nặng lãi để đáp ứng Họ phải nhờ đến nhà nước can thiệp để hạ lãi suất cho vay nặng lãi xuống thấp nhưng không thành công Do đó khi giai cấp tư sản đã phát triển đủ sức họ góp vốn lại và cho nhau vay với lãi suất vừa phải, họ đã thiết lập quan hệ tín dụng cho riêng mình và tước đoạt vai trò độc quyền tín dụng của những tên cho vay nặng lãi và cũng là thời điểm mở đầu cho chặng đường phát triển mới ngày càng lớn mạnh của hệ thống tín dụng phục vụ đắc lực cho quá trình tiến bộ xã hội
Trong nền kinh tế ngày nay, cùng với yêu cầu khách quan của lĩnh vực sản xuất - lưu thông - tiêu dùng …, hệ thống tín dụng cũng mở rộng về phạm vi
Trang 9hoạt động và đa dạng về hình thức cho vay Từ đó tín dụng đã và đang phát triển như một bộ phận không thể thiếu được trong quá trình phát triển kinh tế nói chung
Khái niệm về tín dụng:
Tín dụng là một quan hệ giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thỏa thuận
Tóm lại : Tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc có hoàn trả trong giao dịch trên thể hiện các nội dung như sau :
- Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định, giá trị này có thể dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật
- Người đi vay sử dụng tạm thời trong môt thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thỏa thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay
Trong quan hệ tín dụng, người cho vay tin tưởng vào người đi vay hoàn trả vào một ngày nào đó trong tương lai mà hai bên đã thoả thuận
Giá trị hoàn trả thường lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói khác đi là người đi vay phải trả thêm phần lợi tức cho nhà cho vay
Quan hệ tín dụng có thể diễn tả theo mô hình sau:
1.1.1.2/ Bản chất và chức năng của tín dụng Ngân hàng :
* Bản chất:
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các doanh nghiệp, cá nhân Trong nền kinh tế, Ngân hàng đóng vai trò là tổ chức tài chính trung gian Do đó, trong quan hệ với các doanh nghiệp và cá nhân, Ngân hàng vừa là người đi vay, vừa là người cho vay Với tư cách
Người cho vay (Lender)
Người đi vay (Borrower)
Trang 10là người đi vay Ngân hàng nhận tiền gửi của các doanh nghiệp và cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xã hội Ngược lại với tư cách là người cho vay, Ngân hàng cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, cá nhân Như vậy có thể nói tín dụng là chiếc cầu nối giữa tiết kiệm và tiêu dùng
* Chức năng của tín dụng:
Có 3 chức năng:
- Tập trung và phân phối tiền tệ:
Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai quá trình thống nhất trong sự vận hành hệ thống tín dụng Sự có mặt của tín dụng được xem như là chiếc cầu nối giữa hai nguồn cung-cầu về vốn tiền tệ trong nền kinh tế Thông qua chức năng này, Tín dụng đã trực tiếp tham gia điều tiết các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các cá nhân, các tổ chức kinh tế để bổ sung kịp thời cho các cá nhân, đơn vị tổ chức kinh tế đang gặp thiếu hụt về vốn
- Tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông xã hội:
Hoạt động tín dụng góp phần quan trọng trong việc tiết kiệm chi phí lưu thông thông qua 3 con đường:
+ Tín dụng tạo diều kiện thay thế tiền kim loại bằng các phương tiện chi trả khác như: kỳ phiếu, giấy bạc Ngân hàng, séc… Từ đó giảm bớt chi phí in ấn, phát hành và bảo quản tiền kim loại
+ Tín dụng tạo điều kiện ra đời của loại tiền ghi sổ(bút tệ) Thông qua việc tổ chức công tác thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán bù trừ lẫn nhau trong hầu hết các giao dịch giữa các doanh nghiệp và các cá nhân thông qua hệ thống ngân hàng Điều này tiết kiệm được khối lượng tiền mặt cần phát hành vào lưu thông, mặt khác khi công tác thanh toán không dùng tiền mặt phát triển thì các doanh nghiệp, cá nhân sẽ không dự trữ tiền mặt và nó sẽ làm giảm chi phí bảo quản, cất trữ tiền tệ tại doanh nghiệp
+ Tín dụng tạo điều kiện tăng nhanh tốc độ lưu thông tiền tệ Tín dụng phát huy chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ để góp phần chuyển những khoản vốn nhàn rỗi đang nằm ở trạng thái nằm yên trong xã hội đưa vào chu chuyển phục vụ cho sản xuất lưu thông hàng hoá
- Phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế :
Chức năng này được phát huy tác dụng phụ thuộc vào sự phát triển của hai chức năng trên cụ thể:
+ Thông qua kế hoạch huy động và cho vay của ngân hàng sẽ phản ánh được mức độ phát triển của nền kinh tế về các mặt
Trang 11Khối lượng tiền tệ nhàn rỗi trong xã hội, nhu cầu vốn của nền kinh tế Mặt khác qua nghiệp vụ cho vay, ngân hàng có điều kiện nhìn tổng quát vào cấu trúc tài chính của từng đơn vị vay vốn Từ đó phát hiện kịp thời những trường hợp vi phạm chế độ quản lý kinh tế của nhà nước
+ Thông qua nghiệp vụ trung gian thanh toán hộ, ngân hàng có điều kiện tăng cường vai trò kiểm soát bằng đồng tiền các đơn vị kinh tế Vì mọi quá trình hình thành và sử dụng vốn của doanh nghịêp điều được phản ánh qua số liệu trên những tài khoản tiền gửi tại ngân hàng
* Vai trò của tín dụng :
Trên cơ sở phát huy những chức năng vốn có, tín dụng thể hiện 3 vai trò tích cực đối với các mặt đời sống kinh tế xã hội
- Thứ nhất:Tín dụng thúc đẩy sản xuất phát triển:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, để duy trì hoạt động liên tục đòi hỏi vốn của các doanh nghiệp phải đồng thời tồn tại ở cả
3 giai đoạn dự trữ – sản xuất – lưu thông, nên hiện tượng vốn thừa và thiếu vốn tạm thời luôn xảy ra đối với các doanh nghiệp Từ đó tín dụng góp phần điều tiết các nguồn vốn tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh phát triển không bị gián đoạn
Mặt khác với mục đích tái sản xuất mở rộng cả về chiều sâu lẫn chiều rộng của các doanh nghiệp thì yêu cầu về vốn là một trong những mối quan tâm hàng đầu được đặt ra, bởi vì muốn mở rộng sản xuất không thể trông chờ vào vốn tự có của các doanh nghiệp, mà các doanh nghiệp phải biết tận dụng những dòng chảy khác của vốn trong xã hội, từ đó tín dụng với tư cách là nơi tập trung đại bộ phận vốn nhàn rỗi trong xã hội sẽ là trung tâm đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho đầu tư phát triển Qua đó, cho thấy vốn tín dụng luôn chiếm vị trí đáng kể trong kết cấu vốn lưu động và vốn cố định của doanh nghiệp
Thứ hai:Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả:
Với chức năng tập trung, tận dụng những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, tín dụng đã trực tiếp giảm khối lượng tiền mặt tồn động trong lưu thông Lượng tiền dôi thừa này nếu không được huy động và sử dụng kịp thời có thể gây ảnh hưởng xấu đến tình hình lưu thông tiền tệ, dẫn đến mất cân đối trong quan hệ H-T và hệ thống giá cả bị biến động là điều không thể tránh khỏi Do đó trong tình hình nền kinh tế bị lạm phát tín dụng được xem là biện pháp hữu hiệu góp phần kìm hãm lạm phát Mặt khác hoạt động tín dụng còn tạo điều
Trang 12kiện mở rộng công tác thanh toán không dùng tiền mặt, đây cũng là nhân tố tích cực làm giảm việc sử dụng tiền mặt trong nền kinh tế, nơi màø bộ phận lưu thông tiền mà nhà nước rất khó quản lý và lại dễ bị tác động của quy luật lưu thông tiền tệ Trong công tác quản lý vĩ mô của nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kì nhất định, lãi suất tín dụng trở thành một trong những công cụ điều tiết nhạy bén và linh hoạt để đưa thêm tiền vào lưu thông hay rút bớt tiền từ lưu thông về, qua đó tạo sự phù hợp giữa khối lượng tiền tệ với yêu cầu tăng trưởng nền kinh tế Từ đó cho thấy tín dụng góp phần không nhỏ trong việc ổn định tiền tệ tạo ổn định giá cả là tiền đề để sản xuất lưu thông hàng hoá phát triển
Thứ ba: Tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm, ổn
định trật tự xã hội
Vai trò của tín dụng có thể nói là hệ quả tất yếu của hai vai trò nêu trên của tín dụng Nền kinh tế phát triển trong một môi trường ổn định về tiền tệ là điều kiện nâng cao dần đời sống của các thành viên trong xã hội Tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển quá trình sản xuất kinh doanh và nhu cầu sinh hoạt cá nhân, tạo công ăn việc làm, ổn định đời sống của người dân
1.1.1.3/ Các hình thức tín dụng Ngân hàng :
Căn cứ vào chủ thể trong quan hệ tín dụng có các hình thức sau đây:
*Tín dụng thương mại:
Đây là quan hệ tín dụng giữa các nhà sản xuất kinh doanh được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa Sự có mặt của hình thức tín dụng thương mại bắt nguồn từ tính chất tất yếu khách quan của quá trình tái sản xuất Vì do chu kỳ sản xuất và luân chuyển vốn giữa các nhà doanh nghiệp thường có sự tách biệt nhất định; từ đó dẫn đến hiện tượng trong cùng một thời điểm có sự thoả thuận một quan hệ vay mượn giữa nhà doanh nghiệp đang có sản lượng hàng hoá cần bán và nhà doanh nghiệp lại cần mua lượng hàng hoá ấy, nhưng do chưa tiêu thụ được hàng hoá của mình nên không có đủ tiền mặt để thanh toán ngay Trong từng trường hợp này trên cơ sở quen biết, tín nhiệm nhau, họ có thể thoả thuận quan hệ vay mượn Như vậy, người bán có thể giải phóng nhanh lượng hàng của mình, giảm bớt chi phí bảo quản hàng hoá, ngược lại người mua mặc dù chưa đủ tiền nhưng vẫn có được hàng hoá đưa vào chu kỳ sản xuất mới Công cụ hoạt động tín dụng thương mại là kỳ phiếu thương mại Tín dụng thương mại có 3 đặc điểm:
+ Cho vay dưới dạng hàng hóa, khi vay thì nhận dưới dạng hàng hoá nhưng khi trả thì trả dưới dạng bằng tiền
Trang 13+ Các doanh nghiệp trong quan hệ tín dụng thương mại đều là các doanh nghiệp trực tiếp hoạt động trên lĩnh vực sản xuất kinh doanh
+ Sự vận động và phát triển của tín dụng thương mại phù hợp với quá trình phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá
- Tác dụng của tín dụng thương mại:
+ Tín dụng thương mại tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hoá, phát triển sản xuất
+ Tín dụng thương mại tham gia điều tiết nhu cầu thừa thiếu vốn giữa các nhà sản xuất kinh doanh
+ Tín dụng thương mại góp phần tiết kiệm tiền mặt thông qua quá trình lưu thông của các kỳ phiếu thương mại trong thời gian kỳ phiếu còn hiệu lực
*.Tín dụng ngân hàng:
Đây là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác với các nhà sản xuất kinh doanh, các tầng lớp dân cư… được thực hiện dưới hình thức cung ứng vốn tín dụng bằng tiền
- Đặc điểm của tín dụng Ngân hàng có 3 đặc điểm:
+ Cho vay dưới dạng tiền tệ: nguồn vốn tín dụng mà các Ngân hàng đem cho vay hình thức từ những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong xã hội mà Ngân hàng huy động được
+ Trong quan hệ tín dụng Ngân hàng, người cho vay là các Ngân hàng và người đi vay là các doanh nghiệp, cá nhân
+ Quá trình vận động và phát triển của hình thức tín dụng Ngân hàng không hoàn toàn phù hợp với quy mô phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá
- Tác dụng của tín dụng Ngân hàng: là một đơn vị kinh doanh tiền tệ, hoạt động của Ngân hàng với tư cách vừa là người cho vay, vừa là người đi vay
+ Là người cho vay Ngân hàng sẽ sử dụng nguồn vốn của mình để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, trung và dài hạn cho các doanh nghiệp, cá nhân
+ Là người đi vay ngoài vốn tự có Ngân hàng còn đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để hình thành nguồn vốn tín dụng
Do cấp tín dụng dưới hình thức tiền tệ nên sự vận động của tín dụng Ngân hàng không bị ngăn cản về mặt phương hướng, nghĩa là ngân hàng có thể cho vay đối với bất kỳ một ngành kinh tế
Như vậy, tín dụng Ngân hàng với những ưu điểm vốn có về quy mô vốn tín dụng, thời gian cho vay và sự đa dạng phạm vi hoạt động đã khôi phục dần những hạn chế của tín dụng thương mại Từ đó tín dụng Ngân hàng đã là một
Trang 14trong những nhân tố quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế và trở thành hình thức tín dụng chủ yếu của hệ thống tín dụng
*Tín dụng nhà nước:
Đây là quan hệ tín dụng giữa nhà nước với các tầng lớp dân cư hoặc các tổ chức kinh tế được thực hiện dưới hình thức chính phủ phát hành công trái để huy động vốn của dân cư và các tổ chức kinh tế khác trong xã hội
Tín dụng nhà nước ra đời nhằm mục đích thoả mãn những nhu cầu chi tiêu của ngân sách trong những điều kiện nguồn thu không đủ đáp ứng
* Tín dụng quốc tế:
Là hình thức tín dụng thể hiện mối quan hệ giữa nước ta với các quốc gia hay các tổ chức tiền tệ quốc tế
1.1.2/ Phân lọai tín dụng Ngân hàng :
1.1.2.1/ Căn cứ vào thời hạn cho vay:
Theo căn cứ này cho vay được chia làm 3 loại sau:
+ Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn dưới 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân Đối với các ngân hàng thương mại hình thức tín dụng này chiếm tỷ trọng cao nhất
+ Cho vay trung hạn: theo qui định hiện nay của ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho vay trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm Tín dụng trung hạn được sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có qui mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh, trong nông nghiệp cho vay để mua sắm máy cày, bơm nước, cây công nghiệp…
+ Cho vay dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và đổi mới kĩ thuật, mở rộng qui mô sản xuất lớn
1.1.2.2/ Căn cứ vào đối tượng cho vay:
- Cho vay Doanh nghiệp: Là loại cho vay đối với các cá nhân là doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức khác có đủ điều kiện quy định tại điều 94 Bộ luật dân sự
Trang 15- Cho vay dân cư: Là loại cho vay đối với Cá nhân, Hộ gia đình, Tổ hợp tác chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu đời sống hay những hoạt động cho kinh doanh với quy mô nhỏ lẻ
1.1.2.3/ Căn cứ vào mục đích:
Chia làm các loại sau:
+ Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản nhà ở đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
+ Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
+ Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân bón thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu
+ Cho vay tiêu dùng: Là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng cá nhân
1.1.2.4/ Căn cứ vào mức độ tín nhiệm với khách hàng:
Theo căn cứ cho vay này được chia làm hai loại:
+ Cho vay không đảm bảo là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng Đối với khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì Ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào
uy tín của bản thân khách hàng mà không cần nguồn thu nợ thứ hai bổ sung
+ Cho vay có bảo đảm là loại cho vay được ngân hàng cung cấp phải có tài sản thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba Đối với khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi cho vay vốn đòi hỏi phải có đảm bảo, sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu thứ hai bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn
1.1.2.5/ Căn cứ vào hình thái giá trị:
Theo căn cứ này cho vay được chia làm hai loại:
+ Cho vay bằng tiền là loại cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng được cấp bằng tiền, đây là loại cho vay chủ yếu của ngân hàng và thực hiện bằng các kĩ thuật khác như: tín dụng ứng trước, tín dụng trả góp, tín dụng thời vụ, thấu chi
Trang 16+ Cho vay bằng tài sản là hình thức cho vay rất phổ biến và đa dạng, riêng đối với ngân hàng cho vay bằng tài sản được áp dụng phổ biến đó là tài trợ thuê mua Theo phương thức cho vay này, ngân hàng hoặc các công ty thuê mua ( công ty con của Ngân hàng) cung cấp trực tiếp bằng tài sản cho người đi vay được gọi là người đi thuê và theo định kì người đi thuê phải hoàn trả nợ vay bao gồm cả vốn gốc lẫn lãi
1.1.2.6 Căn cứ vào phương pháp hoàn trả:
Cho vay của Ngân hàng được chia làm hai loại:
+ Cho vay trả góp: Là loại cho vay mà khách hàng phải trả vốn gốc và lãi theo định kì Loại cho vay này chủ yếu áp dụng trong cho vay bất động sản nhà ở, cho vay tiêu dùng
+ Cho vay phi trả góp là loại cho vay được thanh toán một lần theo kì hạn đã thoả thuận
1.1.2.7/ Căn cứ vào mối quan hệ giữa các chủ thể:
+ Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu,
đồng thời người vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho Ngân hàng
+ Cho vay gián tiếp: Là loại cho vay được thực hiện thông qua việc mua
lại các khế ước hoặc chứng từ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán
Mô hình cho vay gián được thể hiện như sau:
Trang 171.2/ Rủi ro trong họat động kinh doanh Ngân hàng :
Rủi ro rất thường xảy ra trong các hoạt động kinh tế, nhất là hoạt động của các ngân hàng thương mại ngày càng đa dạng và phong phú thì việc gặp phải rủi ro là không tránh khỏi Vì chúng ta đã biết kinh doanh tiền tệ tín dụng là một nghề vô cùng mạo hiểm, phải chịu đựng rủi ro lớn hơn bất kì ngành kinh doanh nào khác trong nền kinh tế thị trường và khi ngân hàng gặp rủi ro sẽ có ảnh hưởng dây chuyền, tác động xấu đến toàn ngành kinh tế
Chính vì vậy, để hạn chế những rủi ro có thể xảy ra, Ngân hàng cần phải nắm vững các loại rủi ro có thể xảy ra trong quá trình kinh doanh tiền tệ của mình để có những biện pháp xử lý kịp thời
1.2.1/ Khái niệm rủi ro trong kinh doanh ngân hàng :
* Khái niệm rủi ro:
Có nhiều định nghĩa về rủi ro
-Rủi ro là sự tổng hợp những sự ngẫu nhiên và có thể đo lường được bằng xác suất.(Irving Preffer)
-Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi.(Allan Willett)
-Rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất
Từ các định nghĩa trên đều nêu lên hai ý:
+Sự không chắc chắn, yếu tố bất trắc
+Một khả năng xấu, một biến cố không mong đợi, tổn thất
Chúng đều mang tính ngẫu nhiên nhưng chỉ mang tính tương đối nhưng không đồng thời mang tính tất yếu, kinh doanh sẽ gặp phải rủi ro
1.2.2/ Các loại Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng:
Là những bất trắc gây ra những thiệt hại trong kinh doanh ngân hàng mà có thể biết trước hoặc không biết trước được
-Về mặt lý luận chúng ta phải nhìn nhận rằng kinh doanh ngân hàng là một hoạt động kinh tế nhiều rủi ro so với lĩnh vực kinh tế khác Thật vậy, với đặc điểm kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, sản phẩm mà ngân hàng kinh doanh là sản phẩm đặc biệt và độc quyền đó là “tiền tệ” và chỉ kinh doanh loại sản phẩm này Kinh doanh tín dụng chỉ bán “giá trị sử dụng tiền tệ” và giá bán là “lãi suất” Quyền sử dụng tiền tệ đó thường rất nhỏ so với giá trị khoản vay nên khoản thu được thường là rất nhỏ so với cái đã mất Bởi vậy kinh doanh ngân hàng chủ yếu là kinh doanh tín dụng
-Về mặt thực tiễn: Quá khứ đã chứng minh một các rõ ràng hàng loạt các vụ phá sản của ngân hàng trên thế giới Một số nước có nền kinh tế thị trường
Trang 18phát triển mạnh, hiện đại như Pháp, Anh, Nhật cũng có nhiều vấn đề điển hình gần đây là sự sụp đổ của Ngân hàng Baring, việc thất thoát vốn của ngân hàng Daiwa… Ở Việt Nam thì trong những thập niên 80 hàng loạt hợp tác xã tín dụng sụp đổ, nền tài chính trong trạng thái khủng hoảng, có nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình kinh tế xã hội trong nước Gần đây, nhất là hàng loạt các ngân hàng, công ty tài chính ở Thái Lan, Inđônêxia, Nhật, Hàn Quốc buộc phải đóng cửa, một số tuyên bố phá sản
* Trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng, rủi ro có nhiều loại:
Rủi ro tín dụng, rủi ro về lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro hối đoái, rủi
ro khác
- Rủi ro tín dụng:
Là khả năng gây thiệt hại về tài sản của Ngân hàng do khách hàng vay không có khả năng trả nợ hoặc cố ý không trả nợ đầy đủ và đúng hạn Đây là loại rủi ro gắn liền với hoạt động của ngân hàng Cho vay bao giờ cũng bao gồm khả năng xảy ra mất mát Các ngân hàng luôn tìm cực đại lợi nhuận qua việc tìm kiếm những lợi tức cao nhất có thể có ở món cho vay và chứng khoán, đồng thời cố gắng giảm thiểu các rủi ro liên quan đến các hoạt động cho vay Nhưng không một ngân hàng nào có thể dự đoán hết mọi bất ngờ trong hoạt động kinh tế Mặc dù đã có những quy định hạn chế trong một hợp đồng tín dụng thì vẫn sẽ luôn có những hoạt động rủi ro của người vay tiền Chưa có 1 quy định hạn chế nào loại bỏ được chúng cả Người ta gọi đó là rủi ro tín dụng
-Rủi ro lãi suất:
Là rủi ro mà các chủ thể kinh tế gặp phải khi có biến động về lãi suất Tất cả các khoản cho vay và nợ dù với lãi suất biến động hay cố định đều có thể gặp phải rủi ro
Như vậy rủi ro lãi suất là rủi ro mà ngân hàng phải chịu do diễn biến lãi suất trong tương lai gây ra khi có các khoản cho vay hoặc nợ theo lãi suất cố định Rủi ro này ảnh hưởng đến tính hiệu quả của ngân hàng
-Rủi ro về thanh khoản:
Với tư cách là một trung gian tài chính, ngân hàng cũng là một loại hình doanh nghiệp nên người quản lý luôn luôn muốn tối ưu hoá lợi nhuận Do đó thường các ngân hàng sử dụng vốn huy động được để cho vay càng nhiều càng tốt mà không chú ý đến nhu cầu rút vốn của khách hàng Kết quả là ngân hàng không có đủ vốn để đáp ứng nhu cầu rút vốn của khách hàng
Rủi ro thanh khoản rất nguy hiểm đối với người quản lý ngân hàng, nó thể hiện ở tình trạng ngân hàng thiếu vốn hoạt động Do sự canh tranh gay gắt
Trang 19giữa các thể chế tài chính trên thị trường vốn, nếu khả năng thanh toán của ngân hàng kém, Ngân hàng càng khó lòng huy động được nguồn vốn dồi dào Từ đó phạm vi hoạt động của ngân hàng bị thu hẹp và dễ dàng dẫn đến nguy
cơ bị rủi ro vỡ nợ và sẽ kéo theo rủi ro thanh khoản cho các ngân hàng có liên quan, gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế
-Rủi ro hối đoái:
Kinh doanh ngoại tệ là một trong những sản phẩm của ngân hàng nhằm phục vụ cho nhu cầu đa dạng của nền kinh tế, nhằm tạo điều kiện cho các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu có thể hoạt động Tuy nhiên hoạt động kinh doanh ngoại tệ cũng không thể tránh khỏi những rủi ro xảy ra đó là rủi ro tỷ giá Ta biết tỷ giá hối đoái là giá cả một đồng tiền nước này tính ra một đồng tiền của một nước khác mà giá cả luôn biến động, do đó dẫn đến tỷ giá cũng biến động Vậy rủi ro hối đoái là rủi ro xảy ra khi có sự thay đổi giá cả tương quan giữa ngoại tệ và bản tệ trong quá trình huy động, cho vay và thu hồi nợ thì sẽ làm lợi nhuận ngân hàng giảm sút
Hoặc trong quá trình kinh doanh ngoại tệ của mình, Ngân hàng luôn giữ một mức tồn khoản nào đó cho mình Nếu ngân hàng giữ quá nhiều một loại ngoại tệ hoặc thiếu một loại ngoại tệ nào đó thì tỷ giá thay đổi sẽ làm cho lợi nhuận ngân hàng thay đổi Chẳng hạn như, nếu tỷ giá giảm thì việc ngân hàng giữ quá nhiều một khoản ngoại tệ sẽ gây rủi ro cho ngân hàng làm giảm lợi nhuận
-Rủi ro khác:
Tuy nhiên trong những lĩnh vực khác, ngân hàng thương mại lại chấp nhận rủi ro Ví dụ: Trong nghiệp vụ đấu thầu chứng khoán phi thương lượng bao gồm cả rủi ro Rủi ro này bao gồm rủi ro tín dụng và rủi ro lãi suất Tương tự, khoản mục cho vay, một lần nữa có khả năng người vay sẽ không thể hoàn trả vốn gốc và lãi trong kì hạn tín dụng Hơn nữa, đối với những chứng khoán lợi tức có kì hạn tương đối dài, trị giá chứng khoán có rủi ro lớn khi lãi suất biến động Mặc dù trị giá của tất cả các chứng khoán biến động theo sự biến động của lãi suất nhưng giá của một chứng khoán với kì hạn càng dài thì sẽ dao động càng lớn Vào những thời điểm lãi suất tăng, các địng chế tài chính thường phải chi các khoản phí thương lượng lớn cho các chứng khoán dài hạn, để đề phòng rủi ro cao hơn có thể làm sút giảm giá trị trong danh mục đầu tư Mặc dù sự giảm sút này không phản ánh trong bảng tổng kết tài sản, nhưng nó cũng làm giảm sút khả năng thanh khoản và gia tăng khả năng khả năng sụp đổ Ngân hàng Sau hết, trong hoạt động của mình luôn luôn có rủi ro về gian
Trang 20lận và mất cắp Chẳng hạn, các ngân hàng thương mại luôn luôn tồn quĩ một khối lượng lớn tiền mặt Hiểm hoạ do bị nhân viên lấy cắp là tất yếu vì khó phát hiện và đề phòng
1.2.3/ Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong kinh doanh ngân hàng:
Tuỳ theo gốc độ tiếp cận
- Nguyên nhân từ phía Ngân hàng:
+ Do quản lý yếu kém, trình độ quản lý yếu kém của Ngân hàng + Do trình độ kiến thức về con người
+ Do thiếu thông tin về khách hàng
+ Không thích ứng với điều kiện cạnh tranh
+ Do tham ô hoặc tiêu cực trong lĩnh vực ngân hàng
- Nguyên nhân từ phía khách hàng:
+ Do thiếu hiểu biết trong kinh doanh
+ Không thích ứng được với môi trường kinh doanh
+ Do khách hàng cố tình lừa Ngân hàng
Nói chung là từ khách hàng hay từ ngân hàng cũng chỉ có hai nguyên nhân:
Chủ quan: Do con người
Khách quan: Do thiên tai, chiến tranh, biến động về kinh tế và chính trị trên thế giới
- Nguyên nhân khác:
Có thể nói ngân hàng là trung tâm của nền kinh tế, hoạt động của ngân hàng gắn liền với hoạt động của các nền kinh tế trên thị trường Do đó môi trường kinh doanh cũng ảnh hưởng rất quan trọng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng như tình trạng lạm phát, suy thoái kinh tế, khủng hoảng kinh tế… đều tác động đến rủi ro tín dụng Điều này được thể hiện cụ thể như sau:
+ Đối với hoàn cảnh trong nước:
Trong giai đoạn suy thoái kinh tế sẽ làm cho sản xuất bị đình trệ và điều này sẽ làm xuất hiện hàng loạt các nhà doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ và phá sản Vốn vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp này sẽ không thu hồi được hoặc thu hồi không đủ
Trong tình hình lạm phát, khi lãi suất cho vay không tăng kịp với chỉ số tăng của giá cả, điều này dẫn đến lãi suất cho vay thật luôn nhỏ hơn không(< 0) và như vậy Ngân hàng cho vay sẽ càng lỗ
+ Đối với hoàn cảnh quốc tế:
Trang 21Trong điều kiện hiện nay, nền kinh tế của mỗi nước là một bộ phận của nền kinh tế thế giới Vì vậy nếu hoạt động kinh tế trong nước bị tác động xấu của nền kinh tế thế giới thì có thể gây ra rủi ro cho ngân hàng
Qua đó, ta thấy hoạt động của doanh nghiệp cũng ngày càng gắn chặt với tình hình biến động của thế giới Do vậy, khi tình hình thế giới có biến động hoặc khủng hoảng thì đều có tác động xấu đến doanh nghiệp và sẽ gây ảnh hưởng cho Ngân hàng
Trong phạm vi của đề tài này tôi chỉ đi sâu vào rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng:
* Định nghĩa:
Rủi ro tín dụng được định nghĩa là: “Lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra do phát sinh khi cấp tín dụng cho một khách hàng” Điều này đơn giản có nghĩa là một Ngân hàng cho vay tiền tới một khách hàng luôn có một khả năng khách hàng không hoàn trả được nợ
Hay là : Rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn Tuy nhiên, không phải sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro, chỉ có những tình trạng không chắc chắn nào có thể ước đoán được xác suất xảy ra mới được xem là rủi ro Những tình trạng không chắc chắn nào chưa từng xảy ra và không thể ước đoán được xác suất xảy ra được xem là sự bất trắc chứ không phải rủi ro
Hiểu được khái niệm về rủi ro giúp ích cho chúng ta rất nhiều trong việc xác định và hiểu bản chất của các vấn đề ảnh hưởng đến kết quả hoạt động tín dụng của một ngân hàng Từ đó, ta có thể đưa ra có những biện pháp hoặc đề xuất nhằm ngăn chặn các tổn thất cho ngân hàng trong hoạt động tín dụng
* Bản chất của rủi ro tín dụng:
Từ định nghĩa về rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng có bản chất là khoản tín dụng cho khách hàng vay không thu được cả nợ gốc lẫn lãi khi đến hạn hoặc không đúng thời hạn quy định Nó phụ thuộc phần lớn vào năng lực trả nợ của khách hàng, biểu hiện cụ thể là khách hàng không trả được nợ hoặc trả không đúng thời hạn
* Các loại rủi ro tín dụng:
+ Rủi ro tín dụng thuần túy:
Khi ngân hàng cho khách hàng vay trong một thời gian nhất định, hết hạn người vay vốn Ngân hàng không trả được nợ cho Ngân hàng hoặc trả không đúng hạn và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng như Ngân hàng không thể chi trả cho khách hàng của mình, gây ra thua lỗ về tài chính cho Ngân hàng
Trang 22+ Rủi ro đạo đức nhân viên tín dụng:
Xảy ra khi nhân viên tín dụng cố ý làm trái, làm sai nguyên tắc, có sự tiêu cực trong công việc
+ Rủi ro tài liệu:
Xảy ra khi các văn bản, giấy tờ có liên quan không đầy đủ, không được đánh giá tính pháp lý của những tài liệu có liên quan Nó sẽ trở thành những vấn đề đặc biệt quan trọng nếu khi nhân viên không được đào tạo đầy đủ để đánh giá các yếu tố pháp lý của tài liệu liên quan
+ Rủi ro chính trị:
Chính trị có ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế trên thế giới cũng như trong nước nó đều ảnh hưởng đến các khoản cho vay của Ngân hàng
* Đánh giá về rủi ro tín dụng:
Ngân hàng chỉ ra quyết định cho vay sau khi phân tích đầy đủ các yếu tố liên quan đến ý chí trả nợ và khả năng của người vay trong việc hồn trả nợ Để giảm thiểu lỗ tiềm tàng, cán bộ tín dụng phải đánh giá một đơn xin vay từ khách hàng để xác định chắc chắn “ rủi ro tín dụng” ngân hàng có thể gánh chịu nếu đơn xin vay có thể chấp thuận Đánh giá rủi ro tín dụng là một nguyên tắc cho vay quan trọng bởi mục tiêu của hoạt động cho vay là tạo ra những khoản cho vay không gặp khó khăn Vì vậy việc đánh giá rủi ro tín dụng chúng ta thường sử dụng các yếu tố sau đây:
+ Tính trung thực, năng lực, tính cách, kinh nghiệm và độ tin cậy của khách hàng
+ Tình hình tài chính của khách hàng
+ Lịch sử nợ vay của khách hàng
+ Mức độ rủi ro của ngành kinh doanh mà khách hàng đang thực hiện + Những biến động trong hoạt động kinh doanh của khách hàng
+ Chất lượng của các phương án, dự án
* Xếp hạng rủi ro tín dụng:
Sau khi đánh giá rủi ro tín dụng phải xếp loại rủi ro tín dụng Một trong những chính sách hữu hiệu của hệ thống kiểm soát tín dụng của Ngân hàng là phải xếp hạng rủi ro đối với khách hàng Dựa trên những tài liệu đã biết và tầm quan trọng của từng dữ liệu, hệ thống phân hạng sẽ cĩ một bảng định mức ( cĩ thể là khác nhau đối với mỗi Ngân hàng ) thường gồm 6 mức hoặc 8 mức
Phân hạng rủi ro danh mục tín dụng
Trang 23Mức rủi ro Mơ tả tín dụng
1/ Tín dụng ít rủi ro khách hàng là chắc chắn, đảm bảo cho việc trả Khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của
nợ như thoả thuận 2/ Tín dụng rủi ro trung bình khách hàng là chắc chắn nhưng cĩ một số khía Khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của
cạnh yếu kém 3/ Tín dụng dưới mức rủi ro
trung bình
Khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của khách hàng là chắc chắn nhưng cĩ một số khía cạnh yếu kém lớn mang tính nhất thời 4/ Tín dụng rủi ro cao Khả năng đáp ứng nghĩa vụ tài chính ở mức mạo hiểm do khách hàng đang ở trong tình
trang xấu kinh niên 5/ Tín dụng khĩ địi lãi Khách hàng cĩ rủi ro cao, cĩ thể bị thất thốt lãi song cĩ thể hi vọng lấy lại được gốc 6/ Tín dụng khĩ địi gốc và lãi Khách hàng cĩ rủi ro cao, cĩ thể mất cả vốn, lãi
* Hậu qủa của rủi ro tín dụng
Như đã trình bày, rủi ro tín dụng của Ngân hàng trong quá trình cho vay, phụ thuộc phần lớn vào năng lực trả nợ của khách hàng biểu hiện cụ thể là khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng thời hạn qui định Chúng ta cũng biết hoạt động cơ bản của Ngân hàng là cho vay từ các nguồn vốn huy động, tiền gửi… Ngân hàng là con nợ khi đi vay nhưng khi Ngân hàng cho vay thì Ngân hàng là chủ nợ, nên nếu khách hàng không trả được nợ cho Ngân hàng thì sẽ gặp những hậu quả sau:
Đối với bản thân ngân hàng thương mại:
Tuỳ theo mức độ rủi ro cao hay thấp mà có các tác hại như: Giảm lợi nhuận, thua lỗ
Do có những hậu quả trên làm cho Ngân hàng không thu được nợ và lãi, Ngân hàng bị giảm doanh thu, trong khi ngân hàng phải trả lãi tiền gửi cho khách hàng của mình, chi phí không đổi, lợi nhận giảm dần tới lỗ Nợ quá hạn chính là hậu quả mà Ngân hàng phải gánh chịu Không thu được nợ, vòng quay vốn tín dụng không được thực hiện, Ngân hàng không có khả năng đảm bảo vốn lưu động, hạn chế cả vai trò phục vụ lẫn chức năng kinh doanh tín dụng của Ngân hàng
Ngoài ra, Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh chữ tín Để thực hiện được điều này đòi hỏi ngân hàng phải phấn đấu rất nhiều năm, nhưng khi rủi ro xảy ra, đặc biệt là mức độ cao thì việc khôi phục lại lợi thế trên thị trường là
Trang 24hết sức khó khăn Bởi vì rủi ro cao nếu chưa phá sản, nó gây ảnh hưởng đến các yếu tố quá trình kinh doanh như:
-Giảm uy tín đối với khách hàng
-Rò rỉ chất xám (mất các nhân viên do trả lương thấp)
-Mối liên kết trong kinh doanh với các ngân hàng trong nước và quốc tế
bị thu hẹp
Đối với nền kinh tế quốc dân:
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng khác hoạt động kinh doanh của các ngành nghề khác đó là hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, mọi hoạt động của kinh doanh có liên quan đến tất cả các mặt của đời sống kinh tế xã hội – gây ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ nền kinh tế xã hội Hoạt động ngân hàng là hoạt động mang tính chất xã hội cao, vì vậy một ngân hàng suy yếu dễ tạo ra phản ứng dây chuyền đối với các ngân hàng và định chế tài chính khác, sở dĩ để xảy ra phản ứng dây chuyền là do rủi ro tín dụng gây ra rủi ro thanh khoản làm xuất hiện những cơn lốc “ nỗi kinh hoàng tài chính” từ dân cư Từ đó, dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nghiêm trọng, ảnh hưởng dây chuyền đến các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh kìm hãm phát triển kinh tế, gây suy thoái kinh tế Cụ thể là các nước Đông Nam Á và các nước Đông Á trong thời gian qua Ở Việt Nam, sự đổ bể của các hợp tác xã tín dụng trong những năm 1989-1990 là một minh chứng
1.2.4/ Chỉ tiêu đánh giá mức độ rủi ro của một Ngân hàng:
Căn cứ vào mức độ phát sinh các khoản nợ ở mức cho phép, vào mức độ rủi ro của các hoạt động ngoại hối và các hoạt động khác, căn cứ theo thông lệ Quốc tế, thực tiễn theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng Thương mại người ta đánh giá mức độ rủi ro trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng như sau:
- Hoạt động kinh doanh được coi như lành mạnh nếu mức độ rủi ro nhỏ hơn hoặc bằng 5%
- Hoạt động kinh doanh có độ rủi ro cao nếu mức độ rủi ro lớn hơn 5% Trong việc đánh giá mức độ rủi ro tín dụng thì các chỉ tiêu để đánh giá được dựa theo số ngày của các khoản nợ quá hạn:
- Nhóm 1 ( Nợ đủ tiêu chuẩn ) : Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là cĩ đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn
- Nhóm 2 ( Nợ cần chú ý ) : Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày; Các
khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại
- Nhóm 3 ( Nợ nghi ngờ ) : Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày; Các
khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại
Trang 25- Nhóm 4 ( Nợ dưới tiêu chuẩn ) : Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại
- Nhóm 5 ( Nợ có khả năng mất vốn ) : Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý; Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại
1.3/ Quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng:
1.3.1/ Sự cần thiết của hoạt động quản lý rủi ro trong ngân hàng:
Ở các mục trên chúng ta đã xem xét đến các khái niệm rủi ro nói chung và các rủi ro liên quan đến hoạt động tín dụng nói riêng cũng như các tổn thất mà các rủi ro này gây ra cho một ngân hàng thương mại Để có thể kinh doanh hiệu quả trong lĩnh vực ngân hàng, việc đo lường rủi ro và quản lý rủi ro là một hoạt động thiết yếu quyết định sự thành bại của một ngân hàng
Quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng là một quá trình chấp nhận rủi
ro đã được tính toán trước chứ không phải là trốn tránh rủi ro và chấp nhận rủi
ro là điều kiện cần thiết để thu lợi nhuận trong tương lai Đây là quan điểm của
các nhà kinh doanh ngân hàng thành công trên thế giới, quan điểm của họ đã được chứng minh bằng việc phát triển không ngừng về mặt chất lượng và quy mô trên phạm vi toàn cầu Theo ông Walter Wriston, Chủ tịch HĐQT và Tổng
Giám Đốc Citicorp 1970-1984 thì “Các ngân hàng kinh doanh bằng việc quản
lý rủi ro Thuần nhất và đơn giản nhất, đó chính là nghề của ngân hàng”
Các rủi ro chủ yếu cần được quản lý trong hoạt động ngân hàng:
Nhóm 1: rủi ro kinh doanh
Rủi ro tín dụng;
Rủi ro chính trị;
Rủi ro quốc gia;
Rủi ro chính sách;
Rủi ro môi trường;
Nhóm 2: Rủi ro tài chính
Rủi ro tiền mặt;
Rủi ro phá sản;
Rủi ro lãi suất;
Rủi ro hối đoái;
Nhóm 3: Rủi ro hoạt động
Rủi ro nhân viên;
Rủi ro công nghệ;
Trang 26 Rủi ro uy tín;
Rửa tiền và lừa đảo
Các rủi ro trên có đặc điểm khác nhau đòi hỏi phương pháp quản lý khác
nhau Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý các loại rủi ro này luôn tương tác lẫn nhau
trong suốt quá trình hoạt động của một ngân hàng thương mại và luôn là nguy
cơ gây tổn thất cho ngân hàng
Như vậy, qua các lý thuyết và thực tiễn, hoạt động quản lý rủi ro là hoạt động tất yếu của các ngân hàng thương mại, nó giúp cho ngân hàng:
Tránh khỏi những tổn thất không dự tính trước được;
Chống đỡ với những thay đổi bất lợi trong nội bộ và môi trường kinh doanh;
Tăng lợi thế cạnh tranh;
Đảm bảo mức lợi nhuận kỳ vọng;
Nhận biết và khai thác được các cơ hội kinh doanh
1.3.2/ Hoạt động quản lý rủi ro ngân hàng
Do mức độ quan trọng của hoạt động rủi ro ngân hàng, chúng ta cần xem xét các nguyên tắc cơ bản của quản lý rủi ro để có những bước triển khai đúng hướng, hiệu quả và giải quyết tận gốc của vấn đề Các nguyên tắc cơ bản là:
* Không có rủi ro thì không có lợi nhuận: Việc chấp nhận rủi ro một cách
có ý thức và thông minh cần phải được ban lãnh đạo khuyến khích
* Phân tách các người, bộ phận chấp nhận rủi ro và người kiểm soát rủi ro: các đơn vị kinh doanh cần phải được tách riêng khỏi các đơn vị có trách
nhiệm giám sát và quản lý rủi ro
* Công khai hóa thông tin: Công khai hóa các rủi ro, tạo ra cơ chế
khuyến khích để rủi ro được phát hiện ngay lập tức khi phát sinh để xử lý kịp thời
* Năng động trong xử lý: Trong một môi trường kinh doanh luôn biến
động thì việc nguy hiểm nhất là chúng ta không tiến hành bất cứ hành động nào khi phát hiện các rủi ro
* Các nguyên tắc cơ bản này của hoạt động quản lý rủi ro ngân hàng sẽ là tinh thần xuyên suốt trong tất cả các bước hoạch định, thực thi, ra soát, thay đổi của hoạt động quản lý rủi ro ngân hàng Các nguyên tắc này giúp cho hệ thống quản lý rủi ro được xây dựng một cách mạch lạc để có thể đảm bảo mục tiêu ổn định hoạt động và đạt được lợi nhuận kỳ vọng
Trang 27Hoạt động quản lý rủi ro của ngân hàng thương mại cần phải thực hiện thông qua các bước sau để đảm bảo trám kín các lỗ hổng rủi ro của ngân hàng:
+ Xác định các mục tiêu hoạt động;
+ Xác định các loại rủi ro từ nội bộ và từ bên ngoài;
+ Đánh mức độ ảnh hưởng của rủi ro, xác định thứ tự ưu tiên xử lý và xác định giới hạn tổn thất do các loại rủi ro mà ngân hàng có thể chấp nhận;
+ Quản lý rủi ro:
+ Chấp nhận những rủi ro nhất định;
+ Xử lý để giảm thiểu những rủi ro nhất định;
+ Chia sẻ những rủi ro nhất định;
+ Tránh không chấp nhận những rủi ro nhất định;
+ Giám sát, rút kinh nghiệm để điều chỉnh, xem lại các mục tiêu hoạt động;
Đây là các bước để xây dựng hệ thống quản lý rủi ro được rất nhiều tổ chức ngân hàng, tổ chức kiểm toán thống nhất áp dụng Chúng đã được các tổ chức triển khai một cách hiệu quả tuy rằng việc triển khai của mỗi tổ chức sẽ có những nét riêng của mình do mục tiêu được xác định khác nhau và phụ thuộc vào khả năng triển khai thực hiện của tổ chức đó Ta có thể mô hình hóa
các bước trên thành Vòng Lặp Quản Lý Rủi Ro như sau:
1.3.3/ Nâng cao trình độ quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng
thương mại Việt Nam để chuẩn bị hội nhập
- Yêu cầu quản lý an toàn đối với các hoạt động ngân hàng VN để
chuẩn bị gia nhập WTO
Xác định mục tiêu
Nhận biết
các rủi ro Đo lường mức độ ảnh hưởng
Chấp nhận rủi ro
Chia sẻ rủi
ro
Tránh/chấm dứt
Giám sát
Xử lý để giảm thiểu
Trang 28Việt Nam đang nỗ lực thúc đẩy đàm phán nhằm mục tiêu sớm trở thành thành viên của WTO Tiến trình đàm phán đã có được những kết quả quan trọng
Về song phương: Việt Nam chúng ta đã đàm phán được với hơn 20 đối tác và đang tích cực thúc đẩy đàm phán đối với các đối tác còn lại
Về đa phương: chúng ta cũng đang rà soát và hoàn thiện dự thảo báo cáo về gia nhập WTO Theo đánh giá của các chuyên gia, khả năng hoàn tất quá trình đàm phán và gia nhập WTO của Việt Nam đang trở thành hiện thực
Về nguyên tắc, khi tham gia vào WTO, Việt Nam phải có những quy định tương đồng với các nước Trong đó yêu cầu về việc cải cách hệ thống tài chính ngân hàng là được đặt ra một cách nghiêm túc để đảm bảo các tiêu chí sau:
* Thiết lập môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các tổ chức tài chính trong và ngoài nước;
* Tháo dỡ những chính sách quy định gây trì trệ và mất an toàn cho hệ thống tài chính ngân hàng và ban hành các chính sách quy định khuyến khích các tổ chức tài chính phát triển theo các chuẩn mực an toàn quốc tế.
1.3.4/ Hiệp ước Basel II – Áp dụng và triển khai tại Việt Nam
- Giới thiệu:
Theo như kế hoạch của các ngân hàng Châu Âu, các ngân hàng lớn của Mỹ và các Ngân hàng châu Á sẽ triển khai thực hiện những quy định về phòng ngừa rủi ro theo công thức II của Ngân Hàng Thanh Toán Quốc Tế (Basel II) Theo các nhà chuyên môn đánh giá Basel II sẽ giúp cho các ngân hàng có thể xây dựng cho mình một hệ thống phòng ngừa rủi ro hiệu quả và nâng cao năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, việc triển khai Basel II cũng chứa đựng rất nhiều thách thức
Hiệp ước Basel II ra đời vào tháng 6/2004, mang lại một dấu ấn trong việc chuẩn hoá và định hướng cho việc xây dựng một hệ thống phòng ngừa rủi
ro và tăng cường công tác quản lý của các ngân hàng thương mại Basel II được dựa trên ba nguyên tắc trụ cột (pillar):
+ Nguyên tắc trụ cột 1: Đưa ra những yêu cầu về vốn dự phòng rủi ro tối
thiểu đối với các tài sản rủi ro của các tổ chức tài chính mà trong đó các khoản cấp tín dụng nội và ngoại bảng chiếm một tỷ trọng rất lớn
+ Nguyên tắc trụ cột 2: Đặt ra các yêu cầu giám sát và trao trách nhiệm
theo dõi cho giám đốc và các nhà quản lý cao cấp của tổ chức tài chính nhằm
Trang 29tăng cường thực thi các nguyên tắc về kiểm soát nội bộ và những hoạt động quản lý doanh nghiệp khác theo yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước
+ Nguyên tắc trụ cột 3: đòi hỏi các ngân hàng công khai thông tin nhiều
hơn nhằm thực thi các quy tắc thị trường một cách có hiệu quả
Tạo một sân chơi bình đẳng cho các tổ chức tài chính trên thế giới trên phương diện quốc gia và quốc tế là mục tiêu quan trọng nhất mà Ủy ban Basel mong muốn khi đưa ra Hiệp định Basel II Mặc dù việc vận dụng Basel II đối với mỗi ngân hàng để đảm bảo hoạt động an toàn và khả năng cạnh tranh phải dựa trên việc phân tích tính đặc thù của nền kinh tế quốc gia và của từng ngân hàng (quy mô, độ phức tạp,biến động của chính sách….) nhưng chắc chắn rằng các nguyên tắc và hướng dẫn của Basel II sẽ giúp cho các ngân hàng quản lý và kinh doanh rủi ro tốt hơn, đặc biệt là trong hoạt động tín dụng Ngoài ra, Basel II cũng giúp cho các ngân hàng chủ động và biết cách thu thập dữ liệu có tính hệ thống và có tính định hướng cao dùng cho việc tính toán và quản lý rủi
ro
- Áp dụng và triển khai tại Việt Nam:
Như đã đề cập ở trên, Ngân hàng Nhà Nước đã đưa ra các quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro của ngân hàng, quyết định 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/04/2005 về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng Các quy định này được dựa một phần vào các nguyên tắc, hướng dẫn của Basel II Đây là các bước triển khai cực kỳ quan trọng đối với hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam lâu nay đang hoạt động trên các quy định quản lý rủi ro tương đối dễ dãi của Ngân hàng Nhà Nước
Trang 30CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC CHI NHÁNH
NHNo & PTNT TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH
2.1/ Tổng quan về NHNo & PTNT Việt Nam và các chi nhánh NHNo& PTNT trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh :
2.1.1/ Vài nét về NHNo & PTNT Việt Nam:
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Vịêt Nam (NHNo&PTNT Việt Nam) Tên giao dịch quốc tế là: VIET NAM BANK FOR AGRICULTURE AND RURAL DEVELOPMENT, được viết tắt là VBARD Có trụ sở chính tại: 04 Phạm Ngọc Thạch – Quận Đống Đa – Hà Nội
Ngân hàng phát triển nông nghiệp Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội Đồng Bộ trưởng (nay là chính phủ) về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh, trong đó có Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Chủ tịch hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ký quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Phát triển Nông ngthiệp Việt Nam vào ngày 14/11/1990 Ngân hàng Nông nghiệp là Ngân hàng thương mại đa năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, là một pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật Ngày 15/11/1996, được Thủ tướng chính phủ uỷ quyền, thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam ký quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thành Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam là Ngân hàng thương Mại với tổng nguồn vốn huy động: 132.000 tỷ đồng, chiếm 37% tổng nguồn vốn huy động của toàn hệ thống ngân hàng Viện Nam; Tổng dư nợ: 118.000 tỷ đồng; có số lượng khách hàng : hơn 10 triệu khách hàng thuộc các thành phần kinh tế; có mạng lưới phục vụ rộng gồm 1.800 chi nhánh trên toàn quốc với 28.000 cán bộ (chiếm 40% tổng số CBCNV toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam), ứng dụng công nghệ hiện đại, cung cấp những sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hoàn hảo…
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong thời kì đổi mới, đóng góp tích cực và rất có hiệu quả vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước, sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp–nông thôn, chủ tịch nước CHXHCNVN đã kí quyết định số 226/2003/QD/CTN ngày
Trang 3107/05/2003 phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kì đổi mới cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
2.1.2/ Sự ra đời và phát triển của các Chi nhánh NHNo&PTNT trên địa bàn TP HCM:
Các Chi nhánh NHNo & PTNT (NHNo & PTNT) có trụ sở đặt tại các Quận huyện trên địa bàn TPHCM Là một doanh nghiệp quốc doanh được thành lập theo quyết định của - NHNo&PTNT Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo mô hình NHNo & PTNT cấp I, trực thuộc NHNo&PTNT Việt Nam, còn các Chi nhánh cấp II, III, phòng giao dịch thì trực thuộc các Chi nhánh cấp
I
Với mạng lưới rộng khắp, Các NHNo & PTNT trên địa bàn thành phố có
106 điểm giao dịch bao gốm 26 Chi nhánh cấp I, 46 Chi nhánh cấp II và 22 phòng giao dịch, NHNo&PTNT đã và đang áp dụng các hình thức huy động và cho vay vốn nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế ở địa phương, đầu tư cho các thành phần kinh tế trong các lĩnh vực như: nông nhiệp, công nghiệp…
Trong những năm qua mặc dù ở Tp.HCM có đủ các NHTM (quốc doanh, cổ phần…) và các công ty kinh doanh vàng bạc, ngoài ra hệ thống kho bạc Nhà nước cũng tham gia huy động vốn và cho vay với nền kinh tế, từ đó tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt nhưng hệ thống NHNo & PTNT phấn đấu tăng trưởng một cách ổn định Lượng vốn huy động có thể tự cân đối cho các nhu cầu ngắn, trung và dài hạn, bảo lãnh cho khách hàng khi vay vốn các tổ chức tín dụng khác trong và ngoài nước, thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, chi trả kiều hối, mua bán thu đổi ngoại tệ… thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của một Ngân hàng thương mại và góp phần phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế ở địa phương
2.1.3/ Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của các Chi nhánh NHNo & PPNT:
Các Chi nhánh NHNo&PPNT trên địa bàn TP Hồ Chí Minh có tổàng nguồn vốn kinh doanh đến ngày 31/12/2005 đạt 34.737 tỷ VNĐ Tổng dư nợ tín dụng 23.718 tỷ VNĐ, trong đó dư nợ đầu trung và dài hạn chiếm 49,9% trên tổng dư nợ
Ngân hàng đã cung ứng vốn tín dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, hộ sản xuất cá thể trên mọi lĩnh vực mà chủ yếu là đầu tư phát triển công thương nghiệp Đặc biệt là tài trợ đầy đủ vốn cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu
Trang 32Hiện nay, chi nhánh Ngân hàng đã thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh trong lĩnh vực Ngân hàng như:
- Huy động vốn (tiền gửi tiết kiệm, tiển gửi thanh toán, phát hành chứng chỉ tiền gửi…)
- Hoạt động tín dụng (cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn, tài trợ các dự án đầu tư…)
- Cho thuê tài chính , họat động trong lĩnh vực chứng khóan…
- Kinh doanh các nghiệp vụ ngoại hối (thu đổi ngoại tệ, chi trả kiều hối, thanh toán quốc tế,…)
- Kinh doanh dịch vụ (dịch vụ chuyển tiền, cho vay ủy thác,…)
- Kinh doanh dịch vụ các lọai thẻ
- Chi trả kiều hối , thanh tóan quốc tế
Mô hình tổ chức:
Mối quan hệ điều hành trong nội bộ các chi nhánh NHNo&PTNT là mối quan hệ hữu cơ cùng chung mục tiêu, cùng chung lợi ích, phát huy tối đa tính độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các phòng tổ và từng cá nhân nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cho đơn vị
2.1.4/ Thực trạng hoạt động Kinh doanh NHNo&PTNT trên địa bàn
TOÁN NB
CN P GIAO DỊCH
Trang 33Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Tổng nguồn vốn huy động:
- Tiền gửi không kỳ hạn
- Tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng
- Tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên
26.593 6.648 9.573 10.372
34.737 8.433 12.537 13.765
(Nguồn VP đại diện khu vực Miền Nam NHNo&PTNT)
Phân theo loại hình kinh tế Năm 2004 Năm 2005 Tổng nguồn vốn huy động:
- Tiền gửi từ dân cư
- Tiền gửi từ tổ chức kinh tế
- Tiền gửi từ tổ chức tài chính, tín dụng
26.593 3.684 20.618 2.291
34.737 5.644 26.183 2.909
(Nguồn VP đại diện khu vực Miền Nam NHNo&PTNT)
Trang 34
Tiền gửi không kỳ hạn đạt 8.433 tỷ đồng, tăng 1.089 tỷ đồng so với 31/12/2004, chiếm tỷ trọng 24,3% /tổng nguồn vốn
Tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng đạt 12.537 tỷ đồng, tăng 4.175 tỷ đồng
so với 31/12/2004, chiếm tỷ trọng 36,1% /tổng nguồn vốn
Tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên đạt 13.765 tỷ đồng, tăng 2.920 tỷ đồng so với 31/12/2004, chiếm tỷ trọng 8,4% /tổng nguồn vốn
Từ số liệu phân tích trên cho thấy, khả năng huy động nguồn vốn tại địa phương đang có chiều hướng phát triển tích cực Hầu hết các nguồn vốn huy động không kỳ hạn, có kỳ hạn, kỳ phiếu đều đạt ở mức tăng cao; Nguồn vốn tăng nhanh chủ yếu là do một số khoản tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng và tiền gửi các tổ chức kinh tế
Ngân hàng đã áp dụng tốt các biện pháp để huy động vốn, thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, thể hiện uy tín cũng như sự không ngừng củng cố và phát triển Đồng thời cũng nói lên sự thu nhập của dân cư đã tăng lên, khách hàng đã tin tưởng vào Ngân hàng Đúng trên góc độ là người đi vay hay cho vay thì Ngân hàng cũng đều có lợi
Xét trên hình thức huy động thì Ngân hàng huy động chủ yếu bằng các hình thức tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn Điều này chứng tỏ Ngân hàng đang chú trọng đến việc thu hút lượng tiền gửi nhằm thúc đẩy sự gia tăng nguồn vốn huy động
2.1.4.2/ Về sử dụng vốn:
Chỉ tiêu Chênh lệch 05/04 Tốc độ tăng 05/04 (%)
(+30,8)
Trang 35Đơn vị tính: tỷ VNĐ
Tổng dư nợ
- Dư nợ ngắn hạn
- Dư nợ trung – dài hạn
19.961 10.181 9.780
23.718 11.884 11.883
(Nguồn Văn phòng miền Nam NHNo&PTNT )
Đơn vị tính: tỷ VNĐ
(Nguồn Văn phòng miền Nam NHNo&PTNT )
Đơn vị tính: tỷ VNĐ
Phân theo ngành kinh tế 2004 2005 Tỉ trọng (%) Ghi chú
1 Ngành Nông nghiệp 3.992 4.743 20
2 Ngành công nghiệp, XD 7.985 9.487 40
3 Ngành thương nghiệp, DV 5.988 7.115 30
vi quốc doanh mà Ngân hàng đã mở rộng và phát triển trên tất cả các thành phần kinh tế, phù hợp với sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
Chỉ tiêu Chênh lệch 05/04 Tốc độ tăng 05/04 (%)
(+18,9)
Trang 36Sự lớn lên và trưởng thành trong hoạt động, tính đến ngày 31/12/2005 tổng dư nợ đã đạt 23717 tỷ Điều này cho thấy quy mô tín dụng của các chi nhánh NHNo&PTNT trên địa bàn TP HCM đang dần được mở rộng và có xu hướng tích cực trong việc chiếm thị phần đáng kể trong lĩnh vực đầu tư vốn trên địa bàn TPHCM
Dư nợ cho vay thông thường cho đến ngày 31/12/2005 đạt 23.717 tỷ đồng, tăng 3.768 tỷ đồng so với 31/12/2004, chiếm tỷ trọng 100%/ tổng dư nợ cho vay Trong đó: Dư nợ ngắn hạn đạt 11.884 tỷ đồng, tăng 1.719 tỷ đồng so với 31/12/2004, chiếm tỷ trọng 51,78%/ tổng dư nợ Dư nợ trung - dài hạn đạt 11.883 tỷ đồng, tăng 2.049 tỷ đồng so với 31/12/2004, chiếm tỷ trọng 49,3% /tổng dư nợ Số dư nợ xấu quá hạn đến 31/ 12/ 2005 là 540 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 2.3 % trên tổng dư nợ Lãi suất đầu vào đầu ra bình quận là 0,35%
Qua số liệu trên cho thấy, dư nợ được tăng dần lên một cách vững chắc Khi so sánh giữa tình hình huy động vốn và sử dụng nguồn vốn, ta thấy tốc độ tăng của nguồn vốn so với tốc độ tăng của việc sử dụng vốn là gần như ngang nhau, do vậy, việc phân bổ dư nợ theo cơ cấu trên là khá hợp lý, đây là một tín hiệu đáng phấn khởi trong công tác quản lý dư nợ
• Hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng:
Đơn vị tính: tỷ VNĐ
(Nguồn VP Miền Nam NHNo&PTNT)
170,1 (+70,1) 183,9 (+83,9) 126,3 (+26,3)
(Nguồn VP Miền Nam NHNo&PTNT )
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005
Lợi nhuận trước thuế 462 583
Trang 37(Nguồn VP Miền Nam NHNo&PTNT )
NHẬN XÉT:
Trong năm 2005 lợi nhuận Ngân hàng đạt được 583,8 tỷ đồng Tăng 26,3% so với cùng kỳ năm trước Nếu xét giữa nguồn vốn và sử dụng vốn ta thấy trong năm 2005 Ngân hàng đã sử dụng 68,3% Điều này chứng tỏ Ngân hàng trên địa bàn TPHCM không những đáp ứng nhu cầu vốn cho TPHCM mà còn dư nguồn để điều hòa vốn cho trong hệ thống trên toàn quốc để cho vay
Tổng chi phí đến 31/12/2005 đạt 2.684 tỷ đồng, tăng.224 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 83,9% so với cả năm 2004 Từ đầu năm 2005 các Chi nhánh đã mở rộng hình thức cho vay tiêu dùng và đa dạng hóa các lọai hình cho vay mở rộng hình thức phục vụ khách hàng, nhận và giao tiền mặt đến tại Trụ sở làm việc của khách hàng nhằm ngày càng thu hút nhiều khách hàng mở tài khoản tại Chi nhánh Đây là nguyên nhân làm tăng chi phí lên so với cả năm 2004, đồng thời cũng làm tăng lượng khách hàng của Ngân hàng lên đáng kể
Tổng thu nhập đến 31/12/2005 đạt 583,8 tỷ đồng tăng 121,6 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 26,3% so với cả năm 2004 Từ số liệu này ta thấy được Chi nhánh đã
Trang 38bám sát vào mục tiêu, định hướng của NHNo&PTNT Việt Nam, các mục tiêu
phát triển kinh tế trên địa bàn
Chỉ tiêu Năm 2004 (%) Năm 2005 (%) Nợ quá hạn / Tổng dư nợ 1,1% 2,3%
(Nguồn VP Miền Nam NHNo&PTNT )
Với tình hình nợ quá hạn như ở cuối năm 2005 là 540 tỷ , tương ứng với tỷ lệ 2,3% là số phát sinh tăng so với năm trước Do một số khách hàng chậm thanh toán Tuy nó chiếm tỷ lệ không cao nhưng đây là điều mà Ngân hàng cần quan tâm và khắc phục
KẾT LUẬN:
Qua đánh giá chung ta có nhận xét tổng quát tình hình như sau:
Nguồn vốn huy động của Ngân hàng tăng nhanh và ổn định, cụ thể năm
2005 tăng 30,8% so với năm 2004, thể hiện rõ tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh năm 2005 của NHNo& PTNT Nguyên nhân là do Ngân hàng đã mở rộng mối quan hệ với các TCTD khác qua các hợp đồng tiền gửi với lãi suất thỏa thuận phù hợp với cơ chế thị trường
Dư nợ cho vay của Ngân hàng tăng cao vào năm 2005 tăng so năm 2004 18,9% là do tốc độ tăng trưởng kinh tế Chi nhánh NHNo&PTNT đã tiến hành đầu tư cho vay các đối tượng là chủ yếu là các công ty vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp tư nhân… thông qua hình thức đầu tư vốn lưu động sản xuất kinh doanh hàng hóa Đồng thời, mở rộng cho vay vốn tiêu dùng đối với cán bộ công nhân viên chức, để nhằm giúp họ phát triển kinh tế gia đình Về lợi nhuận của Ngân hàng tăng cao vào năm 2005 so năm 2004 là 26,3%.Cho thấy với sự nỗ lực rất cao của toàn bộ các cán bộ nhân viên trong Ngân hàng cùng với chính sách kinh doanh hớp lý đã nâng cao được hiệu quả kinh doanh tại các chi nhánh NHNo&PTNT trên địa bàn TPHCM
2.2/ Thực trạng, đặc thù rủi ro của các Ngân hàng thương mại Việt
Trang 39trong việc quyết định chúng ta có thể khai thác tối đa các lợi ích từ hội nhập quốc tế mang lại hay Việt Nam chúng ta lại bị các yếu tố bất lợi của hội nhập quốc tế ảnh hưởng
Cải cách các ngân hàng thương mại Việt Nam là một công việc lớn mà hiện nay các chuyên gia kinh tế Việt Nam đang đưa ra bàn luận, tìm các biện pháp cải thiện Vừa qua, Ngân hàng Nhà Nước đã đưa ra các quy định có tính định hướng cao cho các ngân hàng thương mại như quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro của ngân hàng, quyết định 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/04/2005 của Ngân hàng Nhà Nước quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng Các quy định này đã được ngân hàng Nhà Nước xây dựng dựa trên định hướng của những chuẩn mực và thông lệ quốc tế chung nhất Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà Nước sau khi ban hành các quy định này cũng phải thừa nhận “các quyết định này chưa phải là những chuẩn mực hay thông lệ quốc tế tốt nhất, cao nhất được áp dụng ở các ngân hàng tiên tiến, hàng đầu thế giới” và các quyết định này được “Vận dụng phù hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam” Vậy “tình hình thực tế tại Việt Nam” như thế nào, nó có thể dễ dàng thay đổi để thích ứng các yêu cầu của hội nhập tài chính hay không? Ta sẽ đi vào xem xét một vài khía cạnh về những gì đang gây khó khăn cho các ngân hàng thương mại và khả năng, tiến độ thực hiện các công việc cải cách của các ngân hàng thương mại để đưa hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam lên một địa vị mới trong bản đồ của hệ thống tài chính thế giới
2.2.1.1/ Sức mạnh tài chính:
Theo quy định hiện hành, Nghị định 82 của chính phủ, thì vốn pháp định của một ngân hàng thương mại cổ phần đô thị là 70 tỷ đồng Đây là mức xuất phát điểm rất thấp để có thể thành lập một ngân hàng, một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ (một loại hàng hoá đặc biệt) Mặc dù ngân hàng Nhà nước hiện nay đang khống chế việc thành lập mới các ngân hàng thương mại cổ phần và bản thân các ngân hàng thương mại cổ phần đang cố hết sức tăng mức vốn điều lệ của mình để khẳng định uy tín với khách hàng và phù hợp với quy mô kinh doanh của mình (Các ngân hàng thương mại cổ phần lớn hiện nay đang lấy đích đến là số vốn điều lệ 1000 tỷ đồng, tương đương 64 triệu USD đến hết năm 2006 và đối với một số ngân hàng thương mại cổ phần đây là một đích đến quá khó khăn), mức vốn điều lệ hiện nay của các ngân hàng thương mại của chúng ta vẫn sẽ rất nhỏ bé so với vốn điều lệ của các ngân hàng nước ngoài khi mà số vốn của họ đang được duy trì ở mức nhiều tỷ USD (Ngân hàng
Trang 40Mitsubishi UFJ có số vốn 1.770 tỷ USD, Ngân hàng United Overseas Bank của Singapore 13,4 tỷ SGD…) Rõ ràng đây là một vị thế rất thấp của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trên tiến trình hội nhập cũng như phản ảnh mức độ chịu đựng rủi ro thấp của các ngân hàng này
Đối với các Ngân hàng thương mại quốc doanh, cho đến cuối năm 2004, đã được bổ sung 11.000 tỷ đồng, nâng tổng mức vốn tự có của các Ngân hàng thương mại quốc doanh lên 16.000 tỷ đồng Tuy nhiên, với mức vốn này theo cách phân loại tài sản của các ngân hàng Việt Nam thì tỷ lệ vốn an toàn bình quân chỉ chiếm 5,61% và trong yêu cầu mở rộng tín dụng để đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng 8,5%/năm thì tỷ lệ vốn an toàn có thể sẽ bị giảm đến mức 3%
Bảng số liệu về Vốn pháp định của một số Ngân hàng
Đơn vị tính : tỷ đồng
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Ngân hàng Công thương
Ngân hàng Ngoại thương Ngân hàng Sài gòn Thương tín Ngân hàng Á Châu
Số liệu của Ngân hàng Nhà Nước năm 2005
Như vậy, cả các ngân hàng thương mại cổ phần và ngân hàng thương mại quốc doanh của Việt Nam đều có các số vốn điều lệ quá nhỏ bé so với yêu cầu phát triển để đạt lợi nhuận và để chuẩn bị hội nhập tài chính
2.2.1.2/ Cơ cấu tổ chức vận hành
Các ngân hàng thương mại hiện nay đã có những bước cải thiện đáng ghi nhận trong cơ cấu tổ chức vận hành, đặc biệt là các ngân hàng thương mại Tuy vậy, các cơ cấu tổ chức mới của các ngân hàng thật sự vẫn còn nằm trong giai đoạn thử nghiệm, triển khai và điều chỉnh Trên thực tế là các hoạt động quản lý rủi ro của các ngân hàng này còn rất thiếu ổn định và thông suốt trong thông tin, đặc biệt là trong hoạt động tín dụng
Các ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn chưa có những thay đổi đáng kể về mặt cơ cấu tổ chức để thích ứng với môi trường kinh doanh hiện tại và rủi ro ngày càng gia tăng trong hoạt động ngân hàng Các bộ phận quản lý rủi