1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng chiến lược phát triển du lịch cho tỉnh bà rịa vũng tàu đến năm 2020

115 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 911,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “ Xây dựng chiến lược phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2020” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ, với mong muốn góp phần nhỏ bé đưa d

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH CHO

TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU ĐẾN NĂM 2010

NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

MÃ SỐ:

NGÔ QUANG THỤY

Người hướng dẫn khoa học: TS NGÔ TRẦN ÁNH

HÀ NOOJIU 2006

Trang 2

ẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DU LỊCH, CHIẾN LƯỢC VÀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC 4

1.1 Những lý luận cơ bản về du lịch 4

1.1.1 Những khái niệm cơ bản 4

1.1.1.1 Du lịch 4

1.1.1.2 Khách du lịch 5

1.1.1.3 Tài nguyên du lịch và môi trường du lịch 6

1.1.1.4 Sản phẩm du lịch 7

1.1.2 Tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên và môi trường 8

1.1.3 Xu hướng dòng dịch chuyển của du khách 9

1.1.3.1 Quan niệm du lịch tại các nước phát triển 9

1.1.3.2 Quan niệm du lịch ở Việt Nam 10

1.1.4 Một số xu hướng phát triển của du lịch thế giới 10

1.1.4.1 Nhóm xu hướng phát triển của cầu du lịch 11

1.1.4.2 Nhóm xu hướng phát triển của cung du lịch 13

1.1.5 Vai trò của du lịch trong nền kinh tế 15

1.1.6 Một số bài học kinh nghiệm phát triển ngành du lịch 16

1.2 Một số lý luận cơ bản về chiến lược 17

1.2.1 Khái niệm của chiến lược 17

1.2.2 Các giai đoạn của quản trị chiến lược 19

1.2.3 Vai trò của chiến lược 20

1.2.4 Chiến lược kinh doanh 22

1.2.4.1.Căn cứ vào phạm vi của chiến lược, người ta chia chiến lược kinh doanh làm hai loại 22

Trang 3

Ngô Quang Th ụy – Cao học quản trị kinh doanh 2004-2006 Đại học Bách Khoa Hà Nội

1.2.5.1 Xác định mục tiêu 24

1.2.5.2 Phân tích môi trường hoạt động 24

1.2.5.3 Ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ (SWOT) 25 1.2.5.4 Lựa chọn chiến lược 27

1.2.5.5 Thực hiện chiến lược 27

1.2.5.6 Đánh giá chiến lược 28

CH ƯƠNG II: THỰC TRẠNG NGÀNH DU LỊCH TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU 29

2.1 Tiềm năng phát triển ngành du lịch tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu 29

2.1.1 Tài nguyên tự nhiên 31

2.1.2 Tài nguyên nhân văn 35

2.2 Thực trạng ngành du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 40

2.2.1 Khách du lịch 40

2.2.2 Doanh thu về du lịch 42

2.2.3 Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch 44

2.2.4 Hoạt động lưu trú 45

2.2.5 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 46

2.2.6 Các dịch vụ hỗ trợ 49

2.2.7 Đầu tư cho ngành du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 50

2.2.8 Nguồn nhân lực du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 52

2.2.9 Các yếu tố khác 53

2.3 Nhận định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với ngành du lịch tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu 57

Trang 4

2.3.4 Những thách thức của du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (T) 61

CH ƯƠNG III: XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU ĐẾN NĂM 2020 63

3.1 Mục tiêu, định hướng phát triển ngành du lịch tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đến năm 2020 63 3.1.1 Một số chỉ tiêu dự báo cho giai đoạn 2005-2020 63 3.1.2 Mục tiêu phát triển ngành du lịch tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đến năm

2020 68 3.1.3 Định hướng phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2020 69 3.1.3.1.Định hướng phát triển du lịch theo ngành 70 3.1.3.2. Định hướng phát triển du lịch theo lãnh thổ 71 3.2 Xây dựng chiến lược phát triển ngành du lịch tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu 72

Ma trận SWOT 72 3.3 Lựa chọn chiến lược phát triển ngành du lịch tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu 74 3.3.1 Chiến lược xâm nhập thị trường theo hướng thu hút khách du lịch trong và ngoài nước 74 3.3.2 Chiến lược tăng trưởng tập trung theo hướng phát triển sản phẩm 76 3.3.3 Chiến lược liên doanh, liên kết phát triển du lịch 77 3.3.3.1 Chiến lược liên doanh liên kết thu hút vốn đầu tư 78 3.3.3.2 Chiến lược liên doanh liên kết đào tạo và phát triển nguồn nhân

lực 78

Trang 5

Ngô Quang Th ụy – Cao học quản trị kinh doanh 2004-2006 Đại học Bách Khoa Hà Nội

3.4.2 Giải pháp về vốn 81

3.4.3 Giải pháp đa dạng hóa sản phẩm du lịch, nâng cao năng lực cạnh tranh 82

3.4.4 Giải pháp về thị trường, xúc tiến phát triển du lịch 84

3.4.5 Giải pháp về cơ chế chính sách 86

3.4.6 Giải pháp về đào tạo phát triển nguồn nhân lực 87

3.4.7 Giải pháp ổn định trật tự an toàn xã hội, an toàn cho khách du lịch 89

3.4.8 Giải pháp phát triển du lịch bền vững 92

3.5 Kiến nghị 91

3.5.1 Kiến nghị đối với Trung Ương 94

3.5.2 Kiến nghị đối với địa phương 95

KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 6

Bảng 1.1: Ma trận SWOT giúp hình thành chiến lược 26 Bảng 2.1: Tổng sản phẩm GDP Bà Rịa - Vũng Tàu theo giá hiện hành 29 Bảng 2.2: Lượng khách du lịch đến với tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ năm 2000 –

2005 41 Bảng 2.3: Mức chi tiêu bình quân của khách du lịch tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

từ năm 2000 – 2005 41 Bảng 2.4: Doanh thu về du lịch của Bà Rịa - Vũng Tàu từ năm 2000-2005 42 Bảng 2.5: Lợi nhuận về du lịch tại Bà Rịa - Vũng Tàu từ năm 1996-2005…43 Bảng 2.6: Đầu tư cho du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu từ năm 1996-2005 51 Bảng 2.7: Lao động của ngành du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ năm 1996-

2005 52 Bảng 3.1: Dự báo khách du lịch đến tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2020 65 Bảng 3.2: Dự báo doanh thu du lịch đến tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2020 65 Bảng 3.3: Dự báo chi tiêu của khách du lịch đến tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2020 66 Bảng 3.4: Dự báo chỉ tiêu GDP du lịch của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm

2020 66 Bảng 3.5: Dự báo nhu cầu phòng lưu trú khách du lịch của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2020 67 Bảng 3.6: Dự báo nhu cầu lao động cho du lịch của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2020 68 Bảng 3.7: MA TRẬN SWOT 72

Trang 7

Ngô Quang Th ụy – Cao học quản trị kinh doanh 2004-2006 Đại học Bách Khoa Hà Nội

năm 1996 – 2005 43 Hình 2.3: Biểu đồ lợi nhuận về du lịch của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ năm

1996 -2005 44

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài:

Ngày nay, trên thế giới, du lịch trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hoá - xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều nước trên thế giới Việt Nam chúng ta, với những điều kiện ưu đãi về tự nhiên địa lý, với bề dầy lịch sử xây dựng đất nước và chống ngoại xâm, với nền văn hóa đa dạng chúng ta có thể trở thành một cường quốc du lịch trong tương lai

Trong những năm gần đây ngành du lịch của chúng ta phát triển khá nhanh và từng bước khẳng định là điểm đến lý tưởng của nhiều khách du lịch Nhu cầu đi du lịch của người dân trong nước cũng tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển kinh tế của đất nước Nhu cầu đi du lịch không còn đơn thuần là đi nghỉ dưỡng mà còn có thêm nhu cầu thưởng ngoạn, khám phá, học hỏi, nghiên cứu… nhằm tăng thêm vốn kiến thức đồng thời thỏa mãn nhu cầu về mặt hưởng thụ cũng như về mặt tinh thần Những năm qua Đảng và Nhà nước đã

có nhiều chủ trương, chính sách để phát triển ngành du lịch, do đó lượng khách

du lịch quốc tế, nội địa và doanh thu du lịch đã tăng lên một cách rõ rệt Du lịch phát triển sẽ kéo theo các ngành khác phát triển, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần dịch chuyển cơ cấu kinh tế của Tỉnh

Tuy nhiên du lịch Việt Nam nói chung và du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng

Tàu nói riêng cần có chiến lược phát triển sao cho phù hợp với xu thế thời đại trên cơ sở những điều kiện sẵn có của một đất nước có bốn ngàn năm văn hiến, với một lịch sử chống ngoại xâm hào hùng và một nền văn hóa không bị đồng hóa bởi hàng ngàn năm đô hộ của ngoại xâm Sự lớn mạnh của ngành du lịch Việt Nam trong tương lai luôn gắn với sự lớn mạnh của nhiều đơn vị du lịch địa phương Chính vì vậy, việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch cho tỉnh

Trang 9

chức năng của Tỉnh Vì vậy chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “ Xây dựng chiến lược phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2020” làm đề tài cho

luận văn thạc sỹ, với mong muốn góp phần nhỏ bé đưa du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phát triển mạnh mẽ hơn nữa, thực sự là một trung tâm du lịch lớn không chỉ trong nước mà còn của quốc tế

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Dựa trên cơ sở của phân tích thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong thời gian qua Dựa vào phân tích tình hình môi trường hiện nay để xác định các mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội và thách thức đối với sự phát triển du lịch Tỉnh trong thời gian tới, từ đó xây dựng chiến lược phát triển, các giải pháp chính cũng như các đề - kiến nghị

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu hoạt động du lịch của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có xem xét đến mối quan hệ tương hỗ với chiến lược phát triển du lịch của cả nước Đề tài chỉ phân tích những vấn đề tổng quát phục vụ cho việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch cho Tỉnh chứ không đi sâu vào các vấn đề mang tính chất chuyên ngành

4 Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã kết hợp nhiều phương pháp, trong đó phương pháp phân tích và so sánh thực tế với các báo cáo đáng tin cậy của

những cơ quan chức năng quản lý ngành và quản lý nhà nước trên địa bàn

Tỉnh, đặc biệt là những số liệu thống kê làm nên chương II và làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược, những giải pháp và những kiến nghị

Trang 10

5 Đóng góp của luận văn:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về ngành du lịch

- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong thời gian qua

- Xác định điểm mạnh, điểm yếu cũng như cơ hội và thách thức của du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

- Xây dựng chiến lược và đề ra một số giải pháp, kiến nghị để phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong thời gian tới

6 Kết cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3

chương

- Chương I: Cơ sở lý thuyết về du lịch, chiến lược và xây dựng chiến lược

- Chương II: Thực trạng du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

- Chương III: Xây dựng chiến lược và những giải pháp nhằm phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2020

Trang 11

tế hóa du lịch và Phân công hợp tác lao động quốc tế mạnh mẽ trong giai đoạn toàn cầu hóa như hiện nay Ta có thể đưa ra một số khái niệm như sau:

- Định nghĩa của hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Canada diễn ra vào tháng 6 năm 1991: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm” (Giáo trình Kinh tế Du lịch của trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân, 2004 [19])

- Đối với Việt Nam, trong Luật Du lịch của Việt Nam công bố như sau:

“Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi lưu trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” (Luật Du lịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005 [28])

Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, ngoài nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng thì du khách ngày nay còn có nhu cầu rất lớn về khám phá, học

Trang 12

hỏi càng nhiều càng tốt những vùng đất mới, nơi họ đặt chân đến Do đó, khái niệm du lịch cũng có thể nêu như sau: “Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi lưu trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng và học tập những vùng đất mà họ đặt chân đến trong một thời gian nhất định”

là khách du lịch chủ động (Inbound tourist); hoặc tất cả những người từ một nước đi ra nước ngoài thăm viếng – chúng ta gọi là khách du lịch thụ động (Outbound tourist) với khoảng thời gian nhiều nhất là một năm”

Tiểu ban còn đưa ra định nghĩa về “Khách du lịch nội địa – Domestic tourist” như sau: “Khách du lịch nội địa là công dân của một nước (không kể quốc tịch) hành trình đến một nơi trong đất nước đó, khác nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ, hay 01 đêm với mọi mục đích trừ mục đích hoạt động để được trả thù lao tại nơi đến” (Giáo trình Kinh tế Du lịch của trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân, 2004 [27])

- Trong Luật Du lịch của Việt Nam công bố như sau: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” Trong đó khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế

“Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú

Trang 13

“Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam đi du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch” (Luật Du lịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005 [44])

1.1.1.3 Tài nguyên du lịch và môi trường du lịch:

Theo luật Du lịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005:

“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch

sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân

văn khác có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản

để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” Vì vậy tài nguyên du lịch được xem là tiền đề để phát triển du lịch và tài nguyên

du lịch càng phong phú, đặc sắc thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao

“Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được qui hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường” Khu du lịch phải có quy mô cần thiết, có cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội cũng như cơ sở hạ tầng du lịch phù hợp, đảm bảo về mặt kinh tế xã hội cũng như kỹ thuật để có thể đón được một lượng khách nhất định

“Điểm khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch”

Tài nguyên du lịch rất phong phú và đa dạng, song có thể phân thành hai loại: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn

- Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố: địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch

Trang 14

- Tài nguyên du lịch nhân văn gồm: truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể sử dụng mục đích du lịch

• Các đặc tính của sản phẩm du lịch:

- Sản phẩm được bán cho khách trước khi họ nhìn thấy sản phẩm

- Sản phẩm du lịch thường là một kinh nghiệm nên dễ bắt chước

- Sản phẩm du lịch ở xa khách hàng

- Sản phẩm du lịch do sự tổng hợp các ngành kinh doanh khác nhau

- Sản phẩm du lịch không thể tồn kho

- Trong một thời gian ngắn lượng cung sản phẩm cố định

- Khách mua sản phẩm du lịch ít trung thành với công ty bán sản phẩm

- Nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm du lịch dễ thay đổi vì sự giao động về tiền tệ, chính trị

• Các loại sản phẩm du lịch:

- Sản phẩm du lịch của một quần thể địa lý: lục địa, đa quốc gia, một nước, một vùng đặc biệt của một nước, một thành phố

Trang 15

- Sản phẩm chìa khóa trao tay: lưu trú, nhà hàng, hàng không, du ngoạn và

những thứ khác

- Sản phẩm du lịch dạng trung tâm: trung tâm trượt tuyết, tắm biển hoặc tắm nước nóng

- Sản phẩm du lịch dạng biến cố: sự kiện thể thao, văn hóa, giải trí…

- Những sản phẩm du lịch đặc biệt: chơi thể thao thuyền buồm, ván lướt sóng, cano, cưỡi ngựa, hội nghị, cờ bạc…

1.1.2 Tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên và môi trường:

Hoạt động của du lịch là hoạt động khai thác các tiềm năng kinh tế-xã hội

và nhân văn để phục vụ kinh doanh du lịch Vì vậy hoạt động du lịch có tác động đến hầu hết các dạng tài nguyên và môi trường, tuy nhiên hoạt động du lịch còn tạo ra tài nguyên du lịch nhân tạo, hình thành các môi trường du lịch hoàn toàn do con người điều khiển Tác động của hoạt động du lịch đến các tài nguyên và môi trường theo hai mặt:

- Mặt tích cực là tạo hiệu quả tốt với việc sử dụng hợp lý và phục hồi tài nguyên

- Mặt tác động tiêu cực gây nên sự lãng phí, tiêu phí tài nguyên và suy thoái môi trường

a/ Tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên thiên nhiên:

Hoạt động du lịch đã góp phần làm cho tài nguyên thiên nhiên bị xuống cấp

về mặt môi trường Đó là hậu quả của việc sử dụng đất đai, xây dựng các cơ sở dịch vụ du lịch và các hoạt động liên quan đến vận hành và bảo dưỡng các công trình du lịch cần thiết để duy trì các hoạt động giải trí cho khách

b/ Tác động đến phát triển kinh tế:

Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến Hội đồng Lữ hành và Du lịch quốc tế (World Travel and Tourism Council –

Trang 16

WTTC) đã công nhận du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới, vượt lên

cả ngành sản xuất ôtô, thép, điện tử và nông nghiệp Hoạt động du lịch đã có tác động quan trọng đối với kinh tế của một số quốc gia Đó là nguồn thu ngoại

tệ lớn cho đất nước góp phần thúc đẩy tăng trưởng GDP cho đất nước Ngoài ra

nó còn tạo ra công ăn việc làm cho đất nước Đồng thời phát triển du lịch còn thúc đẩy các ngành nghề khác có liên quan đến du lịch phát triển như công nghiệp, thủ công mỹ nghệ…

c/ Tác động đến chất lượng cuộc sống:

Việc phát triển nhanh chóng các hoạt động du lịch có thể làm cho điều kiện

vệ sinh môi trường trở nên tồi tệ do vứt rác và đổ nước thải bừa bãi từ đó dẫn đến ô nhiễm môi trường sống của dân cư địa phương Việc tập trung khách vào ngày nghỉ tại những thời điểm nhất định làm cho các bãi tắm, các nhà nghỉ trở nên quá tải, đường xá bị tắc nghẽn, làm tổn hại đáng kể đến môi trường và chất lượng cuộc sống Đồng thời du lịch phát triển cũng gián tiếp gây ra việc lan truyền những căn bệnh dễ lây lan giữa du khách và dân cư địa phương

d/ Tác động đến văn hoá-xã hội:

Hoạt động du lịch đã góp phần thay đổi các hệ thống giá trị, tư cách cá nhân, quan hệ gia đình, lối sống tập thể, hành vi đạo đức, những lễ nghi truyền thống và tổ chức của cộng đồng Hoạt động du lịch tác động đến người dân địa phương trong quá trình họ quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với du khách Hoạt động du lịch tác động đến văn hoá theo hai hướng: với hướng thứ nhất, du lịch

có thể là phương tiện bảo tồn nền văn hóa truyền thống, trong khi hướng thứ hai lại tác động ngược lại

1.1.3 Xu h ướng dòng dịch chuyển của du khách:

1.1.3.1 Quan niệm du lịch tại các nước phát triển:

Trang 17

Nếu trong thời kỳ công nghiệp và đô thị hóa phát triển thì du khách có xu

hướng đến thăm quan các thành phố, đô thị lớn trong nước và trên thế giới Còn vào thời kỳ toàn cầu hóa ngày nay du khách lại có xu hướng quay về với thiên nhiên bởi vì áp lực của công việc trong nền kinh tế phát triển cao và vì việc đô thị hóa đến mức mà con người lại cảm thấy “khó thở” ngay chính trong

căn nhà của mình, do vậy du lịch xanh ngày nay đã trở thành xu thế của du lịch

Như vậy có thể dự báo xu hướng dịch chuyển của nguồn khách đi từ các

nước phát triển sang các nước đang phát triển, điều này cũng phản ảnh xu hướng hưởng thụ quay về với thiên nhiên nhiều hơn

1.1.3.2 Quan niệm du lịch ở Việt Nam:

Ngược lại với xu hướng du lịch của các nước phát triển, các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, do còn đang ở giai đoạn gần giống như các nước phát triển nên thường có xu hướng tham quan du lịch để thưởng lãm những thành tựu của nền kinh tế phát triển

1.1.4 M ột số xu hướng phát triển của du lịch thế giới:

Theo dự đoán của các nhà khoa học trên thế giới thì du lịch đại chúng có tương lai và xu hướng phát triển tốt Du lịch quốc tế ngày một phát triển mạnh

Trang 18

Có thể phân các xu hướng của sự phát triển du lịch trên thế giới theo 2 nhóm chính sau:

1.1.4.1 Nhóm xu h ướng phát triển của cầu du lịch:

- Xu hướng 1: Du lịch ngày càng được khẳng định là một hiện tượng kinh

tế xã hội phổ biến, bởi các nguyên nhân:

Đời sống người dân ngày càng được cải thiện ở các nước có nền kinh tế phát triển, du lịch trở thành tiêu chuẩn để đánh giá mức sống và chất lượng cuộc sống của các tầng lớp dân cư trong xã hội

Mặt khác, trong điều kiện sản xuất đại công nghiệp, môi trường sống và môi trường làm việc của con người ngày một bị ô nhiễm nhiều hơn, gây hậu

quả xấu đến sức khỏe con người Do vậy các tổ chức sản xuất kinh doanh, các công ty cùng các tổ chức công đoàn, nghiệp đoàn… dành quỹ phúc lợi, bảo hiểm cho các thành viên đi tham quan, nghỉ dưỡng ở trong và ngoài nước nhằm tái tạo sức lao động cũng là một điều tất yếu sau một quá trình lao động, sản

xuất

Phương tiện vận chuyển được hoàn thiện, nhất là vận chuyển khách bằng đường hàng không với chủng loại máy bay ngày một hiện đại Với điều kiện này, du khách có nhiều thời gian tham quan, nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe Điều kiện chính trị, xã hội ngày càng ổn định đòi hỏi các quốc gia mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa

Nhu cầu và khả năng đi du lịch ngày một tăng (cả về số lượng và chất lượng)

- Xu hướng 2: Sự thay đổi về hướng và về phân bố của luồng khách du lịch

quốc tế

Việc quần chúng hóa trong hoạt động du lịch và khả năng đi du lịch xa hơn

Trang 19

thế giới lần thứ hai, nguồn khách du lịch chủ yếu tập trung vào vùng biển Địa Trung Hải, biển Đen, Hawai, vùng Caribe; về mùa đông, nguồn khách tới các vùng núi của châu Âu để trượt tuyết như dãy Alpơ…Hiện nay (nhất là từ năm

1975 trở lại đây), hướng vận động của khách du lịch ở khắp nơi trên toàn cầu Nguồn khách du lịch ngoài những nơi đã quen biết, nay lại phân tỏa đến những

nước mới phát triển du lịch để tìm hiểu và phát hiện những vấn đề mới mẻ như vùng châu Á – Thái Bình Dương…

- Xu hướng 3: Sự thay đổi trong cơ cấu chi tiêu của khách du lịch

Những năm trước đây tỷ trọng chi tiêu của khách dành cho các dịch vụ cơ

bản (ăn, ở, vận chuyển) chiếm phần lớn Hiện nay thì tỷ trọng chi tiêu của khách cho các dịch vụ bổ sung (mua sắm hàng hóa, đồ lưu niệm, tham quan,

giải trí) tăng lên Nhiều tài liệu trên thế giới đã tổng kết tỷ trọng dịch vụ cơ bản trên dịch vụ bổ sung trước đây là 7/3 thì nay là 3/7 Điều đó có nghĩa là tỷ trọng của chi tiêu cho dịch vụ cơ bản ngày càng giảm, hay nói cách khác là

mức chi tiêu của du lịch khách ngày càng tăng

Xu hướng 4: Sự thay đổi trong hình thức tổ chức chuyến đi của khách du lịch

Khách du lịch chỉ sử dụng một phần dịch vụ các tổ chức kinh doanh du lịch Nhiều khi họ không mua chương trình du lịch trọn gói, nhất là khách châu

Âu Vì theo phương thức này khách được hoàn toàn tự do trong chuyến đi, không phụ thuộc vào người khác Họ được quyết định những vấn đề như ăn, ngủ, thời gian lưu lại điểm du lịch dài hay ngắn, và lại thực hiện được việc tiết kiệm trong chuyến đi du lịch vì không phải trả các phí dịch vụ khác cho các tổ

chức lữ hành

Xu hướng 5: Sự hình thành các nhóm khách theo độ tuổi

Sự hình thành 3 nhóm khách trên thị trường du lịch thế giới là: khách du lịch là học sinh, sinh viên; khách du lịch là những người đang ở độ tuổi lao

Trang 20

động tích cực và khách du lịch lớn tuổi Loại khách thứ nhất và thứ ba quan tâm nhiều hơn đến giá cả và họ thường tìm đến các cuộc hành trình có giá cả

phải chăng

Xu hướng 6: Sự gia tăng các điểm đến du lịch trong một chuyến đi du lịch Trong những năm gần đây khách du lịch có xu hướng thích đi nhiều nước,

thăm nhiều điểm du lịch trong chuyến đi của mình

1.1.4.2 Nhóm xu h ướng phát triển của cung du lịch:

Xu hướng 1: Đa dạng hóa sản phẩm du lịch

Do cuộc cạnh tranh quyết liệt trong việc thu hút và phục vụ khách du lịch nên các quốc gia phát triển du lịch, các doanh nghiệp du lịch đưa ra chính sách

đa dạng hóa sản phẩm, đưa ra thị trường những sản phẩm độc đáo (đa dạng hoá các dịch vụ bổ sung, đưa các sản phẩm mang bản sắc dân tộc vào sản phẩm du lịch của mình…) Thời gian gần đây, các quốc gia đều phát triển mạnh loại hình

du lịch văn hóa thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc của riêng mình

Xu hướng 2: Phát triển hệ thống bán sản phẩm du lịch:

Các tổ chức lữ hành lớn trên thế giới vẫn tiếp tục giữ vị trí quan trọng trong việc tổ chức bán các sản phẩm du lịch Sẽ phát triển loại hình bán các chương trình du lịch đến tận nhà qua mạng Internet Xu hướng các doanh nghiệp du

lịch kết hợp tổ chức đón khách từ nước thứ ba ngày càng được khẳng định

Xu hướng 3: Tăng cường hoạt động truyền thông trong du lịch

Công nghệ thông tin ngày càng một phát triển, dẫn đến sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các doanh nghiệp du lịch trong việc thu hút và phục vụ khách Nhìn chung khách du lịch trên thế giới vẫn có thói quen đến nhiều

những nơi được nghe và xem quảng cáo Các chuyên gia về du lịch trên thế giới cho rằng, vai trò của hoạt động tuyên truyền và quảng cáo trong du lịch

Trang 21

Xu hướng 4: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong du lịch

Nhiều nước coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, có chiến lược là đưa du

lịch là ngành kinh tế hàng đầu hoặc thứ hai, thứ ba trong nền kinh tế quốc dân, chú trọng phát triển du lịch Ở những nước du lịch phát triển mạnh đã và đang diễn ra quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hoá du lịch, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ cao như điện tử tin học, vô tuyến viễn thông, tự động hóa, công nghệ sinh học…để phát triển công nghiệp lữ hành, công nghiệp khách sạn, công nghiệp vận chuyển khách du lịch Đội ngũ lao động của các tổ chức kinh doanh được đào tạo cơ bản, có kiến thức, hiểu biết rộng, chuyên môn vững vàng và ngoại ngữ thông thạo Trang thiết bị, phương tiện ở các khâu tác nghiệp rất hiện đại Công nghệ phục vụ từng lĩnh vực ngày càng được

cải tiến và nâng cao, đi sâu vào chuyên môn hóa ngành nghề

Xu hướng 5: Đẩy mạnh quá trình khu vực hóa

Xu hướng khu vực hóa, quốc tế hóa trong hoạt động du lịch ngày càng trở nên tất yếu Các tuyến du lịch giữa các nước được gắn kết với nhau đáp ứng nhu cầu đi du lịch nhiều nước trong một chuyến hành trình của khách Sản phẩm và dịch vụ du lịch đã được quốc tế hóa cao Nhiều tập đoàn kinh tế du lịch như chuỗi khách sạn, tập đoàn lữ hành có mặt nhiều nước trên thế giới Nhiều tổ chức du lịch khu vực hay toàn cầu được hình thành, giúp đỡ các nước thành viên phát triển du lịch, những nước du lịch phát triển cao có tiềm lực, để nghiên cứu phát triển công nghệ mới đang tìm cách chuyển giao công nghệ phát triển du lịch cho các nước đang phát triển

Những nước đang phát triển tuy gặp khó khăn về điểm xuất phát thấp của

nền kinh tế, trình độ dân trí chưa cao, ít kinh nghiệm phần lớn chỉ nhận được

sự chuyển giao công nghệ không hiện đại từ các nước đi trước, nhưng có lợi thế của người đi sau, rút kinh nghiệm phát triển du lịch của nhiều nước, tiếp thu công nghệ mới, có thể rút ngắn thời gian để phát triển hội nhập với du lịch

Trang 22

thế giới Hiện đại hóa, công nghiệp hóa du lịch nhưng các nước vẫn chú ý giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường trong hoạt động kinh doanh của mình

Xu hướng 6: Hạn chế tính thời vụ trong du lịch

Các nước du lịch tiên tiến trên thế giới ngày một tiến hành nhiều biện pháp

hữu hiệu hơn, nhằm hạn chế các tác động bất lợi của tính thời vụ trong du lịch

và kéo dài thời vụ du lịch

1.1.5 Vai trò của du lịch trong nền kinh tế:

Ngày 03 và 05 tháng 11/1994 tại OSAKA, Nhật Bản Hội nghị bộ trưởng

du lịch thế giới có các đoàn đại biểu của 78 nước và vùng, 18 chính quyền địa

phương và 5 quan sát viên Điểm 2 phần I của tuyên bố du lịch OSAKA khẳng định “Du lịch là nguồn lớn nhất tạo ra GDP và việc làm của thế giới, chiếm đến 1/10 mỗi loại, đồng thời đầu tư cho du lịch và các khoản thu từ thuế liên quan

tới du lịch tương ứng cũng tăng cao những sự gia tăng này cùng với các chỉ tiêu khác của du lịch dự đoán sẽ tiếp tục tăng trưởng một cách vững chắc và như vậy du lịch sẽ là đầu tàu kéo nền kinh tế thế giới trong thế kỷ XXI”

Tại Việt Nam, du lịch góp phần tích cực thực hiện chính sách mở cửa, thúc đẩy sự đổi mới và phát triển của nhiều ngành kinh tế khác Cũng thông qua du

lịch mà việc mở rộng giao lưu văn hóa được dễ dàng hơn, thông qua đó làm

tăng sự đoàn kết hiểu biết giữa các vùng, các dân tộc khác nhau

Với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay thì nhu cầu du lịch càng trở nên cần thiết và quan trọng trong đời sống tinh thần của mỗi người dân

Ngành du lịch ngày càng được cải thiện, đa dạng hoá sản phẩm do nhu cầu đòi hỏi khắt khe hơn của khách hàng Khách hàng bây giờ không đơn thuần là chỉ đi nghỉ dưỡng mà còn có nhu cầu tìm hiểu, khám phá, học hỏi, giao lưu…

Trang 23

tại những nơi họ muốn đến Vì vậy, việc đầu tư nghiên cứu ngành này là hết

sức quan trọng và cấp thiết

Đất nước chúng ta đang là điểm đến lý tưởng của nhiều du khách nước ngoài, thể hiện ở tốc độ tăng trưởng kinh tế, mang lại nguồn thu ngoại tệ rất lớn cho đất nước Cũng thông qua ngành này chúng ta đang cho thế giới thấy rằng:

Việt Nam đang trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đang năng động phát triển kinh tế và sẵn sàng cho việc hội nhập với thế giới

1.1.6 Một số bài học kinh nghiệm phát triển ngành du lịch:

Trong đề tài này chỉ muốn nêu ra một số bài học kinh nghiệm thu hút khách du lịch của các nước có ngành du lịch phát triển trong khu vực Các

nước như: Thailand, Singapore, Malaysia, Macao, Indonesia, Trung Quốc… đều có ngành du lịch rất phát triển So với lượng khách du lịch đến Việt Nam thì lượng khách đến với họ tăng rất nhanh trong những năm vừa qua và doanh thu từ du lịch cũng rất lớn

Việc họ thành công như vậy là do họ có những chiến lược phù hợp để khai thác thế mạnh về tự nhiên, lịch sử, văn hoá… và những nghệ thuật lôi cuốn khách hàng Chúng ta cũng dễ dàng thấy được sự thành công của họ là do họ tạo ra nhiều sân chơi nhằm kéo dài thời gian lưu trú của du khách, biết kết hợp các loại hình kinh doanh như mua sắm, thưởng thức đặc sản của địa phương,

giải trí… mà các nhà thiết kế các Tour du lịch đã bố trí hợp lý, bài bản từ trước Thành công của họ cũng cần phải xem xét đến khâu điều hành, quản lý, từ cấp chính quyền đến các doanh nghiệp tham gia khai thác du lịch Họ có sự tham gia của nhiều ngành, nhiều địa phương nhằm giảm giá tour du lịch thu hút khách hàng, kết quả là những tour du lịch giá rẻ của họ đã làm cho chúng ta mất đi lợi thế cạnh tranh

Trang 24

Khai thác kinh doanh du lịch của họ cũng không đơn thuần giống nhau: Malaysia, Hồng Kông kết hợp du lịch với mua sắm (họ có những trung tâm mua sắm rất lớn) Singapore thu hút khách du lịch bằng môi trường sống tốt và

sự tráng lệ của mình, Indonesia phát huy thế mạnh tự nhiên (đảo Bali…), Macao thu hút khách thông qua những tour du lịch đánh bạc, Trung Quốc phát huy thế mạnh về du lịch văn hoá, lịch sử, võ thuật và nhiều món ăn ngon hay

như Thái Lan công nhận du lịch Sex… Mỗi quốc gia đều chọn một thế mạnh riêng cho mình, thế mạnh đó có được là do điều kiện tự nhiên, văn hoá, lịch sử hình thành

Việt Nam chúng ta có điều kiện tự nhiên ưu đãi, có nhiều bãi biển đẹp, có nhiều di sản văn hóa của thế giới và đặc biệt là một đất nước có bốn ngàn năm

văn hiến với lịch sử chống ngoại xâm hào hùng… là cơ sở để phát huy thế mạnh du lịch Chúng ta luôn học hỏi kinh nghiệm của những nước có ngành du lịch phát triển trên thế giới cũng như khu vực nhằm áp dụng cho nước nhà Phát triển du lịch của mỗi nước phải gắn với nét đặc thù của nước đó, chúng ta không thể sao chép ngành du lịch đánh bạc của Macao hay du lịch Sex của Thái Lan cho du lịch của chúng ta

1.2 Một số lý luận cơ bản về chiến lược:

1.2 1 Khái niệm của chiến lược:

Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về chiến lược

- Theo Micheal Porter: “Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật xây dựng lợi thế cạnh tranh”

- Theo Alfred Chandler: “Chiến lược kinh doanh là xác định các mục tiêu

cơ bản và dài hạn của doanh nghiệp, lựa chọn các chính sách, chương trình hành động nhằm phân bổ các nguồn lực để đạt được mục tiêu đó”

Trang 25

- Theo James B.Quinn: “Chiến lược kinh doanh là dạng thức hay là một

kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các hành động thành một tổng thể kết dính lại với nhau”

- Theo William J.Glueck: “Chiến lược kinh doanh là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp được thiết kế để đảm bảo các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện”

(TS Nguyễn Văn Nghiến “Hoạch định chiến lược kinh doanh” – 2006 [5]) Tuy cách tiếp cận có khác nhau nhưng nội dung bao gồm:

- Xác định các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của tổ chức

- Đưa ra và chọn lựa các phương án thực hiện

- Triển khai và phân bổ các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu đó

Với một ngành, một địa phương thì chiến lược phát triển kinh tế là hệ thống các quan điểm, mục tiêu định hướng và chính sách cơ bản trong một thời

kỳ dài hạn nhằm thực hiện thành công đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước

Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về quản trị chiến lược và tuỳ theo từng cách tiếp cận khác nhau mà có những định nghĩa khác nhau, tuy nhiên có thể gom các khái niệm đó vào ba cách tiếp cận phổ biến:

Cách tiếp cận về môi trường: “Quản trị chiến lược là một quá trình quyết định nhằm liên kết khả năng bên trong của tổ chức với các cơ hội và đe doạ của môi trường bên ngoài”

Cách tiếp cận về mục tiêu và biện pháp: “Quản trị chiến lược là một bộ phận những quyết định và những hành động quản trị ấn định thành tích dài hạn của công ty”

Cách tiếp cận các hành động: “Quản trị chiến lược là tiến hành sự xem xét môi trường hiện tại và tương lai, tạo ra những mục tiêu của tổ chức, ra quyết định, thực thi những quyết định và kiểm soát việc thực hiện những quyết

Trang 26

định, nhằm đạt mục tiêu trong môi trường hiện tại và tương lai” (PGS TS Nguyễn Thị Liên Diệp, Th.S Phạm Văn Năm “Chiến lược và chính sách kinh doanh” - 2003 [14]).

Từ các cách tiếp cận đó, chúng ta có khái niệm: “Quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như tương lai”

Một chiến lược khi được hoạch định có hai nhiệm vụ quan trọng và hai nhiệm vụ đó có quan hệ mật thiết với nhau là việc hình thành chiến lược và thực hiện chiến lược Hai nhiệm vụ này được cụ thể hóa qua ba giai đoạn tạo thành một chu kỳ khép kín

1.2.2 Các giai đoạn của quản trị chiến lược:

- Giai đoạn xây dựng và phân tích chiến lược: là quá trình phân tích hiện trạng, dự báo tương lai, chọn lựa và xây dựng chiến lược phù hợp

- Giai đoạn triển khai chiến lược: là quá trình triển khai những mục tiêu, chính sách và kế hoạch của chiến lược vào hoạt động của doanh nghiệp Đây là quá trình phức tạp và khó khăn nhất đòi hỏi phải có một nghệ thuật quản trị cao

- Giai đoạn kiểm tra và thích nghi chiến lược: là quá trình đánh giá và kiểm soát kết quả, tìm các giải pháp để thích nghi chiến lược với hoàn cảnh môi trường

Các giai đoạn này có quan hệ với nhau theo một chu trình, và sự vận động của quá trình quản trị chiến lược sẽ làm cho nội dung và việc thực hiện các giai đoạn được bổ sung, điều chỉnh, đi lên theo đường xoáy xoắn ốc

Trang 27

Hình 1.1: Các giai đoạn của quản trị chiến lược

1.2.3 Vai trò của chiến lược:

Chúng ta dễ dàng thấy được vai trò quan trọng của chiến lược trong phát triển kinh tế Các quốc gia trên thế giới từ lâu đã biết vận dụng chiến lược vào việc phát triển kinh tế và đã có những bước nhảy thần kỳ Có thể nêu ra một số trường hợp điển hình như sau:

- Nhật Bản: Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nền kinh tế nước Nhật gần như kiệt quệ nhưng chỉ sau hơn hai thập kỷ đã trở thành một cường quốc kinh tế và công nghiệp đứng thứ hai trên thế giới (sau Mỹ) Kỳ tích đó có được là do nhiều nguyên nhân cả về khách quan lẫn chủ quan, nhưng ý nghĩa quyết định là những nỗ lực của con người Nhật đã có những chiến lược đúng đắn tập trung vào các lĩnh vực sau: Chiến lược tích lũy vốn ở mức cao liên tục trong mấy thập kỷ Chiến lược xây dựng cơ cấu sản xuất hướng mạnh vào công nghiệp trong đó tập trung vào công nghiệp chế tạo với kỹ thuật hiện đại (năng lượng, luyện kim, cơ khí điện tử, hoá chất) và hướng mạnh vào xuất khẩu, trở thành nước đi đầu áp dụng chiến lược hướng ngoại Thực thi các chiến lược khoa học

và công nghệ thông qua các chính sách hiệu quả khôn ngoan Vận dụng chiến

Hình thành, phân

tích, lựa chọn chiến lược

Triển khai chiến lược

Kiểm tra, thích nghi chiến lược

Trang 28

lược quản lý kết hợp các yếu tố hiện đại với các yếu tố truyền thống và đặc điểm dân tộc, kết hợp thế mạnh của phương Tây với truyền thống phương Đông Chiến lược ở tầm vĩ mô tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước phát triển như chính sách thuế, giá cả…

- Hàn Quốc: Sau cuộc chiến tranh 1950-1953, kinh tế nước này bị tàn phá nặng nề nhưng sau một số năm tái thiết và xây dựng họ đã trở thành một nước công nghiệp mới, một con rồng của Châu Á là nhờ những chiến lược đúng đắn như sau: Chiến lược hướng mạnh vào xuất khẩu; Chiến lược phát triển mạnh công nghiệp nặng và công nghiệp hoá chất, tranh thủ đi vào công nghệ hiện đại

để vừa từng bước thay thế nhập khẩu vừa từng bước tạo nguồn xuất khẩu mới; Chiến lược hiện đại hoá nông thôn, chú trọng hỗ trợ sản xuất lương thực; Chiến lược hỗ trợ khuyến khích các công ty trong nước mở rộng sản xuất, kinh doanh; Chiến lược thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, vay vốn và mua quyền sản xuất

- Malaysia, Indonesia và Thailand: Họ đã theo đuổi những chiến lược trung gian kết hợp với các khía cạnh ổn định và định hướng kinh doanh với việc thay đổi các mức độ can thiệp Do được thừa hưởng nguồn tài nguyên phong phú, các nước này đã tập trung khai thác và chế biến nguyên liệu thô Họ theo đuổi chiến lược xuất khẩu thông qua hợp tác ngoại thương và đầu tư trực tiếp Những nước này cũng theo đuổi chính sách bảo hộ và kích thích một số ngành công nghiệp nhất định phát triển, những yếu tố quan trọng trong quan điểm chiến lược của họ là mở cửa thương mại, thu hút đầu tư nước ngoài, ổn định chính trị và ổn định kinh tế vĩ mô Trong thập kỷ 80, chiến lược ổn định và mở cửa nền kinh tế là cơ sở lý tưởng để thu hút đầu tư từ các nước phát triển Họ

đã nổi lên là một nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới và thành công của

họ là sự dung hoà những chính sách với những đặc thù kinh tế

Trang 29

- Việt Nam: Nền kinh tế chúng ta cũng gặp rất nhiều khó khăn vì chiến tranh nhưng với chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội, chúng ta đã vượt qua những khó khăn bước đầu và từng bước đạt được những thắng lợi nhất định Từ đó đến nay chúng ta cũng đã vạch ra những chiến lược cụ thể như: giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, mở cửa nền kinh tế thu hút đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, đầu tư có chọn lựa, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực… Thành tựu mà chúng ta đạt được là rất quan trọng và thể hiện đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà Nước

1.2.4 Chi ến lược kinh doanh

1.2.4.1 C ăn cứ vào phạm vi của chiến lược, người ta chia chiến lược kinh doanh làm hai loại:

- Một là, chiến lược chung hay còn gọi là chiến lược tổng quát Chiến lược chung của đơn vị thường đề cập với những vấn đề quan trọng nhất, bao trùm

nhất và có ý nghĩa lâu dài Chiến lược chung quyết định những vấn đề sống còn của đơn vị

- Hai là, chiến lược bộ phận đây là chiến lược cấp hai Thông thường loại chiến lược bộ phận này gồm: chiến lược sản phẩm, chiến lược giá, chiến lược phân phối, chiến lược giao tiếp và chiến lược khuếch trương (chiến lược yểm

trợ bán hàng)

Chiến lược chung và chiến lược bộ phận liên kết với nhau thành một chiến lược kinh doanh hoàn chỉnh Không thể coi là một chiến lược kinh doanh, nếu chỉ có chiến lược chung mà không có chiến lược bộ phận được thể hiện bằng các mục tiêu và mỗi mục tiêu lại được thể hiện bằng một số chỉ tiêu nhất định

1.2.4.2 C ăn cứ vào hướng tiếp cận chiến lược thì chiến lược kinh doanh được chia làm bốn loại:

Trang 30

- Loại thứ nhất, chiến lược tập trung vào những nhân tố then chốt Tư

tưởng chỉ đạo của việc hoạch định chiến lược ở đây là, không dàn trải nguồn

lực, trái lại cần tập trung cho những hoạt động có ý nghĩa quyết định đối với sản xuất kinh doanh của đơn vị mình Ví dụ: đối với ngành công nghiệp dầu khí thì tìm nguồn nguyên liệu là một trong những nhân tố then chốt; đối với ngành chế tạo máy bay thì đó là thiết kế…

- Loại thứ hai, chiến lược dựa trên ưu thế tương đối Tư tưởng chỉ đạo hoạch định chiến lược ở đây bắt đầu từ sự phân tích, so sánh sản phẩm hay dịch vụ của mình đối với đối thủ cạnh tranh Thông qua sự phân tích đó, tìm ra điểm mạnh của mình làm chỗ dựa cho chiến lược kinh doanh Ví dụ, trong số

các loại sản phẩm thì đơn vị có ưu thế hơn các đơn vị khác sản phẩm nào hoặc trong một loại sản phẩm thì chi tiết nào Ưu thế tương đối có thể biểu hiện bằng nhiều mặt như: chất lượng hoặc giá bán sản phẩm, dịch vụ; hoặc công nghệ sản xuất, mạng lưới tiêu thụ…

- Loại thứ ba, chiến lược sáng tạo tấn công Trong loại chiến lược này, việc xây dựng được tiếp cận theo cách cơ bản là luôn nhìn thẳng vào những vấn đề vẫn được coi là phổ biến, khó làm khác được để đặt câu hỏi “Tại sao”, nhằm xét lại những điều tưởng như đã kết luận Từ việc đặt liên tiếp các câu hỏi và nghi ngờ sự bất biến của vấn đề, để có thể có được những khám phá mới làm

cơ sở cho chiến lược kinh doanh của đơn vị mình Ví dụ, một kỹ sư thấy trên

thị trường đang bán loại chăn sợi bằng điện nhưng có ghi dòng chữ: “Không được cuộn tròn và nằm lên chăn” Anh ta rất ngạc nhiên và đặt câu hỏi “Tại sao” Kết quả là anh ta đã sản xuất được loại chăn không cần dòng chữ nọ

Thực chất đây là việc tìm cách thay đổi luật chơi, đảo lộn hiện trạng, khai phá con đường mới để dành ưu thế

Trang 31

- Loại thứ tư, Chiến lược khai thác mức độ tự do Cách xây dựng chiến

lược ở đây không nhằm vào nhân tố then chốt mà nhằm vào khai thác khả năng

có thể có của các nhân tố bao quanh nhân tố then chốt

1.2.5 Quá trình hoạch định chiến lược

1.2.5.1 Xác định mục tiêu:

Mục tiêu là khái niệm dùng để chỉ những kết quả cụ thể mà doanh nghiệp mong muốn đạt được trong một giai đoạn nhất định và là cơ sở, nền tảng cho việc xây dựng, hình thành chiến lược Mục tiêu phải phù hợp với thực tế và phải xác định được thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc cũng như những căn

cứ để xác định thứ tự ưu tiên trong việc phân bổ nguồn lực

1.2.5.2 Phân tích môi tr ường hoạt động:

- Phân tích môi t rường bên ngoài: bao gồm môi trường vĩ mô và môi

trường vi mô:

+ Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô: bao gồm các yếu tố như yếu tố chính

trị, pháp luật, kinh tế, văn hóa – xã hội, công nghệ… trong quá trình xây dựng chiến lược chúng ta không bỏ qua phân tích các yếu tố này

+ Các yếu tố thuộc môi trường vi mô: đây là các yếu tố tác động trực tiếp đến ngành như yếu tố nhà cung cấp, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, các đối

thủ tiềm năng, các sản phẩm thay thế

- Phân tích môi tr ường bên trong: đây là các yếu tố trong nội bộ tổ

chức, các yếu tố này có thể kiểm soát được Các yếu tố như tình hình sản xuất, tài chính, kỹ thuật, nhân sự, phân phối, tiếp thị… sẽ giúp cho nhà hoạch định chiến lược thấy được điểm mạnh, điểm yếu so với đối thủ cạnh tranh

Trang 32

1.2.5.3 Ma tr ận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ (SWOT):

Mỗi tổ chức đều có cơ hội và mối đe dọa cũng như mặt mạnh và mặt yếu riêng, vấn đề ở đây là làm thế nào để tận dụng, sắp xếp, kết hợp chúng lại để hình thành nên các chiến lược khả thi mà tổ chức có thể lựa chọn Sau đây ta xem xét một phương pháp kết hợp cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh, điểm yếu

Phương pháp ma trận SWOT Để xây dựng một ma trận SWOT ta tiến hành theo 8 bước:

Bước 1: Liệt kê tất cả các điểm mạnh chủ yếu bên trong tổ chức như: vị

trí địa lý, cơ sở hạ tầng, nguồn tài nguyên

B ước 2: Liệt kê tất cả điểm yếu cơ bản trong tổ chức như: yếu tố tuyên

truyền quảng bá, nguồn nhân lực

B ước 3: Liệt kê tất cả cơ hội lớn từ môi trường bên ngoài mà tổ chức có

thể khai thác như: chính sách mở cửa hội nhập của nhà nước, mức tăng trưởng kinh tế…

B ước 4: Liệt kê các mối đe dọa trực tiếp từ bên ngoài đối với tổ chức

như: sự cạnh tranh rất lớn, hệ thống pháp luật, khả năng liên kết giữa các tổ chức…

B ước 5: Lựa chọn để kết hợp điểm mạnh bên trong với cơ hội bên ngoài

để hình thành chiến lược SO phù hợp rồi ghi vào ô tương ứng Đây là chiến

lược thuận lợi nhất mà doanh nghiệp nào cũng muốn hướng tới

B ước 6: Lựa chọn kết hợp những điểm yếu bên trong với những cơ hội

bên ngoài để hình thành chiến lược WO thích hợp rồi ghi vào ô tương ứng Đây là chiến lược khắc phục các điểm yếu bên trong bằng cách tận dụng các cơ

hội bên ngoài

B ước 7: Lựa chọn kết hợp điểm mạnh bên trong với mối đe dọa bên

ngoài để hình thành chiến lược ST rồi ghi vào ô tương ứng Đây là chiến lược

Trang 33

sử dụng thế mạnh của doanh nghiệp để hạn chế bớt hoặc tránh khỏi những tác động tiêu cực của môi trường bên ngoài đe dọa

B ước 8: Lựa chọn kết hợp điểm yếu bên trong với nguy cơ bên ngoài để

hình thành chiến lược WT Đây là chiến lược phòng thủ, khi doanh nghiệp ở vào tình trạng bất lợi nhất thì chiến lược WT có thể sẽ giúp cho doanh nghiệp

giảm đi những điểm yếu bên trong đồng thời tránh những mối đe dọa từ bên ngoài

Bảng 1.1: Ma trận SWOT giúp hình thành chiến lược

Trang 34

4… 4… các mối đe dọa

4…

Mục đích của mỗi công cụ kết hợp là để đề ra các chiến lược khả thi có thể

chọn lựa chứ không phải chọn lựa hay quyết định chiến lược nào là tốt nhất

Việc lựa chọn chiến lược nào phù hợp là còn phụ thuộc vào mục tiêu của từng

tổ chức

1.2.5.4 Lựa chọn chiến lược:

Căn cứ vào chức năng, mục tiêu, nhiệm vụ của mình mà tổ chức lựa chọn các phương án chiến lược phù hợp trong số những chiến lược được hình thành Ngoài ra chiến lược còn phải đáp ứng hiệu quả kinh tế, xã hội mà tổ chức yêu cầu.Việc lựa chọn chiến lược đúng đắn, phù hợp với tổ chức sẽ làm nên sự thành công của tổ chức đó

1.2.5.5 Th ực hiện chiến lược:

Thực hiện chiến lược là biến chiến lược kinh doanh thành hành động và đạt tới sự hội tụ, có một chiến lược kinh doanh tốt là rất khó, biến nó thành

hiện thực còn khó hơn rất nhiều Kế hoạch thực hiện muốn có hiệu quả phải đảm bảo sự nhất quán các mục tiêu và hoạt động

Phân bổ nguồn lực thực hiện chiến lược kinh doanh Việc thực hiện thành công các chiến lược kinh doanh luôn đòi hỏi những thay đổi trong việc

sử dụng các nguồn lực của đơn vị Do đó việc hoạch định kỹ lưỡng sự thay đổi trong việc sử dụng các nguồn lực đóng vai trò quan trọng Việc hoạch định sử dụng các nguồn lực sẽ quan tâm với những cấp độ khác nhau ở các cấp chiến lược khác nhau

Trang 35

1.2.5.6 Đánh giá chiến lược:

Đây là bước cuối cùng của quy trình quản trị chiến lược, nó cho ta biết chiến lược đề ra mang lại kết quả cần thiết nào để đạt được mục tiêu đã định,

nó thúc đẩy việc thực hiện mục tiêu giúp đơn vị định hướng rõ ràng về triển vọng thành tích của doanh nghiệp trong thời gian sắp tới

Kiểm tra và đánh giá chiến lược cung cấp thông tin góp phần tạo tiền đề cho việc hoạch định chiến lược cho kỳ kế hoạch tiếp theo Quá trình kiểm tra

và đánh giá kết quả gồm 6 bước sau:

 Xác định nội dung kiểm tra

 Đề ra mục tiêu kiểm tra

 Đo lường kết quả đạt được

 So sánh kết quả đạt được với tiêu chuẩn đề ra

 Xác định nguyên nhân sai lệch

 Tìm biện pháp khắc phục

Kết luận: Qua nghiên cứu chương I chúng ta thấy:

- Xây dựng chiến lược phải bảo đảm tuân thủ theo các bước như đã nêu ở trên, phải xác định được các mục tiêu dài hạn, các đảm bảo về nguồn lực, các chính sách cần thiết để thực hiện các mục tiêu đó

- Nội dung chiến lược được xây dựng rất phong phú và đa dạng với các loại hình khác nhau Vì vậy việc xây dựng chiến lược phải được xem xét gắn liền

với các yếu tố ảnh hưởng

- Việc lựa chọn chiến lược phải phù hợp với mục tiêu và định hướng chung của nhà nước và đặc thù của từng địa phương

- Kinh nghiệm từ những nước có ngành du lịch phát triển trên thế giới và

nhất là các nước có điều kiện phát triển ngành du lịch giống như chúng ta sẽ rất quan trọng, nó sẽ giúp cho chúng ta rất nhiều trong việc lựa chọn chiến lược phù hợp

Trang 36

CH ƯƠNG II:

THỰC TRẠNG NGÀNH DU LỊCH TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

2.1 Tiềm năng phát triển ngành du lịch tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu:

Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu được Quốc Hội nước CHXHCNVN quyết định thành lập ngày 12/8/1991, là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp

3 huyện Long Thành, Long Khánh, Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp huyện Cần Giờ Thành phố Hồ Chí Minh, phía Đông giáp huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thuận, phía Nam giáp Biển Đông Với diện tích 1975,14 Km2, tổng chiều dài bờ biển 305,4 km, dân số năm 2003 là khoảng 884.845 người Tỉnh nằm ở

vị trí rất đặc biệt, đây chính là cửa ngõ của các Tỉnh miền Đông Nam Bộ

hướng ra biển Đông Đó là điều kiện tốt, hội tụ nhiều tiềm năng để phát triển nhanh và toàn diện các ngành kinh tế biển như: Cảng biển và vận tải biển, khai thác chế biến thủy sản, khai thác dầu khí ngoài khơi và du lịch

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Tỉnh luôn đạt mức rất cao trong những năm

gần đây GDP trên địa bàn sau 5 năm tăng gần 2,55 lần, tốc độ tăng bình quân 31% cao nhất trong các Tỉnh miền Đông Nam Bộ và cao hơn rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng trung bình của cả nước

Bảng 2.1: Tổng sản phẩm GDP Bà Rịa - Vũng Tàu theo giá hiện hành

Trang 37

Hình 2.1: Biểu đồ tăng trưởng tổng sản phẩm GDP theo giá hiện hành

GDP/người tính theo giá hiện hành năm 2005 đạt 7.050 USD So với các Tỉnh khác trong cả nước thì tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có xuất phát điểm rất thuận

lợi và nếu duy trì được tốc độ tăng trưởng như vậy thì trong 10 năm tới Tỉnh sẽ

trở thành trung tâm kinh tế mạnh của cả nước

Từ lâu tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã được biết đến là trung tâm du lịch nghỉ mát, tắm biển của Việt Nam Trong tổng số 305,4 km chiều dài bờ biển có thể khai thác du lịch vì những bãi tắm đẹp cát dài thoai thoải như: Bãi Trước, Bãi Sau, Bãi Dâu, Bãi Dứa, Long Hải, Hồ Tràm, Bãi Cóc… Gắn liền với các bãi

tắm là hai khu rừng nguyên sinh: khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu, Phước Bửu với diện tích trên 11.000 ha và vườn quốc gia Côn Đảo có diện tích là 6.043 ha với nhiều loài cây và thú quý hiếm phù hợp cho du lịch sinh thái biển Tiềm năng phát triển du lịch của Tỉnh là rất lớn vì bên cạnh tốc độ tăng trưởng cao và ổn định của nền kinh tế, Tỉnh còn có lợi thế tự nhiên ưu đãi Chúng ta sẽ

thấy được tiềm năng đó một cách rõ nét khi phân tích tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn của Tỉnh

Trang 38

2.1.1 Tài nguyên tự nhiên:

Tài nguyên rừng: Bà Rịa-Vũng Tàu có khoảng 700 loài thực vật thân gỗ và thân tảo, là rừng tiêu biểu cho hệ sinh thái nhiệt đới-đại dương với rất nhiều gỗ quý Ngoài ra còn có rất nhiều loài động vật quý hiếm (khoảng 200 loài), rừng

và động vật hoang dã đang có nguy cơ bị tiêu diệt vì tình trạng khai thác bừa bãi Hiện nay tốc độ trồng mới khá nhanh, trung bình mỗi năm trồng mới khoảng 1300-2000 ha, nếu tốc độ này được duy trì trong vòng 5-6 năm tới diện tích rừng sẽ được khôi phục Tài nguyên rừng tập trung chủ yếu ở huyện Xuyên Mộc, Bình Châu và huyện Côn Đảo

- Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu: Có diện tích trên

11000 ha, phía Nam có 15 km bờ biển bao bọc Khu vực này có các đồi núi

nhỏ: Hồ Linh, Tầm Bồ, Bà Ma, Mộ Ông với độ cao trung bình từ 80-100 m Suối nước nóng Bình Châu cách bìa rừng 10 km về phía Đông Bắc Ở khu Bến Lội có một rạch nước khá sâu, rộng 300 m, ngăn cách giữa đất liền với bãi cát ngoài biển gần như là một ốc đảo Hệ thực vật phong phú đa dạng gồm 29 chi,

5 loài và các loài thực vật có giá trị dược liệu như Đỗ Trọng, Cam Thảo… Rừng còn có nhiều loài động vật như Voi, Sóc Bay, Khỉ, Chồn, Nai, Tắc Kè, Két, Sáo, Hoàng Anh, Gõ Kiến… khu vực Bàu Ngám tập trung những đàn Vịt Trời, Le Le và nhiều loài chim khác Khu vực này được khai thác phục vụ cho nhu cầu du lịch sinh thái, nếu tận dụng tốt khả năng của mình khu vực này sẽ là

một trong những khu vực phục vụ du lịch sinh thái nổi tiếng của cả nước

- Suối khoáng nóng Bình Châu: nằm lộ thiên giữa khu rừng quốc gia thuộc xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc, cách thị xã Bà Rịa khoảng 50km Suối

do một người Pháp phát hiện năm 1905, gọi là “Suối khoáng nóng Cù Mì”

Năm 1982, bác sĩ người Pháp Albert Sallet giới thiệu “Mạch Cù Mì” trên tạp

chí “Ng hiên cứu Đông Dương” (BSEI)

Trang 39

Vùng có mạch nước sôi thoát ra trên mặt đất rộng khoảng 1km2, gồm có nhiều hồ lớn, nhỏ, lưu lượng dòng chảy nhỏ và chậm Một vùng hồ rộng nhất khoảng 100m2, sâu khoảng 1m, là điểm nóng nhất nhiệt độ từ 70-800C

Điều đáng ngạc nhiên là tại khu vực suối nước nóng chảy ra, cây cỏ vẫn xanh tươi, tạo thêm nét kỳ thú của thiên nhiên

Công ty du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu đã đầu tư vào khu vực này, biến thành

nơi phục vụ khách đến tham quan, tắm nước khoáng và nghỉ ngơi Dòng nước nóng được làm nguội dần, rồi dẫn về hồ tắm chung và bồn tắm nhỏ bằng nhựa composit đặt dưới tàn cây ở trong rừng Nước nóng cũng được dẫn về tận các phòng riêng nơi nhà nghỉ của khách Gần đây Công ty du lịch “Sài Gòn – Bình Châu” (Góp vốn giữa Công ty du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu và Saigon Tourist) đã đầu tư biến nơi đây thành khu du lịch sinh thái

- Rừng quốc gia Côn Đảo: Nằm trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam với tổng diện tích là 6043 ha (chiếm 83,7% tổng diện tích tự nhiên của huyện Côn Đảo) và hơn 4 km hành lang đệm trên biển Rừng quốc gia Côn Đảo có mức độ đa dạng sinh học rất cao với 882 loài thực vật, 144 loài động vật và 1300 loài sinh vật biển Các khu rừng và các rạn san hô dưới biển chứa đựng hàng nghìn loài sinh vật sống phụ thuộc vào nhau, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và sự tồn tại của bất kỳ loài nào cũng đều quan trọng đối với toàn

bộ hệ sinh thái

Rừng quốc gia Côn Đảo là rừng nguyên sinh, thuộc hệ sinh thái rừng nhiệt đới hải đảo, đặc trưng của nhiều vùng sinh thái trong cả nước như hệ thực vật các Tỉnh Miền Bắc, Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long Tại đây cũng có nhiều loài động vật đặc trưng (chỉ có ở Côn Đảo) như Sóc Mun, Cá Heo (Delphinus), Cá Nược là những loài đang được thế giới quan tâm bảo vệ Hòn Trứng là một sân chim lớn, có chim Điên mặt xanh (chỉ có ở Côn Đảo), Ó Biển, Gẩm Gì trắng là những loài chim hiếm trên thế giới Ngoài

Trang 40

ra còn có 34 loài Ốc, có những loài có giá trị kinh tế như ốc đụn, ốc bàn tay, ốc tai tượng, ốc gấm và 9 loại San Hô

Hiếm có nơi nào được vẻ đẹp tự nhiên như Côn Đảo, một vùng đồi núi nhấp nhô trên biển soi bóng xuống làn nước xanh biếc quanh năm với bờ biển dài khoảng 200 km uốn lượn theo những ngọn núi cao thấp khác nhau, có nhiều bãi tắm đẹp như: bãi Đất Dốc, Bãi Cạnh, Đầm Trâu, Hòn Cau, Hòn Tre…và hệ

thống nhà tù nổi tiếng thời kháng chiến mà người dân chúng ta đều biết Môi trường tại đây rất trong lành, không khí, nguồn nước, bờ biển sạch sẽ, nhiệt độ bình quân khoảng 26-270C quanh năm mát mẻ Tất cả điều kiện trên giúp cho huyện Côn Đảo có thế mạnh phát triển các loại hình du lịch phong phú như du

lịch tắm biển, nghỉ ngơi, du lịch sinh thái, du lịch tham quan di tích lịch sử

Lượng khách du lịch đến đây ngày càng tăng (mỗi năm đón tiếp khoảng hàng trăm ngàn lượt khách), và theo rất nhiều chuyên gia trong lĩnh vực du lịch thì huyện Côn Đảo có đủ điều kiện để trở thành trung tâm du lịch nổi tiếng của

Ngày đăng: 26/02/2021, 14:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm