U Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đề tài thực hiện các phân tích và đánh giá và phân tích thực trạng môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần may xuất khẩu Sơn Hàbê
Trang 1Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
mở đầu
U
Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong
những năm qua nền kinh tế đã có những bước phát triển đáng kể Sự phát triển
kinh tế đã kéo theo sự phát triển tất yếu của xã hội Bên cạnh đó, xu thế hội
nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra trên toàn cầu và Việt Nam không nằm ngoài
xu thế đó Tất cả các yếu tố trên đã làm cho môi trường kinh doanh của các
doanh nghiệp trở nên phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro Với môi trường kinh
doanh đầy biến động như vậy, việc tổ chức quản lý hoạt động sản xuất kinh
doanh ở các doanh nghiệp sao cho hiệu quả, đảm bảo sự phát triển bền vững là
một vấn đề quan trọng đặt ra cho các doanh nghiệp Và để giải quyết vấn đề
này thì việc phân tích và xây dựng các giải pháp chiến lược là cần thiết đối với
tất cả các doanh nghiệp Chiến lược kinh doanh là phương hướng cho doanh
nghiệp hoạt động, nó giúp doanh nghiệp tập trung có hiệu quả và hợp lý các
nguồn lực của mình để thực hiện các mục tiêu đã chọn
Công ty cổ phần may xuất khẩu Sơn Hà là một doanh nghiệp vừa và nhỏ
trong lĩnh vực sản xuất, gia công xuất khẩu hàng dệt may Đây là một ngành
kinh tế lớn của Việt Nam, đứng thứ hai về kim ngạch xuất khẩu và có nhiều
khởi sắcđóng góp vào tốc độ phát triển kinh tế cao của Việt Nam trong những
năm gần đây Tuy nhiên còn có rất nhiều khó khăn chung cho ngành cũng như
cho Công ty nói riêng Để tạo sức mạnh, bước đi vững chắc ngay từ đầu trong
sự nghiệp phát triển của mình thì hoạch định, xây dựng một chiến lược kinh
doanh với các mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn là việc làm rất quan trọng
và cần thiết, đảm bảo tận dụng tối đa các cơ hội và giảm thiểu các rủi ro mang
lại từ môi trường kinh doanh Do vậy, đề tài “ Một số định hướng và giải pháp
chiến lược củacho Công ty cổ phần may xuất khẩu Sơn Hà đến năm 2015” là
Formatted: Vietnamese
Formatted: Vietnamese Formatted: Highlight Formatted: Vietnamese
Trang 2Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
những hướng mở giúp Công ty phát huy sức mạnh sẵn có tận dụng thời cơ
vươn lên đứng vững trên thị trường
U
Mục đích của đề tài:
Vận dụng những lý luận về xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh
nghiệp vào việc nghiên cứu đưa ra các luận cứ và định hướng xây dựng giải
pháp chiến lược kinh doanh tại Công ty cổ phần may xuất khẩu Sơn Hà đến
năm 2015
U
Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài dựa trên phương pháp thống kê phân tích và phân tích tổng hợp để
nghiên cứu phân tích quá trình và môi trường kinh doanh bên ngoài và bên
trong Công ty, trên cơ sở vận dụng mô hình SWOT, từ đó để xây dựng các
giải pháp chiến lượcđịnh hướng phát triển của Công ty cổ phần may xuất
khẩu Sơn Hà
U
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài thực hiện các phân tích và đánh giá và phân tích thực trạng môi
trường hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần may xuất khẩu
Sơn Hàbên ngoài và bên trong, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp chiến lược
cho công ty đến năm 2015.vận dụng mô hình SWOT để xây dựng và đề xuất
một số giải pháp chiến lược cho Công ty giai đoạn 2009 -2015
Đề tài tập trung sử dụngnghiên cứu dựa vàophân tích số liệu của Công ty
và của ngành trong 2 năm 2007 -– 2008gần đây để đề xuất giải pháp chiến
lược cho giai đoạn đến 2015
U
Phương pháp nghiên cứu
thu thập số liệu: nguồn, loại số liệu
pp (công cụ) phân tích: …
vận dụng mô hình SWOT để xây dựng và đề xuất một số giải pháp chiến
lược cho Công ty giai đoạn 2009 -2015
Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese
Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Font: Bold
Formatted: Underline
Trang 3Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
U
Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương I1: Cơ sở lý luận về chiến lược kinh doanh và quản trị chiến lược
doanh nghiệp
Chương II2: Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh và môi trường
kinh doanmôi trường chiến lượch của công ty cổ phần may xuất khẩu Sơn Hà
Chương III3: Một số định hướng và giải pháp chiến lược cho Công ty cổ
phần may xuất khẩu Sơn Hà đến năm 2015
Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng với
khả năng nghiên cứu của bản thân còn hạn chế, thông tin và tài liệu còn giới
hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót cần tiếp tục được nghiên
cứu, trao đổi Do vậy, tác giả rất mong có sự chỉ bảo, đóng góp của thầy cô và
những người có quan tâm để đề tài được hoàn thiện
Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn các thầy cô giáo trườngkhoa Kinh tế
và Quản lý, trường Đại học Bách Khoa - Hà Nội và đặc biệt cảm ơn TS Đặng
Vũ Tùng đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ hoàn thành luận văn này
Formatted: Vietnamese
Formatted: Vietnamese
Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese
Formatted: Vietnamese
Formatted: Vietnamese
Trang 4Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
Cơ sở lý luận về chiến lược kinh doanh và quản trị
chiến lược
1.1 Một số vấn đề chung về chiến lược kinh doanh
1.1 1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh
Thuật ngữ chiến lược kinh doanh có từ thời xa xưa, nó xuất phát từ nghệ
thuật quân sự, với ý nghĩa là phương pháp, cách thức điều khiển và chỉ huy
các trận đánh Theo thời gian, nhờ tính ưu việt của nó, chiến lược đã phát triển
Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese
Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese
Trang 5Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
sang các lĩnh vực khoa học khác như : chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội, công
nghệ
Trong lĩnh vực quản lý doanh nghiệp, chiến lược phát triển muộn hơn vào
nửa đầu thế kỷ XX Đầu những năm 1950 xuất hiện một số các chủ trương, ý
tưởng hoạch định chiến lược trong các doanh nghiệp chủ yếu dựa trên cơ sở
phân tích các tiềm lực tài nguyên
Đã có nhiều quan điểm khác nhau về chiến lược kinh doanh do xuất phát
từ các cách tiếp cận khác nhau
Theo cách tiếp cận cạnh tranh, Micheal Porter cho rằng: “Chiến lược kinh
doanh là nghệ thuật xây dựng lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ“
Theo cách tiếp cận coi chiến lược cạnh tranh là một phạm trù khoa học
quản lý, Alfred Chandler viết: “Chiến lược kinh doanh là việc xác định các
mục tiêu cơ bản và dài hạn của doanh nghiệp, lựa chọn các chính sách,
chương trình hành động nhằm phân bổ các nguồn lực để đạt được các mục
tiêu cơ bản đó“
Theo cách tiếp cận kế hoạch hoá, Jame B.Quinn cho rằng: “Chiến lược
kinh doanh đó là một dạng thức hay là một kế hoạch phối hợp, các mục tiêu
chính , các chính sách và các chương trình hành động thành một tổng thể kết
dính lại với nhau”
Theo William J.Glueck: “Chiến lược kimnh doanh là một kế hoạch mang
tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp được thiết kế để đảm bảo rằng
các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện”
Tuy có nhiều cách tiếp cận và quan điểm khác nhau nhưng chiến lược vẫn
bao hàm các nội dung chính:
- Xác định các mục tiêu ngắn và dài hạn của doanh nghiệp
- Đề ra và lựa chọn các giải pháp hỗ trợ để đạt được mục tiêu
- Triển khai và phân bổ nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó
Formatted: Vietnamese
Trang 6Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
Như vậy chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu là một tập
hợp thống nhất các mục tiêu, các chính sách và sự phối hợp các hoạt động của
các đơn vị kinh doanh trong chiến lược tổng thể của doanh nghiệp Đó là một
quá trình nghiên cứu môi trường để nhận diện các cơ hội và đe doạ, phân tích
nội bộ tổ chức để xác định những mặt mạnh, mặt yếu để từ đó đề ra hướng đi
trong tương lai của doanh nghiệp, nhằm giúp doanh nghiệp chủ động trong
hoạt động kinh doanh, giành được lợi thế trong cạnh tranh
1 1.2 Các yêu cầu của chiến lược kinh doanh
Chiến lược kinh doanh cần phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:
- Chiến lược kinh doanh phải xác định rõ những mục tiêu cơ bản cần phải
đạt được trong từng thời kỳ và cần phải quán triệt ở mọi cấp, mọi lĩnh vực hoạt
động trong doanh nghiệp hoặc tổ chức
- Chiến lược kinh doanh phải khả thi: Nội dung, mục tiêu của chiến lược
phải phù hợp thực tế của doanh nghiệp, phù hợp với lợi ích của mọi người
trong doanh nghiệp, phải phù hợp với các mục tiêu của doanh nghiệp
- Chiến lược kinh doanh phải đảm bảo huy động tối đa và kết hợp một cách
tối ưu việc khai thác và sử dụng các nguồn lực củacuả doanh nghiệp trong
kinh doanh nhằm phát huy được những lợi thế, nắm bắt những cơ hội để
dànhđể giành ưu thế trong cạnh tranh
- Chiến lược kinh doanh phải có tính linh hoạt đáp ứng sự thay đổi từ môi
trường
- Chiến lược kinh doanh phải đảm bảo được sự an toàn trong kinh doanh cho
doanh nghiệp
- Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp được phản ánh trong một quá
trình liên tục từ xây dựng đến thực hiện, đánh giá, kiểm tra, điều chỉnh chiến
lược
- Chiến lược kinh doanh được lập ra đối với các doanh nghiệp
Formatted: Vietnamese
Trang 7Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
1 1.3 Vai trò của chiến lược kinh doanh đối với các doanh nghiệp
- Chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp thấy rõ những cơ hội và thách
thức trong kinh doanh, từ đó đưa ra các chính sách phát triển phù hợp nhằm
đạt được mục tiêu đã đề ra
- Chiến lược kinh doanh giúp các nhà quản trị dự báo được những bất trắc
rủi ro sẽ xảy ra trong hiện tại cũng như trong tương lai, từ đó dựa trên tiềm lực
của doanh nghiệp để chủ động đối phó với những tình huống xấu này
- Chiến lược kinh doanh giúp các nhà quản trị sử dụng một cách có hiệu quả
các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp và phân bổ chúng một cách hợp lý
- Chiến lược kinh doanh phối hợp các bộ phận trong doanh nghiệp một cách
tốt nhất giúp các thành viên phát huy được tính năng động sáng tạo để đạt
được mục tiêu chung
1 2 Phân loại chiến lược
1 2.1 Chiến lược cấp công ty
Chiến lược cấp công ty là loại chiến lược thường đề cập đến những vấn đề
quan trọng nhất, bao trùm nhất, nó vạch ra mục tiêu phát triển cho doanh
nghiệp trong khoảng thời gian dài Chiến lược cấp công ty quyết định những
vấn đề sống còn của doanh nghiệp
Chiến lược cấp công ty được chia ra thành các loại sau:
1 2.1.1 Chiến lược tăng trưởng tập trung
Chiến lược tăng trưởng tập trung là loại hình chiến lược tăng trưởng bằng
cách tập trung nguồn lực vào việc phát triển một hoặc một vài đơn vị kinh
doanh chiến lược mà doanh nghiệp tự chủ về công nghệ sản xuất và có nhiều
ưu thế về nguồn lực và vị thế cạnh tranh Bản chất của chiến lược này là loại
hình chiến lược chuyên môn hoá, không tập trung đầu tư dàn trải mà chỉ tập
trung vào những lĩnh vực có thế mạnh
Formatted: Vietnamese
Formatted: Vietnamese
Trang 8Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
Ưu điểm của chiến lược này là chất lượng sản phẩm cao vì chuyên môn
hoá sâu, có vị thế cạnh tranh và thị phần lớn Doanh nghiệp có thể tiết kiệm
chi phí sản xuất và có điều kiện để trang bị thiết bị chuyên dùng tự động hoá
có năng suất cao
Bên cạnh những ưu điểm đó khi áp dụng chiến lược này doanh nghiệp có
thể gặp rủi ro cao khi có sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng và thay đổi trong môi
trường kinh doanh Do vậy chiến lược này thường áp dụng đối với những
doanh nghiệp có sản phẩm tiêu chuẩn hoá và nhu cầu sản phẩm lớn, ổn định
Chiến lược tăng trưởng tập trung gồm các hình thức sau:
Chiến lược thâm nhập thị trường: là chiến lược làm tăng quy mô doanh số
của doanh nghiệp bằng cách chiếm thị phần của đối thủ cạnh tranh trong
phạm vi thị trường cũ Không mở rộng phạm vi và quy mô thị trường Đối với
hình thức này doanh nghiệp phải tạo ra được ưu thế nổi trội so với đối thủ
cạnh tranh
Chiến lược phát triển thị trường: là loại hình tăng trưởng bằng cách mở
rộng phạm vi hoạt động của thị trường: Từ thị trường trong nước ra thị trường
nước ngoài, mở rộng đối tượng khách hàng hoặc là các biện pháp kích thích
làm tăng tiêu dùng trong phạm vi tiêu dùng hiện có
Chiến lược cải tiến sản phẩm: Trên cơ sở sản phẩm cũ, doanh nghiệp đưa
ra được nhiều mẫu mã sản phẩm hơn, cải tiến những tính năng tác dụng của
sản phẩm nhằm thoả mãn nhiều đối tượng khách hàng hơn, nhờ đó kích thích
được tiêu dùng giúp doanh nghiệp thâm nhập và mở rộng thị trường
1 2.1.2 Chiến lược tăng trưởng đa dạng hoá
Chiến lược tăng trưởng đa dạng hoá là loại hình chiến lược tăng trưởng của
doanh nghiệp bằng cách thâm nhập vào một đơn vị kinh doanh chiến lược
hoặc một lĩnh vực kinh doanh chiến lược mới
Xét theo đối tượng ta có các loại chiến lược tăng trưởng đa dạng hoá sau:
Trang 9Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
- Đa dạng hoá sản phẩm: là việc trên cơ sở thị trường cũ, chiến lược sản
phẩm cũ tăng thêm danh mục sản phẩm
- Đa dạng hoá thị trường: là việc mở rộng thêm khúc thị trường mới cho sản
phẩm
- Đa dạng hoá công nghệ: là việc doanh nghiệp sử dụng các phương pháp
công nghệ mới để sản xuất vẫn với chính sách sản phẩm và thị trường cũ
Phương pháp công nghệ mới ở đây thường là phương pháp gia công mới, vật
liệu mới
- Đa dạng hoá hoàn toàn
Xét theo mục đích chiến lược tăng trưởng đa dạng hoá bao gồm :
- Đa dạng hoá sử dụng vốn dư: Thường gặp đối với doanh nghiệp đang hoạt
động trong một lĩnh vực kinh doanh chiến lược có sự hấp dẫn cao, vị thế cạnh
tranh của doanh nghiệp mạnh Mục đích của chiến lược thường là duy trì vị
thế cạnh tranh trong lĩnh vực hoạt động nào đó Khi mục đích đó đã được thực
hiện mà doanh nghiệp có một lượng tài chính dư thừa thì khi đó các doanh
nghiệp vẫn nghĩ đến chiến lược đa dạng hoá bằng cách tăng thêm ngành nghề
kinh doanh hoặc các đơn vị kinh doanh mới với mục đích nhằm sử dụng
nguồn lực tài chính dư thừa cho nên thường là tìm kiếm những ngành nghề có
khả năng sinh lợi lớn và quan điểm hiệu quả trong trường hợp này của các giải
pháp chiến lược là các quan điểm đầu tư
- Đa dạng hoá thích ứng: Thường đối với một doanh nghiệp hoạt động trong
một lĩnh vực kinh doanh hấp dẫn, nhưng vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp
không cao Mục đích chiến lược của doanh nghiệp là duy trì lĩnh vực hoạt
động và nâng cao vị thế cạnh tranh trong lĩnh vực này Trường hợp này các
doanh nghiệp vẫn có thể tiến hành chiến lược đa dạng hoá đồng tâm (chiến
lược đa dạng hoá sản phẩm, đa dạng hoá thị trường,đa dạng hoá công nghệ)
nhằm tìm kiếmtìm kiến sự cộng hưởng của các đơn vị kinh doanh chiến lược
Trang 10Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
với nhau, nhờ đó mà vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp cũng tăng lên Để
đánh giá hiệu quả của phương án chiến lược này người ta không tách riêng
hiệu quả của đơn vị kinh doanh mới mà phải tính chung với các đơn vị kinh
doanh cũ
- Đa dạng hoá tái phát triển: Thường thấy ở doanh nghiệp hoạt động trong
một lĩnh vực kinh doanh có sự hấp dẫn ngành kém nhưng vị thế cạnh tranh
của doanh nghiệp trên thị trường lớn Nếu có tiềm lực tài chính thì các doanh
nghiệp này thường nghĩ đến việc đa dạng hoá lĩnh vực kinh doanh có sự hấp
dẫn cao hơn và có khả năng sinh lời nhiều hơn
- Đa dạng hoá sống còn: Thường thấy ở doanh nghiệp hoạt động trong một
lĩnh vực kinh doanh có sự hấp dẫn ngành kém, vị thế cạnh tranh yếu cho nên
nếu không đa dạng thì sẽ đe doạ sự tồn tại của doanh nghiệp Mục đích là tìm
kiếm lĩnh vực kinh doanh mới nhằm duy trì sự sống còn của doanh nghiệp
Thông thường người ta tìm kiếm những đơn vị kinh doanh chiến lược, những
lĩnh vực kinh doanh dễ chuyển đổi
1 2.1.3 Chiến lược tăng trưởng hội nhập
Chiến lược tăng trưởng hội nhập là chiến lược tăng trưởng của doanh
nghiệp bằng cách tăng cường sự kiểm soát hoặc nắm quyền sở hữu của một
hoặc một số doanh nghiệp khác
Theo hướng phát triển người ta có các hình thức tăng trưởng hội nhập sau:
- Tăng trưởng hội nhập dọc: là việc tăng trưởng bằng cách doanh nghiệp
tăng cường sự kiểm soát với các nhà cung cấp hoặc các nhà cung cấp nhằm
củng cố, đảm bảo vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp về lâu dài Hội nhập dọc
về phía trước là doanh nghiệp mua hoặc đầu tư vào kinh doanh những hoạt
động của khách hàng của mình Hội nhập dọc về phía sau là doanh nghiệp đầu
tư hoặc kinh doanh các sản phẩm hoặc dịch vụ của nhà cung cấp
Trang 11Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
- Tăng trưởng hội nhập ngang: là việc tăng trưởng bằng cách tăng cường sự
kiểm soát hoặc nắm quyền sở hữu của một hoặc một số đối thủ cạnh tranh
Bản chất của tăng trưởng hội nhập ngang là chiến lược tăng trưởng chuyên
môn hoá, tăng trưởng trên nền sản phẩm cũ, mở rộngmở rông quy mô
2.1.4.1.2.1.4 Chiến lược suy thoái
Chiến lược suy thoái thường áp dụng với các sản phẩm ở giai đoạn cuối
của chu kỳ sống sản phẩm Khi nhu cầu sản phẩm bị suy giảm, sự hấp dẫn
chiến lược của ngành thấp, vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp không cao thì
khi đó người ta áp dụng các loại hình chiến lược suy thoái từ thấp đến cao
Gồm có các hình thức sau:
- Chiến lược cắt giảm chi phí: Tiến hành cắt giảm một số loại chi phí như chi
phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm, chi phí tuyển dụng và đào tạo, tinh
giảntinh giảm bộ máy quản lý…
- Chiến lược thu hoạch: Mục đích là tìm cách tăng phần thu nhập bằng tiền
từ lĩnh vực hoạt động đó càng nhanh càng tốt
- Chiến lược thu hồi vốn đầu tư: Có thể nhượng lại hoặc thanh lý một số thiết
bị công nghệ trong dây chuyền sản xuất
- Chiến lược giải thể: Bán một lĩnh vực hoạt động, bán một doanh nghiệp
hoặc giải thể một lĩnh vực thông qua chuyển giao công nghệ
2.2 1.2.2 Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh
1 2.2.1 Chiến lược giá rẻ khối lượng lớn (dẫn đầu ngành bằng giá thấp)
Chiến lược này chỉ được áp dụng với các đơn vị kinh doanh ở đó quy mô
và kinh nghiệm có thể tạo ra những ưu thế trong cạnh tranh lâu dài
Một chiến lược thống trị bằng giá thấp cần vốn đầu tư lớn cho các trang bị
hiện đại nhất, một chính sách thương mại mạnh mẽ để có được thị phần lớn
thật nhanh, một sự kiểm tra chặt chẽ các loại chi phí sản xuất, một sự hoàn
Formatted: Bullets and Numbering
Formatted: Bullets and Numbering
Trang 12Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
thiện quá trình sản xuất, một hệ thống phân phối ít tốn kém, một cơ cấu bộ
máy quản lý doanh nghiệp chặt chẽ và hợp lý…
Chiến lược này cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải đạt được sự ngang bằng
với các nhà cạnh tranh về phương diện khác biệt hoá sản phẩm, hoặc ít ra cũng
là sấp xỉ ngang bằng, nghĩa là doanh nghiệp cung cấp một sản phẩm giống sản
phẩm của các nhà cạnh tranh khác
Cuối cùng chiến lược đòi hỏi nhà sản xuất để có giá thành sản phẩm thấp
phải phát hiện và khai thác tất cả các nguồn ưu thế về giá như tiết kiệm quy
mô, công nghệ đặc biệt, nguồn nguyên liệu thuận lợi, tương hợp và cộng
hưởng với các đơn vị sản xuất khác của doanh nghiệp
Một trạng thái thuận lợi về giá sẽ củng cố vị trí cạnh tranh của doanh
nghiệp vì nó cho phép chống lại sự tấn công của các nhà cạnh tranh, thu phục
được những khách hàng có quyền lực lớn muốn mua rẻ và thu phục các nhà
cung cấp có quyền lực lớn muốn tăng giá các yếu tố sản xuất Hơn nữa với giá
thành sản phẩm thấp doanh nghiệp có thể nâng cao rào chắn vào của ngành,
làm nản lòng những người muốn nhập ngành tiềm năng và đảm bảo cho doanh
nghiệp thoát khỏi sự đe doạ của các sản phẩm thay thế
2.2.2 Chiến lược khác biệt hoá
Là chiến lược nhằm tạo ra những tính chất độc đáo, duy nhất về chất lượng
sản phẩm hoặc dịch vụ kèm theo Qua đó doanh nghiệp có thể duy trì và thu
hút thêm khách hàng hoặc bán sản phẩm với giá cao Tính độc đáo, duy nhất
mà chính sách này tạo ra có thể là hình dáng, thẩm mỹ, độ tin cậy cao, chất
lượng, công nghệ hoặc dịch vụ như trợ giúp kỹ thuật, dịch vụ sau bán hàng…
Một sự khác biệt hoá muốn thành công phải thể hiện tính sáng tạo lớn và
phải có khả năng thương mại lớn, một sự phối hợp tốt giữa các chức năng
nghiên cứu phát triển và thương mại…Chiến lược này cũng đòi hỏi phải đạt
được sự ngang bằng (hoặc gần bằng) về giá đối với các nhà cạnh tranh khác
Trang 13Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
Chiến lược khác biệt hoá sản phẩm cho phép doanh nghiệp có vị trí ổn định
Chiến lược khác biệt hoá sản phẩm trong nhiều trường hợp là chiến lược
đắt tiền vì phải đầu tư nhiều cho công tác nghiên cứu phát triển sản phẩm và
chi phí thương mại lớn Điều đó cũng làm hạn chế thị phần của doanh nghiệp
1 2.2.3 Chiến lược trọng tâm hoá
Chiến lược này dựa vào sự tập trung hướng tới một nhóm khách hàng, một
loại sản phẩm, một khu vực địa lý và chiếm lĩnh một vị trí không thể thay thế
trên một vùng cụ thể dựa vào lợi thế giá, đặc tính khác biệt của sự cung ứng
đưa ra hoặc cả hai
Chiến lược này trái với hai chiến lược trên, doanh nghiệp không hoạt động
trong phạm vi toàn ngành mà chỉ nhằm một khúc thị trường và cố gắng phục
vụ thật tốt khúc thị trường đó
Chiến lược này đòi hỏi trong khúc thị trường mục tiêu, doanh nghiệp phải
có khả năng thoả mãn nhu cầu tốt hơn và có hiệu quả cao hơn các nhà cạnh
tranh hoạt động trong một phạm vi rộng hơn
Doanh nghiệp có thể thực hiện chiến lược trọng tâm hoá thông qua hai
phương thức : chi phí thấp hoặc khác biệt hoá Nói cách khác doanh nghiệp
thực hiện chiến lược chi phí thấp hoặc khác biệt hoá chỉ trong khúc thị trường
đã chọn nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh
1 2.3 Chiến lược chức năng
Trang 14Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
Chiến lược chức năng được xây dựng và phát triển nhằm phát huy năng
lực, phối hợp các hoạt động khác nhau ở từng bộ phận chức năng, tối đa hoá
hiệu suất nguồn lực, cải thiện và nâng cao kết quả hoạt động ở từng bộ phận
chức năng để đạt tới những mục tiêu của chiến lược cấp kinh doanh cũng như
cả tổng thể công ty
1 2.3.1 Chiến lược Marketing
Trước hết, với chiến lược phát triển sản phẩm, doanh nghiệp có thể tạo ra
sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu cho các thị trường hiện tại hoặc các thị trường
mới Hoặc với những sản phẩm hiện có, công ty có thể dùng chiến lược phát
triển thị trường nhằm chiếm được thị phần lớn hơn ở những thị trường hiện tại,
hoặc phát triển các thị trường mới Khi sản phẩm ở cuối của chu kỳ sống,
doanh nghiệp cố gắng kéo dài đời sống sản phẩm bằng cách tung ra các hình
thức mới và hoàn thiện hơn về sản phẩm hoặc bao bì nhằm hấp dẫn khách
hàng Hoặc doanh nghiệp cũng có thể thực hiện chiến lược phát triển “thị
trường thứ hai”, nghĩa là tiếp cận thị trường bằng một sản phẩm đã rất thành
công ở một thị trường khác
Ngoài ra doanh nghiệp có thể sử dụng các chiến lược Marketing khác về
thị trường, phân phối, giá cả hoặc quảng cáo, khuyến mại
1 2.3.2 Chiến lược tài chính
Mục tiêu của chiến lược tài chính là xây dựng quỹ và thiết lập một cấu trúc
tài chính phù hợp giúp cho doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đã đặt ra Nó
sẽ xem xét các quyết định chiến lược của doanh nghiệp ở góc độ tài chính và
chọn ra quyết định tốt nhất
Một vấn đề quan trọng của chiến lược tài chính là hoạch định về dòng tiền
và xem xét tương quan giữa nợ và vốn, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh nhiều
biến động, khó có thể dự đoán được Chính sách về cổ tức cũng là một phần
quan trọng trong chiến lược tài chính Các doanh nghiệp ở những ngành tăng
trưởng nhanh như máy tính và công nghệ phần mềm thường giữ lại phần lớn
Trang 15Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
lợi nhuận, lẽ ra đã chia cổ tức, để thoả mãn nhu cầu vốn cho tái đầu tư Sự tăng
trưởng nhanh và lợi nhuận sẽ thể hiện ở giá trị cao của cổ phiếu Những doanh
nghiệp không ở mức tăng trưởng nhanh có thể dùng mức chia cổ tức cao và ổn
định để làm giá trị cổ phiếu của mình được thêm phần hấp dẫn
1 2.3.3 Chiến lược sản xuất
Chiến lược sản xuất sẽ xác định xem sản phẩm sẽ được sản xuất như thế
nào và ở đâu, quyết định về mức độ hội nhập dọc cần thiết, sự xắp xếp các
nguồn lực và mối quan hệ với người cung cấp Chiến lược cạnh tranh của công
ty là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chiến lược sản xuất và ngược lại
chiến lược sản xuất phải được thiết kế nhằm đạt tới các mục tiêu của chiến
lược cạnh tranh
1 2.3.4 Chiến lược công nghệ
Công nghệ là phương tiện để dẫn đến thành công cho bất cứ một doanh
nghiệp nào Trong điều kiện yếu tố công nghệ đã trở nên quan trọng, các
doanh nghiệp ngày càng chú trọng đến việc xây dựng chiến lược công nghệ
Theo Michael E.Porter, các doanh nghiệp có thể chọn là người tiên phong
hoặc theo sau về công nghệ để đạt được lợi thế cạnh tranh về chi phí thấp hoặc
khác biệt hoá, được thể hiện ở mô hình sau:
Cố gắng bắt chước để tránh chi phí nghiên cứu và phát triển
Formatted: English (United States)
Formatted: Font: Bold, English (United States) Formatted: Centered
Formatted: English (United States)
Trang 16Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
hoạt động với chi phí thấp
Học tập kinh nghiệm của người đi trước nhằm làm cho sản phẩm hoặc hệ thống phân phối gần gũi, thoả mãn nhu cầu khách hàng
1 2.3.5 Chiến lược con người
Tất cả các mục tiêu đã đặt ra đều được thực hiện bởi con người, do đó
chiến lược nguồn nhân lực có ý nghĩa quyết định Sự thành công của tổ chức
phụ thuộc vào năng lực và sự nhiệt tình của đội ngũ những người lao động
trong công ty Trong những năm gần đây, chiến lược nguồn nhân lực đã nhận
được sự quan tâm đặc biệt của tất cả các tổ chức Các doanh nghiệp theo đuổi
việc có được một nguồn nhân lực tốt nhất, và làm tất cả để những người lao
động đạt tới điều tốt nhất mà họ có thể đạt tới
Liên quan đến năng lực, các chiến lược về nguồn nhân lực quan tâm đến
việc tuyển những người tốt nhất, đào tạo và phát triển họ liên tục, suốt đời để
người lao động có thể đáp ứng được những đòi hỏi của sự phát triển chiến
lược Năng lực của người lao động không chỉ được quan tâm ở năng lực
chuyên môn sâu mà còn chú trọng ở năng lực sáng tạo, làm việc theo đội, hợp
tác, thông tin và thích ứng nhanh với sự thay đổi… Sự tích cực nhiệt tình
tham gia và trở thành người chủ thực sự của công ty nhận được sự quan tâm
đặc biệt Chiến lược nguồn nhân lực phải đặt sự chú trọng cao và động cơ làm
việc, ý nghĩa của công việc, sự hấp dẫn của công việc và văn hoá tổ chức…
qua đó đảm bảo có được một đội ngũ nhân viên được động viên cao độ trong
việc đạt tới các mục tiêu chiến lược đã đề ra
Formatted
Trang 17Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
1 3 Quy trình hoạch định chiến lược doanh nghiệp
1 3.1 Khái niệm hoạch định chiến lược
Trong kinh doanh, hoạch định chiến lược chỉ bắt đầu được nghiên cứu
một cách thực sự từ những năm 1950 của thế kỷ 20 Năm 1960, Igor Ansoff
đã cho xuất bản các công trình nghiên cứu của mình về chiến lược kinh doanh
Những năm 1970 vấn đề chiến lược kinh doanh đã được phát triển mạnh mẽ
bởi các nghiên cứu của nhóm tư vấn Boston BCG, nhóm GE Từ năm 1980 các
công trình của Michael Porter về chiến lược kinh doanh đã thu hút sự chú ý
của nhiều doanh nghiệp Từ năm 1990 đến nay, hoạch định chiến lược kinh
doanh đã trở nên phổ biến trong kinh doanh hiện đại Trong các công trình
nghiên cứu, các tác giả đã đưa ra các định nghĩa về hoạch định chiến lược
kinh doanh khác nhau, tuỳ theo cách tiếp cận Tuy nhiên, về cơ bản có thể
hiểu khái niệm hoạch định chiến lược kinh doanh như sau:
Hoạch định chiến lược kinh doanh là một quá trình tư duy nhằm tạo lập
chiến lược kinh doanh trên cơ sở nghiên cứu và dự báo các thông tin cơ bản
về môi trường kinh doanh Hoạch định chiến lược kinh doanh nhằm vào một
thời gian dài, thông thường là từ 5 năm trở lên, do vậy nó phải dựa trên cơ sở
dự báo dài hạn Hoạch định chiến lược kinh doanh cũng là giai đoạn khởi đầu
của quá trình hoạch định trong doanh nghiệp đồng thời là một chức năng của
quản trị chiến lược Giai đoạn hoạch định chiến lược kinh doanh bao gồm việc
phát triển nhiệm vụ, chức năng, xác định cơ hội và nguy cơ, chỉ rõ điểm mạnh,
yếu, thiết lập các mục tiêu chiến lược, nghiên cứu các giải pháp chiến lược và
chọn lựa giải pháp chiến lược để theo đuổi Hoạch định chiến lược không
những phác thảo tương lai mà doanh nghiệp cần đạt tới mà còn phải vạch ra
các con đường để đạt tới tương lai đó
Quá trình hoạch định chiến lược kinh doanh chủ yếu tập trung làm rõ mục
tiêu mà doanh nghiệp cần vươn tới, đồng thời dự kiến các phương thức để đạt
được các mục tiêu này Hoạch định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 18Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
là một giai đoạn không thể tách rời của quá trình quản trị chiến lược: hoạch
định chiến lược, thực hiện chiến lược, kiểm soát chiến lược Đây là một quá
trình liên tục trong đó các giai đoạn có tác động qua lại với nhau tạo thành
một chu kỳ chiến lược
1 3.2 Các căn cứ để xây dựng chiến lược kinh doanh
Để đảm bảo chiến lược kinh doanh đạt yêu cầu, khi xây dựng chiến lược
kinh doanh cần phải nghiên cứu và phân tích kỹ các điều kiện bên trong và
điều kiện bên ngoài của doanh nghiệp Đây chính là các căn cứ để xây dựng
chiến lược cho bất cứ một doanh nghiệp nào Việc phân tích căn cứ xây dựng
chiến lược kinh doanh tập trung vào 3 nội dung chính là phân tích môi trường
vĩ mô, phân tích môi trường vi mô và phân tích môi trường nội bộ doanh
nghiệp
1 3.2.1 Phân tích môi trường vĩ mô
Môi trường kinh doanh vĩ mô bao hàm các yếu tố nằm bên ngoài doanh
nghiệp định hướng và có ảnh hưởng đến các môi trường ngành và môi trường
nội bộ và tạo ra cơ hội và nguy cơ của doanh nghiệp.Trong môi trường vĩ mô
nổi lên 5 yếu tố quan trọng, đó là môi trường kinh tế, chính trị và pháp luật,
văn hoáhóa xã hội, tự nhiên và công nghệ
1 3.2.1.1 Môi trường kinh tế
Trong môi trường kinh doanh các yếu tố về mặt kinh tế dù ở bất kỳ một
cấp độ nào cũng có vai trò quan trọng và quyết định hàng đầu Nó là một yếu
tố vô cùng quan trọng bởi nó tác động trực tiếp và năng động hơn so với một
số yếu tố khác Sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và các quốc
gia nói riêng có khuynh hướng làm dịu bớt các tác động chính trị trong lĩnh
vực kinh doanh của doanh nghiệp vì nó làm tăng nhu cầu tiêu dùng của dân
chúng Ngược lại, sự khủng hoảng kinh tế làm giảm nhu cầu tiêu dùng, tạo ra
sự cạnh tranh về giá cả trong các ngành kinh doanh Các yếu tố phản ánh như:
Trang 19Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
Mức phát triển kinh tế; Dân số ; Tổng sản phẩm quốc dân; Bình quân thu nhập
tính theo đầu người; Hạ tầng cơ sở xã hội; Nguồn tài nguyên thiên nhiên; Khí
hậu; Sự gia tăng khối kinh tế trong vùng ; Chính sách tài chính tiền tệ; Tính
chất cạnh tranh; Tỷ giá hối đoái; Hệ thống thuế; Lãi suấtLãi xuất ngân hàng;
Mức lương tiền công;
Hệ thống kinh tế thế giới hiện nay đang vận động theo những xu hướng
chính:
- Khu vực hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới Sự phát triển mang
tính bùng nổ của khoa học công nghệ trên toàn cầu Nền kinh tế thế giới
chuyển từ trạng thái lưỡng cực sang trạng thái đa cực với sự hình thành nhiều
trung tâm kinh tế và các mối liên kết kinh tế mới Xu hướng đối thoại, hợp tác,
thay thế cho xu hướng đối đầu, biệt lập Cạnh tranh kinh tế ngày càng gay gắt
hơn
- Xu hướng về sự phát triển của vòng cung Châu á - Thái Bình Dương
Các xu hướng này tạo nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp có thể tự khẳng
định mình không chỉ trong nước mà còn ở tầm cỡ quốc tế Đây là thách thức
lớn đối với mọi doanh nghiệp Các chính sách kinh tế khác nhau và kết quả
thực hiện ở các nước khác nhau sẽ ảnh hưởng đến tỷ giá cân bằng tương
đương của đồng tiền nước đó Điều đó có thể tạo khó khăn hoặc thuận lợi cho
các nhóm doanh nghiệp khác nhau
Doanh nghiệp có thể nhận thức rõ những cơ hội và đe doạ của môi trường
kinh tế bằng các phương pháp dự báo thích hợp như mô hình Wharton,
phương pháp toán kinh tế, phương pháp Delphi Các nhân tố thuộc môi trường
này tác động đến doanh nghiệp theo các hướng sau:
- Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân cao sẽ làm cho thu nhập và
khả năng thanh toán của dân cư tăng lên, nhu cầu về số lượng sản phẩm hàng
hoá, dịch vụ tăng lên về chủng loại chất lượng, thị hiếu dẫn đến tăng quy mô
Trang 20Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
thị trường tạo ra cơ hội tốt cho các doanh nghiệp bởi sức mua hàng hoá và
dịch vụ tăng sẽ tác động đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Đòi hỏi
doanh nghiệp phải nắm bắt và đáp ứng lại nhu cầu của khách hàng Lúc này
kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao tức là hiệu quả kinh doanh trong các doanh
nghiệp cao, khả năng tích tụ và tập trung tư bản lớn, việc xác định chiến lược
phát triển kinh doanh cho doanh nghiệp là hết sức quan trọng, doanh nghiệp
cần đẩy mạnh sản xuất hay hạn chế sản phẩm hàng hoá dịch vụ gì, có thể đầu
tư phát triển sản phẩm, có cơ hội kinh doanh và tăng cường hiệu quả và phát
huy tối đa nguồn lực doanh nghiệp
- Lãi suất cho vay của ngân hàng cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến chính
sách hoạch định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là những
doanh nghiệp thiếu vốn phải vay ngân hàng Nếu tỷ lệ lãi suất cao thì chi phí
của các doanh nghiệp tăng lên do trả lãi tiền vay lớn làm cho mức lời của
doanh nghiệp sẽ giảm đi từ đó làm ảnh hưởng tới việc soạn thảo các chiến
lược kinh doanh của doanh nghiệp có nhu cầu huy động vốn trong những điều
kiện thay đổi của môi trường và làm giảm tính cạnh tranh của doanh nghiệp,
nhất là trong trường hợp các đối thủ cạnh tranh có tiềm lực về vốn Đồng thời
khi lãi suất cao sẽ khuyến khích người dân sẽ gửi tiết kiệm nhiều và hạn chế
tiêu dùng, dẫn đến làm giảm khả năng tiêu thụ hàng hoá của các doanh nghiệp
nói chung
- Xu hướng của tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng tiền quốc gia nói chung
và từng doanh nghiệp nói riêng nhất là trong điều kiện kinh tế mở như hiện
nay có tác động trực tiếp tới việc hoạch định chiến lược kinh doanh nhất là
trong khâu tiêu thụ sản phẩm và thu mua nguyên vật liệu Nếu đồng nội tệ lên
giá thì các doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn trở ngại khi thực hiện các
chiến lược kinh doanh ở thị trường nước ngoài vì khi đó giá bán của sản phẩm
hàng hoá tính bằng ngoại tệ sẽ cao hơn đối thủ nước ngoài Đồng thời trong
nước lúc này lại khuyến khích nhập khẩu vì giá hàng hoá nhập khẩu giảm và
Trang 21Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
như vậyvâỵ các sản phẩm trong nước so với hàng nhập khẩu sẽ gặp bất lợi
ngay ở thị trường trong nước Ngược lại khi đồng nội tệ giảm khả năng thực
hiện các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp sẽ gặp nhiều thuận lợi trong
cả thị trường trong nước và ngoài nước
- Xu hướng tăng giảm của thu nhập thực tế bình quân đầu người là yếu tố
tác động trực tiếp đến quy mô và tính chất của thị trường trong tương lại Phản
ứng của khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp nói riêng và nhu cầu
tiêu thụ của mỗi cá nhân có tính quyết định đến việc chọn lựachon lựa các
chiến lược phát triển hay thu hẹp khả sản xuất của các doanh nghiệp
- Mức độ lạm phát của nền kinh tế quốc dân: Lạm phát cao hay thấp đều
có ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của các doanh nghiệp Nếu lạm phát gia
tăng nhanh hơn dự đoán trong chiến lược kinh doanh sẽ làm tăng giá cả yếu tố
đầu vào và tăng giá thành vượt mức dự báo dẫn đến giá bán tăng sản phẩm
khó cạnh tranh trên thị trường, xuất hiện thiếu hụt tài chính cho sản xuất kinh
doanh dẫn đến chiến lược kinh doanh không được thực thi Vậy nên khả năng
dự báo chính xác mực đọ và tình trạng lạm phát sẽ là rất quan trong để chiến
lược kinh doanh đạt hiệu quả tốt
1 3.2.1.2 Môi trường chính trị và pháp lý
Các thể chế kinh tế xã hội như các chính sách, quy chế, định chế, luật lệ,
chế độ tiền lương, thủ tục hành chính do Chính phủ đề ra cũng như mức độ
ổn định về chính trị, tính bền vững của chính phủ đều là những môi trường có
thể tạo ra cơ hội hay nguy cơ đối với kinh doanh và nhiều khi quyết định sự
tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp
Thể chế chính trị ổn định, một hệ thống pháp luật rõ ràng, nghiêm minh sẽ
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp yên tâm tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh Nó còn là tiền đề cho việc phát triển các hoạt động đầu tư, phát triển
các hoạt động kinh tế, khuyến khích các hoạt động cạnh tranh lành mạnh giữa
các doanh nghiệp Trong một môi trường càng ổn định bao nhiêu thì khả năng
Trang 22Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
xây dựng và triển khai thực hiện các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
càng gặp nhiều thuận lợi bấy nhiêu Bên cạnh đó việc hoàn thiện hệ thống
pháp luật, các chính sách, chế độ đồng bộ sẽ đảm bảo quyền tự chủ cho các
doanh nghiệp và để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, phù hợp với xu
hướng hội nhập của nền kinh tế thế giới Trong yếu tố luật pháp phải kể đến
các chính sách thuế quan, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách về môi
trường v.v đây là những yếu tố có tác động rất lớn đến hoạt động và quá
trình xây dựng chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và đặc
biệt là với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành cơ khí vì nó ảnh hưởng
đến các kế hoạch về việc thiết lập công nghệ, thiết bị sản xuất, các sản phẩm
sản xuất và nguồn tài chính cần thiết để trang trải cho mọi hoạt động Điều
này có ý nghĩa đặc biệt đối với một doanh nghiệp cơ khí nói riêng và các
doanh nghiệp nói chung muốn vươn ra thị trường thế giới
1 3.2.1.3 Môi trường xã hội
Văn hoá ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo hai
hướng: ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng buộc các công ty phải
thích nghi; ảnh hưởng đến hành vi của các nhà kinh doanh, các nhà chính trị,
nhà chuyên môn Những yếu tố xã hội như dân số, quan điểm tiêu dùng,
cách sống, văn hoá ảnh hưởng tới việc soạn thảo và thực thi các chiến lược
kinh doanh:
- Quan điểm tiêu dùng hàng hoá dịch vụ của dân cư các vùng, các địa
phương, các dân tộc, và quan điểm tiêu dùng của giới tính, điều kiện xã hội,
trình độ văn hoá, giáo dục, phong tục tập quán, lối sống, thị hiếu, thói quen
tiêu dùng, tín ngưỡng, tôn giáo… đều tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến
việc hình thành thị trường, quy mô thị trường do đó tác động tới nội dung
chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp theo cả 2 hướng tích cực và tiêu cực
Doanh nghiệp kinh doanh ở một thị trường có quan điểm tiêu dùng ổn định,
Trang 23Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
trân trọng hàng hoá dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất sẽ tạo ra những điều
kiện thuận lợi cho doanh nghiệp soạn thảo và thực hiện chiến lược kinh doanh
- Phong cách sống tác động đến nhu cầu hàng hoá dịch vụ gồm chủng
loại chất lượng số lượng hình dáng mẫu mã từ đó yêu cầu doanh nghiệp phải
đề ra các chiến lược kinh doanh phù hợp để đáp ứng
- Tốc độ tăng dân số, sự chuyển dịch dân số từ vùng này sang vùng khác;
từ địa phương; này sang địa phường khác cũng là yếu tố tác động tích cực đến
nội dung soạn thảo chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bởi vì
điều đó làm tăng khúc thị trường, tăng quy mô thị trường, tăng số lượng và
chủng loại hàng hoá dịch vụ và ảnh hưởng tới tình hình về nhân lực, lực
lượng lao động dự trữ
Thị trường = sức mua + dân số + động cơ mua
- Các nhân tố về văn hoá có ảnh hưởng rất chậm chạp, tuy nhiên nó cũng
rất sâu sắc đến môi trường kinh doanh, sự xung đột về văn hoá xã hội, lợi ích
trong quá trình mở cửa và hội nhập đã đặt các yếu tố này ở vị trí quan trọng
trong các yếu tố chung của môi trường kinh doanh hiện nay Sự khác nhau về
phong tục tập quán, thói quen tiêu dùng của mỗi nước cũng ảnh hưởng đến
khả năng triển khai các kế hoạch, ký kết hợp đồng kinh doanh, và xây dựng
chiến lược sản phẩm sang các thị trường khác nhau của mỗi doanh nghiệp
Điều này sẽ thuận lợi cho các doanh nghiệp trong điều kiện nắm bắt được thị
hiếu, phong tục, tập quán và các quan điểm tiêu dùng của thị trường mà
doanh nghiệp đang xây dựng và triển khai chiến lược kinh doanh nhưng sẽ là
khó khăn cho các doanh nghiệp khi muốn thâm nhập và mở rộng thị trường
tiêu thụ sản phẩm
1 3.2.1.4 Môi trường tự nhiên
Các yếu tố tự nhiên như khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, nguồn năng lượng
môi trường tự nhiên được coi là những yếu tố quan trọng đối với sự phát triển
Trang 24Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
nhiều ngành công nghiệp và các doanh nghiệp Sự khai thác tài nguyên bừa
bãi, nạn ô nhiễm môi trường nước, môi trường đất, môi trường không khí đang
đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết ở cấp quốc gia và quốc tế nên không thể coi
là ngoài cuộc đối với các doanh nghiệp Luật lệ và dư luận xã hội đòi hỏi kinh
doanh của các doanh nghiệp tuân thủ ngày càng nghiêm ngặt các chuẩn mực
môi trường, đảm bảo sự phát triển của doanh nghiệp với sự phát triển bền vững
của nền kinh tế
Tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt cũng đặt ra cho các doanh nghiệp những
định hướng như thay thế nguồn nguyên liệu, tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả
cao nguồn tài nguyên thiên nhiên của nền kinh tế
Với các doanh nghiệp dệt may thì trong các yếu tố đầu vào, các yếu tố
nhiên liệu, nguyên liệu, năng lượng đóng vai trò quan trọng trong quá trình
sản xuất Sự giàu có của các yếu tố tài nguyên này giúp cho doanh nghiệp có
khả năng đảm bảo tốt các điều kiện cho quá trình sản xuất Bên cạnh đó với
các yêu cầu ngày càng cao của xã hội về việc bảo vệ môi trường đất, môi
trường nước và môi trường không khí đòi hỏi các doanh nghiệp cơ khí phải
cân nhắc tính toán kỹ lưỡng khi lựa chọn các công nghệ sản xuất và công nghệ
xử lý chất thải công nghiệp
1 3.2.1.5 Môi trường công nghệ
Đây là yếu tố môi trường ảnh hưởng lớn đến chiến lược kinh doanh của
ngành và nhiều doanh nghiệp Sự biến đổi công nghệ làm chao đảo nhiều lĩnh
vực nhưng lại làm xuất hiện nhiều lĩnh vững kinh doanh mới hoàn thiện hơn
Trong các lĩnh vực điện tử, tin học, công nghệ sinh học, công nghiệp cơ khí
doanh nghiệp phải quan tâm nhiều hơn tới sự thay đổi công nghệ Phải dành
số vốn nhất định cho nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ để hạn chế
sự ảnh hưởng của môi trường này
Mặt khác, đứng trước mỗi sự thay đổi trong công nghệ của ngành, doanh
nghiệp cần nhận thức được sự thách đố đối với mình hay là cơ hội để áp dụng?
Trang 25Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
Nhờ có vốn lớn có thể mua được sáng chế, áp dụng ngay công nghệ nới để
vươn lên hàng đầu trước các đối thủ cạnh tranh, vì tiến bộ kỹ thuật công nghệ
ảnh hưởng một cách trực tiếp và quyết định đến chất lượng và giá bán sản
phẩm
Các yếu tố công nghệ hoặc liên quan đến công nghệ trên thế giới như: R
&D, bản quyền công nghệ, khuynh hướng tự động hoá, bí quyết công nghệ,
chuyển giao công nghệ đều có thể vừa là cơ hội, vừa là nguy cơ đối với một
doanh nghiệp Sự phát triển của khoa học công nghệ giúp các doanh nghiệp có
cơ hội có được các thế hệ công nghệ mới, qua đó có thể trang bị lại các cơ sở
vật chất kỹ thuật của mình, đáp ứng sự phát triển trong chiến lược kinh doanh
Công nghệ phát triển mạnh làm chu kỳ sống của sản phẩm bị rút ngắn lại, bởi
vậy trong chiến lược kinh doanh doanh nghiệp cần thiết phải thể hiện được
chiến lược công nghệ trong từng thời kỳ, mức độ phát triển và nhịp độ đổi
mới công nghệ, tốc độ phát triển sản phẩm mới, chuyển giao kỹ thuật mới
trong ngành mà doanh nghiệp hoạt động
Tuy nhiên sự bùng nổ của khoa học công nghệ mới cũng làm lỗi thời các
công nghệ cũ, đe doạ các sản phẩm truyền thống, đòi hỏi doanh nghiệp phải
đổi mới công nghệ để đáp ứng nhu cầu sản phẩm, từ đó tạo điều kiện cho việc
lựa chọn các chiến lược kinh doanh tối ưu hơn, đem lại cơ hội cho doanh
nghiệp như tạo điều kiện để sản xuất ra sản phẩm rẻ hơn, chất lượng cao hơn
làm tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp
Tóm lại, việc phân tích môi trường công nghệ giúp cho doanh nghiệp thấy
rõ khuynh hướng phát triển và sự tác động của khoa học công nghệ đến hoạt
động tổ chức sản xuất kinh doanh của mình, từ đó nhận ra các cơ hội và nguy
cơ do yếu tố này đem lại để căn cứ vào đó xây dựng và lựa chọn một chiến
lược kinh doanh tối ưu nhất cho doanh nghiệp
1 3.2.2 Phân tích môi trường vi mô
Trang 26Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố bên ngoài tác động trực tiếp đến
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh
tranh trong một ngành, một lĩnh vực hoạt động Nhiệm vụ của các nhà chiến
lược là nhận dạng và phân tích các yếu tố của môi trường đó xem chúng tác
động đến chiến lược phát triển của doanh nghiệp như thế nào, từ đó nhận định
các cơ hội và những nguy cơ tiềm ẩn đối với chiến lượckinh doanh của doanh
nghiệp
1 3.2.2.1 Đối thủ cạnh tranh hiện tại
Đối thủ cạnh tranh là các công ty đang cùng hoạt động cùng ngành kinh
doanh với doanh nghiệp đang tìm cách tăng doanh thu bán hàng, tăng lợi
nhuận bằng những chính sách và biện pháp tạo ra những bất lợi cho doanh
nghiệp Vì dung lượng thị trường có hạn, các doanh nghiệp cạnh tranh giành
nhau thị phần bằng cách dùng các biện pháp giảm giá, quảng cáo, khuyến
mại, thuyết phục khách hàng, cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm tạo ra
những nét khác biệt trong cung cấp sản phẩm và dịch vụ, tạo ra giá trị cho
khách hàng
Cường độ của sự cạnh tranh này có thể dự liệu trên cơ sở tương tác những
yếu tố như các tổ chức có tốc độ tăng trưởng công nghiệp, cơ cấu chi phí cố
định và mức độ đa dạng hoá sản phẩm
Mức độ cạnh tranh của một ngành thể hiện qua 3 yếu tố cơ bản sau đây:
* Cơ cấu cạnh tranh : Đó là sự phân bổ số lượng các doanh nghiệp tầm cỡ
trong ngành theo quy mô, tiềm lực cạnh tranh, khu vực thị trường, thị trường
mục tiêu và thị trường nắm giữ Một ngành bao gồm nhiều nhà cạnh tranh có
tiềm lực ngang nhau thường cạnh tranh khốc liệt
* Nhu cầu thị trường và chu kỳ sống sản phẩm : Sự tăng giảm nhu cầu
được coi là nhân tố kích thích sự cạnh tranh trong ngành mạnh nhất Nừu sản
phẩm đang trong giai đoạn phát triển của chu kỳ sống thì mức độ cạnh tranh
sẽ không gay gắt, nhưng nếu nhu cầu chững lại hoặc có chiều hướng suy
Trang 27Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
giảm,tăng sản lượng của nhà sản xuất này sẽ kéo theo sự suy giảm sản lượng
của nhà sản xuất khác thì cường độ cạnh tranh trở nên gay gắt hơn
* Rào chắn ra khỏi ngành : Mỗi ngành sản xuất có các yếu tố tạo nên rào
chắn nhập ngành thì cũng có các yếu tố tạo ra rào chắn ngăn cản không cho
doanh nghiệp ra khỏi ngành Rào chắn ra khỏi ngành càng cao mật độ cạnh
tranh càng lớn và ngược lại Rào chắn có thể là kỹ thuật, tâm lý, xã hội, pháp
lý hoặc chiến lược Đối với các doanh nghiệp ngành cơ khí thì rào chắn ra
khỏi ngành tương đối cao, đó là các rào chắn về vốn, kỹ thuật đây là những
yếu tố liên quan trực tiếp nhất với doanh nghiệp khi muốn ra khỏi ngành Mức
độ đầu tư vốn và công nghệ kỹ thuật trong các doanh nghiệp cơ khí rất lớn
Việc ra khỏi ngành sẽ làm thiệt hại lớn về vốn và công nghệ, khó có thể thu
hồi lại đầy đủ số đã đầu tư Do vậy nên mức độ cạnh tranh trong ngành cơ khí
khá cao
Các doanh nghiệp phải phân tích mỗi đối thủ cạnh tranh để có được hiểu
biết về những hành động của họ Nội dung phân tích đối thủ cạnh tranh là tìm
hiểu những điều đối thủ cạnh tranh muốn đạt đến và những điều đối thủ cạnh
tranh đang làm và có thể làm được Sự am hiểu về các đối thủ cạnh tranh
chính có tầm quan trọng đến mức có thể nó cho phép đề ra các thủ thuật phân
tích đôí thủ cạnh tranh và duy trì hồ sơ về các đối thủ trong đó có các thông
tin thích hợp về từng đối thủ cạnh tranh chính được thu nhận một cách hợp
pháp
Trên cơ sở đó nhận diện được những cơ hội và những thách thức của doanh
nghiệp do đối thủ cạnh tranh mang lại, từ đó có những giải pháp, những kế
hoạch phù hợp trong việc xây dựng chính sách sản phẩm và đối phó với đối
thủ cạnh tranh khi xây dựng chiến lược kinh doanh
Bao gồm các công ty hiện chưa có mặt trong lĩnh vực hoạt động đó, nhưng
có khả năng tham gia vào ngành trong tương lai
Formatted: Bullets and Numbering
Trang 28Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
Nguy cơ đe doạ của thành phần này là có khả năng chiếm thị phần của các
nhà sản xuất hiện tại, làm giảm lợi nhuận trung bình của ngành trong tương
lai, điều đó buộc các doanh nghiệp phải phán đoán và ứng phó
Khi phân tích mức độ đe doạ của những người nhập ngành tiềm năng
người ta thường đi đến phân tích các yếu tố tạo nên raò chắn nhập ngành, đó
là tập hợp các yếu tố ngăn cản những người mới tham gia vào kinh doanh
trong một ngành công nghiệp nào đó Nừu rào chắn nhập ngành cao, sự đe doạ
của nó sẽ thấp và ngược lại Mặc dù không phải bao giờ hãng cũng gặp phải
đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn Song nguy cơ đối thủ mới hội nhập vào ngành vừa
chịu ảnh hưởng đồng thời cũng có ảnh hưởng đến chiến lược của doanh
nghiệp
Việc phân tích đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn để có phương án bảo trợ vị thế
của doanh nghiệp Nhìn chung đối với các doanh nghiệp dệt may thì mối đe
doạ của nhân tố này cũng là tương đối lớn do các rào chắn của ngành tương
đối thấp như các rào chắn về quy mô sản xuất, rào chắn về vốn, rào chắn về
công nghệ kỹ thuật, rào chắn về chi phí chuyển đổi mặt hàng Tuy nhiên
không có nghĩa là có thể bỏ qua yếu tố này khi xây dựng chiến lược kinh
doanh cho doanh nghiệp mà vẫn phải có những quan tâm nhất định đến yếu tố
này
1 3.2.2.3 Quyền lực thương lượng của khách hàng
Khách hàng là những người mua sản phẩm của doanh nghiệp, là nhân tố
quan trọng của hoạt động kinh doanh Kinh doanh phải đảm bảo lợi ích cho
khách hàng và tìm mọi biện pháp để thoả mãn cao nhất nhu cầu khách hàng
Tuy nhiên trong khi mua hàng, khách hàng cũng thường sử dụng quyền lực
của mình để đưa ra những đòi hỏi bất lợi cho người bán về giá mua, về chất
lượng sản phẩm, về điều kiện giao hàng, điều kiện thanh toán tạo ra sức ép
làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
Người mua có thế mạnh nhiều hơn khi có các điều kiện sau đây:
Trang 29Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
+ Lượng hàng người mua chiếm tỷ lệ lớn trong tổng khối lượng hàng hoá
bán ra của người bán
+ Việc chuyển sang mua hàng của người khác không gây nhiều tốn kém
+ Người mua đưa ra các tín hiệu đe doạ đáng tin cậy là sẽ hội nhập về phía
sau với các bạn hàng cung ứng
+ Sản phẩm của người bán ít ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm của
người mua
Từ các điều kiện trên, doanh nghiệp phải phân tích để nhận ra khách hàng
nào quan trọng nhất nếu khách hàng này từ bỏ doanh nghiệp thì sẽ gây thiệt
hại cho doanh nghiệp như thế nào? Phải làm gì để giữ được khách hàng hiện
có và phát triển thêm
Như vậy có thể thấy khách hàng vừa là thượng đế, vừa là đối thủ cạnh
tranh của doanh nghiệp, khách hàng đem đến cơ hội kinh doanh cho doanh
nghiệp nhưng cũng có thể lấy đi lợi nhuận của doanh nghiệp Do vậy khi xây
dựng chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp cần phải nhận biết được các cơ
hội và rủi ro có thể xảy ra cho doanh nghiệp do khách hàng mang lại để có
những kế hoạch cụ thể tận dụng những cơ hội và giảm thiểu những rủi ro này
1 3.2.2.4 Quyền lực của nhà cung cấp
Đối với doanh nghiệp sản xuất thì việc cung ứng hàng hoá đầu vào có ảnh
hưởng tới chất lượng hàng hoá bán ra, do vậy các nhà cung ứng đầu vào đóng
vai trò rất quan trọng Các nhà cung ứng đầu vào có thể gây áp lực cho các
doanh nghiệp và làm ảnh hưởng tới chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
trong các trường hợp:
Doanh nghiệp không phải là khách hàng quan trọng của nhà cung ứng
Họ là nhà cung cấp độc quyền của doanh nghiệp
Trang 30Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
Loại vật tư của nhà cung cấp là yếu tố đầu vào quan trọng nhất đối với
doanh nghiệp, có thể quyết định tới quá trình sản xuất hoặc quyết định tính
chất sản phẩm của doanh nghiệp…
Trong những trường hợp như vậy nhà cung cấp có thể tạo ra sức ép đối với
các doanh nghiệp thông qua việc tăng giá bán, giảm chất lượng hàng hoá sản
phẩm hoặc mức độ dịch vụ đi kèm, trì hoãn cung cấp nguyên vật liệu để sản
xuất làm cho doanh nghiệp không có đủ các yếu tố đầu vào cung cấp cho sản
xuất sản phẩm
Nguồn cung ứng tài chính để đảm bảo vốn vay ngắn hạn và dài hạn trong từng
thời kỳ Khi phân tích nhà cung ứng tài chính cần chú ý các điểm: nguồn vốn lưu
động có mạnh hay không, các điều kiện cho vay có phù hợp với sản xuất kinh
doanh của từng doanh nghiệp không, có khả năng kéo dài thời hạn vay khi cần
thiết hay không
Người lao động cũng là một phần chính yếu trong môi trường cạnh tranh,
khả năng thu hút và lôi kéo các nhân viên có năng lực, trình độ gắn bó với
doanh nghiệp, hăng say nhiệt tình công tác, phát huy hết khả năng trong công
việc là cơ sở đảm bảo cho thành công của doanh nghiệp
Thông qua việc phân tích nhà cung cấp để có thể nắm được tình hình các
nguồn cung ứng nguyên liệu đầu vào nhằm đảm bảo việc cam kết số lượng,
chất lượng và thời gian giao hàng của nhà cung cấp nếu không doanh nghiệp
nên tìm cho mình các nhà cung cấp khác để có thể chủ động hơn trong các
yếu tố đầu vào Trong xây dựng chiến lược kinh doanh, phân tích nhà cung
cấp giúp doanh nghiệp nhận biết được những thuận lợi, khó khăn từ nguồn
cung cấp các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất hiện tại và trong tương lai,
từ đó đề ra các giải pháp, các chiến lược chức năng phù hợp để đạt được mục
tiêu chung của doanh nghiệp
1 3.2.2.5 Các sản phẩm thay thế:
Trang 31Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
Các sản phẩm thay thế luôn là một tất yếu nhằm đáp ứng những biến động
của nhu cầu thị trường theo hướng ngày càng đa dạng hoá, phong phú và cao
cấp hơn Chính những sản phẩm thay thế gia tăng cũng làm tăng mức độ cạnh
tranh và thu hẹp quy mô của thị trường mỗi sản phẩm của doanh nghiệp
Sức ép do có sản phẩm thay thế làm hạn chế tiềm năng lợi nhuận của
ngành do mức giá cao nhất bị khống chế Bởi các sản phẩm thay thế thường
được sản xuất bởi công nghệ hiện đại hơn, do nó ra đời sau và nó kích thích
được sự tò mò của người tiêu dùng sản phẩm mới Vì vậy doanh nghiệp cần
phải không ngừng nghiên cứu và kiểm tra các mặt hàng thay thế tiềm ẩn
Muốn đạt được thành công trong vấn đề này thì doanh nghiệp cần chú ý giành
nguồn lực để phát triển hay vận dụng công nghệ mới vào chiến lược kinh
doanh của mình
Như vậy có thể thấy sản phẩm thay thế vừa mang lại cơ hội cho doanh
nghiệp trong việc mở rộng danh mục sản phẩm sản xuất tìm kiếm thị trường
mới nhưng cũng mang lại những thách thức không nhỏ cho doanh nghiệp nếu
các sản phẩm của doanh nghiệp không đủ sức để cạnh tranh với nó Do vậy
khi xây dựng chiến lược kinh doanh doanh nghiệp cần phải lưu ý đến vấn đề
này
1 3.2.3 Phân tích môi trường nội bộ
1 3.2.3.1 Phân tích nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng và quyết định đến hiệu quả sản xuất
kinh doanh Yếu tố con người bao trùm lên trên mọi hoạt động của doanh
nghiệp thể hiện qua khả năng, trình độ, ý thức của đội ngũ quản lý và những
người lao động Và yếu tố con người tác động trực tiếp đến việc nâng cao chất
lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất của doanh nghiệp Do vậy phân tích và
dự báo về nhân sự là nội dung quan trọng của phân tích nội bộ doanh nghiệp
nhằm xác định điểm mạnh và điểm yếu về yếu tố con người của doanh nghiệp
khi xây dựng chiến lược kinh doanh
Trang 32Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
Bộ máy quản lý của doanh nghiệp : bao gồm các cán bộ quản lý chủ chốt
Bộ máy quản lý có vai trò rất quan trọng đối với thành công của một doanh
nghiệp Ca dao tục ngữ Việt Nam đã có câu “Một người lo bằng kho người
làm” để khẳng định vai trò của người quản lý, mọi hoạt động của doanh
nghiệp đều phụ thuộc vào bộ máy quản lý của doanh nghiệp Khả năng chiến
thắng, thành công của doanh nghiệp phụ thuộc vào kinh nghiệm công tác,
phong cách quản lý, khả năng ra quyết định, khả năng xây dựng êkíp quản lý
và sự hiểu biết về kinh doanh của cán bộ quản lý Doanh nghiệp sẽ có thuận
lợi khi đội ngũ cán bộ quản lý có đầy đủ nhiệt huyết với doanh nghiệp của họ,
mặt khác cán bộ quản lý với trình độ hiểu biết khác nhau có thể tạo ra nhiều ý
tưởng chiến lược sáng tạo
Công nhân viên trong doanh nghiệp: Chiến lược nguồn nhân lực của doanh
nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào trình độ kiến thức, khả năng, ý thức trách
nhiệm của đội ngũ công nhân viên và trình độ tổ chức của doanh nghiệp Bên
cạnh đó doanh nghiệp cần phải xem xét về các chương trình kế hoạch toàn
diện về nguồn nhân lực, chương trình đào tạo phát triển nguồn nhân lực, xây
dựng các chính sách sử dụng khuyến khích đối với cán bộ công nhân viên
Như vậy để phân tích nguồn nhân lực thì cần phải:
+ Đánh giá thực trạng về số lượng, chất lượng, cơ cấu của tất cả các loại
lao động hiện có trong doanh nghiệp
+ Đánh giá khả năng phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp trong
thời kỳ chiến lược
+ Thực trạng của cơ cấu tổ chức quản lý hiện tại của doanh nghiệp trên 2
mặt: Hệ thống tổ chức và quy chế hoạt động
+ Khả năng thích ứng của tổ chức trước các biến động của môi trường và
điều kiện kinh doanh
1 3.2.3.2 Trình độ công nghệ và cơ sở vật chất của doanh nghiệp
Trang 33Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
Tình trạng, trình độ của công nghệ và cơ sở vật chất có ảnh hưởng mạnh
mẽ tới việc xây dựng và triển khai thực hiện các chiến lược kinh doanh của
doanh nghiệp Nó là yếu tố quan trọng thể hiện năng lực sản xuất của doanh
nghiệp và tác động tới chất lượng sản phẩm Phân tích trình độ công nghệ và
cơ sở vật chất để thấy được những ưu thế và những điểm còn yếu về công nghệ
hiện tại của doanh nghiệp để từ đó xây dựng chiến lược kinh doanh tận dụng
được những ưu thế này và hạn chế, khắc phục những điểm còn yếu về công
nghệ và cơ sở vật chất Giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đã để ra
Trình độ công nghệ của một doanh nghiệp được đặc trưng không chỉ bằng
kiến thức khoa học kỹ thuật mà còn bởi mức độ hiện đại của phương tiện sản
xuất, phương pháp công nghệ, con người, tài liệu, thông tin và cơ cấu tổ chức
Phương tiện bao gồm công cụ, thiết bị máy móc, phương tiện vận chuyển và
cơ sở hạ tầng vật chất của công ty Năng lực con người bao gồm tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo, kiến thức, khả năng sáng tạo và kinh nghiệp của mỗi người lao
động trong công ty, tài liệu bao gồm các quy trình kỹ thuật, phương pháp sản
xuất, căn bản thiết kế, hệ thống thông tin và bộ máy tổ chức thực hiện chức
năng liên kết các thành phần của công nghệ để nó phát huy một cách có hiệu
quả
Việc phân tích được tiến hành như sau:
- Hệ thống máy móc thiết bị hiện có của doanh nghiệp
- Trình độ kỹ thuật công nghệ hiện tại của doanh nghiệp và khả năng có
được công nghệ mới
- Quy mô công suất sản xuất của doanh nghiệp và mức sử dụng công suất
hiện tại ở doanh nghiệp
- Tính hiệu quả và tin cậy của nguồn cung cấp của doanh nghiệp, nếu
người cung cấp không tin cậy sẽ không có chương trình kiểm tra chất lượng có
hiệu quả thì sẽ đặt doanh nghiệp vào vị trí bất lợi trong cạnh tranh
Trang 34Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
- Vị trí địa lý của doanh nghiệp : vị trí địa lý có tác động đến các yếu tố
chi phí và sự thuận tiện của khách hàng
- Các khả năng về hợp tác, đầu tư liên doanh, liên kết
Nếu các doanh nghiệp có máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ sản xuất
tiên tiến thì doanh nghiệp có thể nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí
nguyên vật liệu, chi phí nhân công làm cho doanh nghiệp có lợi thế trong việc
sử dụng giá cả làm công cụ xây dựng chiến lược kinh doanh để tạo vị thế cạnh
tranh trên thị trường
1 3.2.3.3 Khả năng tài chính của doanh nghiệp
Khả năng tài chính là yếu tố quyết định đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh nói chung và cũng là nền tảng để hoạch định chiến lược kinh doanh nói
riêng của mỗi doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp có khả năng tài chính đảm
bảo sẽ có ưu thế trong việc đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, tiến hành các
hoạt động khác nhằm nâng cao năng lực hoạt động kinh doanh Phân tích tài
chính của doanh nghiệp tập trung vào các vấn đề sau:
- Nhu cầu vốn và cơ cấu nguồn vốn trong doanh nghiệp
- Khả năng huy động vốn ngắn hạn, vốn dài hạn, tỷ lệ giữa vốn vay và vốn
cổ phần
- Nguồn vốn của công ty, chi phí về vốn so với ngành và đối thủ cạnh
tranh
- Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp, tỷ suất lợi nhuận
- Tình hình về tài sản, nguồn vốn trong doanh nghiệp
- Sự kiểm soát giá thành hữu hiệu và khả năng giảm giá thành
- Hệ thống kế toán có hiệu năng phục vụ cho việc lập kế hoạch giá thành,
kế hoạch tài chính và lợi nhuận
Phân tích tài chính sẽ hiểu được sâu rộng trong toàn doanh nghiệp, bởi lẽ
mọi hoạt động của doanh nghiệp đều được phản ánh ra bên ngoài thông qua
Trang 35Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
lăng kính tài chính Vì vậy, tài chính có mối quan hệ tương tác với các bộ
phận, yếu tố khác trong toàn doanh nghiệp
Khi xây dựng chiến lược kinh doanh, việc phân tích khả năng tài chính để
thấy được những ưu thế về mặt tài chính của doanh nghiệp, xem xét mức độ
khả năng đáp ứng được yêu cầu sản xuất kinh doanh hiện tại và trong tương lai
khi thực hiện chiến lược kinh doanh; đồng thời thấy được những hạn chế và
điểm yếu trong vấn đề tài chính của doanh nghiệp để có kế hoạch khắc phục
và điều chỉnh cho phù hợp khi lựa chọn chiến lược kinh doanh cuối cùng cho
doanh nghiệp
1 3.2.3.4 Hoạt động Marketing
Phân tích hoạt động Marketing là một nội dung quan trọng trong phân tích
nội bộ doanh nghiệp Chức năng của bộ phận Marketing là phân tích, lập kế
hoạch, thực hiện và kiểm tra các chương trình liên quan đến việc tạo ra và duy
trì các mối quan hệ trao đổi với khách hàng theo nguyên tắc hai bên cùng có
lợi Phân tích về chủng loại sản phẩm, chất lượng sản phẩm, thị phần, giá sản
phẩm, niềm tin của khách hàng đối với sản phẩm, hiệu quả quảng cáo và xúc
tiến cho phép doanh nghiệp đánh giá được khả năng riêng biệt của mình về
mức độ thích ứng cuả sản phẩm với nhu cầu thị trường và vị thế của doanh
nghiệp trên thị trường Để phân tích yếu tố này cần phải xem xét các ưu điểm
và nhược điểm ở các mặt sau:
- Các loại sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, mức độ đa dạng hoá của
các sản phẩm, dịch vụ
- Khả năng thu thập thông tin cần thiết về thị trường
- Thị phần của doanh nghiệp
- Việc tổ chức kênh phân phối, số lượng, phạm vi và mức độ kiểm soát
- Cách tổ chức bán hàng hữu hiệu, mức độ am hiểu về nhu cầu khách hàng
- Mức độ nổi tiếng ấn tượng về chất lượng sản phẩm, dịch vụ
Trang 36Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
- Việc quảng cáo khuyến mãi có hiệu quả
- Chiến lược giá và tính linh hoạt trong việc định giá
- Phương pháp phân loại ý kiến khách hàng và phát triển sản phẩm dịch vụ
mới hoặc thị trường mới
- Dịch vụ sau bán hàng và hướng dẫn sử dụng cho khách hàng
- Thiện chí và sự tín nhiệm của khách hàng
- Phân tích yếu tố Marketing để hiểu được nhu cầu, thị hiếu, sở thích của
thị trường và hoạch định các chiến lược hữu hiệu của sản phẩm, định giá, giao
tiếp phân phối phù hợp với thị trường mà doanh nghiệp hướng tới
Tổng hợp các kết quả phân tích đánh giá thực trạng và dự báo môi
trường kinh doanh và môi trường nội bộ của doanh nghiệp:
Từ việc phân tích môi trường vi mô và môi trường vĩ mô cần đánh giá
và tổng hợp thông tin môi trường để định hướng các mục tiêu kinh doanh
chiến lược Kết quả tổng hợp phải chỉ rõ:
Các thời cơ, cơ hội trong tương lai
Các rủi ro, thách thức, bất lợi trong hiện tại và có thể xảy ra trong tương lai
Phân tích và đánh giá môi trường nội bộ của doanh nghiệp nhằm:
- Xác định điểm mạnh, các lợi thế so sánh của doanh nghiệp so với các đổi thủ
cạnh tranh trên thị trường để triệt để khai thác khi xác định mục tiêu chiến
lược
- Xác định điểm yếu, bất lợi của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh để
có biện pháp khắc phục trong quá trình kinh doanh
Trên cơ sở nhận định được thời cơ, cơ hội, các rủi ro thách thức và điểm
mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp để xây dựng một chiến lược kinh doanh
đảm bảo phát huy sức mạnh nội bộ tận dụng tối đa cơ hội kinh doanh do môi
trường đem lại và hạn chế khắc phục điểm yếu, tìm cách phòng tránh, giảm
thiểu các rủi ro do những biến động bất lợi từ môi trường kinh doanh
Trang 37Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
1 3.3 Một số mô hình phân tích và xây dựng chiến lược cho doanh nghiệp
Theo thời gian, cùng với sự ra đời và phát triển của lý thuyết về chiến lược
kinh doanh, đã có nhiều mô hình phân tích và xây dựng chiến lược được đưa
ra Mỗi mô hình đều có những ưu điểm và những mặt hạn chế của nó, chúng
được áp dụng trong những điều kiện nhất định Dưới đây là một số mô hình
hiện đang được sử dụng rộng rãi trong các phân tích xây dựng chiến lược kinh
doanh cho một doanh nghiệp
1 3.3.1 Mô hình BCG
Mô hình Boston Consulting Group (BCG) dựa trên lập luận là nếu trong
một môi trường cạnh tranh giá bán được xác định bởi chi phí của các nhà sản
xuất kém hiệu quả nhưng cần thiết để thoả mãn nhu cầu thì luôn có lợi nhuận
đối với một doanh nghiệp có khả năng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm với chi
phí nhỏ hơn Vì thế mà:
- Có thể tạo ra nhiều lợi nhuận hơn các nhà sản xuất cạnh tranh khác
- Tái đầu tư nhiều hơn, chống chọi tốt hơn khi hoạt động bị suy thoái
- Đạt được thành tích cao hơn các nhà sản xuất khác
Xuất phát từ quan điểm này BCG đã nghiên cứu phương pháp phân khúc
các ngành hoạt động và đưa ra các giải pháp hướng các nhà sản xuất tới những
khúc chiến lược có ưu thế lâu dài về giá cả, loại dần bỏ các hoạt động khác
kém hiệu quả Lôgíc của mô hình này là:
-Ưu thế lâu dài về giá hoặc có được bằng cách tạo ra năng lực sản xuất
mới hoặc bằng cách mua một vị trí thống trị sẵn có vì thế mà có được kinh
nghiệm sản xuất cao hơn các nhà cạnh tranh khác,
- Những khoản tiền tạo ra bởi những hoạt động ở cuối chu kỳ sống có thị
phần lớn sẽ được đầu tư mở rộng để tăng thị phần (tạo ra một ưu thế mới về
Formatted: Bullets and Numbering
Trang 38Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
giá) hoặc được đầu tư vào những ngành sản xuất nhiều hứa hẹn (tỉ lệ tăng
trưởng cao) đang ở đầu chu kỳ sống
Mô hình BCG sử dụng 2 chỉ tiêu là: Tốc độ tăng trưởng của thị trường và
thị phần tương đối
Trong mô hình BCG, thị phần tương đối của một lĩnh vực hoạt động chiến
lược hay đơn vị kinh doanh (SBU) được thể hiện trên trục hoành và cho phép
định vị được từng lĩnh vực hoạt động chiến lược theo thị phần của nó so với
đối thủ cạnh tranh lớn nhất Đó là tỷ số giữa doanh số của doanh nghiệp so với
doanh số của đối thủ cạnh tranh nguy hiểm nhất (thường là doanh nghiệp dẫn
đầu thị trường Trục tung phản ánh tốc độ tăng trưởng hàng năm của thị
trường Mỗi vòng tròn biểu thị vị trí tăng trưởng/thị phần của đơn vị đó Kích
thước mỗi vòng tròn tỷ lệ thuận với doanh thu bán hàng
Mô hình 1.2: Mô hình bcg
Dựa vào mô hình BCG tương ứng từng vị trí ta có các chiến lược sau:
Nhóm “Ngôi sao”: Đơn vị kinh doanh chiến lược có mức tăng trưởng và
thị phần cao, có khả năng tạo đủ nguồn thu để tự duy trì
Trang 39Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
Nhóm “Bò sữa”: Các đơn vị kinh doanh chiến lược có mức tăng trưởng
thấp, thị phần cao tạo ra số dư tiền có thể hỗ trợ cho đơn vị khác và cho các nỗ
lực nghiên cứu phát triển Giải pháp của doanh nghiệp là củng cố thường
xuyên các nỗ lực đầu tư nhằm duy trì vị thế đứng đầu
Nhóm “Dấu hỏi”: Các đơn vị có mức tăng trưởng cao, thị phần thấp,
thường đòi hỏi phải có nhiều tiền để giữ vững và tăng thị phần giải pháp của
doanh nghiệp là đầu tư để biến các đơn vị này thành các “ngôi sao” hoặc là
loại bỏ chúng
Nhóm “Điểm chết”: Các đơn vị có mức tăng trưởng thấp, thị phần thấp
Giải pháp là doanh nghiệp nhanh chóng rút lui bằng cách không tập trung
nguồn lực quý hiếm hay bán lại cho Doanh nghiệp có lợi thế hơn
Cách tiếp cận của BCG có nhiều ưu điểm và vì vậy nó được áp dụng khá
rộng rãi Một mặt, ma trận này tạo thuận lợi cho việc phân tích danh mục các
hoạt động của doanh nghiệp trong tổng thể của nó Nó cho phép kiểm tra xem
liệu dòng vốn phát sinh từ một số hoạt động có bù đắp được các nhu cầu và
kiểm tra xem liệu các hoạt động mới có thay thế được các hoạt động suy thoái
không Mặt khác nó cho phép hình thành các mục tiêu về danh mục hoạt động
cũng như của các chiến lược cần theo đuổi
Tuy nhiên phương pháp này cũng có nhiều nhược điểm Trước hết là
những khó khăn trong việc sắp xếp các hoạt động trong 4 loại vừa được nêu ở
trên, hoặc chính xác hơn đó là việc suy diễn ra vị trí của các hoạt động tương
ứng với chiến lược được áp dụng Chẳng hạn khi hiệu ứng kinh nghiệm thấp
thì một vị trí thống lĩnh về thị phần không có cùng một ý nghĩa và cũng không
có cùng hệ quả như khi kinh nghiệm có ảnh hưởng lớn tới giá thành Cũng
vậy, những điều kiện đặc biệt về giá trong đó có giá của đối thủ cạnh tranh có
thể bù đắp được sự yếu kém bề ngoài trên thị trường Chính vì vậy, các giả
thiết của phương pháp BCG phải được đánh giá một cách cụ thể và hoàn thiện
bởi các nhân tố khác
Trang 40Formatted: Font: VnTimeH Formatted: Font: VnTimeH
1 3.3.2 Mô hình Mc.Kinsey
Phương pháp Mc.Kinsey cũng dựa trên cùng một lập luận với phương pháp
BCG, nghĩa là trên cơ sở chu kỳ sống của sản phẩm, người ta tìm cách tái tạo
nguồn cho doanh nghiệp bằng cách đạt tới vị trí thống trị trong mỗi khúc thị
trường, nhưng cạnh tranh không chỉ về giá mà còn trên các biến số khác và
lợi ích của một lĩnh vực không chỉ còn hạn chế bởi tỷ lệ tăng trưởng mà là vị
trí cạnh tranh trong khúc chiến lược đó
Mô hình này được xây dựng trên hai chỉ tiêu: Sức hấp dẫn thị trường và vị
thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường đó, hai chỉ tiêu này được phân
chia làm ba mức độ: mạnh - trung bình – yếu, mỗi phương diện cho phép
định vị được toàn bộ các hoạt động trong bảng:
Mô hình trên cho phép xác định ba loại chiến lược cơ bản:
- Đối với vùng A người ta sử dụng các chiến lược tấn công: “Đầu tư để tăng
thị phần”
- Đối với vùng B các chiến lược phòng thủ được khuyên dùng: “Đầu tư một
cách có lựa chọn và nghiên cứu một cách có hệ thống để tăng lợi nhuận“
- Đối với vùng C các chiến lược thu hẹp đầu tư thường được ứng dụng
Lớn
Trung
bình
Kém
Sức hấp dẫn của thị trường
Vị thế của doanh nghiệp
Kém Trung bình Lớn
Formatted: Vietnamese
Formatted: Font: Bold Formatted: Centered Formatted: Font: Bold Formatted: Font: Not Italic Formatted: Font: Bold, English (United States)