1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BIẾN ĐỔI QUY MÔ GIA ĐÌNH Ở HÀ NỘI NGHIÊN CỨU SO SÁNH Ở VÙNG NÔNG THÔN VÀ ĐÔ THỊ

151 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 391 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Từ xưa đến nay, gia đình vẫn luôn là một trong những thiết chế xã hội cơ bản nhất, có ý nghĩa to lớn đối với cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như sự tồn tại và phát triển của xã hội. Gia đình là một xã hội thu nhỏ, trong đó hiện diện đầy đủ các quan hệ xã hội như quan hệ kinh tế, quan hệ giáo dục, quan hệ văn hóa, quan hệ tổ chức,.. Do đó, có thể nói rằng, sự trường tồn của quốc gia, dân tộc phụ thuộc rất nhiều vào sự tồn tại và phát triển của mỗi gia đình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong cuốn Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, (tập V, tr. 251) rằng: Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội sẽ tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Đảng, Nhà nước trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hết sức quan tâm đến xây dựng gia đình. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mục tiêu xây dựng gia đình Việt Nam đã được Đảng ta chỉ rõ trong Cương lĩnh 2011 là: Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và tình hình nhân cách. (ĐCSVN, 2011) Với con người Việt Nam, gia đình có vai trò hết sức quan trọng. Gia đình không chỉ là nơi sinh sống, nuôi lớn mỗi cá nhân về mặt thể chất mà còn là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách cho mỗi người. Trong suốt những năm qua, sự nghiệp xây dựng gia đình Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, giữ gìn và phát huy văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phát triển con người Việt Nam về mọi mặt. Là một thiết chế xã hội đặc biệt, gia đình luôn mang tính ổn định và bền vững nhưng cũng hết sức linh hoạt. Nó luôn vận động, để thích nghi với sự thay đổi của xã hội. Tuy nhiên, cũng như mọi thiết chế khác, gia đình luôn chịu sự tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan, dẫn đến những biến đổi sâu sắc, mà một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ nhất là sự phát triển của kinh tế xã hội. Có thể thấy rõ ràng nhất sự thay đổi về cơ cấu gia đình, trong đó bao gồm quy mô gia đình và các quan hệ xã hội trong và ngoài gia đình, giúp cho gia đình thích ứng với điều kiện kinh tế xã hội mới; có giá trị của gia đình truyền thống đã bị mất đi, biến đổi dần hoặc vẫn được bảo tồn và phát huy như: các chức năng của gia đình; tình nghĩa vợ chồng; trách nhiệm và sự hy sinh của cha mẹ đối với con cái; con cái hiếu thảo với cha mẹ, ông bà, tổ tiên,.. Đồng thời, gia đình Việt Nam hiện nay cũng đang tiếp thu nhiều giá trị hiện đại như: sự tôn trọng tự do cá nhân, quan điểm và sự lựa chọn của mỗi thành viên trong gia đình; sự bình đẳng vợ chồng, nam nữ,... Điều này cho thấy, gia đình Việt Nam hiện nay đang được củng cố và xây dựng theo xu hướng hiện đại hoá: dân chủ, bình đẳng, tự do và tiến bộ. Bên cạnh những cơ hội thúc đẩy sự tiến bộ của gia đình Việt Nam hiện nay thì sự tác động của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng đang đặt gia đình Việt Nam đứng trước nhiều thách thức. Đặc biệt là ở các khu đô thị lớn, gia đình đang có dấu hiệu của sự khủng hoảng, những giá trị của gia đình truyền thống bị biến đổi dẫn đến nhiều hệ luỵ. Như vậy, có thể thấy những biến chuyển xã hội đã và đang tác động đến gia đình trên mọi phương diện và đưa đến những hệ quả đa chiều. Thiết chế có tính bền vững này cũng đang vận động, đổi mới và thích ứng với nhu cầu của thời đại. Trên bình diện khoa học, nhất là xã hội học, nhân học, tâm lý học…, nhiều tác giả đã phản ánh sự biến đổi đó trong các công trình nghiên cứu của mình. Để nhận diện về sự biến đổi quy mô của gia đình, tác giả quyết định chọn đề tài: “Biến đổi quy mô gia đình ở Hà Nội hiện nay: Nghiên cứu so sánh ở vùng nông thôn và đô thị” làm đề tài nghiên cứu với hy vọng góp thêm một vài nét chấm phá vào bức tranh gia đình ở Việt Nam hiện nay. 2. Ý nghĩa nghiên cứu 2.1. Ý nghĩa lý luận Thông qua nghiên cứu này, những lý thuyết và kỹ năng xã hội học gia đình sẽ được vận dụng để tìm hiểu, phân tích những biến đổi về quy mô gia đình ở Hà Nội hiện nay, đặc biệt là ở hai vùng nông thôn và thành thị. Nghiên cứu góp phần làm phong phú thêm cho lĩnh vực này, đặc biệt trong hướng nghiên cứu phân tích biến đổi gia đình nói chung. 2.2. Ý nghĩa thực tiễn Nghiên cứu góp phần mô tả được sự biến đổi quy mô gia đình quy mô gia đình ở Hà Nội hiện nay, đặc biệt là ở hai vùng nông thôn và thành thị cùng với một số yếu tố tác động đến sự biến đổi ấy. Từ đó, kết quả khảo sát góp phần đề xuất những khuyến nghị giúp để phát huy những biến đổi tích cực, hạn chế những biến đổi tiêu cực đến gia đình Việt Nam hiện nay. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở phân tích sự biến đổi quy mô gia đình cùng với những yếu tố tác động đến quy mô gia đình ở Hà Nội hiện nay, luận văn đề xuất những khuyến nghị giúp để phát huy những tích cực, hạn chế những tiêu cực đến gia đình Việt Nam hiện nay. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện được mục đích trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ cơ bản cần đạt được như sau: Làm rõ lý thuyết được sử dụng và thao tác hóa các khái niệm. Các khái niệm: gia đình, hộ gia đình, quy mô gia đình, biến đổi gia đình, biến đổi quy mô gia đình,.. Lý thuyết được sử dụng: Lý thuyết biến đổi xã hội, lý thuyết hiện đại hóa. Mô tả sự biến đổi, phân tích những vấn đề đặt ra về biến đổi quy mô gia đình Việt Nam hiện nay. Chỉ rõ những ảnh hưởng đến sự biến đổi của gia đình Việt Nam. Dự báo xu hướng biến đổi quy mô gia đình trong tương lai. Đề xuất những giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực đến gia đình Việt Nam hiện nay. 4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Biến đổi quy mô gia đình Việt Nam ở Hà Nội hiện nay: nghiên cứu so sánh ở vùng nông thôn và thành thị. 4.2. Khách thể nghiên cứu Các hộ gia đình thuộc địa bàn xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ và hộ gia đình tại phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. 4.3. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu là khu vực Hà Nội, song tập trung chủ yếu hai địa bàn là xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ và phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. 5. Câu hỏi nghiên cứu 5.1. Sự biến đổi quy mô gia đình ở xã Hát Môn và phường Nhân Chính diễn ra như thế nào? 5.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự biến đổi về quy mô gia đình hiện nay là gì? 5.3. Xu hướng biến đổi quy mô gia đình trong tương lai như thế nào? 6. Giả thuyết nghiên cứu 6.1. Quy mô gia đình ngày nay có xu hướng thu nhỏ so với trước kia, số lượng thành viên trong gia đình trở nên ít đi. Gia đình Việt Nam hiện đại chỉ có hai thế hệ cùng sống chung: cha mẹ con cái, có một số ít gia đình đơn thân, gia đình chung sống không kết hôn, gia đình đồng giới nhưng phổ biến nhất vẫn là loại hình gia đình hạt nhân quy mô nhỏ. 6.2. Giới tính và trình độ học vấn có ảnh hưởng đến sự biến đổi quy mô về gia đình. 6.3. Dự báo trong tương lai quy mô gia đình tiếp tục nhỏ lại, xu hướng gia đình đơn thân sẽ ngày càng tăng lên, mức sinh giảm.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-ĐOÀN NGỌC MỸ DUYÊN

BIẾN ĐỔI QUY MÔ GIA ĐÌNH Ở HÀ NỘI:

NGHIÊN CỨU SO SÁNH Ở VÙNG NÔNG THÔN VÀ ĐÔ THỊ

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Xã hội học

Mã số: 8310301.01

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Hoàng Bá Thịnh

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học

do chính tôi nghiên cứu và thực hiện Các số liệu nghiên cứu

do tôi thu thập khách quan và chưa từng được công bố trongbất cứ một công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trongLuận văn đúng và đầy đủ theo quy định

Tác giả

Đoàn Ngọc Mỹ Duyên

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành Luận văn này, tôi đã nhận đượcnhiều sự động viên, chia sẻ và giúp đỡ Trước hết, tôi xin đượcbày tỏ sự trân trọng, lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Hoàng BáThịnh – người đã trực tiếp hướng dẫn, tạo động lực cho tôitrong suốt quá trình nghiên cứu

Tiếp đến, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trongKhoa Xã hội học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhânvăn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình chỉ dạy và trang bịcho tôi những kiến thức cần thiết trong suốt thời gian ngồitrên ghế giảng đường để có thể làm nền tảng thực hiệnnghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bạn sinh viênK61 Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhânvăn đã hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thu thập dữ liệu, cảm ơngia đình và bạn bè đã luôn động viên và làm chỗ dựa tinhthần cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này

Mặc dù bản thân tôi đã rất nỗ lực cố gắng, song vì thờigian có hạn, kinh năng lực của bản thân còn hạn chế nên luậnvăn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận đượcnhững góp ý của các thầy cô giáo để luận văn của tôi đượchoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 10 năm 2020

Tác giả

Đoàn Ngọc Mỹ Duyên

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 9

1 Lý do chọn đề tài 9

2 Ý nghĩa nghiên cứu 10

2.1 Ý nghĩa lý luận 10

2.2 Ý nghĩa thực tiễn 10

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 11

3.1 Mục đích nghiên cứu 11

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 11

4.1 Đối tượng nghiên cứu 11

4.2 Khách thể nghiên cứu 11

4.3 Phạm vi nghiên cứu 12

5 Câu hỏi nghiên cứu 12

6 Giả thuyết nghiên cứu 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 12

1.1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến biến đổi quy mô gia đình 13

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về yếu tố tác động đến biến đổi quy mô gia đình 22

1.2 Các khái niệm công cụ 27

1.2.1 Gia đình 27

1.2.2 Hộ gia đình 28

1.2.3 Quy mô gia đình 29

1.2.4 Biến đổi gia đình 29

1.2.5 Biến đổi quy mô gia đình 30

1.3 Lý thuyết 30

Trang 5

1.3.1 Lý thuyết biến đổi xã hội 30

1.3.2 Lý thuyết hiện đại hóa 31

1.4 Phương pháp nghiên cứu 34

1.4.1 Phương pháp phân tích tài liệu 34

1.4.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 34

1.4.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 35

1.5 Khung phân tích 35

1.6 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 36

Tiểu kết chương 1 38

CHƯƠNG 2 BIẾN ĐỔI QUY MÔ GIA ĐÌNH Ở HÀ NỘI HIỆN NAY 39

2.1 Số thế hệ trong gia đình 39

2.2 Số lượng con cái trong gia đình 49

2.3 Quan điểm của người dân về một số kiểu gia đình 61

Tiểu kết chương 2 71

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BIẾN ĐỔI QUY MÔ GIA ĐÌNH Ở HÀ NỘI 71

3.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự biến đổi quy mô gia đình ở Hà Nội hiện nay 71

3.2 Xu hướng biến đổi quy mô gia đình ở Hà Nội trong tương lai 82

Tiểu kết chương 3 88

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC 99

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

Trang 7

Bảng 2.1.2 Quy mô hộ trung bình ở Hà Nội các năm 2019 (%) 40Bảng 2.1.3 Mô hình chung sống của hộ gia đình (%) 42Bảng 2.1.4 Quy mô hộ (người/hộ) trung bình tại thành thị và nông thôn qua các năm (%) 44Bảng 2.1.5 Mức thu nhập của hộ gia đình ở hai địa bàn hiện nay so với 10 năm trước (%) 46YBảng 2.2.1 CBR ở Hà Nội qua 3 kỳ Tổng điều tra (Đơn vị tính:

Số trẻ sinh sống/1000 dân) 50Bảng 2.2.2 Tổng số con (còn sống) hiện tại ở các gia đình (%) 50Bảng 2.2.3 Tỷ số giới tính phân theo thành thị, nông thôn quacác kỳ Tổng điều tra ở Hà Nội (Đơn vị tính: Nam/100 nữ) 52Bảng 2.2.4 Gia đình hiện nay cần phải có con trai (%) 53Bảng 2.2.5 Tỷ lệ phụ nữ 15 – 49 tuổi sinh con thứ ba trở lên phân chia theo nơi cư trú từ năm 2014 – 2018 58YBảng 2.3.1 Phân bố dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo tình trạng hôn nhân với nơi cư trú, 1/4/2018 (%) 64YBảng 3.1.1.1 Tương quan giữa giới tính và việc phụ nữ có con mà không kết hôn (%) 75Bảng 3.1.1.2 Tương quan giữa giới tính và chủ trương sống độc thân của một số người hiện nay (%) 75Bảng 3.1.1.3 Tương quan giữa giới tính và ý kiến về hiện tượng những người cùng giới tính sống với nhau (%) 77Bảng 3.1.1.4 Tương quan giữa giới tính và số con trai mong muốn (%) 78Bảng 3.1.1.5 Tương quan giữa giới tính và quan điểm ai nên

là trụ cột kinh tế trong gia đình (%) 79YBảng 3.1.2.1 Tương quan giữa trình độ học vấn và nơi cư trú

về hiện tượng người có cùng giới tính sống cùng với nhau (%) 81Bảng 3.1.2.2 Tương quan giữa trình độ học vấn và nơi cư trú

về việc phụ nữ có con mà không kết hôn (%) 82Bảng 3.1.2.3 Tương quan giữa trình độ học vấn và nơi cư trú

về việc gia đình phải có con trai (%) 83YBảng 3.2.1 Tỷ lệ phần trăm mong sống cùng ai khi về già theo giới tính tại xã Hát Môn và phường Nhân Chính (%) 83

Trang 8

Bảng 3.2.2 Tỷ lệ phần trăm những người trong độ tuổi 15 - 49mong muốn đẻ thêm con hiện nay (%) 84

DANH MỤC CÁC BIỂ

Biểu 2.1.1 Số thế hệ cùng chung sống ở xã Hát Môn và

phường Nhân Chính (%) 41YBiểu 2.2.1 Phần trăm hộ gia đình có con trai và con gái (%) 53Biểu 2.2.2 TSGTKS theo trình độ học vấn của người mẹ từ năm 2010 đến 2014 (%) 56Biểu 2.2.3 TSGTKS chia theo điều kiện kinh tế hộ gia đình, năm 2009 và giai đoạn 2010 – 2014 (%) 57Biểu 2.2.4 Ý kiến hiện nay mỗi gia đình chỉ cần sinh 2 con (%) 61YBiểu 2.3.1 Ý kiến về việc phụ nữ có con mà không kết hôn (%) 65Biểu 2.3.2 Ý kiến về hiện tượng những người cùng giới tính

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ xưa đến nay, gia đình vẫn luôn là một trong nhữngthiết chế xã hội cơ bản nhất, có ý nghĩa to lớn đối với cuộcsống của mỗi cá nhân cũng như sự tồn tại và phát triển của

xã hội Gia đình là một xã hội thu nhỏ, trong đó hiện diện đầy

đủ các quan hệ xã hội như quan hệ kinh tế, quan hệ giáo dục,quan hệ văn hóa, quan hệ tổ chức, Do đó, có thể nói rằng, sựtrường tồn của quốc gia, dân tộc phụ thuộc rất nhiều vào sựtồn tại và phát triển của mỗi gia đình

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong cuốn Những lờikêu gọi của Hồ Chủ tịch, (tập V, tr 251) rằng: "Nhiều gia đìnhcộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội sẽ tốt, xã hộitốt thì gia đình càng tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình".Đảng, Nhà nước trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốchết sức quan tâm đến xây dựng gia đình Trong thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội, mục tiêu xây dựng gia đình Việt Nam đãđược Đảng ta chỉ rõ trong Cương lĩnh 2011 là: "Xây dựng giađình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thực sự là tế bào lành mạnhcủa xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếpsống và tình hình nhân cách" (ĐCSVN, 2011)

Với con người Việt Nam, gia đình có vai trò hết sức quantrọng Gia đình không chỉ là nơi sinh sống, nuôi lớn mỗi cánhân về mặt thể chất mà còn là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn,hình thành nhân cách cho mỗi người Trong suốt những nămqua, sự nghiệp xây dựng gia đình Việt Nam đã đạt được nhiềuthành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước, giữ gìn và phát huy văn hóa, truyềnthống tốt đẹp của dân tộc, phát triển con người Việt Nam vềmọi mặt

Là một thiết chế xã hội đặc biệt, gia đình luôn mang tính

ổn định và bền vững nhưng cũng hết sức linh hoạt Nó luôn

Trang 10

vận động, để thích nghi với sự thay đổi của xã hội Tuy nhiên,cũng như mọi thiết chế khác, gia đình luôn chịu sự tác độngcủa các yếu tố khách quan và chủ quan, dẫn đến những biếnđổi sâu sắc, mà một trong những yếu tố tác động mạnh mẽnhất là sự phát triển của kinh tế - xã hội Có thể thấy rõ ràngnhất sự thay đổi về cơ cấu gia đình, trong đó bao gồm quy môgia đình và các quan hệ xã hội trong và ngoài gia đình, giúpcho gia đình thích ứng với điều kiện kinh tế - xã hội mới; cógiá trị của gia đình truyền thống đã bị mất đi, biến đổi dầnhoặc vẫn được bảo tồn và phát huy như: các chức năng củagia đình; tình nghĩa vợ chồng; trách nhiệm và sự hy sinh củacha mẹ đối với con cái; con cái hiếu thảo với cha mẹ, ông bà,

tổ tiên, Đồng thời, gia đình Việt Nam hiện nay cũng đangtiếp thu nhiều giá trị hiện đại như: sự tôn trọng tự do cá nhân,quan điểm và sự lựa chọn của mỗi thành viên trong gia đình;

sự bình đẳng vợ chồng, nam nữ, Điều này cho thấy, gia đìnhViệt Nam hiện nay đang được củng cố và xây dựng theo xuhướng hiện đại hoá: dân chủ, bình đẳng, tự do và tiến bộ

Bên cạnh những cơ hội thúc đẩy sự tiến bộ của gia đìnhViệt Nam hiện nay thì sự tác động của kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa cũng đang đặt gia đình Việt Namđứng trước nhiều thách thức Đặc biệt là ở các khu đô thị lớn,gia đình đang có dấu hiệu của sự khủng hoảng, những giá trịcủa gia đình truyền thống bị biến đổi dẫn đến nhiều hệ luỵ

Như vậy, có thể thấy những biến chuyển xã hội đã vàđang tác động đến gia đình trên mọi phương diện và đưa đếnnhững hệ quả đa chiều Thiết chế có tính bền vững này cũngđang vận động, đổi mới và thích ứng với nhu cầu của thời đại.Trên bình diện khoa học, nhất là xã hội học, nhân học, tâm lýhọc…, nhiều tác giả đã phản ánh sự biến đổi đó trong cáccông trình nghiên cứu của mình Để nhận diện về sự biến đổi

quy mô của gia đình, tác giả quyết định chọn đề tài: “Biến đổi quy mô gia đình ở Hà Nội hiện nay: Nghiên cứu so sánh ở vùng nông thôn và đô thị” làm đề tài nghiên cứu

Trang 11

với hy vọng góp thêm một vài nét chấm phá vào bức tranhgia đình ở Việt Nam hiện nay.

2 Ý nghĩa nghiên cứu

2.1 Ý nghĩa lý luận

Thông qua nghiên cứu này, những lý thuyết và kỹ năng

xã hội học gia đình sẽ được vận dụng để tìm hiểu, phân tíchnhững biến đổi về quy mô gia đình ở Hà Nội hiện nay, đặc biệt

là ở hai vùng nông thôn và thành thị Nghiên cứu góp phầnlàm phong phú thêm cho lĩnh vực này, đặc biệt trong hướngnghiên cứu phân tích biến đổi gia đình nói chung

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu góp phần mô tả được sự biến đổi quy mô giađình quy mô gia đình ở Hà Nội hiện nay, đặc biệt là ở hai vùngnông thôn và thành thị cùng với một số yếu tố tác động đến

sự biến đổi ấy Từ đó, kết quả khảo sát góp phần đề xuấtnhững khuyến nghị giúp để phát huy những biến đổi tích cực,hạn chế những biến đổi tiêu cực đến gia đình Việt Nam hiệnnay

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích sự biến đổi quy mô gia đình cùngvới những yếu tố tác động đến quy mô gia đình ở Hà Nội hiệnnay, luận văn đề xuất những khuyến nghị giúp để phát huynhững tích cực, hạn chế những tiêu cực đến gia đình Việt Namhiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích trên, luận văn đặt ra nhữngnhiệm vụ cơ bản cần đạt được như sau:

Làm rõ lý thuyết được sử dụng và thao tác hóa các kháiniệm Các khái niệm: gia đình, hộ gia đình, quy mô gia đình,biến đổi gia đình, biến đổi quy mô gia đình, Lý thuyết được

sử dụng: Lý thuyết biến đổi xã hội, lý thuyết hiện đại hóa

Trang 12

Mô tả sự biến đổi, phân tích những vấn đề đặt ra về biếnđổi quy mô gia đình Việt Nam hiện nay.

Chỉ rõ những ảnh hưởng đến sự biến đổi của gia đình ViệtNam

Dự báo xu hướng biến đổi quy mô gia đình trong tươnglai

Đề xuất những giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực vàhạn chế những mặt tiêu cực đến gia đình Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Biến đổi quy mô gia đình Việt Nam ở Hà Nội hiện nay:nghiên cứu so sánh ở vùng nông thôn và thành thị

5 Câu hỏi nghiên cứu

5.1 Sự biến đổi quy mô gia đình ở xã Hát Môn vàphường Nhân Chính diễn ra như thế nào?

5.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự biến đổi về quy môgia đình hiện nay là gì?

5.3 Xu hướng biến đổi quy mô gia đình trong tương lainhư thế nào?

6 Giả thuyết nghiên cứu

6.1 Quy mô gia đình ngày nay có xu hướng thu nhỏ sovới trước kia, số lượng thành viên trong gia đình trở nên ít đi

Trang 13

Gia đình Việt Nam hiện đại chỉ có hai thế hệ cùng sống chung:cha mẹ - con cái, có một số ít gia đình đơn thân, gia đìnhchung sống không kết hôn, gia đình đồng giới nhưng phổ biếnnhất vẫn là loại hình gia đình hạt nhân quy mô nhỏ

6.2 Giới tính và trình độ học vấn có ảnh hưởng đến sựbiến đổi quy mô về gia đình

6.3 Dự báo trong tương lai quy mô gia đình tiếp tục nhỏlại, xu hướng gia đình đơn thân sẽ ngày càng tăng lên, mứcsinh giảm

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Gia đình là vấn đề được cộng đồng xã hội đặc biệt quantâm Điều này không chỉ bắt nguồn bởi vai trò to lớn của giađình trong đời sống của mỗi cá nhân, của toàn xã hội mà còn

vì những biến đổi mạnh mẽ và toàn diện của nó Gia đình vẫnđược coi là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học,được tiếp cận từ các góc độ khác nhau như triết học, kinh tếhọc, luật học, xã hội học, dân tộc học, tâm lý học, nhân khẩuhọc, Các kết quả nghiên cứu cho thấy, tuy gần gũi thân quennhưng gia đình cũng bao chứa nhiều khía cạnh đa dạng, phứctạp

1.1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến biến đổi quy mô gia đình

Những công trình nghiên cứu về gia đình, biến đổi giađình, đặc biệt là về quy mô gia đình luôn là vấn đề đặc biệtđược các nhà nghiên cứu tìm hiểu trong hơn hai thập kỷ quabởi xã hội luôn vận động và biến đổi không ngừng Đã có rấtnhiều những nghiên cứu khác nhau về quy mô gia đình

Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 không chỉ là cuộccách mạng xã hội mà còn là cuộc cách mạng về gia đình, nó

đã tạo ra sự biến đổi lớn cho gia đình, đặc biệt là tạo điều kiện

Trang 14

đẳng giới, giải phóng và giáo dục con người Các chính sách

về gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Hình sự,

Bộ luật Dân sự, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạolực gia đình, Luật Chăm sóc và bảo vệ trẻ em, Luật Người caotuổi; Các chiến lược quốc gia về gia đình đã nhất quán tưtưởng và quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về giađình, đó là: thực hiện chế độ một vợ, một chồng; cha mẹgương mẫu, con cái hiếu thảo; anh em giúp đỡ, hòa thuận lẫnnhau; thực hiện bình đẳng giới, tôn trọng phụ nữ; bảo vệ trẻem; chăm sóc người cao tuổi; xác định quyền và trách nhiệmcủa các cá nhân trong gia đình; quyền lợi và trách nhiệm củagia đình với xã hội,

Bài báo “Tương lai của gia đình hạt nhân” của Carle C.Zimmerman trên Tạp chí Xã hội học Quốc tế về Gia đình đãchỉ ra gia đình hạt nhân (bao gồm vợ - chồng và con cái) làmột hiện tượng "sinh học" của xã hội loài người, là dạng giađình phổ biến trong xã hội loài người Loại hình gia đình này

có thể thiếu hụt nhưng về cơ bản thì hình thức của nó không

hề thay đổi Gia đình có thể có xu hướng phụ thuộc và cha mẹ

vợ hoặc chồng hoặc đôi khi là họ hàng xa hơn, nhưng điềunày xuất phát từ lòng hiếu thảo hoặc những yếu tố thân tínhơn là những yếu tố khác Trong các điều kiện xã hội khácnhau, các gia đình hạt nhân được liên kết với xã hội bên ngoàibằng nhiều cách khác nhau như thông qua "thị tộc", các giaicấp, làng và luật công Trong tương lai, gia đình hạt nhân sẽngày càng có xu hướng gia tăng (Zimmerman, C (1972))

Constance Sorrentino năm 1990 với nghiên cứu: “Biếnđổi gia đình trong viễn cảnh quốc tế” (The changing family ininternational perspective) đã chỉ ra quy mô gia đình trở nênnhỏ hơn, tỷ lệ sinh giảm và ngày càng có nhiều người sống côđơn hơn Các nước Scandinavia là những nước đi đầu trongviệc phát triển các hình thức sống gia đình phi truyền thống,nhưng Hoa Kỳ có tỷ lệ ly hôn và các hộ gia đình đơn thân caonhất Những thay đổi sâu rộng đang diễn ra trong cấu trúc gia

Trang 15

đình và cách sắp xếp cuộc sống hộ gia đình ở các nước pháttriển Tuy tốc độ và thời gian thay đổi khác nhau giữa cácquốc gia, nhưng hướng chung trên thực tế là giống nhau ởmọi nơi Quy mô gia đình ngày càng trở nên nhỏ hơn, loạihình gia đình trong vài thập kỷ qua đã rời xa gia đình hạtnhân truyền thống: chỉ có chồng, vợ và con cái cùng chungsống trong một hộ gia đình; xu hướng sẽ nhiều gia đình đơnthân hơn, nhiều người sống một mình hơn, và nhiều cặp vợchồng sống chung ngoài giá thú Đặc biệt, có sự gia tăng tỷ lệtham gia vào lao động của phụ nữ (Constance Sorrentino,1990)

Trong bài viết “Dư luận xã hội về số con” của tác giả MaiQuỳnh Nam được đăng trên Tạp chí Xã hội học số 3 (47) năm

1994 đã chỉ ra rằng mục tiêu quan trọng nhất của Cuộc vậnđộng dân số và kế hoạch hóa gia đình là mỗi gia đình chỉ có

từ 1 đến 2 con Sở dĩ phải tìm hểu dư luận xã hội của nhữngngười đang ở độ tuổi sinh đẻ về mục tiêu này là bởi vì tínhthẩm quyền (competence) của dư luận xã hội thể hiện hiệulực của dư luận xã hội trong hoạt động quản lý các quá trình

xã hội Việc tìm hiểu dư luận xã hội cho thấy mối liên hệngược để các cơ quan hoạch định Chính sách dân số biết đượcmức độ nhận thức và khả năng thực hiện mục tiêu mới giađình chỉ có từ 1 đến 2 con của những người đang ở độ tuổisinh đẻ Kết quả của Chương trình nghiên cứu kiến thức, tâmthế và thực hành kế hoạch hóa gia đình (KAP) do Viện Xã hộihọc và Viện Khoa học thống kê thực hiện năm 1993 cho thấy

có 72,2% số người được hỏi trả lời rằng họ mong muốn có từ 1đến 2 con Tỷ lệ này không chỉ phản ánh rõ nét sự đánh giá xãhội đối với mục tiêu quan trọng nhất của Cuộc vận động dân

số và kế hoạch hóa gia đình, khi vấn đề này đang trở thànhmối quan tâm chung của toàn xã hội mà còn nó phản ánhquyền lợi chung của toàn xã hội, của các nhóm, các thànhviên trong xã hội, đặc biệt là quyền lợi của phụ nữ và trẻ em.Dựa vào tính chất của dư luận xã hội, người ta có thể dự báo

Trang 16

được xu hướng vận động và phát triển của một vấn đề nào

đó, khi vấn đề ấy được phản ánh trong dư luận xã hội.[CITATION Mai94 \l 1066 ]

Bài viết của Charles Hirischman và Vũ Mạnh Lợi được introng Tạp chí Xã hội học số 3 (47) năm 1994 có tên “Gia đình

và cơ cấu hộ gia đình Việt Nam – Vài nét đại cương từ mộtcuộc khảo sát xã hội học dân số gần đây” đã nhấn mạnh đếnnhững khía cạnh của cấu trúc hộ gia đình (cụ thể là ai sốngvới ai) và tần suất viếng thăm giữa cha mẹ và con cái đãtrưởng thành, trên cơ sở những đặc trưng quan trọng của xãhội Việt Nam đương đại Nghiên cứu phân tích dựa trên số liệu

từ cuộc khảo sats lịch sử đời sống Việt Nam trong khuôn khổ

dự án VIE/88/P05, một cuộc điều tra chọn mẫu nhỏ gồm 403

hộ gia đình tại 04 khu vực của Việt Nam, bao gồm cả miềnBắc và miền Nam, tại mỗi miền lựa chọn một làng ở nôngthôn và một khu vực ở đô thị Kết quả của cuộc điều tra đãcung cấp một bằng chứng phức hợp về bức tranh cơ cấu giađình Việt Nam Hộ gia đình Việt Nam nói chung có quy môtrung bình, và hình thức gia đình hạt nhân là phổ biến Quy

mô hộ gia đình khá khiêm tốn, dao động từ khoảng 4,4 ngườitrong thành phố ở miền Bắc và 6 người trong thành phố ởmiền Nam Trong đó, vẫn có một tỷ lệ nhỏ hộ gia đình có từ 4đến 6 thành viên Quy mô gia đình nông thôn phù hợp với cấutrúc gia đình gia trưởng, trong khi mô hình cấu trúc gia đìnhthành ở cả hai miền là nữ chiếm một nửa số hộ được khảo sát

Từ cuộc nghiên cứu này, tác giả cũng chỉ ra có sự kết hợpgiữa văn hóa nho giáo Đông Á trong tổ chức gia đình, nhưng

có sự linh hoạt đáng kể về vai trò giới và những nghĩa vụ đượccoi là đặc trưng của cơ cấu gia đình Đông Nam Á ở Việt Nam.Trái với tập quán lâu đời của Nho giáo, có một bộ phận nhỏngười trả lời rằng đang sống chung cùng với họ hàng đằng bốhồi còn nhỏ Có bằng chứng mạnh mẽ về tầm quan trọng củanhững quan hệ gia đình mở rộng với hầu hết những người trảlời thăm bố mẹ hàng tuần hoặc hàng ngày Thực tế những

Trang 17

quan hệ viếng thăm này của nam giới mạnh hơn nữ giới,chứng minh cho tầm quan trọng tương đối của họ hàng vềphía bố (Vũ Mạnh Lợi, Charles Hirshman, 1994)

Dưới góc độ xã hội học, các nhà nghiên cứu tập trungnghiên cứu sự biến đổi gia đình, lý giải những chiều cạnh của

sự biến đổi, phân tích những hệ lụy xã hội của quá trình nàydưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau Những phân tíchbiến đổi trong cơ cấu gia đình đều cho thấy sự khác nhau giữacác gia đình ở nông thôn và thành thị từ những đặc điểm giađình, quy mô, số lượng con cái, thu nhập, đến sự phân cônglao động trong gia đình Từ công cuộc đổi mới (năm 1986),các cuộc điều tra xã hội học về gia đình do nhiều cơ quan tiếnhành đã đưa ra cái nhìn toàn diện hơn về gia đình Việt Namhiện đại Có thể kể đến một số tác phẩm về gia đình như:Trung tâm nghiên cứu gia đình và phụ nữ với “Gia đình và vấn

đề giáo dục gia đình” năm 1994; Lê Thi năm 2002 với “Giađình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới”; “Gia đìnhhọc” năm 2009 của Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý đã trìnhbày tương đối toàn diện về vấn đề gia đình ở Việt Nam và một

số nghiên cứu của gia đình trên thế giới; hay Mai Huy Bíchnăm 2011 với “Xã hội học gia đình”;; Lê Ngọc Văn năm 2011với “Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam”,

Lê Thi với cuốn sách “Gia đình Việt Nam trong bối cảnhđất nước đổi mới” đã đề cập đến sự biến đổi của gia đình ViệtNam trong bối cảnh đất nước đổi mới chuyển sang thế kỷ 21.Chương 1, tác giả đi vào đề cập đến những biến đổi chung,sau đó đi sâu vào nghiên cứu những biến đổi của hôn nhân,vấn đề xã hội hoá trẻ em và việc thực hiện mục tiêu nghịquyết Đại hội Đảng lần thứ IX Chương 2, tác giả đi từ góc độgiới để nghiên cứu các vấn đề gia đình cụ thể như mối quan

hệ trong gia đình nhìn từ cách tiếp cận giới; bất bình đẳngtrong việc thực hiện chiến lược dân số và phát triển bền vững

ở Việt Nam; bạo lực gia đình, phân biệt đối xử giữa con trai vàcon gái, ly hôn phụ nữ đơn thân Cuốn sách cũng đề cập tới

Trang 18

vấn đề xây dựng văn hóa gia đình và gia đình văn hóa (LêThi, 2002)

Một nghiên cứu khác năm 2003 của Val Gillies có tên

“Family and Intimate Relationships: A Review of theSociological Research” đã đưa ra các quan điểm nhằm giảithích sự biến đổi của gia đình, cấu trúc gia đình, mối quan hệgia đình, thân tộc Qua đó làm bật lên vấn đề chính: Gia đình

ở xã hội hiện đại khác hẳn với gia đình ở xã hội tiền côngnghiệp Gia đình vốn được coi là trụ cột của sự gắn kết xã hội,nền văn minh và trật tự,và như một cấu trúc thể hiện sứckhỏe đạo đức của xã hội Theo quan điểm của Tacolt Parson,nền kinh tế ngày càng phát triển thì nó càng phân biệt hìnhthức gia đình và gia đình hạt nhân đã phát triển như một phảnứng với nhu cầu của xã hội công nghiệp hiện đại Thách thứctoàn diện và có hệ thống nhất đối với hệ tư tưởng về gia đìnhxuất hiện từ đầu làn sóng thứ hai của phong trào nữ quyền Điđầu là sự bác bỏ khái niệm rằng cấu trúc gia đình theo bất kỳcách nào là tự nhiên, không thể tránh khỏi hoặc cần thiết và

là sự nhấn mạnh thay thế về vai trò trung tâm của gia đìnhtrong việc tái sản xuất chế độ phụ hệ và chủ nghĩa tư bản.Ngoài ra, nghiên cứu cũng đã chỉ ra sự thay đổi trong quan hệ

họ hàng, gia đình dưới cách tiếp cận của các lý thuyết xã hộihọc Đồng thời từ những quan điểm được trích dẫn trongnghiên cứu, chúng ta có cái nhìn rõ hơn về cách lý giải và giảithích sự biến đổi trong gia đình nói chung và biến đổi về quy

mô gia đình nói riêng dưới cách nhìn của xã hội học (ValGillies, 2003)

Lê Ngọc Văn năm 2004 với cuốn “Thực trạng và nhữngvấn đề đặt ra đối với gia đình Việt Nam hiện nay” Đây là côngtrình phân tích các tài liệu nghiên cứu và điều tra về gia đìnhViệt Nam được tiến hành trong vòng 15 năm (từ năm 1990đến năm 2004) Cuốn sách được kết cấu thành 3 phần với cácnội dung: thực trạng cấu trúc gia đình Việt Nam, thực trạngchức năng gia đình, dự báo xu hướng biến đổi gia đình và

Trang 19

những vấn đề đặt ra đối với gia đình Việt Nam Cuốn sách làmột bức tranh toàn cảnh về gia đình Việt Nam được các tácgiả thể hiện thông qua việc mô tả, phân tích thực trạng cấutrúc và chức năng của gia đình Đồng thời, dựa trên sự phântích những thuận lợi, khó khăn, thách thức đặt ra đối với giađình Việt Nam, tác giả còn đề xuất một số giải pháp xã hộinhằm không ngừng củng cố sự bền vững của gia đình, pháthuy vai trò và năng lực to lớn của gia đình trong thời kỳ CNH,HĐH đất nước.

Trong bài viết được đăng trên tạp chí Dân số và Pháttriển số 12 (93) năm 2008 của Tổng cục Dân số - Kế hoạchhóa gia đình có tên: “Sự thay đổi về quy mô và cơ cấu hộ giađình ở Việt Nam” của tác giả Lê Văn Dụy, đã phân tích sựthay đổi về quy mô và cơ cấu hộ gia đình ở Việt Nam trongvòng 13 năm (từ năm 1994 – 2007) và chỉ ra rằng quy môhộgia đình ở Việt Nam đang ngày một thu nhỏ Số người bìnhquân/hộ gia đình ở Việt Nam đã giảm một cách đáng kể từ 5,8người/ hộ năm 1994 xuống còn 4,1 người/ hộ năm 2007 Tácgiả cũng chỉ ra nguyên nhân của hiện tượng này là do tỷ lệsinh đã giảm một cách mạnh mẽ và mô hình gia đình truyềnthống ngày càng không có vị trí lớn trong xã hội Việt Nam.Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt giữa các vùng giữa quy

mô và cơ cấu hộ gia đình Cụ thể, Tây Nguyên và Tây Bắc, haivùng có đồng bào dân tộc sinh sống, có quy mô bình quâncao nhất; tiếp đến là các vùng Đông Bắc, Đồng bằng sôngCửu Long, Duyên hải miền Trung; duy nhất chỉ có Đồng bằngsông Hồng là có quy mô hộ thấp hơn mức bình quân của cảnước Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn chưa chỉ ra được nguyênnhân của sự khác biệt đó (Lê Văn Dụy, 2008)

Nghiên cứu “Families as Roommates: Changes in US”của Alejandrina, Todd Schoellman và Michele Tertilt đã chỉ ra

sự biến đổi quy mô gia đình tại Mỹ từ những năm 1850 đếnnăm 2000 Nghiên cứu chỉ ra rằng người Mỹ trung bình ngàynay sống trong một hộ gia đình chỉ có ba người, tuy nhiên vào

Trang 20

năm 1850, quy mô hộ gia đình đã tăng gấp đôi con số đó Hơnnữa, cả số trẻ em và số lượng người lớn trong một hộ gia đìnhđều giảm đáng kể Các tác giả cho rằng nhìn việc sống chungvới những người khác trong gia đình giống như là những ngườibạn cùng phòng, bởi điều này chỉ có lợi vì chi phí hàng hóacông cộng của hộ gia đình có thể được chia sẻ Cơ chế của môhình là thu nhập tăng dẫn đến tỷ trọng chi tiêu cho hàng hóacông cộng của hộ gia đình giảm xuống, điều này nội sinhkhiến việc hình thành hộ gia đình ít có lợi hơn và quyền riêng

tư trở nên hấp dẫn hơn Số thành viên là người lớn/hộ giảm từ6,2 người năm 1985 xuống còn 3,1 người trong năm 2000, sốtrẻ em giảm từ 2,7 xuống còn 0,8 trẻ em/hộ Nghiên cứu nàycũng đã chỉ ra xu hướng không chỉ suy giảm trong hôn nhân

và khả năng sinh sản mà còn suy giảm trong quy mô hộ giađình (Alejandrina, Todd Schoellman, Michele Tertilt, 2009)

Hoàng Bá Thịnh năm 2009 với bài viết “Công nghiệp hóanông thôn và những biến đổi trong gia đình nông thôn hiệnnay” (Nghiên cứu trường hợp xã Ái Quốc, Nam Sách - HảiDương) được đăng trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt Namhọc lần thứ ba đã chỉ ra rằng quá trình công nghiệp hoá nôngthôn đã gây nên những biến đổi về gia đình Cụ thể, theo kếtquả Điều tra gia đình Việt Nam cho thấy, gia đình có hai thế

hệ (gồm cha mẹ và con cái) chiếm 63,4%, và loại hình giađình này phổ biến hơn ở các khu vực Đông Bắc (67,2%), TâyBắc (70,3%) và Tây Nguyên (76,4%) Số lượng gia đình hạtnhân chiếm tỷ lệ cao ở các đô thị trong khi đa số gia đình mởrộng ở các vùng nông thôn, miền núi Sự chuyển đổi từ giađình mở rộng sang gia đình hạt nhân, xét từ địa bàn cư trú thì

có “loại hình quá độ” là các gia đình hạt nhân tách ra nhữngvẫn sinh sống xung quanh gia đình gốc (con cái sống gần cha

mẹ, ông bà), để tiện chăm nom, săn sóc cha mẹ cao tuổi.Kiểu cư trú này khá phổ biến ở các vùng nông thôn hiện nay

và nó đặc biệt có ý nghĩa khi mà tốc độ già hoá dân số ở ViệtNam đang tăng trong khi chính sách an sinh xã hội với người

Trang 21

cao tuổi chưa đáp ứng được nhu cầu Nghiên cứu ở xã Ái Quốccho thấy, trong số 817 gia đình được hỏi thì có 70.1% số giađình có hai thế hệ, 26,1% ba thế hệ, và 3,7% gia đình có mộtthế hệ Về quy mô gia đình, ở xã Ái Quốc có 65,2% gia đình có

4 đến 5 người; từ 6 người trở lên có 12,6%, và 15,5% gia đình

có 2 đến 3 người Quy mô gia đình như vậy, cũng tương tự vớikết quả điều tra về biến động dân số trên phạm vi toàn quốc.(Hoàng Bá Thịnh, 2009)

Gavin W.Jones năm 2012 với chủ đề “Biến đổi quy mô,cấu trúc và chức năng gia đình ở Châu Á” (Changing familysizes, structures and functions in Asia) đã chỉ ra rằng sự thayđổi trong gia đình đang diễn ra trên khắp châu Á, đặc biệt làgiữa các tiểu vùng và các Quốc gia Hầu hết sự thay đổi này là

do trình độ học vấn và sự tham gia lao động của người phụ nữtăng lên, tỷ lệ phân công lao động theo giới giảm, mức sinhgiảm (một phần do trì hoãn kết hôn) và tỷ lệ ly hôn ngày càngtăng Độ tuổi kết hôn trung bình đang tăng đối với cả nam và

nữ trên toàn châu Á, già hóa dân số là một xu hướng gần nhưphổ biến và mặc dù tỷ lệ người cao tuổi sống cùng con cháucao hơn nhiều so với phương Tây nhưng tỷ lệ này đang có xuhướng giảm Vai trò của gia đình, cộng đồng và Nhà nướctrong việc hỗ trợ người cao tuổi là một trong những vấn đềquan trọng cần đảm bảo trong tương lai (G.Jones, 2012)

Bài viết “Những biến đổi trong hôn nhân và gia đình của

cư dân ven đô ở Nam bộ trong quá trình đô thị hóa” của TrầnThị Kim Xuyến năm 2013 chỉ ra có sự chuyển đổi khá lớntrong quan niệm hành vi của cư dân ven đô trong việc thựchiện chức năng sinh sản, làm cho quy mô gia đình nhỏ đi và

cơ cấu gia đình đơn giản hơn Với sự thay đổi quan niệm về sốcon, về thời điểm và khoảng cách lần sinh và việc thực hiệnchức năng sinh sản chuyển từ trọng tâm gia đình, dòng họsang mối quan tâm cùa cá nhân và thỏa mãn được nhu cầu

xã hội Sự trùng khớp về số con lý tưởng, số con mong muốn

và số con thực tế trong quan niệm và hành vi của giới trẻ cho

Trang 22

thấy hiệu quả của chính sách dân số cũng như tính thích ứngcủa sự chuyển đổi hình thái gia đình với tiến trình công nghiệphóa - hiện đại hóa Ngày nay, các cặp vợ chồng trẻ tuồi, cótrình độ học vấn cao hơn, được tiếp cận với các hình thứctruyền thông khác nhau, nhận thức của họ đã thay đổi nhiều

so với thế hệ trước Mặt khác, cũng do bối cảnh công nghiệphóa hiện đại hóa, lối sống cộng đồng theo nghĩa thực hànhkiểm soát xã hội bằng các chuẩn mực cũ đã khác, do vậy, sựphụ thuộc của thế hệ con cái vào cha mẹ và họ hàng khôngcòn chặt chẽ như trước Giới trẻ ngày nay lấy các tiêu chuẩnpháp luật và quy tắc đoàn thể để định hướng cho hành độngcủa mình, vì thế, họ tự do hơn trong quan niệm và hành visinh sản (Trần Thị Kim Xuyến, 2013)

Hoàng Bá Thịnh và Đoàn Thị Thanh Huyền trong bài viếttrên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 5 (90), 55 - 61 cótên “Đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay” đã chỉ ra rằng mặc dù tỷ

lệ đô thị hoá ở Việt Nam còn ở mức thấp so với các quốc giatrong khu vực, nhưng Việt Nam đã và đang đối diện với nhữngmặt trái của đô thị hoá như: di cư tự do, quá tải về các dịch vụ

xã hội, Điều này đã kéo theo những biến đổi về quy mô dân

số và quy hoạch đô thị Bản thân quy mô dân số phụ thuộc vàquy mô gia đình ở đô thị Đô thị hóa là một quy luật tất yếu,

tỷ lệ đô thị hóa được xem là một chỉ báo về sự phát triển củamột quốc gia, vùng miền, địa phương Đô thị hóa không chỉ là

sự mở rộng không gian địa lý của các thành phố, thị xã, màcòn là quá trình biến đổi dân cư Bởi vậy, từ bài viết nàychúng ta có thể một lần nữa chứng minh được mối quan hệgiữa đô thị hóa và quy mô gia đình hiện nay Những biến đổinày không mâu thuẫn với sự biến đổi không ngừng của xã hội

mà là sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố cấu thành

xã hội đó (Hoàng Bá Thịnh, Đoàn Thị Thanh Huyền, 2015)

Nguyễn Hữu Minh năm 2015 với bài viết “Gia đình ViệtNam sau 30 năm đổi mới” được in trên Tạp chí Khoa học xãhội Việt Nam, số 11(96) đã chỉ ra rằng sau gần 30 năm Đổi

Trang 23

mới, cùng với những biến chuyển tích cực về kinh tế - xã hội,đời sống gia đình Việt Nam cũng có nhiều thay đổi, đặt ranhững vấn đề mới cần quan tâm Đặc biệt là vấn đề trước đâyngười cao tuổi thường sống chung với con cháu trong gia đình

mở rộng và điều này đã trở thành thứ bản sắc riêng ở các giađình Việt Nam Việc chăm sóc của con cái đặc biệt có ý nghĩa

về mặt tinh thần đối với người cao tuổi Tuy nhiên, hệ thốngtrợ giúp của gia đình cho người cao tuổi trong tương lai gần sẽgặp những trở ngại do những biến động của quy mô dân số và

xu thế hạt nhân hóa gia đình Việc giảm số con trong gia đình

sẽ làm giảm nguồn hỗ trợ cho cha mẹ khi tuổi già Sự thamgia của phụ nữ vào lực lượng lao động xã hội, nhiều thanhniên di cư tìm kiếm việc làm khiến cho người cao tuổi càng côđơn và thiếu nơi nương tựa Bài viết tập trung phân tíchnhững thành tựu về công tác gia đình, những hạn chế chủ yếu

về nhận thức cũng như những bất cập trong đời sống gia đìnhhiện nay, các nguyên nhân của tình hình đó Trên cơ sở cácphân tích cụ thể bài viết đã trình bày một số vấn đề chủ yếucần quan tâm về mặt chính sách nhằm xây dựng gia đình ViệtNam no ấm, tiến bộ và hạnh phúc (Nguyễn Hữu Minh, 2015)

Phillip Klever năm 2015 với nghiên cứu “Mối quan hệtrong gia đình đa thế hệ và chức năng gia đình hạt nhân”(Multigenerational Relationships and Nuclear FamilyFunctioning) đã kiểm định các mối quan hệ của một cá nhânvới ông/bà, cô, chú và anh/chị/em họ trong gia đình Nghiêncứu chỉ ra rằng, gia đình như một hệ thống cảm xúc điềukhiển cả mặt sinh học và hành vi của các cá nhân Sự liên hệ

và khả năng thích ứng khiến cho sự vận hành của các thànhviên trong gia đình phụ thuộc lẫn nhau Nhưng về thực tế cácthành viên trong gia đình thường cởi mở với cha mẹ của mìnhhơn các mối quan hệ khác, các mối quan hệ anh em họ chỉxảy ra trong bối cảnh cha mẹ của anh em họ duy trì liên hệtình cảm với nhau Nói cách khác, những mối quan hệ tronggia đình được mở rộng nếu có sự tham gia của cha mẹ và

Trang 24

ngược lại Tác giả cũng đồng ý với học thuyết hệ thống giađình Bowen rằng bản chất của gia đình là các thành viên gắnkết chặt chẽ với nhau về tình cảm, các thành viên gia đìnhảnh hưởng mạnh mẽ đến các suy nghĩ, cảm xúc và hành độngcủa nhau Sự thay đổi về chức năng của một cá nhân sẽ nảysinh những thay đổi trong vận hành chức năng của các cánhân khác và điều này có thể tiên đoán trước (Phillip Klever,2015)

Trần Thị Minh Thi năm 2020 với bài viết “Những biến đổicủa gia đình Việt Nam hiện nay và một số khuyến nghị chínhsách” đã chỉ ra rằng trong những thập niên qua, gia đình ViệtNam đã trải qua những biến chuyển quan trọng, từ gia đìnhtruyền thống sang gia đình với những đặc điểm mới, hiện đại

và tự do hơn Quá trình hội nhập quốc tế, trong đó có hộinhập và giao lưu văn hóa làm xuất hiện những quan điểm cởi

mở hơn về hôn nhân và gia đình Việt Nam Gia đình Việt Nam

đã có sự biến đổi từ các giá trị gia đình truyền thống sang giátrị gia đình hiện đại, đồng thời có sự bền vững tương đối củavăn hóa trong quá trình hiện đại hóa Sự xuất hiện các nhân

tố mới, như di cư lao động, tôn trọng tự do cá nhân, sự độc lập

về kinh tế giữa bố mẹ và con cái trong đời sống gia đình hiệnđại cũng góp phần làm chuyển dịch từ gia đình lớn nhiều thế

hệ (ông bà – cha mẹ – con cháu) sang gia đình nhỏ (1 hoặc 2thế hệ) Quan hệ của gia đình với dòng họ trong xã hội ViệtNam hiện nay còn khá chặt chẽ, gắn kết, mức độ gắn kếtmạnh mẽ hơn ở nhóm mang những đặc điểm truyền thống(như cao tuổi, học vấn thấp, nghèo, cư trú ở nông thôn) Tuynhiên, ở Việt Nam hiện nay, một bộ phận người dân, chủ yếu

là người dân tộc Kinh, trẻ tuổi, học vấn cao, ở thành thị có tỷ

lệ chấp nhận những kiểu loại gia đình mới cao hơn, tuy rằng

có thể chưa thực sự hiểu rõ những hệ quả tiêu cực của nó.Đồng thời, bài viết cũng đề xuất một số khuyến nghị nhằmgìn giữ các giá trị gia đình (Trần Thị Minh Thi, 2020)

Trang 25

Hội thảo quốc tế với chủ đề: “Gia đình trong các xã hộihiện đại và mang tính toàn cầu: Truyền thống được bảo lưu vàBiến đổi“ được tổ chức tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội ViệtNam, trong 02 ngày 18 và 19 tháng 10 năm 2019 do Hội Xãhội học Việt Nam (VSA) phối hợp với Ủy ban Nghiên cứu Giađình (RC06) thuộc Hiệp hội Xã hội học Quốc tế (ISA) tổ chứcvới sự tham gia của hơn 180 đại biểu đến từ 25 nước và vùnglãnh thổ tham dự Hội thảo có tổng số 2 phiên họp toàn thể,

27 phiên họp chuyên đề, 130 bài tham luận trình bày Trongbáo cáo chính với chủ đề “Gia đình châu Á: Quá khứ, Hiện tại

và Tương lai” được trình bày tại phiên toàn thể, GS CharlesHirschman, GS Danh dự, Khoa Xã hội học, Đại học Tổng hợpWashington (Seattle, Hoa Kỳ), Nguyên Chủ tịch Hiệp hội Dân

số học Hoa Kỳ, Phó Chủ tịch Hiệp hội Xã hội học Hoa Kỳ, Viện

sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Tự nhiên và Xã hội Hoa Kỳ đã chỉ rarằng cấu trúc gia đình châu Á ngày nay đa dạng hơn so vớitrong quá khứ; Quy mô gia đình, mô hình chung sống sau hônnhân, mối quan hệ giới và sự tan vỡ hôn nhân có nhiều biếnthể ở các địa bàn khác nhau; Trong giai đoạn hiện nay, một số

xã hội châu Á đang có mức sinh đặc biệt thấp và tỷ lệ khôngkết hôn tương đối cao, trong khi đó ở những xã hội khác có sựgiao thoa mạnh mẽ giữa các yếu tố hiện đại và truyền thống.(Trần Nguyệt Minh Thu, 2020)

Để có thể nhìn một cách tổng quát về tình hình biến đổiquy mô gia đình không thể không kể đến một số cuộc điều tralớn như: Điều tra Biến động dân số - kế hoạch hóa gia đình,Tổng điều tra Dân số và Nhà ở, Điều tra mức sống dân cư củaTổng cục Thống kê hàng năm Cả ba cuộc điều tra nói trênđều có dữ liệu liên quan đến hộ gia đình, cụ thể là quy mô giađình của Toàn quốc và các tỉnh thành nói riêng

Nhìn chung, các tác giả và các nghiên cứu cả ở trongnước và ngoài nước về vấn đề gia đình, cơ cấu, quy mô giađình rất phong phú Tuy nhiên, do điều kiện phát triển ở mỗiđất nước khác nhau nên từng địa bàn nghiên cứu lại có những

Trang 26

biến đổi khác nhau Từ những bài viết, bài nghiên cứu trên cóthể thấy rằng đề tài có thể tham khảo được một nền tảngnghiên cứu vấn đề đa dạng và phong phú với nhiều quanđiểm, phương pháp nghiên cứu và khía cạnh nghiên cứu.

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về yếu tố tác động đến biến đổi quy mô gia đình

Ở phương Tây, sự phát triển mạnh mẽ của CHN - HĐH đãnhanh chóng làm lu mờ đi những giá trị tốt đẹp vốn có của giađình thời trung đại Việc nền kinh tế sản xuất phát triển thúcđẩy xu hướng giải phóng cá nhân ra khỏi gia đình đã làm chođời sống gia đình trở nên nghèo nàn, thiếu thốn về mặt tìnhcảm Có thể gặp vấn đề này trong một số công trình như:

“The Development of the family and marriage in Europe (Sựphát triển của hôn nhân và gia đình ở châu Âu)” của J.Goodynăm 1983; hoặc điển hình là “World Revolution and FamilyPaterns (Cách mạng thế giới và những loại hình gia đình)” củaW.Goode năm 1963 Trong nghiên cứu này, Goode đã chorằng sự biến đổi các mẫu hình gia đình ở nhiều nơi trên thếgiới là do ảnh hưởng của biến đổi xã hội mà ông gọi là côngnghiệp hóa Sự thay đổi này là kết quả của sự thích nghi củacác cá nhân và các thành viên trong gia đình với những điềukiện kinh tế, nhân khẩu học, công nghệ và văn hóa Theo ông,công nghiệp hóa phát triển thu hút giới trẻ nông thôn di cư ra

đô thị, thoát khỏi sự kiểm soát của thế hệ già và họ hàng, tựlựa chọn lựa đối tượng kết hôn tại nơi ở Như vậy theo nhànghiên cứu này có thể thấy rằng, quy mô gia đình dưới nhữngtác động của công nghiệp hóa, di cư, đô thị hóa đã được tiếnhành rất lâu trước đó

Trong một bài viết của mình trên tạp chí Xã hội học số 3(47), 1994:74 - 76 có tên: “Chung quanh vấn đề dân số: Mốiquan hệ giữa dân số và phát triển – phương hướng nghiên cứu

và khả năng ứng dụng” tác giả Nguyễn Đình Cử đã phân tích

và chỉ ra một số vấn đề về mối quan hệ giữa dân số và pháttriển Cụ thể, đối với mỗi cá nhân thì những đặc trưng về tuổi,

Trang 27

giới tính, tình trạng hôn nhân, số con và các yếu tố khác cómối quan hệ chặt chẽ với nhau Ngoài ra quá trình phát trểndân số ở mỗi thời kỳ cũng khác nhau, tùy thuộc vào sự pháttriển của đất nước (Nguyễn Đình Cử, 1994)

Tác giả Vũ Tuấn Huy trong bài viết trên tạp chí Xã hội học

số 4 năm 1995 có tên “Những khía cạnh của sự biến đổi giađình” đã bước đầu phân tích được sự đa dạng trong biến đổigia đình của Việt Nam Gia đình Việt Nam đã và đang biến đổidưới sự tác động của những biến đổi - xã hội và giao lưu vănhóa Thực tế công cuộc hiện đại hóa, gắn liền nó là quá trìnhcông nghiệp hóa và đô thị hóa ở nước ta và các quá trình dân

số là những yếu tố tác động đến đời sống gia đình Sự biến đổitrong mô hình nơi ở và quan hệ thân tộc phản ánh một xuhướng hạt nhân hóa gia đình, trong đó yếu tố kinh tế đóngmột vai trò quan trọng Tuy nhiên, sự phát triển của côngnghiệp hóa và đô thị hóa chưa đủ mạnh để tạo ra những biếnđổi căn bản trọng mô hình nơi ở và các quan hệ thân tộc Đó

là tỷ lệ gia đình mở rộng ở đô thị cao hơn ở nông thôn, mặc dù

tỷ lệ sống chung với bố mẹ sau khi kết hôn ở độ thị thấp hơn

ở nông thôn Những quan hệ họ hàng cũng được củng cốtrong những quan hệ thăm viếng và sự giúp đỡ lẫn nhau Anh

em họ hàng vẫn là nguồn trợ giúp chủ yếu về kinh tế khi cầnthiết Tuy nhiên, một định hướng đến sự thay đổi khi các thiếtchế ngoài gia đình hoạt động hiệu quả và thuận tiện Ngoài

ra, có một sự biến đổi đáng kể trong mô hình hôn nhân Đó là

xu hướng con cái tự quyết định trong việc tìm hiểu và xâydựng gia đình ngày càng tăng, một đặc trưng hướng đến giađình hạt nhân Những biến đổi đó gắn liền với lối sống đô thị,

sự tác động của việc nâng cao trình độ học vấn và thu nhập.Tuy nhiên, tính tự chủ trong hôn nhân gắn liền với tính tự chủ

về kinh tế của con cái khi trưởng thành Cuối cùng, tác giảcho rằng có những biến đổi trong gia đình sẽ tác động tíchcực đến công cuộc công nghiệp hóa và phát triển kinh tế xã

Trang 28

hội ở Việt Nam; Nhưng đồng thời lại có những biến đổi cản trở

sự phát triển này (Vũ Tuấn Huy, 1995)

Tamara K Haraven năm 1978 với cuốn sách có tên “TheFamily and the Life Course in Historical Perspective” (Gia đình

và chu kỳ đời sống trong viễn cảnh lịch sử) đã nghiên cứu về

sự phát triển của cuộc đời dựa trên những sự thay đổi của lịch

sử, từ đó đưa ra kết luận rằng bản thân hệ thống gia đìnhphương Tây biến đổi trước khi công nghiệp hóa xảy ra Hơnnữa, công nghiệp hóa chỉ có thể phát triển được ở giai đoạnđầu của nó với sự tác động của các yếu tố truyền thống lànhững quan hệ họ hàng mở rộng Nhìn dưới góc độ kinh tế thìtrong cộng đồng công nghiệp, gia đình hoạt động như mộtđơn vị kinh tế Quan hệ họ hàng vẫn là tác nhân quan trọngtrong việc giúp đỡ lẫn nhau về nơi ở khi chuyển từ lao độngnông nghiệp ở nông thôn sang lao động công nghiệp ở thànhthị Gia đình là một tác nhân tích cực của quá trình côngnghiệp hóa Và công nghiệp hóa đã dẫn đến sự chuyển đổinhững hình thái trong gia đình Điều này cũng cho thấy,nghiên cứu về những thay đổi trong gia đình dưới tác độngcủa cuộc cách mạng Công nghiệp hóa đã có từ rất lâu và đãđạt được những hiệu quả nghiên cứu lớn trên thế giới.(Tamara K Haraven, 1978)

Mai Văn Hai và Nguyễn Phan Lâm năm 2001 với bài đăngtrên tạp chí Xã hội học số 1 (73) có tên: “Luật đất đai và tácđộng ban đầu tới cơ cấu gia đình một làng châu thổ sôngHồng” đã phân tích hiện tượng tách hộ dẫn đến sự biến đổi cơcấu gia đình ở làng Đào Xá, xã An Bình, huyện Nam Thanh,Hải Dương (nay là Nam Sách, Hải Dương) Điều này đã làmbật lên đặc điểm của hộ gia đình ở châu thổ sông Hồng, đó là

sự cố kết gia đình vừa bền vững, lại vừa lỏng lẻo, bền vững làkiểu loại hình gia đình hạt nhân 2 thế hệ, lỏng llero là ở cáckiểu phi hạt nhân, nhất là ở những hộ gia đình có từ 3 – 4 thế

hệ trở lên Những số liệu trên của cuộc nghiên cứu đã chothấy có mối quan hệ giữa sự thay đổi trong Luật đất đai với sự

Trang 29

biến đổi cơ cấu gia đình ở nông thôn đồng bằng sông Hồng.

Từ cuộc nghiên cứu này, cho thấy sự biến đổi cơ cấu gia đìnhnói chung và quy mô gia đình nói riêng chịu sự tác động củanhiều yếu tố (Mai Văn Hai, Nguyễn Phan Lâm, 2001)

Các tác giả Tian Feng, Dudley L Poston Jr., và Tao Wang năm 2014 với nghiên cứu “Chính sách một con củaTrung Quốc và sự biến đổi gia đình” (China’s One-child Policyand the Changing Family) đã cchir ra rằng kể từ khi Chínhsách một con của Trung Quốc được ban hành vào cuối năm

Xiao-1979, gần 150 triệu trẻ em đơn thân đã được sinh ra Điềunày đã làm thay đổi đáng kể cấu trúc gia đình, các mối quan

hệ trong gia đình và lối sống trong gia đình ở Trung Quốc Cụthể, quy mô gia đình nhỏ hơn, loại gia đình lấy cha mẹ làmtrung tâm sang gia đình lấy con làm trung tâm, con cái trởthành trọng tâm của gia đình, dẫn đến thay đổi cách sống, vàlối sống trong gia đình Ngoài ra, chính sách này cũng làmgiảm cơ sở hỗ trợ cho người cao tuổi (Feng, X., Poston, D., &Wang, X., 2014)

Nguyễn Hữu Minh (chủ biên) năm 2014 với cuốn “Giađình Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và hội nhập từ cách tiếp cận so sánh” Cuốn sách gồm 31 bàitham luận có chất lượng của các học giả trong và ngoài nướctại hội thảo cùng tên, được Viện Nghiên cứu Gia đình và Giớilựa chọn và biên tập Các tác giả đã cố gắng đánh giá đầy đủhơn những thành tựu và thách thức trong việc xây dựng vàphát triển gia đình Việt Nam trong những năm Đổi mới, đặcbiệt là trong thập niên qua, nêu ra nhiều vấn đề đáng quantâm về các khía cạnh khác nhau trong đời sống gia đình ViệtNam và so sánh với những xu hướng phát triển của gia đình ởcác nước trên thế giới Nội dung cuốn sách được trình bàytrong 5 phần Trong đó, tại phần II, các tác giả đề cập về cấutrúc và chức năng của gia đình, đặc biệt là sự biến đổi nhanhchóng cấu trúc, chức năng gia đình Việt Nam trong quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập, từ sự giảm quy

Trang 30

mô gia đình, tăng tỷ lệ gia đình hạt nhân, giảm tỷ số phụthuộc trong gia đình, cho đến những thay đổi về chức năngcủa gia đình Cùng với điều đó là quá trình di động nghềnghiệp giữa các thế hệ diễn ra mạnh mẽ Chức năng xã hộihóa của gia đình có nhiều thay đổi Cha mẹ có ít thời gian hơnquan tâm đến giáo dục con cái trong khi con cái dành nhiềuthời gian với bạn bè và mạng xã hội Tác động của các yếu tốngoài gia đình như sự du nhập văn hóa, các hành vi tệ nạn xãhội, internet đến việc giáo dục đạo đức cho con cái ngày càngtăng lên Sự bảo lưu đậm nét các quan niệm truyền thống củadân cư về hôn nhân và gia đình Quan hệ tâm lý - tình cảmgiữa chồng và vợ, giữa cha mẹ và con cái trong gia đình, chứcnăng tái sinh sản của gia đình cũng thay đổi rõ rệt (NguyễnHữu Minh, 2014)

Ở phương Đông, gia đình là một tổ chức cộng đồnghuyết tộc có mối quan khăng khít và chặt chẽ Những nhàkinh điển của Nho giáo Trung Quốc đặt gia đình vào mối quan

hệ với toàn bộ hệ thống xã hội của con người, coi nhà là mắtxích quan trọng nhất nối kết con người với đất nước và thếgiới (Tu thân – Tề gia – Trị quốc – Bình thiên hạ) Các tác phẩmcủa Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử (Nho giáo nguyên thủy) vàTrình Y Xuyên, Đổng Trọng Thư (hậu Nho) đã đặt nền móngcho các quan điểm nghiên cứu về gia đình ở Trung Quốc, ViệtNam, Nhật Bản, Triều Tiên là những nước theo Nho giáo thời

cổ Nhưng những thập kỷ gần đây, trước tác động của nhiềuyếu tố nên gia đình phương Đông có những biến đổi sâu sắc.Nghiên cứu của Lee Jay Cho và Moto Yada năm 1994

“Tradition and change in the Asian Family” (Truyền thống và

sự thay đổi trong gia đình châu Á); Yen-Chun Cheryl Chen vàJui-Chung Allen Li năm 2014 với “Biến đổi gia đình ở Đông Á”(Family Change in East Asia); “Biến đổi gia đình ở Nhật bản 40năm qua: Một xã hội trải qua sự lão hóa dân số và suy giảmkhả năng sinh sản” (Forty Years of Family Change in Japan: A

Trang 31

Society Experiencing Population Aging and Declining Fertility)của Fumie Kumagai năm 2010 đã khẳng định điều này.

Hội thảo khoa học “Gia đình Việt Nam trong bối cảnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” do BanTuyên giáo Trung ương phối hợp với Hội đồng khoa học các cơquan Đảng Trung ương và Viện Hàn lâm khoa học xã hội ViệtNam tổ chức sáng ngày 4/10 tại Hà Nội đã nhấn mạnh giađình là một thiết chế quan trọng đối với sự phát triển xã hội,cộng đồng và mỗi cá nhân, đặc biệt là đối với trẻ em, ngườicao tuổi, người ốm đau, bệnh tật; là môi trường lưu giữ vàphát triển các giá trị văn hóa của dân tộc Phát triển gia đình

là nhiệm vụ có tính chiến lược của sự nghiệp đổi mới ở ViệtNam Tuy nhiên, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa, hội nhập quốc tế, mặc dù gia đình có những cơ hội thuậnlợi để nâng cao chất lượng cuộc sống nhưng gia đình cũng đốimặt với những thách thức, làm biến đổi về quy mô, cấu trúcgia đình, vấn đề hôn nhân và các mối quan hệ trong gia đình.Cùng với đó, xu hướng già hóa dân số, tỷ lệ sinh thấp, mặttrái của cơ chế thị trường, khoảng cách thu nhập, di cư, vấnnạn xã hội, cũng gây ra những khó khăn cho gia đình trongviệc tổ chức cuộc sống, chăm sóc và giáo dục trẻ em, chămsóc người già ốm đau (Thu Hằng, 2019)

Có thể nói rằng, nghiên cứu về biến đổi gia đình là mộtchủ đề hay những có nhiều khó khăn Tuy nhiên, việc hiểuđược những biến đổi này và những khía cạnh liên quan sẽ làmsáng tỏ những vấn đề chúng ta quan tâm về bản chất của xãhội và gia đình Các công trình nghiên cứu và bài viết đi trước

đã được các tác giả đã khái quát một cách có hệ thống về sựbiến đổi quy mô, cấu trúc, chức năng của gia đình và nhữngvấn đề liên quan trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế

ở nước ta hiện nay Từ những dữ liệu và kết luận đã rút ra, đềtài có thể sử dụng để tham khảo về phương pháp nghiên cứu,cách đặt vấn đề, và thêm minh chứng liên quan đến đề tàiđang nghiên cứu Đề tài này sẽ đóng góp thêm trong hệ thống

Trang 32

các nghiên cứu về gia đình nói chung và đặc biệt là về quy

mô gia đình nói riêng

1.2 Các khái niệm công cụ

1.2.1 Gia đình

G.P Murdock năm 1949 trong cuốn “Cấu trúc xã hội” chorằng: “Gia đình là một nhóm xã hội có đặc trưng là cùng cưtrú, hợp tác và tái sản xuất kinh tế (người lớn của cả hai giới),

và ít nhất trong đó có quan hệ tính dục với nhau, được xã hộitán thành, một hoặc nhiều con cái (do họ đẻ ra hoặc do họnhận con nuôi)” (G.P Murdock, 1949, tr.1)

John Macionis, nhà xã hội học người Canada cho rằng:

“Gia đình là một tập thể xã hội có từ hai người trở lên trên cơ

sở huyết thống, hôn nhân hay nghĩa dưỡng cùng sống chungvới nhau Đời sống gia đình mang tính hợp tác, gia đìnhthường là các tập thể sơ cấp trong đó thành viên có cùng tàinguyên kinh tế và trách nhiệm hàng ngày” (John Macionis,1988)

Một cách định nghĩa đầy đủ và cụ thể hơn về gia đìnhViệt Nam, được dùng trong nghiên cứu xã hội học gia đìnhnhư sau: “Gia đình là khái niệm được sử dụng để chỉ mộtnhóm xã hội hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân(quan hệ tính giao và quan hệ tình cảm) và quan hệ huyếtthống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó (cha mẹ, con cái, ông

bà, họ hàng nội ngoại) Gia đình có thể hiểu như một đơn vị

xã hội vi mô, nó chịu sự chi phối của xã hội song có tính ổnđịnh, độc lập tương đối Nó có quy luật phát triển riêng với tưcách là một thiết chế xã hội đặc thù Những thành viên giađình được gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi kinh

tế, văn hoá, tình cảm một cách hợp pháp, được nhà nước thừanhận và bảo vệ (Lê Ngọc Văn và cộng sự, 2002:21)

Trong luận văn này, tác giả thống nhất sử dụng địnhnghĩa mang tính pháp lý về gia đình được ghi trong Luật hônnhân và gia đình được Quốc hội Việt Nam thông qua năm

Trang 33

2008 như sau: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó vớinhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, hoặc doquan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh những nghĩa vụ và quyềnlợi giữa họ với nhau theo luật định”.

1.2.2 Hộ gia đình

Trong Hệ thống Các Tài khoản Quốc gia của Liên hợpquốc (UNSNA) năm 2008, hộ gia đình được phân thành hailoại:

Hộ gia đình một người được định nghĩa như một sự sắpxếp trong đó một người tự cung cấp thức ăn và những yếu tốcần thiết khác cho riêng mình mà không kết hợp với bất kỳngười nào khác để tạo thành một hộ gia đình nhiều người

Hộ gia đình nhiều người được định nghĩa là một nhómgồm hai hay nhiều người sống cùng nhau cùng cung cấp thức

ăn hoặc những yếu tố cần thiết khác cho cuộc sống

Theo quy định tại điều 106, Bộ luật Dân sự năm 2005:

“Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đónggóp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nônglâm nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác dopháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sựthuộc các lĩnh vực này.”

Như vậy, căn cứ vào nội dung vừa nêu, ta có thể thấy hộgia đình có những đặc điểm cơ bản như sau:

 Hộ gia đình phải có từ hai thành viên trở lên;

 Khái niệm hộ gia đình thường xuất hiện ở các lĩnh vựcliên quan đến nông nghiệp và nông thôn; hoặc một sốlĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quyđịnh là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc cáclĩnh vực này

 Hộ gia đình phải có tài sản chung và thông thường tàisản chung này là tài sản có giá trị lớn và là tư liệu sảnxuất của hộ gia đình

Trang 34

Như vậy, gia đình và hộ gia đình là hai khái niệm khácnhau Một gia đình có thể là một hộ nhưng cũng có thể hơnmột hộ Trong phạm vi đề tài này, tác giả thống nhất sử dụngđịnh nghĩa được nêu tại điều 106 bộ Luận Dân sự như đã được

đề cập ở phía trên

1.2.3 Quy mô gia đình

Định nghĩa của các tác giả Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn,Nguyễn Linh Khiếu như sau: “Quy mô gia đình chỉ độ lớn củagia đình - đó là một đơn vị đo lường để thấy được số lượng cácthành viên cùng chung sống trong một gia đình Do vậy, khinói đến quy mô gia đình người ta thường đề cập cụ thể đến sốlượng thành viên của gia đình trong đố số lượng con cái vànhững thành viên khác cùng chung sống” (Đỗ Thị Bình, LêNgọc Văn, Nguyễn Linh Khiếu, 2002: 231)

Theo Encyclopedia, quy mô gia đình có thể được xem xét

từ hai khía cạnh Ở cấp độ cá nhân (vi mô), nó xác định mộtkhía cạnh của nền tảng gia đình của một cá nhân hoặc mộimôi trường Nó thể hiện khả năng ảnh hưởng đến sự pháttriển của các thành viên trong gia đình Ở cấp độ xã hội (vĩmô), quy mô gia đình là một chỉ số về cấu trúc xã hội có thểthay đổi theo thời gian, đồng thời có ý nghĩa đối với sự pháttriển cá nhân và các mối quan hệ xã hội trong các nhóm khácnhau (Encyclopedia, 2020)

Trong phạm vi đề tài này, tác giả chủ yếu đi vào phântích quy mô gia đình về số thế hệ trong gia đình, số con tronggia đình

1.2.4 Biến đổi gia đình

Từ cơ sở lý thuyết chức năng luận: Herbert Spencertrong quan điểm tiến hóa luôn nhìn nhận sự biến đổi dựa trên

sự tăng trưởng dân số và những khác biệt về cấu trúc Một xãhội có thể biến đổi một cách tích cực (thích ứng) hay tiêu cực(không thích ứng)

Trang 35

Gia đình là một thiết chế xã hội và đương nhiên là mộtphần không thể thiếu của xã hội Do đó, biến đổi gia đìnhcũng là một phần của những biến đổi về mặt xã hội Biến đổigia đình là một quá trình chuyển biến của gia đình từ trạngthái này sang trạng thái khác trên một trục thời gian Trongluận văn này, tác giả chỉ đi sâu xem xét sự biến đổi của giađình trên phương diện quy mô.

1.2.5 Biến đổi quy mô gia đình

Dựa vào những gì đã phân tích ở trên, biến đổi quy môgia đình có thể được hiểu là sự tăng lên hay giảm đi về sốlượng các hộ gia đình, số thành viên, số con trong hộ gia đình

1.3 Lý thuyết

1.3.1 Lý thuyết biến đổi xã hội

Lý thuyết này chỉ ra rằng xã hội cũng như tự nhiên khôngngừng biến đổi, và sự ổn định xã hội chỉ mang tính tương đối.Bởi lẽ, cũng giống như tự nhiên, bất kỳ một xã hội, một nềnvăn hóa nào cũng có sự thay đổi cho dù nó có bảo thủ và cổtruyền đến đâu “Biến đổi xã hội là một quá trình qua đónhững khuôn mẫu của các hành vi, các quan hệ, các thiết xãhội và các hệ thống phân tầng được thay đổi qua thời gian”(Hoàng Bá Thịnh, 2001:280)

Từ định nghĩa trên, tác giả đưa ra hai loại hình biến đổi

xã hội như sau:

 Biến đổi vĩ mô, diễn ra trên một phạm vi rộng, diễn ratrong một thời gian dài

 Biến đổi vi mô, liên quan đến những biến đổi nhỏ, diễn ranhanh hơn

Về cơ bản, sự biến đổi xã hội thường diễn ra theo hai quátrình kiến tạo và truyền bá Kiến tạo bao gồm cả vật chất, vậtchất, văn hóa và cấu trúc xã hội Xã hội càng phức tạp và đadạng thì biến đổi càng diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ.(Nguyễn Linh Khiếu, 2017)

Trang 36

Biến đổi xã hội là rộng lớn và phức tạp còn bởi chỗ, đókhông chỉ là những biến đổi do tác nhân kinh tế gây ra màcòn chịu tác động rất mạnh mẽ từ chính trị và những biến đổicủa thể chế chính trị lẫn môi trường xã hội Như đã nói, biếnđổi xã hội còn chịu ảnh hưởng từ văn hoá và hoàn cảnh lịch sử

- xã hội, trong đó con người sinh sống Hơn nữa, phương diện

xã hội cấu thành xã hội tổng thể và đời sống xã hội hiện thựccủa cá nhân và cộng đồng là sự đan kết cả hoạt động sốnglẫn cơ cấu tổ chức với các thiết chế và thể chế, tác động tớihoạt động sống của con người; đó là cả một mạng lưới cácmối quan hệ và liên hệ xã hội, thông qua đó những biến đổi

xã hội diễn ra cùng với những biến đổi của các lĩnh vực khácnhư kinh tế, chính trị và văn hoá Đó là chưa nói đến nhữngkhía cạnh xã hội, những hệ quả xã hội có trong những biếnđổi của kinh tế, chính trị hay văn hoá Rõ nhất là tác động củachính sách tới hoạt động và cuộc sống của người dân, củanhững nhóm xã hội - dân cư, nhóm xã hội - nghề nghiệp khácnhau, ở các cấp độ, phạm vi khác nhau (cả nước, vùng, miền,địa phương và cơ sở) (Hoàng Chí Bảo, 2008)

Như vậy, có thể thấy, biến đổi xã hội có những biến đổinhỏ, diễn ra nhanh chóng nhưng cũng có những biến đổi kéodài, phức tạp Vận dụng lý thuyết biến đổi xã hội vào giảithích xu hướng quy mô gia đình ngày càng nhỏ chúng ta thấykhi cá nhân thực hiện bất kỳ hành động nào đều chịu ảnhhưởng của chuẩn mực giá trị

Chuẩn mực cũng biến đổi theo làm thay đổi định hướng

xã hội của con người Khi xã hội phát triển, nhu cầu, quyền lợicủa cá nhân được nâng lên Những hủ tục lạc hậu, nhữngquan niệm lỗi thời không còn phù hợp và nó tất yếu sẽ bị thaythế Nếu như trước kia trong xã hội truyền thống thì gia đìnhViệt Nam phần lớn là “tam đại, tứ đại đồng đường” là do nước

ta chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, luôn đặt “chứ hiếu”lên hàng đầu Vì thế, việc thờ phụng bố mẹ là rất quan trọngtrong cách thể hiện chữ hiếu ấy, và thường thì con cái (đặc

Trang 37

biệt là con trưởng) phải sống chung một nhà cùng bố mẹ Bên

cạnh đó, đặc trưng là một nước nông nghiệp nên trong gia

đình cần nhiều lao động hơn Còn trong xã hội hiện đại, cùngvới những sự biến đổi về kinh tế, văn hóa, giá trị, chuẩn mực,con cái hiếu thảo với bố mẹ không nhất thiết phải cùng sốngchung trong một mái nhà Hơn nữa, ngày nay khi con cái đãtrưởng thành có xu hướng thích sống độc lập với bố mẹ mình.Trong guồng quay của xã hội thì đòi hỏi con người phải hoànthành rất nhiều vai trò và nó không chỉ hạn hẹp trong khuônkhổ gia đình mà còn có cả công việc, sự nghiệp bên ngoài.Con cái khó có thể chỉ ở nhà và chăm sóc bố mẹ Đặc biệt,điều đáng chú ý ở đây là do sự thay đổi trong quan niệm giátrị, chuẩn mực của những thế hệ trước so với thế hệ sau chonên việc tách nhỏ gia đình cũng không có gì là khó hiểu

1.3.2 Lý thuyết hiện đại hóa

Thuyết hiện đại hóa của Mỹ ra đời trong bối cảnh suy sụpcủa thực dân Châu Âu, bắt nguồn sự tiếp nối giữa luồng tưtưởng “chủ nghĩa chuyên quyền” và luồng tư tưởng “hiện đạihóa” Theo quan điểm của Inglehart, hiện đại hóa là quá trìnhbiến đổi xã hội gắn liền với quá trình công nghiệp hóa(Inglehart và Welzel, 2009), và quá trình công nghiệp hóa cóảnh hưởng rất lớn đến quá trình biến đổi xã hội Quan điểmchính của lý thuyết này là việc phát triển kinh tế và côngnghệ gắn liền với những biến đổi từ các giá trị và phong tục

cũ sang một xu hướng hợp lý, khoan dung, tin cậy và có sựtham gia hơn, tạo nên sự thay đổi về chính trị - xã hội(Inglehart và Baker, 2000)

Một khái niệm trọng tâm của lý thuyết hiện đại hóa đó làquá trình công nghiệp hóa đã tạo ra những hệ quả về văn hóa

và xã hội, và nó đã ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực xã hội Côngnghiệp hóa được xem như là một thành tố chính của quá trìnhhiện đại hóa, ảnh hưởng đến các thành tố khác của đời sống

xã hội Các nhà nghiên cứu tin rằng sự phát triển kinh tế gắn

Trang 38

liền sau nó những hệ quả về văn hóa, chính trị đã được dựbáo trước và mang tính hệ thống (Inglehart và Baker, 2000)

Đặc trưng cơ bản của quá trình hiện đại hóa là sự hìnhthành của những giá trị đặc trưng của hiện đại như chủ nghĩa

cá nhân, chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa thực dụng Nhữngthay đổi nhân khẩu học đã làm thay đổi gốc rễ những lối sống

cũ kỹ từ thế hệ trước Nhờ cuộc sống gia đình được hiện đạihóa mà phụ nữ được giải phóng khỏi chế độ gia trưởng, đượctách biệt khỏi những kiểm soát của cộng đồng và xã hội Nóicách khác, tính cá nhân đã thống trị trước tính cộng đồng vàtập thể

Sự biến đổi kinh tế, xã hội và chính trị ảnh hưởng đếnmôi trường văn hóa và ngược lại Mối quan hệ này được giảithích trên nhiều tiếp cận khác nhau Giả định cơ bản của lýthuyết hiện đại hóa là xã hội truyền thống trải qua sự pháttriển đến một giai đoạn mới với sự xuất hiện của nhiều giá trịphương Tây và chủ nghĩa vật chất Trong xã hội hiện đại, sựbiến đổi giá trị diễn ra ở nhiều lĩnh vực khác nhau

Cụ thể hơn, lý thuyết hiện đại hóa tìm hiểu sự thay đổi

về các đặc điểm của cá nhân với những thay đổi của gia đình

và xã hội bên ngoài nhưng dường như không dự đoán đượccác đặc điểm của các gia đình đương đại (Barbieri vàBelanger, 2009) Các gia đình hiện đại, với những đặc trưng làtính cá nhân cao, vị thế phụ nữ được tăng lên, hôn nhân tự do

tự nguyện, sự độc lập của thế hệ trẻ cao, quy mô gia đình nhỏmức sinh thấp; và xã hội hiện đại, với những đặc điểm là côngnghiệp hóa, đô thị hóa, trình độ học vấn cao, công nghệ cao(Thornton, 2001); không chỉ được lý giải đơn thuần bởi lýthuyết hiện đại hóa Những thay đổi xã hội tạo nên biến đổigia đình, và biến đổi gia đình tạo nên những biến đổi của xãhội

Những thay đổi về hôn nhân, gia đình và ly hôn được cho

là có quan hệ chặt chẽ với quá trình hiện đại hóa Ví dụ, các

Trang 39

nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng, hiện đại hóa dường như cóhai tác động trái ngược nhau đến ly hôn Sự phát triển kinh tế,cùng với hiện đại hóa và đô thị hóa, trong một giai đoạn banđầu có thể làm giảm ly hôn trước khi góp phần làm tăng lyhôn ở những giai đoạn hiện đại hóa sau Những thay đổi xãhội đi cùng với hiện đại hóa làm giảm ly hôn bao gồm hônnhân tự nguyện, tình yêu, tăng tuổi kết hôn, mở rộng cơ hộigiáo dục (Goode 1963, 1971, 1993; Hirschman vàTeerawichitchainan, 2003; Johnes, 2003, 1997; Lee, 1982).Tuy nhiên các nhà lý thuyết chỉ rõ, xét về lâu dài, xu hướngphát triển đồng đều trong quá trình hiện đại hóa và sự suygiảm của chế độ gia trưởng sẽ mang tác động ngược lại.Goode (1963 và 1993) đã khẳng định rằng hiện đại hóa lànguyên nhân sâu xa của tỷ lệ ly hôn tăng Vị thế phụ nữ, traoquyền cho phụ nữ tăng lên tạo ra những môi trường văn hóa

xã hội làm cho ly hôn trở nên dễ dàng và được chấp nhậnhơn Sự độc lập về kinh tế của phụ nữ, quy mô gia đình nhỏhơn, những tư tưởng về sự chủ động trong cuộc sống có thểlàm cho các mối quan hệ trở nên kém bền vững hơn Côngnghiệp hóa có thể làm giảm quy mô gia đình, vì thế, làm tăngkhả năng ly hôn, vì nó giúp tăng vị trí độc lập xã hội của phụ

nữ Những hôn nhân hiện đại dựa trên tình yêu và cảm xúc cóthể ít bền vững hơn những hôn nhân dựa trên những mốiquan hệ kinh tế - xã hội Những định kiến hay kỳ thị về ly hôngiảm dần và đến lượt nó làm tăng mức độ ly hôn ở xã hội

Ngoài những tác động của hiện đại hóa, các giá trịtruyền thống và phong tục về hôn nhân và gia đình cũng gópphần quan trọng hình thành nên những khuôn mẫu chuẩnmực mới Những yếu tố này có thể điều chỉnh những tác độngcủa hiện đại hóa đến hôn nhân và gia đình ở nhiều xã hội.Việc bảo lưu những giá trị truyền thống trong quá trình hiệnđại hóa là quan trọng trong bảo vệ hệ thống gia đình khỏinhững áp lực của hiện đại hóa (Cho và Yada, 1994)

Trang 40

Tuy nhiên, với trình độ giáo dục ngày càng tăng, phụ nữ

có các cơ hội việc làm nhiều, quan điểm về kết hôn muộn hayphụ nữ làm việc được chấp nhận hơn, vai trò giới theo truyềnthống trong hôn nhân dường như đã trở nên lỗi thời Lý tưởnggiới tác động đến quan hệ quyền lực vợ chồng trong hôn nhântrên nhiều phương diện khác nhau Nhiều phụ nữ ngày naythích sự độc lập về xã hội và kinh tế mà họ đạt được từ côngbằng giới trong giáo dục và thị trường lao động

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Để xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết, luận văn thamkhảo tư liệu từ các giáo trình như: “Phương pháp nghiên cứu

xã hội học” (Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh), “Xã hộihọc đại cương” (Khoa Xã hội học – Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn), “Xã hội học gia đình” (Mai Huy Bích),

“Giáo trình gia đình học” (Hoàng Bá Thịnh), Đây là nhữngcuốn sách đã góp phần cung cấp những tri thức căn bản vềgia đình, những kiến thức, kỹ năng và phương pháp, làm công

cụ lý luận và thực tiễn cho nghiên cứu

Luật và các văn bản dưới Luật về gia đình là một nguồn

tư liệu quý báu giúp ích cho tác giả trong quá trình nghiên cứu

đề tài Ngoài ra tác giả còn thu thập các báo cáo, số liệuthống kê qua các năm từ các nguồn như Tổng cục thống kê,Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa Gia đình, nhằm đưa ranhững suy luận xác đáng về nội dung nghiên cứu

Đặc biệt, tác giả đã tiến hành thu thập những kết quảnghiên cứu đi trước gồm những luận văn thạc sĩ, luận án tiến

sĩ, các nghiên cứu kể cả trong lẫn ngoài nước thuộc các chủ

đề về gia đình nói chung, và chủ đề biến đổi gia đình nóiriêng, để tham khảo về phương pháp nghiên cứu, cách tiếpcận vấn đề cũng như một số quan điểm về việc phân tích chonghiên cứu của mình Trên cơ sở đó so sánh, nghiên cứu vàđưa ra những đánh giá khách quan, khoa học

Ngày đăng: 26/02/2021, 13:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w