Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam” [26, tr.106], và đến
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM QUỲNH TRANG
TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA ARIXTỐT
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN ĐẠO ĐỨC CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM QUỲNH TRANG
TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA ARIXTỐT
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN ĐẠO ĐỨC CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số: 62 22 80 05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đặng Hữu Toàn
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đặng Hữu Toàn Các kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án là trung thực, khách quan Các thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2019
Tác giả luận án
Phạm Quỳnh Trang
Trang 41
MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 9
1.1 Các nghiên cứu liên quan đến điều kiện, tiền đề cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của Arixtốt; thân thế sự nghiệp, tư tưởng đạo đức của Arixtốt 9
1.2 Các nghiên cứu liên quan đến đạo đức con người Việt Nam hiện nay 18
1.3 Khái quát những kết quả đạt được của các công trình liên quan đến đề tài, vấn đề đặt ra luận án tiếp tục nghiên cứu và một số khái niệm cơ bản 27
1.3.1 Khái quát những kết quả đạt được của các công trình liên quan đến đề tài 27
1.3.2 Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục nghiên cứu 28
1.3.3 Một số khái niệm cơ bản 29
Chương 2: TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA ARIXTỐT 33
2.1 Bối cảnh ra đời tư tưởng đạo đức của Arixtốt 33
2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 33
2.1.2 Văn hóa, nghệ thuật và khoa học 37
2.2 Tiền đề lý luận cho sự hình thành và phát triển tư tưởng đạo đức của Arixtốt 48
2.2.1 Tư tưởng đạo đức của Xôcrát (469 - 399 TCN) 49
2.2.2 Tư tưởng đạo đức của Platôn (427 - 347 TCN) 55
2.3 Cuộc đời và sự nghiệp của Arixtốt 59
2.3.1 Tiểu sử của Arixtốt 59
2.3.2 Sự nghiệp sáng tạo của Arixtốt 61
2.3.3 Hai tác phẩm tiêu biểu của Arixtốt: Đạo đức học Nicomaque và Chính trị luận 63
Trang 52
Chương 3: TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA ARIXTỐT 67
3.1 Tư tưởng của Arixtốt về cái thiện 67
3.2 Tư tưởng của Arixtốt về tính công bằng 78
3.3 Tư tưởng của Arixtốt về sự trung bình đúng mực (“trung điểm vàng”) 82
3.4 Tư tưởng của Arixtốt về giáo dục đạo đức cho công dân và đội ngũ cầm quyền 89
3.5 Một số đánh giá về tư tưởng đạo đức của Arixtốt 100
3.5.1 Giá trị của tư tưởng đạo đức Arixtốt 101
3.5.2 Hạn chế của tư tưởng đạo đức Arixtốt 103
Chương 4: Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC ARIXTỐT ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN ĐẠO ĐỨC CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY 105
4.1 Mục tiêu phát triển con người và thực trạng đạo đức con người Việt Nam hiện nay 105
4.1.1 Mục tiêu phát triển con người toàn diện và giá trị đạo đức con người Việt Nam hiện nay 105
4.1.2 Những khiếm khuyết của đạo đức con người Việt Nam hiện nay 111
4.2 Sự bổ khuyết của tư tưởng đạo đức Arixtốt đối với việc hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay 114
4.2.1 Ý nghĩa của tư tưởng đạo đức Arixtốt đối với việc hoàn thiện nhận thức đạo đức con người Việt Nam hiện nay 115
4.2.2 Ý nghĩa của tư tưởng đạo đức Arixtốt đối với việc hoàn thiện hành vi đạo đức con người Việt Nam hiện nay 124
KẾT LUẬN 137
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 136
TÀI LIỆU THAM KHẢO 137
Trang 63
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình hiện thực hóa khát vọng xây dựng một xã hội dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh, phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, chúng ta có nhiều thời cơ, vận hội nhưng cũng đứng trước không ít thách thức để có thể vừa hấp thu tinh hoa nhân loại, vươn ra biển lớn, vừa giữ được cốt cách, bản sắc của dân tộc Sau 30 năm đổi mới, tổng kết những thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục , Đảng ta còn thấy rằng: “Tình trạng suy thoái về
tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi”; “Môi trường văn hóa còn tồn tại những biểu hiện thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục, tệ nạn xã hội và một số loại tội phạm có chiều hướng gia tăng ” [28, tr.125] Và có lẽ tình trạng suy thoái
về đạo đức vẫn đang hàng ngày hàng giờ trở thành mối quan tâm nhức nhối của toàn xã hội Khi các giá trị vốn là cái gốc, là cội rễ để con người cùng chung sống với nhau trong an hòa từ ngàn đời, nay bỗng trở nên đảo lộn gây
ra những bất an về tinh thần và suy giảm niềm tin vào mối quan hệ giữa con người với con người: con giết cha mẹ; vợ giết chồng; trò đánh thầy; thầy hiếp trò; bạn bè đánh hội đồng ngay trong lớp học; chạy chọt, gian lận trong thi cử; dâm ô với trẻ em; tham nhũng, lãng phí, cửa quyền; thầy thuốc bỏ mặc bệnh nhân; công lý và sự thật bị bóp méo ngay tại những cơ quan bảo vệ con người
và thực thi công lý; lừa đảo, mua bán cả chính con người và trong lĩnh vực tâm linh Vậy, nguyên nhân của tình trạng đó là do đâu và chúng ta cần làm
gì để khắc phục nó vẫn là một câu hỏi không chỉ cần sự giải đáp về mặt lý luận để nâng cao nhận thức của con người Việt Nam hiện nay về giá trị và các chuẩn mực đạo đức mà còn cần cả sự bắt tay vào việc giáo dục hành vi cho con người bằng một nền giáo dục khoa học và nhân văn từ gia đình, nhà trường cho đến toàn xã hội
Trang 74
Xuất phát từ thực tiễn đó, việc đẩy mạnh, đổi mới sự nghiệp giáo dục – đào tạo và phát triển văn hóa với tư cách vừa là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là động lực và sản phẩm của hoạt động con người là một trong những vấn
đề trọng tâm Ngay từ Đại hội VIII, Đảng ta đã đặt ra yêu cầu: “Mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển xã hội” [24, tr.10-11] Trải qua thực tiễn, Đại hội IX đánh dấu bước phát triển về nhận thức khi cụ thể hóa yêu cầu mọi hoạt động văn hóa phải nhằm “xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội ” [25, tr.265] Đến Đại hội X, vấn đề xây dựng con người lại được Đảng ta tiếp tục quan tâm chú trọng từ bình diện hoàn thiện nhân cách con người, đó là: “xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam” [26, tr.106], và đến Đại hội XI là: “Sớm có chiến lược quốc gia về xây dựng gia đình Việt Nam, góp phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con người Việt Nam, nuôi dưỡng giáo dục thế hệ trẻ Đoàn kết và xây dựng hệ giá trị chung của con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” [27, tr.223] Điều đó cho thấy, đặt trong mối quan hệ với xây dựng và phát triển văn hóa với tư cách là môi trường và động lực để phát triển con người cho sự phồn vinh của đất nước chính là quan điểm chỉ đạo cho việc hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay của Đảng ta được khẳng định qua các kỳ đại hội
Trang 85
Không những thế, để đảm bảo nguồn chất liệu cho sự phát triển và hoàn thiện đời sống văn hóa, tinh thần của con người hiện tại trong đó có việc hoàn thiện đạo đức, việc nỗ lực đánh giá lại những giá trị tinh thần của quá khứ để hoạch định ra một đường hướng mới cho thời đại mới trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng của giới học thuật Văn hoá đối thoại đã và đang khẳng định ưu thế của mình so với xu hướng đối đầu trước đó Trong chu trình mới ấy, các nền văn hoá nói chung cũng như triết học phương Đông
và phương Tây nói riêng cũng tìm thấy trong nhau - qua sự soi rọi - những mặt tích cực và hạn chế, những tiếng nói chung và những điểm dị biệt, độc đáo Mỗi thời đại qua đi, có những công trình, những đền đài, báu tích bị hao mòn, hoang phế hoặc vĩnh viễn biến mất Duy chỉ có những mạch nguồn tư tưởng gắn với con người dường như luôn mang trong mình một sức mạnh nội tại trải qua bao thăng trầm của lịch sử Nhắc đến những mạch nguồn bất tận
đó, chúng ta không thể không nhắc tới triết học Thông qua triết học, chúng ta được sống và đối thoại với truyền thống văn hoá của gần ba nghìn năm lao động không ngưng nghỉ của khối óc và trái tim nhân loại Cả một vốn quý ấy
là trường tôi luyện cho bất cứ ai muốn hoàn thiện nhân cách và tư duy của mình để vươn tới giá trị vĩnh cửu Chân - Thiện - Mỹ
Cùng chung dòng chảy đó, chúng tôi hướng về triết học Hy Lạp cổ đại
- một trong những điểm xuất phát quan trọng của toàn bộ lịch sử triết học bởi
nó đã đặt ra và tìm cách giải quyết hầu hết các vấn đề của triết học, trong đó
có những vấn đề về đạo đức để rồi sau này các trường phái triết học khác nhau sẽ từng bước khai triển theo yêu cầu của thời đại mình Nền văn minh
Hy Lạp đã hoài sinh ra một bộ óc bách khoa thư của nhân loại, đó là Arixtốt Ông đã để lại cho hậu thế di sản đồ sộ thuộc nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau và được coi là người đã có công hệ thống hoá đạo đức học Hy Lạp cổ đại, phân loại các khái niệm đạo đức, xác định ranh giới của chúng, phân tách các khía cạnh lý luận và thực tiễn của đạo đức học Không ai có thể bác bỏ
Trang 96
được một sự thực là tư tưởng đạo đức học cổ đại đã đạt tới đỉnh cao của mình
trong tư tưởng của Arixtốt
Tư tưởng đạo đức của Arixtốt đến nay vẫn còn nhiều giá trị Do đó, tiếp tục nghiên cứu triết học của Arixtốt và hiểu sâu sắc những tư tưởng đạo đức của ông để đi tìm những gợi ý cho hiện tại là một việc làm cần thiết Đặc biệt khi chúng ta đang trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và trong bối cảnh Đảng ta đang hết sức quan tâm đến vấn đề hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay trên nền tảng nhân văn, dân tộc, hiện đại Bởi không ai khác, chính những con người đang được đào luyện hôm nay là chủ thể hiện thực
hóa khát vọng dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Từ tổng kết thực tiễn và khái quát lý luận, chúng ta có thể khẳng định rằng, dù ở bất cứ thời đại nào, con người nếu không có đạo đức để điều tiết mối quan hệ của mình với tự nhiên, với xã hội, với đồng loại và chính mình thì hệ quả tự diệt vong có lẽ chẳng còn quá xa Do đó, con đường của sự hoàn thiện đạo đức của con người trong hiện tại không nằm ngoài quy luật kế thừa biện chứng những tinh hoa những thời đại đã qua, trong đó bao hàm cả sự khơi lọc, bổ sung, phát triển
Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu sinh đã chọn Tư tưởng đạo
đức của Arixtốt và ý nghĩa của nó đối với việc hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay làm đề tài luận án tiến sĩ của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Phân tích làm rõ bối cảnh, tiền đề hình thành tư
tưởng đạo đức của Arixtốt và nội dung tư tưởng đạo đức của Arixtốt, từ đó rút ra ý nghĩa của nó đối với việc hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Một là, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Hai là, phân tích, làm rõ bối cảnh kinh tế - xã hội, văn hóa, nghệ thuật và
Trang 107
khoa học cùng với tiền đề lý luận, đặc biệt là cuộc đời và sự nghiệp của Arixtốt cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của ông
Ba là, làm rõ nội dung tư tưởng đạo đức của Arixtốt
Bốn là, phân tích mục tiêu hoàn thiện đạo đức và những khiếm khuyết
của đạo đức con người Việt Nam hiện nay, từ đó làm rõ ý nghĩa của tư tưởng đạo đức Arixtốt đối với việc hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng đạo đức của Arixtốt và ý nghĩa của
nó đối với việc hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu: Luận án chủ yếu khảo cứu tư tưởng đạo đức của
Arixtốt qua hai tác phẩm của ông là: Đạo đức học của Nicomaque và Chính
trị luận và ý nghĩa của những tư tưởng này đối với việc hoàn thiện đạo đức
con người Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng đạo đức, con người Việt Nam Ngoài ra, luận án kế thừa và phát triển kết quả của các nghiên cứu đi trước có liên quan đến đề tài
Phương pháp nghiên cứu: Luận án chủ yếu sử dụng cách tiếp cận triết
học và các phương pháp nghiên cứu như: thống nhất lịch sử - lôgíc, phân tích
- tổng hợp, diễn dịch - quy nạp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa, phương pháp tiếp cận liên ngành
5 Đóng góp mới của luận án
- Luận án hệ thống hóa và phân tích điều kiện và các tiền đề cho sự
hình thành tư tưởng đạo đức của Arixtốt
- Luận án khái quát và trình bày nội dung tư tưởng đạo đức của Arixtốt
Trang 118
- Luận án chỉ ra ý nghĩa của tư tưởng đạo đức Arixtốt góp phần cùng
với những tư tưởng lớn khác đối với việc hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa lý luận: Luận án góp phần bổ sung nội dung cho những nghiên
cứu về tư tưởng đạo đức của Arixtốt
Ý nghĩa thực tiễn: Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
nghiên cứu và giảng dạy về đạo đức học, lịch sử triết học giai đoạn cổ đại; về giáo dục đạo đức con người Việt Nam
7 Kết cấu của luận án
Luận án ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục các công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án và tài liệu tham khảo, phần nội dung gồm 4 chương, 13 tiết
Trang 129
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Triết học Arixtốt và tư tưởng đạo đức của ông đã được nhiều tác giả nghiên cứu từ nhiều khía cạnh khác nhau như: triết học của Arixtốt, tính biện chứng trong triết học của Arixtốt, quan niệm của Arixtốt về phạm trù, tư
tưởng đạo đức của Arixtốt trong Đạo đức học của Nicomaque, tư tưởng chính trị của Arixtốt trong Chính trị luận, trong các công trình đã được công bố
như giáo trình, sách chuyên khảo, sách tham khảo, bài báo, luận án, luận văn, Trong số đó, chúng tôi chọn tổng quan một số công trình có nội dung liên quan trực tiếp đến nội dung nghiên cứu của luận án là: khái quát bối cảnh kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học và tiền đề lý luận cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của Arixtốt; hệ thống hóa một cách tương đối toàn diện tư tưởng đạo đức của ông và từ đó rút ra ý nghĩa của những tư tưởng đó đối với việc hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay Đồng thời, luận án còn phân tích và kế thừa kết quả nghiên cứu của nhiều học giả mà công trình của
họ đã được thống kê tại danh mục tài liệu tham khảo
1.1 Các nghiên cứu liên quan đến điều kiện, tiền đề cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của Arixtốt; thân thế sự nghiệp, tư tưởng đạo đức của Arixtốt
* Các công trình nghiên cứu trong nước
Cuốn Arixtốt với học thuyết phạm trù [17] của Nguyễn Văn Dũng
(1996) đã trình bày khá chi tiết về cuộc đời và sự phân chia các nhóm tác phẩm trong sự nghiệp của Arixtốt, công trình giúp chúng tôi có cái nhìn tương đối khái quát và toàn diện về ông
Năm 1998, Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia xuất bản
tác phẩm Triết học Arixtốt [111] của Vũ Văn Viên Tác phẩm đã trình bày
quan điểm của Arixtốt về các vấn đề: đối tượng của triết học, học thuyết về
Trang 1310
tồn tại, học thuyết về bốn nguyên nhân, về không gian, thời gian, vận động, nhận thức luận, lôgic học, đạo đức học, mỹ học, chính trị học, kinh tế học
Trong cuốn Triết học Hy Lạp cổ đại [97], tác giả Đinh Ngọc Thạch
(1999) đã khái quát về sự hình thành và các giai đoạn phát triển của triết học
Hy Lạp cổ đại, mà giai đoạn của Arixtốt được phân tích ở Chương thứ nhất
mang tên Bản thể luận và vũ trụ quan sơ khai với những tiền đề về kinh tế,
chính trị - xã hội; từ thần thoại đến triết học; phân tích sự giao lưu văn hóa Tây - Đông và sự phân kỳ triết học Hy Lạp cổ đại thành ba giai đoạn: sơ khai, cực thịnh và thời kỳ Hy Lạp hóa Đây là một tư liệu tốt để chúng tôi khái quát nên những tiền đề cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của Arixtốt Cuốn sách
có một phần mang tên: Arixtốt - bộ óc bách khoa của nền triết học và khoa
học Hy Lạp cổ đại, ở đó, tác giả đã trình bày những nét chính yếu về cuộc đời
và sự nghiệp sáng tạo của Arixtốt được phân chia làm ba nhóm: các khoa học
lý thuyết, các khoa học thực tiễn và các khoa học sáng tạo, trong đó những tư tưởng đạo đức của ông thuộc nhóm thứ hai Tiếp đó, là sự phân tích về vấn đề tồn tại; từ học thuyết về bốn nguyên nhân đến vật lý học và vũ trụ luận đặc trưng; lý luận nhận thức - sự "sửa chữa lại" Platôn; lôgíc học; sinh vật học; tâm lý học và cuối cùng là tư tưởng đạo đức và chính trị - xã hội Tuy nhiên, liên quan đến tư tưởng đạo đức của Arixtốt tác giả mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra một số nét sơ lược về đức hạnh, trung dung, công bằng và khẳng định vai trò và mối quan hệ của tư tưởng đạo đức của Arixtốt với chính trị, đó là, Arixtốt không tách đạo đức ra khỏi chính trị, thậm chí còn xem đạo đức là cơ
sở tìm hiểu chính trị hay nói cách khác nghệ thuật quyền lực được xây dựng trên sự hiểu biết về con người, về đức hạnh công dân và đức hạnh nói chung
Từ sự phân tích đó, người viết điểm qua những điểm tương đồng và khác biệt giữa Arixtốt và Platôn trong quan niệm về đạo đức và chính trị cùng sự tiếp nối của phái Tiêu dao do Arixtốt khởi xướng ở những giai đoạn sau
Trang 1411
Cuốn Đại cương lịch sử triết học phương Tây [48] của tập thể tác giả
Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh và Nguyễn Anh Tuấn (2006) đã phân tích các đặc trưng của thời cổ đại như một thời đại văn hóa với tình yêu đối với sự thông thái tức là tình yêu tài nghệ, là khát vọng hình thành và chấn chỉnh thế giới Đặc biệt khi phân tích về đặc trưng của thời cổ đại, các tác giả đã khẳng định rằng Hy Lạp cổ đại đã đem lại một mô hình văn minh nói chung, văn minh như là văn minh Tuy nhiên, mô hình đó là phức tạp và rất mâu thuẫn Nhưng nó vẫn sẽ mãi mãi là một mô hình hấp dẫn, đặc biệt là những khi nền văn minh ở đâu đó bị đe dọa hay đang tìm kiếm xung lượng mới để có được một hơi thở khỏe mạnh Đây là ngọn nguồn ý tưởng cho chúng tôi tìm kiếm mạch ngầm giá trị của văn minh Hy Lạp được ánh chiếu trong bản thân con người Hy Lạp và trong tư tưởng đạo đức của Arixtốt để từ đó thấy được những bài học và mối liên hệ của nó với hiện tại Đồng thời, trong công trình này, tập thể tác giả đã khái quát về cuộc đời, tác phẩm và đặc biệt đã nêu lên đặc điểm của triết học Arixtốt, đó là: cách tiếp cận lịch sử, tính có hệ thống và có phương pháp, tính phổ biến của nguyên tắc sinh thành, chân lý như là quan hệ thẩm mỹ - hợp lý với thế giới Trong đó, các tác giả khái quát và phân tích quan niệm của Arixtốt về hạnh phúc như là đặc trưng lớn nhất của đạo đức học Arixtốt
Cuốn Aristotle và Hàn Phi Tử con người chính trị và thể chế chính trị
[120] do Nguyễn Văn Vĩnh (chủ biên, 2007) đã đưa ra những phân tích về hai nhà tư tưởng lỗi lạc thời kỳ cổ đại – một người ở phương Tây, một người ở phương Đông giúp cho độc giả thấy được những điểm tương đồng và khác biệt của hai học thuyết “Về con người chính trị, cả Aristotle và Hàn Phi Tử đều xuất phát từ bản tính tự nhiên, cố hữu của con người, nhưng Hàn Phi Tử khai thác khía cạnh thiện và ác của con người, còn Aristole khai thác khía cạnh suy lý và hợp tác của họ Từ đó Hàn Phi Tử xây dựng lý thuyết pháp trị của mình nhằm ngăn chặn tính ác của con người để ổn định xã hội Trung Quốc thời kỳ loạn lạc; còn Aristotle xây dựng lý thuyết chính trị của mình với
Trang 1512
mục đích làm sao cho đời sống cộng đồng con người được sống tốt hơn Như vậy, điểm xuất phát và mục tiêu chính trị của họ có những điểm tương đồng, mặc dù họ khai thác và phân tích các khía cạnh cụ thể rất khác nhau” [120, tr.5].Đây là một luận điểm có giá trị khi chúng tôi đi vào nghiên cứu tư tưởng đạo đức của Arixtốt với xuất phát điểm con người chính trị Đồng thời qua sự phân tích của tập thể tác giả về các chất liệu lịch sử cho sự ra đời tư tưởng của Arixtốt, về con người chính trị với nền tảng là nền dân chủ Athen cổ đại và những tư tưởng tiền bối là một trong những tài liệu tham khảo để luận án khái quát bối cảnh và tiền đề hình thành tư tưởng đạo đức của Arixtốt
Cuốn Lịch sử triết học đại cương [49] của Đỗ Minh Hợp (2010) đã chỉ
ra diện mạo chung của triết học Hy Lạp cổ đại, phân tích ba giai đoạn của triết học Hy Lạp cổ đại thông qua thành tựu của các triết gia tiêu biểu Đồng thời tác giả cũng đã đưa ra được những kết luận xác đáng từ lăng kính độc đáo của
tư duy cá nhân đối với giai đoạn này Cuốn sách đưa lại cách nhìn nhận, đánh giá, phân tích rất khoa học và sắc sảo giúp nghiên cứu sinh có một cái nhìn toàn diện hơn về triết học Hy Lạp giai đoạn Cổ điển nói chung và triết học Arixtốt nói riêng Cùng với đó, tác giả đã khái quát đạo đức học phẩm hạnh của Arixtốt và trình bày mười hai tín điều đạo đức học Arixtốt với cốt lõi của
nó là con người có sứ mệnh cần phải trở thành người có phẩm chất đạo đức trong hành vi của mình và để hành động đúng, cần phải tạo ra các phẩm hạnh đạo đức ở trong bản thân mình; hãy giám sát dục vọng, không cho phép chúng dư thừa hay thiếu hụt Giáo dục và đào tạo đóng một vai trò quan trọng trong những vấn đề đạo đức đặc biệt là hướng vào những tấm gương của những người được coi là có đạo đức Phẩm chất đạo đức được tạo ra bởi những hành vi thiện bởi vậy hãy tự tạo cho mình thói quen có những hành vi thiện và hướng đến một cuộc sống toàn vẹn, hạnh phúc Hơn nữa công việc hoàn thiện đạo đức đối với con người hoàn toàn không có giới hạn cho nên cần nghiên cứu đạo đức học và sử dụng những luận điểm của nó như sự chỉ
Trang 1613
đạo cho hành động Đây là những phân tích có tính chất định hướng để chúng tôi xây dựng nên những nội dung khái quát về tư tưởng đạo đức của Arixtốt theo những chủ điểm lớn tương thích với giác độ nghiên cứu của mình
Tập bài giảng Lịch sử đạo đức học [59] của Trần Hậu Kiêm (2011) đã
khái quát trên những nét chung nhất về sự phát triển của đạo đức học từ xã hội chiếm hữu nô lệ đến xã hội phong kiến, xã hội tư bản và cuộc cách mạng về đạo đức học của C Mác, Ph Ăngghen và V.I Lênin Cuốn bài giảng giúp cho chúng tôi có được sự hình dung về tiến trình lịch sử đạo đức học, đặc biệt ở giai đoạn
xã hội chiếm hữu nô lệ với quan điểm đạo đức của Xôcrát, Platôn và Arixtốt Tuy nhiên tác giả chưa đi sâu vào phân tích các phạm trù cơ bản trong tư tưởng đạo đức của Arixtốt mà mới chỉ dừng lại ở những mô tả có tính chất khái quát
Cuốn Lịch sử triết học phương Tây từ triết học Hy Lạp cổ đại đến triết
học cổ điển Đức [52] của Nguyễn Tấn Hùng (2012) đã trình bày một cách có
hệ thống và chọn lọc nguồn gốc hình thành và quan điểm cơ bản của các trường phái và các triết gia phương Tây qua các thời kỳ lịch sử về các vấn đề bản thể luận, nhận thức luận, triết học đạo đức, triết học thẩm mỹ, triết học chính trị, triết học xã hội, những ảnh hưởng và sự kế thừa về tư tưởng giữa các triết gia, các trường phái, những đóng góp và những hạn chế cũng như ý nghĩa của những quan điểm ấy đối với triết học trong các thời kỳ tiếp theo và thời đại hiện nay Trong hơn 531 trang sách được trình bày dưới dạng song ngữ Việt - Anh, tác giả đã dành ra bốn chương để phân tích về triết học Hy Lạp cổ đại qua các giai đoạn với những triết gia tiêu biểu Trong phần viết về hoàn cảnh lịch sử cho sự ra đời triết học Hy Lạp cổ đại tác giả đã nêu những nét chính yếu, khái quát ba thời kỳ của triết học Hy Lạp cổ đại và đặc điểm của nó Cuốn sách đã giúp chúng tôi có một hình dung cơ bản về triết học Hy Lạp thời kỳ này với những đặc trưng của nó Trong phần về triết học Arixtốt, tác giả đã khái quát về thân thế, sự nghiệp của ông trên những nét cơ bản về: phương pháp nghiên cứu, siêu hình học, vật lý học và thiên văn học, về linh
Trang 1714
hồn, đạo đức học, lôgíc học và chính trị học Phần viết về đạo đức học Arixtốt, tác giả khẳng định tính chất thực hành của đạo đức, quan niệm của Arixtốt về hạnh phúc và đưa ra bảy đức hạnh trung dung
Cuốn Tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại [122] của
Đinh Thanh Xuân (2013) đã đi sâu và phân tích tư tưởng biện chứng trong triết học tự nhiên và trong nhận thức luận của triết học Hy Lạp cổ đại Trong
đó, chương I đã phân tích tính đặc thù của điều kiện tự nhiên, chế độ kinh tế -
xã hội và đời sống văn hóa ở Hy Lạp cổ đại, ảnh hưởng của nền văn hóa cổ đại ở các nước Cận Đông Địa Trung Hải, đặc biệt là tính "chín muồi" của thần thoại Hy Lạp là những điều kiện và tiền đề cho sự ra đời tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại Những phân tích sâu sắc của tác giả trong chương I này đã trở thành nguồn tư liệu quan trọng cho chúng tôi khi đi phân tích các tiền đề cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của Arixtốt trong luận án
Cuốn Triết học đại cương [50] của tập thể tác giả Đỗ Minh Hợp,
Nguyễn Thanh, Nguyễn Đắc Lý, Lê Kim Bình (2013) là một công trình khá dầy dặn về lịch sử triết học từ triết học Cổ đại đến triết học phương Tây hiện đại Trong cuốn sách này, các tác giả đã đưa ra những khái niệm mang tính chất nhập môn về triết học và các lĩnh vực của nó Diện mạo chung của triết học Hy Lạp cổ đại lại tiếp tục được các tác giả làm rõ, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến tính chất triết lý bằng cuộc đời, ý nghĩa triết học của cái chết, tính chất đạo đức, thầy và trò, tính chất đối thoại của tư duy, tính cởi mở của triết thuyết và tư duy cá nhân Các tác giả tiếp tục đi khái quát về phương pháp của Arixtốt, về học thuyết bốn nguyên nhân, về nhà nước và đức hạnh như là cơ
sở để làm cho cuộc sống trở nên thiện và hạnh phúc hoàn toàn
Cuốn Lịch sử triết học phương Tây, Tập 1 [51], của tác giả Đỗ Minh
Hợp (2014) đã phân tích, biện giải, lập luận phù hợp, hiệu quả để giới thiệu một cách hệ thống, sâu sắc, sinh động quá trình hình thành và phát triển của triết học phương Tây từ thời kỳ cổ đại đến thời kỳ hiện đại, trong đó, phần
Trang 1815
chương II viết về triết học cổ đại, tác giả đã đưa ra những khái niệm chung và
sự phân định các thời kỳ, các trường phái cùng những đại diện tiêu biểu của thời kỳ này trong đó có Xôcrát, Platôn cùng Arixtốt Trong phần Arixtốt, tác giả giới thiệu khái quát về cuộc đời, tư tưởng, lôgíc học, siêu hình học, đạo đức học và chính trị Phần về đạo đức học Arixtốt, tác giả đã phân tích về vai trò của đức hạnh đối với cuộc sống trong đó và khẳng định đức hạnh thể hiện
ở sự cân bằng nội tâm như là cái khắc phục những thái cực, phương pháp đạt đến đức hạnh là tập quán, thói quen cùng với sự trợ giúp của trí tuệ và lý trí
để xác định cái thiện là gì cần tuân thủ nó như thế nào
* Một số công trình nghiên cứu nước ngoài
Cuốn Lịch sử triết học phương Tây [112] của Viện nghiên cứu triết
học Liên Xô do Đặng Thai Mai dịch (1956) gồm 8 chương là một giáo trình do một số giáo sư thuộc Viện Triết học Liên Xô biên soạn và xuất bản Chương thứ nhất của giáo trình có trình bày về điều kiện lịch sử xây dựng nền triết học Hy Lạp và La Mã cổ đại, và đặc biệt là sự phát sinh
và đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, trong đó khẳng định lập trường triết học duy tâm của Xôcrát và Platôn, nhị nguyên của Arixtốt Tuy nhiên, các chương sau của cuốn sách này cũng chưa đi vào phân tích quan điểm đạo đức của Arixtốt
Cuốn Lịch sử triết học, tập 1 - Triết học Hy Lạp và La Mã cổ đại, triết
học Tây Âu Trung cổ [42] của Johannes Hirschberger (1991) do Nguyễn
Quang Hưng và Nguyễn Chí Hiếu dịch đã phân tích khá tỉ mỉ về lôgíc học của Arixtốt, về bản chất và nguồn gốc của tri thức; về siêu hình học; học thuyết về nhà nước Tuy nhiên phần bàn về đạo đức học mới chỉ dừng lại ở việc khảo cứu về tính nguyên tắc của đạo đức học; nguồn gốc của tri thức về đức hạnh;
về ý chí và tự do trong hành vi đạo đức
Công trình Câu chuyện triết học [20] của Will Durant (2000) do Trí
Hải, Bửu Đích dịch đã khái quát toàn bộ tiến trình lịch sử phương Tây từ thời
Trang 1916
cổ đại đến hiện đại qua câu chuyện về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của các triết gia Trong đó, tác giả đã trình bày khái quát về những nét độc đáo và đặc trưng nhất của tư tưởng đạo đức Arixtốt
Công trình Lịch sử triết học và các luận đề [93] của Samuel Enoch
Stumpf (2004) đã tiếp cận triết học phương Tây theo từng vấn đề cụ thể trong
đó, các tư tưởng đạo đức được tác giả rất coi trọng Tác giả đã trình bày những học thuyết đạo đức tiêu biểu thể hiện các lập trường đạo đức trong lịch
sử triết học phương Tây trong đó đạo đức của Arixtốt được gọi là đạo đức học mục đích
Cuốn Nhập môn triết học phương Tây [94] của Samuel Enoch Stumpf
và Donald C Abel (2004) cũng dành một chương để trình bày về các học thuyết đạo đức tiêu biểu trong lịch sử triết học phương Tây Tư tưởng đạo đức của Arixtốt cũng được tác giả tái hiện với những phạm trù cơ bản nhất với tên
gọi là học thuyết thể hiện bản tính con người
Cuốn Những vấn đề cơ bản của triết học [123] của S.E.Frost, JR, Ph.D
do Đông Hương và Kiến Văn biên dịch (2008) đã phân tích một số tư tưởng của Arixtốt theo hệ thống các vấn đề cơ bản Trong số các vấn đề cơ bản đó, khi đi khái quát về Thiện và Ác, các tác giả đã rút ra nhận xét về quan điểm đạo đức của Arixtốt rằng, đối với Arixtốt thì cuộc sống tốt là một cuộc sống
mà con người nhận thức đầy đủ phần bản chất tự nhiên cao cả nhất của con người là lý trí
Cuốn Đạo đức học hiện đại: Cội nguồn và những vấn đề [1] của E.V
Zolotukhina-Abolina do Nguyễn Anh Tuấn (2018) dịch trong đó đã khái quát nội dung cơ bản của đạo đức học Arixtốt, đồng thời khẳng định, Arixtốt coi đạo đức học là khoa học ứng dụng thực tiễn, đề cao vấn đề giáo dục đạo đức trên cơ sở những tiền đề tự nhiên; tính duy lý, tự nguyện của các hành vi đạo đức, đặc biệt là
trung điểm vàng như là sự hoàn thiện trong hành vi và phẩm chất đạo đức
Trang 2017
Ngoài ra, còn phải kể đến các công trình nghiên cứu tư tưởng của Arixtốt
trong lịch sử văn minh thế giới như: Văn minh phương Tây, tập 1 [10] của C
Brinton, J.B Christopher, R Lê Wolff (Bản dịch của Nguyễn Văn Lương,
1971); Lịch sử văn minh phương Tây [11] của tập thể tác giả Mortimer
Chambers, Barbara Hanawait, David Herlihy, Theodore K Rabb Isser Woloch, Raymond Grew (bản dịch của Lưu Văn Hy, Nguyễn Đức Phú và
nhóm Trí Tri, 2004); Nền tảng văn minh phương Tây [60] của các tác giả
Mark Kishlansky, Patrick Geary, Patricia O’Brien (Lê Thành dịch, 2005);
Những nền văn minh thế giới – thế giới cổ đại [112] do Trung tâm UNESCO
dịch thuật (Ngô Văn Tuyến, Thái Hoàng chỉnh lý, bổ sung, 2006),… từ nhiều góc độ đã tái hiện diện mạo của nền văn minh thế giới, trong đó Arixtốt được nhắc tới như một biểu tượng của văn minh Hy Lạp Các nghiên cứu của ông
từ sinh vật học, lôgíc, nghệ thuật, thi ca, cho đến những tư tưởng triết học, đạo đức, chính trị đã được các tác giả trình bày và phân tích như những giá trị
mà ông đã cống hiến cho nhân loại Qua đó có thể thấy rằng, Arixtốt không chỉ được biết đến với tư cách là một nhà triết học mà ông còn ghi lại những dấu ấn không nhỏ trong lịch sử văn minh nhân loại
Tóm lại, nhóm công trình nêu trên đã cung cấp cho chúng tôi một bức tranh khá tổng quan, toàn diện và tương đối đầy đủ về giai đoạn triết học Hy Lạp cổ đại, là nguồn chất liệu để chúng tôi chắt lọc, kết nối theo chuỗi mang tính lịch sử - lôgíc để thấy được những tiền đề mang tính cốt lõi cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của Arixtốt Phần lớn các tác phẩm chuyên khảo về Arixtốt đều là những tác phẩm đã khai thác một cách hệ thống và đầy đủ các nội dung trong triết học của nhà bách khoa thư này Tuy vậy, các tác giả chưa
đi sâu vào nghiên cứu khía cạnh tư tưởng đạo đức của Arixtốt về cái thiện và tính công bằng, sự trung bình đúng mực và giáo dục đạo đức cũng như đánh giá một cách toàn diện giá trị tư tưởng đạo đức của ông Do đó, đây vẫn còn
là một nội dung cần được tiếp tục khai khác
Trang 21Tác giả Nguyễn Thế Nghĩa (1997) trong cuốn Triết học với sự nghiệp
cứu về hiện đại hóa đã chỉ ra rằng: trong vòng một thế kỷ nay, nền văn minh phương Tây đã làm giàu của cải vật chất và tinh thần, đồng thời cũng làm nảy sinh trong lý luận và thực tiễn những quan điểm, tâm trạng hạ thấp phương diện tinh thần của tồn tại người Điều này được thể hiện trong quan niệm sống
và lối sống của con người chỉ gắn với điều kiện vật chất, với tiêu dùng mà coi thường hoặc quên đi yếu tố truyền thống đạo đức, văn hóa và nhân văn” [76, tr.267-268] Đây là một khái quát giúp cho chúng ta thấy được trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế như hiện nay, chúng ta không thể đặt sự quan tâm rời xa các vấn đề về đạo đức và tinh thần của con người, đặc biệt là đạo đức
và văn hóa truyền thống của dân tộc Do đó, các tác giả Nguyễn Thế Nghĩa và
Nguyễn Thị Hương Giang (2017) trong cuốn Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế
thống các giải pháp chủ yếu để giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống dân tộc: “Một là, nâng cao nhận thức và tăng cường giáo dục giá trị truyền thống dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa Hai là, khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tính tích cực, sáng tạo của giá trị truyền thống và chuyển hóa chúng thành hoạt động thực tiễn xây dựng đất nước trong điều kiện toàn cầu hóa, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Ba là, huy động và tập trung tối đa các
Trang 2219
nguồn lực vật chất và tinh thần, con người và cơ chế chính sách, luật pháp và các lực lượng xã hội để giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống dân tộc Bốn là, xây dựng và phát triển môi trường xã hội lành mạnh làm cơ sở để giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa (bao gồm môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế, môi trường chính trị, môi trường văn hóa – xã hội, môi trường giáo dục, ) Năm là, chủ động tiếp thu có chọn lọc các giá trị của nhân loại để bổ sung, làm giàu thêm cho giá trị truyền thống, đồng thời phát huy giá trị truyền thống một cách có hiệu quả Sáu là, hoàn thiện các thiết chế văn hóa, tức là xây dựng một chỉnh thể văn hóa, trong đó các yếu tố văn hóa liên kết với nhau một cách đồng bộ, hài hòa, bảo đảm cho nền văn hóa phát triển ổn định, trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội” [78, tr.319-320] Đây là những định hướng có ý nghĩa để luận án đi sâu vào tìm hiểu sự vận động của đạo đức con người Việt Nam hiện nay và những giải pháp để hoàn thiện nó, đặc biệt là các giải pháp về mặt nghiên cứu lý luận
Cuốn Đạo đức và pháp luật trong triết lý phát triển ở Việt Nam [58]
của Vũ Khiêu và Thành Duy (2000) là sản phẩm nghiên cứu thuộc chương trình cấp Bộ Triết lý phát triển ở Việt Nam chính là nhằm mục đích đóng góp
ý kiến vào việc tìm kiếm con đường phát triển ở Việt Nam trong bối cảnh mới hiện nay, đứng trên góc độ triết lý đạo đức và triết lý pháp luật Đây là một ấn phẩm được đầu tư nghiên cứu rất khoa học, nghiêm túc Đặc biệt với việc khái quát về vai trò của đạo đức và pháp luật trong sự phát triển, cuốn sách đã khảo sát và rút ra kinh nghiệm của một số quốc gia trong khu vực Do đó, đây cũng là một nguồn tham khảo cho chúng tôi phân tích vấn đề nghiên cứu để thấy được, vai trò của đạo đức và pháp luật trong sự phát triển của xã hội không những được đề cao ở thời đại Arixtốt, trong tư tưởng Arixtốt mà cho đến nay, chúng ta vẫn cần đảm bảo, xây dựng và hoàn thiện nó trong thời đại
Trang 2320
mới, trong ý thức đạo đức, ý thức pháp luật và hành vi đạo đức của những con người ở thời đại mới
Tác giả Đỗ Huy (2001) trong cuốn Văn hóa Việt Nam trên con đường
giải phóng, đổi mới, hội nhập và phát triển [54] đã có một nghiên cứu sâu sắc
trên bình diện lý luận về bản chất của văn hóa theo quan niệm mácxít, nhằm khẳng định rõ hệ tư tưởng Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ tư tưởng chính thống của văn hóa Việt Nam hiện đại Ông đã trình bày hành trình giải phóng, đổi mới, hội nhập và phát triển văn hóa dưới ánh sáng của hệ tư tưởng này và dự báo về bước phát triển mới của văn hóa Việt Nam trong thập niên thứ hai đầu thế kỉ XXI Đây cũng là một nguồn tham khảo hữu ích cho chúng tôi trong việc khảo cứu những biểu hiện đạo đức của con người Việt Nam hiện nay phù hợp với bối cảnh đổi mới, hội nhập và phát triển
Bài viết Văn minh – thanh lịch – hiện đại ở con người Hà Nội [trong
96] của Vũ Khiêu (2005) có đề cập đến khái niệm con người văn minh, trong
đó, ông nhấn mạnh: con người được gọi là văn minh của Hà Nội ngày nay phải là con người nhìn mọi vấn đề từ bối cảnh toàn cầu hóa và kinh tế tri thức, không ngừng học tập và suy nghĩ sáng tạo trong mọi hoạt động của mình Nếu văn minh của thế giới ngày nay là văn minh trí tuệ, thì con người Hà Nội hôm nay phải là con người có quyết tâm lớn để không ngừng nâng cao trí tuệ và trình độ chuyên môn của mình trong học tập và lao động Không chỉ vậy mà còn cần thể hiện nó trong cuộc sống hàng ngày và luôn luôn nâng mình lên ngang tầm yêu cầu ngày một cao của dân tộc và thời đại Ông khẳng định rằng, nền văn minh mà chúng ta nói hôm nay không còn giống như nền văn minh qua các thời kỳ lịch sử trước đến nay Trong những thập kỷ gần đây, loài người đã đạt được những thành tựu kỳ diệu của trí tuệ con người Tình hình đòi hỏi mỗi dân tộc phải tiếp thu được một cách thông minh và sáng tạo mọi thành quả của nền văn minh ngày nay, chính vì lẽ đó mà phát triển khoa học và giáo dục đang trở thành yêu cầu bậc nhất Một xã hội văn minh, con
Trang 2421
người văn minh không thể để mình tụt hậu trong thời đại trí tuệ ngày nay Như vậy, ở đây tác giả đặc biệt đề cao tính trí tuệ như là tiêu chí hàng đầu của một con người văn minh trong thời đại mới Tính trí tuệ là cơ sở hình thành tình cảm, hành vi đạo đức mà Arixtốt ở thời của mình coi đó là hoạt động có
lý trí, có mục đích của con người để hòa nhập cái thiện hảo của cá nhân với đời sống thiện hảo của cộng đồng
Trong cuốn sách Văn minh tinh thần nhìn từ chất lượng văn hóa [64]
tác giả Trường Lưu (2006) đã khái quát được những đặc điểm của văn hóa
hiện đại Việt Nam từ Cương lĩnh văn hóa giải phóng đến Cương lĩnh văn hóa
phát triển, trên cơ sở đó, tác giả đi tìm mối quan hệ giữa văn hóa và văn minh
để chỉ ra bản chất của nền văn hóa có định hướng đúng đắn, và nền văn minh tinh thần cần được xây dựng từ chính văn hóa dân tộc, văn hóa tâm linh Việt Nam gắn bó với đặc điểm và tinh thần nhân bản phương Đông; động lực văn hóa và vai trò của nhân tố con người trong văn hóa Ông cũng chỉ ra những đỉnh cao văn hóa của dân tộc qua các bậc danh nhân văn hóa; đồng thời rút ra những đặc điểm của một đô thị văn minh tiêu biểu, cùng với đó là những đặc điểm và sự đối mặt với thách thức của toàn cầu hóa, từ đó đề cao tính năng động trong hội nhập và giao lưu văn hóa cần xuất phát từ vị thế dân tộc, biết tiếp thu và loại bỏ những điểm phù hợp Tác phẩm giúp cho chúng tôi có được những gợi ý hữu ích cho việc đưa ra những nhận định về hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay từ phương diện kế thừa, định hình những giá trị cốt lõi từ bản sắc văn hóa của dân tộc
Trong cuốn sách Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa
[31], tác giả Phạm Duy Đức (2008) đã có những nghiên cứu khá sâu sắc và toàn diện về quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất, chức năng, quy luật vận động và phát triển của văn hóa cũng như các khía cạnh của việc xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, trong đó chúng tôi đặc biệt quan tâm tới quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng con người, đạo đức và lối
Trang 2522
sống trong chủ nghĩa xã hội Phần này có giá trị như quan điểm mang tính định hướng khi chúng tôi đi vào nghiên cứu quan điểm của Đảng về xây dựng con người xã hội chủ nghĩa để phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
Cuốn Văn hóa Việt Nam trên con đường đổi mới – những thời cơ và
thách thức [9] của Trần Văn Bính (2010) đã phác họa tương đối toàn diện về
văn hóa Việt Nam trên con đường đổi mới cả về lý luận và thực tiễn Trong
đó, chúng tôi quan tâm đến những ý kiến của tác giả về thực trạng và nguyên nhân đạo đức lối sống ở nước ta hiện nay
Trong cuốn Văn hóa và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập
quốc tế [8], tác giả Hoàng Chí Bảo (2010) đã đề cập hai phần: phần thứ nhất
trình bày lý luận về văn hóa; bản chất, chức năng, các cơ sở khách quan quy định bản sắc da dạng của các nền văn hóa; tiếp xúc, giao lưu, đối thoại giữa các nền văn hóa, Phần thứ hai tác giả trình bày về văn hóa với phát triển và tiến bộ nhìn từ cục diện văn hóa Châu Á – Thái Bình Dương trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI qua thực tiễn Đông Á Chúng tôi tiếp thu được trong phần thứ nhất nội dung tác giả phân tích về mối quan hệ giữa văn hóa, với văn minh và phát triển
Cuốn Con người và văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội
nhập [16] của Nguyễn Văn Dân (2011) với cơ sở lý luận là quan điểm của Hồ
Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng con người và văn hóa Việt Nam cùng với các nguyên tắc của nó Tác giả đã tiến hành phân tích về thực trạng, tác động, dự báo và đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển con người và văn hóa trong thời kỳ mới Đây cũng là công trình có nội dung và giác độ nghiên cứu có đóng góp không nhỏ trong quá trình nghiên cứu của luận án
Cuốn Xây dựng nhân cách văn hóa – những bài học kinh nghiệm trong
lịch sử Việt Nam [4] của Hoàng Tuấn Anh, Nguyễn Chí Bền, Từ Thị Loan,
Vũ Anh Tú (2012) góp phần hệ thống hóa các cơ sở lý luận, các quan điểm học thuật về vấn đề nghiên cứu nhân cách và xây dựng nhân cách con người
Trang 26và hội nhập quốc tế Đây cũng là một nguồn tham khảo để chúng tôi có một cái nhìn toàn diện khi đi phân tích và đưa ra đánh giá về những giá trị và mặt trái đạo đức con người Việt Nam hiện nay
Tác giả Trần Thị Minh (2014) trong tác phẩm Phát triển văn hóa với tư
cách nền tảng tinh thần của xã hội [74] đã tập trung nghiên cứu, làm rõ nội
dung phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội; khẳng định tính đúng đắn trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển văn hóa Cuốn sách phân tích thực trạng cũng như vấn đề đặt ra, phương hướng và giải pháp trong việc phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Cuốn Một số vấn đề về hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn hiện tại [97]
do Trần Ngọc Thêm chủ biên (2015) với sự đóng góp của rất nhiều nhà khoa học, cuốn sách là một tập hợp nghiên cứu về hệ giá trị Việt Nam từ cơ sở lý luận về giá trị học và hệ giá trị trong nền văn hóa đến hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và hệ giá trị của mỗi miền Đây là công trình tham khảo có giá trị khi chúng tôi đi vào khái quát về giá trị và mặt trái đạo đức của con người Việt Nam hiện nay
Trong cuốn Định hướng giá trị con người Việt Nam thời kỳ đổi mới và
nghiên cứu thái độ chung của 1004 công nhân, nông dân, trí thức và học sinh sinh viên về mức độ trầm trọng của những tệ nạn xã hội và tiêu cực thì kết
Trang 27Từ các kết quả khảo sát, các tác giả cho rằng: “việc xây dựng hệ giá trị mới phải bắt đầu từ sự bứt phá trong nhận thức và tư duy” [39, tr.221] và “một xã hội công bằng và dân chủ là vườn ươm các giá trị sáng tạo, các ước vọng lớn lao Một đời sống văn hóa cao là tiền đề cho sự phát triển các giá trị khoa học, công nghệ và tài năng Một cộng đồng giàu tính nhân văn là nguồn gốc của những lý tưởng về cái đẹp” [39, tr.222] nhưng “cái quyết định cuối cùng lại là tính tích cực hoạt động, tu dưỡng, tự đào tạo của mỗi người” để “chủ động biến các giá trị xã hội đó thành các giá trị nhân cách của chính mình” [39, tr.223] Đó chính là sự phân tích sâu sắc về con đường hình thành và nỗ lực hoàn thiện của đạo đức cá nhân trong mối tương quan với điều kiện, môi trường xã hội, là một sự gợi ý không mới nhưng luôn mang tính thời sự với những ai đã và đang quan tâm đến vấn đề đạo đức Bên cạnh những giá trị truyền thống như lòng yêu nước, lòng nhân ái, hiếu học và một số giá trị mới nảy sinh trong điều kiện hiện đại như: bảo vệ môi trường sinh thái, vấn
đề toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế thế giới và một số giá trị cũ nhưng có ý nghĩa mới trong điều kiện hiện đại (như dân chủ, cá nhân, ) thì “những nhược điểm của người Việt Nam thường được kể đến là:
- Không có kỷ cương, “thủ kho to hơn thủ trưởng”
- Nhỏ nhen, hẹp hòi, ích kỷ, thu vén cá nhân;
- “Lụt lút cả làng”, không ăn được thì đạp đổ, cào bằng, níu kéo nhau;
Trang 28Về mô hình xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn mới, Nghị
quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII [24]
đã xác định năm đức tính: “- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân trên thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung
- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng, có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái
- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội
- Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình
độ thẩm mỹ và thể lực” [24, tr.58-59] Đây là những định hướng có tính chất khái quát nhưng cũng rất sát thực nhằm hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới
Trong cuốn Vấn đề xây dựng phát triển văn hóa và con người Việt Nam
trong văn kiện Đại hội XII của Đảng [116] của Viện Khoa học xã hội và nhân
văn quân sự - Bộ quốc phòng (2016), có đưa ra nhận xét: “Bên cạnh những phẩm chất cao đẹp, thì con người vẫn bộc lộ không ít những nhược điểm đang cản trở sự phát triển Đó là sự tồn tại lối suy nghĩ của người sản xuất nhỏ; tầm nhìn hạn hẹp; thiếu tri thức khoa học, chưa có thói quen công nghiệp; trình độ
Trang 2926
dân trí nói chung còn thấp; tính năng động sáng tạo chưa cao; tư tưởng vị kỷ hẹp hòi, bè cánh, xoay xở; đầu óc địa vị hám lợi, hiếu danh, cục bộ, địa phương chủ nghĩa, chạy chức, chạy quyền; thái độ chủ quan duy ý chí, coi thường tri thức, độc đoán gia trưởng, thiếu dân chủ, thiếu tôn trọng pháp luật Sự tác động tiêu cực từ nhiều yếu tố, nhất là từ mặt trái của kinh tế thị trường làm gia tăng các biểu hiện như lối sống vị kỷ, cạnh tranh tàn nhẫn, chạy theo đồng tiền Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên không được ngăn chặn hiệu quả Việc giáo dục, giữ gìn, phát huy truyền thống và những tình cảm tốt đẹp trong gia đình chưa được quan tâm đúng mức; nhà trường chưa thực hiện tốt chức năng giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống cho thế hệ trẻ Việc chăm lo xây dựng, bảo vệ con người chưa trở thành mối quan tâm thường xuyên của cộng đồng xã hội” [116, tr.49-50] Qua phân tích quan điểm của Đảng về xây dựng con người tại đại hội XII, các tác giả của cuốn sách đã khẳng định: “Như vậy, mục tiêu xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp là trọng tâm, cốt lõi của phát triển văn hóa; và do vậy, mọi hoạt động văn hóa đều phải hướng tới xây dựng, phát triển con người Quan điểm về xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện đã bao hàm nội dung, tinh thần của văn hóa xã hội chủ nghĩa Chỉ có chủ nghĩa
xã hội mới hướng đến xây dựng con người toàn diện” Và “tính toàn diện biểu hiện qua sự thống nhất giữa đức và tài; phẩm chất và năng lực; con người được hưởng độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc; con người thống nhất giữa trách nhiệm, nghĩa vụ với quyền lợi trong quan hệ với xã hội” [116, tr.94] Những nội dung chắt lọc của cuốn sách đã trở thành gợi ý cho chúng tôi trong quá trình viết về nội dung hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay trên tinh thần là nền tảng tư tưởng của Đảng
Trang 30sử triết học phương Tây Chính vì lẽ đó, các công trình nghiên cứu về Arixtốt
và triết học Hy Lạp cổ đại rất đa dạng và phong phú, mỗi công trình, ngoài những đặc điểm chung mang tính lịch sử còn mang dấu ấn nhãn quan riêng của mỗi nhà nghiên cứu
Tìm hiểu về đạo đức học nói chung và đặc biệt là tư tưởng đạo đức của Arixtốt – cây đại thụ trong nền học thuật thế giới đã thu hút được rất nhiều nhà nghiên cứu đầu tư trí lực Chúng tôi đã tổng quan hai nhóm công trình, trong đó cố gắng chắt lọc các tài liệu cơ bản có liên quan đến nội dung luận
án, bao gồm: thứ nhất là nhóm công trình nghiên cứu có đề cập tới các điều kiện, tiền đề cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của Arixtốt; về thân thế, sự nghiệp và tư tưởng đạo đức của Arixtốt và thứ hai là nhóm công trình nghiên cứu về đạo đức con người Việt Nam hiện nay Trên cơ sở nhận diện và kế thừa kết quả của các nghiên cứu đi trước, chúng tôi xác định các vấn đề luận
án cần tiếp tục nghiên cứu, và được triển khai trong các chương tiếp theo
Thứ nhất, mặc dù các công trình đi trước đã có những thành công nhất
định trong việc khảo cứu bối cảnh, tiền đề cho sự ra đời tư tưởng đạo đức của Arixtốt nhưng vẫn chưa đi sâu vào phân tích làm nổi bật lên giá trị của nền dân chủ Athen trong đó đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa của nhà nước – thành bang với tính chất tự do tư tưởng và sự phát triển tương đối đầy đủ các ngành khoa học, nghệ thuật trên nền tảng các giá trị triết lý đặc thù của tinh thần Hy Lạp
Trang 3128
Thứ hai, tư tưởng đạo đức của Arixtốt chủ yếu được các nghiên cứu đi
trước nghiên cứu từ giác độ các phạm trù đạo đức cơ bản như: đức hạnh, hạnh phúc, và chủ yếu tiếp cận từ giác độ là đạo đức học và là một trong số các thành tựu tư tưởng của Arixtốt, hay nói cách khác, chưa có công trình chuyên biệt nào nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện tư tưởng đạo đức Arixtốt
trong phạm vi hai tác phẩm của ông là Đạo đức học của Nicomaque và Chính
trị luận
Thứ ba, các công trình nghiên cứu về đạo đức con người Việt Nam hiện
nay chủ yếu đi vào phân tích giá trị, thực trạng, giải pháp, tính kế thừa đối với đạo đức truyền thống, tinh hoa văn hóa nhân loại; các quan điểm chỉ đạo việc xây dựng đạo đức con người Việt Nam hiện nay trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu
về sự tương đồng và tiếp nối những giá trị trường tồn và phổ quát của tư tưởng đạo đức của Arixtốt đối với việc hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay
1.3.2 Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục nghiên cứu
Thứ nhất, dựa trên những nghiên cứu của các học giả đi trước về triết
học Hy Lạp cổ đại, triết học Arixtốt và những tiền đề cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của ông, luận án tiếp tục khái quát và làm rõ hơn nội dung này, đặc biệt là từ giác độ dấu ấn của nền văn minh Hy Lạp đã được định hình bởi những chuẩn mực đạo đức của con người Hy Lạp như thế nào và đặc biệt làm nổi bật sự kế thừa, hấp thụ và chưng cất những tinh hoa đó trong tư tưởng của Arixtốt để sau này ông được hậu thể ghi nhận, vinh danh là người đã có công tổng kết thời đại
Thứ hai, từ góc độ tiếp cận của mình, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu và
cố gắng trong một chừng mực cao nhất đạt đến sự khái quát và đi vào phân tích một số nội dung, phạm trù chưa được làm rõ trong các nghiên cứu đi
Trang 3229
trước, có ý nghĩa đối với việc tiếp thu để hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay, đó là: tư tưởng của Arixtốt về cái thiện và tính công bằng, về
sự trung bình đúng mực và giáo dục đạo đức
Thứ ba, luận án tập trung rút ra từ các nghiên cứu về đạo đức con người
Việt Nam những nội dung cần thiết để phân tích mục tiêu hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay, đặc biệt là phân tích một số khiếm khuyết của đạo đức con người Việt Nam hiện nay để thấy được cần có sự tiếp thu, kế thừa biện chứng đối với tư tưởng đạo đức của nhân loại trong quá trình phát triển của nó – cụ thể là làm rõ sự bổ khuyết, ý nghĩa của tư tưởng đạo đức của bậc vĩ nhân đã dày công đúc kết tinh hoa văn hóa tinh thần, đạo đức thời cổ đại – đó là Arixtốt
1.3.3 Một số khái niệm cơ bản
Tư tưởng, đạo đức, tư tưởng đạo đức không phải là những khái niệm
mới lạ, tuy nhiên, để giúp cho việc nghiên cứu có tính định hướng trong quá trình tiếp cận, chắt lọc và chỉ ra ý nghĩa của tư tưởng đạo đức Arixtốt, chúng tôi dành một dung lượng nhất định để trình bày khái quát những nội dung cơ bản của các thuật ngữ này
Tư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ
của con người với thế giới xung quanh Nói đến tư tưởng là chúng ta nói đến
ý thức của một cá nhân hay một cộng đồng Nó chứa đựng những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học Trong đó, các khái niệm mang tính nhất quán, những quan điểm đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cá nhân, giai cấp, một dân tộc được hình thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực
Tư tưởng thường thuộc về những nhà tư tưởng có tầm nhìn cao Trong
đó, tư tưởng đó có một quá trình hình thành, phát sinh, phát triển qua quá trình trao đổi, suy nghĩ của con người Chính vì lẽ tư tưởng xuất phát từ thực tiễn nên nó chứa đựng cách thức giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong
Trang 3330
thực tiễn Và bởi, tư tưởng là kết quả của quá trình nhận thức, suy tư của một
cá nhân, một cộng đồng nên nó được tiếp thu một cách có chọn lọc dưới dạng lĩnh hội hoặc phê phán
Đạo đức hiểu theo nghĩa hẹp: đạo đức là luân lý, những quy định,
những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người với con người
Hiểu theo nghĩa rộng: đạo đức liên quan chặt chẽ đến phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống thì đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, của một cá nhân đã được xã hội hóa
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, đạo đức xét đến cùng là sự phản ánh các quan hệ xã hội Giá trị đạo đức thể hiện ở việc nó phục vụ cho sự tiến bộ xã hội, vì hạnh phúc con người, giúp cho xã hội loài người tiến lên trình độ cao hơn, thoát khỏi ách áp bức bóc lột
Như vậy, tư tưởng đạo đức là một hệ thống những quan điểm về vai
trò, các giá trị đạo đức chuẩn mực, các nguyên tắc tu dưỡng rèn luyện đạo đức được hình thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức và các tư tưởng đạo đức phản ánh tồn tại xã hội, đồng thời có tính độc lập tương đối trong việc kế thừa, phát triển các giá trị đạo đức trước đó; tồn tại trong sự tác động qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác, ý thức đạo đức có khả năng tác động trở lại đối với tồn tại xã hội trong những điều kiện nhất định thông qua hoạt động thực tiễn
Là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức và tư tưởng đạo đức được hình thành từ những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, có chức năng điều chỉnh hành vi của con người Mỗi chế độ xã hội khác nhau có những quy phạm đạo đức khác nhau Trong đó, giai cấp nào thống trị về kinh tế cũng thống trị về đạo đức và tinh thần của xã hội Do đó, nếu đó là giai cấp biểu hiện cho xu thế phát triển đi lên của xã hội thì đạo đức của nó đại diện cho
Trang 3431
nền đạo đức tiến bộ Còn giai cấp phản động thì đại diện và bảo vệ cho những
tư tưởng đạo đức thoái bộ Chính vì vậy, mỗi thời kỳ lại có những quan niệm
và quy phạm khác nhau về nội hàm và tính chất của các phạm trù đạo đức cơ bản Trong những quan niệm, tư tưởng đó, bên cạnh tính đặc thù, tính lịch sử
- cụ thể, có những quan niệm, tư tưởng chứa đựng trong nó tính nhân loại phổ quát, có sức sống lâu bền
Như vậy, đối tượng của đạo đức và tư tưởng đạo đức là con người trong các mối liên hệ tương tác của nó Để hoàn thiện đạo đức cho con người, cần thông qua quá trình giáo dục đạo đức Quá trình giáo dục đạo đức, nói một cách tổng quát, bao gồm giáo dục nhận thức để hình thành và phát triển những xúc cảm, tình cảm, niềm tin đạo đức trong sáng, cao quý kết hợp hài hòa với việc rèn luyện hành vi và trau dồi thói quen trong ứng xử đạo đức hàng ngày giữa người với người
Tiểu kết chương 1
Từ sự hệ thống hóa và phân chia các công trình nghiên cứu của các học giả đi trước thành hai nhóm tài liệu chính, chương tổng quan tình hình nghiên cứu là nguồn chất liệu có giá trị khoa học, giúp tác giả rút ra được những đánh giá về những thành công đã đạt được trong nghiên cứu về bối cảnh và tiền đề
ra đời tư tưởng đạo đức Arixtốt và các khía cạnh đã khai thác khi đi tìm hiều
về tư tưởng đạo đức của nhà bách khoa thư Đồng thời, với những gợi ý, phân tích từ sự tổng quan các công trình nghiên cứu về mục tiêu hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế và quá trình toàn cầu hóa đã giúp cho tác giả xác định lôgíc triển khai của luận án ở những chương tiếp theo nhằm thực hiện được mục đích của luận án đã đặt ra là rút ra ý nghĩa của tư tưởng đạo đức Arixtốt trong việc bổ khuyết những khiếm khuyết mà con người Việt Nam cần tiếp tục học hỏi và hoàn thiện trên con đường xây
dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh Phần
Trang 3532
cuối cùng của chương 1, luận án trình bày khái quát nội dung một số khái niệm cơ bản làm công cụ và định hướng cho quá trình khai thác, nghiên cứu, chắt lọc, chỉ ra ý nghĩa của tư tưởng đạo đức Arixtốt
Trang 3633
Chương 2 TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH
TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA ARIXTỐT 2.1 Bối cảnh ra đời tư tưởng đạo đức của Arixtốt
2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội
Bờ biển Địa Trung Hải và các quốc gia bao quanh nó là không gian tồn tại của nền văn minh Cổ đại Hy Lạp cổ đại nằm ở đông bắc Địa Trung Hải ngoài bán đảo Hy Lạp hiện nay còn bao gồm các đảo trong vùng biển Êgiê, Maxêđô, Thêbơ, bán đảo Italy và vùng Tiểu Á Trong đó, bán đảo Hy Lạp là trung tâm sinh hoạt của người Hy Lạp cổ đại, mang ý nghĩa quyết định đối với lịch sử Hy Lạp cổ đại Hy Lạp có những đồng bằng màu mỡ như: Tétxali, Áttích, Bêôxi, bán đảo Pêlôpônedơ thuận tiện cho việc trồng trọt lúa mì, nho, ôliu Và cũng chính Địa Trung Hải đã khiến cho giao thông đường biển thuận tiện từ Hy Lạp tới Tiểu Á, Bắc Phi Nhờ những điều kiện tự nhiên đó, Hy Lạp
đã rất phát triển thủ công nghiệp và thương nghiệp; sản xuất và xuất khẩu đồ gốm, vải vóc, rượu vang làm từ nho, dầu ôliu
Thủy tổ của người Hy Lạp là người du mục từ sông Đanuýp di cư về phương nam đi tìm những đồng cỏ xanh tốt Họ có tên gọi là Hêlen, người Trung Hoa sau này phiên âm thành Hy Lạp Thời cổ, Hy Lạp gồm nhiều thành phố được tổ chức như những quốc gia gọi là thị quốc, trong đó nổi tiếng nhất có Athen, Thibơ và Xờpácta Dân Athen sống xa hoa, ưa thích các hoạt động trao đổi, Athen được coi là nơi có chế độ dân chủ đầu tiên, nơi mà mọi người đều được tham gia chính sự và cũng nhờ tính chất tự do tư tưởng mà Athen trở thành một môi trường thuận lợi cho các triết gia như Xôcrát và sau
đó, học trò ông là Platôn và sau nữa là Arixtốt đã phát triển học thuật của mình Từ đó, Athen trở thành trung tâm tư tưởng và học thuật của bán đảo Hy Lạp và được mệnh danh là cái nôi văn hóa và văn minh phương Tây
Trang 3734
Vào thế kỷ VI TCN, công xã nguyên thủy tan rã, Hy Lạp bước vào xã hội có giai cấp và nhà nước Trong đó, chủ nô là giai cấp áp bức, bóc lột và thống trị Chính trong giai cấp chủ nô Hy Lạp cũng có những tầng lớp tương ứng: tầng lớp chủ nô nông nghiệp xuất thân từ các quan chức của xã hội nguyên thủy nên gọi là quý tộc thị tộc; tầng lớp chủ nô công, thương, ngân hàng do sản xuất buôn bán mà giàu có nên được gọi là quý tộc mới Chủ nô nông nghiệp có xu hướng thiết lập nhà nước quân chủ, còn chủ nô công thương có xu hướng thiết lập nhà nước cộng hòa Chính do đặc điểm này mà
ở Hy Lạp đã diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp để thiết lập nên thiết chế chính trị
Giai cấp bình dân ở Hy Lạp khi đó là nông dân và thị dân Họ có tài sản riêng song nghèo khổ và bị nhà nước chủ nô áp bức, bóc lột Xu hướng chính trị của họ là muốn thiết lập nền cộng hòa để bảo vệ quyền lợi của mình Trong cuộc đấu tranh để lựa chọn thiết chế chính trị, giai cấp bình dân và tầng lớp trí thức của họ là đồng minh của quý tộc mới và họ đã tạo nên một vai trò rất quan trọng trên vũ đài chính trị Hy Lạp Tầng lớp nô lệ chiếm đông đảo trong
xã hội Họ bị chủ nô áp bức, bóc lột rất tàn khốc, không được quyền làm người, họ bị coi là tài sản biết nói của chủ nô
Trên toàn Hy Lạp khi đó hình thành nhiều nhà nước được gọi là thành bang, trong đó, thành bang Athen đã thiết lập nên nhà nước cộng hòa dân chủ chủ nô Tuy vậy, sự bất bình đẳng về kinh tế đã khiến cho những công dân nghèo, đặc biệt là phụ nữ và nô lệ không có điều kiện để thực hiện quyền dân chủ, quyền giữ các chức vụ, quyền giám sát các viên chức cao cấp và các cơ quan nhà nước, quyền tham gia Đại hội công dân
Từ thế kỷ VII TCN, nhiều chuyển biến quan trọng đã diễn ra ở trong đời sống của Hy Lạp Cùng với việc trồng lúa mì thì việc trồng nho và ôliu ngày càng được mở rộng và đã thực sự là những nông sản làm cho Hy Lạp nổi tiếng khắp thế giới Các nghề thủ công nghiệp bắt đầu phát triển, các đô thị được hình thành nhiều hơn Cùng với nghành thương mại mà các khu vực
Trang 3835
biệt lập trước kia đã thông thương với nhau, chấm dứt tình trạng tự cung tự cấp kéo dài nhiều thế kỷ Các ngành nghệ thuật được phục hồi, các công cụ lao động mới làm bằng sắt xuất hiện Chữ Hy Lạp mới ra đời dựa trên bảng chữ cái được tiếp thu và cải biến từ bảng chữ của người Phinikya Chính bảng chữ cái được xây dựng cách đây gần 3 nghìn năm đã trở thành cơ sở cho chữ viết Hy Lạp, chữ Slavơ hiện đại và chữ Latinh
Cùng với đó, nhờ tiến bộ của ngành đóng tàu, dưới sức ép dân số, công cuộc di dân và thuộc địa hóa vĩ đại đã đưa nền văn minh Hy Lạp vươn ra xa khỏi biên giới lãnh thổ Một số vùng bị người Hy Lạp xâm chiếm đã bắt đầu đóng một vai trò quan trọng đối với số phận của Hy Lạp không kém các lãnh thổ bản địa Các thành phố mới đã được giải phóng khỏi áp lực của các truyền thống thị tộc lỗi thời tạo điều kiện cho các thể chế xã hội mới dễ dàng hình thành Và do không có tầng lớp quý tộc thị tộc hùng mạnh, tập trung quyền lực cản trở, những cải cách của nhà nước - thành bang ở các thuộc địa đã diễn
ra nhanh hơn và thành công hơn so với ở quốc mẫu
Nhận xét về thời kỳ này, T.Z Lavine trong cuốn sách Từ Xôcrát đến
Sáctơ: Sự đi tìm triết học đã viết: "Thời hoàng kim của Athens, thời kỳ của
Pericles, từ năm 445 đến năm 431 TCN, đã trở thành biểu tượng cho sự hoàn thiện cuộc sống văn minh của con người Có thể nói rằng, thế giới phương Tây đã có một tình yêu lâu dài đối với Athens thời hoàng kim Chúng ta cảm thấy gần gũi với Athens như là lý tưởng và kiểu mẫu của chúng ta hơn bất cứ thành phố nào khác trong toàn bộ lịch sử nhân loại Athens là lý tưởng của chúng
ta vì đó là nền dân chủ đầu tiên, và vì đó là thành phố dành tất cả cho sự hoàn thiện của con người về đầu óc và thân thể, cho triết học, nghệ thuật và khoa học,
và cho việc giáo dục nghệ thuật sống" [Trích theo 52, tr.76] Như vậy, có thể thấy rằng, chính Athen - thành bang có tên gọi với ý nghĩa về khát vọng tri thức và hòa bình – cùng với lịch sử xã hội hào hùng và nền dân chủ đầu tiên, đã trở thành kiểu
Trang 39- VI TCN) những hình thức và những thể chế sinh hoạt cơ bản của nhà nước - thành bang được hình thành và tạo dựng với đặc điểm cơ bản của nó là sự đảm bảo những điều kiện cho tự do con người ở một chừng mực lớn hơn bất
kỳ chế độ xã hội nào khác Chính quyền tự do được trao cho cá nhân đó đã biến thành nền tảng và động lực của toàn bộ tồn tại xã hội, là cơ sở cho mọi thành tựu tinh thần của con người ở thời kỳ này
Bản chất của polis thể hiện ở chỗ nó là hình thức lịch sử đầu tiên của xã
hội công dân, là cộng đồng những công dân tự do và bình quyền Khác với
polis, xã hội phương Đông không biết đến công dân Địa vị trong xã hội
phương Đông được quy định bởi tính chất cao quý của con người, bởi quan hệ của người đó với tầng lớp cầm quyền mà trước hết là bởi quan hệ với nhà vua
– người đứng đầu nhà nước Trong khi đó, quyền lực nhà nước trong polis
dựa trên pháp luật và sự phục tùng pháp luật Trong đó, việc soạn thảo các bộ luật thành văn là bước đi đầu tiên nhằm hạn chế quyền lực của giới quý tộc Các bộ luật này thường phản ánh các chuẩn tắc pháp lý tồn tại trong xã hội Chính việc các bộ luật được ghi nhận bằng văn bản và được thông qua nhờ trưng cầu dân ý đã tước mất của tầng lớp quý tộc khả năng sử dụng pháp luật theo chủ ý của mình Trước kia, luật pháp được những người cầm quyền lý giải một cách chủ quan và có lợi cho họ Quyền của kẻ mạnh và giàu có thực
sự thống trị còn thành viên công xã là kẻ bất lực, thì đến đây, nhờ luật thành văn mà lần đầu tiên đã xuất hiện những chuẩn tắc không hoàn toàn lệ thuộc
Trang 4037
vào những kẻ quyền quý, tức là bất kỳ người nào cũng phải tuân thủ, không phân biệt địa vị Hơn nữa, vì người đứng đầu quyền lập pháp là cộng đồng công dân, nên bản thân nhà nước phải có trách nhiệm báo cáo với cộng đồng
ấy thông qua việc thực thi các luật hiện hành Hệ thống quan viên, chức trách
nhà nước trong polis được các thành viên của cộng đồng công dân lựa chọn theo
con đường bỏ phiếu toàn dân đã đảm bảo tính được giám sát và được thay thế của mọi thành viên trong đó, kể cả người đứng đầu nhà nước
Ngoài ra, quyền tư pháp trong polis cũng rất mạnh, không phụ thuộc
vào quyền hành pháp Chẳng hạn ở Athen, tòa án trở thành thể chế của nhân dân với hội đồng thẩm phán gồm 6000 thành viên Điều này đảm bảo sự độc lập và tính dân chủ của các quyết định ở tòa án Bản thân quá trình xử án cũng
có tính chất cởi mở và dân chủ, cho phép mỗi công dân đều có quyền bảo vệ các quyền lợi chính trị và sở hữu của mình Tất cả những điều đó là khác biệt
căn bản của polis so với nhà nước phương Đông cổ mà trong đó quyền
chuyên chế của vua do một nhóm quan lại khép kín thực hiện
Toàn bộ nếp sống ở polis có nhiệm vụ đảm bảo tự do ý chí của cá nhân Những hành vi của cá nhân trong polis chỉ duy nhất bị hạn chế bởi pháp luật Tuy nhiên, trong polis, phụ nữ có địa vị thấp hơn đáng kể so với nam giới, địa
vị của nô lệ có sự tương phản so với địa vị của công dân tự do và điều đó đã làm giảm đáng kể giá trị hình ảnh của chế độ này
2.1.2 Văn hóa, nghệ thuật và khoa học
* Sự thông thái
Sự thông thái tất nhiên không phải là tài sản thuần túy của văn hóa Hy Lạp, và bản thân nhân vật nhà thông thái cũng hoàn toàn không phải là hiện tượng thuần túy Hy Lạp Mà trước đó, lịch sử đã ghi nhận sự thông thái của phương Đông cổ với các đại biểu là các nhà thông thái Ai Cập và Babilon, là các nhà tiên tri trong Cựu ước, là các nhân vật sáng tạo ra thế giới và cải cách tôn giáo Song, sự thông thái Cổ đại Hy Lạp có tính chất và phương thức sinh