Khung hoang no hy lap nguyen nhan va tac dong den vi the dong tien chung chau au
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG 6
1.1 Lý thuyết chung về khủng hoảng nợ công 6
1.1.1 Nợ công 6
1.1.2 Khủng hoảng nợ công 13
1.2 Lịch sử các cuộc khủng hoảng nợ trên thế giới 14
1.2.1 Khủng hoảng nợ Argentina (1999 - 2002) 15
1.2.2 Khủng hoảng nợ Indonesia (1997) 18
1.2.3 Khủng hoảng nợ châu Âu (2010) 20
CHƯƠNG 2: KHỦNG HOẢNG NỢ HY LẠP 23
2.1 Một số nét khái quát về Hy Lạp 24
2.2 Khủng hoảng nợ Hy Lạp 2010 25
2.2.1.Diễn biến 25
2.2.2 Nguyên nhân 29
2.2.2.1 Tham nhũng có hệ thống 29
2.2.2.2 Bệnh thành tích khi gia nhập EU 31
2.2.2.3 Năng lực quản lý vĩ mô 34
2.3 Tác động đến đồng tiền chung Châu Âu 42
2.3.1 Khái quát chung về đồng Euro 42
2.3.1.1 Lịch sử hình thành 42
2.3.1.2 Các nước tham gia 45
2.3.1.3 Ký hiệu tiền tệ 45
2.3.2 Đồng Euro trước khủng hoảng nợ Hy Lạp 47
2.3.2.1 Tác động kinh tế 47
2.3.2.2 Tác động về lạm phát của đồng Euro 47
2.3.2.3 Euro trong hệ thống tiền tệ toàn cầu 48
2.3.3 Đồng Euro sau khủng hoảng nợ Hy Lạp 50
2.3.3.1 Tỷ giá 51
Trang 22 3.3.2 Dự trữ ngoại hối trên toàn cầu 56
2 3.3.3 Giá trị thực của Đồng Euro 54
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 57
3.1 Bài học cho các nước Liên minh Châu Âu 56
3.2 Bài học cho ý tưởng về đồng tiền chung của ASEAN 59
3.3 Bài học về quản lý nợ công cho Việt Nam 63
3.3.1 Tình hình nợ công của Việt Nam 63
3.3.2 Nguy cơ từ nợ công 65
3.3.3 Một số kiến nghị 66
KẾT LUẬN… ……… 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 77
PHỤ LỤC……… 78
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Theo chu kỳ của nền kinh tế, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều những cuộckhủng hoảng, dù lớn hay nhỏ đều để lại những hậu quả nhất định và những bàihọc quý báu Cuộc khủng hoảng gần đây nhất là khủng hoảng nợ châu Âu, bắtnguồn từ Hy Lạp không nằm ngoài trong số đó Suốt thời gian qua, khủng hoảng
nợ Hy Lạp luôn là một trong những đề tài được quan tâm nhiều nhất, không chỉvới những nhà lãnh đạo và người dân Hy Lạp mà cả Liên minh châu Âu và cácnước trên thế giới Đến đầu năm 2010, nỗi lo sợ về khả năng thanh toán của HyLạp đã chuyển thành sự hoảng loạn tài chính, gây ảnh hưởng không chỉ đến nềnkinh tế của cả khối mà còn còn tác động đến cả vị thế của đồng Euro trênthương trường quốc tế Lúc này, mức độ bền vững và tin cậy của đồng tiềnchung châu Âu một lần nữa được đem ra cân nhắc xem xét sau hơn 10 năm tồntại và phát triển
Vậy nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng nợ Hy Lạp là gì? Tại sao một nướcthuộc một khối kinh tế được coi là lý tưởng hàng đầu trên thế giới lại trở thành
“Người khổng lồ nợ như chúa Chổm” như vậy? Điều này tác động đến vị thếđồng Euro như thế nào? Các nước liên minh châu Âu cần làm gì để giữ chođồng tiền chung của mình có thể đứng vững như kỳ vọng? Trên thực tế, đã cónhiều bài báo, phóng sự, nghiên cứu tìm lời giải cho bài toán khủng hoảng trên.Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa thật sự có một công trình quy mô mang tính tổnghợp cũng như chuyên sâu về vấn đề này Mặc dù Việt Nam không chịu nhiều tácđộng từ cuộc khủng hoảng này, và cơ sở nền tảng kinh tế cũng khiến cho việc sosánh với Hy Lạp có phần khập khiễng, nhưng trường hợp của Hy Lạp là bài họccho tất cả các nước, dù phát triển hay đang phát triển về quản lý nợ công, một
Trang 4vấn đề, một xu hướng của bất kì quốc gia nào Xuất phát từ vấn đề mang tính
thời sự trên, em chọn đề tài “Khủng hoảng nợ Hy Lạp- Nguyên nhân và tác động đến vị thế đồng tiền chung châu Âu” là đề tài khóa luận tốt nghiệp của
mình
2 Mục đích nghiên cứu
Đưa ra cái nhìn tổng quan, khái quát nhất về cuộc khủng hoảng nợ công của HyLạp, đặc biệt là những nguyên nhân trực tiếp nhất dẫn đến cuộc khủng hoảngnày và những tác động của nó đến vị thế của đồng tiền chung châu Âu trên toànthế giới Từ đó, khóa luận cũng đưa ra một số bài học và kiến nghị, không chỉcho khối các nước sử dụng đồng Euro mà còn cho cả Việt Nam, nhất là trongviệc quản lý và xử lý nợ công
3 Đối tượng nghiên cứu
Những nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp trong năm
2010 và tác động của cuộc khủng hoảng này đến vị thế của đồng Euro
4.Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu tình hình khủng hoảng nợ công Hy Lạp trongnăm 2009 và 2010, nhưng những nguyên nhân của nó lại xuất phát từ khi HyLạp gia nhập Liên minh châu Âu, nên thời gian nghiên cứu tương đối dài, kéodài từ thập niên 80 của thế kỉ trước cho đến nay Tuy nhiên, những tác động đếnđồng Euro chỉ trong ngắn hạn, do IMF, EU và cả Hy Lạp đã có nhiều biện pháptích cực để cứu đồng Euro
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá những thông tin từ nguồn tài liệuthu thập được từ sách báo, tạp chí chuyên ngành, internet cũng như các nghiêncứu và ý kiến đánh giá của một số chuyên gia kinh tế
Trang 5- Phương pháp so sánh, duy vật biện chứng
6 Bố cục của khóa luận
Khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Lý thuyết chung về khủng hoảng nợ công
Chương 2: : Khủng hoảng nợ Hy Lạp 2010- Nguyên nhân và tác động tới vị thếđồng tiền chung châu Âu
Chương 3: Bài học và một số kiến nghị
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo trongkhoa Tài chính Ngân hàng, đặc biệt là thầy Nguyễn Phúc Hiền đã trực tiếphướng dẫn em hoàn thành khóa luận này Qua đây, em cũng muốn gửi lời cảm
ơn sâu sắc tới các cô chú phòng châu Âu, Vụ kinh tế đối ngoại, Bộ Kế hoạchĐầu tư và các anh chị của Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam đã nhiệttình giúp đỡ em trong quá trình thu thập tài liệu và tìm hiểu thực tế vấn đề
Trong phạm vi nghiên cứu còn hạn hẹp và kiến thức bản thân còn nhiều hạn chế,
do vậy em mong nhận được sự nhận xét, đánh giá, góp ý và giúp đỡ của các thầy
cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn nữa
Trang 6CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG
1.1 Lý thuyết chung về khủng hoảng nợ công
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ và có nhiều chuyển biếnkhó lường, điển hình là khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra từ cuối năm 2008,đầu năm 2009, khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp đang lan sang một số nước châu
Âu, nợ công và quản lý nợ công trở thành vấn đề nóng được các nhà lãnh đạocác quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm
Đối với nhiều quốc gia, nợ công không phải là điều đáng lo ngại nhất Điều cầnquan tâm nhất là làm thế nào để chủ động ở mức cao nhất trong nợ công, sửdụng sao cho hiệu quả và không phải chạy theo chủ nợ, đồng thời đảm bảo khảnăng trả nợ đúng hạn Nợ công vượt quá cao so với mức an toàn ở những nềnkinh tế phát triển đang trở thành chủ đề nóng hiện nay bởi đó là yếu tố có nguy
cơ đe dọa những dấu hiệu phục hồi của nền kinh tế toàn cầu, làm cho người tathêm lo ngại tới viễn cảnh nền kinh tế một lần nữa lại rơi vào tình trạng suygiảm
1.1.1 Nợ công
Trong quá khứ, khủng hoảng nợ công cũng đã được biết đến vào đầu thập kỷ 80của Thế kỷ XX Năm 1982, Mê-hi-cô là quốc gia đầu tiên tuyên bố không trảđược nợ vay IMF Đến tháng 10/1983, 27 quốc gia với tổng số nợ lên tới 240 tỷUSD đã tuyên bố hoặc chuẩn bị tuyên bố hoãn trả nợ Tuy nhiên, đến nay xungquanh khái niệm và nội hàm của nợ công vẫn còn nhiều quan điểm chưa thốngnhất Theo Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) thì nợ côngtheo nghĩa rộng là nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm các nghĩa vụ nợ củachính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương
và các tổ chức độc lập (nguồn vốn hoạt động do NSNN quyết định hay trên 50%
Trang 7vốn thuộc sở hữu nhà nước, và trong trường hợp vỡ nợ nhà nước phải trả nợthay) Còn theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm nghĩa vụ nợ của chính phủ trungương, các cấp chính quyền địa phương và nợ của các tổ chức độc lập được chínhphủ bảo lãnh thanh toán Tùy thuộc thể chế kinh tế và chính trị, quan niệm về nợcông ở mỗi quốc gia cũng có sự khác biệt Tại hầu hết các nước trên thế giới,Luật Quản lý nợ công đều xác định nợ công gồm nợ của chính phủ và nợ đượcchính phủ bảo lãnh Một số nước, nợ công còn bao gồm nợ của chính quyền địaphương (Đài Loan, Bungari, Rumani…), nợ của doanh nghiệp nhà nước phi lợinhuận (Thái Lan, Macedonia…).
Ở Việt Nam, Luật Quản lý nợ công năm 2009 quy định, nợ công bao gồm nợchính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương Theo đó,
nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài,được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc cáckhoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quyđịnh của pháp luật Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhànước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ
Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính,tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh Nợ chính quyềnđịa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trungương ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành
Nợ công xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của chính phủ; khi chi tiêu của chính phủlớn hơn số thuế, phí, lệ phí thu được, Nhà nước phải đi vay (trong hoặc ngoàinước) để trang trải thâm hụt ngân sách Các khoản vay này sẽ phải hoàn trả gốc
và lãi khi đến hạn, Nhà nước sẽ phải thu thuế tăng lên để bù đắp Vì vậy, suycho cùng nợ công chỉ là sự lựa chọn thời gian đánh thuế: hôm nay hay ngày mai,thế hệ này hay thế hệ khác Vay nợ thực chất là cách đánh thuế dần dần, đượchầu hết chính phủ các nước sử dụng để tài trợ cho các hoạt động chi ngân sách
Nợ chính phủ thể hiện sự chuyển giao của cải từ thế hệ sau (thế hệ phải trả thuế
Trang 8cao) cho thế hệ hiện tại (thế hệ được giảm thuế) Nhìn nhận từ khía cạnh này có
hai quan điểm cơ bản về nợ công
Theo quan điểm truyền thống về nợ công, đại diện là Keynes, cho rằng, việc vay
nợ của chính phủ làm giảm tiết kiệm của quốc gia và mức tích luỹ vốn, vì sốthuế cắt giảm được bù đắp bằng cách vay nợ nên khuyến khích thế hệ hiện tạitiêu dùng nhiều hơn, số người thất nghiệp giảm đi mặc dù lạm phát có thể caohơn Tuy nhiên, vay nợ để lại gánh nặng nợ cho thế hệ tương lai; các thế hệtương lai phải sống trong một quốc gia vay nợ nước ngoài lớn hơn và vốn tíchluỹ từ nội bộ nhỏ hơn
Trái ngược với quan điểm truyền thống về nợ công trên, những người theo quanđiểm kinh tế học vĩ mô cổ điển (hình thành từ thập niên 1970), đứng đầu làRicardo-Barro cho rằng, biện pháp cắt giảm thuế được bù đắp bằng nợ chínhphủ không kích thích chi tiêu trong ngắn hạn, vì không làm tăng thu nhậpthường xuyên của các cá nhân mà chỉ làm dịch chuyển thuế từ hiện tại sangtương lai Chính sách cắt giảm thuế và tài trợ bằng vay nợ sẽ không gây ranhững tác động thực sự đối với nền kinh tế Việc chấp nhận thâm hụt giảm thutrong thời kỳ suy thoái, tăng thu trong giai đoạn hưng thịnh và vay nợ cũng làcách “lưu thông thuế” để giảm thiểu những tác động tiêu cực của thuế đối vớichu trình kinh doanh
Ngoài ra khi nghiên cứu về nợ công, ta cần phân biệt nợ công với nợ nướcngoài, một phần quan trọng trong nợ công Nợ nước ngoài của một quốc giađược định nghĩa theo Luật Việt Nam là “số dưa của mọi nghĩa vụ nợ hiện hànhkhông bao gồm nghĩa vụ nợ dự phòng về trả gốc và lãi tại một thời điểm của cáckhoản vay nước ngoài của Việt Nam Nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm nợnước ngoài của khu vực công và nợ nước ngoài theo khu vực tư nhân ”
Hai hình thức phổ biến nhất của nợ công là phát hành trái phiếu Chính phủ vàvay trực tiếp Hiện nay, lượng phát hành trái phiếu chính phủ của Mỹ đã vượt
Trang 9mốc 13.000 tỷ USD, chiếm hơn 90% GDP Trong khi tỷ lệ này của Nhật Bản là229%, là quốc gia có mức nợ công ở ngưỡng nguy hiểm nhất thế giới, gần gấpđôi so với tỷ lệ 115,1% của Hy Lạp Các chính phủ cũng có thể vay tiền trựctiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chế siêu quốc gia như IMF hayWorldbank Hình thức này thường được chính phủ các nước có độ tin cậy tíndụng thấp áp dụng, vì khi đó khả năng vay nợ bằng hình thức phát hành tráiphiếu chính phủ của họ không cao.
(Nguồn: spending/)
http://blog.emap.com/boris/2010/02/26/public-debt-and-its-impact-on-consumer-* Các chỉ tiêu về nợ công:
Theo thông tư hướng dẫn phương pháp tính toán các chỉ tiêu giám sát nợ công
và nợ nước ngoài của quốc gia, các chỉ tiêu giám sát về nợ công, nợ nước ngoài
của quốc gia bao gồm:
Trang 10Tổng dư nợ công cuối năm
b) Chỉ số này được tính như sau:
Tổng dư nợ Chính phủ cuối năm
Tỷ lệ nợ Chính phủ so
với GDP
= x 100%
GDP trong năm
3 Nợ vay thương mại của Chính phủ so với GDP:
a) Chỉ số này phản ánh quy mô nợ vay thương mại nước ngoài Chính phủ
so với thu nhập của toàn bộ nền kinh tế và được tính tại thời điểm 31/12 hàngnăm
b) Chỉ số này được tính như sau:
Tổng dư nợ Chính phủ cuối năm
Tỷ lệ nợ vay thương mại
nước ngoài Chính phủ so
với GDP
= x 100%
GDP trong năm
4 Nợ được Chính phủ bảo lãnh so với GDP:
a) Chỉ số này phản ánh quy mô nợ được Chính phủ bảo lãnh so với thunhập của toàn bộ nền kinh tế và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm
b) Chỉ số này được tính như sau:
Tổng dư nợ bảo lãnh cuối năm
Tỷ lệ nợ được Chính phủ
bảo lãnh so với GDP
x 100% GDP trong năm
5 Nghĩa vụ nợ Chính phủ so với thu ngân sách nhà nước:
5.1 Nghĩa vụ trả nợ (gốc, lãi) trực tiếp của Chính phủ:
Trang 11a) Chỉ số này xác định quy mô nợ trực tiếp của Chính phủ đến hạn hàngnăm so với khả năng trả nợ của Chính phủ bằng nguồn thu ngân sách nhà nước
và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm
b) Chỉ số này được tính như sau:
Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủtrong năm
Tỷ lệ nghĩa vụ trả nợ Chính
phủ so với thu ngân sách nhà
nước
= x 100%
5.2 Nghĩa vụ trả nợ (gốc, lãi) vay của Chính phủ về cho vay lại:
a) Chỉ số này xác định quy mô nợ gián tiếp của Chính phủ đến hạn hàngnăm so với khả năng trả nợ của Chính phủ bằng nguồn thu ngân sách nhà nước
và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm
b) Chỉ số này được tính như sau:
Thu ngân sách nhà nước trong năm
Trang 12Nghĩa vụ trả nợ cho vay lại trong năm
Tỷ lệ nghĩa vụ trả nợ vay về
cho vay lại so với thu ngân
sách nhà nước
= x 100%
6 Nghĩa vụ nợ dự phòng của Chính phủ so với thu ngân sách nhà nước:
a) Tỷ lệ này xác định khả năng hoàn trả đối với nghĩa vụ nợ dự phòngphát sinh từ khoản vay, phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh từ nguồnthu ngân sách nhà nước và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm
b) Chỉ số này được tính như sau:
Nghĩa vụ nợ dự phòng trong năm
Tỷ lệ nghĩa vụ nợ dự phòng
so với thu ngân sách nhà
nước
= _ x 100%
7 Nợ chính quyền địa phương so với GDP:
a) Chỉ số này phản ánh quy mô nợ của Chính quyền địa phương so với thunhập của toàn bộ nền kinh tế và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm
b) Chỉ số này được tính như sau:
Tổng dư nợ địa phương cuối năm
Tỷ lệ nợ địa phương so với
GDP
= x 100%
Thực chất, nợ công là vấn đề của mọi quốc gia So khoản nợ công với GDP,gánh trên vai nặng nợ công lớn nhất là các nền kinh tế phát triển (phụ lục 1).Những con nợ lớn nhất trên thế giới là Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Anh,…Trong báo cáo ngày 9-6-2010 “Hậu quả do khủng hoảng tài chính toàn cầu gây
ra trên phương diện thuế khóa”, các chuyên gia IMF khẳng định vào đầu năm
2010, tổng nợ công của 10 nước giàu nhất thế giới đạt mức 106% GDP, tươngđương mỗi người dân nợ 50 nghìn USD Khi nợ công quá lớn, cần nhận sự hỗtrợ của các tín dụng quốc tế thì các nước phải thắt chặt chi tiêu để giảm thâm hụt
Thu ngân sách nhà nước trong năm
Thu ngân sách nhà nước trong năm
GDP trong năm
Trang 13ngân sách Tuy nhiên, điều này lại gây ảnh hưởng đến lợi ích của đông đảongười dân, dẫn đến những phản ứng của quần chúng, gây căng thẳng, bất ổnchính trị, xã hội Nợ công tăng cao liên tục cũng làm hạ bậc tín nhiệm của cácquốc gia con nợ, khiến niềm tin của công dân và giới đầu tư lung lay,việc huyđộng nền kinh tế dễ trở thành mục tiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc tế.Thực tế, việc đánh giá đúng nợ công của một nền kinh tế, một quốc gia là vôcùng quan trọng, đặc biệt khi nền kinh tế toàn cầu luôn có những biến độngphức tạp khó lường Nếu chỉ chú trọng vào con số tỷ lệ nợ công cao một cáchthuần túy sẽ gây nên hiệu ứng tâm lý hoang mang, kích động, làm gia tăng căngthẳng xã hội, gây rối loạn kinh tế thậm chí đưa nền kinh tế đến bờ vực phá sản.
1.1.2 Khủng hoảng nợ công và tác động của nợ công
Nếu như khủng hoảng kinh tế là sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài trong
chu kỳ kinh tế thì khủng hoảng nợ công xảy ra khi một quốc gia vay nợ khôngthể trả được những khoản nợ đến hạn, đặc biệt là nợ nước ngoài và bị nhấn chìmtrong vòng xoáy nợ nần, nói cách khác khủng hoảng nợ xuất hiện khi khoản vay
nợ của quốc gia lớn hơn khả năng trả nợ Nợ công là vấn đề của mọi quốc gia.Ngay cả những nền kinh tế hàng đầu trên thế giới cũng đang phải đối diện trướcnguy cơ khủng hoảng nợ công với nhiều lý do khác nhau:
Chi phí phúc lợi xã hội quá cao, vượt quá năng lực tăng trưởng của nềnkinh tế Ở các nước tiên tiến, điển hình là Nhật Bản và EU, hiện tượng dân sốngày càng “già”,( ở Pháp cứ 2,2 người đang ở độ tuổi lao động sẽ phải nuôi 1người về hưu), gia tăng thêm sức ép với ngân sách cho chi phí y tế và hưu trí,khiến chính phủ các nước phải vay tiền thông qua nhiều hình thức như pháthành công trái, trái phiếu, hiệp định tín dụng,….để chi Theo thời gian, nợ côngcàng lớn do lãi mẹ đẻ lãi con Nếu không có những biện pháp quản lý và sửdụng hiệu quả, các nước này rất dễ bị cuốn vào vòng xoáy nợ nần
Đối với các nước như Hoa Kỳ, gánh nặng siêu cường thế giới cũng tiềm
ẩn nguy cơ khủng hoảng nợ rất cao Tư tưởng lãnh đạo toàn cầu gần như mặc
Trang 14định thấm nhuần đến cả công dân bình thường của Mỹ Họ không phản ứng, nếu
có thì cũng không gay gắt lắm với những khoản vay chính phủ dành cho nhữngcuộc chiến mang danh nghĩa phát triển dân chủ, bảo vệ nhân quyền Hiện nay,
nợ công của Mỹ lên tới 13 nghìn tỷ USD, bao gồm chi cho cải cách hệ thốngthuế và y tế; chi cho các cuộc chiến ở Afghanistan, Iraq; chi cho các chươngtrình quân sự; chi cứu trợ nền kinh tế ra khỏi khủng hoảng…
Đối với các nước đang phát triển thuộc châu Phi, Ấn Độ, Brazil…, mongmuốn rút ngắn khoảng cách phát triển là căn nguyên chủ yếu cho những khoảnvay lớn để chi cho các dự án phát triển tầm cỡ quốc gia, hoặc cải cách cơ cấukinh tế, phát triển thị trường, nâng cấp cơ sở hạ tầng….Với những nguồn vốnvay khổng lồ đổ vào trong nước, nếu không có chính sách sử dụng và trả nợ hiệuquả, các nước này rất dễ “ngủ quên trên nợ”, tiêu dùng lãng phí, không có địnhhướng lâu dài Khi đó, khủng hoảng nợ công là điều hoàn toàn có thể xảy ra
Nợ công là vấn đề của mọi quốc gia, dù phát triển hay đang phát triển Một sốnước đã bị nhấn chìm trong vòng xoáy khủng hoảng nợ công, gây ra nhiều hệlụy đáng lo ngại như hạng mức tín nhiệm của quốc gia bị hạ bậc, kinh tế suygiảm, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, hệ thống tài chính bất ổn và đặc biệt là an sinh
xã hội bị ảnh hưởng nặng nề khi các Chính phủ thực hiện cắt giảm chi tiêu côngnhằm khắc phục khủng hoảng và trang trải nợ nần
1.2 Lịch sử các cuộc khủng hoảng nợ trên thế giới
Từ đầu thế kỷ 20 đến nay, thế giới đã trải qua rất nhiều cuộc khủng hoảng nợcông, gây ra nhiều ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu Trong đó phải kế đếncuộc khủng hoảng nợ ở khu vực châu Mĩ- La tinh thế kỷ trước và gần đây nhất
là khủng hoảng nợ châu Âu 2009-2010
Trang 15
1.2.1 Khủng hoảng nợ Argentina (1999 - 2002)
Năm 1999, tốc độ tăng trưởng GDP của Argentina là âm 4%, đây là dấu hiệukhởi đầu cho 1 khủng hoảng kéo dài 4 năm sau đó (1999 - 2002) Argentina bắtđầu gặp phải những mất cân đối trong chi tiêu ngân sách do đã tư hữu hóa ào ạtcác xí nghiệp quốc doanh trong thời gian trước đó khiến Chính phủ không cònnguồn thu khác ngoài thuế để bù đắp thâm hụt, cộng với việc Chính phủ liên tụcphải trả nợ cho các hóa đơn vay nợ nước ngoài trước đây càng làm tình hìnhtrầm trọng hơn Những bất ổn trong hệ thống chính trị (tham nhũng, sự phânchia quyền lực giữa các địa phương trong việc điều tiết các nguồn thu thuế…)làm thị trường mất niềm tin về khả năng trả nợ của Argentina đối với những tráiphiếu đã phát hành Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ Đông Á 1997,Brazil tuyên bố phá giá nội tế vào tháng 1 năm 1999 và sự kiện này làm tổnthương nghiêm trọng xuất khẩu của Argentina Tăng trưởng GDP năm 1999 củaArgentina là âm 4% (- 4%) và vẫn là con số âm cho đến tận năm 2002
Các nhà đầu tư nước ngoài mất tin tưởng vào sự điều hàh của Chính phủArgentina nên đã nhanh chóng chuyển tiền ra khỏi Argentina Năm 2001, tâm lý
lo sợ khiến người dân Argentina đồng loạt rút tiền gửi ngân hàng, chuyển sangUSD và gửi ra nước ngoài, gây ra làn sóng tháo chạy ngoại tệ trên cả nước,khiến dự trữ ngoại tệ của nước này bị suy giảm nghiêm trọng
Trong thời kì nắm quyền, tổng thống Fernando de la Rúa đã đưa ra các giải pháp
là vay nợ từ IMF 6,78 tỷ USD để ngăn chặn khủng hoảng kinh tế, đóng băng cáctài khoản tiến gửi ngân hàng trong 12 tháng (chỉ cho phép mỗi cá nhân rút tối đa1000USD/tháng) và kiểm soát việc đổi ngoại tệ Tuy nhiên, những chính sáchnày đều không dẫn đến kết quả gì cả ngoài việc làm cho bạo động tăng thêm.Mặc dù luôn nhận được sự giúp đỡ từ Quỹ tiền tệ quốc tế IMF nhưng chínhquyền của Fernando de la Rúa vẫn bất lực trong việc đưa đất nước thoát khỏikhủng hoảng
Trang 16Tình hình khủng hoảng của Argentina càng thêm trầm trọng Ngày21/12/2001, Fernando de la Rúa buộc phải từ chức tổng thống Lên thế ông làRamón Peurta Tuy nhiên, Ramón Peurta chỉ giữ chức vụ tổng thống trong 48tiếng và đến ngày 23/12/2001, Quốc hội chỉ định Adolfo Rodríguez Saá làmtổng thống Cũng giống như Ramón Peurta, ông cũng chỉ giữ chức vụ này trong
1 tuần sau khi tuyên bố tình trạng vỡ nợ quốc gia với khoản nợ 90 tỷ USD- mức
nợ lớn nhất trong lịch sử đất nước này Cuối cùng, ngày 31/12/2001, EduardoDuhalde được chỉ định là tổng thống thứ 53 của Argentina.Ông kịch liệt lên ánchính sách gắn chặc đồng Peso vào Đôla và chính sách tự do hóa thương mạicủa Menem Ông tuyên bố phá giá đồng Peso 30% (đạt tỷ lệ 1.4 Peso đổi 1Đôla) Chính sách này mặc dù giúp cho nền xuất khẩu của Argentina được phụchồi nhưng đồng thời cũng làm cho tỷ lệ lạm phát của Argentina tăng cao(nguyên nhân là do người tiêu dùng nước này chủ yếu mua hàng hóa nhập khẩu,
mà việc phá giá đồng Peso sẽ làm cho hàng nhập khẩu tăng giá) Đồng thời,Eduardo Duhalde cũng ban hành các chính sách kinh tế như: chuyển đổi cáckhoản nợ trên 100.000 Đôla thành đồng Peso (điều này đã gây thiệt hại cho cácchủ nợ), kiểm soát tài khoản ngân hàng và các dòng chảy của vốn, áp dụngchính sách thuế mới lên giá dầu thô nhằm bồi thường cho các chủ nợ bị thiệt hạibởi việc chuyển các khoản nợ sang đồng Peso, cân bằng thu chi ngân sách và táiđàm phán nợ công
Đến năm 2003, những chính sách của tổng thống Eduardo Duhalde đã bắtđầu có tác dụng, nền kinh tế Argentina bắt đầu quay trở lại đà tăng trưởng Hìnhảnh nền kinh tế Argentina lúc này hoàn toàn khác so với những năm 1990 Họkhông còn dựa vào hàng hóa nhập khẩu, không còn dựa vào các khoản nợ haycác khoản đầu tư nước ngoài để có được ngoại tệ nữa; thay vào đó, Argentinalúc này có một nền xuất khẩu cực kỳ phát triển (do sự phá giá của đồng Peso) vàđến lượt nó, xuất khẩu cũng làm tăng dự trữ ngoại tệ cho đất nước Nhờ vậy,chính phủ Argentina đã có khả năng trả được các khoản nợ nước ngoài
Trang 17Dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng trung ương Argentina (đơn vị tính: triệu Đôla) (Nguồn: Ngân hàng Trung ương Argentina)
Tốc độ phát triển GDP của Argentina thời kỳ này (2003-2007) đạt mức kỷ lục,luôn trên 8%/năm (8.8% năm 2003, 9% năm 2004, 9.2% năm 2005, 8.5% năm
2006, 8.7% năm 2007) Tuy nhiên, đi cùng với đó là tỷ lệ lạm phát cũng tăngcao (12.5% vào năm 2005, 10% năm 2006, 15% năm 2007), nguyên nhân là dochính phủ nước này đã phải tung đồng Peso ra để mua vào một lượng lớn ngoại
tệ đang có trên thị trường nhằm ổn định mức giá 1 Đôla đổi được xấp xỉ 3 Peso.Trong những năm này, tỷ lệ thất nghiệp cũng đã giảm xuống mức thấp nhất,dưới 8.5% vào năm 2006 Mặc dù vậy, khoảng cách giàu nghèo ngày một tăngcao (10% số người giàu nhất có tổng mức thu nhập cao gấp 31 lần so với tổngmức thu nhập của 10% số người nghèo nhất), tuy nhiên nhìn chung thì nó vẫncòn thấp hơn so với các nước Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ Latinh khác
Cuộc khủng hoảng này để lại những bài học về việc tư nhân hóa ồ ạt các cơ sở,
xí nghiệp, công ty khi chưa có hệ thống luật mạnh và đầy đủ; tự do hóa hoàntoàn hệ thống ngân hàng; tình trạng tham nhũng, lãng phí; sự bất ổn về chính trị;vai trò của Ngân hàng Trung ương…
Trang 181.2.2 Khủng hoảng nợ Indonesia
Quay trở lại với cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 Tháng 7, khiThái Lan thả nổi đồng Baht, cơ quan hữu trách tiền tệ của Indonesia đã nới rộngbiên độ dao động của tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar Mỹ từ 8% lên 12%.Tháng 8, đồng Rupiah bị giới đầu cơ tấn công và đến ngày 14 thì chế độ tỷ giáhối đoái thả nổi có quản lý được thay thế bằng chế độ thả nổi hoàn toàn ĐồngRupiah liên tục mất giá, bảng cân đối tài sản của các công ty bị suy yếu, nợ ngânhàng nước ngoài của các công ty tăng lên Nhiều công ty đẩy mạnh mua USD,bán ra Rupiah cang khiến cho đồng tiền này thêm mất giá và đẩy lạm phát tăngvọt IMF đã thu xếp một gói viện trợ tài chính khẩn cấp cho Indonesia lên tới 23
tỷ Dollar, nhưng Rupiah tiếp tục mất giá do đồng Rupiah bị bán ra ồ ạt và lượngcầu Dollar Mỹ ở Indonesia tăng vọt Tháng 9, cả giá Rupiah lẫn chỉ số thị trườngchứng khoán đều giảm xuống mức thấp lịch sử Tổng số nợ nước ngoài vào cuốitháng 9 năm 2007 là 117 tỉ USD, trong đó số nợ của chính phủ là 52 tỉ USD.Trong khoảng thời gian này, rất nhiều thông tin bất lợi đã lan tràn khiến dânchúng hoang mang và tranh nhau rút tiền ra khỏi ngân hàng để mua USD, tạonên sự khan hiếm ngoại tệ và đẩy giá ngoại tệ leo thang phi mã Tại khắp cácthành phố lớn, mọi người tiếp tục đổ xô đi mua dự trữ các nhu yếu phẩm vì sợgiá cả sẽ gia tăng khi đồng rupiah trượt giá Hơn 30 năm xây dựng kinh tế củaIndonesia bỗng chốc sụp đổ Mức tăng trưởng kinh tế từ 8%/ năm đã tụt xuống
âm 15% và lợi tức bình quân của Indonesia đã từ 1000 USD đổ xuống dưới 300USD
Để tránh rơi vào tình trạng nợ công cao ngút và đà tăng trưởng kinh tế giảm, cóthể dẫn đến khủng hoảng kinh tế, các nước châu Á, trong đó có Indonesia phảikhuyến khích đầu tư, đẩy mạnh hoạt động sản xuất và thúc đẩy sự cạnh tranh.Chính phủ càng cố gắng giảm thiểu rủi ro chính sách, thì tốc độ phục hồi củanền kinh tế càng nhanh
Trang 19Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng ở Indonesia nói riêng và Khủng hoảng tiền
tệ Đông Á 1997 nói chung được xác định là nền tảng kinh tế vĩ mô yếu kém,dòng vốn nước ngoài ồ ạt kéo vào; những thay đổi bất lợi của kinh tế thế giới và
sự tấn công đầu cơ, rút vốn hàng loạt của các nhà đầu tư Cho đến năm 1997,châu Á thu hút gần một nửa tổn số vốn nước ngoài dành cho các nước đang pháttriển Kinh tế Đông Nam Á tăng trưởng nhanh trong thập niên 1980 và đầu thậpniên 1990 đã tạo sức ép tăng giá đồng nội tệ Để bảo vệ tỷ giá cố định, các Ngânhàng Trung ương Đông Nam Á đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng và hệquả là cung tiền tăng đã gây ra sức ép tăng lạm phát Trong khi đó, chính sáchtiền tệ nới lỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản cuốithập niên 1980 đã khiến cho tính thanh khoản toàn cầu trở nên cao quá mứckhiến các nhà đầu tư tìm cách thay đổi danh mục tài sản bằng cách chuyển vốnđầu tư ra nước ngoài Trong giai đoạn này, các nước châu Á thực hiện chínhsách tự do hóa tài khoản vốn, lãi suất cao hơn các nước phát triển Các dòng vốnquốc tế vì vậy đã ồ ạt chảy vào các nước châu Á Bên cạnh đó, việc xúc tiến đầu
tư và bảo hộ ngầm của Chính phủ cho các thể chế tài chính cũng là nguyên nhânkhiến cho các công ty ở châu Á mạo hiểm đi vay ngân hàng, các ngân hàng lạimạo hiểm đi vay nước ngoài (chủ yếu là nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểmrủi ro)
Kinh tế thế giới cũng có những thay đổi bất lợi Hàng xuất khẩu Trung Quốc rẻhơn so với hàng xuất khẩu Indonesia, trong đó phải kể đến nguyên nhân ĐồngNhân dân tệ được định giá thấp so với USD kể từ năm 1994 Một trong nhữngthị trường xuất khẩu lớn nhất của Indonesia là Nhật Bản bị trì trệ từ năm 1990.Đồng tiền của các nước Đông Nam Á nói chung được neo vào USD trong khiUSD tăng giá khiến xuất khẩu của các nước này, trong đó có Indonesia trở nênkém cạnh tranh hơn., làm suy yếu tài khoản vãng lai
Nguyên nhân trực tiếp của cuộc khủng hoảng tiền tệ Đông Á 1997 là sự tấncông đầu cơ và việc rút vốn hàng loạt khi các nhà đầu tư mất niềm tin vào thị
Trang 20trường này Cùng với đó, năng lực xử lý khủng hoảng yếu kém của các quốc giatrong khu vực khiến cho cuộc khủng hoảng trở nên trầm trọng hơn Theo nhiềunhà kinh tế, khi mới bị tấn công tiền tệ, lẽ ra các nước, trong đó phải kể đếnIndonesia phải lập tức thả nổi đồng tiền của mình thay vì cố sức bảo vệ tỷ giá,dẫn đến cạn kiệt dự trữ ngoại hối Nhà nước và càng làm kéo dai thêm cuộc tấncông đầu cơ.
1.2.3 Khủng hoảng nợ châu Âu
Cho đến nay, khi mà cuộc khủng hoảng nợ châu Âu đã tạm thời lắng xuống,nhưng những gì mà nó để lại không khỏi khiến chúng ta bàng hoàng và đặtnhiều nghi vấn Nhiều quốc gia châu Âu được toàn thế giới biết đến như là “thiên đường hưởng thụ” với chế độ phúc lợi xã hội đáng mơ ước đối với bất kỳcông dân nào Sau chiến tranh thế giới thứ 2, hệ thống phúc lợi xã hội châu Âuđược xây dựng trên lý luận “ chia sẻ phồn vinh” nhằm ngăn chặn những xungđột xã hội trong tương lai Ngay cả những công dân yếu thế nhất cũng có cơ hộihưởng thụ mức sống trung bình, nên không quá bức xúc với tầng lớp giàu có.Người châu Âu đã quá quen với phúc lợi xã hội hậu hĩnh mà cả những nền kinh
tế có năng suất lao động hàng đầu thế giới như Hoa Kỳ hay Nhật Bản cũng phải
mơ ước: Nghỉ phép 6-8 tuần/ năm, trợ cấp thất nghiệp cao, thưởng hàng ngànEuro khi sinh con, miễn phí giáo dục phổ thông…
Và hậu quả không khó để nhận thấy cho “Đỉnh cao của sự hưởng thụ”’ là Liênminh châu Âu trở thành khu vực đứng đầu trong vấn đề nợ công, nếu tính theo
số nợ tuyệt đối và tỉ lệ nợ trên GDP, cụ thể: chiếm 17/20 quốc gia có số nợnhiều nhất trên thế giới với tổng số tiền là hơn 35 nghìn tỷ USD
Các món nợ của Chính phủ các nước châu Âu, đặc biệt là các nước Nam Âu làrất lớn và chồng chéo nhau.Thời gian qua, các nước được nhắc đến nhiều nhấttrong vấn đề nợ công và thâm hụt ngân sách ở khu vực này bao gồm: Hy Lạp,
Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ireland, Italia
Trang 21Vay mượn quá nhiều và chi tiêu quá tay trong thập kỷ qua khiến kinh tế Hy Lạprơi vào khó khăn Thâm hụt ngân sách năm 2009 là 13,6% GDP, cao gấp 4 lần
so với quy định cho phép của EU Tổng số nợ công của Hy Lạp là trên 300 tỷEuro, chiếm 115,1% GDP; trong đó nợ Pháp 75 tỉ, Đức 45 tỉ và Anh 15 tỉ
Tây Ban Nha vốn là nền kinh tế mạnh thứ 9 trên thế giới, có nguồn tài chính dồidào trong Liên minh EU Nhưng theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, tỷ lệ
nợ công của Tây Ban Nha năm 2009 là khoảng 55,2% GDP Tổ chức định mứctín nhiệm Standard& Poor’s đánh giá tình hình tài chính của Tây Ban Nha đangngày càng xấu đi khi thâm hụt tài chính nước này đã tăng hơn 11% GDP trongnăm 2009, thêm vào nợ tư nhân và tổng số nợ tăng lên đến 232% GDP- cao hơncủa Hy Lạp Cho đến nửa đầu năm 2010, nước này nợ tổng cộng 1.100 tỉ đô la
Mỹ, tức hơn bốn lần món nợ của Hy Lạp, bao gồm 238 tỉ với Đức, 220 tỉ vớiPháp và 114 tỉ với Anh Nước này đang có tỷ lệ thất nghiệp là 20% và có nềnkinh tế gần như yếu nhất châu lục
Bồ Đào Nha cũng trở thành nạn nhân mới của khủng hoảng nợ công Nợ côngchồng chất, tăng trưởng kinh tế của nước này ở mức 0,6% trong năm 2010 và dự
báo 1,1% trong năm 2011 Trong khi đó, nợ công hiện ở mức 76,6% GDP và
tăng lên khoảng 87% trong năm 2010 Bồ Đào Nha nợ tổng cộng 286 tỉ đô la
Trang 22Mỹ, trong đó một phần ba là nợ Tây Ban Nha (86 tỉ), rồi đến nợ Đức 47 tỉ, Pháp
45 tỉ và Anh 24 tỉ; nhưng Tây Ban Nha cũng nợ chéo 28 tỉ Hy Lạp cũng nợ BồĐào Nha gần 10 tỉ
Italia cũng không nằm ngoài vòng xoáy của nợ công với món nợ lên tới 1.400 tỉ
đô la Mỹ Theo báo cáo của Viện thống kê Italia (ISTAT), thâm hụt ngân sáchcủa nước này chiếm 5,3% GDP năm 2009, xấp xỉ 5,6% năm 2010 Các khoản
nợ công chiếm khoảng 115,8% GDP năm 2009 và 118,4% trong năm 2010
Theo thống kê chính thức của EU, nước có mức thâm hụt ngân sách cao nhấttrong Liên minh là Ireland Với tổng nợ 867 tỉ đô la Mỹ, quốc gia này có mứcthâm hụt kỉ lục là 14,3% GDP Tỷ lệ nợ công của Ireland đã tăng từ 25% GDPtrong giai đoạn trước khủng hoảng, lên mức 65% trong năm 2010 và dự kiếnvẫn đang trong đà tăng hơn nữa
Cuộc khủng hoảng nợ bắt nguồn từ Hy Lạp này đã ảnh hưởng rất lớn đến sứcmạnh của đồng tiền chung châu Âu Vào giữa tháng 5-2010, giá của một euro sovới một USD đã chạm mức thấp nhất trong bốn năm qua Điều này, một mặtlàm cho các sản phẩm của châu Âu có sức cạnh tranh hơn trên thị trường thếgiới, xuất khẩu hàng hóa tăng sẽ tạo điều kiện cho kinh tế các quốc gia của khốităng
trưởng sau thời gian suy thoái, góp phần khôi phục nền kinh tế toàn cầu Tuynhiên, cuộc khủng hoảng có thể lan rộng và khiến cho châu Âu tiếp tục chìmtrong cơn suy thoái kinh tế Ngoài ra, nó cũng làm sáng tỏ những mắt xích yếutrong cấu trúc Liên minh châu Âu Sự thiếu trách nhiệm tài chính của một sốthành viên là nguyên nhân đầu tiên khiến EU bị nhấn chìm trong biển nợ
Chưa bao giờ ý thức nợ nần lại dâng cao như hiện nay tại các Chính phủ Châu
Âu Chính phủ các nước đang nhất loạt thẳng tay cắt giảm phúc lợi Thủ tướngAnh David Cameron đã tuyên bố áp dụng mọi biện pháp cần thiết để đến hết
Trang 232011, tiết kiệm 6 tỷ bảng cho công quỹ Thủ tướng Đức A.Merkel cũng quyếtđịnh giảm chi phí giáo dục, nghiên cứu, chăm sóc thiếu nhi, hưu bổng và trợ cấpthất nghiệp Tây Ban Nha ngừng tăng tiền hưu trí, cắt 375 triệu USD hỗ trợngười khuyết tật và bỏ trợ cấp trên 3000 USD cho gia đình sinh con Nhữngđiều này vấp phải sự phản đối dữ dội của người dân, tuy nhiên các Chính phủkhông còn sự lựa chọn nào khác, khi nợ công đã mấp mé bờ vực có thể gây phásản.
Trang 24CHƯƠNG 2: KHỦNG HOẢNG NỢ HY LẠP 2.1 Một số nét khái quát về Hy Lạp
Hy Lạp là một quốc gia nhỏ ở Nam Âu là thành viên của khu vực đồng tiềnchung (eurozone hay EU-16) Dân số Hy Lạp khoảng 11 triệu người chiếm 2,2%
EU, đóng góp 2,8% GDP của EU Hy Lạp có thu nhập bình quân đầu ngườikhoảng 17.440 đô la Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp trung bình là 10,2% (trong khi tỷ lệnày của EU là 10%) nhưng lại duy trì được tốc độ tăng trưởng cao so với cácnước trong EU-16
Nguồn: Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS), Ngân hàng Trung ương Hy Lạp.
Trong những năm qua, tình trạng thâm hụt ngân sách của Hy Lạp ngày càng giatăng Năm 2009, mức thâm hụt ngân sách là 12,7% GDP, vượt ngưỡng an toàn
là 5% GDP và vượt mức cho phép của khu vực đồng tiền chung là 3%/GDP Để
bù đắp thâm hụt ngân sách, Chính phủ Hy Lạp đã vay nợ dưới nhiều hình thức
Tình hình nợ công của Hy Lạp nói riêng và khu vực đồng euro nói chung từ năm1999-2009 liên tục gia tăng Hiện nay, tổng số nợ công trong khu vực euro vàokhoảng 7.062 tỉ euro, trong đó khoản nợ của Hy Lạp là 273 tỉ euro, chiếmkhoảng 4% tổng nợ của khu vực đồng tiền chung Tỷ lệ nợ công trên GDP của
Hy Lạp là 108,1%
Trang 25Với mức vay nợ như trên, Hy Lạp đang phải đối mặt với khoản nợ đến hạn phảithanh toán 8,5 tỉ euro (tương đương 11,3 tỉ đô la Mỹ) trái phiếu chính phủ vàongày 19-5-2010 Hầu hết các khoản nợ của Hy Lạp là ngắn hạn, trong đó, số nợphải trả trong năm 2010 là 16% tổng nợ.
Khủng hoảng Hy Lạp làm đồng euro liên tục giảm giá, đang tác động mạnh mẽđến thị trường chứng khoán châu Âu và thị trường tài chính toàn cầu Những bất
ổn của Hy Lạp đang đe dọa các nền kinh tế khác; trước hết là các tổ chức đang
sở hữu tài sản Hy Lạp và kế tiếp là các quốc gia có mức thâm hụt ngân sách lớn,
tỷ lệ nợ công cao như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ireland và có nguy cơ khởitạo một cuộc khủng hoảng nợ toàn cầu
2.2 Khủng hoảng nợ Hy Lạp 2010
Gia nhập khu vực đồng tiền chung châu Âu năm 2002, Hy Lạp có nhiều điềukiện hơn để thu hút vốn từ bền ngoài Thuận lợi này khiến các quyết định chitiêu của Chính phủ Hy lạp trở nên dễ dãi hơn bao giờ hết Điển hình, OlympicAthens 2004 được coi là đỉnh điểm của sự xa hoa khi kinh phí thực hiện vượt xa
dự kiến
Sau nhiều năm đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng nhờ sự phát triển củakhu vực dịch vụ, Hy Lạp phải đối mặt với nguy cơ phá sản do những chính sáchchi tiêu bừa bãi trong gần thập kỉ qua Thâm hụt ngân sách của nước này đã lêntới 13,6% trong năm 2009 và tỉ lệ nợ/GDP hiện nay xấp xỉ 120% Nguy cơ mấtkhả năng thanh toán có thể đồng thời kéo theo sự sụp đổ dây chuyền của các tổchức tài chính liên quan đang là những lo ngại chính khiến cho thị trường tàichính thế giới bất ổn trong suốt cuối năm 2009 và năm 2010
2.2.1 Diễn biến
Cuộc khủng hoảng nợ bắt đầu vào tháng 12/2009 khi thủ tướng mới của đảng xãhội Hi Lạp, ông George A Papandreou, thông báo rằng người tiền nhiệm củaông đã che dấu tình trạng thâm hụt ngân sách khổng lồ mà nước này đang mắc
Trang 26phải Thâm hụt ngân sách chính phủ của nước này là 12,7% GDP, chứ khôngphải 3,7% như chính phủ tiền nhiệm dự báo trước đó Các nhà đầu tư bị sốcmạnh Vào đầu năm 2010, nỗi lo sợ về khả năng mất thanh toán của Hy Lạp đãchuyển thành sự hoảng loạn tài chính khi các nhà đầu tư nghi ngờ khả năng củachính phủ Hy Lạp trong việc thực hiện các biện pháp cứng rắn như cam kếtnhằm cắt giảm thâm hụt ngân sách Khi sự sợ hãi này lan sang cả với Bồ ĐàoNha và Tây Ban Nha, các nhà lãnh đạo của các nước có ảnh hưởng lớn ở châu
Âu như Đức và Pháp bắt đầu lo ngại về sự nguy hại kéo dài của nó đối với đồngeuro Tuy nhiên,họ mới chỉ cam kết bảo vệ đồng tiền chung của khu vực nhưngban đầu lại từ chối cung cấp một gói cứu trợ khẩn cấp đối với đất nước Hy Lạp
Nỗi lo sợ về khả năng phá sản và quỵt nợ của Hi Lạp đã đẩy thị trường tài chínhthế giới vào tình trạng bất ổn trong một thời gian Sự sụp đổ của Hi Lạp có thểkéo theo sự sụp đổ dây chuyền của hàng loạt các tổ chức tài chính ở các quốcgia liên quan như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ai-xơ-len, Anh, Đức, Pháp,… domối quan hệ tài chính phức tạp chằng chịt giữa họ Nhiều nhà kinh tế cho rằng,gói cứu trợ kinh tế này, thực chất là giải cứu cho cả khu vực châu Âu chứ khôngchỉ đơn thuần là giải cứu Hy Lạp khỏi cuộc khủng hoảng trầm trọng lần này
Sau nhiều tháng tranh cãi, vào cuối tháng 3 các nước sử dụng chung đồng euro
đã đồng ý về một giải pháp an toàn cho Hy Lạp Theo đó Hy Lạp sẽ nhận đượccác khoản vay từ các quốc gia châu Âu và IMF Tuy nhiên những cam kết thiếu
cụ thể này chưa đủ sức thuyết phục để làm giảm sức ép lãi suất trên thị trườngtrái phiếu đối với chính phủ Hy Lạp Lãi suất trái phiếu chính phủ Hy Lạp tiếptục tăng mạnh do lo ngại của giới đầu tư về khả năng mất khả năng thanh toáncủa chính phủ nước này Vào ngày 11/4 các nhà lãnh đạo châu Âu thông báohứa sẽ cho chính phủ Hy Lạp vay 30 tỉ $, cùng với khoản vay 15 tỉ $ từ IMF, vớimức lãi suất 5% - thấp hơn so với mức lãi suất 7,5% mà Hy Lạp đang phải trả,tuy nhiên nó cũng đủ lớn để các quan chức của Đức cho rằng đó không phải làmột sự trợ cấp hay giải cứu đối với quốc gia đang ngập chìm trong nợ công này
Trang 27Cũng trong tháng 4/2010, ông Papandreou đã chính thức thỉnh cầu gói cứu trợtrị giá 60 tỉ $ nhằm cứu con tàu kinh tế đang chìm dần Giới đầu tư quốc tế tiếptục hạ thấp mức tín nhiệm của trái phiếu chính phủ Hy Lạp, điều này khiến QuỹTiền tệ Quốc tế (IMF) và các đối tác của Hy Lạp ở châu Âu buộc phải đứng racam kết một gói cứu trợ lớn hơn Theo kế hoạch này, công bố ngày 2/5 và đượcthông qua bởi quốc hội Hy Lạp ngày 6/5, Hy Lạp sẽ nhận được khoản vay trị giá
110 tỉ euro hay tương đương 140 tỉ $ trong vòng 3 năm tới nhằm tránh mất khảnăng thanh toán Đổi lại, chính phủ Hy Lạp phải đáp ứng những cam kết cắtgiảm nợ trong vòng 3 năm tới Chính phủ Hy Lạp đã đồng ý thực hiện các biệnpháp thắt lưng buộc bụng và nhiều khả năng thâm hụt ngân sách sẽ giảm nhưngđồng thời cũng có thể gây ra một chu kì khủng hoảng kinh tế mới cho nước này
Tuy nhiên, thị trường tiếp tục hoài nghi với các khoản vay được cam kết này,các nhà đầu tư tiếp tục đẩy lãi suất đối với trái phiếu chỉnh phủ Hy Lạp lên caohơn cả trái phiếu chính phủ của các nước đang phát triển như Ấn Độ vàPhilippines Điều đó khiến Hy Lạp lâm vào tình thế khó khăn hơn trên thịtrường tài chính và buộc chính phủ phải nỗ lực kêu gọi giải ngân ngay các khoảnvay này nhằm tránh gây thêm sự nghi ngờ, hoang mang cũng như sự bất ổntrong tâm lý và chiến lược của các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước
Ngày 18 tháng 5 năm 2010, Hy Lạp đã nhận được khoản vay đầu tiên trong góicứu trợ kéo dài 3 năm của 10 nước châu Âu, trong đó có Đức, và IFM nhằmtránh khả năng phá sản Gói cứu trợ kéo dài 3 năm này được đưa ra nhằm giúp
Hi Lạp không cần dựa vào thị trường tài chính cho tới cuối năm 2011 và quýđầu của năm 2012 Tuy nhiên Bộ trưởng tài chính Hy Lạp Papaconstantinou chorằng nước này có thể không cần phải đợi đến thời gian đó nếu kinh tế Hy Lạphồi phục và niềm tin của các nhà đầu tư trên thị trường tài chính đối với tráiphiếu chính phủ Hy Lạp quay trở lại Khoản giải ngân ngày 18/5 đã giúp Hy Lạptrả món nợ trị giá 8,5 tỉ euro đáo hạn vào ngày hôm sau Khoản nợ tiếp theo mà
Trang 28chính phủ Hy Lạp cần phải chi trả trị giá 8,6 tỉ euro sẽ đáo hạn vào tháng3/2011.
Mặc dù chỉ chiếm 2% GDP của EU, nhưng khủng hỏang nợ của Hy Lạp đã tácđộng mạnh tới sự ổn định của đồng Euro, tạo nên phản ứng dây chuyền đối vớicác nền kinh tế trong khu vực Những quốc gia nắm giữ số lượng lớn trái phiếucủa Hy Lạp như Pháp, Đức, Thụy Sỹ đứng trước nguy cơ mất trắng số trái phiếunày nếu Hy Lạp vỡ nợ, điều này tác động đến ngân sách của các nước chủ nợ
Do Hy Lạp dùng đồng Euro, bê bối về tài chính của họ làm suy yếu đồng tiềnnày và có thể sẽ làm tỷ giá trên tòan châu Âu tăng cao Những rắc rối về nợcông ở Hy Lạp đã châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử 11năm của khu vực sử dụng đồng tiền chung Euro
Với số nợ 404 tỉ USD (113% GDP) của Hy Lạp nếu không được giải quyết sớm
sẽ gây ảnh hưởng đến cả châu Âu, nền kinh tế Mỹ và nhiều quốc gia khác, cónguy cơ đẩy hàng vạn người lao động đến tình cảnh thất nghiệp Nếu khôngđược kiểm soát tốt, khủng hoảng sẽ đe dọa đến sự ổn định của 16 nước đangdùng đồng tiền chung Euro và rất có thể lan sang Đại Tây Dương đến nước Mỹ
Trong bối cảnh khủng hoảng nợ này, đồng đô la Mỹ đang mạnh hơn đồng Euro.Theo quy luật thị trường, đồng tiền mạnh hơn sẽ làm cho hàng hóa Mỹ xuất đichâu Âu có giá đắt hơn Thêm vào đó, giá trị của đồng Euro ở châu Âu đanggiảm mạnh, tỉ giá giữa Euro và USD càng ngày càng chênh lệch lớn Hai yếu tốnày sẽ khiến các công ty châu Âu không thể mua nhiều sản phẩm đến từ nướcMỹ
Sau khi quyết định tài trợ 110 tỷ € cho Hy Lạp trong vòng 3 năm, lãnh đạo khốiđồng Euro cho rằng mọi việc sẽ từng bước ổn định Thế nhưng, thị trường tàichính không như mong muốn, thậm chí, có người còn cho rằng ngoài Hy Lạp,
Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, thì có thể cả Ý và Pháp cũng gặp khó khăn Theo
Trang 29tính toán của ngân hàng Natixis thì từ nay đến 2012, Bồ Đào Nha sẽ cần 65 tỷ €,Tây Ban Nha 410 tỷ.
2.2.2 Nguyên nhân
Nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng Hy Lạp, được đề cập trước hết là tácđộng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Cuộc khủng hoảngbắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp tại Hòa Kỳ này đã tácđộng đến tất cả các lĩnh vực tài chính, kinh tế, thương mại, đời sống, xã hội trênphạm vi toàn cầu Để cứu vãn nền kinh tế khỏi cơn suy thoái, chính phủ cácnước đã thực hiện các gói hỗ trợ khổng lồ nhằm kích thích kinh tế phát triển,làm gia tăng chi ngân sách và nợ công một cách đáng kể Tuy nhiên, đây là thựctrạng chung ở hầu hết các nước trên thế giới, không chỉ riêng Hy Lạp Như vậy,bản thân quốc gia Nam Âu này đã tồn tại những yếu tố nội sinh, đó mới lànhững nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc khủng hoảng nợ công trong năm
2010 Những yếu tố được nhắc đến nhiều nhất là tình trạng tham nhũng tràn lan
và có hệ thống, năng lực quản lý vĩ mô yếu kém, nhất là trong việc vay nợ nướcngoài và chi tiêu công, thêm vào đó là sự giám sát thiếu chặt chẽ nghiêm ngặtcủa Liên minh châu Âu trong quá trình xét duyệt và chấp nhận cho Hy Lạp trởthành thành viên của Liên minh
2.2.2.1 Tham nhũng có hệ thống
Tham nhũng là một vấn đề nan giải ở rất nhiều quốc gia, dù là một nước pháttriển hay đang phát triển Tại Hy Lạp, nhiều năm qua, các quan chức, chính trịgia liên tục phải từ chức vì liên quan đến tham nhũng, nhận hối lộ Nhưng, chođến nay, rất ít người bị xét xử và kết án vì tội danh tham nhũng Chính điều này
đã khiến người ta nghĩ đến một điều luật “bất thành văn”, đó là việc, các quanchức tham nhũng, nhận hối lộ rất mạnh tay, nhưng đến khi bị cơ quan điều traphát hiện thì lại rất nhanh chóng tuyên bố từ chức, và theo Luật của Hy Lạp, nếucác quan chức chủ động hành động như thế thì sẽ không còn bị đưa ra xét xử nữa
Trang 30Trong các bảng xếp hạng của Chỉ số minh bạch về tham nhũng, cả ở EU hay chỉtrong nhóm sử dụng đồng tiền chung châu Âu thì Hy Lạp luôn xếp ở một trongnhững nước có chỉ số minh bạch thấp nhất Theo cách tính toán của IT, chỉ sốminh bạch của Hy Lạp năm 2010 là 3.5/10, năm 2009 là 8.8/10, trong đó sốđiểm càng nhỏ thì mức độ minh bạch càng kém (Xem phụ lục 1).
Theo tính toán, hàng năm, nạn tham nhũng ở Hy Lạp đã lấy đi khoảng 10%GDP của nước này Còn người dân Hy Lạp, vì tham nhũng lan tràn trong giớicông chức, quan chức nên họ cũng được coi như là những người “hối lộ chuyênnghiệp” Người dân Hy Lạp đã phải hối lộ để thi lấy bằng lái xe, để được cấpgiấy phép xây nhà, để khám chữa bệnh, để giành được những hợp đồng trongkinh doanh, đặc biệt khi đối tác là các cơ quan Nhà nước… Những điều nàyluôn là thực tế trong xã hội Hy Lạp Bản thân Thủ tướng George Papandreou,khi nhậm chức đã phải thừa nhận: “Tham nhũng ở Hy Lạp là có hệ thống” vàcam kết sẽ kiên quyết loại trừ tệ nạn này Thế nhưng, sẽ rất khó để tiêu diệt thamnhũng, vì một khi đã trở thành hệ thống cũng có nghĩa là nó đã được bảo vệ, kể
cả trong những quy định của luật pháp Đơn cử, người nhận hối lộ, khi bị tố cáo
sẽ không phải ra trước tòa đối chứng, trong khi đó, người tố cáo sẽ phải đối chấttrước tòa về các bằng chứng cáo buộc Điều này hiển nhiên sẽ khiến nhữngngười có ý định tố cáo các hành vi tham nhũng, hối lộ của quan chức nản chí
Do tham nhũng, nhận hối lộ diễn ra tràn lan ở mọi lĩnh vực trong đời sống xãhội nên việc hối lộ cũng được coi là bình thường khi người dân quan niệm, đihối lộ để đôi bên cùng có lợi Chỉ tính riêng trong năm 2009, tổng số tiền màngười dân Hy Lạp dùng để hối lộ lên đến 800 triệu euro, trong đó phần lớn tậptrung ở lĩnh vực y tế và xây dựng cơ bản Trong một nghiên cứu của Tổ chứcMinh bạch quốc tế, trung bình mỗi gia đình ở Hy Lạp tiêu đến 1450 Euro mộtnăm cho việc hối lộ Tất nhiên, người dân thực hiện hành vi hối lộ để đạt đượcnhững mục đích của riêng họ Còn giới kinh doanh, bên cạnh việc hối lộ để cóđược những hợp đồng có lợi cũng tiến hành đút lót để trốn thuế, gia tăng thu
Trang 31nhập cho cá nhân và Công ty Theo giới nghiên cứu, tỷ lệ thất thoát thuế ở HyLạp thuộc hàng lớn nhất châu Âu và cũng là con số khá cao trên thế giới khihàng năm, số tiền thuế thất thoát lên tới 25% Chính Bộ Tài chính Hy Lạp cũngkhẳng định, ở một nước phát triển như Hy Lạp, với dân số hơn 11 triệu ngườinhưng lại chỉ có khoảng 15 nghìn người kê khai có mức thu nhập trên 100.000euro, như vậy là không đáng tin cậy, số liệu thống kê hoàn toàn có vấn đề.
Để vực dậy nền kinh tế đang bên bờ vực của cuộc khủng hoảng nợ, bên cạnhviệc nhận hỗ trợ 110 tỷ euro, Chính phủ Hy Lạp cũng đưa ra những cam kếtnhằm cắt giảm chi tiêu công, tăng nguồn thu cho Nhà nước thông qua biện pháptăng nhiều loại thuế Chưa hết, Chính phủ của Thủ tướng George Papandreoucòn đề nghị người dân giúp đỡ đất nước, đơn giản bằng cách giữ lại mọi hóa đơnmua hàng, để các cơ quan chức năng có thể đối chiếu, nếu cần thiết và truy thuthuế từ các cơ sở kinh doanh nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách, từng bướcđưa đất nước thoát khỏi khó khăn
2.2.2.2 Bệnh thành tích khi gia nhập EU
Năm 1996, để chuẩn bị cho việc ra mắt đồng euro, Hội đồng châu Âu đã họp tạiDublin để thảo luận các vấn đề cần thiết Và Liên minh châu Âu (EU) ký mộthiệp ước quy định các thành viên trong nhóm giới hạn thâm hụt ngân sách hàngnăm không vượt quá 3% GDP và tổng nợ chính phủ không vượt quá 60% GDPquốc gia
Mười một sáng lập viên lúc bấy giờ vẫn ấn định giờ G là ngày 1/1/1999 ra mắtđồng euro Nhưng không có quốc gia nào trong khối lúc bấy giờ đáp ứng đượctiêu chí trên Ví dụ lúc đó Bỉ có tổng nợ quốc gia lên đến 131% GDP Riêng HyLạp, bệnh thành tích thể hiện rõ rệt hơn cả ngay từ khi bắt đầu gia nhập, vớinhững nỗ lực làm đẹp sổ sách để chạy đua vào Liên minh mà chưa lường đượchết hậu quả của sự vội vàng này:
* Gia nhập vội vã
Trang 32Tham vọng tạo ra một khối kinh tế chung có sức ảnh hưởng đã khiến cho cácthành viên sáng lập lúc bấy giờ muốn có càng nhiều thành viên càng tốt Điều đókhiến các tham vọng chính trị va vấp với những thực trạng về nền kinh tế cácquốc gia.
Bất chấp tất cả, các quốc gia châu Âu làm đẹp sổ sách bằng mọi giá để kịp tiến
độ gia nhập Lúc đó, con số thâm hụt 4% của Hy Lạp khiến một số người nghingờ
Đáng ngạc nhiên hơn khi Hy Lạp giảm được mức thâm hụt xuống còn 2,5% vàonăm 1998 và dự báo lúc bấy giờ nói thâm hụt chỉ còn 1,9% vào năm 1999 Cảchâu Âu đã hoan hô thành tích này, tung hô Hy Lạp như một câu chuyện thần kỳkhiến một số nước phải ngưỡng mộ Tây Ban Nha, Pháp, Bồ Đào Nha cũng cốgắng đạt thành tích thâm hụt chỉ 3%
* Những số liệu không chính xác
Tháng 3.2000, dưới một tiêu chuẩn kế toán mới, cho thấy thâm hụt thực sự của
Hy Lạp vào năm 1998 là 3,2% Đến năm 2004 một báo cáo khác lại chỉ ra con
số thâm hụt của Hy Lạp vào năm 1998 là 4,3%, bởi Hy Lạp đã nhập nhằng tiềnchi tiêu mua sắm công với viện trợ chính phủ đến 2 tỉ euro
Không chỉ thế, Hy Lạp còn cố ý không tính đến một số chi tiêu quân sự cũngnhư y tế trong tổng chi chính phủ Ngược lại, quốc gia này còn xem một số việntrợ từ châu Âu là khoản thu vào của chính phủ
Với cách này, Hy Lạp đã bưng bít thâm hụt ngân sách năm 2003 một cách khótin Vào tháng 3/2004, Hy Lạp công bố thâm hụt ngân sách 2,6 tỉ euro tươngđương 1,7%, tức thấp hơn nhiều so với mức trung bình của EU là 2,7% Điều đókhiến nhiều người nghi ngờ và EU gây áp lực khiến Hy Lạp công bố lại
Dưới áp lực từ châu Âu, Hy Lạp công bố là 3,2% bởi trước đó đã tính các trợcấp thuế ước tính của châu Âu vào nguồn thu chính phủ Bốn tháng sau đó, Hy
Trang 33Lạp thừa nhận đã bỏ qua một số khoản chi tiêu quân sự, tính cao lên giá trị thặng
dư an sinh xã hội cùng lãi suất thấp đi, nên con số thực phải là 4,6% Đến tháng3.2005, Hy Lạp thông báo thâm hụt của năm 2003 là 5,2% Và trong lần báo cáocuối cùng vào cuối năm đó, con số tăng lên mức 5,7% Sau 18 tháng, số liệuthâm hụt năm 2003 đã tăng từ 2,6 tỉ lên 8,8 tỉ euro
Theo ông Jean-Pierre Jouyet, chủ tịch uỷ ban Giám sát thị trường chứng khoánPháp và là cựu cố vấn trưởng của chủ tịch Uỷ ban châu Âu, vấn đề hiện tại của
Hy Lạp cũng cho thấy thể chế tài chính của EU không đủ năng lực và chuyênmôn để kiềm chế những thành viên không tuân thủ hiệp ước của khối
David Marsch, tác giả cuốn “Đồng euro” là cuốn sách nói đến quá trình khaisinh ra đồng tiền này lý giải liên minh tiền tệ đã được xem là công cụ cho liênminh chính trị, nên các sáng lập viên chẳng hề quan tâm nhiều đến chuyện trừngphạt thành viên vi phạm quy chế chung
Năm 1996, khi thảo luận xem liệu có cần thiết có những công cụ trừng phạtnhững thành viên vi phạm hay không, Tổng thống Pháp Jacques Chirac và Thủtướng Đức Helmut Kohl cho rằng nên dựa vào ý thức, và cuối cùng EU ủng hộchủ trương này EU cho rằng các quốc gia sẽ phải tự điều tiết lấy
Willem Buiter, kinh tế gia trưởng của Citigroup và là thành viên của uỷ banChính sách tiền tệ của ngân hàng Anh quốc, mô tả hiệp ước 1996 như nhữngcon hổ giấy Còn ông Jean-Pierre Jouyet nói: “Một hiệp ước mà không có biệnpháp trừng phạt thì là vô nghĩa”
Không chỉ Hy Lạp, vào năm 2002 đến 2004, Pháp và Đức vượt chuẩn thâm hụtthì các quốc gia EU khác cũng không thật sự lo ngại Ông Jean-Luc Dehaene,cựu Thủ tướng Bỉ, không ngại chỉ trích: “Họ có xu hướng đưa ra quyết địnhchính trị” Nay, đến khi Hy Lạp khủng hoảng nặng nề và lo sợ đồng euro bị loại
bỏ thì EU mới vào cuộc
Trang 342.2.2.3 Năng lực quản lý vĩ mô
* Vay nợ nước ngoài và chi tiêu công không hiệu quả
Tham nhũng, trốn thuế là những tệ nạn khiến Hy Lạp ngày càng nghèo hơn sovới các nước trong EU, khiến nước này lâm vào cảnh nợ nần quốc tế chồng chất.Thế nhưng, việc Hy Lạp lâm vào khủng hoảng nợ còn có sự góp phần khôngnhỏ của việc chi tiêu công quỹ mạnh tay, không có kế hoạch trả nợ hợp lý khi
mà quỹ công ấy có một phần không nhỏ là nợ nước ngoài Nhìn bảng số liệu chothấy, tỷ lệ nợ nước ngoài chiếm đến hơn ¾ tổng nợ của quốc gia này, cao nhấttrong số các quốc gia được báo cáo
Gia nhập khu vực đồng tiền chung Euro năm 2001 là cơ hội lớn để Hy Lạp cóthể tiếp cận với thị trường vốn quốc tế Dễ dàng hút vốn đầu tư nước ngoài,chính phủ Hy Lạp đã liên tục bán trái phiếu thu về hàng trăm tỷ euro Số tiềnnày lẽ ra có thể giúp kinh tế Hy Lạp tiến xa nếu Chính phủ có kế hoạch chi tiêu
và trả nợ hợp lý Nhưng Chính phủ chỉ biết chi tiêu, mà phần lớn cho cơ sở hạtầng mà hầu như không quan tâm đến các kế hoạch trả nợ Điển hình là công tác
tổ chức Thế vận hội Olympic Athens 2004, một thế vận hội hoành trang nhất vàtốn kém nhất trong lịch sử (chi đến 12 tỷ Euro, cao hơn tới 10 tỷ so với dự kiến)
Trang 35Chỉ riêng ngân sách quốc gia năm 2004 đã thâm hụt tới 6,1% so với GDP trongkhi giới hạn mà EU cho phép là 3%.
Bộ máy công quyền không ngừng lớn mạnh về số lượng, nhưng chất lượng, hiệuquả công việc lại giảm đi rất nhiều Theo Bộ Tài chính Hy Lạp, trong năm 2009,
Bộ này đã tuyển dụng tổng cộng khoảng 27.000 công chức mới, trong khi sốlượng thực sự cần thiết chỉ chiếm 2/3 Rõ ràng, ngân sách quốc gia Hy Lạpđang phải gánh chịu một lượng công chức khổng lồ mà không có cách nào giảmtải được bởi trong Hiến pháp nước này có điều khoản cấm việc sa thải côngchức
Đến năm 2009, lượng công chức ở Hy Lạp chiếm tới 1/4 số người làm công ănlương ở nước này Số lượng nhiều, nhưng những người được gọi là công chứcNhà nước, dù làm ít hay nhiều, vẫn được hưởng mức lương khá cao so với mứclương bình quân ở những khu vực khác Chỉ tính tiền lương thu nhập chính(chưa tính tiền thưởng, tiền hỗ trợ), sau khi trừ đi các khoản, bình quân 1 côngchức lĩnh được 1.350 euro/tháng Trong khi đó, bình quân mỗi tháng, người làmcông ăn lương ở khu vực kinh doanh ngoài Nhà nước chỉ được lĩnh khoảng 750euro
Lương bình quân đã cao, việc thì không nhiều, thế nhưng, hầu hết công chức ở
Hy Lạp đều được thưởng thêm vào dịp cuối năm Ở các doanh nghiệp ngoàiquốc doanh, tùy thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của từng năm, ngườilàm công ăn lương sẽ được thưởng thêm khoảng 1 tháng lương (còn gọi là
“tháng lương thứ 13”) Thế nhưng, ở Hy Lạp, đã thành lệ, hàng năm các côngchức thường được nhận tối thiểu là 14 tháng lương Cá biệt, có năm, công chứccòn được lĩnh tới 16 tháng lương Như vậy, lương bình quân đã cao, thưởngcũng nhiều, trong khi việc làm thì ít, lại không có nguy cơ bị sa thải nên trởthành công chức luôn là mơ ước của rất nhiều người trong độ tuổi lao động
Trang 36Tất nhiên, hậu quả là ngân sách Hy Lạp năm nào cũng bị bội chi Thâm hụt ngânsách liên tục tăng cao Và, đến năm 2009, nó đạt đến mức 12,7% (theo quy địnhcủa EU, mức thâm hụt ngân sách ở các nước thành viên không được quá 3%).Với mức thâm hụt lớn như vậy, chẳng có gì ngạc nhiên khi tổng số nợ quốc giacủa Hy Lạp lên tới con số 300 tỷ euro vào năm 2009 Số nợ này được coi là quálớn, vì nó tương đương với 113,4% GDP một năm của Hy Lạp Con số nàykhông chỉ làm Chính phủ Hy Lạp lo ngại mà ngay cả EU cũng phải vội vã tìmcách trợ giúp để cứu vãn nền kinh tế Hy Lạp, tránh một sự phá sản Nhà nước cóthể ảnh hưởng dây chuyền tới tất cả các nước thành viên trong EU.
* Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa không thống nhất
Để có một môi trường tài chính bền vững, làm nền tảng cho kinh tế phát triển,
về mặt vĩ mô, sự thống nhất giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa là vôcùng quan trọng.Về cơ bản, chính sách tài khoá là chính sách thu chi của Chínhphủ hay còn gọi là chính sách ngân sách Còn chính sách tiền tệ là việc thực hiệntổng thể các biện pháp, sử dụng các công cụ của Ngân hàng Trung ương nhằmgóp phần đạt được các mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô thông qua việc chiphối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền Sự phối hợp hài hòa giữa haichính sách này có ý nghĩa quyết định trong việc ổn định giá cả và tăng trưởngkinh tế
Hệ thống ngân hàng trung ương châu Âu bao gồm Ngân hàng Trung ương châu
Âu (ECB) và 16 ngân hàng trung ương của các quốc gia thành viên ECB điềuhành chính sách tiền tệ theo mục tiêu lạm phát
Trang 37Quy định này tạo nền tảng cho việc hình thành và ổn định đồng euro Nhưng nócũng mang lại nhiều thách thức cho các chính phủ do họ không thể sử dụngchính sách tiền tệ làm công cụ hữu hiệu để hỗ trợ kinh tế phát triển
Các quốc gia thành viên khu vực đồng euro chấp thuận một ngân hàng trungương chung, một chính sách tiền tệ chung nhưng không chấp thuận một chínhsách thuế chung
Nguyên nhân sâu xa là mỗi quốc gia có một nhà nước riêng và nhà nước riêngthì cần có ngân sách riêng với hàng loạt nguyên tắc chi tiêu đính kèm Điều nàyhợp lý nhưng lại là rào cản đối với khu vực đồng tiền chung bởi vì chính sáchtiền tệ và chính sách tài khóa luôn có mối quan hệ khắng khít với nhau
Cụ thể, lãi suất trên thị trường tiền tệ phụ thuộc vào chính sách lãi suất do ECBđịnh đoạt Lãi suất trái phiếu chính phủ lại do bộ tài chính của từng quốc giaquyết định
Quyết định của Bộ Tài chính phụ thuộc vào chính sách tài khóa của từng quốcgia Đối với một số nước có năng lực cạnh tranh kém hơn như Hy Lạp, thâm hụtngân sách lớn hơn các quốc gia khác trong khối, để bình ổn nền kinh tế, pháthành trái phiếu chính phủ với lãi suất cao hơn là giải pháp được ưa chuộng Vìvậy, khủng hoảng nợ do mất khả năng chi trả là một điều hoàn toàn có thể dựđoán trước được
Ngoài ra, so với các quốc gia khác, khoản chi phúc lợi - an sinh xã hội và thuthuế của EU rất cao so với nhiều quốc gia khác trên thế giới Theo số liệu thống
kê, Mỹ có thu nhập bình quân đầu người là 34.320 đô la nhưng chỉ dành 19,4%GDP chi phúc lợi và an sinh xã hội Con số tương tự ở Nhật là 25.130 đô la Mỹ/người và 18,6% Trong khi đó, tại EU, tỷ lệ này dao động từ trên 20-38,2%
Để có tiền chi phúc lợi và an sinh xã hội, các nước buộc phải gia tăng các khoảnthuế Thực tế cho thấy, tỷ lệ thu thuế tính trên GDP của các nước trong khối EU
Trang 38cũng tăng vượt trội so với các quốc gia khác trên toàn cầu Tỷ lệ này biến động
từ trên 30-50% GDP
Trong khi đó, tỷ lệ này tại Mỹ, Nhật, Canada lần lượt là 28,2%; 27,4%; 33,4%
Để có nguồn thu lớn, EU đã xây dựng một biểu thuế suất cao hơn Thuế giá trịgia tăng trung bình trên 20%, trong khi tỷ lệ này ở Mỹ và Hàn Quốc khoảng10%; tại Nhật và Canada là 5% Chính điều này đã làm cho EU trở thành thiênđường của hưởng thụ hơn là nơi hấp dẫn nhà đầu tư bỏ vốn kinh doanh Lợi thếtrong thu hút nguồn vốn nước ngoài của EU cũng bị tác động
Là một thành viên của EU, trong các hoạt động kinh tế đối ngoại với các quốcgia ngoài EU, Hy Lạp cũng gặp những khó khăn tương tự Không chỉ bị tácđộng bởi các yếu tố bên ngoài, Hy Lạp còn bị thất thế trong các giao dịch nộikhối Là một quốc gia nhỏ, nghèo tài nguyên, năng lực cạnh tranh của Hy Lạpgiảm Mặc dù Hy Lạp thiết lập một tỷ lệ thu thuế và chi phúc lợi và an sinh xãhội ở mức trung bình của khu vực đồng tiền chung, nhưng nó cũng làm tăngmức thâm hụt ngân sách, tạo áp lực gia tăng nợ công
* Không đáp ứng được tiến trình hội nhập kinh tế khu vực
Quá trình hình thành đồng tiền chung được chia thành ba giai đoạn nhằm giúpcác quốc gia điều chỉnh nền kinh tế theo hướng hội nhập toàn diện và sâu rộng -hàng hóa, vốn và sức lao động được tự do hóa hoàn toàn Tuy nhiên, hội nhậpcũng có mặt trái của nó Đối với các quốc gia nhỏ, năng lực cạnh tranh yếu thìđây thực sự là thách thức
Với một quốc gia có nguồn tài nguyên hạn hẹp, lợi thế thương mại thấp, nănglực cạnh tranh thấp thì họ không thể xây dựng rào cản để bảo hộ nền sản xuấttrong nước Hàng hóa thiếu cạnh tranh, sản xuất đình trệ, tỷ lệ thất nghiệp giatăng, thu ngân sách giảm, chi an sinh xã hội cao