Khu vực đồng tiền chung châu âu và những bài học
Trang 1DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
TT Chữ cái
viết tắt
Nghĩa đầy đủ
1 ACU Asian Currency Unit Đơn vị tiền tệ Châu Á
2 APEC Asian pacific economic
cooperation
Diễn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương
3 ASEAN Association of southeast
asian nations Hiệp hội các nước Đông Nam Á
4 BRICS Brasil, Russia, India, China,
South Africa
Brasil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi
6 EBA European Banking Authority Cơ quan ngân hàng Châu Âu
7 ECB European Central Bank Ngân hàng Trung Ương Châu Âu
8 ECU European Currency Unit Đơn vị tiền tệ Châu Âu
9 EFSF European Financial
Stability Facility
Tổ chức bình ổn tài chính Châu Âu
10 ESM European Stabilization
Mechanism Cơ chế bình ổn Châu Âu
tiền tệ Châu Âu
13 ERM II Exchange rate mechanism Cơ chế tỷ giá
14 GDP Gross domestic product Tổng sản phẩm quốc dân
15 IMF International Monetary Fund Qũy tiền tệ quốc tế
16 ODA Official development
assistance Hỗ trợ phát triển chính thức
17 USD United States Dollar Đô la Mỹ
18 WTO World trade organization Tổ chức thương mại thế giới
MỤC LỤC
European Central Bank 1
Trang 2GROSS DOMESTIC PRODUCT 1
Official development assistance 1
T HỰC TẾ , E URO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI (EURUSD) MẤT GIÁ 0,74% SO VỚI ĐỒNG USD TRONG SUỐT THÁNG QUA
T RONG 12 THÁNG QUA , TỶ GIÁ E URO (EURUSD) MẤT GIÁ 8,02% SO VỚI ĐỒNG USD T RONG LỊCH SỬ , TỦ GIÁ HỐI ĐOÁI CAO NHẤT VÀO THÁNG 4/2008 VỚI TỶ LỆ 1,6 15
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
BIỂU ĐỒ
European Central Bank 1
European Financial Stability Facility 1
GROSS DOMESTIC PRODUCT 1
Official development assistance 1
T HỰC TẾ , E URO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI (EURUSD) MẤT GIÁ 0,74% SO VỚI ĐỒNG USD TRONG SUỐT THÁNG QUA T RONG 12 THÁNG QUA , TỶ GIÁ E URO (EURUSD) MẤT GIÁ 8,02% SO VỚI ĐỒNG USD T RONG LỊCH SỬ , TỦ GIÁ HỐI ĐOÁI CAO NHẤT VÀO THÁNG 4/2008 VỚI TỶ LỆ 1,6 15
BẢNG
Bảng 2.1: So sánh rủi ro nợ cụng cỏc nước năm 2010 Error: Reference
source not found Bảng 2.2: Thực trạng nợ của công của EA17 và EU 27 Error: Reference
source not found Bảng 2.3: Nợ chính phủ của các quốc gia thành viên Error: Reference
source not found
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính tất yếu của đề tài
Sau hơn một thập kỷ đi vào lưu hành chính thức, đồng tiền chung Châu
Âu dù gặp không ít khó khăn nhưng đã vượt qua được thử thách để trở thànhmột trong những đồng tiền có ảnh hưởng nhất thế giới, và là một đối thủ cạnhtranh thực sự của đồng đô la Mỹ
Định hướng cho đồng tiền chung châu Âu cũng bắt nguồn từ logic hoàntoàn hợp lý: Một khi các đường biên giới đã bị xóa nhòa, thuế quan bị dỡ bỏ,lực lượng lao động tự do di chuyển từ nước này sang nước khỏc thỡ tại saocác nước EU lại phải tốn nhiều công sức và tiền bạc để vật lộn với chuyện tỷgiá trong một không gian thương mại đã trở nên chật hẹp? Chẳng hạn như chỉriêng cho các giao dịch trao đổi tiền tệ, các công ty châu Âu đã “đốt” tới 60 tỷUSD mỗi năm Trên con đường dẫn tới một liên minh tiền tệ chính là việc xâydựng một hệ thống tiền tệ châu Âu như một cơ cấu điều hành các tỷ giá traođổi Các nước tham gia vào hệ thống này có trách nhiệm phải kìm giữ daođộng của các tỷ giá trong các giới hạn tương đối hẹp - trên thực tế là mộtbước tiếp tục và phát triển, xóa bỏ được những rào cản thương mại, tối đa húacỏc lợi ích, môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư Khu vực này đã đạt đượcmức tín nhiệm cao và được sự tin tưởng của các nhà đầu tư trên thế giới Từ
đó, thu hút được một lượng vốn khổng lồ để xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tưphát triển Chính vì vậy mà mức tăng tưởng của khu vực này ngày càng cao
và ổn định
Tuy nhiên, những lợi thế so sánh ban đầu của khu vực ngày càng bị cáckhu vực khác thu hẹp Những khác biệt quá lớn về nền kinh tế của các nướcnhưng lại cùng phải thực hiện chung một quy định của ECB trong một thờigian dài xuất hiện những hạn chế Thêm vào đó là nhưng chính sách tài khóa
Trang 5lỏng lẻo của các nước thành viên, sự ỷ lại của các nước nghèo hơn vào cácnước giàu đã dẫn đến cuộc khủng hoảng nợ công Bắt đầu từ năm 2009 tại HyLạp và lan rộng ra cả khu vực Châu Âu Nhưng chưa dùng lại ở đó, cuộckhủng hoảng này đã và đang ảnh hưởng đến nền kinh kế toàn thế giới Buộctất cả các nước phải nhìn nhận lại những chính sách về tài chính, tiền tệ vàquản lý nợ công và đó cũng là bài học cho các khu vực đang có xu hướnghình thành đồng tiền chung.
Từ những lý do trên, đề tài: “Khu vực đồng tiền chung Châu Âu vànhững bài học” được chọn để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về cơ sở, quá trìnhhình thành, những chính sách tài chính và tài khóa mà khu vực đồng tiềnchung đã và đang thực hiện Đỏnh giá nhưng mặt tích cực và tiêu cực củađồng tiền chung Châu Âu sau hơn một thập kỷ được phát hành cũng nhưnghiên cứu nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng và giải pháp cho khủng hoảng
nợ cụng Chõu Âu Để từ đó rút ra những bài học và áp dụng cho Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng là đồng tiền chung khu vực Châu Âu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu ở các nước là thành viên củakhu vực đồng tiền chung Châu Âu
Về thời gian: Đề tài phân tích các tình hình, số liệu từ năm 2000 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài là phương pháp chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Cụ thể là phương phápphân tích, phương pháp tổng hợp, nghiên cứu dữ liệu và phương pháp thống
Trang 65 Những đóng góp của đề tài
Hệ thống những chính sách tài chính của Ngân hàng Trung Ương Châu ÂuNhững chính sách tài khóa của các nước trong khu vực đồng tiền chungChâu Âu và những khác biệt về chính sách của mỗi nước
Tổng kết đánh giá hoạt động thực tiễn của đồng Euro và nghiên cứunguyên nhân, thực trạng, giải pháp của cuộc khủng hoảng nợ cụng Chõu Âuđang diễn ra
Những bài học được rút ra và áp dụng cụ thể trong điều kiện cụ thể củaViệt Nam
6 Kết cấu đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danhmục các bảng, biểu, sơ đồ, biểu đồ, chuyên đề được trình bày trong bachương:
Chương 1: Đồng tiền chung Châu Âu
Chương 2: Vai trò của đồng tiền chung Châu Âu
Chương 3: Những bài học từ đồng tiền chung Châu Âu
Trang 7CHƯƠNG 1 ĐỒNG TIỀN CHUNG CHÂU ÂU
1.1 Quá trình hình thành và đặc điểm chung của đồng tiền chung Châu Âu
1.1.1Cơ sở ra đời
Chiến tranh thế giới lần thứ 2 đã để lại hậu quả hết sức nặng nề cho cácquốc gia tham chiến cũng như nước ảnh hưởng, đặc biệt là về kinh tế Đồngthời xu hướng khu vực hóa toàn cầu hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ, xuấtphát từ thực tiễn này , mà các quốc gia, khu vực trên thế giới liên kết với nhau
để hình thành nờn cỏc trung tâm khu vực về kinh tế, chính trị, quân sự,vănhóa (WTO,APEC…) Hòa vào xu thế vận động đú cỏc quốc gia, khu vực Tây
Âu đã liên kết với nhau để hình thành nên một trung tâm liên minh về kinh tếnông nghiệp, tiền tệ, khoa học kĩ thuật…để cùng hợp tác phát triển trong nộikhu vực và các quốc gia trên thế giới
Hệ thống tỉ giá đoái Bretton Woods dựa vào kim bản vị và chương trìnhMarshall đã góp phần ổn định các khu vực đồng Bảng Anh, đồng FrancPháp, đồng Franc Thuỵ Sĩ và đồng D-Mark ở Tây Đức
Tuy nhiên, Liên minh thuế quan Đức và Pháp hình thành năm 1968 Đến
1972 vẫn phải chống chọi với việc tỉ giá hối đoái dao động mạnh mẽ do hệthống Bretton Woods đã sụp đổ sau sứ mệnh lịch sử của nó khi nền kinh tếthế giới đang vươn tới mục tiêu toàn cầu hoá
Năm 1970, lần đầu tiên về một liên minh tiền tệ Châu Âu được cụ thểhoá, dựa trên kế hoạch Werner, đúc kết dự án Liên minh kinh tế và tiền tệChâu Âu với một đồng tiền thống nhất trong tương lai, do các chuyên viênkinh tế lỗi lạc và Thủ tướng Luxembourg, Pierre Werner soạn thảo
Trang 8Lộ trình nhắm đến Liên minh vào năm 1980 thất bại, cũng vì sự sụp đổcủa hệ thống Bretton Woods vào năm 1972 Thay vào đó, Liên minh tỷ giáhối đoái Châu Âu được thành lập vào năm 1972 và sau đó là hệ thống tiền tệChâu Âu năm 1979, nhằm ngăn chặn sự dao động quá mạnh của các đồngtiền Châu Âu.
Đơn vị tiền tệ Châu Âu (ECU) ra đời như một đơn vị thanh toán vì mụcđích này và được xem là tiền thân của đồng Euro
Tại cuộc gặp cấp cao EU họp vào tháng 12-1995 các nhà lãnh đạo của
EU quyết định gọi đồng tiền chung châu Âu là EURO vì lý do sau: EUROkhông trùng tên với bất cứ đồng tiền của quốc gia thành viên nào (ECU trùngtên với đồng tiền vàng của Pháp trước đây), EURO đều có thể viết bằng ngônngữ của tất cả các thành viên
Việc hợp tác kinh tế giữa các thành viên trong vùng Euro sẽ vững mạnhthờm vỡ cỏc rủi ro về tỉ giá hối đoái và kèm theo đó là việc bảo hộ tiền tệ củacác doanh nghiệp sẽ không còn tồn tại nữa Người ta dự đoán rằng việc này sẽmang lại lợi thế cho người dân trong khu vực Euro Người ta cũng tin tưởngrằng giá cả của sản phẩm và dịch vụ sẽ không còn chênh lệch nhau nhiều nữa.Điều này dẫn đến cạnh tranh mạnh hơn giữa các doanh nghiệp và vì thế sẽlàm giảm lạm phát và tăng sức mua của người tiêu thụ
1.1.2 Quá trình hình thành
Năm 1988, chủ tịch Uỷ Ban Châu Âu Jacques Delors đã lập ban soạnthảo Báo cáo Delors, lên kế hoạch ba bước tiến tới thành lập Liên minh kinh
tế và tiền tệ Châu Âu
Bước một: Bắt đầu từ 1-7-1990 và kết thúc vào 31-12-1993 Nội dung
chủ yếu của giai đoạn này là tăng cường phối hợp chính sách tiền tệ quốc gia
và rút ngắn sự cách biệt giữa các nền kinh tế của các nước thành viên Theo
Trang 9lịch trình của giai đoạn này, từ 1-7-1990, tư bản được tự do lưu thông trongcác nước thành viên EU, từ 1-1-1993, thị trường nội địa bắt đầu vận hành.
Bước hai: Được coi là giai đoạn chuyển tiếp và bắt đầu từ 1-1-1994 đến
31-12-1998 Theo lịch trình của giai đoạn này, để chuẩn bị cho sự ra đời củaNgân hàng trung ương châu Âu ở giai đoạn cuối cùng, Viện Tiền tệ Châu Âu,tiền thân của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB), được thành lập và tìnhtrạng ngân sách quốc gia của các nước thành viên bắt đầu được xem xét.Ngoài ra, vào ngày 16 tháng 12 năm 1995 Hội đồng Châu Âu tại Madrid (TâyBan Nha ) đã quyết định tên của loại tiền tệ mới “EURO” Trước ngày này đã
có nhiều tờn khỏc được thảo luận : các “ứng cử viờn” quan trọng nhất baogồm Franc châu Âu, Krone châu Âu và Gulden châu Âu Việc sử dụng tênmột loại tiền tệ quen thuộc là nhằm vào mục đích phát ra tín hiệu của sự liêntục và củng cố niềm tin tưởng của quần chúng vào loại tiền tệ mới này, ngoài
ra một vài thành viên cũng có thể giữ tên tiền tệ của nước mỡnh Phỏp thớch
“Ecu”, tên của lọai tiền tệ thanh toán cũ Thế nhưng tất cả các đề nghị này vìmột vài nước dè dặt Để đối phó với tình hình này, tên “Euro” được BộTrưởng Bộ Tài chính Đức Theodor Waigel đề nghị
Ngày 13 tháng 12 năm 1996 các Bộ trưởng Bộ Tài chính của EU đi đếnthoả thuận về Hiệp ước Ổn định và Tăng trưởng nhằm đảm bảo các nướcthành viên giữ kỉ luật về ngân sách và qua đó bảo đảm giá trị của tiền tệchung
Chào mừng đồng Euro ra đời trước trụ sở chính của Ngân hàng Trungương châu Âu
Bước ba: Từ 1-1-1999 bắt đầu đưa đồng EURO vào lưu hành Giai đoạn
đầu từ 1-1-1999 đến 1-1-2002 đồng EURO chỉ lưu hành không bằng tiền mặt
Từ 1-1-2002 đến tháng 7-2002 bắt đầu lưu hành đồng EURO (1) bằng tiền
Trang 10giấy và tiền kim loại song song với các đồng tiền bản địa, và từ tháng 7-2002các đồng tiền bản địa không còn tồn tại.
Liên minh Kinh tế và Tiền tệ châu Âu bắt đầu có hiệu lực cùng với cuộchọp của Hội đồng châu Âu từ ngày 1 tháng 5 đến ngày 3 tháng 5 năm 1998,xác định 11 quốc gia thành viên của Liên minh Kinh tế và Tiền tệ theo cáctiêu chuẩn hội tụ được quy định trước Ngày 19 tháng 6 năm 2000 Hội đồngchâu Âu đi đến "nhận định là Hy Lạp đã đạt hội tụ bền vững ở mức độ cao vàtrên cơ sở này thỏa mãn các yêu cầu cần thiết để đưa tiền tệ chung vào sửdụng" Vì thế vào 1/1/2001 Hy Lạp gia nhập vào Liên minh Kinh tế và Tiền tệchâu Âu
Vào ngày 1 tháng 1 năm 1999 tỷ lệ hối đoái giữa Euro và các đơn vị tiền
tệ quốc gia được quy định không thể thay đổi và Euro trở thành tiền tệ chínhthức Ngay ngày hôm sau, ngày 2 tháng 1, các thị trường chứng khoán tạiMilano (í), Paris (Pháp) và Frankfurt am Main (Đức) đã định giá tất cả cácchứng khoán bằng Euro Một thay đổi khác có liên quan với thời điểm đưađồng Euro vào sử dụng là việc thay thế cách ghi giá cho ngoại tệ Trước ngày
đã định, việc ghi theo giá (1 USD = xxx DEM) là hình thức thông dụng Từngày 1 tháng 1 năm 1999, trong mua bán ngoại tệ tại các nước thành viên, giátrị của ngoại tệ được ghi theo lượng (1 EUR = xxx USD) Thêm vào đó, từngày 1 tháng 1 năm 1999 có thể chuyển khoản bằng Euro (Tại Hy Lạp từngày 1 tháng 1 năm 2001) Các tài khoản và sổ tiết kiệm được phép ghi bằngEuro và tiền cũ Cổ phiếu và các chứng khoán khác chỉ còn được phép muabán bằng Euro Việc phát hành đồng Euro đến người tiêu dùng bắt đầu vàongày 1 tháng 1 năm 2002
Tham gia đồng Euro đợt đầu có 11 nước thành viên của Liên minh châu
Âu EU: Đức, Pháp, Italia, Tây Ban Nha, Hà Lan, Áo, Bỉ, Luxemburg, BồĐào Nha, Phần Lan và Ailen Ba nước Anh, Thuỵ Điển và Đan Mạch chưatham gia đợt này còn Hy Lạp chưa đáp ứng đủ tư các tiêu chuẩn để trở thànhthành viên
Trang 11Hiện nay ngoài 17 nước trong Khu vực đồng Euro đã lưu hành và sửdụng chính thức đồng Euro, một số quốc gia khỏc đó tham gia vào Liên minhtiền tệ với thành viên trong khu vực và sử dụng đồng Euro như tiền tệ chínhthức Bên cạnh các thành viên chính thức, một số quốc gia hay địa phận kháccũng đã tự quyết định chọn Euro làm tiền tệ chuẩn (không có quyết định củaEU) Thêm vào đó, nhiều quốc gia khác bắt đầu coi đồng Euro là một ngoại tệquan trọng, thay chỗ cho đồng Đô la Mỹ.
Các thành viên EU như Đan Mạch, Estonia, Latvia, Litva, Malta, và Sớpcam kết giữ tỉ giá tiền tệ của mình đối với đồng Euro trong khoảng giao độngcho phép của Cơ chế Tỷ giá hối đoái II (ERM II) Các quốc gia Anh, ĐanMạch, Thụy Điển đã quyết định không dùng đồng Euro và vẫn giữ tiền tệchính thức của quốc gia
Các quốc gia Ba Lan, Cộng hòa Séc, Estonia, Hungary, Latvia, Litvia,Malta, Slovakia, và Sớp gia nhập EU năm 2004 chỉ có thể gia nhập vào Liênminh Kinh tế và Tiền tệ châu Âu sau khi thỏa mãn được các điều kiện hội tụ(qua 2 năm là thành viên của Cơ chế Tỷ giá hối đoái II và các điều kiện khác).Các nước mới gia nhập EU vào ngày 1 tháng 1 năm 2007, Bulgaria,Romania có kế hoạch gia nhập Khu vực đồng Euro lần lượt vào các năm 2010
và 2011
Sự ra đời đồng tiền chung châu Âu là kết quả của một quá trình phấn đấuđầy gian khổ của chính phủ các nước thuộc EU nhằm thực hiện liên minhkinh tế và tiền tệ Nếu không có đồng tiền chung thì Thị trường chung châu
Âu không thể hoàn thiện và không có ý nghĩa nhiều trên thực tế
1.2 Những chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa của các nước thuộc khối đồng tiền chung Châu Âu
1.2.1 Những chính sách tiền tệ của ngân hàng Trung Ương Châu Âu
a) Lợi ích từ một chính sách tiền tệ chung
Thúc đẩy sự phát triển của thị trường nội bộ bằng cách tạo điều kiệnthuận lợi cho thương mại về so sánh giá và loại bỏ các chi phí liên quan đếnngoại hối và tiền tệ
Trang 12Góp phần hội nhập vào thị trường vốn , mở rộng phạm vi của các công
cụ tài chính có sẵn để tiết kiệm hoặc đầu tư và tạo điều kiện cho hoạt động tàichính của mình
Thông qua cuộc tranh luận về việc thông qua một loại tiền tệ và chínhsách tiền tệ chung , một số nhà kinh tế đã lo lắng về nguy cơ nó không thíchhợp trong bối cảnh kinh tế khác nhau của các nước thành viên và trong trườnghợp có những cú sốc không đối xứng Đây cũng là lý do tại sao khi tham giaEMU phải tuân thủ các quy tắc hội nhập như ổn định giá cả, tỷ giá hối đoái,mức lãi suất và tình trạng tài chính công Từ khi ra đời đồng EURO thì độlệch chuẩn tăng trưởng của các nước trong khu vực đồng EURO có xu hướnggiảm xuống (hình 1) Do đó càng khẳng đinh chính sách tiền tệ của ECB ngàycàng đảm bảo hiệu quả hơn
Biểu đồ 1.1 Độ lệch chuẩn của tăng trưởng giữa các nước trong khu
vực đồng EURO
Nguồn: fondation robert sohuman
Trang 13b) Nhiệm vụ, mục tiêu và các công cụ của ngân hàng trung ương Châu ÂuNgân hàng Trung Ương Châu Âu chịu trách nhiệm cho việc thực hiệnchính sách tiền tệ, hoạt động ngọai hối, quản trị dự trữ chính thức của cácnước thành viên của khu vực đồng EURO và thúc đẩy hoạt động của hệthống thanh toán Mục tiêu chính của ECB được quy định bởi hiệp ước vềLiên Minh Châu Âu (điều 105) là bảo vệ sự ổn định giá cả trong khu vựcđồng EURO Theo hội đồng thống đốc là lạm phát dưới 2% nhưng cũng đủgần ngưỡng để tránh nguy cơ giảm phát Và mục tiêu thứ cấp là thúc đẩy tiến
bộ kinh tế và xã hội với mức việc làm cao và đạt được sự phát triển cân bằng
và bền vững (điều 2) Nhiệm vụ của ECB tiến hành các hoạt động ngoại hối làphải có nghĩa vụ thực hiện chính sách ngoại hối quy định bởi các nước thànhviên (điều 4) Tuy nhiên cho đến nay, Hội đồng không quyết định chính sách
tỷ giá hối đoái mà để cho ECB tự do sử dụng ngoại hối nhằm được các mụctiêu ổn định giá cả và tiến bộ kinh tế
Trong việc thực hiện chính sách tiền tệ ECB phải chú ý tới tất cả cácbiến có khả năng ảnh hưởng đến tốc độ lạm phát và mức độ hoạt động Hơnnữa, có sự chậm trễ đáng kể giữa các quyết định thay đổi lãi suất chủ chốt củaECB và khi quyết đinh ấy có hiệu ứng Chớnh sách tiền tệ càng phức tạp hơnkhi có một quyết định thì ngay lập tức thay đổi kì vọng lạm phát có hiệu lựcnội sinh về sự phát triển giá Đây là tầm quan trọng của truyền thông và độ tincậy của một ngân hàng trung ương đối với các thành phần kinh tế
Trang 14c) Các chính sách tiền tệ của ECB và kết quả
Lạm phát vẫn ở mức gần với mục tiêu 2% từ năm 1999-2006 và biếnđộng mạnh trong những năm 2000-2012
Biểu đồ 1.2: Biểu đồ về tỷ lệ lạm phát của khu vực đồng Euro
(2000-2012)
Nguồn : TradingEconomics.com; European Commission
ECB đã thay đổi lãi suất danh nghĩa, cụ thể đầu năm 1999 giảm nhẹnhưng lại tăng đến đầu năm 2001 Trong giai đoạn suy thoái 2001-2005 thì lãisuất giảm và được giứ ở mức độ rất thấp Từ cuối năm 2003-đầu 2006 tỷ lệ lãisuất cho hoạt động tái cấp vốn gần như không thay đổi, và đến năm 2006 thìtăng lên
Trang 15Biểu đồ 1.3: Biểu đồ về lãi suất của đồng Euro (2000-2012)
Nguồn : TradingEconomics.com; European Commission
Thực tế, Euro tỷ giá hối đoái (EURUSD) mất giá 0,74% so với đồng USD trong suốt tháng qua Trong 12 tháng qua, tỷ giá Euro (EURUSD) mất giá 8,02% so với đồng USD Trong lịch sử, tủ giá hối đoái cao nhất vào tháng 4/2008 với tỷ lệ 1,6
Biểu đồ 1.4: Tỷ gớa hối đoái EURO/USD 2000-2/2012
Nguồn : TradingEconomics.com; European Commission
Trang 161.2.2 Chính sách tài khóa của khu vực đồng tiền chung Châu Âu
Trong khi chính sách tiền tệ được thống nhất thông qua ngân hàng TrungUơng Châu Âu thì chính sách tài khóa lại do chớnh cỏc nước thành viên tựquyết định cho nước mỡnh Cỏc nước trong khu vực đồng Euro có nền kinh
tế khác nhau vì vậy để đảm bảo thực hiện đúng những quy định mà Eurozoneđưa ra tất yếu trong chính sách tài chính sẽ có những mâu thuẫn Mâu thuẫntrong chính chính sách của nước đó với điều kiện kinh tế của mình và mâuthuẫn giữa các quốc gia với nhau
Sau khi gia nhập vào khu vực đồng Euro thì lãi suất của các nước ở mứccao đều được điều chỉnh giảm mạnh.Lói suất thời hạn 3 thỏng đó giảm mạnh
từ 22% xuống còn 3% ở Hy Lạp, từ 15% xuống 3% ở Tây Ban Nha và ởItalia, từ 20% xuống 3% ở Ai Len Từ đó, các nước này phải chịu một sự giatăng mạnh các khoản nợ trong khu vực tư nhân và tăng giá bất động sả Khi
mà bong bóng bất động sản bị vỡ, một cuộc khủng hoảng đã xảy ra song hànhvới các khoản nợ quá cao Nợ nần của khu vực tư nhân từ năm 1998 đến 2011
đã tăng từ 90% lên 235% GDP ở Tây Ban Nha, từ 65% đến 210% GDP ởAilen, từ 28% đến 100% GDP ở Hy Lạp, và 55% đến 150% GDP ở Bồ ĐàoNha Từ năm 1995 đến 2008, giá bất động sản đã tăng 4,7 lần ở Ailen; 3,5 lần
ở Hy Lạp, 3,6 lần ở Tây Ban Nha, 2,8 lần ở Italia và 1,8 lần ở Bồ Đào Nha.Tuy nhiên, ECB lại thấy vui sướng vì tất cả các lãi suất đã cân bằng nhau sovới mức sàn của các lãi suất ở Đức, mà không biết rằng điều này sẽ tạo ra tìnhtrạng dư nợ và sự tăng giá của các loại tài sản Các Nhà nước đã không thựchiện bất cứ một giải pháp nào (đánh thuế hàng hóa có giá trị, số dư ngân sách
cơ cấu rất quan trọng) để bù vào các tác nhân kích thích đến từ việc giảm lãisuất ở các nước này Ở Tây Ban Nha và Ai len, số dư ngân sách cơ cấu vẫn
Trang 17giữ ở mức thấp (l%-2% GDP); Italia, Bồ Đào Nha và Hy Lạp đã duy trì thâmhụt cơ cấu.
Chính phủ các nước cú ớt động thái để cải thiện thu ngân sách nhưng lạichi tiêu rất mạnh tay do vậy nợ công ngày càng tăng Ví dụ như: Hy Lạp gianhập vào khu vực đồng tiền chung Euro năm 2001 và đây được xem là cơ hộirất lớn để Hy Lạp có thể tiếp cận với thị trường vốn quốc tế Nhưng điều đángbuồn là trong hơn một thập kỷ qua, chính phủ nước này liên tục bán trái phiếu
để thu về hàng trăm tỷ đụla Số tiền này lẽ ra có thể giúp kinh tế Hy Lạp tiếnrất xa nếu chính phủ có kế hoạch chi tiêu hợp lý và có kế hoạch trả nợ NhưngChính phủ Hy Lạp chỉ biết chi tiêu (phần lớn cho cơ sở hạ tầng) chứ hầu nhưkhông quan tâm đến các kế hoạch trả nợ Như việc tổ chức Olympic 2004 - kỳthế vận hội được hoành tráng nhất và cũng tốn kém nhất trong lịch sử Chi 12
tỷ Euro (cao hơn tới 10 tỷ so với dự kiến) nhưng không cho phép bất cứ mộtbiển hiệu quảng cáo nào được xuất hiện trên đường phố, Chính phủ Hy Lạp
đã khiến ngân sách quốc gia năm 2004 thâm hụt tới 6,1% (so với GDP) trongkhi giới hạn mà khối EU cho phép là 3% Không chỉ chi phí cho cơ sở hạtầng, quỹ lương của khối dịch vụ công tại Hy Lạp đã tăng gấp đôi trong vòng
10 năm qua Trong khi đó, nguồn thu không được cải thiện sau hàng loạt biệnpháp cắt giảm thuế để kích thích đầu tư
Những bất ổn chính trị tại Hy Lạp nhấn nước này chỡm sõu vào nợ nầnCuối tháng 9/2009, chỉ vài tuần trước khi bị đánh bại trong cuộc tổng tuyển
cử ngày 4/10/2009, chính quyền của Thủ tướng Costas Karamanlis cho biếtthâm hụt ngân sách năm 2009 của nước này ở mức 6-8% so với GDP
Con số này nhanh chóng bị bác bỏ khi đảng Xã hội Hy Lạp lên nắmquyền Ngày 20/10/2009, tân thủ tướng George Papandreou khẳng định thâmhụt ngân sách trong tài khóa 2009 phải ở mức 12,5%, gấp hơn 4 lần giới hạn
Trang 18cho phép của một quốc gia sử dụng đồng Euro Mức thâm hụt này cùng vớikhoản nợ trị giá 300 tỷ Euro đã thực sự cho thấy tính nghiêm trọng của cuộckhủng hoảng tại Hy Lạp Nguy hiểm hơn, nền kinh tế lớn thứ 27 thế giới nàyrất có thể chỉ là kíp nổ của toàn bộ hệ thống tài chính, tiền tệ châu Âu.
Khi nợ công Hy Lạp tăng quá cao 127,1% GDP năm 2009 thì chính phủnước này mới nhấn mạnh tới việc thắt chắt tiêu dùng và dừng các chươngtrình miễn thuế nhằm giảm thâm hụt ngân sách Cuối năm 2009 hàng loạt tổchức quốc tế tuyên bố hạ định mức tín nhiệm của Hy Lạp trên thị trương tàichính Ngày 7/12/2009, S&P cho Hy Lạp điểm tín nhiệm A- với triển vọngkém lạc quan Một ngày sau đó, Fitch đánh tụt điểm số của nền kinh tế này từA- xuống còn BBB+ Trước những diễn biến xấu, Thủ tướng Papandreoutuyên bố sẽ thẳng tay với nạn tham nhũng, thắt chặt chi tiêu hơn nữa, trong đóđánh thuế 90% lờn cỏc khoản thưởng của giới “cỏ mập” ngân hàng cũng như
ra lệnh cấm toàn bộ việc thưởng tiền cho các quan chức điều hành trong khuvực công Song song với cắt giảm ngân sách dành cho y tế, quốc phòng, tăngthuế, ngày 2/2/2011, lãnh đạo Hy Lạp tuyên bố một chính sách lương thưởng
hà khắc đối với khối dịch vụ công Mục tiêu của chính sách này là nhằm cắtgiảm quỹ lương khoảng 4% Và để nhận cỏc gúi cứu trợ từ Euro thì chính phủ
Hy Lạp xem xét một kế hoạch “thắt lưng buộc bụng” rất hà khắc
Đối lập với những chính sách tài khóa của Hy Lạp, nước Đức luôn chọnhướng đi thận trọng trong chi tiêu công, duy trì tốt làm phát ở mức xấp xỉ 2%,lãi suất khá ổn định Do vậy, nền kinh tế của Đức đã duy trì được đà tăngtrưởng , thất nghiệp suy giảm, ngân sách gần như cân bằng Nước Đức là mộtbằng chứng chứng minh rằng hoạt động tài khóa không hoàn toàn khả dĩ nhưnhững người theo trường phái Keynes đã lập luận: kích thích tài khóa sẽ đemđến cho các nền kinh tế sự bảo vệ lớn hơn, thay vì kém đi, trước những “cơn
Trang 19gió chướng” Sau khi tái thống nhất đất nước vào năm 1990, Chính phủ Đức
đã vay mượn và chi tiêu những khoản tiền khổng lồ để đầu tư cho công cuộctái thiết Đông Đức cũ Thêm nữa, lúc này đó cú thờm hàng triệu người tiêudùng từ Đông Đức được bổ sung vào nền kinh tế Đức Về phương diện chínhtrị, chính sách này thực sự đó giỳp hàn gắn nước Đức Nhưng về phương diệnkinh tế, chính sách này không hẳn đã thành công Sau một thời gian ngắn tăngtrưởng mạnh, kinh tế Đức đã rơi vào những năm dài với kết quả tăng trưởng
và tình hình việc làm đáng thất vọng Thuế suất ở Đức vẫn cao, và mức sốngnói chung ở khu vực phía Tây của nước này không thể tăng cùng với tốc độcủa mức sống ở hầu hết các quốc gia giàu có khác Việc thuyết phục ngườidân Đông Đức cũ chi tiêu nhiều hơn hóa ra lại không quan trọng bằng việcđảm bảo rằng, những người dân này có kỹ năng để thích nghi với sự mở rộngkinh tế của đất nước Không có gì là ngạc nhiên khi nhiều người Đức hiện nayvẫn tỏ thái độ hồ nghi về việc các khoản chi tiêu bằng tiền vay của Chính phủ,hay sự phụ thuộc thái quá vào tiêu dùng trong nước Trong những năm gầnđây, nước Đức đã cho thấy họ đang giành lại được vị thế kinh tế vượt trội củamỡnh Cỏc nhà hoạch định chính sách ở Berlin đã trở lại với các kế hoạch dàihạn, và trong suốt thập kỷ qua, họ đã thực hiện tự do hóa thị trường lao động,
và cho phép chính sách tiền lương linh hoạt hơn Mới đây, Đức còn thông quamột điều khoản sửa đổi trong hiến pháp, yêu cầu đưa ngân sách công về trạngthái gần như cân bằng vào năm 2016, đồng nghĩa với việc thâm hụt cơ cấukhông vượt quá mức 0,35% GDP Trong bối cảnh các nền kinh tế hầu khắpchâu Âu trì trệ, kinh tế Đức chứng kiến sự tăng trưởng bùng nổ của xuất khẩu
và sản xuất công nghiệp hoạt động gần hết công suất Nhiều công nhân củaĐức thậm chí phải hoãn đi nghỉ để không bỏ lỡ cơ hội kiếm thêm tiền ở nhàmáy Tỷ lệ thất nghiệp ở Đức hiện là 7,5%, thấp hơn mức trên 9% ở Mỹ, vàđang giảm xuống Chính phủ Đức giờ đang đưa ra những cam kết dài hạn
Trang 20đáng tin cậy để giảm nợ Tỷ lệ nợ công so với GDP của Đức đang dao độngquanh 70%, một tỷ lệ bị xem là không lành mạnh, và nước này là một trongnhững quốc gia có tỷ lệ sinh thấp nhất trên thế giới, làm dấy lên những câuhỏi về khả năng chi trả lương hưu trong tương lai Tuy nhiên, nhiều nhà đầu
tư vẫn xem trái phiếu Đức là một kênh đầu tư an toàn, một phần vì Chính phủnước này có tiếng là giải quyết nhanh và có trách nhiệm những vấn đề về tàikhóa Berlin hiện đang nỗ lực giảm chi tiêu công, mặc dù không phải là giảmchi tiêu trong những lĩnh vực quan trọng dài hạn như nghiên cứu và giáo dục.Mặc dù vậy, giáo sư Cowen cho rằng, kinh tế Đức chưa thể được xem là hoànhảo Ngoài thuế suất cao và tỷ lệ sinh thấp, cũn cú những vấn đề khác về nănglực thanh khoản tồn tại trong các ngân hàng của Đức, đồng thời các ngânhàng này cũng có độ minh bạch không cao Thêm vào đó, những quốc gianghèo hơn trong khối Eurozone có thể cần tới một chính sách tiền tệ nới lỏnghơn từ Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) hơn là một chính sách thắtchặt mà nước Đức ủng hộ
Biểu đồ 1.5: Nợ công so với GDP của các nước trong khu vực đồng
Euro 2010
Nguồn: TradingEconomics.com; European Commission
Trang 21Biều đồ 1.6: Bội chi ngân sách của các nước trong khu vực đồng
Euro 2010
Nguồn: TradingEconomics.com; European Commission
Trang 22CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CỦA ĐỒNG TIỀN CHUNG CHÂU ÂU
2.1 Vai trò và hạn chế của đồng tiền chung Châu Âu
2.1.1 Mặt tích cực của đồng tiền chung Châu Âu
a) Kích thích phát triển thương mại trong nội bộ khối
Quỏ trình tự do hóa thương mại, dỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phithuế quan Cắt giảm các chi phí như phí chuyển giao, phí chuyển đổi tiềntệ.Mặt khác các chi phí giảm xuống dẫn đến giá thành sản phẩm giảm tăngkhả năng cạnh tranh cho hàng hóa nội khối Nhằm tối đa hóa lợi nhuận trongthương mại giữa các quốc gia, kích thích phát triển thương mại trong nộikhối
b) Các yếu tố sản xuất được phân bổ hiệu quả
Liên minh tiền tệ là cấp độ liên kết khu vực cao nhất với chính sách tiền
tệ thống nhất, các biện pháp về di chuyển vốn và phân biệt đối vốn tài chínhcủa các quốc gia thành viên sẽ được hạn chế, các biện pháp kiểm soát tỷ giá
và sự biến động tỷ giá bị xóa bỏ Dẫn đến nguồn vốn sẽ được phân bố hiệuquả
Lương và thu nhập tính chung một đồng tiền dẫn đến hiệu quả hơn vì laođộng có thể di chuyển từ khu vực có năng suất thấp lao đến khu vực có năngsuất lao động cao
c) Tiết kiệm dự trữ ngoại hối và lợi ích từ việc phát hành tiền
Đồng tiền chung ít biến động hơn so với đồng tiền riêng lẻ vì vậy mà tỷ
lệ dự trữ giảm xuống Chi phí phát hành đồng tiền chung rẻ hơn so với pháthành nhiều đồng tiền riêng lẻ
Trang 23d) Tiết kiệm chi phí hành chính trong kinh doanh
Khi sử dụng các đồng tiền khác nhau các doanh nghiệp phải sử dụngnguồn lực để kiểm soát rủi ro ngoại hối Khi sử dụng đồng tiền chung thỡ cỏcquốc gia thành viên cắt giảm được chi phí khá lớn này
e) Tăng cường thanh khoản và hợp lý hóa thị trường tài chính
Thị trường trái phiếu chính phủ trở nên linh hoạt hơn, giảm được chi phígiao dịch Thị trường cổ phiếu hoạt động hiệu quả hơn do việc mua bán dễdàng mà không phải thông qua tỷ giá hối đoái và các chi phí kèm theo Dẫnđến, kích thích doanh số trên thị trường
f) Giá cả trở nên trung thực rõ ràng và ổn định hơn
Các nhà sản xuất ở các thị trường khác nhau không thể duy trì mức giáchênh lệch do chúng đều được niêm yết bằng một đồng tiền Quy luật cạnhtranh buộc các công ty đa quốc gia phải áp dụng chính sách định giá hàng hóathống nhất trên cơ sở mức giá thấp nhất Dẫn đến, người tiêu dùng được lợi
và các công ty đa quốc gia giảm lợi nhuận
2.1.2 Mặt tiêu cực của đồng tiền chung Châu Âu
a) Mất quyền tự chủ trong hoạch định chính sách tiền tệ
Khi điều chỉnh một chính sách tiền tệ ECB phải cân nhắc tới tất cả cácquốc gia thành viên, mặt khác sự phát triển kinh tế của các quốc gia là khácnhau vì vậy không tránh khỏi những xung đột lợi ích trong các quốc giathành viên
b) Mất tự chủ trong chính sách kinh tế vĩ mô
Mỗi quốc gia có một chiến lược phát triển đất nước riêng do vậy sẽ chọncác mức lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp là khác nhau Mặt khác, muốn kìm hãmlạm phát thì phải chấp nhận tỷ lệ thất nghiệp cao
Trang 24Tuy nhiên, khi tham gia liên minh tiền tệ thỡ cỏc nước thành viên phải
áp dụng chung một chính sách vĩ mô Do vậy, khi tình trạng lạm phát, thấtnghiệp rơi ngoài tầm kiểm soát thì gây sự sự mất tự chủ trong quá trình điềuchỉnh
c) Bất bình đẳng khu vực
Vốn và lao động chảy từ nơi có năng suất lao động thấp đến nơi có năngsuất lao động cao bởi vậy gây ra trình trạng thiếu hụt nghiêm trọng vốn và laođộng ở một số khu vực
d) Chi phí thời kỳ quá độ
Là chi phí trong quá trình nghiên cứu chính sách, phát hành đồng tiềnmới, thu hồi đồng tiền cũ, thay đổi hệ thống thông tin
2.2 Khủng hoảng nợ công của các nước trong khu vực đồng tiền chung Châu Âu
2.2.1 Khái niệm và bản chất của nợ công
Nợ công là hậu quả của vấn đề chi tiêu công bất hợp lý Chi tiêu côngchính là các khoản chi của nhà nước (trung ương và chính quyền địa phương)thực hiện thông qua ngân sách Nhà nước Chi tiêu công bao gồm các khoảnchi để duy trì bộ máy nhà nước, chi đầu tư phát triển, chi các mục tiêu vănhúa-xó hội, chi quốc phòng, chi trả nợ nước ngoài và dự phòng Mỗi quốc giađều phải cân đối mức thu chi Khi thu không đủ chi, dẫn đến thâm hụt ngânsách, nhà nước phải đi vay để bù ngân sách, hình thành nợ công
Vậy, nợ công (nợ chính phủ hoặc nợ quốc gia) là tổng giá trị các khoảntiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằmtài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách
Trang 25Nợ công bao gồm:
1) Nợ trong nước (các khoản vay từ người cho vay trong nước);
2) Nợ nước ngoài (các khoản vay từ người cho vay ngoài nước);
3) Nợ ngắn hạn (từ 1 năm trở xuống), nợ trung hạn (từ trên 1 năm đến 10năm) và nợ dài hạn (trên 10 năm)
Để trả lãi nợ vay chính phủ buộc phải tăng thuế Thuế làm méo mó nềnkinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội Nợ nước ngoài lớn thì chínhphủ buộc phải tăng cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năngtiêu dùng giảm sút
Khi xem xét bản chất của vấn đề nợ công, nếu chỉ xét tỷ lệ nợ công/GDP thì chưa đủ bởi tỷ lệ nợ cụng/GDP chỉ phản ảnh một phần nào đó vềmức độ an toàn hay rủi ro của nợ công Nếu xem xét tỷ lệ đó mà khẳng định
nợ công an toàn thì chưa có cơ sở Nợ công khoảng 100%GDP đủ để mộtnước như Hy Lạp rơi vào tình trạng phá sản, trong khi đó nợ công lên tới hơn200% như Nhật Bản vẫn được coi là an toàn bởi vì nợ công của Nhật Bản chủyếu là nợ vay trong nước
Vì vậy, khi xét đến nợ công, điều cốt lõi không chỉ cần quan tâm tới tổng
nợ, nợ hàng năm phải trả mà phải quan tâm tới rủi ro và cơ cấu nợ Nghĩa làphải tính tới khả năng trả nợ và rủi ro trong tương lai, chứ không chỉ là con sốtổng nợ trên GDP Mức độ an toàn hay nguy hiểm của nợ công không chỉ phụthuộc vào tỷ lệ nợ/GDP mà quan trọng hơn, phụ thuộc vào tình trạng pháttriển của nền kinh tế
2.2.2 Nguyên nhân dẫn đến nợ công
Theo qui định của khu vực đồng tiền chung Châu Âu, tỷ lệ nợ công tối đađối với một quốc gia thành viên là 60% GDP, thâm hụt ngân sách hàng năm
Trang 26không được vượt quá 3% GDP Tuy nhiên, trên thực tế, hầu hết các quốc giathuộc khu vực đồng tiền Euro không đáp ứng đầy đủ những tiêu chí đề ra Năm
2009, Hy Lạp có số nợ lên tới 115,1% GDP và thâm hụt ngân sách ở mức 13,6%GDP Tình trạng thu không đủ chi cũng diễn biến tại Tây Ban Nha với mức thâmhụt tương đương 11,2% GDP Trong khi đó, nếu so sánh riêng về tỷ lệ nợ quốcgia với tổng thu nhập, Italia thậm chí bi quan hơn cả Hy Lạp
Bảng 2.1: So sánh rủi ro nợ cụng cỏc nước năm 2010
Quốc gia
Thâm hụtngân sách2010(%GDP)
Nợ so vớiGDP
Nợ nướcngoài (%
tổng nợ)
Nợ ngắnhạn(%GDP)
Tài khoảnvãng lai2010(%GDP)
Nguồn: European Commission, World Bank IMF
a) Nguyên nhân bên trong
Cuộc khủng hoảng nợ của các chính phủ hiện nay ở khu vực đồng Euro
có nguyên nhân bắt nguồn từ các nhà hoạch định thể chế, phính phủ các quốcgia, những nhà điều hành ngân hàng Trung Ương ECB, và những nhà đầu cơ
nợ công trong lĩnh vực Euro từ năm 2007 đến nay
Thứ nhất: những cố vấn cho các thể chế của khu vực đông Euro đã lập ra
Trang 27các hiệp ước dự kiến về sự vắng mặt của tinh thần đoàn kết giữa các thànhviên của khu vực đồng Euro và một điều khoản không giải cứu không mộtquốc gia nào có thể hy vọng nhận được một sự cứu giúp từ một quốc gia khácđang trong hoàn cảnh khó khăn bằng các phương pháp tài chính công Tuy cómột chính sách tiền tệ chung nhưng các quốc gia tự hoạch định chính sách tàikhóa riêng cho mình Dẫn đến sự đa dạng trong các nhân tố phát hành tráiphiếu trong liên minh tiền tệ Sự không thống nhất là cơ hội cho các nhà đầu
tư có thể lựa ch ọn quốc gia để đầu tư Hiện nay, các nước phía bắc có lợi thếhơn các nước phía nam vi sự chênh lệch về lãi suất kì hạn 10 năm giữa cácnhóm quốc gia này là rất lớn mặt khác, những kẻ đầu cơ có thể đứng giữa cácnước mà xúi bẩy nước này chống lại nước kia, nhưng không phải vì thế mà họ
có thể đưa ra lập trường liên quan đến toàn bộ khu vực đồng euro Tuy có sựgiám sát chặt chẽ để hạn chế sự khác biệt giữa phía bắc và phía nam nhưngtrong một liên minh tiền tệ luôn tồn tại tính không thuần nhất tự nhiên do có
sự chuyên môn hóa khác nhau, lợi thế so sánh của các quốc gia khác nhau, vàcác nhân tố sản xuất tuy được di chuyển một cách tương đối nhưng cũng tạo
ra sự khác biệt Dẫn đến, ngành công nghiệp chiếm 7% GDP ở Hy Lạp, 12%
ở Pháp và Tây Ban Nha và 21% ở Đức Dĩ nhiên, thu nhập bình quân đầungười của các quốc gia là khác nhau năm 2010 là 31 nghìn euro ở Đức, 22nghìn euro ở Tây Ban Nha và 20 nghìn euro ở Hy Lạp Mặt khác, nợ công củacác nước lại ảnh hưởng trực tiếp đến nhau do vậy những nhà đầu tư lợi dụngđẩy nước này chông lại nước khác, đồng thời chỉ chọn lựa tài trợ cho cácnước vững vàng nhất Chính sự khác nhau về các nhà phát hành trái phiểu đãtạo ra các kẽ hở để sự khác biệt giữa các nền kinh tế không được thu hẹp vàcòn làm tăng cơ hội làm mâu thuẫn trong khu vực
Thứ hai: sự giảm lãi suất nhanh chóng để phù hợp với điều kiên gia nhập
Trang 28khu vực đồng Euro lãi suất thời hạn 3 thỏng đó giảm mạnh từ 22% xuống còn3% ở Hy Lạp, từ 15% xuống 3% ở Tây Ban Nha và ở Italia, từ 20% xuống3% ở Ai Len Điều đú đã làm cho thì trường tài chính ở các quốc gia này bất
ổn như bong bóng bất động sản bị vỡ, một cuộc khủng hoảng đã xảy ra songhành với các khoản nợ quá cao Nợ nần của khu vực tư nhân từ năm 1998 đến
2011 đã tăng từ 90% lên 235% GDP ở Tây Ban Nha, từ 65% đến 210% GDP
ở Ailen, từ 28% đến 100% GDP ở Hy Lạp, và 55% đến 150% GDP ở Bồ ĐàoNha Từ năm 1995 đến 2008, giá bất động sản đã tăng 4,7 lần ở Ailen; 3,5 lần
ở Hy Lạp, 3,6 lần ở Tây Ban Nha, 2,8 lần ở Italia và 1,8 lần ở Bồ Đào Nha Trong khi ECB thấy hài lòng với những gì mà các quốc gia đạt được thìchính phủ các quốc gia lại không có động thái gì để điều chỉnh sự phát triểnkhác thường đó Mặt khác, chi tiêu của các chính phủ quá lớn,thậm chớ cũncho rằng, những chính phủ đó không có trách nhiệm khi quyết định chi tiêuquá lớn so với nền kinh tế và tăng trưởng kinh tế của chính nước mình Việcchi tiờu quỏ lớn đã tạo ra thâm hụt ngân sách và khủng hoảng nợ cụng(lươngcao cho các nhà chính trị, công chức, hệ thống an sinh xã hội và lao động, chế
độ nghỉ hưu sớm) Và những con số nợ công tăng lên, chi tiêu ngày càng bấthợp lý nhưng thiếu sự giám sát chặt chẽ cũng là nguyên nhân dẫ đến khủnghoảng nợ công
Thứ ba: mối tương quan giữa rủi ro chính phủ và rủi ro ngân hàng Cácngân hàng châu Âu giữ tổng lượng kỳ phiếu nợ công quan trọng của mình.Nếu có thiếu sót từ một nước nào đó, hàng loạt các ngân hàng tất nhiên sẽ gặpkhó khăn, điều này giải thích mối tương quan giữa rủi ro chớnh phủ với rủi rongân hàng, mối quan tâm hiện nay chuyển từ nguy cơ vỡ nợ của Hy Lạp sangcủa Italia: các ngân hàng Pháp giữ 53 tỉ euro nợ công của Italia, so với tài sảnriêng của họ là 200 tỉ euro; về phía các ngân hàng của Italia, họ đang nắm 164
tỉ euro nợ công của nước này
Thứ tư: đến năm 2007, những nhà đầu cơ và các ngân hàng đã mua các