1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt luận án Tiến sĩ Kỹ thuật môi trường: Đánh giá hàm lượng thuốc trừ sâu clo hữu cơ trong nước, trầm tích, thủy sinh vật tại cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai và thử nghiệm độc

27 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của luận án là xác định dư lượng thuốc trừ sâu OCPs trong nước, trầm tích, thủy sinh vật tại cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai và đánh giá độc tính của thuốc trừ sâu DDTs lên phôi, ấu trùng hàu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas), cá medaka (Oryzias latipes). Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

-

Nguyễn Xuân Tòng

ĐÁNH GIÁ HÀM LƯỢNG THUỐC TRỪ SÂU CLO HỮU CƠ TRONG NƯỚC, TRẦM TÍCH, THỦY SINH VẬT TẠI CỬA SÔNG SÀI GÒN – ĐỒNG NAI VÀ THỬ NGHIỆM ĐỘC TÍNH CỦA DDTs LÊN PHÔI, ẤU TRÙNG HÀU THÁI BÌNH

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học 1: TS Mai Hương

Người hướng dẫn khoa học 2: PGS.TS Dương Thị Thủy

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

Trang 3

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận án

Hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) nhóm clo hữu cơ (OCPs) đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới trong nhiều thế kỷ qua để kiểm soát sâu bọ, nấm và các loài côn trùng khác nhau nhằm tăng năng suất sản xuất và bảo vệ sức khỏe cộng đồng, phòng chống muỗi gây bệnh sốt rét Tuy nhiên, OCPs bị nghiêm cấm hoặc hạn chế sử dụng trên toàn cầu vào một vài thập kỷ trước vì chúng gây độc cho các sinh vật sống

Gần đây, các khu vực đô thị và công nghiệp phát triển nhanh chóng có thể là các nguồn ô nhiễm OCPs tiềm

ẩn kết hợp với việc sử dụng OCPs trái phép ở phía thượng nguồn làm cho nồng độ OCPs tăng lên trong nước mặt và trầm tích phía hạ lưu hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai Do đó, nghiên cứu về OCPs trong nước mặt, trầm tích và các loài sinh vật vùng cửa sông là rất quan trọng Vì vậy nghiên cứu của chúng tôi đã được tiến hành từ năm 2017 – 2018 ở vùng cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai Do đó, tôi quyết định chọn đề tài

“Đánh giá hàm lượng thuốc trừ sâu clo hữu cơ trong nước, trầm tích, thủy sinh vật tại cửa sông Sài Gòn –

Đồng Nai và thử nghiệm độc tính của DDTs lên phôi, ấu trùng hàu Thái Bình Dương, cá medaka”

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án

Mục tiêu của luận án là xác định dư lượng thuốc trừ sâu OCPs trong nước, trầm tích, thủy sinh vật tại cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai và đánh giá độc tính của thuốc trừ sâu DDTs lên phôi, ấu trùng hàu Thái Bình

Dương (Crassostrea gigas), cá medaka (Oryzias latipes)

3 Các nội dung nghiên cứu chính của luận án

Khảo sát hiện trạng ô nhiễm thuốc trừ sâu OCPs trong nước, trầm tích ở cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai theo mùa và theo nhóm

Khảo sát hiện trạng ô nhiễm thuốc trừ sâu OCPs trong cá, nhuyễn thể hai mảnh vỏ và xác định nguồn gốc ô nhiễm ở cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai

Đánh giá độc tính của thuốc trừ sâu DDTs đến sinh trưởng của hàu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas) và

cá medaka (Oryzias latipes) thông qua việc xác định LC50/EC50 và quan sát ảnh hưởng đến hình thái phôi, ấu trùng

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về hóa chất BVTV

1.2 Tình hình nghiên cứu và hiện trạng tồn dư hóa chất BVTV trong môi trường sinh thái thủy sinh

1.3 Tổng quan về hàu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas), cá medaka (Oryzias latipes) và ứng dụng

trong đánh giá độc học sinh thái

1.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Hóa chất, dụng cụ và thiết bị thí nghiệm

2.2 Địa điểm lấy mẫu

2.3 Các phương pháp lấy mẫu

2.4 Phương pháp phân tích mẫu

2.4.1 Phân tích các thông số hóa lý

Bảng 2 1 Kỹ thuật phân tích các thông số hóa lý mẫu nước mặt và trầm tích

Nước mặt

pH, độ dẫn điện (EC), tổng chất rắn hòa tan (TDS), nhiệt độ

Hydrolab Model (Multi Set 430iWTW)

Trang 4

Tổng cacbon hữu cơ (TOC)

Máy phân tích tổng cacbon (Multi C/N 3000, Analytik Jena AG, Jena, Đức)

Kích thước hạt

Máy phân tích kích thước hạt laser Microtrac S3500 (Microtrac Inc., Montgomeryville, PA, Hoa Kỳ)

2.4.2 Xác định OCPs trong mẫu nước

50 mL n–hexan được đưa vào phễu tách 2 lít chứa 1 lít nước cất và được lắc thủ công trong 5 phút và để lắng Sau khi chiết tách hoàn toàn, pha hữu cơ được dẫn lưu vào bình nón 250 mL, trong khi pha nước được chiết lại hai lần với 50 mL n–hexan Ba pha hữu cơ chiết xuất được kết hợp và sấy khô bằng cách đi qua một phễu thủy tinh chứa natri sulfat khan Phần hữu cơ được cô đặc bằng thiết bị cô quay chân không, tiến hành phân tích OCPs trên thiết bị GC/ECD

2.4.3 Xác định OCPs trong mẫu trầm tích

20g trầm tích khô được chiết Soxhlet với 300 mL hỗn hợp n–Hexan:axeton (1:1) trong thời gian 16 giờ Dịch chiết sẽ được cô đặc và định mức về 10 mL 5 mL dịch chiết được làm sạch trên cột nhồi florisil đã hoạt hóa (Cột chiết có chiều dài 40 cm và đường kính 2 cm) Quá trình rửa giải bằng 120 mL hỗn hợp n-hexan:DCM (4:1) để thu OCPs Dịch chiết sẽ được cô đặc và rửa loại chất màu và mùn bằng axit (nếu cần) Cuối cùng dịch chiết được cô về 1 mL và chuyển vào lọ đựng mẫu, tiến hành phân tích OCPs trên thiết bị GC/ECD

2.4.4 Xác định OCPs trong mẫu sinh vật

Quy trình xử lý mẫu sinh vật cho phân tích OCPs tương đối giống với quy trình xử lý mẫu trầm tích Tuy nhiên, trong mẫu sinh vật, hàm lượng lipit thường lớn nên quá trình rửa mẫu bằng axit sulfuric đặc được lặp lại nhiều lần hơn (5 lần) Đồng thời, với mẫu sinh vật, không cần thêm phoi đồng để loại bỏ các hợp chất sunfua

2.5 Các phương pháp thử nghiệm trên phôi-ấu trùng hàu Thái Bình Dương và cá medaka

2.5.1 Phôi, ấu trùng hàu Thái Bình Dương

DDT 100 ppm được bổ sung vào trầm tích lần lượt với hàm lượng 2; 10; 20; 50; 200; 1000 µl cùng với tỷ lệ nước biển nhân tạo:trầm tích (1:4), hỗn hợp được khuấy trong 5 phút Tiến hành lắc trong 8 giờ và lắng qua đêm để gạn nước trong

20 mL dung dịch phôi, ấu trùng hàu được cho vào 1 mL dung dịch DDT ở các nồng độ khác nhau, mỗi nồng

độ lặp lại 3 lần

2.5.2 Phôi, ấu trùng cá medaka

Chọn những phôi khỏe mạnh (những phôi có cấu trúc trong suốt, màng phôi còn nguyên vẹn, khối noãn hoàng đặc đều) chuyển vào giếng thí nghiệm theo các nồng độ tương ứng của DDT là: 0,04; 0,08; 0,12; 0,16; 0,2; 0,24; 0,28 µg/L và đối chứng (0 µg/L) Mỗi thí nghiệm lặp lại ba lần, mỗi giếng có 10 phôi/nồng độ

Trang 5

Hình 3.1 Biểu đồ phân tích cụm trên không gian các vị trí lấy mẫu

3.2 Hiện trạng OCPs trong nước và trầm tích

3.2.1 Các thông số hóa lý trong nước mặt và trầm tích

Tất cả các thông số chất lượng nước (ngoại trừ độ đục) ở cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai khi so sánh với quy chuẩn quốc gia 08–MT: 2015/BTNMT cột A1 về chất lượng nước mặt chỉ ra rằng giá trị đo các thông số chất lượng nước được quan trắc nằm trong phạm vi giới hạn cho phép

Sự thay đổi các tính chất hóa – lý trong trầm tích bị ảnh hưởng chủ yếu bởi các yếu tố cấu trúc, ví dụ: loại trầm tích, kết cấu, vật liệu gốc và các yếu tố địa hình Vào thời điểm mùa khô, giá trị hóa lý trong trầm tích cao chủ yếu liên quan đến lưu lượng nước thấp, dẫn đến tốc độ lắng đọng trầm tích cao Trầm tích được thu thập từ các nhánh sông có thông số hóa lý ở mức độ cao hơn so với các mẫu được thu thập từ dòng chính của cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai

Trang 6

3.2.2 Nồng độ OCPs trong nước

3.2.2.1 Biến thiên theo mùa

Sự biến đổi nồng độ OCPs theo mùa trong nước phụ thuộc phần lớn vào lượng mưa làm di chuyển các chất ô nhiễm từ thượng nguồn hoặc những khu vực xung quanh, làm chúng lắng đọng trong các khu vực hạ lưu các con sông, kết quả là nồng độ OCPs ở hạ lưu của sông vào thời điểm mùa mưa cao hơn mùa khô (Bảng 3.3) Bảng 3 3 Nồng độ của OCP (µg/L) trong nước ở hai mùa

3.2.2.2 Thay đổi theo không gian (theo các nhóm)

Nồng độ DDTs, HCHs, aldrin, heptachlor và dieldrin trong nước ở nhóm 1 cao hơn đáng kể so với nhóm 2 (Bảng 3.7) cho thấy ảnh hưởng từ các hoạt động nông nghiệp

Bảng 3.7 Nồng độ của OCPs (µg/L) trong nước ở hai nhóm

3.2.3.1 Biến thiên theo mùa

Dư lượng các OCPs được tìm thấy trong trầm tích cũng giống như những OCPs được phát hiện trong các mẫu nước, nồng độ vào thời điểm mùa mưa cao hơn đáng kể so với mùa khô (Bảng 3.10)

Bảng 3.101 Nồng độ của OCPs (µg/kg) trong trầm tích theo hai mùa

Trang 7

5

3.2.3.2 Thay đổi theo không gian (theo các nhóm)

Đối với trầm tích, nồng độ nhóm 1 bao gồm DDTs 11,8 µg/kg, HCHs 6,20 µg/kg, aldrin 2,37 µg/kg, heptachlor 5,94 µg/kg, dieldrin 0,93 µg/kg và endrin 1,64 µg/kg cao hơn nhiều so với nhóm 2 lần lượt là 3,75; 2,47; 0,49; 1,08; 0,26 và 1,03 µg/kg (Bảng 3.14) Nồng độ của endrin trong trầm tích không chênh lệch nhiều giữa hai nhóm

Bảng 3.14 Nồng độ của OCPs (µg/kg) trong trầm tích ở hai nhóm

3.2.4 Mối liên hệ giữa nồng độ OCPs trong nước và trong trầm tích

Sự thay đổi theo mùa có thể phản ánh hệ số tương quan giữa nồng độ tổng DDTs và tổng HCHs trong trầm tích và nước cao hơn vào thời điểm mùa mưa so với mùa khô (Hình 3.3)

Hình 3.3 Mối tương quan giữa nồng độ DDTs và HCHs trong nước và trầm tích

Trang 8

Hình 3.4 Mối tương quan giữa nồng độ aldrin, heptachlor, dieldrin và endrin trong nước và trầm tích Việc tăng nồng độ của aldrin trong trầm tích cũng làm tăng đáng kể nồng độ aldrin trong nước vào thời điểm mùa mưa, nhưng trong mùa khô lại không tăng (Hình 3.4a) Ngược lại, nồng độ heptachlor và endrin trong nước cũng tăng rõ rệt cùng với sự gia tăng nồng độ trong trầm tích vào thời điểm mùa khô nhưng không tăng vào mùa mưa (Hình 3.4b và 3.4d) Không có mối tương quan khác biệt nào giữa các nồng độ trong nước và trong trầm tích của dieldrin ở thời điểm hai mùa (Hình 3.4c)

3.2.5 Đánh giá nguồn gốc ô nhiễm OCPs bằng phân tích thành phần chính

PCA/FA trích xuất ra làm ba thành phần chính (PC) có giá trị riêng lớn hơn 1 cho mỗi mùa và cho từng nhóm Ba OCPs đầu tiên, có ba phương sai cực đại tương ứng VF (nhân tố tiềm ẩn) có giá trị riêng lớn hơn

1, độ tích lũy chiếm 75% tổng giá trị phương sai trong thời điểm mùa khô và chiếm 84% trong thời điểm mùa mưa, 87,6% đối với nhóm 1, và 69,9% đối với nhóm 2 (Bảng 3.19)

Bảng 3.192 Tương quan OCPs với những nhân tố tiềm ẩn (VF) hình thành từ phân tích PCA/FA trong hai mùa và hai nhóm

VF1 VF2 VF3 VF1 VF2 VF3 VF1 VF2 VF3 VF1 VF2 VF3 Nước

DDTs 0,53 0,67 0,10 0,53 0,36 0,67 0,70 0,26 0,57 0,18 0,77 -0,25 HCHs 0,18 0,85 0,19 0,46 0,74 0,26 0,67 0,69 0,12 0,71 0,43 -0,20 Aldrin -0,15 0,80 0,36 0,16 0,91 -0,14 0,30 0,90 -0,07 0,87 0,16 -0,18 Heptachlor 0,28 0,62 -0,25 0,86 0,15 0,10 0,87 0,19 0,05 0,65 0,03 -0,08 Dieldrin 0,25 0,20 0,76 0,20 0,15 0,89 0,18 0,11 0,92 0,07 0,74 0,05 Endrin 0,37 0,73 -0,12 -0,23 -0,08 0,88 -0,20 -0,04 0,90 -0,03 0,92 0,04

Trang 9

7

Trầm tích

DDTs 0,90 0,34 0,08 0,57 0,58 0,48 0,73 0,43 0,43 0,68 0,47 0,35 HCHs 0,83 0,23 -0,06 0,32 0,87 0,21 0,45 0,72 0,17 0,88 0,03 0,29 Aldrin 0,93 0,24 0,01 0,74 0,53 0,19 0,93 0,28 0,07 0,70 0,17 0,40 Heptachlor 0,81 0,19 -0,08 0,88 0,31 0,15 0,93 0,15 -0,05 0,46 0,61 0,41 Dieldrin 0,86 0,00 0,25 0,80 0,24 0,06 0,54 -0,72 -0,10 0,00 -0,07 0,85

Endrin 0,60 0,15 -0,58 0,88 0,25 -0,15 0,97 0,02 -0,07 0,57 -0,37 0,22 Giá trị riêng 5,91 1,98 1,11 6,92 2,04 1,18 6,62 2,19 1,69 4,86 2,27 1,26

% phương sai

tổng 49,2 16,5 9,2 57,6 17,0 9,9 55,2 18,3 14,1 40,5 18,9 10,5 Phần trăm

Hình 3 5 Hai OCPs được trích xuất khi thực hiện PCA/FA cho toàn bộ dữ liệu

PC1 chiếm 66,6% và PC2 chiếm 15,2% của phương sai tổng Phương sai của OCPs trong nước và trầm tích thu được từ 12 vị trí nghiên cứu vào thời điểm mùa khô thấp hơn so với thời điểm mùa mưa Mùa khô có giá trị ở phía vùng âm của PC2, mùa mưa ở vùng dương của PC2 Vào thời điểm mùa mưa, nhóm 2 có phương sai của nồng độ OCPs lớn nhất

Kết quả nghiên cứu cho thấy dư lượng OCPs được phát hiện trong hầu hết các mẫu nước và trầm tích thu thập ở cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai Do đó, OCPs có khả năng tích lũy độc tính trong các loài thủy sinh ở lưu vực sông như cá và nhuyễn thể hai mảnh vỏ

Trang 10

3.3 OCPs trong cá và nhuyễn thể hai mảnh vỏ

3.3.1 Nồng độ các OCPs trong sinh vật theo loài

3.3.1.1 Tổng OCPs

Hình 3.6 Nồng độ của OCPs trong cá và nhuyễn thể hai mảnh vỏ Nồng độ OCPs biến động giữa các vị trí thu mẫu, thấp nhất tại vị trí ST1 và cao nhất tại vị trí ST8 ở tất cả các loài sinh vật khảo sát Nồng độ OCPs được phát hiện trên sò huyết đạt giá trị cao nhất so với các loài còn lại có giá trị dao động từ 6,360 – 45,904 µg/kg (trung bình 34,108 µg/kg), tiếp theo là cá bống bớp > trai > vẹm xanh > ngao > hàu có giá trị lần lượt là: từ 7,685 – 40,297 µg/kg (trung bình 19,519 µg/kg); 4,794 – 37,585 µg/kg (trung bình 19,212 µg/kg); 0,323 – 35,359 µg/kg (trung bình 14,320 µg/kg); 7,181–18,462 µg/kg (trung bình 12,376 µg/kg) và 3,007 – 17,081 µg/kg (trung bình 9,297 µg/kg) (Hình 3.6)

3.3.1.2 Nhóm HCHs và đồng phân

Mức độ dư lượng HCHs trong mô thịt trai và sò huyết chiếm hàm lượng cao hơn 4 loài còn lại, hàm lượng HCHs cao nhất ghi nhận ở mẫu mô thịt trai 5,645 µg/kg và thấp nhất trong mẫu hàu 2,702 µg/kg (Hình 3.7)

Các đồng phân α–, β–, γ– và δ–HCH có mặt trong hầu hết các mẫu được thu thập và tỷ lệ β–HCH

trên tổng HCHs cao nhất trong nhiều mẫu Kết quả cũng cho thấy rằng tất cả các đồng phân của HCHs đang

hiện diện ở các khu vực cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai Đối với các mô sinh vật, β–HCH là đồng phân chiếm

ưu thế và đóng góp 37 – 50% vào tổng số HCHs được quan sát trong các mô khác nhau, tiếp theo là α–, γ–, δ–HCH chiếm lần lượt là 15 – 32%, 11 – 28% và 9 – 28%

Trang 11

9

Hình 3.7 Nồng độ của HCHs trong cá và nhuyễn thể hai mảnh vỏ

Ghi chú: n = 13; a,c: khác biệt có ý nghĩa thống kê (5%) kiểm định Tukey HSD

3.3.1.3 Nhóm DDTs và đồng phân

Nồng độ DDTs khác nhau đáng kể đã được tìm thấy trong các loài cá và nhuyễn thể hai mảnh vỏ, nồng độ trung bình của DDTs nằm trong khoảng 3,588 – 9,524 µg/kg DDTs trong các mẫu cá và nhuyễn thể hai mảnh vỏ thu thập có xu hướng giảm dần theo thứ tự: cá bống bớp > trai > sò huyết > vẹm xanh > ngao > hàu (Hình 3.9) Về mặt số liệu ghi nhận sự chênh lệch giữa các mẫu nhưng qua kết quả phân tích ANOVA hàm lượng DDTs trong mẫu sinh vật không có sự khác biệt Kết quả này có thể được quy cho các môi trường sống khác nhau, thói quen cho ăn và vị trí của chúng trong cấp bậc dinh dưỡng Nồng độ DDTs trên cá bống bớp cao nhất do chúng có tập tính sống ở đáy, ban ngày thường vùi mình xuống bùn nên lượng tích tụ tương đối cao Đối với vẹm xanh, ngao và hàu có thể sống bám ở các bờ đá nên khả năng tích tụ DDTs ít hơn loài cá bống bớp

Hình 3 9 Nồng độ của DDTs trong cá và nhuyễn thể hai mảnh vỏ

Ghi chú: n = 13; a,c: khác biệt có ý nghĩa thống kê (5%) kiểm định Tukey HSD

Trang 12

Tỷ lệ của p,p’–DDD trong tổng DDTs ở một số loài như cá bống bớp, hàu, sò huyết và trai là chiếm ưu thế, trong khi tỷ lệ p,p’–DDT ở một số loài như vẹm xanh và ngao là tương đối cao

3.3.1.4 Endosulfans

Kết quả cá và nhuyễn thể hai mảnh vỏ khi phơi nhiễm với endosulfans cho thấy sò huyết tích lũy với nồng

độ cao vượt bậc so với cá bống bớp, hàu, vẹm xanh, ngao và trai (Hình 3.11) Kết quả phân tích ANOVA cho thấy hàm lượng endosulfans trong mẫu sò huyết khác biệt với các mẫu sinh vật khác (p < 0,0001)

Hình 3.11 Nồng độ của endosulfans trong cá và nhuyễn thể hai mảnh vỏ

Ghi chú: n = 13; a,b: khác biệt có ý nghĩa thống kê (5%) kiểm định Tukey HSD

3.3.1.5 Các nhóm OCPs khác (heptachlor, aldrin, dieldrin, endrin)

Qua biểu đồ Hình 3.12a cho thấy mẫu sò huyết có hàm lượng heptachlor cao nhất tiếp theo là ngao, vẹm xanh, trai, cá bống bớp Hàm lượng độc chất này tích lũy trong sáu loài sinh vật chêch lệch khá cao, khoảng chênh lệch giữa mẫu sò huyết từ 0,453 – 3,032 µg/kg so với giá trị thấp nhất trong mẫu mô thịt hàu là 0,484 µg/kg dao động từ 0,06 – 1,006 µg/kg Hàm lượng heptachlor tương đối thấp nên không ảnh hưởng đáng kể trong các loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ Các loài sinh vật khác nhau thì hàm lượng tồn lưu giữa chúng khác nhau p = 0,018, qua kết quả phân tích hậu ANOVA mẫu sò huyết và mẫu hàu có sự khác biệt nhau với giá trị xác suất lần lượt là 0,0068 và 0,0496 Sự khác biệt về nồng độ heptachlor giữa các loài khác biệt có ý nghĩa thống kê (Hình 3.12a)

Trang 13

11

Hình 3.12 Nồng độ của heptachlor, aldrin, dieldrin, endrin trong cá và nhuyễn thể hai mảnh vỏ

Ghi chú: n = 13; a,c: khác biệt có ý nghĩa thống kê (5%) kiểm định Tukey HSD

Nồng độ aldrin và endrin được phát hiện trên sò huyết đạt giá trị cao nhất có ý nghĩa thống kê, với giá trị dao động lần lượt là KPH – 5,421 µg/kg và KPH – 7,104 µg/kg (Hình 3.12b và 3.12d) Nồng độ aldrin thấp nhất

là trên ngao với giá trị thay đổi từ KPH – 0,031 µg/kg (trung bình 0,011 µg/kg) Nồng độ dieldrin có giá trị cao nhất trên cá bống bớp, kế tiếp là sò huyết và thấp nhất trên hàu, với giá trị trung bình lần lượt là 1,743 µg/kg; 1,227 µg/kg và 0,077 µg/kg (Hình 3.12c) Hàm lượng aldrin và dieldrin giữa các mẫu sinh vật chênh lệch không quá cao, chủ yếu hàm lượng dieldrin cao hơn aldrin, do aldrin dễ chuyển hóa thành dieldrin trong môi trường Nồng độ aldrin bị ảnh hưởng bởi yếu tố loài khác nhau Mẫu sò huyết so với mẫu vẹm xanh và ngao khác biệt về ý nghĩa thống kê với giá trị xác suất nhỏ hơn 0,0001 Các mẫu trai, cá bống bớp và hàu tuy khác nhau về mặt số liệu nhưng về mặt thống kê có kết quả giống nhau và là trung bình của mẫu sò huyết, vẹm xanh và ngao p = 0,0012 Đối với hàm lượng dieldrin vẫn có sự khác nhau giữa các loài sinh vật với giá trị xác suất p = 0,0042, sau khi kiểm chứng hậu ANOVA cho thấy mẫu cá bống bớp với vẹm xanh, hàu và ngao là khác biệt p < 0,0001

3.3.2 Nồng độ các OCPs trong sinh vật theo không gian (vị trí)

So với sông chính (ST1, ST5, ST6, ST7), các vị trí sông phụ (ST8, ST9, ST10, ST11) có nồng độ DDTs trên

cá và các loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ cao hơn 3,2 lần (8,94 µg/kg/2,81 µg/kg) (Hình 3.13a), nồng độ

Ngày đăng: 26/02/2021, 09:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm