1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT

23 959 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Sở Lý Luận Về Tổ Chức Kế Toán Quản Trị Chi Phí Sản Xuất
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 35,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khỏi niệm và bản chất của KTQT Theo định nghĩa của Hiệp hội kế toán quốc gia Mỹ – National Asociation of Accountants NAA – văn kiện số 1A tháng 3/1984, thì: “Kế toán quản trị là quá trìn

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN

XUẤT

I TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

1 Khỏi niệm và bản chất của kế toỏn quản trị

a Khái quát về sự ra đời của kế toán quản trị

Xã hội càng phát triển thì nhu cầu thông tin càng trở nên đa dạng, bức thiết Hiệnnay thông tin được xem như là một yếu tố trực tiếp của quá trình sản xuất kinh doanh.Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, kế toán góp phần rấtquan trọng vào công tác quản lý các hoạt động kinh tế, tài chính

Từ những năm 50 của thế kỷ 20, sự phỏt triển nhanh chúng của khoa học kỹ thuật

đó tỏc động đến mọi mặt của đời sống kinh tế, chớnh trị, văn hoỏ xó hội, đặc biệt là lĩnhvực kinh tế Nú đó làm thay đổi phương thức sản xuất, cỏch thức quản lý cũng như kếtcấu chi phớ trong giỏ thành sản phẩm Mặt khỏc, xu hướng khu vực hoỏ, toàn cầu hoỏnền kinh tế thế giới đó tạo ra những cơ hội trong hợp tỏc kinh doanh nhưng cũng tạo ra

sự cạnh tranh khốc liệt giữa cỏc doanh nghiệp, cỏc thành phần kinh tế Đứng trước nhữngthay đổi, những cơ hội và thỏch thức đó, doanh nghiệp muốn tồn tại và phỏt triển, giànhđược những thắng lợi trong cạnh tranh phải luụn luụn thu thập đầy đủ thụng tin để nhàquản lý cú thể ra quyết định thớch hợp, kịp thời Phần lớn những nhu cầu thụng tin củanhà quản lý được thoả món thụng qua cỏc kờnh thụng tin trải suốt trong nội bộ doanhnghiệp.Vỡ vậy, kế toỏn đũi hỏi phải phục vụ tốt hơn cho cụng việc dự bỏo, tổ chức điềuhành, kiểm soỏt và ra quyết định Chớnh nhu cầu thụng tin này đó hỡnh thành nờnchuyờn ngành kế toỏn quản trị

Như vậy, kế toỏn quản trị về bản chất là một bộ phận cấu thành khụng thể tỏch rờicủa hệ thống kế toỏn vỡ đều làm nhiệm vụ tổ chức hệ thống thụng tin kinh tế trong doanhnghiệp Kế toỏn quản trị trực tiếp cung cấp thụng tin cho cỏc nhà quản lý bờn trong tổchức doanh nghiệp - người cú trỏch nhiệm điều hành và kiểm soỏt mọi hoạt động của tổchức đó

Trang 2

Ở nước takế toán quản trị trong các doanh nghiệp ra đời và phát triển khi nền kinh

tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xãhội chủ nghĩa Kế toán quản trị được áp dụng cho mọi thành phần kinh tế và mọi lĩnh vựckinh doanh, kể cả các tổ chức hoạt động không vì mục đích lợi nhuận

b Khỏi niệm và bản chất của KTQT

Theo định nghĩa của Hiệp hội kế toán quốc gia (Mỹ) – National Asociation of

Accountants (NAA) – văn kiện số 1A tháng 3/1984, thì: “Kế toán quản trị là quá trình cung cấp thông tin cho nhà quản lý doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch, kiểm soát, điều hành các hoạt động của doanh nghiệp Quy trình kế toán quản trị bao gồm các công việc xác định, cân, đo, đong, đếm, thu thập, tích luỹ, phân tích, chuẩn bị thông tin, giải thích và cung cấp thông tin cho các nhà quản lý để các nhà quản lý xử lý các thông tin này theo hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp” Theo định nghĩa của Viện kế

toỏn viờn quản trị Hoa Kỳ thỡ KTQT“ là quỏ trỡnh nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân

tích, soạn thảo, diễn giải và truyền đạt thông tin được quản trị sử dụng để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm tra trong nội bộ tổ chức, và để đảm bảo việc sử dụng hợp lý và cú trỏch nhiệm đối với các nguồn lực của tổ chức đó”

Theo Luật Kế toán Việt Nam, KTQT “là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.

Như vậy, có rất nhiều quan niệm và định nghĩa về kế toán quản trị, nhưng đứng trêngóc độ sử dụng thông tin kế toán phục vụ cho chức năng quản lý của các nhà quản trị

doanh nghiệp, có thể định nghĩa kế toán quản trị như sau: Kế toán quản trị là một khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về hoạt động sản xuất - kinh doanh một cách chi tiết, phục vụ cho các nhà quản trị trong việc lập kế hoạch, điều hành, tổ chức thực hiện kế hoạch và quản lý hoạt động kinh tế, tài chính trong nội bộ doanh nghiệp.

Từ đó rút ra bản chất của kế toán quản trị như sau:

Trang 3

- Kế toán quản trị không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về các nghiệp

vụ kinh tế thực sự phát sinh và đã thực sự hoàn thành, mà còn xử lý và cung cấp thông tinphục vụ cho việc ra các quyết định quản lý Để có được các thông tin này, kế toán quảntrị phải sử dụng các phương pháp khoa học để phân tích, xử lý chúng một cách linh hoạt,phù hợp với nhu cầu thông tin của nhà quản trị Hệ thống hóa thông tin theo một trình tự

dễ hiểu và giải trình quá trình phân tích theo các chỉ tiêu cụ thể, phục vụ cho công tácquản trị doanh nghiệp

- Kế toán quản trị chỉ cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế, tài chính trongphạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của một doanh nghiệp Những thông tin đó chỉ có ý nghĩađối với những người điều hành, quản trị doanh nghiệp, không có ý nghĩa đối với các đốitượng bên ngoài Vì vậy, người ta nói kế toán quản trị là loại kế toán dành cho nhữngngười làm công tác quản lý, trong khi đó kế toán tài chính không phục vụ trực tiếp chomục đích này

- Kế toán quản trị là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là một chứcnăng quan trọng không thể thiếu được đối với hệ thống quản trị doanh nghiệp

2 Kế toán quản trị với chức năng của nhà quản lý

Trong hoạt động kinh doanh, người quản lý phải điều hành các hoạt động hàngngày, lập kế hoạch cho tương lai, giải quyết các vấn đề và thực hiện một khối lượng lớncác quyết định thường xuyên và không thường xuyên Tất cả những điều này đòi hỏi phảiđược cung cấp những thông tin đặc biệt khác nhau từ kế toán quản trị

- Chức năng lập kế hoạch: Trong việc lập kế hoạch người quản lý vạch ra những

việc phải làm để đưa hoạt động của tổ chức doanh nghiệp hướng về cỏc mục tiờu đó xỏcđịnh như: mục tiờu về lợi nhuận, về sự tăng trưởng, nõng cao uy tớn của doanh nghiệp…Cỏc kế hoạch được lập cú thể là ngắn hạn hoặc dài hạn Trong chức năng này, KTQTcung cấp những thông tin để ra các quyết định về kế hoạch thông qua việc lượng hoỏ cỏcmục tiờu của quản lý dưới dạng cỏc chỉ tiờu về số lượng và giỏ trị Kế hoạch này được

Trang 4

tiến hành dưới sự điều khiển của hội đồng xét duyệt dự toán, có sự tham gia của kế toántrưởng, được lập hàng năm.

- Chức năng điều hành (Thực hiện kế hoạch): Để việc thực hiện kế hoạch đạt

được hiệu quả cao nhất, nhà quản trị sẽ quyết định cỏc phương phỏp tốt nhất để tổ chứccon người với cỏc nguồn tài - vật lực KTQT phải cung cấp thụng tin hàng ngày về tỡnhhỡnh hoạt động của tổ chức, về tài sản, chi phớ, thu nhập…cả về mặt hiện vật và giỏ trị

để phục vụ đắc lực cho nhà quản trị điều hành tốt quỏ trỡnh hoạt động của tổ chức

- Chức năng kiểm soát: Trong quản lý, việc lập ra kế hoạch chưa đủ mà quan trọng

hơn là cần những thông tin có liên quan đến việc thực hiện kế hoạch Kế toán quản trịgiúp cho chức năng kiểm soỏt bằng cách thiết kế nên các báo cáo có dạng so sánh Cácnhà quản trị sử dụng báo cáo đó để kiểm tra, đánh giá trong các lĩnh vực trách nhiệm mà

họ cần quan tâm, để xem xét và điều chỉnh, tổ chức thực hiện các mục tiêu đặt ra Do đó,

kế toán quản trị phải làm sao cho các nhà quản lý nhận được những thông tin mà họ cầnhoặc muốn nhận

- Chức năng ra quyết định: Để ra được một quyết định thỡ cần phải cú thụng tin,

những thụng tin thật cụ thể, thật chi tiết, thật đầy đủ, thật kịp thời, khụng chỉ trong quỏkhứ mà cũn cả ở hiện tại và trong tương lai Những thụng tin này phần lớn được cung cấp

từ KTQT

3 Nhiệm vụ của kế toán quản trị

Chức năng cơ bản của KTQT là cung cấp thụng tin cho nhà quản trị để ra quyết định

Để hoàn thành tốt chức năng của mỡnh, KTQT phải làm tốt cỏc nhiệm vụ sau:

- Thu thập, xử lý thụng tin, số liệu kế toán theo phạm vi, nội dung KTQT của đơn

vị xác định theo từng thời kỳ Muốn vậy, kế toán phải sử dụng hệ thống các chứng từ và

sổ sách để ghi chép một cách có hệ thống hoạt động kinh doanh hàng ngày

- Kiểm tra, giám sát các định mức, tiêu chuẩn, dự toán

- Cung cấp thông tin theo yêu cầu quản trị nội bộ của đơn vị bằng các báo cáo KTQT

Trang 5

- Tổ chức phân tích thông tin phục vụ cho yêu cầu lập kế hoạch và ra quyết định của Ban lónh đạo doanh nghiệp

4 Các phương pháp kế toán quản trị

Là một bộ phận của hệ thống kế toán, nên về nguyên tắc, kế toán quản trị cũng sửdụng các phương pháp cơ bản giống như kế toán tài chính, đó là: phương pháp chúng từ,phương pháp tài khoản và ghi kộp, phương pháp tính giá và phương pháp tổng hợp – cânđối kế toán Tuy nhiên, do mục đích sử dụng thông tin của kế toán quản trị khác với kếtoán tài chính, vì vậy các phương pháp sử dụng trong kế toán quản trị có những nét đặcthù riêng nhằm thu thập, xử lý và cung cấp thông tin cụ thể, chi tiết, và mang tính linhhoạt theo yêu cầu quản lý nội bộ Do đó, hệ thống phương pháp sử dụng trong kế toánquản trị được phân thành 2 nhóm: nhóm phương pháp thu nhận, xử lý, tổng hợp thông tin

và nhóm phương pháp phân tích chỉ tiêu theo yêu cầu của nhà quản trị

4.1 Nhóm phương pháp thu nhận, xử lý và tổng hợp thông tin

Nhóm phương pháp thu nhận, xử lý và tổng hợp thông tin là hệ thống phương phápđược sử dụng trong mọi phân hệ kế toán, hệ thống này bao gồm:

a Phương pháp chứng từ

Kế toán quản trị ngoài việc sử dụng những thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tàichính phát sinh và thực sự hoàn thành đã phản ánh trên chứng từ kế toán của hệ thốngchứng từ bắt buộc để phân tích và tập hợp tình hình về chi phí, thu nhập và kết quả mộtcách chi tiết, còn sử dụng hệ thống chứng từ hướng dẫn Các chứng từ hướng dẫn đượcdoanh nghiệp cụ thể theo các chỉ tiêu phục vụ trực tiếp cho việc thu nhận, xử lý và cungcấp thông tin nội bộ Việc kiểm tra, xử lý và luân chuyển chứng từ được xác lập theocách riêng, nhằm bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, trung thực, kịp thời cho công tácđánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí cũng như phục vụ cho công tác lập dự toán

mới.

b Phương pháp tính giá

Trang 6

Để phản ánh tình hình huy động và sử dụng tài sản trong doanh nghiệp, kế toánquản trị phải sử dụng phương pháp tính giá, tức là quy đổi các loại tài sản phi tiền tệthành tiền để cung cấp các thông tin có tính tổng hợp cho nhà quản trị doanh nghiệp

Kế toán quản trị cũng phải tuân thủ các nguyên tắc và trình tự tính giá giống như kếtoán tài chính Tuy nhiên, do mục đích riêng của kế toán quản trị nên các nguyên tắc vàtrình tự tính giá này mang một ý nghĩa và phương pháp đặc thù, nhất là trong việc phân

bổ chi phí chung cho các đối tượng cần quản trị hoặc trong việc phân loại chi phí thànhchi phí biến đổi và chi phí cố định để xác định điểm hoà vốn thì quan điểm của kế toánquản trị có điểm khác biệt với kế toán tài chính

c Phương pháp tài khoản và ghi kộp

Để có số liệu chi tiết, tỷ mỷ và kịp thời phục vụ cho quản lý nội bộ, kế toán quản trịphải sử dụng tài khoản được thiết lập trên cơ sở yêu cầu quản lý từng chỉ tiêu cụ thể Căn

cứ vào yêu cầu quản lý cụ thể từng chỉ tiêu chi tiết, kế toán quản trị mở các tài khoản để

hệ thống hoá thông tin từ chứng từ theo các chỉ tiêu của báo cáo kế toán quản trị Các tàikhoản của kế toán quản trị không nhất thiết phải giống với các tài khoản trong hệ thốngtài khoản thống nhất của kế toán tài chính và phương pháp ghi tài khoản cũng rất đa dạng(có thể ghi đơn, có thể ghi kép) Thông tin được phân loại trên các tài khoản là điều kiệntiền đề để lập báo cáo kế toán quản trị

d Phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán

Để đánh giá khái quát tình hình thực hiện các chỉ tiêu thuộc đối tượng cần quản trị,

kế toán quản trị phải có các bảng tổng hợp và cân đối số liệu đã được ghi nhận trên cáctài khoản Khác với báo cáo kế toán tài chính, báo cáo kế toán quản trị vừa phải thể hiện

số dự toán (kế hoạch) vừa thể hiện được số thực tế, vừa thể hiện bằng thước đo tiền tệvừa có thể thể hiện bằng thước đo hiện vật Ngoài ra, báo cáo kế toán tài chính được lập

có tính chất định kỳ thì báo cáo kế toán quản trị phải đáp ứng được tính kịp thời cho cácnhà quản trị

Trang 7

Phương pháp tổng hợp và cân đối trong kế toán quản trị tạo ra “sản phẩm” cuốicùng của toàn bộ chu trình kế toán quản trị được tiến hành trong một doanh nghiệp, đó là

hệ thống báo cáo kế toán quản trị Hệ thống báo cáo kế toán quản trị là nguồn thông tinchủ yếu để nhà quản trị đưa ra các quyết định hợp lý trong quá trình thực hiện các chứcnăng của mình

4 2 Nhóm phương pháp phân tích chỉ tiêu

a Phương pháp chi tiết

Mọi quá trình kinh doanh và kết quả kinh doanh đều có thể và cần thiết chi tiết theonhiều hướng khác nhau, nhằm đánh giá chính xác kết quả đạt được Để cung cấp đầy đủthông tin cho nhà quản trị trong việc ra quyết định quản lý, kế toán quản trị phải thườngxuyên sử dụng phương pháp chi tiết Cụ thể:

- Để cung cấp thông tin cho nhà quản trị đánh giá quá trình kinh doanh và kết quảkinh doanh của từng bộ phận, kế toán quản trị phải chi tiết chi phí và kết quả theo từng bộphận tham gia vào quá trình kinh doanh của doanh nghiệp

- Để cung cấp thông tin cho nhà quản trị đánh giá kết quả kinh doanh theo từng mặthàng, kế toán quản trị phải chi tiết chi phí và kết quả kinh doanh theo từng mặt hàng

- Để cung cấp thông tin cho nhà quản trị đánh giá tiến độ thực hiện các chỉ tiêu, kếtoán quản trị phải chi tiết các chỉ tiêu theo từng kỳ kinh doanh

Phương pháp chi tiết được kế toán quản trị sử dụng một cách linh hoạt, tuỳ theo đốitượng phản ánh và yêu cầu của nhà quản trị doanh nghiệp Phương pháp chi tiết là tiền đề

để vận dụng phương pháp tài khoản và lập báo cáo trong kế toán quản trị

b Phương pháp so sánh

Để thực hiện được chức năng của mình, kế toán quản trị phải thường xuyên sử dụngphương pháp so sánh để phân tích chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh theo từng bộphận, từng mặt hàng hoặc từng phương án Cụ thể:

Trang 8

- Khi lập báo cáo cung cấp thông tin cho nhà quản trị ra quyết định lựa chọn phương

án tối ưu thì kế toán quản trị phải so sánh chi phí và thu nhập của các phương án vớinhau

- Khi lập báo cáo phân tích tình hình sản xuất kinh doanh, kế toán quản trị phải sosánh tình hình thực hiện các chỉ tiêu với số kế hoạch, định mức, dự toán

Phương pháp so sánh trong kế toán quản trị thường được sử dụng khi lập các báocáo kế toán

c Phương pháp liên hệ

Khi thực hiện lập báo cáo kế toán, kế toán quản trị phải đứng trên quan điểm toàndiện, tức là phải phản ánh kết quả đạt được của từng mặt, từng hoạt động, quá trình, bộphận kinh doanh trong mối liên hệ phổ biến, có nghĩa là kế toán quản trị phải sử dụngphương pháp liên hệ

Phương pháp liên hệ được sử dụng thường xuyên trong kế toán quản trị là liên hệcân đối và liên hệ tuyến tính

Liên hệ cân đối có cơ sở là sự cân bằng về lượng giữa hai mặt của các yếu tố và kếtquả kinh doanh của đối tượng nghiên cứu Chẳng hạn, khi nghiên cứu tình hình lưuchuyển tiền tệ, kế toán quản trị phải sử dụng liên hệ cân đối giữa thu và chi, giữa huyđộng tiền và sử dụng tiền

Liên hệ tuyến tính là mối quan hệ chi phí - sản lượng - thu nhập - kết quả kinhdoanh theo một hướng xác định giữa đối tượng phản ánh và các nhân tố ảnh hưởng Liên

hệ tuyến tính được sử dụng phổ biến trong kế toán quản trị là mối liên hệ chi phí - sảnlượng - thu nhập - kết quả kinh doanh

Nhờ sử dụng phương pháp liên hệ mà kế toán quản trị có thể dự đoán tình hình sảnxuất kinh doanh của từng bộ phận của doanh nghiệp trong tương lai, giúp cho nhà quảntrị có quyết định lựa chọn phương án mới hoặc điều chỉnh kịp thời quá trình sản xuất -kinh doanh

Trang 9

II TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT

Có thể khẳng định rằng chi phí là một trong những thông tin quan trọng hàng đầutrong quá trình tổ chức điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà quản trị vàđứng trên giác độ kế toán, các thông tin các nhà quản trị cần hầu hết đều có liên quan đếnchi phí Tuy nhiên chi phí có thể được nhận diện dưới nhiều góc nhìn khác nhau, và sựnhìn nhận đó không ngoài mục đích phục vụ cho nhu cầu quản trị của doanh nghiệp

1 Chi phí và các cách phân loại chi phí

1.1 Khỏi niệm về chi phớ

Mục đích của kế toán quản trị trong lĩnh vực chi phí là nhằm cung cấp thông tinthích hợp, hữu ích và kịp thời cho việc ra quyết định kinh doanh của các nhà quản trị Vìthế, đối với kế toán quản trị, chi phí không chỉ đơn giản được nhận thức theo quan điểmcủa kế toán tài chính, mà nó còn phải được nhận diện theo nhiều phương diện khác nhau

để đáp ứng thông tin một cách toàn diện cho các nhà quản trị trong việc hoạch định, kiểmsoát và ra quyết định Theo đó, chi phí có thể là những phí tổn thực tế phát sinh gắn liềnvới hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp, chi phí cũng có thể lànhững phí tổn ước tính để thực hiện một dự án, hoặc là những lợi nhuận bị mất đi do lựachọn phương án, hy sinh cơ hội kinh doanh, và có những khoản chi phí đựơc kiểm soátbởi một cấp quản lý này nhưng lại không được kiểm soát bởi một cấp quản lý khác Vìvậy, khi nhận thức chi phí theo quan điểm kế toán quản trị, chúng ta còn phải chú trọngđến mục đích sử dụng, đến nhu cầu quản lý của các nhà quản trị cũng như ảnh hưởng củamôi trường kinh doanh đến sự hình thành và biến động của chi phí chứ không chỉ căn cứvào chứng cứ-chứng từ Do đó, việc phân loại chi phí theo nhiều tiêu thức khác nhaunhằm đáp ứng mục tiêu quản lý khác nhau là một yêu cầu cần thiết của kế toán quản trịchi phí sản xuất

1.2 Cỏc cỏch phõn loại chi phớ

a Phõn loại chi phớ theo chức năng hoạt động

Mục đích của việc phân loại chi phí theo chức năng hoạt động trong kế toán quản trị

là xác định rõ vai trò, chức năng hoạt động của chi phí trong quá trình hoạt động sản xuất

Trang 10

kinh doanh ở các doanh nghiệp và cung cấp thông tin có hệ thống cho việc lập các báocáo tài chính.

Theo chức năng hoạt động, chi phí được phân thành:

a.1 Chi phí sản xuất

Chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí có liên quan đến việc chế tạo sản phẩm trong một

kỳ nhất định Chi phí sản xuất gồm:

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

- Chi phí nhân công trực tiếp

- Chi phí sản xuất chung

Như vậy, chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí cần thiết để chế tạo sản phẩm, nhữngloại chi phí khác không gắn liền với việc sản xuất sản phẩm thì không được xếp vào chiphí sản xuất

a.2 Chi phí ngoài sản xuất

Để tổ chức và thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp còn phải thực hiệnmột số khoản chi phí ở khâu ngoài sản xuất được gọi là chi phí ngoài sản xuất

Chi phí ngoài sản xuất gồm:

- Chi phí bán hàng

- Chi phí quản lý doanh nghiệp

b.Phõn loại chi phớ theo mối quan hệ với bỏo cỏo tài chớnh

b.1 Chi phí thời kỳ: bao gồm những khoản chi phí phát sinh trong kỳ hạch toán.

Vì thế, chi phí thời kỳ là những chi phí trực tiếp làm giảm lợi tức trong kỳ mà chúng phátsinh Chi phí thời kỳ không phải là những chi phí tạo thành thực thể của sản phẩm haynằm trong các yếu tố cấu thành giá vốn của hàng hoá mua vào, mà là những khoản chiphí hoàn toàn biệt lập với quá trình sản xuất sản phẩm hoặc mua vào hàng hoá Vì vậy,chi phí thời kỳ bao gồm các chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

Trang 11

b.2 Chi phí sản phẩm: bao gồm các chi phí gắn liền với các sản phẩm được sản

xuất ra hoặc mua vào để bán lại Đối với các doanh nghiệp sản xuất, chi phí sản phẩmgồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, lao động trực tiếp và chi phí sản xuất chung Nhưvậy, chi phí sản phẩm luôn gắn liền với sản phẩm và chỉ được thu hồi khi sản phẩm tiêuthụ, còn khi chưa tiêu thụ thì chúng được nằm trong sản phẩm tồn kho

c Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí

Mục đích của cách phân loại chi phí này trong kế toán quản trị là cung cấp thông tin

phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm tra và chủ động điều tiết chi phí cho phù hợp

Dựa vào tính chất biến đổi của chi phí sản xuất trong mối quan hệ với sản lượng sảnphẩm, hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong kỳ của doanh nghiệp, chi phí sản xuất của doanhnghiệp được chia làm 2 loại:

c.1 Biến phí (chi phí biến đổi): Là tập hợp loại chi phí mà lượng tiêu hao của chúng

tỷ lệ thuận với sự biến đổi sản lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ sản xuất, mua vào hoặcbán ra trong kỳ

Biến phớ bao gồm:

+ Biến phớ thực thụ (tỷ lệ): Là những chi phí biến đổi tuyến tính (cùng một tỉ lệ) với

sự biến đổi của mức độ hoạt động Ví dụ như: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp biến đổituyến tính với số lượng sản phẩm được sản xuất ra, chi phí nhiên liệu biến đổi tuyến tínhvới số giờ máy hoạt động…

+ Biến phớ cấp bậc: Là những chi phí có thay đổi với mức độ hoạt động nhưngkhông tuyến tính Những chi phí này không thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi ít

Nó chỉ thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi ở một mức đáng kể nào đó

Trong khâu sản xuất, chi phí thuộc loại biến phí bao gồm: chi phí nguyên, vật liệu,chi phí nhân công, chi phí nhiên liệu, động lực liên quan trực tiếp đến sản lượng sảnphẩm, dịch vụ sản xuất ra trong kỳ

Ngày đăng: 05/11/2013, 21:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w