CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ QUÁ TRÌNH TIÊU THỤ VÀ KẾT QUẢ TIÊU THỤA/ TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ I/ Khái niệm và sự cần thiết của kế toán quản trị KTQT không chỉ thu nhận, x
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ QUÁ TRÌNH TIÊU THỤ VÀ KẾT QUẢ TIÊU THỤ
A/ TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
I/ Khái niệm và sự cần thiết của kế toán quản trị
KTQT không chỉ thu nhận, xử lý thông tin về các nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh,
đã ghi chép trong sổ kế toán mà đặt trọng tâm vào việc xử lý và cung cấp thông tin phục
vụ cho việc lập dự toán để đạt được các mục tiêu trong tương lai
2/ Sự cần thiết của việc áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp
Tất cả các nhà kinh doanh trong cơ chế thị trường đều kỳ vọng mang lại lợi nhuậntối đa, do vậy họ phải biết mình là ai, hoạt động SX - KD như thế nào, hiệu quả rasao…? Hàng loạt câu hỏi đặt ra cho nhà quản lý cần phải giải quyết một cách thoả đángnhất Để thực hiện chức năng quản lý của mình, nhà quản lý cần nhiều thông tin chi tiếthơn nhiều so với nhưng thông tin được cung cấp bởi kế toán tài chính Có những thôngtin nhà quản lý cần nhưng đối tượng bên ngoài lại không cần Ví dụ như: có chấp nhậnmột đơn đặt hàng đặc biệt với giá thấp hơn bình thường không? Có nên vay ngân hàng đểtài trợ cho những khoản thiếu hụt trong thu - chi hàng tháng không? Những thông tin mànhà quản lý cần phải phục vụ cho nhu cầu ra quyết định hàng ngày của nhà quản lý.Những thông tin như thế được cung cấp bởi kế toán quản trị KTQT là công cụ đắc lựccung cấp những thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh mà nhà quản lýcần
Một vấn đề nữa hết sức quan trọng làm cho KTQT ngày càng có vị trí và vai tròquan trọng trong việc tổ chức hệ thống thông tin kinh tế trong doanh nghiệp là khả năng
sử dụng các phương tiện kỹ thuật để thu thập, xử lý, phân tích, tổng hợp và truyền đạtthông tin Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình này đã làm tăng tốc
độ cung cấp thông tin mà KTQT đảm nhận
Vì vậy, KTQT ở các doanh nghiệp có ý nghĩa lớn lao để tăng cường khả năng hộinhập, tạo nên sự an tâm cho các nhà quản trị khi có trong tay một công cụ khoa học hỗtrợ cho quá trình quản lý điều hành doanh nghiệp
Trang 23/ Chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu của kế toán quản trị
a/ Chức năng
Nhà quản trị nhìn chung có bốn chức năng là: hoạch định, điều hành, kiểm soát và
ra quyết định Những chức năng này thường được nhà quản trị thực hiện cùng một lúc
Chức năng lập kế hoạch
Trong việc lập kế hoạch, người quản lý vạch ra những việc phải làm để đưa hoạtđộng của tổ chức doanh nghiệp hướng về các mục tiêu đã xác định như mục tiêu về lợinhuận, về sự tăng trưởng…Trong chức năng này, KTQT cung cấp những thông tin để racác quyết định về kế hoạch thông qua việc lượng hoá các mục tiêu của quản lý dưới dạngcác chỉ tiêu về số lượng và giá trị
Chức năng điều hành ( thực hiện kế hoạch)
Để việc thực hiện kế hoạch đạt được kết quả cao nhất, nhà quản trị sẽ quyết địnhcác phương pháp tốt nhất để tổ chức con người với các nguồn tài nguyên-vật lực KTQTphải cung cấp thông tin hàng ngày về tình hình hoạt động của tổ chức , về tài sản, chiphí, thu nhập…cả về mặt hiện vật và giá trị để phục vụ đắc lực cho nhà quản trị điều hànhtốt quá trình hoạt động của tổ chức
Chức năng Kiểm soát
Để thực hiện chức năng này, nhà quản trị phải dùng các phương pháp quản lý cầnthiết để đảm bảo cho từng bộ phận của tổ chức đều đi theo kế hoạch đã được vạch ra Đểcung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra của nhà quản lý, KTQT sẽ thiết kế các báo cáo
có dạng so sánh được, so sánh giữa thực tế với kế hoạch đã được lập, qua đó phát hiệnnhững khâu, những chỗ chưa đạt được của quá trình thực hiện các kế hoạch cũng nhưnhững chỉ tiêu chưa hợp lý trong kế hoạch đã lập, từ đó có những điều chỉnh thích hợptrong kế hoạch và trong quá trình thực hiện kế hoạch
Chức năng ra quyết định
Ra quyết định tự bản thân nó không phải là một chức năng riêng biệt Thực ra nó
là một bộ phận không thể tách rời của các chức năng mà chúng ta vừa nghiên cứu ở trên.Khi nhà quản trị ra một quyết định về kế hoạch, về điều hành hay về kiểm tra thì cũng cónghĩa là anh ta đã thực hiện chức năng ra quyết định hay nói cách khác thì thông quachức năng ra quyết định nhà quản trị thực hiện các chức năng còn lại của mình
b/ Nhiệm vụ
KTQT được hiểu là công cụ chuyên ngành của kế toán nhằm thực hiện quả trìnhnhận diện đo lường và truyền đạt thông tin hữu ích phục vụ cho việc quản lý và điều hànhhoạt động SX – KD của doanh nghiệp Tuỳ theo đặc điểm cụ thể tổ chức quản lý, trình
độ, yêu cầu quản lý cụ thể và đặc điểm SX – KD của từng loai hình doanh nghiệp và từng
Trang 3doanh nghiệp cụ thể để xác định rõ các chỉ tiêu cơ bản, chuẩn mực trong quản trị cần tuânthủ để phối hợp hài hoà giữa hai hệ thống kế toán ( Kế toán tài chính và Kế toán quản trị).Tuy nhiên về lý luận cũng như trong thực tế, KTQT cần phải thực hiện các công việc sau:
Thu thập, xủ lý thông tin, số liệu kế toán theo phạm vi, nội dung kế toán quản trịcủa đơn vị xác định theo từng thời kỳ Muốn vậy kế toán phải sử dụng hệ thống cácchứng từ và sổ sách để ghi chép một cách có hệ thống hoạt động kinh doanh hàng ngày
Kiểm tra giám sát các định mức, tiêu chuẩn, dự toán
Cung cấp thông tin theo yêu cầu quản trị nội bộ của đơn vị bằng báo cáo kế toánquản trị
Tổ chức phân tích thông tin phục vụ cho yêu cầu lập kế hoạch và ra quyết địnhcủa ban lãnh đạo doanh nghiệp
c/Mục tiêu
Thông qua các nhiệm vụ của mình, KTQT cố gắng đạt được các mục tiêu sau:
Biết được các thành phần chi phí, tính toán, tổng hợp chi phí sản xuất, giá thànhcho từng loại sản phẩm, từng loại công trình dịch vụ
Xây dựng các khoản dự toán ngân sách, cho các mục tiêu hoạt động
Kiểm soát quá trình thực hiện và giải trình các nguyên nhân chênh lệch chi phígiữa dự toán và thực tế
Cung cấp các thông tin cần thiết để có các quyết định kinh doanh hợp lý
II/ Phân loại chi phí trong kế toán quản trị
1/ Khái niệm
Chi phí được hiểu là toàn bộ những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá
mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong một thời kỳ nhất định và được biểu hiện bằng tiền
Theo chế độ kế toán ( chuẩn mực kế toán 01- Chuẩn mực chung ) thì chi phí làtổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoảntiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốnchủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho các cổ đông hoặc chủ sở hữu
2/ Phân loại chi phí
Trong kế toán quản trị, chi phí dược tiếp cận theo nhiều góc độ khác nhau phục vụcho nhu cầu quản trị chi phí trong doanh nghiệp Vì vậy, phân loại chi phí là công việchết sức cần thiết
2.1/ Phân loại theo chức năng hoạt động
Mục đích của việc phân loại chi phí theo chức năng hoạt động trong KTQT lànhằm xác định rõ vai trò, chức năng hoạt động của chi phí trong quá trình hoạt động SX –
KD ở doanh nghiệp, đồng thời là căn cứ dể tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩmcũng như cung cấp thông tin một cách có hệ thống cho việc lập các báo cáo tài chính
Trang 4Theo chức năng hoạt động, chi phí được phân thành chi phí sản xuất và chi phíngoài sản xuất.
a/ Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là toàn bộ những chi phí có liên quan đến việc chế tạo sản phẩmtrong một kỳ nhất định Chi phí sản xuất gồm ba khoản mục:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí sản xuất chung
Như vậy, chi phí sản xuất là toàn bộ những chi phí cần thiết để chế tạo sản phẩm,những chi phí khác không gắn liền với việc sản xuất sản phẩm thì không được xếp vàochi phí sản xuất
b/ Chi phí ngoài sản xuất
Để tổ chức và thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp còn phải thực hiệnmột số chi phí ở khâu ngoài sản xuất, được gọi là chi phí ngoài sản xuất Chi phí ngoàisản xuất bao gồm: Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí bán hàng: Bao gồm toàn bộ chi phí cần thiết để đẩy mạnh quá trình tiêuthụ hàng hoá và để đảm bảo việc đưa hàng hoá đến tay người tiêu dùng Bao gồm nhữngkhoản chi phí như chi phí tiếp thị, chi phí khuyến mãi, chi phí đóng gói sản phẩm…
Chi phí quản lý doanh nghiệp: Bao gồm những khoản chi phí liên quan với việc
tổ chức hành chính và các hoạt động văn phòng làm việc của doanh nghiệp Chi phí quản
lý doanh nghiệp gồm những khoản chi phí như lương cán bộ quản lý và nhân viên vănphòng, chi phí văn phòng…
2.2 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với báo cáo tài chính
a/ Chi phí sản phẩm
Chi phí sản phẩm là những chi phí liên quan trực tiếp đến các đơn vị sản phẩmđược sản xuất bởi một doanh nghiệp công nghiệp hoặc được mua vào bởi một doanhnghiệp thương mại
Đối với doanh nghiệp sản xuất chi phí sản phẩm bao gồm các chi phí: nguyên vậtliệu trực tiếp, nhân công trực tiếp, sản xuất chung và sau đó là chi phí sản xuất kinhdoanh dở dang và cuối cùng là thành phẩm nhập kho Đối với doanh nghiệp thương mạithì chi phí sản phẩm là giá trị hàng mua vào
Chi phí sản phẩm được trình bày trên bảng cân đối kế toán dưới khoản mục hàngtồn kho,bao gồm: sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hoá, hàng gửi đi bán
b/ Chi phí thời kỳ
Chi phí thời kỳ là những chi phí khi nó phát sinh thì làm giảm lợi tức của doanhnghiệp
Trang 5Chi phí thời kỳ được trình bày trên bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.Bao gồm: Giá vốn hàng xuất bán, Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp.
c/ Mối quan hệ giữa chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ
Xác định chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ là nhằm mục đích cho việc lập báocáo tài chính Trên bảng cân đối kế toán, chi phí sản phẩm là những khoản mục hàng tồnkho và khi thành phẩm, hàng hoá được tiêu thụ thì chi phí sản phẩm này trở thành chi phíthời kỳ thể hiện ở giá vốn của hàng xuất bán được ghi nhận trong kỳ và được trình bàytrên bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
2.3/ Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Đây là cách phân loại chi phí theo khả năng phản ứng hoặc thay đổi như thế nàocủa chi phí khi có những thay đổi xảy ra trong các mức độ hoạt động SX –KD Mức độhoạt động có thể hiểu là số lượng sản phẩm được sản xuất ra, số lượng sản phẩm đượctiêu thụ, số giờ mày hoạt động…Theo đó, chi phí được chia thành chi phí khả biến ( biếnphí), chi phí bất biến ( định phí) và chi phí hỗn hợp
a/ Biến phí
Đây là những chi phí mà về mặt tổng số sẽ thay đổi tỷ lệ thuận với sự thay đổimức độ hoạt động của doanh nghiệp Nghĩa là, mức dộ hoạt động tăng (hoặc giảm) thìbiến phí cũng tăng (hoặc giảm) theo với cùng một tỷ lệ Tuy nhiên, biến phí tính trên mộtđơn vị sản phẩm là không đổi
Các biến phí trong doanh nghiệp thường là: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chiphí lao động trực tiếp, tiền hoa hồng bán hàng, chi phí vận chuyển…
b/ Định phí
Định phí là những chi phí mà về mặt tổng số được coi là không thay đổi khi mức
độ hoạt động của doanh nghiệp thay đổi trong một giới hạn nhất định Tuy vậy, định phítính trên một đơn vị sản phẩm thì biến đổi tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt dộng Ví dụ:Khấu hao tài sản cố định (theo phương pháp đường thẳng), Tiền thuê nhà xưởng và máymóc thiết bị…
Định phí chỉ được xem là không thay đổi theo mức độ hoạt động khi mức độ hoạtđộng nằm trong giới hạn năng lực sản xuất của doanh nghiệp Khi doanh nghiệp mở rộngquy mô sản xuất, tăng cường đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, nhà cửa thì định phí sẽtăng lên đến một phạm vi hoạt động mới
Ngày nay, xu hướng trong các doanh nghiệp là tăng dần tỷ trọng của định phí vàgiảm dần tỷ trọng của biến phí Lý do là vì hiện nay các doanh nghiệp đều sử dụng cácmáy móc thiết bị trong quá trình sản xuất, do vậy chi phí lao động ngày càng giảm đểthay chỗ cho các chi phí khấu hao Tỷ trọng của định phí và biến phí trong mỗi doanhnghiệp còn phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp Ở những doanh nghiệp sản xuất do cần
Trang 6nhiều máy móc thiết bị, nhà xưởng…nên tỷ trọng của định phí thường lớn hơn nhữngdoanh nghiệp thương mại - loại hình doanh nghiệp chủ yếu là mua và bán hàng hoá nênthường có định phí thấp.
c/ Chi phí hỗn hợp
Chi phí hỗn hợp là những chi phí mà bao hàm cả yếu tố biến phí và định phí Ởmột mức hoạt động này thì chi phí hỗn hợp sẽ biểu hiện đặc điểm của định phí nhưng ởmột mức độ hoạt động khác thì chi phí biểu hiện những đặc điểm của biến phí
B/ TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ QUÁ TRÌNH TIÊU THỤ VÀ
KẾT QUẢ TIÊU THỤ HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ
I/ Tổng quan về tổ chức kế toán quản trị quá trình tiêu thụ và kết quả tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ
1/ Mục đích tổ chức kế toán quản trị quá trình tiêu thụ và kết quả tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ
Tiêu thụ là khâu cuối cùng cũng là khâu quan trọng và mấu chốt trong suốt quátrình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chỉ thông qua tiêu thụ, hàng hoá mới thểhiện được giá trị sử dụng từ đó doanh nghiệp mới có thể thu hồi được vốn và có lãi Mặtkhác, nhu cầu của xã hội ngày càng phong phú và đa dạng hơn, trong bối cảnh nền kinh
tế phát triển không ngừng, không một doanh nghiệp nào sản xuất một loại sản phẩm đơnđiệu mà cần sản xuất kinh doanh nhiều loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ khác nhau thìmới có thể thiên biến vạn hoá trong nền kinh tế năng động hiện nay
Vấn đề đặt ra cho các nhà doanh nghiệp là kinh doanh loại sản phẩm hàng hoá,dịch vụ nào, kinh doanh như thế nào và cho ai?
Người tiêu dùng bỏ tiền ra để mua những hàng hoá mà họ thích với số lượng mà
họ cần và giá cả mà họ chấp nhận chứ không phải mua những gì mà doanh nghiệp bán.Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải xem xét đến nhu cầu của xã hội dể sản xuất loại sảnphẩm nào, số lượng bao hiêu, giá cả như thế nào để đủ sức cạnh tranh với các doanhnghiệp khác Hơn nữa, trong cuộc cạnh tranh này buộc các doanh nghiệp phải sử dụngcác kỹ thuật, công nghệ tiên tiến để giảm hao phí lao động cá biệt, tăng thị phần tiêu thụ,tăng khối lượng hàng bán ra nhằm tăng doanh thu bán hàng
Để giúp nhà quản trị có những quyết định sáng suốt nhằm đạt được các mục tiêu
đề ra, KTQT bằng những phương pháp kỹ thuật riêng có của mình sẽ cung cấp cho nhàquản lý những thông tin hữu ích nhất
2/ Nội dung khái quát của tổ chức kế toán quản trị quá trình tiêu thụ và kết quả tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ
Như đã trình bày, KTQT phục vụ cho yêu cầu của nhà quản lý, mà mục đích yêucầu của mỗi doanh nghiệp cũng như đặc điểm tổ chức kinh doanh là khác nhau Tuy
Trang 7nhiên, để có đầy đủ thông tin về tình hình và kết quả tiêu thụ, tạo điều kiện cho nhà quảntrị ra các quyết định tối ưu, KTQT quá trình tiêu thụ và kết quả tiêu thụ cần thực hiện tốtcác công việc cơ bản sau:
Xây dựng kế hoạch, dự toán bán hàng và kế hoạch lợi nhuận theo từng mặt hàngchủ yếu, theo từng địa điểm kinh doanh hoặc theo từng chỉ tiêu phù hợp với yêu cầu quản
lý của doanh nghiệp
Tổ chức kế toán quản trị bán hàng và lợi nhuận theo từng chỉ tiêu kế hoạch, dựtoán đã xây dựng nhằm cung cấp thông tin một cách chi tiết, cụ thể, kịp thời cho nhà điềuhành
Tổ chức phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoach trên cơ sở nguồn sốliệu thực tế đã thu nhận được và kế hoạch dự toán đã đề ra
Đề xuất các kiến nghị giúp lãnh đạo doanh nghiệp có các quyết định phù hợpnhằm đẩy mạnh quá trình tiêu thu, tăng lợi nhuận
II/ Tổ chức hạch toán chi tiết quá trình tiêu thụ và kết quả tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ
Các nhà quản trị doanh nghiệp luôn luôn cần thông tin một cách chi tiết, cụ thể vềchi phí, doanh thu, và kết quả tiêu thụ của từng hoạt động, từng nhóm sản phẩm, hànghoá, dịch vụ dể đáp ứng nhu cầu quản lý vĩ mô cũng như vi mô, nhờ đó để có đượcnhững quyết định đúng đắn, kịp thời trong tiến trình phát triển của doanh nghiệp Việc kếtoán chi tiết quá trình tiêu thụ sẽ giúp nhà quản lý lựa chọn cơ cấu sản xuất kinh doanhhợp lý, cần mở rộng những mặt hàng nào và thu hẹp những mặt hàng nào để có hướngđầu tư đúng trong tương lai Tuy nhiên, mức độ chi tiết như thế nào phụ thộc vào đặcđiểm riêng của từng doanh nghiệp
1/ Tổ chức kế toán chi tiết doanh thu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính tổng hợp,
đa dạng Các doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh nhiều loại sản phẩm, hàng hoá,dịch vụ khác nhau Vì vậy, đối với tổ chức kế toán chi tiết doanh thu tiêu thụ ta có thể chitiết như sau:
Chi tiết theo từng đơn vị, bộ phận phụ thuộc như: cửa hàng, quầy hàng, xínghiệp…
Chi tiết theo từng mặt hàng, nhóm hàng
Chi tiết doanh thu bán hàng ra ngoài và nội bộ
Chi tiết theo từng phương thức bán hàng: bán buôn, bán lẻ, bán thu tiền ngay,bán trả chậm…
Trang 8Mặt khác, việc hạch toán doanh thu cần phải tôn trọng nguyên tắc chi phí vàdoanh thu của hoạt SX – KD thực tế phát sinh phù hợp với niên độ kế toán Do vậy,doanh thu nhận trước cũng phải hạch toán riêng.
Ngoài ra, việc chi tiết doanh thu còn phụ thuộc vào trình độ kế toán của đơn vịnhưng phải được tổ chức chi tiết sao cho thuận tiện đối với việc cung cấp thông tin cũngnhư hạch toán kết quả tiêu thụ
a/ Tổ chức hạch toán ban đầu phục vụ KT chi tiết doanh thu tiêu thụ
Để phục vụ cho kế toán chi tiết doanh thu tiêu thụ, doanh nghiệp vẫn sử dụng cácchứng từ bán hàng trong hệ thống chứng từ do bộ tài chính ban hành Song để đáp ứngyêu cầu hạch toán chi tiết doanh thu bán hàng, doanh nghiệp cần có thêm những quy địnhchi tiết ngay từ khâu lập chứng từ ban đầu
Những tiêu thức cần theo dõi chi tiết đã được in sẵn trên chứng từ thì cần ghi đầy
đủ, rõ ràng, chi tiết Chẳng hạn như tên khách hàng, tên mặt hàng, số lượng, đơn giá…
Những chi tiết cần theo dõi chi tiết nhưng chưa in sẵn trên chứng từ thì cần quyđịnh thêm một số chỉ tiêu bổ sung trên những chứng từ đó để phục vụ cho việc ghi sổ saunày đồng thời đáp ứng yêu cầu của kế toán chi tiết
b/ Tổ chức hệ thống sổ chi tiết doanh thu bán hàng
Từ đặc điểm của doanh nghiệp, sổ kế toán chi tiết doanh thu được mở theo các đốitượng hoặc theo từng ngành hàng, mặt hàng kinh doanh sao cho đáp ứng được yêu cầuquản lý, phù hợp với trình độ của nhân viên kế toán và hình thức kế toán mà doanhnghiệp áp dụng Kế toán có thể mở sổ chi tiết doanh thu bán hàng kết hợp với việc xácđịnh kết quả tiêu thụ trên cùng một sổ chi tiết Mỗi sổ chi tiết doanh thu chỉ theo dõi chomột loại hàng ( nhóm hàng )
Hàng ngày căn cứ vào chứng từ gốc phát sinh gồm: Hoá đơn GTGT, hoá đơn bánhàng, báo cáo bán hàng của các nhân viên bán hàng và các chứng từ khác để ghi vào sổ
kế toán chi tiết doanh thu tiêu thụ
Tuỳ từng doanh nghiệp và yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp có thể báo cáodoanh thu tiêu thụ riêng hoặc không lập báo cáo doanh thu mà lập báo cáo chi tiết kết quảtiêu thụ bởi trong báo cáo này có phản ánh doanh thu bán hàng nhằm thuận tiện cho việctheo dõi doanh thu và kết quả tiêu thụ một cách chi tiết
2/ Tổ chức chi tiết giá vốn hàng bán
Giá vốn hàng bán của sản phẩm hàng hoá được hiểu là chi phí kết tinh vào trongsản phẩm, là giá trị hàng xuất kho GVHB là cơ sở để định giá bán, để phân tích chi phí
và là căn cứ để xác định kết quả tiêu thụ Xác định được GVHB sẽ giúp cho việc xác địnhđược giá trị của hàng tồn kho đáp ứng được các quyết định ban hành hàng ngày Việc xác
Trang 9định giá vốn hàng bán phụ thuộc vào phương pháp tính giá mà doanh nghiệp áp dụng, cóthể tính theo một trong các phương pháp:
Phương pháp nhập trước- xuất trước
Phương pháp nhập sau- xuất trước
Phương pháp bình quân
Phương pháp thực tế đích danh
Trong thực tế việc ghi sổ nhập, xuất sản phẩm, hàng hoá hàng ngày theo giá thực
tế là rất phức tạp Để đơn giản trong công tác ghi sổ, kế toán có thể sử dụng giá hạch toántrong hạch toán chi tiết nhập, xuất kho sản phẩm, hàng hoá hàng ngày Giá hạch toán phảiđược cố định trong một kỳ hạch toán do vậy, kế toán phải quy định giá hạch toán chungcho các sản phẩm Cuối kỳ, kế toán sử dụng phương pháp hệ số giá để tính giá thực tế sảnphẩm, hàng hoá xuất bán trong kỳ Phương pháp này được xác định như sau:
Giá thực tế sp, Giá hạch toán sp Hệ số giá
Hàng hoá xuất = hàng hoá xuất X sản phẩm,
Bán trong kỳ bán trong kỳ hàng hoá
Trong đó:
Giá thực tế sp, hàng hoá + Giá thực tế sp, hàng hoá
Hệ số giá tồn đầu kỳ nhập trong kỳ
sản phẩm,
hàng hoá Giá hạch toán sp, hàng hoá + Giá hạch toán sp,hàng hoá
tồn đầu kỳ nhập trong kỳ
3/ Tổ chức chi tiết chi phí kinh doanh
a/ Tổ chức chi tiết chi phí bán hàng
Chi phí bán hàng ( CP BH ) là những chi phí liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm,hàng hoá, lao vụ, dịch vụ trong kỳ như: lương của nhân viên bán hàng, chi phí vậnchuyển, quảng cáo, chi phí bảo hành…Do chi phí bán hàng bao gồm nhiều nội dung khácnhau như vậy nên cần theo dõi chi tiết theo từng nội dung chi phí:
- Chi phí nhân viên
- Chi phí vật liệu bao bì
Trang 10Ngoài việc theo dõi chi tiết như trên, khoản chi phí này cần được theo dõi theotừng nơi phát sinh như chi phí theo từng cửa hàng, quầy hàng giúp cho việc quản lý chiphí chặt chẽ hơn.
Để cung cấp thông tin cho nhà quản trị ra các quyết định trong các tình huống kinhdoanh, chi phí này cần được theo dõi theo cách ứng xử Theo đó chi phí được phân thànhđịnh phí bán hàng và biến phí bán hàng, trong đó định phí được chia ra thành định phí bắtbuộc và định phí tuỳ ý Cuối kỳ, phân bổ cho từng sản phẩm, nhóm sản phẩm dã tiêu thụtheo tiêu thích hợp lý
b/ Tổ chức chi tiết chi phí quản lý doanh nghiệp ( CP QLDN )
Chi phí QLDN là chi phí quản lý chung liên quan đến toàn bộ hoạt động củadoanh nghiệp mà không tách riêng ra được cho bất kỳ một hoạt động nào Bao gồm chiphí: quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và chi phí chung khác Chi phí này cần đượctheo dõi theo từng nội dung chi phí:
- Chi phí nhân viên QLDN
- Chi phí vật liệu văn phòng
- Chi phí công cụ dụng cụ
- Chi phí khấu hao TSCĐ dùng cho quản lý doanh nghiệp
- Tiền thuê đất, nhà xưởng, thuế, phí và lệ phí
4/ Tổ chức hạch toán chi tiết kết quả tiêu thụ
Kết quả tiêu thụ là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng và khoản chi phí liênquan đến số sản phẩm, hàng hoá đã tiêu thụ gồm: giá vốn hàng bán, chi phí QLDN và chiphí BH
Tất cả các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên thị trường đều kỳ vọng mang lạilợi nhuận tối đa nhưng để đạt được, một trong những yếu tố quan trọng nhất là nhà quảntrị phải biết kết quả tiêu thụ của từng ngành hàng, nhóm sản phẩm…để lựa chọn cơ cấukinh doanh hợp lý Xuất phát từ yêu cầu quản trị doanh nghiệp, phương pháp tính giá,khả năng phân tích chi phí mà kết quả tiêu thụ cần thiết tổ chức chi tiết theo từng loại sảnphẩm, nhóm sản phẩm như sau: