1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên đất huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng

94 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên đất huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng Nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên đất huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng Nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên đất huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Phạm Thị Lan Anh

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN

ĐẤT HUYỆN HẠ LANG, TỈNH CAO BẰNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Hà Nội - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Cán bộ hướng dẫn: PGS TSKH Nguyễn Xuân Hải

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo - PGS.TSKH Nguyễn Xuân Hải là người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô trong bộ môn Thổ Nhưỡng và Môi trường đất – Khoa Môi trường - trường Đại học khoa học tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của Uỷ ban nhân dân huyện Hạ Lang, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phòng Kế hoạch Tài chính, ban quản lý dự án và Uỷ ban nhân dân các xã đã tạo điều kiện về thời gian và cung cấp số liệu cho đề tài này

Cảm ơn sự cổ vũ, động viên và giúp đỡ của gia đình, các anh, các chị đồng nghiệp, bè bạn trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Hà Nội, ngày… tháng … năm 2012

Tác giả luận văn

Phạm Thị Lan Anh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Sự cần thiết phải nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên đất 3

1.2 Một số khái niệm sử dụng trong đề tài 7

1.2.1 Một số khái niệm chung 7

1.2.2 Đánh giá đất đai……… 9

1.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất 13

1.2.3 Quy hoạch sử dụng đất 17

1.3 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững 19

1.4 Các nghiên cứu về đất và đánh giá đất ở Cao Bằng và Hạ Lang 20

1.4.1 Tại Cao Bằng………… 20

1.4.2 Tại huyện Hạ Lang 21

Chương II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Nội dung nghiên cứu 23

2.2 Phương pháp nghiên cứu 23

Chương III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội huyện Hạ Lang 25

3.1.1.Điều kiện tự nhiên 25

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 27

3.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất huyện Hạ Lang 40

3.2.1 Đặc điểm tài nguyên đất của huyện 40

3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất của huyện 48

3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện 56

3.3.1 Những căn cứ và tiêu chuẩn để đánh giá 56

3.3.2 Đánh giá các loại hình sử dụng đất được lựa chọn 57

3.4 Phân hạng thích nghi đất đai 62

3.5 Định hướng và các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng đất huyện Hạ Lang……… 68

Trang 5

3.5.1 Định hướng sử dụng đất dài hạn 68

3.5.2 Dự báo phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 huyện Hạ Lang 69

3.5.3 Định hướng diện tích phân bố cho một số loại hình sử dụng đất 75

3.5.4 Đề xuất các giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên đất 78

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 6

DANH MỤC BẢNG VÀ DANH MỤC HÌNH

1 Danh mục bảng

Bảng 3.8 Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá mức độ thích hợp các loại hình

Bảng 3.10 Thu nhập tính thành tiền của một số cây trồng chính

Bảng 3.11 Chi phí sản xuất của một số cây trồng chính trên địa bàn

Bảng 3.14 Yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất chính 63

Bảng 3.16 Dự báo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 huyện Hạ Lang 69

2 Danh mục hình

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

MỞ ĐẦU

Đất đai là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và tất cả các sinh vật

khác trên trái đất, nó đóng một vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống của con

người, không có đất đai con người không thể tồn tại được Đối với mỗi quốc gia,

đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của

đất nước, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa,

xã hội, an ninh và quốc phòng Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất đặc

biệt và chủ yếu, không gì có thể thay thế được

Kinh tế - xã hội phát triển mạnh, cùng với sự bùng nổ dân số đã làm cho mối

quan hệ giữa con người và đất đai ngày càng trở nên căng thẳng Những sai lầm của

con người trong quá trình sử dụng đất cùng với sự tác động của thiên nhiên đã và

đang làm hủy hoại môi trường đất, một số công năng của đất đai bị suy yếu đi Vấn

đề tổ chức quản lý và sử dụng đất đai đúng pháp luật, có hiệu quả cao và bền vững

càng trở nên quan trọng, bức xúc và mang tính toàn cầu, là vấn đề cấp thiết đang

được đặt ra cho các cấp, các ngành và các đối tượng sử dụng đất

Trong những năm qua nền kinh tế xã hội của Việt Nam có những bước tiến

rõ rệt, nhiều thành phần kinh tế đã và đang góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất

nước Trong đó, sản xuất nông nghiệp chiếm một tỉ trọng đáng kể trong tổng GDP

Để có được kết quả trên là nhờ sự nỗ lực vươn lên của tất cả các thành phần trong

xã hội, của những quyết định, chính sách hợp lý trong việc chuyển đổi cơ cấu cây

trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện môi trường sinh thái cụ thể của địa phương,

phù hợp với tập quán canh tác của nông dân và đặc biệt là đáp ứng được những đòi

hỏi của thị trường nông sản trong nước và trên thế giới

Tuy nhiên, vẫn còn đó những khó khăn trong sản xuất nông nghiệp mà chưa

thể ngày một ngày hai có thể giải quyết được, mặc dù trong những năm qua đã có

những cố gắng vượt bậc của ngành nông nghiệp nói chung và khuyến nông, khuyến

lâm nói riêng trong việc giới thiệu những tiến bộ kỹ thuật, những mô hình thành

công cho nông dân áp dụng và học hỏi

Trang 9

Hạ Lang là huyện vùng cao biên giới, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Cao Bằng Tình hình kinh tế - xã hội của huyện đang có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, dẫn đến nhu cầu sử dụng đất cho các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh tăng nhanh Trong khi nguồn tài nguyên đất đai chỉ có hạn lại chưa được khai thác triệt để Là một trong 62 huyện nghèo nhất cả nước, lấy kinh tế nông nghiệp làm chủ đạo, việc nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên đất nông nghiệp, đảm bảo phát triển đúng theo quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội là

việc làm hết sức cần thiết Do đó đề tài “Nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên đất

huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng” được tiến hành nghiên cứu nhằm đạt được những

mục tiêu sau:

- Phân tích hiện trạng sử dụng đất, đặc điểm tài nguyên đất và các loại hình

sử dụng đất hiện tại trên địa bàn huyện Hạ Lang – tỉnh Cao Bằng

- Đề xuất biện pháp sử dụng hợp lý tài nguyên đất nông nghiệp huyện Hạ Lang nhằm mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường, phù hợp với

quy hoạch sử dụng đất của huyện trong thời kỳ tới

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Sự cần thiết phải nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên đất

Hiện nay, trên thế giới, tổng diện tích đất tự nhiên là 148 triệu km2 Những loại đất tốt thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 12,6% Những loại đất quá xấu chiếm tới 40,5% Diện tích đất trồng trọt chỉ chiếm khoảng 10% tổng diện tích tự nhiên Đất đai thế giới phân bố không đều giữa các châu lục và các nước (châu Mỹ chiếm 35%, châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, Châu Đại Dương chiếm 6%) [8] Bước vào thế kỷ XXI với những thách thức về an ninh lương thực, dân số, môi trường sinh thái thì nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất lương thực, thực phẩm cơ bản đối với loài người [2] Nhu cầu của con người ngày càng tăng đã gây sức ép nặng nề lên đất, đặc biệt là đất nông nghiệp Đất nông nghiệp bị suy thoái, biến chất và ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng nông sản Ngày nay, thoái hoá đất và hoang mạc hoá là một trong những vấn đề môi trường và tài nguyên thiên nhiên mà nhiều quốc gia đang phải đối mặt và giải quyết nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực Đất khô cằn có ở mọi khu vực, chiếm hơn 40% bề mặt Trái đất Theo ước tính, có khoảng 10 - 20% diện tích đất khô cằn đã bị thoái hoá [26] Điều này đã gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp trên đất

Thật sự khi đất nông nghiệp bị thoái hoá đã đe doạ cuộc sống của con người Theo tổ chức Nông lương Liên Hiệp quốc (FAO) cho biết, tình trạng thoái hoá đất gia tăng đã khiến năng suất cây trồng giảm và có thể đe doạ tới tình hình an ninh lương thực đối với khoảng ¼ dân số trên thế giới Năng suất cây trồng giảm, giá lương thực tăng cao, nguồn dự trữ thấp.Trong khi đó nhu cầu tiêu dùng tăng và thiên tai đang là nguyên nhân gây nên tình trạng thiếu đói cho hàng triệu người ở các nước đang phát triển Theo ước tính của FAO, khoảng 1,5 tỷ người tương đương ¼ dân số thế giới sống phụ thuộc trực tiếp vào đất, vốn đang bị thoái hoá mạnh Trong thời gian dài, thoái hóa đất đang mở rộng trên phạm vi toàn thế giới và tác động tới hơn 20% diện tích đất nông nghiệp, 30% đất lâm nghiệp và 10% đất

Trang 11

đồng cỏ Sự xói mòn đất dẫn tới việc giảm năng suất đất đây cũng là nguy cơ mất

an ninh lương thực, phá hoại các nguồn tài nguyên và sinh thái làm mất đa dạng sinh học và các nguy cơ khác [8]

Việc con người khai thác và sử dụng bừa bãi không có khoa học làm cho đất nông nghiệp giảm về cả số lượng Nhiều vùng đất trên thế giới đã trở thành sa mạc không thể canh tác được, các hệ sinh thái đất khô cằn rất nhậy cảm với việc khai thác quá mức và sử dụng đất không hợp lý Nghèo đói, mất ổn định chính trị, phá rừng chăn thả quá mức và các hoạt động tưới tiêu nghèo nàn đều đóng góp vào sa mạc hóa Tại Châu Phi, phía nam Sahara, với 66% đất đai là sa mạc khô cằn đây là vùng đất đang gặp rất nhiều nguy cơ Khoảng 1,2 tỷ người của hơn 110 nước đang

bị đe dọa bởi vấn đề này [26]

Hàng năm gần 12 triệu ha rừng nhiệt đới bị tàn phá, nhiều nhất ở vùng Châu

Mỹ Latinh và Châu Á Braxin hàng năm mất 1,7 triệu ha rừng, Ấn Độ 1,5 triệu ha rừng, Inđônêxia 900.000 ha và Thái Lan gần 400.000 ha Đối với các nước có dân

số đông như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh sự suy thoái hóa đất ở, đất rừng đã tác động đáng kể tới nông nghiệp Đối với các nước như Campuchia, Lào nạn phá rừng làm củi đun, làm nương rẫy, xuất khẩu gỗ, chế biến các sản phẩm từ

gỗ phục vụ cho cuộc sống của cư dân đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng vốn rất phong phú [24]

Việc tàn phá rừng kéo theo sự hủy diệt của nhiều loài động vật, thực vật và làm mất tính đa dạng sinh học tự nhiên Cân bằng sinh thái bị phá vỡ làm hàng triệu

ha đất bị hoang mạc hóa

Việc chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp không bền vững sẽ làm trầm trọng vòng luẩn quẩn: suy thoái đất - mất đa dạng sinh học - biến đổi khí hậu Suy thoái đất làm nghèo dinh dưỡng, phá hủy cân bằng chu trình nước và góp phần làm mất an ninh lương thực, tỷ lệ nghèo đói gia tăng, cùng với mức tăng dân số và hàng loạt các nhu cầu của con người về các sản phẩm nông nghiệp ngày càng tăng thì cách tiếp cận quản

lý đất đai không bền vững rõ ràng là đã thất bại

Trang 12

Theo niên giám thống kê (2009), tổng diện tích đất tự nhiên cả nước là 33,105 triệu ha, trong đó diện tích sông suối và núi đá khoảng 1.370.100 ha (chiếm khoảng 4,16% diện tích đất tự nhiên), phần đất liền khoảng 31,1 triệu ha (chiếm khoảng 94,5% diện tích tự nhiên), và là 1 trong những nước có diện tích tự nhiên nhỏ, xếp vào nhóm thứ 5 trong nhóm nước có diện tích bình quân từ 0,3 – 0,5 ha/người, đứng thứ 203 trong số 218 nước trên thế giới Bình quân đất nông nghiệp 0,11 ha/người, thuộc nhóm 7 có mức bình quân diện tích đất từ 0,1 – 0,2 ha/người [1-trang 50]

Hiện nay, đất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản chiếm 79% diện tích đất (26,1 triệu ha) Đất sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp đã lên đến 3,7 triệu ha; đáng chú ý là diện tích đất chưa đưa vào sử dụng vẫn còn lớn, 3,3 triệu ha, chiếm 10% Phần lớn diện tích này là đất bị suy thoái và hoang mạc hóa, mất giá trị

sử dụng do quá trình khai thác không hợp lý Một phần đất này hiện đang được cải tạo thông qua các dự án trồng rừng, khoanh nuôi rừng và phục hồi đồi núi trọc [1]

Theo điều 13 Luật đất đai Việt Nam năm 2003 thì tổng diện tích đất tự nhiên được chia thành 3 nhóm lớn là: Nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp, nhóm đất chưa sử dụng [12] Diện tích đất tự nhiên nước ta có 33.093.857 ha (theo

số liệu kiểm kê năm 2010), trong đó có 26.100.160 ha là đất nông nghiệp, 3.670.186 ha là đất phi nông nghiệp, 3.323.512 ha là đất chưa sử dụng

Nhóm đất nông nghiệp bao gồm: Đất sản xuất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm), đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác

Diện tích đất sản xuất nông nghiệp nước ta là 10.117.893 ha chiếm 38,77% tổng diện tích đất nông nghiệp Diện tích đất lâm nghiệp là 15.249.025 ha chiếm 58,43% tổng diện tích đất nông nghiệp Diện tích đất nuôi trồng thủy sản là 690.218

ha chiếm 2,64% tổng diện tích đất nông nghiệp, đất làm muối là 17.562 ha chiếm 0,07% tổng diện tích đất nông nghiệp và đất nông nghiệp khác là 25.462 ha chiếm 0,10% tổng diện tích đất nông nghiệp [1]

Trải qua hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, nông nghiệp Việt Nam

Trang 13

đi qua chặng đường dài phát triển đã có những thành tựu nổi bật, nhưng cũng đã có những sự thay đổi về số lượng cũng như chất lượng đất nông nghiệp

Thực tế mấy năm trở lại đây, cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp lại Tình trạng phổ biến hiện nay là việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất: quỹ đất nông nghiệp được chuyển đổi thành đất công nghiệp, xây dựng và giao thông Tỷ lệ diện tích đất phi nông nghiệp trên diện tích nông nghiệp có xu hướng tăng Năm 2006, tỷ lệ này là 0,133% và đến năm 2009 tỷ lệ tăng 0,138% Nghiên cứu ở vùng đồng bằng sông Hồng, nơi tốc độ đô thị hóa diễn ra sôi động nhất cả nước thì trung bình mỗi năm quỹ đất nông nghiệp bị mất khoảng 0,43% [1]

Trước tình hình quỹ đất nông nghiệp ngày càng giảm, Chính phủ đã có những biện pháp chỉ đạo rất quyết liệt Tại công văn số 2031/VPCP – CN ngày 31/3/2008 và Quyết định số 391/QĐ-TTg ngày 18/4/2008, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo không phát triển khu công nghiệp trên đất nông nghiệp có năng suất ổn định Nghị quyết số 63/2009/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 23/12/2009 về bảo đảm an ninh lương thực quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 cũng chỉ rõ, diện tích đất lúa cần giữ là 3,8 triệu ha Tuy nhiên, theo dự báo, từ nay đến năm 2030, nhu cầu chuyển đất lúa sang các mục đích khác còn tiếp tục tăng khoảng

500 nghìn ha Đây là một sức ép rất lớn đối với tài nguyên và môi trường đất [1]

Thoái hóa đất đang là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn ở nước

ta, đặc biệt là ở vùng miền núi, nơi tập trung ¾ quỹ đất Các dạng thoái hoá đất chủ yếu là: Xói mòn, rửa trôi, đất có độ phì nhiêu thấp và mất cân bằng dinh dưỡng, đất chua hoá, mặn hoá, phèn hoá bạc mầu, khô hạn và sa mạc hoá, đất ngập úng, lũ quét, đất trượt và sạt lở, ô nhiễm đất

Trên 50% diện tích đất (3,2 triệu ha) ở vùng đồng bằng và trên 60% diện tích đất (13 triệu ha) ở vùng miền núi có những vấn đề liên quan tới quá trình suy thoái hóa đất, ở miền núi, nguyên nhân suy thoái hóa đất có nhiều, song chủ yếu do phương thức canh tác nương rẫy còn thô sơ, lạc hậu của các dân tộc thiểu số, tình trạng chặt phá, đốt rừng bừa bãi, khai thác tài nguyên khoáng sản không hợp lý, lạm

Trang 14

dụng các chất hữu cơ trong sản xuất, việc triển khai các công trình giao thông, nhà ở,…Sự suy thoái môi trường đất kéo theo sự suy thoái các quần thể động, thực vật

và chiều hướng giảm diện tích đất nông nghiệp trên đầu người đã tới mức báo động [6]

Theo thống kê của Cục Lâm nghiệp (2008), Việt Nam hiện nay có khoảng 9,3 triệu ha đất liên quan tới sa mạc hoá, chiếm 28% tổng diện tích đất trên toàn quốc Trong đó có khoảng 2 triệu ha đất đang được sử dụng nhưng đã bị thoái hoá nặng và 2 triệu ha đang có nguy cơ thoái hóa cao Nước ta đã xuất hiện hiện tượng

sa mạc hoá cục bộ tại các giải đất hẹp dọc bờ biển miền Trung [1]

Đây thực sự là những vấn đề đáng lo ngại và là thách thức lớn với một nước nông nghiệp như nước ta hiện nay, việc sử dụng đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa thiếu thận trọng vào bất cứ việc gì cũng đều gây lãng phí và con cháu chúng ta sẽ gánh chịu những hậu quả khó lường

Để giải quyết nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp, con người phải thâm canh, tăng vụ, tăng năng suất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp.Việc điều tra, nghiên cứu đất đai để nắm vững số lượng và chất lượng đất bao gồm điều tra lập bản đồ đất, đánh giá hiện trạng sử dụng đất, đánh giá phân hạng đất và quy hoạch sử dụng đất hợp lý là vấn đề đặc biệt quan trọng mà các quốc gia đang rất quan tâm nhằm ngăn chặn những suy thoái tài nguyên đất đai do sự thiếu hiểu biết của con người, đồng thời nhằm hướng dẫn những quyết định về sử dụng và quản lý đất đai sao cho nguồn tài nguyên này có thể được khai thác tốt nhất mà vẫn duy trì được sức sản xuất của nó trong tương lai

1.2 Một số khái niệm sử dụng trong đề tài

1.2.1 Một số khái niệm chung

+ Đất (Soil): Cho tới nay có nhiều định nghĩa về đất, nhưng định nghĩa của Đacutraep (1879) – nhà thổ nhưỡng học người Nga được thừa nhận rộng rãi nhất Theo tác giả này thì: Đất là vật thể tự nhiên được hình thành qua một thời gian dài

do kết quả tác động tổng hợp của 5 yếu tố: đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian

Trang 15

Đất là một hệ thống hở Các hoạt động thêm vào đất, mất khỏi đất, chuyển dịch

vị trí trong đất và hoạt động chuyển hóa trong đất xảy ra liên tục Chất lượng của đất phụ thuộc vào đá mẹ, khí hậu, cỏ cây và sinh vật sống trên và trong lòng đất, đặc biệt phụ thuộc vào tác động của con người đối với đất đai

+ Đất đai (Land): Theo cách định nghĩa của tổ chức FAO thì: “Đất đai là một tổng thể vật chất, bao gồm cả sự kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên của thực thể vật chất đó” Cũng có những quan điểm tổng hợp hơn cho rằng đất đai là những tài nguyên sinh thái và tài nguyên kinh tế, xã hội của một tổng thể vật chất Theo quan điểm đó, đất đai là một phần diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm cả các yếu tố cấu thành môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đất như khí hậu, thổ nhưỡng, dạng địa hình, địa mạo, nước mặt (hồ, sông, suối, đầm lầy, v.v

…) các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả hoạt động của con người trong quá khứ

và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước, hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà

+ Loại hình sử dụng đất đai (Land Uniliztion Type – LUT): một kiểu sử dụng đất đai cụ thể được miêu tả và xác định theo mức độ chi tiết từ các loại hình

sử dụng đất chính Trong phạm vi nền nông nghiệp có tưới, loại hình sử dụng đất đai có liên quan đến mùa vụ, kết hợp mùa vụ hoặc hệ thống cây trồng cùng các phương pháp quản lý và được xác định trong môi trường kỹ thuật và kinh tế xã hội xác định

Trang 16

+ Hệ thống sử dụng đất đai (Land Use System – LUS): là một tổ hợp của các loại hình sử dụng đất và đơn vị đất đai LUS = LUT + LMU

+ Yêu cầu sử dụng đất đai (Land Use Requirement _ LUR): là những điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đến năng suất và sự ổn định của loại hình sử dụng đất đai hay đến tình trạng quản lý và thực hiện loại hình sử dụng đất đai đó Những yêu cầu sử dụng đất đai thường được xem xét từ chất lượng đất đai của vùng nghiên cứu Yêu cầu sử dụng đất đai được định nghĩa như là những điều kiện cần thiết để thực hiện thành công và bền vững một loại hình sử dụng đất [5]

Để đưa ra những định hướng và giải pháp nhằm sử dụng đất hợp lý thì khâu đánh giá tiềm năng đất đai để xác định những thuận lợi và khó khăn cho việc sử dụng đất là thiết yếu Bên cạnh đó cần đánh giá, phân tích hiện trạng sử dụng đất và hiệu quả những loại hình sử dụng đất hiện có

1.2.2 Đánh giá đất đai

Có thể nói rằng thuật ngữ đánh giá đất đai (ĐGĐĐ) được sử dụng từ năm

1950 tại Hội nghị các nhà khoa học đất thế giới ở Amsterdam (Hà Lan) Năm 1968, tại hội nghị chuyên đề về đánh giá đất đai tại Canbera, khái niệm đánh giá đất đai được đưa ra tương tự như định nghĩa của Stewart (1968) như sau: Đánh giá đất đai

là “Sự đánh giá khả năng thích hợp của đất đai cho việc sử dụng của con người vào nông nghiệp, lâm nghiệp, thiết kế thủy lợi, quy hoạch sử dụng đất đai…” Hay nói cách khác đi là “Đánh giá đất đai nhằm mục tiêu cung cấp những thông tin về thuận lợi và khó khăn cho việc sử dụng đất đai, làm căn cứ cho việc đưa ra những quyết định cho sử dụng và quản lý đất đai”

Năm 1976 FAO đã đề xuất định nghĩa về: ĐGĐĐ là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt, khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại hình sử dụng đất yêu cầu phải có

Theo FAO, mục tiêu chính của đánh giá đất đai là đánh giá khả năng thích hợp (Suitability) các dạng đất khác nhau đối với các loại hình sử dụng đất riêng biệt

đã lựa chọn Các dạng đất đai thường được mô tả và phân lập thành các đơn vị trên bản đồ, được gọi là đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit)

Trang 17

Như vậy, trong đánh giá phân hạng đất đai người ta yêu cầu phải có hai nguồn thông tin: Những kết quả của công tác điều tra khảo sát đất đai xác định theo

hệ thống phân loại đất và những khoanh đất, từ đó xác định được đặc tính, tính chất vốn có của từng khoanh đất Còn qua việc đề xuất những loại hình sử dụng đất, người ta sẽ nêu được đặc tính, tính chất đất đai ấy hoạt động có kết quả Đánh giá đất đai được tiến hành xem xét trên phạm vi rất rộng, bao hàm cả không gian, điều kiện tự nhiên – kinh tế, xã hội và môi trường Những đặc điểm của đất đai sử dụng trong đánh giá đất đai là những tính chất mà ta có thể đo lường hay ước lượng được những thuận lợi khó khăn, đề xuất được những giải pháp phù hợp nhằm sử dụng đất hợp lý và đạt hiệu quả

Phương pháp đánh giá đất đai của FAO:

Đặc điểm đất đai được sử dụng trong đánh giá phân hạng đất của FAO là những tính chất của đất đai mà có thể đo lường hoặc ước lượng được Người ta có thể chọn nhiều đặc điểm hoặc đôi khi chỉ có thể lựa chọn một số đặc điểm đất đai chính có vai trò tác động trực tiếp và có ý nghĩa đối với mục đích hay vùng nghiên cứu Trong đánh giá, yếu tố thổ nhưỡng là phần đặc biệt quan trọng, song các lĩnh vực tự nhiên, kinh tế - xã hội cũng phải được xác định trong đánh giá

Có thể nói, đánh giá đất đai của FAO đã kết hợp và kế thừa giữa các phương pháp đánh giá đất của Liên Xô (cũ) (thiên về yếu tố chất lượng đất) và của Hoa Kỳ (thiên về yêu cầu của cây trồng), trên cơ sở đó phát triển, hoàn chỉnh và đưa ra phương pháp đánh giá thích hợp cho từng mục đích sử dụng đất đai

Phương pháp của FAO đề ra 6 nguyên tắc cơ bản trong việc đánh giá đất là (FAO,1990):

- Các loại hình sử dụng đất đai được lựa chọn phải phù hợp với mục tiêu phát triển vùng hay quốc gia, cũng như phải phù hợp với bối cảnh và đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vựa nghiên cứu

- Các loại sử dụng đất cần được mô tả và định rõ các thuộc tính về kỹ thuật

và kinh tế - xã hội

Trang 18

- Việc đánh giá đất bao gồm sự so sánh của hai hay nhiều loại hình sử dụng đất

- Khả năng thích hợp của đất đai cần đặt trên cơ sở sử dụng đất bền vững

- Đánh giá khả năng thích hợp của đất bao gồm cả sự so sánh về năng suất (lợi ích) thu được và đầu tư (chi phí) cần thiết của loại hình sử dụng đất

- Đánh giá đất đai đòi hỏi một số phương pháp tổng hợp đa ngành

Trình tự cơ bản của đánh giá đất đai theo FAO: Các bước thực hiện của đánh giá đất đai tùy thuộc vào mục tiêu và mức độ chi tiết của nghiên cứu Tuy nhiên các bước tiến hành tổng quát là:

1 Lựa chọn và mô tả các loại hình sử dụng đất phù hợp với chính sách, mục tiêu phát triển các điều kiện tổng quát về sinh thái tự nhiên – tập quán sử dụng đất

và bối cảnh kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu

2 Xác định yêu cầu sử dụng đất của mỗi loại hình sử dụng đất đai được lựa chọn

3 Khoanh các đơn vị đất đai dựa vào các kết quả khảo sát tài nguyên đất đai (như thổ nhưỡng, thủy văn, khí hậu ) Mỗi đơn vị đất đai sẽ có một tính chất (như

độ dốc, tầng dầy loại đất, loại đất, tình trạng ngập úng, lượng mưa ) khác với đơn

vị lân cận

4 Mô tả các đơn vị đất đai, bao gồm cả việc xem xét chất lượng đất của từng đơn vị đất đai, đây là những yếu tố có tác động trực tiếp đến khả năng thực hiện các loại hình sử dụng đất được lựa chọn

5 So sánh giữa yêu cầu sử dụng đất của mỗi loại hình sử dụng đất với chất lượng đất của từng đơn vị đất đai trong vùng nghiên cứu Qua đó khả năng thích hợp của từng đơn vị đất đai đối với mỗi loại hình sử dụng được thiết lập Phân loại thích hợp đất đai có thể bao gồm: (1) khả năng thích hợp trong điều kiện đất đai hiện tại và (2) khả năng thích hợp trong điều kiện đất đai sẽ được cải tạo

6 Phân tích những tác động môi trường có thể xảy ra và các vấn đề kinh tế -

xã hội trong quá trình thực hiện các loại hình sử dụng đất được đánh giá Qua đó, đưa ra phân loại cuối cùng của khả năng thích hợp đất đai

Trang 19

ánh giá đất đai Việt Nam

Ở Việt Nam phân hạng đánh giá đất đai đã có từ lâu, phân hạng điền thu thuế

là một trong những phương pháp được thực hiện đầu tiên và đã đưa ra khái niệm phân hạng ruộng tốt, ruộng xấu (nhất đẳng điền, nhị đẳng điền,…) nhưng chưa xác định được nội dung, phương pháp cụ thể Về cơ bản có thể hiểu là: việc phân hạng dựa theo phương pháp chủ quan, kinh nghiệm và bình chọn

Từ đầu những năm 1970, công tác đánh giá đất mới được xem như là một môn khoa học với các công trình nghiên cứu phân hạng đất lúa Bùi Quang Toản cùng nhiều nhà khoa học của Viện Nông hóa thổ nhưỡng đã nghiên cứu và thực hiện công tác đánh giá đất, phân hạng đất ở 23 huyện, 286 hợp tác xã và 9 vùng chuyên canh

Năm 1981, thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục Quản lý Ruộng đất đã ban hành dự thảo phương pháp phân hạng đất Đây là tài liệu hướng dẫn vừa mang tính khoa học vừa mang tính thực tiễn có thể áp dụng trên một diện rộng nhưng không tránh khỏi mang tính chủ quan Nguyên lý cơ bản của phương pháp này là tính toán mối tương quan nhiều chiều giữa các yếu tố tự nhiên và năng suất cây trồng trong đó có sự tham gia của con người Phương pháp xác định hạng được thực hiện theo kiểu sắp xếp theo thứ tự mối tương quan từ nhiều đến ít giữa năng suất của các yếu tố phân hạng

Phân loại khả năng thích hợp đất đai (Land suitability classification) của FAO đã được áp dụng đầu tiên trong nghiên cứu “Đánh giá và quy hoạch sử dụng đất hoang Việt Nam” (Bùi Quang Toản và nnk, 1985) Tuy nhiên trong nghiên cứu này việc đánh giá chỉ dựa vào các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, điều kiện thủy văn, khả năng tưới tiêu và khí hậu nông nghiệp) và việc phân cấp dừng lại ở lớp phân vị cấp thích hợp (Suitable – class)

Năm 1986, đánh giá phân hạng đất toàn quốc (Tôn Thất Chiểu và nnk,1986) được thực hiện ở tỷ lệ bản đồ 1/500.000 dựa trên phân loại khả năng thích hợp đất đai (Land Capability Classfication) của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, chỉ tiêu sử dụng

là đặc điểm thổ nhưỡng và địa hình Mục tiêu nhằm sử dụng đất đai tổng hợp Có 7

Trang 20

nhóm đất đai được phân lập cho sản xuất nông nghiệp (4 nhóm đầu), cho sản xuất lâm nghiệp (2 nhóm kế tiếp) và mục đích khác (1 nhóm cuối cùng)

Năm 1989, trong chương trình 48C, Viện Thổ Nhưỡng Nông hóa do Vũ Cao Thái chủ trì đã nghiên cứu đánh giá, phân hạng đất Tây Nguyên với cây cao su, cà phê, chè, dâu tằm Đề tài đã vận dụng phương pháp đánh giá khái quát

Từ năm 1992, phương pháp đánh giá đất của FAO và các hướng dẫn tiếp theo (1983, 1985, 1987, 1992) được Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp áp dụng rộng rãi trong các dự án quy hoạch phát triển Nhìn chung, trong nhiều công trình, căn cứ để xác định phân hạng đất đai thường gồm 5 yếu tố: chất đất, vị trí, địa hình, điều kiện thời tiết khí hậu, điều kiện tưới tiêu

Về mặt kỹ thuật, đánh giá đất ở Việt Nam chủ yếu sử dụng các tính chất đất đai để xây dựng đơn vị đất (Land units) và phổ biến sử dụng phương pháp hạn chế nhiều nhất (Maximum limiting method) để phân cấp thích hợp

1.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất

1.2.3.1.Khái quát hiệu quả sử dụng đất

Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả Khi nhận thức của con người còn hạn chế, người ta thường quan niệm kết quả và hiệu quả là một Sau này khi nhận thức của con người phát triển cao hơn, người ta thấy rõ sự khác nhau giữa kết quả và hiệu quả

Ngày nay các nhà nghiên cứu cho rằng: việc xác định đúng khái niệm, bản chất của hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những

lý luận của lý thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường [8]

Theo FAO (1994), Hiệu quả sử dụng đất có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông - lâm nghiệp, đến môi trường sinh thái, đến đời sống người nông dân Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào

ba tiêu chuẩn chung là bền vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trường

Hệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền

Trang 21

sản xuất hàng hoá và với tất cả các phạm trù

Nó được thể hiện bằng hệ thống các chỉ tiêu nhằm phản ánh các mục tiêu cụ thể của các cơ sở sản xuất phù hợp với yêu cầu của xã hội và được xác định bằng cách so sánh kết quả thu được với chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu phản ánh trình độ và chất lượng sử dụng các yếu tố của sản xuất - kinh doanh nhằm đạt được kết quả kinh tế tối đa với chi phí tối thiểu

Tuy nhiên trong khái niệm hiệu quả kinh tế chỉ hoàn thiện khi mà trong đó sản xuất đạt được hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối

Hiệu quả kỹ thuật: phản ánh một giá trị sản phẩm thu được trên một đơn vị chi phí đầu vào

Hiệu quả phân phối: phản ánh bằng giả trị sản phẩm tăng thêm trên một chi phí tăng thêm

Có nghĩa cả hai yếu tố: giá trị sản phẩm/1 đơn vị chi phí cao và giá trị sản phẩm tăng thêm /1 đơn vị chi phí tăng thêm cao

Hiệu quả kinh tế được quan tâm hàng đầu là khâu trung tâm để đạt được các loại hiệu quả khác.Thể hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế, tài chính

Hiệu quả xã hội

Phản ánh mối quan hệ lợi ích giữa con người với con người, có tác động tới hiệu quả kinh tế Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất hiện nay là phải thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nội lực và nguồn lực của địa phương được phát huy; đáp ứng nhu cầu của hộ nông dân về ăn, mặc, và nhu cầu sống khác Sử dụng đất phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc sử dụng đó bền vững hơn, ngược lại sẽ không được người dân ủng hộ

Theo Nguyễn Duy Tính (1995), hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp

Hiệu quả môi trường

Hiệu quả môi trường đảm bảo tính bền vững cho hiệu quả kinh tế và hiệu

Trang 22

quả xã hội Đang được nhân loại rất quan tâm, phản ánh bằng các chỉ tiêu kinh tế,

kỹ thuật

Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ mầu mỡ của đất đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài [8]

1.2.3.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

- Cơ sở để lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:

+ Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp + Nhu cầu của địa phương về phát triển hoặc thay đổi loại hình sử dụng đất nông nghiệp

- Nguyên tắc khi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:

+ Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ thống Các chỉ tiêu phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có thang bậc

+ Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu cơ bản biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn theo quan điểm và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu cơ bản, làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn

+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp

ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu

+ Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học và phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển

- Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:

Bản chất của hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả và chi phí Mối quan hệ

Trang 23

này có thể là quan hệ hiệu số hoặc quan hệ thương số nên dạng tổng quát của hệ thống chỉ tiêu hiệu quả:

H = K – C H = K/C

H= (K-C)/C H = (K1-K0)/(C1-C0)

Trong đó:

H: hiệu quả; K: Kết quả; C: Chi phí; 1 và 0 là chỉ số về thời gian

* Hiệu quả kinh tế:

- Hiệu quả tính trên 1 ha đất nông nghiệp

+ Giá trị sản xuất (GTSX): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo

ra trong một kỳ nhất định (thường là một năm)

+ Chi phí trung gian (CPTG) là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền

mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất

+ Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa GTSX và chi phí trung gian (CPTG), là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó

GTGT= GTSX - CPTG

- Hiệu quả kinh tế tính trên một đồng CPTG, bao gồm GTSX/CPTG và GTGT/CPTG đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả Nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ

- Hiệu quả kinh tế trên một ngày công lao động (LĐ) quy đổi ra GTGT/LĐ Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng, làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao động

Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị tuyệt đối) bằng tiền theo thời giá hiện hành, định tính (giá trị tương đối) được tính bằng mức độ cao, thấp Các chỉ tiêu đạt được mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn [8]

* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội

Theo hội khoa học đất Việt Nam (2000) [8], hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu sau:

- Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân

Trang 24

- Đáp ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng

- Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân

- Góp phần định canh, định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật

- Tăng cường sản phẩm hàng hoá, đặc biệt là hàng xuất khẩu

* Các chỉ tiêu hiệu quả môi trường

Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong thời gian dài Vì vậy, đề tài chỉ dừng lại ở việc đánh giá:

- Mức độ thích hợp của hệ thống cây trồng đối với đất ( tỷ lệ các loại cây trồng có khả năng cải tạo đất và bảo vệ đất )

- Mức đầu tư phân bón ( đánh giá mức đầu tư phân bón vô cơ và hữu cơ)

- Mức đầu tư TBVTV ( đánh giá mức đầu tư TBVTV có nguồn gốc hoá học và TBVTV có nguồn gốc sinh học)

Khi nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất có rất nhiều cách nhận thức khác nhau Có quan điểm cho rằng quy hoạch sử dụng đất chỉ đơn thuần là biện pháp kỹ thuật nhằm thực hiện việc đo đạc, vẽ bản đồ đất đai, phân chia diện tích đất, giao đất cho các ngành và thiết kế xây dựng đồng ruộng Bên cạnh đó, có quan điểm lại cho rằng quy hoạch sử dụng đất được xây dựng trên các quy phạm của Nhà nước nhằm nhấn mạnh tính pháp chế của quy hoạch sử dụng đất đai Tuy nhiên, đối với

Trang 25

cả hai cách nhận thức trên bản chất của quy hoạch sử dụng đất không được thể hiện đúng và đầy đủ vì bản thân của quy hoạch sử dụng đất không nằm trong kỹ thuật đo đạc và cũng không thuộc về hình thức pháp lý mà nó nằm bên trong việc tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất đặc biệt, coi đất như đối tượng của các mối quan

hệ xã hội trong sản xuất Như vậy, quy hoạch sử dụng đất sẽ là một hoạt động vừa mang tính kỹ thuật, tính kinh tế và tính pháp lý Cụ thể:

- Tính kỹ thuật: Trong quy hoạch sử dụng đất sẽ sử dụng các công tác

chuyên môn như điều tra, khảo sát, đo đạc, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu để tính toán và thống kê diện tích đất đai, thiết kế, phân chia khoảnh thửa Từ

đó, tạo điều kiện tổ chức sử dụng đất hợp lý trên cơ sở tiến bộ của khoa học kỹ thuật

- Tính pháp chế: Biểu hiện của tính pháp chế thể hiện ở chỗ đất đai được nhà

nước giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào các mục đích cụ thể đã được xác định theo phương án quy hoạch sử dụng đất

- Tính kinh tế: Khi giao đất, thông qua phương án quy hoạch sử dụng đất nhà

nước đã xác định rõ mục đích sử dụng của diện tích được giao Đây chính là biện pháp quan trọng nhất nhằm khai thác triệt để và có hiệu quả cao tiềm năng đất đai

Ở đây đã thể hiện rõ tính kinh tế của quy hoạch sử dụng đất Song, điều này chỉ đạt được khi tiến hành đồng bộ cùng với biện pháp kỹ thuật và pháp chế

Từ đó có thể rút ra khái niệm quy hoạch sử dụng đất như sau: Quy hoạch sử

dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của nhà nước

về tổ chức và sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cả nước, tổ chức sử dụng đất như một

tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường

Từ những phân tích nêu trên cho thấy, việc lập quy hoạch sử dụng đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ cho trước mắt mà cả lâu dài Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất được tiến hành nhằm định hướng cho các

Trang 26

cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất chi tiết của mình, từ đó xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý nhà nước về đất đai, làm cơ sở để giao đất và đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực và phục vụ các nhu cầu dân sinh, nhu cầu văn hóa xã hội

Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất đai theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh trình trạng chuyển mục đích tùy tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông lâm nghiệp Ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm hủy hoại đất, phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế xã hội và các hậu quả khó lường về bất ổn chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương, đặc biệt

là trong giai đoạn chuyển dần sang nền kinh tế thị trường [14]

1.3 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững

* Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp

Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu của con người về các sản phẩm được lấy từ đất ngày càng tăng Mặt khác đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do bị trưng dụng sang các mục đích khác Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp

ở nước ta cần hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu Sử dụng đất nông nghiệp dựa trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên đất đai Do đó đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ và hợp lý”

* Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững:

Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” được dựa trên các quan điểm sau:

- Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất

- Giảm thiểu mức rủi ro trong sản xuất

- Bảo vệ tài nguyên tự nhiên và ngăn chặn sự thoái hóa đất và nước

Trang 27

- Có hiệu quả lâu bền

- Được xã hội chấp nhận [15]

Năm nguyên tắc trên là cốt lõi của việc sử dụng đất đai bền vững, nếu sử dụng đất đai đảm bảo các nguyên tắc trên thì đất đai được bảo vệ cho phát triển nông nghiệp bền vững

“Nông nghiệp bền vững” đã được nhiều tác giả thừa nhận là: một cách triết lý

và tiếp cận về việc sử dụng đất tạo ra mối liên kết chặt chẽ giữa tiểu khí hậu, cây hàng năm, cây lâu năm, súc vật, đất, nước và những nhu cầu của con người, xây dựng một cộng đồng chặt chẽ và có hiệu quả

Mục đích của nông nghiệp bền vững là kiến tạo một hệ thống bền vững về mặt sinh thái, có tiềm lực về mặt kinh tế, có khả năng thoả mãn nhu cầu của con người mà không làm hủy diệt đất đai, không làm ô nhiễm môi trường [8] Quan điểm đa canh và

đa dạng hoá nhằm nâng cao sản lượng và tính ổn định này được ngân hàng thế giới đặc biệt khuyến khích ở các nước nghèo (WB, 1992)

Phát triển nông nghiệp bền vững sẽ vừa đáp ứng nhu cầu của hiện tại, vừa đảm bảo nhu cầu của các thế hệ tương lai Một quan niệm khác cho rằng: Phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn sự thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cả cho hiện tại và mai sau Để phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta cần nắm vững mục tiêu về tác dụng lâu bền của từng mô hình, để duy trì và phát triển đa dạng sinh học

1.4 Các nghiên cứu về đất và đánh giá đất ở Cao Bằng và Hạ Lang

1.4.1 Tại Cao Bằng

Từ những năm 1966-1967 Vụ quản lý ruộng đất Bộ Nông nghiệp đã cùng với tỉnh Cao Bằng điều tra xây dựng bản đồ đất tỉnh Cao Bằng điều tra xây bản đồ đất tỷ

lệ 1/100.000 cho tỉnh Đến năm 1983-1984 Viện qui hoạch và Thiết kế Nông nghiệp

đã bổ sung, chỉnh lý xây dựng bản đồ đất của Cao Bằng tỷ lệ 1/100.000 Lần này bản

đồ đất đã thể hiện đợc các loại đất chính, chỉ tiêu độ dày tầng đất mịn được xác định theo thang 5 cấp ( 1: >100cm; 2: 70-100cm; 3: 50-70cm; 4: 30-50cm; 5: <30cm) và

độ dốc đợc chia thành 6 cấp (I: 0-3o

; II: 3-8o; III:8-15o; IV: 15-20o; V: 20-25o; VI:

Trang 28

>25o) Từ năm 1999 đến năm 2004 Hội Khoa học đất Việt Nam tiếp tục bổ sung chỉnh lý các tài liệu đất trước đây trên cơ sở áp dụng phương pháp phân loại đất quốc tế FAO-UNESCO ở qui mô cấp tỉnh với bản đồ tỷ lệ: 1/100.000 và một số huyện trọng điểm với bản đồ tỷ lệ: 1/25.000

Tuy nhiên những bản đồ đất đã được xây dựng nêu trên vẫn còn những tồn tại cần được hoàn thiện như: Tên một số nhóm đất, loại đất, hệ thống ký hiệu dùng trên bản đồ và các chỉ tiêu đánh giá chất lượng đất ( tầng dày, độ dốc, đá mẹ mẫu chất, glây, kết von, đá lẫn…) chưa được thống nhất với các tỉnh trong toàn quốc Và đặc biệt, tỉnh Cao Bằng đến nay vẫn chưa có bản đồ đất tỷ lệ 1/100.000 xây dựng trên nền bản đồ địa hình VN-2000 theo hệ thống phân loại đất năm 1984 và chú giải kèm theo

Vì vậy, năm 2005 Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn giao nhiệm vụ: Phúc tra, chỉnh lý, thu thập những tài liệu về đất đã có để tổng hợp xây dựng bản đồ đất chính thức tỷ lệ 1/100.000 cho tỉnh Cao Bằng trên nền địa hình VN-2000 cùng chú giải kèm theo, nhằm đáp ứng những yêu cầu về phát triển kinh tế xã hội và quản lý khai thác ngày càng tốt hơn tài nguyên đất đai của tỉnh

Kết quả phúc tra, kế thừa tài liệu cũ, chỉnh lý, biên tập, xây dựng bản đồ đất

tỷ lệ 1/100.000 (theo hệ thống phân loại 1976,1984), năm 2005 Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã xác định tài nguyên đất tỉnh Cao Bằng gồm 10 nhóm đất và

24 loại đất ( đơn vị chú dẫn bản đồ) với 500.162 ha chiếm 74,452% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh

1.4.2 Tại huyện Hạ Lang

Trên địa bàn huyện Hạ Lang năm 2006, Hội Khoa học đất Việt Nam đã tiến hành điều tra, xây dựng bản đồ đất và bản đồ đánh giá phân hạng đất đai tỷ lệ 1:25.000

Năm 2006, Lê Thái Bạt và Luyện Hữu Cử đã nghiên cứu về đất tích vôi ở huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng đăng trên tạp chí khoa học đất số 26 Năm 2007, hai tác giả này đã nghiên cứu Kết quả phân loại đất theo phương pháp định lượng của

Trang 29

FAO – UNESCO ở huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng đăng trên tạp chí khoa học đất

số 27

Năm 2007, Luyện Hữu Cử - Trường Đại học nông nghiệp I Hà Nội thực hiện

đề tài “ Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp làm cơ sở đề xuất sử dụng đất theo hướng sản xuất hàng hóa ở xã Thanh Nhật, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng” Năm 2006, Ủy ban nhân dân huyện Hạ Lang tiến hành nghiên cứu đề tài

“Điều tra bổ sung xây dựng bản đồ đất và phân hạng đất đai huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng”

Những nghiên cứu trên đã trình bày khá đầy đủ và chi tiết về hệ thống phân loại, quy mô và phân bố của tài nguyên đất tỉnh Cao Bằng nói chung và huyện Hạ Lang nói riêng Tuy nhiên còn một số vấn đề đặt ra là:

- Các kết quả hiện có chỉ nghiên cứu tài nguyên một cách riêng lẻ với khía cạnh thổ nhưỡng đơn thuần mà chưa xem xét nó dưới cái nhìn tổng thể và hệ thống của các yếu tố có tính tương hỗ trong môi trường tự nhiên

- Các kết quả này đưa ra các đánh giá đất có tính địa phương cho sử dụng tài nguyên đất Những nghiên cứu chi tiết cụ thể, đặc biệt là phân tích đánh giá mức độ thích hợp của các loại hình sử dụng đất phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế và môi trường của huyện hầu như chưa được đặt

ra

Trang 30

Chương II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung nghiên cứu

2.1.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội có liên quan đến sử dụng đất đai

- Đánh giá điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, địa hình, thủy văn

- Đánh giá điều kiện kinh tế xã hội: Cơ cấu kinh tế, tình hình dân số, lao động, trình độ dân trí, tình hình quản lý đất đai, thị trường tiêu thụ nông sản, dịch vụ và cơ

sở hạ tầng (giao thông, thủy lợi, công trình phúc lợi, văn hóa )

2.1.2 Hiện trạng sử dụng đất

- Đánh giá tài nguyên đất (loại đất, quy mô, tính chất hóa lý của đất)

- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất: Đánh giá hiện trạng sản xuất đất nông nghiệp, phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng năm 2011 trên địa bàn huyện

- Nghiên cứu các kiểu sử dụng đất hiện trạng, diện tích và sự phân bố các kiểu

sử dụng đất trong huyện

2.1.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Nghiên cứu các loại hình sử dụng đất (LUTs) nông nghiệp chính trên địa bàn huyện và đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của LUTs và đề xuất sử dụng đất hợp lý

2.1.4 Định hướng và các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện

- Đề xuất diện tích phân bổ cho các loại đất và bố trí các kiểu sử dụng đất nhằm đạt hiệu quả sử dụng đất cao

- Đề xuất các giải pháp thực hiện

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu

+Thu thập các số liệu và tài liệu thứ cấp: thu thập từ các cơ quan quản lý chuyên môn ( phòng Tài Nguyên và Môi Trường, phòng Nông Nghiệp, phòng Thống Kê huyện Hạ Lang, trường Đại học Khoa học tự nhiên ), tiến hành điều tra bổ sung thực địa để điều chỉnh cho phù hợp

Trang 31

+Thu thập số liệu sơ cấp: thông qua việc tiến hành điều tra các nông hộ bằng phương pháp điều tra nhanh nông thôn

2.2.2 Phương pháp điều tra điểm

Tiến hành điều tra 3 xã đại diện cho 3 vùng theo chỉ tiêu phân vùng lãnh thổ của huyện Hạ Lang

- Vùng I: Gồm các xã Lý Quốc, Minh Long, Đồng Loan và Thắng Lợi, chọn xã Đồng Loan làm xã điểm điều tra thực địa

- Vùng II: Gồm các xã Quang Long, Việt Chu, Cô Ngân, Thái Đức và Thị Hoa, chọn xã Cô Ngân làm xã điểm

- Vùng III: Gồm Thị trấn Thanh Nhật, xã Đức Quang, Kim Loan, An Lạc và Vinh Quý, chọn thị trấn Thanh Nhật làm xã điểm

2.2.5 Các phương pháp khác

- Phương pháp thừa kế chọn lọc các tài liệu đã có Các kết quả nghiên cứu đã

có trong vùng liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, cán bộ lãnh đạo cũng như các hộ nông dân giỏi để đề xuất các hướng sử dụng đất và đưa ra các giải pháp thực hiện

- Phương pháp dự báo: các dự báo được dựa trên những kết quả nghiên cứu của đề tài và những dự báo về nhu cầu của xã hội và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật nông nghiệp

Trang 32

Chương III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội huyện Hạ Lang

3.1.1.Điều kiện tự nhiên

- Phía Đông và Đông Bắc giáp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa;

- Phía Nam giáp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa;

- Phía Tây Bắc giáp huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng;

- Phía Tây Nam giáp huyện Quảng Uyên và Phục Hoà, tỉnh Cao Bằng

Huyện Hạ Lang là 1 trong 62 huyện nghèo của cả nước, huyện cách trung tâm thị xã Cao Bằng 72 km về phía Đông Huyện có tuyến đường tỉnh lộ 207 đi qua nối liền giữa huyện Quảng Uyên đến cửa khẩu Lý Vạn, tuyến đường 206 nối với huyện Trùng Khánh và tuyến đường tỉnh 207 nối với cửa khẩu Bí Hà Ngoài ra còn

có các tuyến đường liên xã, đường giao thông trong khu dân cư nông thôn, các tuyến giao thông nội đồng còn chưa được đầu tư đồng bộ khó khăn cho việc đi lại của nhân dân vào mùa mưa và giao lưu hàng hoá với bên ngoài

3.1.1.2 ịa hình, địa mạo

Huyện Hạ Lang là một huyện vùng cao có địa hình phức tạp, xen kẽ giữa các dải núi là những thung lũng tương đối bằng phẳng Tuy nhiên địa hình huyện Hạ

Trang 33

Lang không phân chia thành những vùng rõ rệt Tỷ lệ núi đá vôi khá lớn gây khó khăn cho việc xây dựng đường giao thông và cơ sở hạ tầng

3.1.1.3 Khí hậu

Do nằm sát chí tuyến Bắc trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, nên khí hậu

ở huyện Hạ Lang mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có 2 mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa:

- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm; mùa này nóng ẩm, mưa nhiều, thường có gió xoáy, mưa đá, lũ quét

- Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ thấp, ít mưa, bị ảnh hưởng bởi gió mùa Đông bắc

Nền nhiệt của vùng khá phong phú, theo số liệu đo tại Cao Bằng nhiệt độ trung bình năm là 21,60C Nhiệt độ tối cao trung bình là 26,60C, nhiệt độ tối thấp trung bình là 18,20C

Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.400 - 1.600 mm, số ngày mưa trong năm

là 128,3 ngày, từ tháng 11- 4 rất ít mưa, lượng mưa từ 20 - 30 mm/tháng, trong khi đó lượng bốc hơi trong những tháng này rất lớn gây nên khô hạn gay gắt

Với đặc điểm khí hậu như trên, cho phép phát triển đa dạng cây trồng và gieo cấy nhiều vụ trong năm Song khô hạn, gió xoáy, lũ quét… là những rủi ro trong sản xuất của huyện

3.1.1.4 Thủy văn

Huyện Hạ Lang có sông Bắc Vọng chảy từ huyện Trùng Khánh sang, với chiều dài 10km, sông Quây Sơn chảy dọc theo biên giới Việt - Trung với chiều dài 12km nhưng khả năng khai thác 2 con sông này còn rất hạn chế Ngoài ra còn có hệ thống suối nhỏ phân bố khá đều trên địa bàn huyện và một số hồ chứa như hồ Khưa Sâu, hồ Thôm Rảo, với nguồn tài nguyên này có thể phát triển thêm về nuôi trồng thuỷ sản

Trang 34

Hệ thống sông suối của huyện có chế độ nước hai mùa rõ rệt, lưu lượng phụ thuộc vào chế độ mưa, nên trong mùa mưa lưu lượng lớn đủ nước cung cấp cho sản xuất, đời sống cư dân; song mùa khô sông suối thường cạn, khai thác hạn chế

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.1.2.1 iều kiện kinh tế

Tăng trư ng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong những năm gần đây nền kinh tế của huyện phát triển theo xu hướng tích cực, tất cả các ngành sản xuất, dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng… đều có những bước phát triển đáng kể, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Được sự quan tâm của tỉnh, dưới sự quản lý và chỉ đạo của Huyện uỷ, UBND huyện về phát triển kinh

tế - xã hội, bước đầu đã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng tích cực, sử dụng ngày càng có hiệu quả tiềm năng sẵn có của địa phương Là một huyện miền núi, nên kinh tế huyện đặt trọng tâm phát triển vào nông nghiệp, đồng thời cũng từng bước hình thành những nền tảng cho phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và đô thị cho những năm kế tiếp Tuy nhiên do kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, cơ sở hạ tầng còn thiếu, vị trí địa lý - kinh tế bị ngăn cách, giao thông chưa thuận lợi nên mức độ giao lưu chưa cao và khó huy động nguồn lực bên ngoài

Bảng 3.1: Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Hạ Lang

(Nguồn: Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội

huyện Hạ Lang giai đoạn 2007 - 2020)

Trang 35

Cơ cấu kinh tế của huyện hiện nay là nông - lâm nghiệp - dịch vụ - tiểu thủ công nghiệp Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 10,2%; thu nhập bình quân đầu người 315USD Tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm xuống (từ 80% năm

2006 còn 79,11% năm 2010), trong khi đó tỷ trọng ngành công nghiệp xây dựng

tăng 5,4% lên 6,08%; thương mại dịch vụ tăng từ 14,6% lên 14,81% (Nguồn: Báo

cáo Chính trị ại hội đại biểu ảng bộ Huyện lần XIV)

Giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1,00 ha đất canh tác tăng từ 20 triệu/năm lên 23 triệu/năm

97.31

1.85 0.84 90.73

1.47 7.8 82.93

2.18 14.89

Năm 1995 Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010 Năm

Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Hạ Lang

Nông - Lâm nghiệp, Thuỷ sản Công nghiệp - xây dựng Dịch vụ - thương mại

Hình 3.1 Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Hạ Lang

a Khu vực kinh tế nông nghiệp

- Sản xuất nông nghiệp

Trong những năm qua sản xuất nông nghiệp của huyện có bước chuyển biến tích cực, nhất là trong sản xuất lương thực và phát triển chăn nuôi Sản xuất lương thực hàng năm đạt kế hoạch và ổn định, bình quân lương thực đầu người năm 2006

là 390kg đến năm 2010 đã tăng lên 480kg Tỷ trọng giá trị chăn nuôi tăng lên đáng

Trang 36

kể Song trong những năm qua do ảnh hưởng của dịch gia súc, gia cầm và thời tiết rét đậm, rét hại nên tỷ trọng ngành chăn nuôi trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp có giảm đáng kể

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp đối với cây mía bước đầu đã đem lại hiệu quả, có thu nhập cao và trở thành hàng hoá xuất khẩu, năm 2006 diện tích trồng mía của huyện chỉ có 12,50 ha, đến năm 2010 diện tích này đã tăng lên 800

ha mía nguyên liệu xuất khẩu, sản lượng vụ thu hoạch 2009 - 2010 đạt 15 nghìn tấn

(Nguồn: Báo cáo Chính trị ại hội ại biểu ảng bộ huyện lần XIV)

Bảng 3.2: Cơ cấu cây trồng năm 2011 huyện Hạ Lang

cây trồng

Diện tích (ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng(tấn) Ghi chú

Trang 37

Về chăn nuôi: Nhìn chung kết quả trong 5 năm qua, lĩnh vực chăn nuôi chưa đạt kế hoạch đề ra Tuy nhiên bước đầu đã hình thành ý thức phát triển chăn nuôi hàng hoá như phát triển mô hình chăn nuôi tổng hợp, kết hợp trồng cỏ làm thức ăn, nuôi lợn hướng nạc, và phát triển hình thức chăn nuôi theo hướng bán công nghiệp… Tuy gặp những khó khăn về dịch bệnh trong chăn nuôi, song nhờ có sự lãnh đạo, phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời, phòng chống rét nên đàn gia súc vẫn có bước tăng trưởng đáng kể

Bảng 3.3: Cơ cấu vật nuôi năm 2011 huyện Hạ Lang

cỏ, rô phi đơn tính, song kết quả chưa được khả quan, chưa có điều kiện mở rộng sản xuất

- Lâm nghiệp

Trang 38

Trong năm qua, huyện đã thực hiện tốt việc giao đất giao rừng, khoán khoanh nuôi rừng đến từng hộ gia đình Việc quản lý, bảo vệ rừng được tăng cường, các dự án trồng rừng, trồng cây ăn quả, cây đặc sản được đâỷ mạnh, nên sản xuất lâm nghiệp của huyện phát triển tương đối nhanh, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt kế hoạch đề ra, giá trị sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn năm 2009 đạt 7,3 tỷ đồng Sau khi tiến hành phân chia 3 loại rừng, nhân dân đã mạnh dạn đầu

tư trồng rừng sản xuất, rừng kinh tế góp phần giữ vững môi trường sinh thái Tuy nhiên một số mô hình dự án trồng rừng chưa đạt hiệu quả, dự án chè đắng không có nơi tiêu thụ, trồng cây mác mật không có dự án hỗ trợ về giống và kinh phí, việc quản lý và chăm sóc rừng trồng còn yếu

Khu vực kinh tế Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp và xây dựng

Trong những năm qua, hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng của huyện đã và đang được tập trung đầu tư khai thác tiềm năng, đã thu được những kết quả đáng kể

- Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: Bình quân tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất đạt trên 13%, doanh thu năm 2005 đạt 520 triệu đồng, năm 2010 doanh thu đạt 9 tỷ đồng, tăng 17,3 lần Thành lập mới 6 hợp tác xã sản xuất vật liệu xây dựng, nâng tổng số hợp tác xã toàn huyện lên 17 đơn vị, giải quyết việc làm cho hơn 120 lao động có bình quân thu nhập ổn định 1.600.000 đồng/tháng Hiện nay đang tiến hành xây dựng nhà máy Ferro Mangan-Silico Mangan và Mangan hoàn nguyên tại

xã Vinh Quý Sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp là đá các loại, gạch ngói, quần áo, sản phẩm đồ gỗ gia dụng…

- Ngành xây dựng: Trong những năm qua, ngành xây dựng của huyện tập trung vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng trung tâm huyện lỵ và hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn như đường giao thông, công trình thuỷ lợi, công trình điện, công trình cấp nước sinh hoạt, công trình trường học… từ các nguồn vốn của chương trình

120, 135 và các dự án khác theo điều chỉnh quy hoạch trung tâm huyện lỵ giai đoạn

Trang 39

2002 - 2020 và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2007 - 2020

đã được phê duyệt để đáp ứng nhu cầu đô thị của tỉnh, của huyện

Trong 5 năm qua đã sử dụng gần 80 tỷ đồng của các chương trình dự án chiếm hơn 30% tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ bản của huyện để thực hiện các công trình xây dựng, giao thông, điện sinh hoạt, thuỷ lợi Tính riêng đầu tư cho xây dựng theo Quyết định số 120/QĐ-TTg trong những năm qua đã đầu tư hơn 20 tỷ đồng để xây dựng đường giao thông nông thôn, công trình cấp nước sinh hoạt, công trình trạm điện và Trạm Biên phòng

- Về thương mại: Hoạt động thương mại của huyện những năm qua có nhiều chuyển biến tích cực và đã đạt được những thành tựu quan trọng Nhìn chung việc lưu thông hàng hoá trên địa bàn huyện thuận lợi, thông suốt, hàng hoá phong phú đa dạng, đảm bảo cân đối cung cầu, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân… Tình hình buôn lậu và gian lận thương mại được kiểm soát Hoạt động kinh tế đối ngoại, quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, du lịch với huyện Long Châu và huyện Đại Tân, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc đã đạt được những kết quả khả quan, đã thực hiện khá tốt trong việc xuất khẩu mía

Tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn năm 2008 đạt 37,454 nghìn USD

3.1.2.2 iều kiện xã hội

Dân số

Trang 40

Năm 2011, dân số huyện có 25.425 người, mật độ dân số trung bình 55,66 người/km 2 , trong đó:

Dân số đô thị 3.002 người (chiếm 11,81% dân số huyện), mật độ trung bình 187,74 người/km2

Dân số nông thôn 22.423 người (chiếm 88,19 % dân số huyện), mật độ trung bình 50,81 người/km2

Bảng 3.4: Bảng thống kê dân số năm 2011 huyện Hạ Lang

Diện tích (Km 2 )

Số khẩu (người)

Mật độ dân số (người/km 2

(Nguồn số liệu: Niên giám thống kê 2011)

Lao động, việc làm và đời sống dân cư

Ngày đăng: 26/02/2021, 08:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Vũ Năng Dũng (2004), Cơ s khoa học để xây dựng tiêu chí, bước đi, cơ chế chính sách trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ s khoa học để xây dựng tiêu chí, bước đi, cơ chế chính sách trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
Tác giả: Vũ Năng Dũng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2004
4. Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung và cộng sự (1998), Kinh tế nông nghiệp, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung và cộng sự
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1998
6. Lê Hải Đường (2007) , “chống thoái hoá đất sử dụng hiệu quả tài nguyên đất nhằm phát triển bền vững”, Tạp chí lý luận của của uỷ ban dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: chống thoái hoá đất sử dụng hiệu quả tài nguyên đất nhằm phát triển bền vững
7. Quyền Đình Hà (2005), Bài giảng kinh tế đất, Trường ĐH Nông Nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng kinh tế đất
Tác giả: Quyền Đình Hà
Năm: 2005
9. Hội khoa học đất Việt Nam (2000), ất Việt Nam, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ất Việt Nam
Tác giả: Hội khoa học đất Việt Nam
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
14. Nguyễn Hữu Ngữ (2010), Bài giảng Quy hoạch sử dụng đất, Trường Đại học Nông lâm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Quy hoạch sử dụng đất
Tác giả: Nguyễn Hữu Ngữ
Năm: 2010
15. Thái Phiên (2000), Sử dụng, quản lý đất bền vững, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng, quản lý đất bền vững
Tác giả: Thái Phiên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
16. Nguyễn Văn Man, Trịnh Văn Thịnh (2002), Nông nghiệp bền vững cơ s và ứng dụng, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp bền vững cơ s và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Man, Trịnh Văn Thịnh
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 2002
17. Đỗ Thị Lan, Đỗ Anh Tài (2007), Giáo trình kinh tế tài nguyên đất, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế tài nguyên đất
Tác giả: Đỗ Thị Lan, Đỗ Anh Tài
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2007
18. Nguyễn Xuân Thành (2001), “ Một số kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến môi trường và sản xuất nông nghiệp”, Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn, (4), trang 199-200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến môi trường và sản xuất nông nghiệp”, "Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Nguyễn Xuân Thành
Năm: 2001
20. Tổng cục quản lý đất đai (2009), Quy phạm thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất, NXB Bản đồ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy phạm thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất
Tác giả: Tổng cục quản lý đất đai
Nhà XB: NXB Bản đồ
Năm: 2009
1. Bộ Tài nguyên và Môi Trường (2010), Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2010 Khác
3. Tôn Thất Chiểu và nnk (1986), ánh giá phân hạng đất toàn quốc Khác
5. Bùi Thị Ngọc Dung, Lê Đức (2003), Bài giảng phân hạng và đánh giá đất đai Khác
10. Hội Khoa học đất Việt Nam (2006), Báo cáo kèm theo bản đồ đánh giá phân hạng đất đai huyện Hạ Lang tỉnh Cao Bằng tỉ lệ 1/25000 Khác
11. Hội Khoa học đất Việt Nam (2006), Tập ATLAS cảnh quan và hình thái phẫu diện đất huyện Hạ Lang tỉnh Cao Bằng tỉ lệ 1/25000 Khác
12. Hội Khoa học đất Việt Nam (2006), Báo cáo thuyết minh hình thái phẫu diện đất huyện Hạ Lang tỉnh Cao Bằng tỉ lệ 1/25000 Khác
13. Luật đất đai năm 2003, NXB Chính trị quốc gia Khác
19. Bùi Quang Toản và nnk (1985), ánh giá và quy hoạch sử dụng đất hoang Việt Nam Khác
21. UBND huyện Hạ Lang (2007), Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Hạ Lang – tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2007-2020 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm