Hiệu quả kinh doanh dịch vụ viễn thông là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh phương tiện, thiết bị thông tin, lao động... Có quan
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Trang 5CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH DỊCH
VỤ CỦA CÔNG TY VIỄN THÔNG LIÊN TỈNH1 111
1
3.1 Mục tiêu, phương hướng và quan điểm phát triển kinh doanh dịch vụ của Công
ty Viễn thông liên tỉnh1 111
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT Từ viết tắt Giải thích
(Public Switched Telephone Network)
Trang 10
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp tồn tại
và phát triển trong cơ chế thị trường Thông qua việc tìm kiếm, lựa chọn các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh, các doanh nghiệp càng có nhiều khả năng sử dụng tốt hơn các nguồn lực đầu vào có hạn như vốn, lao động, … nhằm tạo ra một khối lượng đầu ra hợp lý để đạt được sự tăng trưởng theo mục tiêu Đây chính là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa - một mục tiêu sống còn của doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh và phát triển
Công ty Viễn thông liên tỉnh là một đơn vị thành viên của Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam Công ty chuyên sản xuất kinh doanh dịch vụ viễn thông trên toàn quốc, sản phẩm của Công ty là một trong những sản phẩm chính của ngành viễn thông Trong giai đoạn hiện nay, Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam nói chung và các đơn vị thành viên nói riêng trong đó có Công ty Viễn thông liên tỉnh đang đứng trước những yêu cầu thách thức rất lớn Chính phủ đã cho phép nhiều doanh nghiệp khác tham gia kinh doanh trên thị trường dịch vụ bưu chính viễn thông (Hanoitelecom, Vietel, SPT, ) tạo điều kiện cho nhiều doanh nghiệp những cơ hội thuận lợi trong kinh doanh, áp lực cạnh tranh diễn ra mạnh trong phạm vi ngành, khu vực Những điều kiện thuận lợi trước đây trở lên hiếm hoi hơn, nhu cầu về sản phẩm dịch vụ bưu chính, viễn thông ngày càng gia tăng và yêu cầu cao hơn Cùng với xu thế hội nhập quốc tế và tiến trình tự do hóa thị trường viễn thông, các doanh nghiệp viễn thông sẽ có cơ hội học hỏi kinh nghiệm, hợp tác, trao đổi công nghệ với các tập đoàn viễn thông lớn nhưng đây cũng là thách thức, khó khăn cho doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh Gia tăng cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải đưa ra thị trường nhiều loại hình dịch vụ với nhiều tiện ích, chất lượng dịch vụ ngày càng cao, giá cước hạ để thu hút được khách hàng
Trong giai đoạn tới, mục tiêu của Công ty Viễn thông liên tỉnh là phát triển bền vững, tăng cường vị thế cạnh tranh trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập quốc
tế Trước tình hình đó, nhiệm vụ đặt ra cho Công ty Viễn thông liên tỉnh là chú
Trang 11trọng phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ có chất lượng và kinh doanh dịch vụ
có hiệu quả Công ty phải nỗ lực nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ của mình,
sử dụng hợp lý và tiết kiệm các yếu tố đầu vào nhằm đạt được sự tăng trưởng theo mục tiêu của chiến lược kinh doanh là lợi nhuận và chất lượng dịch vụ viễn thông cao
Vì lẽ đó, việc chọn đề tài: "Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ của Công ty Viễn thông liên tỉnh" để nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn:
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về hiệu quả kinh doanh dịch vụ, phân tích hiệu quả kinh doanh dịch vụ của Công ty Viễn thông liên tỉnh để đưa ra những giải pháp cơ bản, có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ của Công ty viễn thông liên tỉnh
3 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh doanh dịch vụ viễn thông và các dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng viễn thông của Công ty Viễn thông liên tỉnh
4 Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn giới hạn việc nghiên cứu tại Công ty viễn thông liên tỉnh về hiệu quả kinh doanh dịch vụ viễn thông qua các năm 2007, 2008
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng
Phương pháp khảo sát thực tế, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp …
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
nghiệp viễn thông
- Phân tích, đánh giá và xác định hiệu quả kinh doanh của công ty Viễn thông liên tỉnh trong hai năm 2007, 2008
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ của Công ty Viễn thông liên tỉnh trong thời gian tới
Trang 127 Kết cấu của Luận văn:
luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận về hiệu quả kinh doanh dịch vụ của doanh nghiệp
Chương 2: Phân tích thực trạng hiệu quả kinh doanh dịch vụ của Công ty
Viễn thông liên tỉnh
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ của Công
ty Viễn thông liên tỉnh
Trang 13C HƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH DỊCH VỤ CỦA
và thời hạn
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên liệu, tiền vốn…) các yếu tố cần thiết của doanh nghiệp tham gia vào hoạt động kinh doanh theo mục đích nhất định
Nếu biểu hiện theo mục đích cuối cùng thì "hiệu quả kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó" Nếu xem xét kết quả kinh doanh trên góc độ này thì phạm trù hiệu quả có thể đồng nhất với phạm trù lợi nhuận do đó rất khó khăn trong công tác đánh giá và tổ chức quản
lý doanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh cao hay thấp là tuỳ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý trong doanh nghiệp Quan niệm này phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh doanh Nó đã gắn được kết quả với toàn bộ chi phí, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí
Hiệu quả không chỉ là thước đo trình độ tổ chức quản lý kinh doanh mà còn
là vấn đề sống còn của bất cứ một doanh nghiệp nào Tuy nhiên, từ những góc độ nghiên cứu từ những lĩnh vực khác nhau, xuất hiện các khái niệm khác nhau về hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh dịch vụ viễn thông là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh (phương tiện, thiết bị thông tin, lao động ) của doanh nghiệp viễn thông nhằm đảm bảo kết quả cao nhất (lợi nhuận, chất lượng thông tin… ) với chi phí thấp nhất
Trang 14Có quan niệm cho rằng "hiệu quả kinh doanh dịch vụ viễn thông là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển dịch vụ viễn thông theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm mục tiêu kinh doanh" Phát triển dịch vụ viễn thông theo chiều sâu là đẩy mạnh cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất kinh doanh dịch vụ, nâng cao cường độ sử dụng các nguồn lực, chú trọng chất lượng sản phẩm và dịch vụ, phát triển dịch vụ viễn thông theo chiều sâu là nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ viễn thông
Vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ viễn thông chính là việc thực hiện hàng loạt các biện pháp có hệ thống, có tổ chức, có tính đồng bộ, có tính liên tục tại doanh nghiệp viễn thông nhằm đạt mục tiêu cuối cùng đó là hiệu quả cao, có lợi nhuận và chất lượng dịch vụ cao Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải sử dụng các yếu tố đầu vào hợp lý nhằm đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu
Tóm lại, cần hiểu phạm trù hiệu quả kinh doanh một cách toàn diện trên cả hai mặt định lượng giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra Nếu xét về tổng lượng, người ta chỉ thu được hiệu quả kinh doanh khi nào kết quả lớn hơn chi phí, chênh lệch này càng lớn hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại Về mặt định tính mức
độ hiệu quả kinh doanh thu được phản ánh sự cố gắng, nỗ lực của mỗi khâu, mỗi cấp trong hệ thống doanh nghiệp, phản ánh trình độ năng lực quản lý sản xuất kinh doanh Hai mặt định tính và định lượng của phạm trù hiệu quả kinh doanh có quan
hệ chặt chẽ với nhau không thể tách rời Hiệu quả kinh doanh là khái niệm phức tạp
và khó đánh giá chính xác
1.1.2 Phân loại hiệu quả kinh doanh
Phân loại hiệu quả kinh doanh theo những tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực trong công tác quản lý Nó là cơ sở để xác định các chỉ tiêu và mức hiệu quả kinh doanh để từ đó đề ra những biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
* Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội
Trang 15Hiệu quả kinh doanh cá biệt là hiệu quả kinh doanh thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp Biểu hiện chung của hiệu quả kinh doanh cá biệt là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp đạt được
Hiệu quả kinh tế xã hội mà ngành Bưu điện đem lại cho nền kinh tế quốc dân
là sự đóng góp của hoạt động sản xuất kinh doanh vào việc phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, tích lũy ngoại tệ, tăng thu cho ngân sách
Giữa hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế - xã hội có mối quan hệ nhân quả và tác động qua lại với nhau Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ có thể đạt được trên cơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp Tuy vậy, có thể có những doanh nghiệp không đảm bảo được hiệu quả (bị lỗ) nhưng nền kinh tế vẫn thu được hiệu quả Ví dụ như trong lĩnh vực Bưu chính, nhiều dịch vụ hiện nay chưa mang lại lợi nhuận, nhưng nó thực hiện được nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước giao cho Tuy nhiên, tình hình thua lỗ của doanh nghiệp nào đó chỉ có thể chấp nhận được trong những thời điểm nhất định do những nguyên nhân khách quan mang lại Các doanh nghiệp cần phải quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội vì
đó chính là tiền đề và điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả Tuy nhiên, để đạt được điều đó, Nhà nước cần có chính sách đảm bảo kết hợp hài hòa lợi ích của xã hội với lợi ích của doanh nghiệp và cá nhân người lao động
* Hiệu quả của chi phí bộ phận và chi phí tổng hợp
Hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng gắn liền với môi trường và thị trường của nó Doanh nghiệp cần căn cứ vào thị trường để giải quyết những vấn đề then chốt: sản xuất và kinh doanh cái gì, sản xuất và kinh doanh như thế nào, kinh doanh cho ai và với chi phí bao nhiêu?
Mỗi nhà cung cấp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong điều kiện cụ thể về nguồn tài nguyên, trình độ trang bị kỹ thuật, trình độ tổ chức và quản lý lao động, quản lý kinh doanh Họ đưa ra thị trường đối với sản phẩm dịch
vụ của mình với một chi phí cá biệt nhất định và doanh nghiệp nào cũng muốn tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ của mình với giá cao nhất Tuy vậy, khi đưa hàng hóa dịch vụ
Trang 16của mình ra bán trên thị trường, họ chỉ có thể bán theo mức giá của thị trường, nếu sản phẩm của họ có mức giá tương đương
Sở dĩ như vậy, là vì thị trường chỉ chấp nhận mức trung bình xã hội cần thiết
về hao phí để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa, dịch vụ Quy luật giá trị đã đặt tất cả các doanh nghiệp với mức chi phí cá biệt khác nhau trên cùng một mặt bằng trao đổi, thông qua một mức giá cả thị trường
Suy đến cùng, chi phí bỏ ra là chi phí lao động xã hội Nhưng tại mỗi doanh nghiệp mà chúng ta cần đánh giá hiệu quả, thì chi phí lao động xã hội đó thể hiện dưới các dạng chi phí cụ thể như giá thành và chi phí ngoài sản xuất
Bản thân mỗi loại chi phí trên lại có thể được phân chia chi tiết, tỷ mỷ hơn Đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thì không thể không đánh giá hiệu quả tổng hợp của các loại chi phí trên nhưng cũng cần thiết phải đánh giá hiệu quả của từng loại chi phí, giúp cho doanh nghiệp tìm được hướng giảm chi phí cá biệt nhằm tăng hiệu quả kinh doanh
Như vậy, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói chung được tạo thành trên cơ sở hiệu quả các loại chi phí cấu thành Các đơn vị sản xuất kinh doanh là nơi trực tiếp sử dụng các yếu tố của quá trình kinh doanh và phải xác định các biện pháp đồng bộ để thu được hiệu quả toàn diện trên các yếu tố của quá trình đó
* Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh
Trong công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, việc xác định hiệu quả nhằm hai mục tiêu cơ bản:
Một là, để thể hiện và đánh giá trình độ sử dụng các dạng chi phí trong hoạt động kinh doanh
Hai là, phân tích luận chứng kinh tế của các phương án khác nhau trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó, từ đó lựa chọn phương án có lợi nhất
Hiệu quả tuyệt đối là lượng hiệu quả được tính toán cho từng phương án cụ thể bằng cách xác định mức lợi ích thu được với lượng chi phí bỏ ra Chẳng hạn tính toán mức lợi nhuận thu được từ một đồng chi phí sản xuất (giá thành), hoặc từ một đồng vốn bỏ ra
Trang 17Người ta xác định hiệu quả tuyệt đối khi phải bỏ chi phí ra để thực hiện một nhiệm vụ sản xuất kinh doanh nào đó, để biết được những chi phí bỏ ra sẽ thu được những lợi ích cụ thể và mục tiêu cụ thể gì, từ đó đi đến quyết định có nên bỏ ra chi phí hay không Vì vậy, trong công tác quản lý kinh doanh, bất kỳ công việc gì đòi hỏi phải bỏ ra chi phí dù với một lượng lớn hay nhỏ cũng đều phải tính toán hiệu quả tuyệt đối
Hiệu quả so sánh được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối của các phương án với nhau Nói cách khác, hiệu quả so sánh chính là mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các phương án Mục đích chủ yếu của việc tính toán này là so sánh mức độ hiệu quả của các phương án, từ đó cho phép lựa chọn một cách làm có hiệu quả cao nhất
Trên thực tế, để thực hiện một nhiệm vụ nào đó, người ta không chỉ tìm thấy một cách (một phương án, một giải pháp, một con đường) mà có thể đưa ra nhiều cách làm khác nhau Mỗi cách làm đó đòi hỏi lượng đầu tư vốn, lượng chi phí khác nhau, thời gian thực hiện và thời gian thu hồi vốn đầu tư cũng khác nhau Vì vậy, muốn đạt được hiệu quả kinh tế cao, người làm công tác quản lý và kinh doanh không nên tự trói mình vào một cách làm mà phải vận dụng mọi sự hiểu biết để đưa
ra nhiều phương án khác nhau, rồi so sánh hiệu quả kinh tế của các phương án đó nhằm chọn ra một phương án có lợi nhất
Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh trong ngành Bưu điện có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, song chúng lại có tính độc lập tương đối Trước hết, xác định hiệu quả tuyệt đối là cơ sở để xác định hiệu quả so sánh Nghĩa là, trên cơ sở những chỉ tiêu tuyệt đối của từng phương án, người ta so sánh mức hiệu quả ấy của các phương án với nhau Mức chênh lệch chính là hiệu quả so sánh
Tuy nhiên, có những chỉ tiêu hiệu quả so sánh được xác định không phụ thuộc vào việc xác định hiệu quả tuyệt đối, chẳng hạn việc so sánh giữa mức chi phí của các phương án với nhau để chọn ra phương án có chi phí thấp, thực chất chỉ là
sự so sánh mức chi phí của các phương án chứ không phải là việc so sánh mức hiệu quả tuyệt đối của các phương án
Trang 181.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh dịch vụ
Hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp viễn thông là rất phức tạp Do vậy, không thể sử dụng một chỉ tiêu để đánh giá, mà cần thiết phải đưa ra hệ thống các chỉ tiêu Hệ thống chỉ tiêu là một tập hợp các chỉ tiêu có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau Để đo lường và đánh giá chính xác, khoa học, hệ thống các chỉ tiêu này phải đáp ứng được các yêu cầu sau đây:
Thứ nhất, trong hệ thống các chỉ tiêu phải có các chỉ tiêu đánh giá tổng hợp
phản ánh chung tình hình kinh doanh dịch vụ, các chỉ tiêu bộ phận phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh dịch vụ từng mặt, từng khâu như lao động, vốn và chi phí Các chỉ tiêu bộ phận là cơ sở cho việc tìm ra mặt mạnh, mặt yếu trong quá trình sử dụng từng yếu tố trung gian vào quá trình kinh doanh
Thứ hai, trong hệ thống các chỉ tiêu đánh giá phải đảm bảo tính hệ thống và
toàn diện Tức là các chỉ tiêu hiệu quả phải phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh dịch vụ của toàn bộ quá trình kinh doanh của doanh nghiệp viễn thông
Thứ ba, hệ thống các chỉ tiêu phải hình thành trên cơ sở những nguyên tắc
chung của hiệu quả, nghĩa là phải phản ánh được trình độ sử dụng lao động sống và lao động vật hoá thông qua việc so sánh giữa kết quả và chi phí Trong đó các chỉ tiêu kết quả và chi phí phải có khả năng đo lường được thì mới có thể so sánh tính toán được
Thứ tư, các chỉ tiêu hiệu quả phải có sự liên hệ so sánh với nhau, có phương
pháp tính toán cụ thể, thống nhất, các chỉ tiêu phải có phạm vi áp dụng nhất định phục vụ cho mục đích nhất định của công tác đánh giá
Thứ năm, hệ thống các chỉ tiêu phải đảm bảo phản ánh được tính đặc thù của
doanh nghiệp viễn thông
Hiệu quả kinh doanh dịch vụ là một vấn đề rất phức tạp, có quan hệ đến toàn
bộ các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh dịch vụ (lao động, tư liệu lao động
và đối tượng lao động) Doanh nghiệp chỉ có thể đạt được hiệu quả cao khi sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh dịch vụ có hiệu quả
Trang 19Cách tính này đơn giản, thuận lợi, nhưng không phản ánh hết chất lượng sản xuất kinh doanh cũng như tiềm năng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Tính theo dạng phân số:
Công thức trên phản ánh sức sinh lợi của các chỉ tiêu phản ánh chi phí đầu vào Cách tính này đã khắc phục những tồn tại khi tính theo dạng hiệu số Nó tạo điều kiện nghiên cứu hiệu quả sản xuất kinh doanh một cách toàn diện
1.2.1.2 Hệ thống các chỉ tiêu cụ thể
Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố tham gia vào quá trình kinh doanh dịch vụ của doanh nghiệp viễn thông gồm:
* Các chỉ tiêu dưới góc độ nhà cung cấp dịch vụ viễn thông:
viễn thông: doanh thu và lợi nhuận kinh doanh dịch vụ viễn thông
Kết quả đầu ra Hiệu quả kinh doanh =
Chi phí đầu vào
Trang 20Chỉ tiêu lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh dịch vụ viễn thông: là chỉ tiêu thể hiện kết quả kinh doanh viễn thông của doanh nghiệp, được xác định bằng cách lấy doanh thu trừ đi chi phí của hoạt động kinh doanh dịch vụ viễn thông
Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí
+ Chỉ tiêu mức doanh thu trên tổng chi phí kinh doanh: Phản ánh mức doanh
thu tạo ra được từ một đồng chi phí kinh doanh bỏ ra
+ Chỉ tiêu sức sinh lời của một đồng chi phí: phản ánh cứ một đồng chi phí
kinh doanh bỏ ra thì mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
+ Chỉ tiêu mức doanh thu từ một đồng vốn kinh doanh bình quân: chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn kinh doanh đã tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu
+ Chỉ tiêu mức sinh lợi của một đồng vốn kinh doanh: Chỉ tiêu này phản ánh
cứ một đồng vốn mà doanh nghiệp dùng vào kinh doanh trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần
+ Chỉ tiêu hệ số sinh lợi của vốn chủ sở hữu: Phản ánh một đồng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần
Lợi nhuận thuần
Mức sinh lợi của một đồng vốn =
Tổng vốn kinh doanh bình quân
Lợi nhuận thuần
Hệ số sinh lợi của vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu bình quân
Lợi nhuận thuần
Sức sinh lời của một đồng chi phí =
Tổng chi phí kinh doanh
Doanh thu
= =
Tổng chi phí kinh doanh
Mức doanh thu trên tổng chi phí kinh doanh Doanh thu =
Vốn kinh doanh bình quân
Mức doanh thu trên vốn kinh doanh bình quân
Trang 21Ta cũng có thể tính các chỉ tiêu lợi nhuận, doanh thu từ hoạt động kinh doanh dịch vụ viễn thông tính riêng cho vốn cố định và vốn lưu động
- Chỉ tiêu tỷ trọng sản phẩm dịch vụ viễn thông:
- Chỉ tiêu lợi nhuận của từng dịch vụ:
Lợi nhuận của dịch vụ = doanh thu dịch vụ - giá thành dịch vụ Doanh thu dịch vụ = Giá cước x Sản lượng - Giảm giá, chiết khấu Giá thành dịch vụ = Giá thành sản xuất của dịch vụ + chi phí bán hàng và chi
phí quản lý doanh nghiệp của dịch vụ
+ Tỷ suất lợi nhuận trên tổng doanh thu: Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng doanh thu doanh nghiệp có được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, thông thường
tỷ suất này càng cao càng tốt
+ Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh bình quân: Chỉ tiêu này cho biết bao nhiêu lợi nhuận thu được từ một đồng vốn kinh doanh bỏ ra Chỉ tiêu này cũng được tính cho vốn lưu động bình quân và vốn cố định bình quân
Doanh thu của dịch vụ
Tỷ trọng doanh thu của dịch vụ = x 100% Tổng doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận
trên doanh thu
Lợi nhuận sau thuế
= x 100 % Vốn kinh doanh bình quân
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn
kinh doanh bình quân
Trang 22+ Tỷ suất lợi nhuận trên tổng chi phí kinh doanh: Chỉ tiêu này phản ánh, cứ một đồng chi phí kinh doanh của doanh nghiệp chi ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Năng suất lao động đặc trưng cho hiệu quả sử dụng lao động Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tổ chức sản xuất kinh doanh, trình độ của lao động, sử dụng quỹ thời gian, tình hình mạng lưới thông tin
* Các chỉ tiêu dưới góc độ người được cung cấp dịch vụ (khách hàng)
- Các chỉ tiêu về chất lượng dịch vụ:
Chất lượng dịch vụ là kết quả tổng hợp của các chỉ tiêu thể hiện mức độ hài lòng của người sử dụng đối với dịch vụ đó
Chất lượng dịch vụ được thể hiện qua các chỉ tiêu như ;
+ Thời lượng kết nối
+ Tốc độ truyền dẫn
+ Mức độ trục trặc của mạng lưới
+ Công nghệ sử dụng trên mạng lưới
+ Chất lượng phục vụ khách hàng: khiếu nại của khách hàng về chất lượng dịch vụ, thời gian tiếp nhận và trả lời khiếu nại khách hàng…
- Chỉ tiêu khả năng đáp ứng và phục vụ khách hàng
+ Mức độ sử dụng dịch vụ viễn thông
+ Tỷ lệ chiếm lĩnh khách hàng (%)
Khối lượng sản phẩm dịch vụ viễn
thông tính bằng hiện vật hoặc giá trị
Năng suất lao động =
Tổng số lao động
Lợi nhuận sau thuế
= x 100 %
Tổng chi phí kinh doanh
Tỷ suất lợi nhuận trên
tổng chi phí kinh doanh
Trang 231 3 Dịch vụ viễn thông và hoạt động kinh doanh dịch vụ viễn thông
1.3.1 Đặc điểm dịch vụ viễn thông
1.3.1.1Doanh nghiệp viễn thông và các loại hình dịch vụ viễn thông
Nhà nước xác định “Bưu chính Viễn thông là ngành kinh tế, kỹ thuật, dịch
vụ quan trọng thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế quốc dân" và việc phát triển bưu chính viễn thông nhằm ba mục tiêu: phát triển kinh tế xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng Ngành Bưu chính Viễn thông phát triển sẽ làm tăng vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, tăng cường các mối quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa quốc tế Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa vai trò của ngành Bưu chính, Viễn thông càng trở nên quan trọng hơn
Số khách hàng của doanh nghiệp
Tỷ lệ chiếm lĩnh khách hàng = x 100% Toàn bộ khách hàng
Trang 24Hiện nay có hai loại hình doanh nghiệp viễn thông ở Việt Nam:
nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp mà vốn góp của Nhà nước chiếm cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt, được thành lập theo quy định của pháp luật để thiết lập
hạ tầng mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông
nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật để cung cấp các dịch vụ viễn thông
Dịch vụ viễn thông là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết cuối của mạng viễn thông
Căn cứ vào xu hướng phát triển và với thông lệ quốc tế thì dịch vụ viễn thông được phân thành năm loại hình dịch vụ sau:
người sử dụng dưới dạng ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh thông qua mạng viễn thông hoặc Internet mà không làm thay đổi loại hình hoặc nội dung thông tin được gửi và nhận qua mạng
Dịch vụ cơ bản bao gồm: Dịch vụ viễn thông cố định (nội hạt, đường dài trong nước, quốc tế): dịch vụ điện thoại, dịch vụ truyền số liệu, dịch vụ truyền dẫn tín hiệu truyền hình, dịch vụ thuê kênh, dịch vụ telex, dịch vụ điện báo); Dịch vụ viễn thông di động (nội vùng, toàn quốc); dịch vụ viễn thông cố định vệ tinh; dịch
vụ viễn thông di động vệ tinh; dịch vụ vô tuyến điện hàng hải …
- Dịch vụ giá trị gia tăng là dịch vụ làm tăng thêm giá trị thông tin của người
sử dụng dịch vụ bằng cách hoàn thiện loại hình, nội dung thông tin hoặc cung cấp khả năng lưu trữ, khôi phục thông tin đó trên cơ sở sử dụng mạng viễn thông hoặc Internet;
Dịch vụ giá trị gia tăng bao gồm: dịch vụ thư điện tử, dịch vụ thư thoại, dịch
vụ truy cập dữ liệu và thông tin trên mạng, dịch vụ trao đổi dữ liệu điện tử, dịch vụ chuyển đổi mã và giao thức…
Trang 25- Dịch vụ kết nối Internet là dịch vụ cung cấp cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet khả năng kết nối với nhau và với Internet quốc tế;
- Dịch vụ truy nhập Internet là dịch vụ cung cấp cho người sử dụng khả năng truy nhập Internet;
- Dịch vụ ứng dụng Internet trong bưu chính, viễn thông là dịch vụ sử dụng Internet để cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông cho người sử dụng Dịch vụ ứng dụng Internet trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác phải tuân theo các quy định pháp luật về bưu chính, viễn thông và các quy định khác của pháp luật có liên quan
Bưu chính Viễn thông là ngành thuộc kết cấu hạ tầng, do vậy đòi hỏi đầu tư với tốc độ nhanh đi trước một bước để tạo tiền đề cho các ngành kinh tế khác phát triển Mạng viễn thông Việt Nam phát triển, được trang bị các thiết bị kỹ thuật với công nghệ hiện đại, đã bước đầu góp phần vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước trong sự nghiệp đổi mới hiện đại hóa - công nghiệp hóa đất nước
1.3.1.2 Đặc điểm dịch vụ viễn thông
Sản phẩm viễn thông không phải là sản phẩm vật chất chế tạo mới, không phải là hàng hóa cụ thể mà là hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức từ người gửi đến người nhận, sản phẩm viễn thông thể hiện dưới dạng dịch vụ
Để tạo ra sản phẩm dịch vụ viễn thông cần có sự tham gia của các yếu tố sản xuất viễn thông: lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động
Lao động viễn thông bao gồm: lao động công nghệ, lao động quản lý, lao động phụ trợ
Tư liệu lao động viễn thông là những phương tiện, thiết bị thông tin dùng để truyền đưa tin tức như: tổng đài, thiết bị chuyển mạch, thiết bị truyền dẫn, nhà cửa, vật kiến trúc
Đối tượng lao động viễn thông là những tin tức như: bức fax, cuộc đàm thoại, bức điện báo … Các cơ sở viễn thông làm nhiệm vụ dịch chuyển các tin tức này từ vị trí người gửi đến vị trí người nhận Sự dịch chuyển tin tức này chính là kết quả hoạt động của ngành viễn thông
Trang 26Để tạo ra sản phẩm dịch vụ, trong quá trình truyền đưa tin tức viễn thông (đối tượng lao động viễn thông) không chịu sự thay đổi nào ngoài sự thay đổi về vị trí không gian Bất kỳ sự thay đổi nào đều là vi phạm về chất lượng sản phẩm dịch
vụ Ví dụ như trong quá trình truyền đưa nội dung bức điện báo được biến đổi thành các tín hiệu điện, tức là được mã hóa để phù hợp với việc truyền đưa trên kênh thông tin, thì sau đó phải biến đổi ngược lại tức là khôi phục lại hình thức ban đầu của tin tức (giải mã) Để việc truyền đưa tin tức đảm bảo chính xác, trung thực đòi hỏi việc trang bị kỹ thuật, công nghệ, tổ chức sản xuất trong viễn thông phải tuân theo những quy định nghiêm ngặt Để truyền đưa các dạng tin tức khác nhau, cần phải sử dụng nhiều loại thiết bị thông tin khác nhau, nhiều công nghệ khác nhau và nhiều loại lao động có ngành nghề khác nhau
Sản phẩm dịch vụ viễn thông không phải là vật chất cụ thể, không tồn tại ngoài quá trình sản xuất, nên không thể đưa vào kho, không thể thay thế được Trong sản xuất các dịch vụ viễn thông không có nguy cơ "thừa ế", sản phẩm sản xuất đến đâu, tiêu thụ đến đấy Song sự "ế thừa" đó nằm ở chính trong sự dự trữ mạng lưới viễn thông, ở sự khai thác giữa năng lực mạng lưới và tải trọng trên mạng Do vậy, có những yêu cầu rất cao đối với chất lượng sản phẩm viễn thông
Để tạo ra sản phẩm, các doanh nghiệp viễn thông không cần đến những nguyên vật liệu chính phải bỏ tiền ra mua như các ngành khác mà chỉ cần sử dụng các vật liệu phụ như: hộp chống sét, tủ hộp cáp… Điều này ảnh hưởng đến chi phí sản xuất kinh doanh dịch vụ viễn thông: chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng nhỏ, chi phí lao động sống (tiền lương) chiếm tỷ trọng lớn… trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh dịch vụ viễn thông
Chất lượng dịch vụ viễn thông dao động trong một khoảng rất rộng, tùy thuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch vụ (như người cung cấp dịch vụ, thời gian, địa điểm cung ứng) Ví dụ, chất lượng dịch vụ viễn thông phụ thuộc rất lớn vào thiết bị truyền dẫn và các nhân viên trực trên mạng lưới Sự không ổn định chất lượng này giải thích vì sao người mua dịch vụ thường hỏi ý kiến những người mua trước, trong khi lựa chọn người cung cấp dịch vụ Người được phục vụ chỉ có thể đánh giá các sản phẩm dịch vụ bằng cảm giác hoặc quan niệm là tốt hay xấu trên cơ sở cảm
Trang 27nhận của họ thông qua thực tế được phục vụ Khách hàng buộc phải tin vào nhà cung cấp dịch vụ viễn thông, người mua buộc phải tin vào người bán Để giảm bớt
sự không chắc chắn khi sử dụng dịch vụ viễn thông, khách hàng phải tìm kiếm các dấu hiệu chứng tỏ chất lượng dịch vụ viễn thông như: thương hiệu, điểm cung cấp dịch vụ, nhà cung cấp, trang thiết bị, biểu tượng, giá cả Về phía nhà cung cấp dịch
vụ viễn thông, để củng cố niềm tin cho khách hàng đối với mình, có thể thi hành một loạt các biện pháp cụ thể như tăng tính hữu hình của dịch vụ, có thể không chỉ
mô tả dịch vụ của mình mà còn làm khách hàng chú ý đến lợi ích có liên quan đến dịch vụ đó, có thể nghĩ ra tên gọi cho các dịch vụ của mình một cách cuốn hút, các chiêu quảng cáo nhằm tăng độ tin tưởng cho người tiêu dùng
Nhu cầu truyền đưa thông tin của xã hội rất đa dạng và phong phú, ngành viễn thông không thể thỏa mãn triệt để mọi nhu cầu cụ thể của từng người sử dụng,
mà hướng tới việc thỏa mãn những nhu cầu hợp lý của bộ phận đông đảo khách hàng Các dịch vụ viễn thông là loại sản phẩm thiết yếu của đời sống xã hội và có khả năng thay thế trong một giới hạn nhất định Mức độ thỏa mãn nhu cầu của xã hội phụ thuộc vào trình độ phát triển khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực truyền đưa thông tin, phụ thuộc vào tiềm năng vật tư thiết bị, tiền vốn, trình độ lao động có thể đầu tư vào lĩnh vực viễn thông Tùy thuộc vào năng lực của mình, một mặt đáp ứng các nhu cầu của đông đảo khách hàng, mặt khác các doanh nghiệp viễn thông cần tổ chức đáp ứng nhu cầu cao của một bộ phận nhỏ người sử dụng bằng cách mở ra các dịch vụ mới, chất lượng cao Việc đa dạng hóa các dịch vụ viễn thông sẽ tận dụng được năng lực mạng lưới và tăng doanh thu cho các doanh nghiệp viễn thông
Các dịch vụ viễn thông có thể thay thế cho một số dạng giao tiếp khác và thường có hiệu quả hơn trong việc sử dụng thời gian, năng lượng, vật liệu và do vậy, có ảnh hưởng tốt đến môi trường như: cung cấp thông tin cho người bán và cho người mua, phát triển đào tạo từ xa, phát triển các vùng kinh tế mới Phát triển các phương tiện thông tin viễn thông là yếu tố tiết kiệm thực tế lao động, vật tư, tiền vốn cho tất cả các ngành kinh tế sử dụng các phương tiện thông tin trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Sự phát triển các dịch vụ viễn thông phụ
Trang 28thuộc rất nhiều vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, sự phát triển của các ngành kinh tế quốc dân, vào mức sống của người dân…
1.3.2 Hoạt động kinh doanh dịch vụ viễn thông
Kinh doanh viễn thông là các hoạt động thực hiện một hoặc một số công đoạn truyền đưa thông tin nhằm mục tiêu sinh lời của các chủ thể kinh doanh
(doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông) trên thị trường
Kinh doanh viễn thông phải do một chủ thể thực hiện được gọi là chủ thể kinh doanh Chủ thể kinh doanh viễn thông có thể là doanh nghiệp Nhà nước (Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam, Tổng Công ty Viễn thông quân đội… ); doanh nghiệp cổ phần (Công ty cổ phần dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn…)
và các loại hình doanh nghiệp khác
Kinh doanh viễn thông phải gắn với thị trường Thị trường kinh doanh viễn thông được hiểu theo nghĩa rộng là một hệ thống bao gồm các khách hàng sử dụng, các nhà cung cấp, mối quan hệ cung cầu giữa họ tác động qua lại để xác định giá cả,
số lượng, chất lượng sản phẩm dịch vụ viễn thông
Các doanh nghiệp viễn thông dùng vốn của mình dưới hình thức tiền tệ mua
tư liệu sản xuất để sản xuất kinh doanh (truyền đưa thông tin) theo yêu cầu của khách hàng nhằm thu được số tiền tệ lớn hơn Mục đích chủ yếu của kinh doanh viễn thông là sinh lời (lợi nhuận) Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp viễn thông còn phải hướng tới những mục tiêu xã hội nhất định như: đảm bảo và tạo công ăn việc làm cho người lao động, đảm bảo phục vụ các chính sách chủ trương phát triển kinh tế của Nhà nước
Sơ đồ 1.1: Chu trình kinh doanh của doanh nghiệp viễn thông
Nghiên cứu
thị trường
Chọn sản phẩm dịch vụ
Thiết kế sản phẩm dịch vụ
Chuẩn bị các yếu tố sản xuất
Tổ chức kinh doanh dịch vụ
Tổ chức sản xuất kinh doanh
Sản xuất, thử nghiệm dịch vụ
Cung cấp dịch vụ ra thị trường
Điều tra sau cung cấp dịch vụ
Trang 29* Quá trình sản xuất kinh doanh dịch vụ viễn thông mang tính dây truyền Quá trình truyền đưa tin tức là quá trình diễn ra từ hai phía (người gửi tin và người nhận tin) Điểm đầu và điểm cuối của một quá trình truyền đưa tin tức có thể
ở các xã khác nhau, các huyện khác nhau, các tỉnh khác nhau hoặc các quốc gia khác nhau
Thông thường để thực hiện một đơn vị sản phẩm viễn thông cần có nhiều người, nhiều nhóm người, nhiều đơn vị sản xuất cùng tham gia, và trong quá trình
đó, người ta sử dụng nhiều loại phương tiện thiết bị thông tin khác nhau Như vậy,
để truyền đưa một tin tức hoàn chỉnh từ người gửi đến người nhận, quá trình truyền đưa đó trải dài trên một không gian rộng lớn Có khi mỗi đơn vị viễn thông chỉ tham gia vào một giai đoạn nhất định của quá trình truyền đưa tin tức Đây là đặc điểm quan trọng chi phối đến công tác tổ chức, quản lý hoạt động kinh doanh viễn thông
Nó đòi hỏi sự phải có quy định thống nhất về thủ tục quy trình khai thác; sự phối hợp chặt chẽ về kỹ thuật, nghiệp vụ, lao động giữa các đơn vị viễn thông
Mặc dù có nhiều đơn vị viễn thông tham gia vào quá trình truyền đưa tin tức hoàn chỉnh, nhưng việc thanh toán cước chỉ diễn ra ở một nơi thường là nơi chấp nhận tin tức đi Vấn đề quan trọng là phải phân chia doanh thu cước như thế nào để đảm bảo phản ánh chính xác kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các cơ sở viễn thông nhằm khuyến khích các cơ sở làm ăn có hiệu quả và động viên các cơ sở yếu kém khắc phục khó khăn
* Quá trình sản xuất kinh doanh gắn liền với quá trình tiêu thụ sản phẩm Trong ngành viễn thông, do đặc tính hoạt động sản xuất và tiêu dùng thì quá trình tiêu thụ trùng với quá trình sản xuất kinh doanh, như trong đàm thoại viễn thông, bắt đầu đăng ký đàm thoại là bắt đầu quá trình sản xuất, sau khi đàm thoại xong tức là sau khi tiêu dùng hiệu quả có ích của của quá trình sản xuất thì quá trình sản xuất cũng kết thúc Do quá trình tiêu thụ sản phẩm không tách rời quá trình sản xuất nên yêu cầu đối với chất lượng viễn thông phải thật cao, nếu không, ảnh hưởng trực tiếp ngay đến người tiêu dùng Các sản phẩm viễn thông không đảm bảo chất lượng không thể thay thế bằng sản phẩm có chất lượng tốt hơn, trong nhiều trường
Trang 30hợp sản phẩm viễn thông kém chất lượng có thể gây ra những hậu quả không thể bù đắp được cả về vật chất và tinh thần
Do đặc điểm quá trình tiêu thụ sản phẩm viễn thông không tách rời quá trình sản xuất kinh doanh nên để sử dụng các dịch vụ viễn thông, khách hàng sử dụng phải có mặt ở những vị trí, địa điểm của ngành viễn thông, hoặc có thiết bị (như máy thuê bao) Để thu hút nhu cầu, gợi mở nhu cầu, thỏa mãn ngày càng đầy đủ nhu cầu ngày càng cao của khách hàng về truyền đưa tin tức, các doanh nghiệp viễn thông cần phải phát triển mạng lưới rộng khắp đưa mạng lưới thông tin viễn thông đến gần mọi đối tượng sử dụng
Cũng do quá trình tiêu dùng không tách rời quá trình sản xuất nên ngành viễn thông thường thu cước phí trước khi phục vụ khách hàng sử dụng Đối với các
cơ quan xí nghiệp, cá nhân có ký hợp đồng viễn thông, có thể sử dụng dịch vụ viễn thông trước và thanh toán sau một thời điểm quy định trong tháng
* Nhu cầu dịch vụ viễn thông không đồng đều theo thời gian và không gian Nhu cầu thông tin của khách hàng quyết định sự tồn tại và phát triển của ngành viễn thông Ngành viễn thông có nhiệm vụ thỏa mãn tốt nhất mọi nhu cầu về truyền đưa thông tin, thu hút và mở rộng các nhu cầu này
Nhu cầu về truyền đưa thông tin rất đa dạng, nó xuất hiện không đồng đều về không gian và thời gian Nhu cầu về truyền đưa thông tin có thể xuất hiện ở bất kỳ nơi nào, ở đâu có nhu cầu thì ở đó có nhu cầu về thông tin Nhu cầu về thông tin xuất hiện không đồng đều vào bất kỳ lúc nào theo các giờ trong ngày, theo các ngày trong tuần, theo các tháng trong năm Thường nhu cầu về truyền đưa thông tin phụ thuộc vào nhịp độ sinh hoạt của xã hội, vào những giờ ban ngày, giờ làm việc của các cơ quan, doanh nghiệp, vào các kỳ báo cáo, các ngày Lễ, Tết thì lượng nhu cầu lớn Sự dao động không đồng đều của lượng thông tin trao đổi cộng với những quy định về tiêu chuẩn chất lượng đã được đặt ra khiến các cơ sở viễn thông không thể “tích lũy” thông tin được mà phải tiến hành truyền đưa thông tin đảm bảo thời gian truyền đưa thực tế nhỏ hơn hoặc bằng thời hạn kiểm tra
Nhu cầu trao đổi thông tin không ổn định, luôn dao động khiến cho các doanh nghiệp viễn thông gặp trở ngại về mức độ sử dụng nhân lực và cơ sở vật chất
Trang 31kỹ thuật Do đặc điểm này, các công ty viễn thông thường áp dụng một số chiến lược điều hòa tốt nhất về cung và cầu dịch vụ viễn thông theo thời gian Để đảm bảo lưu thoát hết mọi nhu cầu về truyền đưa thông tin cần phải có một lượng dự trữ đáng kể các phương tiện, thiết bị thông tin, lao động Để thỏa mãn mọi nhu cầu của khách hàng, ngành viễn thông phải hoạt động 24/24 giờ trong ngày, sẽ tồn tại những khoảng thời gian mà phương tiện thông tin và lao động được bố trí chỉ để thường trực
Viễn thông là ngành vừa phục vụ vừa kinh doanh, thực hiện hạch toán kinh doanh, cho nên phải tính đến hiệu quả kinh tế của việc sử dụng các yếu tố sản xuất (phương tiện, thiết bị thông tin, lao động ) để đảm bảo chất lượng thông tin cao nhất với chi phí sản xuất thấp nhất
Doanh nghiệp viễn thông cần lựa chọn và xây dựng hợp lý mô hình 5P bao gồm: Product, Price, Place, Promotion, People (sản phẩm, giá cả, địa điểm, xúc tiến, con người) vào hoạt động kinh doanh của mình và phải chú trọng nâng cao công tác chăm sóc khách hàng trước, trong và sau khi cung cấp dịch vụ viễn thông
Cũng giống như các ngành dịch vụ khác, các doanh nghiệp viễn thông phải định hướng khách hàng đối với mọi hoạt động kinh doanh, đặt khách hàng vào vị trí trung tâm trong mọi hoạt động của mình; không ngừng nâng cao trình độ thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng bằng chất lượng dịch vụ viễn thông, phương thức và thái độ phục vụ, bằng giá cả hợp lý và bằng các hoạt động dịch vụ phục vụ khách hàng
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh dịch vụ viễn thông
Trong quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, việc nghiên cứu và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh dịch vụ của mỗi doanh nghiệp là rất cần thiết Sự hiểu biết các nhân tố này sẽ giúp họ có kinh nghiệm đưa
ra các biện pháp phòng ngừa những nhân tố gây ảnh hưởng tiêu cực, kích thích những nhân tố có tác động tích cực để nhằm mục đích đẩy mạng hiệu quả kinh doanh, tạo tiền đề cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp
Trang 32Trong các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh dịch vụ viễn thông, các đại lượng kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) đều chịu ảnh hưởng tổng hợp của nhiều yếu tố khác nhau Có thể phân chia các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh dịch vụ của doanh nghiệp viễn thông thành các nhóm sau:
1.4.1 Nhân tố thuộc về doanh nghiệp viễn thông
Thể hiện cơ cấu tổ chức doanh nghiệp và phương thức quản lý doanh nghiệp, đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới việc ra các quyết định quản lý, do vậy quyết định khả năng thành công hay thất bại của doanh nghiệp viễn thông
1.4.1.1 Nhân tố nguồn nhân lực
Nhân tố con người là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Cơ cấu lao động, bố trí lao động hợp lý, tận dụng hết khả năng và trình độ của người lao động là yếu tố rất quan trọng để tăng khả năng đáp ứng nhu cầu dịch vụ trên thị trường, giảm chi phí nhân công và quan trọng
là tăng doanh thu, lợi nhuận, tăng hiệu quả kinh doanh dịch vụ
Cán bộ quản lý của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam đa số là những người đã được đào tạo qua các trường lớp chuyên ngành, có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm lâu năm trong ngành viễn thông, đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển của ngành Bên cạnh đó, Tập đoàn cũng có một đội ngũ cán bộ kỹ thuật trẻ, năng động, có kiến thức và trình độ, ham học hỏi sẵn sàng nghiên cứu, tiếp cận công nghệ hiện đại và ứng dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý và người lao động luôn được Tập đoàn quan tâm và chú trọng Các hình thức đào tạo trong và ngoài nước để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ đã tạo điều kiện cho người lao động tiếp thu kinh nghiệm, và tiếp cận với công nghệ tiên tiến, hiện đại của các tập đoàn viễn thông trên thế giới nhằm xây dựng và phát triển mạng lưới viễn thông Việt Nam
Tuy nhiên, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam chưa thực sự chú trọng tới việc đào tạo và nâng cao trình độ chuyên sâu của cán bộ quản lý kinh
Trang 33doanh Do vậy, đã hạn chế phần nào hiệu quả kinh doanh các dịch vụ viễn thông của Tập đoàn, đặc biệt là các hoạt động như Marketing, phát triển thương hiệu còn yếu Trên thực tế, tác phong làm việc, thái độ phục vụ kinh doanh của một số
bộ phận chưa chuyên nghiệp, tinh thần trách nhiệm chưa cao, ý thức cạnh tranh kém đã ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh của Tập đoàn trên thị trường
1.4.1.2 Nhân tố về vốn
Hiện nay, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam đang có ưu thế về vốn
so với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông Việt Nam khác Vốn sản xuất kinh doanh của Tập đoàn là rất lớn, khả năng huy động vốn cao từ nhiều nguồn khác nhau: nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp, vốn tự bổ sung, vốn vay ngân hàng, vốn huy động của cán bộ công nhân viên, của dân (hình thức tiết kiệm Bưu điện,
…), vốn vay của nước ngoài (nguồn viện trợ phát triển chính thức ODA, đầu tư trực tiếp FDI, hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC…) Vốn tự bổ sung của Tập đoàn chiếm bình quân 28% trong tổng vốn và tăng bình quân 22% qua các năm, đây là nguồn vốn quan trọng để đầu tư và đổi mới thiết bị mạng lưới bưu chính viễn thông
Trong những năm qua, mục tiêu chủ yếu của Tập đoàn là xây dựng mạng viễn thông hiện đại, dung lượng lớn, tốc độ cao ngang tầm với các nước trong khu vực Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam đã đầu tư khoảng 95% toàn bộ vốn kinh doanh của mình để phát triển lĩnh vực viễn thông, vì đây là ngành quan trọng, đem lại nguồn thu lớn, trang thiết bị luôn thay đổi, giá cao và thường phải mua từ nước ngoài Đây là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp viễn thông thuộc Tập đoàn mở rộng mạng lưới, đổi mới công nghệ để thu hút và đáp ứng được nhu cầu của khách hàng
Tuy nhiên, trong tương lai, khi các tập đoàn viễn thông lớn khác đầu tư vào Việt Nam trong lĩnh vực viễn thông thì Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
có thể sẽ không duy trì được thế mạnh này
1.4.1.3 Nhân tố về chất lượng dịch vụ viễn thông
Chất lượng dịch vụ viễn thông có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với người
sử dụng dịch vụ và sự phát triển của doanh nghiệp viễn thông Đây là nhân tố có vai
Trang 34trò quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp viễn thông Viễn thông là một ngành thuộc kết cấu hạ tầng, do vậy, hoạt động của ngành viễn thông ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất xã hội Trong mạng viễn thông, ba đặc trưng cơ bản nhất là lưu lượng (traffic), dung lượng (capicity) và chất lượng mạng (performance) Trong thực tế, lưu lượng phát sinh trên mạng là một đại lượng ngẫu nhiên, trong khi dung lượng mạng là một đại lượng hữu hạn và chất lượng mạng thì phụ thuộc vào lưu lượng, dung lượng, và các quá trình điều khiển kết nối trên mạng Các tin tức phục vụ cho hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt … được truyền đi càng nhanh, càng chính xác, độ hoạt động tin cậy của các thiết bị và của mạng lưới càng cao thì hiệu quả sản xuất
xã hội, điều hành, quản lý, kinh doanh… điều kiện sống của con người ngày càng được nâng cao Trong ngành viễn thông, chất lượng dịch vụ viễn thông bao gồm chất lượng sản phẩm viễn thông và chất lượng phục vụ
Trong điều kiện cạnh tranh, chất lượng trở thành tiền đề cho hiệu quả hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp viễn thông, đảm bảo lợi nhuận và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Do vậy, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp viễn thông đều nhằm nâng cao chất lượng các dịch vụ truyền thống và cung cấp các dịch vụ mới chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của xã hội
Chất lượng dịch vụ viễn thông được thể hiện qua các chỉ tiêu như: tốc độ truyền đưa tin tức, tỷ lệ các cuộc gọi thành công, độ chính xác trung thực của việc truyền đưa và khôi phục thông tin, độ hoạt động ổn định của các phương tiện thông tin… Chất lượng phục vụ trong viễn thông thể hiện mức độ đáp ứng nhu cầu của khách hàng về các dịch vụ viễn thông, thái độ phục vụ của nhân viên … Chất lượng viễn thông cao, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, làm khách hàng hài lòng sẽ tạo được niềm tin, lôi kéo khách hàng sử dụng dịch vụ viễn thông, và quan trọng là
sẽ làm tăng lợi nhuận và tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.4.1.4 Nhân tố về công nghệ - thiết bị mạng lưới
Công nghệ và thiết bị mạng lưới là nhân tố quan trọng tác động trực tiếp đến chất lượng, đến khả năng cung cấp các loại hình dịch vụ viễn thông của các doanh nghiệp Quá trình kinh doanh dịch vụ của các doanh nghiệp viễn thông luôn gắn
Trang 35liền với sự phát triển của công nghệ, của thiết bị trên mạng lưới Công nghệ và thiết
bị là cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành viễn thông, phản ánh năng lực sản xuất kinh doanh hiện có, trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật của mỗi doanh nghiệp Mức độ hoạt động của doanh nghiệp viễn thông bị tác động mạnh mẽ bởi tính hiện đại, khả năng vận hành của máy móc thiết bị, tính đồng bộ, cơ cấu thiết bị theo dung lượng, tình hình bảo dưỡng, công suất của máy móc, thiết bị và công nghệ trên mạng lưới viễn thông
Nâng cao năng lực mạng lưới thông qua việc áp dụng công nghệ mới, tiến bộ khoa học kỹ thuật để đảm bảo chất lượng dịch vụ cung cấp và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ cung cấp, đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng mọi nơi, mọi lúc, mọi chi phí Với mạng lưới viễn thông có dung lượng lớn, tốc độ cao, cấu hình hiện đại đồng bộ từ thông tin vệ tinh, truyền dẫn cáp quang, vi ba số SDH, các hệ thống tổng đài kỹ thuật số hiện đại, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam đang đáp ứng nhiều dịch vụ viễn thông hiện đại, tiện dụng, đa dạng với chất lượng cao cho toàn
xã hội Mạng viễn thông đường trục quốc gia do công ty Viễn thông liên tỉnh đảm nhận đã có những bước phát triển quan trọng mang tính cách mạng Hiện nay, mạng lưới đã được số hóa và vươn tới 63 tỉnh, thành phố với những tuyến cáp quang hiện đại SDH, DWDM dung lượng lớn tốc độ cao, mạng số liên kết đa dịch vụ ISDN, cho đến những hệ thống chuyển mạch của mạng viễn thông thế hệ mới NGN Sự phát triển không ngừng của mạng lưới với công nghệ hiện đại đã tạo ra các dịch vụ thông tin thuận tiện với chất lượng cao Từ thư tín, điện thoại thông thường đến các dịch vụ di động, điện thoại giá rẻ VoIP, điện thoại Internet, dịch vụ thoại trả trước
1719, MegaVNN, dịch vụ mạng riêng ảo diện rộng
Cải tiến và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, nâng cấp trang thiết bị máy móc, đổi mới công nghệ phù hợp, sử dụng triệt để về thời gian và công suất dung lượng máy móc thiết bị viễn thông là một trong những biện pháp nhằm tiết kiệm chi phí và nâng cao năng lực phục vụ của mạng lưới viễn thông
1.4.1.5 Nhân tố về trình độ quản trị của doanh nghiệp viễn thông
Đây là nhân tố rất quan trọng Quản trị doanh nghiệp chú trọng đến việc xác định cho doanh nghiệp một hướng đi đúng, một chiến lược hoạt động để phát triển
Trang 36doanh nghiệp Quá trình quản trị hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp viễn thông gồm các khâu cơ bản như: định hướng chiến lược cơ bản phát triển doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh, xây dựng kế hoạch phương án kinh doanh, tổ chức thực hiện các hoạt động kinh doanh, đánh giá kiểm tra và điều chỉnh các hoạt động kinh doanh Nếu thực hiện tốt các khâu cơ bản của quá trình này sẽ tạo điều kiện làm tăng sản lượng, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, dịch vụ, giảm chi phí quản lý, chiếm được lợi thế trong cạnh tranh, tăng thị phần, ngăn ngừa thất bại trong kinh doanh và quan trọng là tăng lợi nhuận
Những nhân tố thuộc về quản trị hoạt động kinh doanh bao gồm cụ thể là: chính sách sản phẩm phù hợp với thị trường về số lượng, chủng loại, chất lượng và giá cả, chính sách Marketing, kinh nghiệm và bí quyết cạnh tranh… Những nhân tố này ảnh hưởng tới quá trình đưa sản phẩm, dịch vụ ra thị trường tiêu thụ, do vậy, sự thay đổi của nhân tố này sẽ kéo theo sự thay đổi về chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh như doanh thu bán hàng, chi phí kinh doanh, cơ cấu mặt hàng, cơ cấu loại hình dịch vụ, dịch vụ phụ thêm…
1.4.1.6 Đặc điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ của Công ty Viễn thông liên tỉnh ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh
Công ty viễn thông liên tỉnh là đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam Được Tập đoàn giao quyền quản lý vốn và tài sản tương ứng với nhiệm vụ kinh doanh và phục vụ của Công ty Chịu trách nhiệm về việc hoàn thành kế hoạch kinh doanh và phục vụ để góp phần bảo toàn và phát triển tổng số vốn do Tập đoàn quản lý; có quyền tự chủ kinh doanh theo phân cấp của Tập đoàn, chịu sự ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi đối với Tập đoàn
Do đặc điểm của ngành viễn thông là các đơn vị hạch toán phụ thuộc tham gia vào quá trình truyền đưa một thông tin hoàn chỉnh (khi có nhu cầu của khách hàng), trong khi việc thanh toán cước thường chỉ diễn ra ở một nơi thường là nơi chấp nhận tin tức đi Như việc các Viễn thông tỉnh, thành phố đi thu cước viễn thông tại chính các bưu cục hoặc tại nhà thuê bao chủ gọi trên địa bàn tỉnh, thành phố đó Toàn bộ doanh thu được tập trung tại Tập đoàn và được phân chia lại cho các đơn vị theo sự đóng góp thông qua các quy định về phân chia cước kết nối và
Trang 37doanh thu Với các dịch vụ viễn thông liên tỉnh, điện báo liên tỉnh, telex liên tỉnh, Công ty không trực tiếp kinh doanh và phục vụ khách hàng mà thông qua các Bưu cục, các đại lý… sau một kỳ kinh doanh, Công ty sẽ nhận phần doanh thu phân chia của mình theo cước kết nối
Hàng năm, Tập đoàn giao các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh cho Công ty gồm các chỉ tiêu về doanh thu thuần (doanh thu thuần viễn thông và thu nhập hoạt động khác), doanh thu riêng (doanh thu đơn vị được hưởng, chi phí kinh doanh viễn thông), lợi nhuận, doanh thu phân chia viễn thông, các chỉ tiêu về sản lượng, lưu lượng, dịch vụ viễn thông Trên cơ sở đó, Công ty xây dựng các chỉ tiêu
kế hoạch kinh doanh hàng năm cho mình và đề ra các phương án sản xuất kinh doanh để hoàn thành kế hoạch được giao
Đối với doanh thu, căn cứ vào tổng sản lượng hay tổng thời gian tính ra phút thực hiện dịch vụ viễn thông, đồng thời căn cứ vào đơn giá sản phẩm do Tập đoàn xác định cho Công ty để tính ra doanh thu cho Công ty Tuy nhiên để thực hiện nhiệm vụ chung trong hoạt động kinh doanh dịch vụ viễn thông, Tập đoàn có khống chế doanh thu của Công ty Viễn thông liên tỉnh, bằng cách giao sản lượng kế hoạch hàng năm cho Công ty nếu thừa hoặc thiếu thì có những chính sách riêng để điều chỉnh doanh thu đó
Đối với các khoản chi phí, tất cả các khoản chi phí này được tập hợp lại và tổng hợp nộp cho Tập đoàn, nếu trong kỳ chi phí lớn hơn doanh thu thì Công ty sẽ được Tập đoàn cấp bù, còn nếu chi phí nhỏ hơn doanh thu thì Công ty nộp phần chênh lệch lên Tập đoàn (doanh thu kế hoạch được giao, chi phí kế hoạch được giao) Đây là đặc điểm đặc thù đối với những đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam Vì vậy, khi tính lợi nhuận của Công ty Viễn thông liên tỉnh thì lợi nhuận chỉ có ý nghĩa trong hạch toán nội bộ của Công ty và để khuyến khích hoạt động của Công ty cũng như để thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước
Bên cạnh đó, Công ty phải tuân thủ nghiêm túc các chính sách, quy định về giá cước do Tập đoàn và Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý và ban hành Công
ty không thể vận dụng giá cước linh hoạt như các Công ty viễn thông mới vì phải
Trang 38tạo điều kiện cho sự phát triển của các doanh nghiệp viễn thông mới trên thị trường viễn thông
Công ty Viễn thông liên tỉnh phải phụ thuộc Tập đoàn về nhiều mặt như: chịu sự phân cấp về tài chính, về đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, chính sách phát triển, giá thành sản phẩm dịch vụ, tiền lương, tiền thưởng… Chính vì vậy yếu
tố năng động, chủ động trong kinh doanh, khả năng tự chịu trách nhiệm về các quyết định trong kinh doanh của Công ty chưa cao
Hoạt động kinh doanh của Công ty chỉ mới thực sự được quan tâm và đầu tư trong mấy năm trở lại đây, do vậy, hiệu quả kinh doanh dịch vụ của công ty chưa cao, chưa tận dụng được hết năng lực, khả năng hiện có Trong thời gian tới, Công
ty cần chú trọng nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ của mình thì mới có thể đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của Công ty, mới duy trì được thị phần và khách hàng của mình
1.4.2 Nhân tố môi trường bên ngoài doanh nghiệp viễn thông
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp viễn thông không chỉ chịu tác động của các nhân tố bên trong doanh nghiệp mà còn chịu tác động lớn từ các yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài Các nhân tố này tạo ra cả cơ hội lẫn nguy cơ đối với mỗi doanh nghiệp viễn thông, nó gắn bó chặt chẽ với môi trường nội bộ tạo nên môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Môi trường kinh doanh tồn tại một cách khách quan, gây ra những khó khăn cũng như tạo ra những điều kiện thuận lợi tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.4.2.1 Nhân tố thuộc về môi trường kinh tế, chính trị, pháp luật của Nhà nước
a) Phân tích môi trường kinh tế:
Môi trường kinh tế có vai trò đặc biệt quan trọng, nó ảnh hưởng rất lớn đến họat động kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy các doanh nghiệp cần có những kiến thức nhất định về kinh tế Việc phân tích môi trường kinh tế không những xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến họat động kinh doanh của doanh nghiệp hiện tại mà còm cảc các yếu tố có thể gây ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai Các yếu tố kinh tế chủ yếu tác động đến doanh nghiệp bao gồm: Tốc độ
Trang 39tăng trưởng kinh tế, các chính sách kinh tế vĩ mô, chu kỳ kinh doanh, tỷ lệ lạm phát, thất nghiệp, tỷ giá hối đoái, hệ thống tài chính, lãi suất thị trường, chính sách thuế quan, cán cân thanh toán,…
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, đặc biệt chúng ta đều đã biết Việt Nam đã gia nhập AFTA và là thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO), rõ ràng đây là yếu tố mở ra rất nhiều cơ hội cho doanh nghiệp nhưng nó cũng sẽ đem đến không ít các thách thức mà buộc các doanh nghiệp phải tìm ra giải pháp để xây dựng chiến lược kinh doanh thích ứng cho doanh nghiệp trong tương lai
b) Phân tích sự ảnh hưởng của luật pháp chính sách:
Các yếu tố thuộc về chính trị và luật pháp có tác động với mức độ ngày càng lớn đến họat động của các doanh nghiệp Bất kỳ một doanh nghiệp nào họat động kinh doanh cũng phải tuân theo các qui định của Chính phủ, nó bao gồm các yếu tố:
Hệ thống pháp luật, hệ thống các công cụ, chính sách và qui định của Nhà nước có liên quan đến những họat động kinh doanh như:
+ Các qui định về giao dịch: Hợp đồng, luật bảo vệ nhãn hiệu thương mại như mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm, các qui định của Nhà nước có liên quan đến những họat động kinh doanh như:
+ Các chính sách như: Chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, chính sách bảo hộ sản xuất trong nước, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài,…
+ Môi trường pháp luật chung: Luật môi trường, luật doanh nghiệp, luật giá
cả, luật lao động…
c) Phân tích sự ảnh hưởng của các sự kiện chính trị:
Môi trường chính trị có vai trò quan trọng trong kinh doanh Tính ổn định về chính trị trong một quốc gia sẽ là một nhân tố thuận lợi cho doanh nghiệp trong các họat động sản xuất kinh doanh Người ta có thể dự báo nhu cầu , khả năng thực hiện các phương án trong tương lai tương đối chính xác
Sự ổn định về kinh tế chính trị thể hiện ở chỗ: Thể chế chính trị, sự nhất quán
Trang 40không ổn định về chính trị, sự thay đổi pháp luật và chính sách quản lý vĩ mô có thể
là cơ hội nhưng cũng là mối đe dọa với doanh nghiệp Các doanh nghiệp phải phân tích một cách tỉ mỉ các yếu tố chính trị, luật pháp, ở đây các doanh nghiệp không chỉ thuần túy tuân thủ những qui định đó mà còn phải làm sao để có thể tự mình gây ảnh hưởng đối với các qui định theo chiều hướng tích cực
1.4.2.2 Các nhân tố thuộc về văn hóa, xã hội
Xã hội cung cấp những nguồn lực mà doanh nghiệp viễn thông cần, tiêu thụ những sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất ra Các giá trị chung của xã hội, tập tục truyền thống, lối sống của doanh nghiệp, cơ cấu dân số, thu nhập của dân cư, thói quan tiêu dùng… đều có tác động nhiều mặt đến tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ viễn thông của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Dân số nước ta hiện nay là hơn 90 triệu dân, đây là điều kiện thuận lợi để các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông khai thác
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, đời sống của người dân ngày một nâng cao, trình độ dân trí và nhu cầu thông tin liên lạc cũng ngày một tăng đã tạo ra
sự đa dạng và phong phú các loại hình dịch vụ viễn thông có chất lượng cao và giá thành hạ Tỷ lệ hộ gia đình có thu nhập trung bình và khá tăng lên đáng kể, ngoài những nhu cầu thiết yếu để đảm bảo cuộc sống hàng ngày, thì những nhu cầu như vui chơi giải trí, các dịch vụ thông tin đa dạng … cũng tăng lên
Thị hiếu tiêu dùng của người dân cũng có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu sử dụng dịch vụ viễn thông Đa số người dân vẫn có thói quen tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ truyền thống, không thích thay đổi khi chưa thực sự biết rõ về sản phẩm cạnh tranh trong khi sản phẩm dịch vụ mà họ đang sử dụng đã tạo được niềm tin nhất định, điều đó thể hiện cả trong lĩnh vực viễn thông Đây là cơ hội thuận lợi cho Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam phát triển sản phẩm và chiếm lĩnh thị trường, mở rộng thị phần trong những năm qua Tuy nhiên, hiện nay, các doanh nghiệp viễn thông mới đã đưa ra nhiều loại hình dịch vụ viễn thông mới với chất lượng cao, đa dạng và giá thành rẻ hơn, thói quen tiêu dùng của người dân cũng đã
có sự thay đổi, Tập đoàn cũng phải lường trước được điều này và có giải pháp điều chỉnh, khắc phục