CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DỊCH VỤ CÔNG VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DỊCH VỤ CÔNG 1.1 Thế nào là dịch vụ công 1.1.1 Khái niệm dịch vụ công Khái niệm: Dịch vụ công được hiểu
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học Bách khoa Hà Nội
-TRỊNH BÁ TÙNG
Luận văn thạc sỹ MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ DỊCH VỤ CễNG TẠI UBND THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là của riêng tôi, được nghiên cứu một cách độc lập Tất cả các trích dẫn, số liệu trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng
HV: Trịnh Bá Tùng
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính thời sự và lý do chọn đề tài
Để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là cải cách hành chính Các nội dung của cải cách hành chính được Nhà nước xác định bao gồm: Cải cách thể chế hành chính, cải cách bộ máy Nhà nước, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, cải cách tài chính công và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của bộ máy Nhà nước Tất cả các nội dung này đều hướng vào một mục tiêu chung: đó là nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công
Cải tiến việc cung ứng dịch vụ công đã và đang là một chủ đề được nhiều Chính phủ trên thế giới quan tâm Xu thế chung là các Chính phủ ngày càng chú trọng nhiều hơn đến chức năng cung ứng dịch vụ công, nhằm đảm bảo các lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của dân
Để làm rõ nhận thức về dịch vụ công, phân tích thực trạng cung ứng dịch vụ công ở nước ta và đưa ra những giải pháp cải tiến hoạt động này, với vai trò là chuyên viên phòng Kinh tế Thành phố Nam Định tôi chọn để tài:
“ Một số giải pháp về dịch vụ công tại UBND thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định”
Với mong muốn đóng góp một phần cho công tác điều hành cũng như phương pháp quản lý của các cơ quan thuộc UBND Thành phố Nam Định đạt được hiệu quả
2 Nhiệm vụ của đề tài
Nghiên cứu về mặt lý thuyết và thực trạng của dịch vụ công và đưa ra một số giải pháp có tính khả thi góp phần hiệu quả vào công tác quản lý Nhà ước tại các phòng, ban thuộc UBND thành phố Nam Định
Trang 43 Những đóng góp mới và các giải pháp
Đổi mới cách nhìn nhận về dịch vụ công tại UBND TP Nam Định,
những đánh giá về các dịch vụ công dựa trên những số liệu thực tế, mục tiêu
hướng đến việc cung ứng dịch vụ công mang tính công khai minh bạch và
phổ biến đến toàn bộ các tổ chức, cá nhân của thành phố Nam Định, không
những thế nó còn là mô hình mới để các huyện khác của tỉnh Nam Định học
và làm theo
Trong chương 3 của luận văn, em đã đi sâu vào 3 giải pháp:
- Giải pháp 1: Ứng dụng công nghệ thông tin trong dịch vụ công và hoạt
động của UBND thành phố Nam Định
- Giải pháp 2: Xây dựng lộ trình và chế tài thực hiện giải pháp ứng dụng
công nghệ thông tin trong dịch vụ công tại UBND thành phố Nam Định
- Giải pháp 3: Hỗ trợ việc thực hiện dịch vụ công tại UBND TP Nam Định
4 Các phương pháp khoa học trong luận văn
Phương pháp quan sát:
Trong quá trình làm luận văn, em đã dành thời gian để quan sát quá
trình phục vụ các tổ chức, cá nhân của các cơ quan Nhà nước, đặc biệt là
trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo
Phương pháp thu thập số liệu:
Để có số liệu sơ cấp phục vụ đề tài, em đã trực tiếp điều tra số liệu các
phòng ban của thành phố Nam Định về ứng dụng CNTT trong việc quản lý về
dịch vụ công
Ngoài những số liệu sơ cấp trên em còn sử dụng những số liệu thứ cấp
từ các nguồn của các phòng, ban của UBND thành phố Nam Định
Trang 5Phương pháp phân tích dữ liệu: Phương pháp phân tích so sánh, dựa
trên phần mềm Excel
5 Kết cấu luận văn
Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về dịch vụ công và ứng dụng công nghệ thông
tin trong dịch vụ công
Chương 2: Phân tích thực trạng về dịch vụ công tại UBND thành phố
Nam Định
Chương 3: Thiết kế một số giải pháp về dịch vụ công tại UBND thành
phố Nam Định tỉnh Nam Định Ngoài ra, luận văn còn bao gồm các phần: Phần mở đầu; phần kết luận
và khuyến nghị; danh mục tài liệu tham khảo; phụ lục; tóm tắt luận văn
2
Hình 12: Cột cờ thành phố Nam Định
Trang 6MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Danh mục các chữ viết tắt
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính thời sự và lý do chọn đề tài 1
2 Nhiệm vụ của đề tài 1
3 Những đóng góp mới và các giải pháp 2
4 Các phương pháp khoa học trong luận văn 2
5 Kết cấu luận văn 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DỊCH VỤ CÔNG VÀ ỨNG DỤNG CNTT TRONG DỊCH VỤ CÔNG 1.1 Thế nào là dịch vụ công 05
1.2 Vai trò của việc ứng dụng CNTT trong dịch vụ công 08
1.3 Cơ sở lý thuyết của việc ứng dụng CNTT trong dịch vụ công 11
1.4 Cơ sở lý luận xây dựng lộ trình ứng dụng CNTT dịch vụ công 24
1.5 Cơ sở lý thuyết hỗ trợ thực hiện trong dịch vụ công 25
1.6 Tóm lược chương 1 và nhiệm vụ chương 2 28
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VIỆC ỨNG DỤNG CNTT TRONG DỊCH VỤ CÔNG TẠI UBND THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH 2.1 Giới thiệu chung về UBND thành phố Nam Định tỉnh Nam Định 29
2.2 Khái quát thực trạng dịch vụ công tại UBND TP Nam Định 31
2.3 Phân tích và đánh giá các dịch vụ công tại UBND.TP Nam Định 41
Trang 72.4 Hiện trạng hạ tầng CNTT trên địa bàn thành phố Nam Định 44
2.5 Phân tích đánh giá, thực trạng ứng dụng CNTT trong dịch vụ công tại UBND thành phố Nam Định 47
2.6 Phân tích, đánh giá thực trạng lộ trình ứng dụng CNTT tại UBND thành phố Nam Định 54
2.7 Phân tích, đánh giá thực trạng các biện pháp hỗ trợ việc thực hiện dịch vụ công tại UBND thành phố Nam Định 57
2.8 Tóm lược chương 2 và đề ra nhiệm vụ chương 3 61
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ DỊCH VỤ CÔNG TẠI UBND THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH 3.1 Xu hướng ứng dụng CNTT khi Việt Nam gia nhập WTO 62
3.2 Ứng dụng CNTT trong quản lý Nhà nước tại Quận 1 – TPHCM 63
3.3 Ứng dụng CNTT tại thành phố Hải phòng 67
3.4 Về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của thành phố Nam Định 68
3.5 Các giải pháp ứng dụng CNTT tại UBND thành phố Nam Định 70
3.5.1 Giải pháp 1: Ứng dụng CNTT trong dịch vụ công và hoạt động dịch vụ công của UBND thành phố Nam Định 70
3.5.2 Giải pháp 2: Xây dựng lộ trình và chế tài thực hiện giải pháp ứng dụng CNTT trong dịch vụ công tại UBND TP Nam Định 86
3.5.3 Giải pháp 3: Hỗ trợ thực hiện dịch vụ công tại UBND thành phố Nam Định 95
3.6 Tổng hợp các giải pháp 105
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trang 8CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DỊCH VỤ CÔNG VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DỊCH VỤ CÔNG
1.1 Thế nào là dịch vụ công
1.1.1 Khái niệm dịch vụ công
Khái niệm: Dịch vụ công được hiểu là những giao dịch trực tiếp giữa
Nhà nước và công dân với tư cách là khách hàng của Nhà nước [1;19]
Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích thiết yếu, các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức, do Nhà nước can thiệp vào
việc cung cấp nhằm đảm bảo trật tự, lợi ích chung và công bằng xã hội [2;3]
1.1.2 Đặc trưng cơ bản của dịch vụ công
Dịch vụ công có một số đặc trưng cơ bản như sau [1;22-23]
Thứ nhất, đó là những hoạt động phục vụ cho nhu cầu và lợi ích chung
thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân
Thứ hai, những hoạt động này do các các cơ quan công quyền hay
những chủ thể được chính quyền uỷ nhiệm đứng ra thực hiện
Thứ ba, Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo các dịch vụ này cho xã hội
Ngay cả khi Nhà nước chuyển giao dịch vụ này cho tư nhân cung cấp thì Nhà nước vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này, khắc phục các khuyếm khuyết của thị trường
Thứ tư, khi thực hiện cung ứng dịch vụ công nhằm đáp ứng nhu cầu,
quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp của các tổ chức và công dân
Thứ năm, khi thực hiện cung ứng các dịch vụ công, các cơ quan Nhà
nước và các tổ chức được uỷ nhiệm cung ứng có sự giao dịch cụ thể với khách hàng – các tổ chức và công dân
Trang 9Thứ sáu, việc Nhà nước cung ứng dịch vụ công thường không thông
qua quan hệ thị trường đầy đủ Thông thường, người sử dụng dịch vụ này không trực tiếp trả tiền mà trả dưới hình thức đóng thuế, cũng có những dịch
vụ mà người sử dụng phải trả một phần kinh phí hoặc toàn bộ kinh phí; tuy nhiên Nhà nước vẫn có trách nhiệm đảm bảo cung ứng các loại dịch vụ này không nhằm vào mục tiêu lợi nhuận Dịch vụ công có tính xã hội, phục vụ lợi ích cộng đồng của toàn xã hội là chính, tính kinh tế - lợi nhuận không phải là mục tiêu chi phối hoạt động dịch vụ công Dịch vụ công mang tính chính trị - kinh tế - xã hội vì lợi ích của toàn xã hội nhiều hơn
Dịch vụ công phục vụ yêu cầu của tất cả các công dân không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội, nó mang tính nhân dân rộng rãi
“ Dịch vụ công cung ứng loại” hàng hoá” không phải là thông thường
mà là hàng hoá đặc biệt do Chính phủ cung ứng hoặc uỷ nhiệm cho các tổ
chức, cá nhân thực hiện, đáp ứng nhu cầu cho xã hội, cho toàn dân ” [3; 6-7]
1.1.3 Phân loại dịch vụ công
Người ta có thể chia dịch vụ công ra thành 3 loại [4;64-65]
+ Dịch vụ hành chính công:
Các hoạt động nhân danh công quyền nhà nước, đáp ứng yêu cầu của người dân, trật tự trị an tới các thủ tục giấy tờ hành chính như cấp phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, hộ tịch, hộ khẩu,v.v , bảo đảm cho công dân trong học tập, làm ăn, sinh sống
+ Dịch vụ sự nghiệp công:
Các hoạt động nhân danh các cơ quan chức năng của nhà nước đảm bảo cho người dân như: giáo dục, y tế văn hoá, nghiên cứu khoa học đáp ứng yêu cầu về học tập, chăm sóc sức khoẻ, hưởng thụ văn hoá tinh thần của nhân dân
và sự phát triển chung của xã hội Hoạt động này phần lớn dơ các tổ chức, cơ quan nhà nước đảm nhận hoặc một phần đã được xã hội hoá
Trang 10+ Dịch vụ công cộng: cung ứng các loại hàng hoá công cộng như điện, nước sinh hoạt, giao thông, bưu điện, vệ sinh môi trường loại dịch vụ này phần lớn do các doanh nghiệp nhà nước đảm nhiệm, hiện nay một số cơ sở, có các tổ chức hoặc cá nhân đứng ra đảm nhiệm cung ứng loại dịch vụ này như:
vệ sinh môi trường, thu gom vận chuyển rác, cung ứng nước sạch các loại hoạt động này do các cơ quan nhà nước chuyển giao hoặc thực hiện theo hợp đồng uỷ thác với các yêu cầu về chất lượng cụ thể
Hình 1.1: Các khái niệm liên quan đến dịch vụ công [5;149]
1.1.4 Hệ thống cung ứng dịch vụ công
Hệ thống sản xuất cung ứng dịch vụ công cũng tương tự như các mô hình các dịch vụ khác bao gồm các yếu tố về vật chất và con người, được tổ chức chặt chẽ theo hệ thống phối hợp hướng tới khách hàng, nhằm đảm bảo
DỊCH VỤ CÔNG
Cấp giấy phép
Thu các khoản đóng góp vào ngân sách và các quỹ của nhà nước Cấp giấy chứng nhận, xác nhận
DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG
Dịch vụ công cộng
Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử
lý vi phạm hành chính
Dịch vụ
sự nghiệp công
Trang 11Điểm khác biệt rõ ràng nhất với cách làm cũ là ở chỗ: tất cả các khâu như nắm bắt yêu cầu, nhận và trả hồ sơ của khách hàng đều tập trung vào một khu vực hành chính tập trung Người dân có yêu cầu về bất kỳ dịch vụ hành chính công nào khi đến giao dịch chỉ làm việc với duy nhất một bộ phận tiếp nhận và trả hồ sơ mà không phải đi đến các phòng ban chuyên môn
Hình 1.2: Mô hình hệ thống sản xuất cung ứng dịch vụ [ 6;18]
một xe khách khởi hành với ghế không có người ngồi thì không có dịch vụ,
mới chỉ có những khả năng sử dụng, những tiềm năng dịch vụ
(2) Cơ sở vật chất [31;33]
Đây là cơ sở vật chất cần thiết cho việc sản xuất dịch vụ mà người sử
dụng sẽ là nhân viên tiếp xúc, hoặc khách hàng, hoặc cả hai cùng sử dụng Cơ
sở vật chất này có thể chia làm hai phạm trù lớn
Trang 12* Các công cụ cần thiết cho dịch vụ gồm tất cả các đồ vật, bàn ghế hay máy móc dành cho nhân viên tiếp xúc và/ hoặc khách hàng sử dụng Nhân viên tiếp xúc và khách hàng sử dụng các công cụ này sẽ cho phép thực hiện
dịch vụ
* Môi trường gồm có tất cả những gì chung quanh các đồ dùng Đó là địa điểm, các ngôi nhà trong khung cảnh và nhà quản lý, dịch vụ được thực hiện tại nơi ấy
(3) Nhân viên tiếp xúc [31; 33]
Nhân viên cung ứng dịch vụ là những người trực tiếp giao tiếp với khách hàng trong quá trình chuyển giao dịch vụ (có 2 loại đó là nhân viên giao tiếp dịch vụ và nhân viên dịch vụ cấp dưới)
(4) Hệ thống nội bộ (31;34)
Cơ sở vật chất và nhân viên tiếp xúc chỉ là bộ phận nhìn thấy của dịch
vụ Hai yếu tố này được chi phối bởi tổ chức nội bộ của đơn vị cung ứng dịch
vụ, tức là các mục tiêu mà nó theo đuổi, cơ cấu mà nó đã áp dụng, các hoạt động mà nó thực hiện, tóm lại là sự quản lý của đơn vị, đó là một bộ phận mà khách hàng không nhìn thấy được tại đơn vị cung ứng dịch vụ
1.2 Vai trò của việc ứng dụng CNTT trong dịch vụ công
Công nghệ thông tin làm thay đổi cách giao tiếp của con người, ngày nay, hàng nghìn triệu người trên thế giới có thể giao tiếp hàng ngày thông qua mạng Internet
Với hệ thống mạng toàn cầu này, mọi người đều có thể nhận được tin tức, giao dịch thương mại, nói chuyện với bạn bè người thân Sự khác biệt về ngôn ngữ cũng được khắc phục dễ dàng nhờ mạng lưới dịch vụ
Trong hoạt động quản lý, CNTT đã tạo nên một thế mạnh mới cho các nhà quản lý Máy tính điện tử và CNTT không chỉ hỗ trợ các nhà quản lý nắm
Trang 13bắt thông tin đầy đủ và chính xác để hoạch định chính sách mà còn cung cấp nhiều công cụ từ quản lý vĩ mô đến quản lý vi mô Nhà lãnh đạo có thể nắm chính xác toàn bộ những nguồn lực hiện có đơn vị mình như: nguồn ngân sách; nhân sự; trình độ nhờ các phần mềm hoặc các thiết bị, phương tiện như mã vạch, thẻ chấm công điện tử
Chính quyền điện tử là một hình thức hoạt động mới của các cơ quan công quyền nhờ CNTT Chính quyền điện tử tạo điều kiện để toàn bộ hoạt động của một quốc gia được điều hành thống nhất và đồng bộ Nhiều nội dung trong hoạt động chủ yếu của Chính phủ và các cơ quan công quyền với
sự hỗ trợ của máy tính điện tử và các hệ thống mạng đã tạo nên mối liên hệ gắn bó, gần gũi hơn đối với toàn xã hội
Mọi công dân đều có thể nắm bắt được đầy đủ, nhanh chóng những vấn
đề về phương hướng, chủ trương, quy hoạch, kế hoạch, pháp luật, quy định hiện hành của nhà nước trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội
Mối liên hệ giữa các cấp chính quyền trở nên thông suốt Hơn nữa, thông qua các hệ thống mạng, mỗi công dân có thể đề xuất những vấn đề cần thiết với các cơ quan nhà nước và có thể được giải quyết một cách nhanh chóng mà không nhất thiết phải trải qua nhiều thủ tục phiền hà CNTT thực sự
là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định nhất đối với quá trình cải cách nền hành chính quốc gia
Công nghệ thông tin đang trở thành một lĩnh vực công nghệ hiện đại, phát triển hết sức nhanh chóng, tạo ra một cuộc cách mạng lớn lao trong mọi mặt của đời sống xã hội
Công nghệ thông tin dẫn đến những biến đổi về cơ bản trong phương thức hoạt động, nâng cao năng suất và hiệu quả, đồng thời kéo theo những thay đổi về tư duy và tổ chức, có thể nói công nghệ thông tin là điểm tựa mà
Trang 14có thể làm thay đổi cả thế giới Việc sử dụng công nghệ thông tin cho phép một nước rút ngắn được rất nhiều chặng đường phát triển của mình
Việc sử dụng công nghệ thông tin trong hành chính là một hướng đi cơ bản và quan trọng nhằm cải tiến việc cung ứng dịch vụ công ở nước ta, trước hết dịch vụ hành chính công Những tác dụng của công nghệ thông tin không những nâng cao hiệu quả mà còn cải thiện đáng kể chất lượng dịch vụ công
Có thể nói, hiệu quả mà thực tế mà công nghệ thông tin mang lại là tăng cường các mối quan hệ tương tác của nhà nước với công dân và giảm gánh nặng hành chính đối với người dân Hơn thế nữa việc cung ứng công nghệ thông tin còn dẫn đến những thay đổi về cơ bản cơ cấu tổ chức và quy trình cung ứng dịch vụ công
Cơ hội và thách thức trong việc cung ứng dụng công nghệ thông tin vào cung ứng dịch vụ hành chính công bao gồm:
Công nghệ thông tin đã có những bước lớn lao Các ứng dụng của công nghệ thông tin đã chứng tỏ những ưu thế to lớn đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội Nếu quốc gia nào không ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin thì sẽ tụt hậu theo cấp số nhân với các quốc gia phát triển khác
- Quá trình toàn cầu hóa đã xóa bỏ những biên giới quốc gia trong nhiều lĩnh vực kinh tế, khoa học - xã hội Toàn cầu hóa cho phép một nước tiếp cận đến công nghệ thông tin và sử dụng công nghệ đó để thúc đẩy sự phát triển đất nước
- Lãnh đạo Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định đã nhận thức và thấy được tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin, và nhiều chương trình phần mền được dùng để quản lý điều hành trong công việc hành chính, nhiều khóa đào tạo về công nghệ tin học đã được tiến hành
- Cải cách hành chính đang trở thành một yêu cầu cấp bách, một chủ trương lớn của Nhà nước nhằm tạo điều kiện thúc đẩy sự nghiệp đổi mới
Trang 15trong những năm tới Công nghệ thông tin là một chìa khóa quan trọng cải cách hành chính
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động cung ứng dịch vụ hành chính công sẽ cải thiện đáng kể năng suất, chất lượng và hiệu quả cung ứng dịch vụ, tạo ra một diện mạo mới của Nhà nước trong quan hệ với các tổ chức và công dân Việc ứng dụng công thông tin trong cải cách hành chính gặp một số thách thức đáng kể, bao gồm:
- Các cơ quan hành chính chưa nhận thức được việc ứng dụng công nghệ thông tin và các tác dụng to lớn của nó; có nơi nhận thức ra được vấn đề trên, song lại không có các biện pháp đúng đắn và đủ mạnh để thiết lập vận hành hệ thống công nghệ thông tin trong cơ quan của mình
- Một số địa phương, hoặc cơ quan không có đủ nguồn lực và kinh phí
để xây dựng hệ thống thông tin trong hoạt động hành chính, hoặc việc trang bị mang tính lẻ tẻ, manh mún, không đủ để thiết lập một mạng quản lý nội bộ có hiệu quả
- Điều cốt lõi để phát huy các ưu thế của công nghệ thông tin trong hoạt động hành chính là thiết lập được các phần mềm ứng dụng phù hợp với các quy trình hoạt động hành chính của cơ quan, song hầu như hiện nay các cơ quan và đơn vị chưa tập trung vào khâu này mà chỉ tập trung vào đầu tư vào trang thiết bị Kết quả là các máy móc này chỉ có tác dụng thay thế các hoạt động mang tính thủ công trước đây Trên cơ sở các đặc tính của công nghệ thông tin và kinh nghiệm của của các nước về sử dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực hành chính công trên những mặt sau:
- Thông tin mạng điện tử để cung cấp cho người dân các thông tin về hoạt động dịch vụ công của Nhà nước Các thông tin này không chỉ được chuyển tải qua mạng internet mà còn thông qua mạng điện thoại Ở nước ta
Trang 16hiện nay không phải gia đình nào cũng nối mạng Internet, vì vậy việc sử dụng thông tin qua mạng viễn thông có tính thông dụng hơn
Các cơ quan cung ứng dịch vụ hành chính công của Nhà nước cần phối hợp với các đơn vị viễn thông trên địa bàn thiết lập trung tâm thông tin về dịch vụ hành chính công Tại đây sẽ lưu trữ toàn bộ thông tin cần thiết về các dịch vụ hành chính công mà các cơ quan hành chính cung ứng cho dân, chẳng hạn một công dân ở phường X có thể thông quan số điện thoại để hỏi
về thủ tục về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, biết được thời gian làm việc của cơ quan này, thậm trí có thể đăng ký thời điểm đến làm thủ tục
- Sử dụng công nghệ thông tin để liên kết dữ liệu của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc phối hợp cung ứng dịch vụ công cho công dân Bằng cách hình thành một cơ sở dữ liệu thông tin thống nhất, bản thân các cơ quan hành chính có thể sử dụng hệ thống dữ liệu tổng hợp chung mà không mất thời gian thu thập những thông tin này
Mỗi cơ quan thiết lập một hộp thư riêng của mình để tiếp nhận các yêu cầu, kiến nghị hoặc khiếu nại của công dân và trả lời các thư này một cách nhanh nhất Chẳng hạn, khi người dân không hiểu về một chủ trương nào đó của chính quyền, họ có thể viết thư vào hòm thư gửi vào hộp thư của cơ quan
đó hoặc thậm chí là hòm thư chung của Ủy ban nhân dân
Đánh giá dịch vụ công được theo 3 mức độ của dịch vụ [7]
Mức (1) Là cung cấp đầy đủ hoặc phần lớn các thông tin về quy trình, thủ tục, các bước cần tiến hành, các giấy tờ cần thiết, chi phí và thời gian thực hiện dịch vụ; mức (2) Đạt được các tiêu chí mức (1) và cho phép người sử dụng tải về các mẫu đơn, hồ sơ để người sử dụng có thể in ra giấy, hoặc điền vào các mẫu đơn là cung cấp các loại mẫu đơn); mức (3) Đáp ứng được các tiêu chí mức (2) và cho phép người sử dụng điền trực tuyến vào các mẫu đơn,
hồ sơ và gửi lại trực tuyến tới cơ quan và người thụ lý hồ sơ
Trang 17Các giao dịch trong quá trình thụ lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện qua mạng, trừ việc thanh toán chi phí và trả kết quả sẽ đòi hỏi người
sử dụng dịch vụ đến trực tiếp cơ quan cung cấp dịch vụ
1.3 Cơ sở lý thuyết của việc ứng dụng CNTT trong dịch vụ công
Luật công nghệ thông tin được quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 là
cơ sở lý thuyết mang tính chất xương sống của việc ứng dụng CNTT trong dịch vụ công
Luật quy định về hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT, quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT “Luật công nghệ thông tin là hành lang pháp lý quan trọng tạo điều kiện để thúc đẩy việc ứng dụng CNTT phát triển, góp phần tạo điều kiện
cho phát triển kinh tế - xã hội, hiện đại hoá đất nước” [8;10]
(1) Ứng dụng CNTT trong hoạt động lãnh đạo quản lý dịch vụ công là một yêu cầu khách quan trong phát triển kinh tế, chính trị - xã hội
“Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động lãnh đạo, quản lý thực chất là sử dụng các thiết bị kỹ thuật, các giải pháp công nghệ, các thủ tục và phương pháp của tin học và công nghệ để phục vụ quá trình thực hiện chức
lãnh đạo quản lý” [8;111]
Công nghệ thông tin đang được ứng dụng tích cực vào lĩnh vực quản lý nhà nước, lĩnh vực lãnh đạo quản lý cũng như các lĩnh vực khác đang chịu tác động của công nghệ thông tin và công nghệ thông tin và công nghệ thông tin
có thể hỗ trợ công tác quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động của nó Đồng thời hoạt động lãnh đạo cũng quản lý cũng tác động lớn đến phát triển CNTT
Ứng dụng công nghệ thông tin là sử dụng những kết quả của công nghệ thông tin để hỗ trợ cho cá nhân và tổ chức hoạt động xử lý thông tin, hỗ trợ cho các khâu công việc cần thiết và cuối cùng, ở mức cao nhất là hỗ trợ cho các tổ chức hoạt động và cá nhân tự trao đổi, khai thác thông tin trong môi
Trang 18trường công nghệ thông tin; cải tiến đổi mới quy cách làm việc, đạt hiệu quả công việc cao hơn, đáp ứng những thay đổi đang diễn ra
Mục tiêu ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý quản lý nhà nước các cấp đã đặt ra là trang thiết bị tối thiểu ban đầu về kết cấu hạ tầng
kỹ thuật thông tin; cung cấp các kiến thức tin học cần thiết cho đội ngũ cán bộ
sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý một số công việc nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức, góp phần tích cực vào việc cải cách hành chính các cấp
Theo xu thế phát triển chung hiện nay, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước, ngoài những nội dung yêu cầu nêu trên, tin học hoá quản lý nhà nước các cấp còn hướng vào việc thực hiện cung cấp thông tin cần thiết trên nhiều lĩnh vực cho nhân dân, doanh nghiệp, công chức hướng tới việc các cơ quan quản lý giảm phiền hà trong thủ tục hành chính, phục vụ nhu cầu của nhân dân một cách tốt hơn
Để tiến hành ứng dụng công nghệ thông tin người lãnh đạo, quản lý trong một tổ chức trước hết cần nhận thức được vai trò của công nghệ thông tin trong phát triển kinh tế, chính trị - xã hội hiện nay; nhận thức về những khả năng mà công nghệ thông tin có thể hỗ trợ các hoạt động, trong đó có hoạt động quản lý nhà nước “Người lãnh đạo cần xác định những khâu công việc trong tổ chức của mình có thể ứng dụng tin học, công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả làm việc; tuyên truyền và làm cho mọi người trong tổ chức cũng nhận thức như mình, chuẩn bị nguồn nhân lực, những người hiểu biết và
sử dụng tốt thiết bị, những người am hiểu chuyên môn nghiệp vụ sẵn sàng
tham gia triển khai ứng dụng công nghệ thông tin tại đơn vị ” [9;352-353]
(2) Những nội dung chủ yếu của ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dịch vụ công và các hoạt động khác [8;15]
Trang 19- Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động ra quyết định các chủ thể lãnh đạo, quản lý: Sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước từ các khâu hoạch định đường lối, chính sách, ban hành pháp luật, xác định chủ trương, chiến lược sách lược đến lập kế hoạch, tổ chức và điều hành bộ máy, tuyên truyền giáo dục, động viên quần chúng nhân dân thực hiện, sử dụng các công cụ quản lý
vĩ mô đều có thể ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả Công nghệ thông tin và các hệ thống thông tin điện tử khi được triển khai sâu rộng trên phạm vi cả nước sẽ trở thành một phương tiện quan trọng của hoạt động quản lý nhà nước
Sử dụng một cách hiệu quả máy tính điện tử và CNTT, các cơ quan lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, các chủ thể lãnh đạo, quản lý sẽ được cung cấp thông tin nhanh chóng, đầy đủ chính xác và khách quan Đó chính là điều kiện tiền đề của việc quyết định chủ chương và hoạch định chính sách và áp dụng các biện pháp thực hiện
Mặt khác, ngày nay các hệ thống hỗ trợ quyết định đang không ngừng được xây dựng và phát triển, đã và đang trở thành một yếu tố quan trọng trong việc trợ giúp các chủ thể lãnh đạo, quản lý ra quyết định Nó không những có khả năng cung các nguồn dữ liệu đa dạng, phong phú và còn hỗ trợ đắc lực cho cho các chủ thể lãnh đạo, quản lý trong việc lựa chọn các phương án có khả thi
- Tin học hoá quản lý nhà nước, thay thế phương pháp xử lý thông tin thủ cong bằng phương pháp xử lý thông tin tự động bằng máy tính điện tử: Hiện nay, công nghệ thông tin đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong các
cơ quan của Đảng, Nhà nước, các tổ chức kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội
Từ soạn thảo văn bản, tính toán số liệu, cập nhật thông tin đến ấn loát, truyền thông đến quản lý nhân sự, quản lý tài chính, vật tư tài sản, lập lịch, xác định các chương trình tác nghiệp đều có thể nhận được sự hỗ trợ đắc lực của máy tính điện tử CNTT giúp các cơ quan lãnh đạo, quản lý có thể truyền đến
Trang 20đối tượng lãnh đạo, quản lý những thông tin cần thiết và ngược lại, nhận được các báo cáo, đề nghị, yêu cầu của đổi tượng hoặc nhiều đối tượng trong cùng một thời điểm
Khả năng tăng lên gấp nhiều lần về khối lượng và tốc độ của quá trình trao đổi giữa chủ thể và đối tượng của hoạt động lãnh đạo, quản lý là một bước nhảy vọt do ứng dụng CNTT Quá trình tin học hoá hoạt động lãnh đạo, quản lý còn tạo nên những lợi thế rất căn bản như các chủ thể và đối tượng của hoạt động lãnh đạo, quản lý luôn có được cung cấp thông tin tưg nhiều nguồn dữ liệu đã được xây dựng thành cơ sở dữ liệu với những quy mô tầm
cỡ khác nhau Do tin học hoá hoạt động quản lý nên việc lưu cất, bảo quản các nguồn tài nguyên thông tin cũng trở nên dễ dàng và có hiệu quả kinh tế rõ rệt; đổi mới hoàn toàn hoạt động lưu chữ bằng các phương pháp truyền thống của cách quản lý cũ
- Khép kín quy trình hoạt động của lãnh đạo quản lý: Trong quy trình hoạt động lãnh đạo, quản lý, thông tin phản hồi có vai trò quan trọng đối với việc kiểm tra tính đúng đắn của quyết định và hiệu quả của quá trình tổ chức thực hiện với máy tính điện tử và CNTT, các chủ thể lãnh đạo, quản lý sẽ nhanh chóng nắm bắt được thông tin phản hồi ở tất cả các công đoạn của quy trình và không chỉ một hướng mà trên nhiều hướng để các chủ thể lãnh đạo, quản lý kịp thời xử lý Mặt khác, các chủ thể lãnh đạo quản lý cũng có điều kiện để nhanh chóng xác định tính chính xác của thông tin, chọn lọc và loại trừ được các thông tin gây nhiễu trong các công đoạn của quy trình hoạt động lãnh đạo quản lý
(3) Điều kiện cần thiết đối với quá trình ứng dụng CNTT trong hoạt động lãnh đạo quản lý [8;17]
- Phương hướng chủ trương chính sách về ứng dụng CNTT của Đảng, Nhà nước và nhận thức, năng lực của đội ngũ lãnh đạo, quản lý: Đội ngũ cán
Trang 21vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hoạch định đường lối, chủ trương chính sách, trong tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội và bảo vệ an ninh quốc gia Nắm bắt thông tin, xử lý thông tin, tổ chức, quản lý thông tin là những công việc thường ngày, nhưng cũng là những công việc quan trọng nhất quan hệ đến tất cả mọi lĩnh vực trong phạm vi địa bàn hoạt động của người cán bộ lãnh đạo, quản lý Bởi vậy, người cán bộ lãnh đạo quản lý trước hết phải nhận thức đúng vai trò của tin học và CNTT để ứng dụng trong lãnh đạo, quản lý, cũng như để lãnh đạo và quản lý đối với lĩnh vực quan trọng này
Mặt khác, sự phát triển của tin học và CNTT không thể tách khỏi những điều kiện rất căn bản như phương hướng, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với lĩnh vực này Đây là một vấn đề rộng lớn và lâu dài Tuy vậy, để xác định những vấn đề căn bản ấy, nhận thức của đội ngũ cán
bộ lãnh đạo quản lý các cấp về tin học và CNTT giữ vai trò đặc biệt quan trọng Trong những năm gần đây, mặc dù Đảng và Nhà nước đã có nhiều cố gắng trong việc đầu tư và phát triển lĩnh vực CNTT nhưng để thực hiện thúc đẩy, hiện đại hoá đất nước thì trên lĩnh vực này vẫn còn nhiều vấn đề bất cập
- Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực CNTT: Để ứng dụng CNTT trong hoạt động lãnh đạo, quản lý xây dựng và phát triển nguồn nhân lực CNTT là một vấn đề quan hệ trực tiếp đến hiệu quả lãnh đạo quản lý Khi máy tính điện tử cũng như các thiết bị CNTT đã và đang trở thành những công cụ mới và phổ biến thì vai trò và trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ chuyên viên, nhân viên kỹ thuật, nhân viên tác nghiệp trong mỗi đơn vị, cơ quan lãnh đạo, quản lý cũng sẽ quan hệ trực tiếp chất lượng và hiệu quả lãnh đạo, quản lý Cùng với đội ngũ cán bộ chủ chốt trong các cơ quan lãnh đạo, quản lý, họ trực tiếp góp phần làm cho thông tin trở nên có giá trị gia tăng thông qua lao động kỹ thuật, nghiệp vụ
Trang 22Ở nước ta, hiện nay vẫn đang trong giai đoạn triển khai ứng dụng CNTT trên nhiều lĩnh vực Bởi vậy, nhiệm vụ xây dựng và phát triển nguồn nhân lực CNTT càng trở nên quan trọng và cần thiết
- Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, thông tin và các nguồn tài nguyên thông tin: Máy tính điện tử và nhiều loại thiết bị CNTT khác được sử dụng và kết nối thành hệ thống sẽ tạo thành nền tảng vật chất, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của hệ thống thông tin trong các cơ quan lãnh đạo, quản lý Chúng là một trong những điều kiện căn bản của quá trình ứng dụng CNTT trong lãnh đạo, quản lý Đầu tư thiết bị và xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của các hệ thống thông tin phải được xác định thành các kế hoạch có tính tổng thể, tính chiến lược, xuất phát từ nhu cầu và mục tiêu hoạt động của mỗi cơ quan đơn vị Mặt khác việc xây dựng các hệ thống cơ sở dữ liệu, các nguồn tài nguyên thông tin
cũng là một trong những vấn đề có ý nghĩa lâu dài đối với các cơ quan lãnh đạo, quản lý
hệ thống hoạt động thông suốt và có hiệu quả
Tính hiệu qủa: được thể hiện trên những vấn đề như: Hệ thống thông tin đáp ứng ở mức cao nhất những yêu cầu thường xuyên của hoạt động lãnh đạo, quản lý Hoạt động của hệ thống thông tin không chỉ đem lại những lợi ích căn bản như nâng cao năng lực xử lý thông tin của các đối tượng mà góp
Trang 23phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của tập thể, cộng đồng
Tính hệ thống mở: là một vấn đề quan trọng trong quá trình đầu tư thiết
bị, phần mềm, thiết kế, xây dựng các cơ sở dữ liệu Tính hệ thống mở đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nắm bắt được những vấn đề cơ bản để khi đầu tư thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật thông tin phải nắm được những chuẩn kỹ thuật và công nghệ cần thiết, không để xảy ra tình trạng các thiết bị đầu tư không đồng bộ, gây ra lãng phí các phần mềm được sử dụng cũng như việc thiết kế xây dựng các cơ sở dữ liệu cũng đặt ra những vấn đề tương tự Nếu không có khảo sát, lựa chọn, cần nhắc kỹ lưỡng, chính xác sẽ gây nên những trở ngại không cần thiết đối với hệ thống
1.4 Cơ sở lý luận xây dựng lộ trình ứng dụng CNTT trong dịch vụ công
Công nghệ thông tin đóng một vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đặc biệt là hoạt động quản lý nhà nước Nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước, ngày 31/3/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của
cơ quan nhà nước giai đoạn 2009 – 2010
Kế hoạch này đã đưa ra các mục tiêu, nội dung và giải pháp cần thực hiện để nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin đối với hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước Trước mắt, từ nay đến hết 2010, Bộ, Cơ quan ngang Bộ,
Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần tập trung hoàn thành hai mục tiêu sau:
Nâng cao năng lực quản ký, điều hành của các cơ quan nhà nước Để thực hiện mục tiêu này, Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải đảm bảo: Tỷ lệ trung bình thông tin chỉ đạo, điều hành được đưa lên cổng thông tin điện tử
Trang 24dụng thư điện tử cho công việc là 80%; tỷ lệ Vụ, Văn phòng triển khai sử dụng phần mềm ứng dụng quản lý văn bản và điều hành trên môi trường mạng là 90% Bên cạnh đó, cần nâng cao tỷ lệ trung bình máy tính trên cán
bộ, công chức; giảm thiểu việc sử dụng giấy tờ; khuyến khích cán bộ, công chức khai thác thông tin trên môi trường mạng phục vụ công tác Ngoài ra, các Bộ, ngành và đơn vị liên quan cần tăng dần và khuyến khích sử dụng các hình thức truyền thông cơ bản như thư điện tử, điện thoại, fax, hội nghị và họp trên môi trường mạng, đưa thông tin lên cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử để trao đổi thông tin ở khoảng cách xa
Đảm bảo phục vụ người dân và doanh nghiệp: Theo mục tiêu này, Bộ,
Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải đảm bảo 100% có cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử theo quy định của Luật Công nghệ thông tin Bên cạnh đó, tùy theo đơn vị phải bảo đảm 80% (đối với Bộ, Cơ quan ngang Bộ,
Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh) hoặc 100% (đối với Ủy ban nhân dân thành phố trực thuộc Trung ương) số cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 cho người dân và doanh nghiệp
Để đảm bảo hoàn thành các mục tiêu trên, Chính phủ đã đưa ra các hoạt động triển khai cụ thể sau:
Để nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước, các
Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải thực hiện cải tiến quy trình công việc, thủ tục và chuẩn hóa nghiệp vụ; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000; tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả ứng dụng các hệ thống thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành và quản lý của các cơ quan nhà nước, bao gồm các nội dung chủ yếu như: hệ thống thư điện tử; hệ thống thông tin quản lý văn bản và điều hành và số hóa nguồn
Trang 25thông tin chưa ở dạng số theo thứ tự ưu tiên về thời gian và tầm quan trọng; tăng cường sử dụng văn bản điện tử; phát triển và cung cấp thông tin trực tuyến phục vụ cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước; thông tin công khai về tuyển dụng, chế độ lương, hưu, bảo hiểm, khen thưởng và kỷ luật Các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng cần tiếp tục xây dựng và triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động nghiệp vụ phù hợp với đặc thù của từng đơn vị
Bên cạnh đó, các cuộc họp của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các cuộc họp của các Bộ, Cơ quan ngang
Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với các cơ quan trực thuộc cần đảm bảo thực hiện từ xa
Để đảm bảo phục vụ người dân và doanh nghiệp, Bộ, Cơ quan ngang
Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần xây dựng và hoàn thiện các cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử của đơn vị mình để cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến phục vụ người dân và doanh nghiệp, tiếp tục cung cấp biểu mẫu điện tử qua cổng điện tử hoặc trang thông tin điện tử Bên cạnh đó, các Bộ, Ngành cần căn cứ vào tình hình thực tế chỉ đạo triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 Trong giai đoạn 2009 – 2010, Chính phủ ưu tiên triển khai các nhóm dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 sau đây: cấp phép giấy đăng ký kinh doanh; giấy phép đầu tư; giấy phép thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện; giấy phép xây dựng; chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng; giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất; giấy chứng nhận đăng
ký ô tô, xe máy; giấy chứng nhận đăng ký tạm trú, tạm vắng; giấy đăng ký hành nghề y, dược; giấp phép hoặc dịch vụ đặc thù và giải quyết khiếu nại, tố cáo Bên cạnh đó, các Bộ, ngành và đơn vị liên quan cần hình thành kênh tiếp
Trang 26nhận ý kiến đóng góp trên môi trường mạng, tổ chức đối thoại trực tuyến, chuyên mục hỏi đáp trực tuyến về hoạt động của các cơ quan nhà nước để phục vụ người dân và doanh nghiệp Bên cạnh những nội dung kể trên, để đảm bảo hoàn thành các mục tiêu đề ra, Chính phủ đưa ra hai nhóm hoạt động khác có tính chất nền tảng, phục vụ cho việc ứng dụng công nghệ thông tin đối với cơ quan quản lý nhà nước
Xây dựng nền tảng phục vụ Chính quyền điện tử Nội dung này đòi hỏi Chính phủ, các Bộ, ngành và đơn vị liên quan phát triển hạ tầng truyền thông; phát triển cơ sở dữ liệu; xây dựng, ban hành tiêu chuẩn, quy trình kỹ thuật quốc gia về công nghệ thông tin áp dụng trong các cơ quan nhà nước; nghiên cứu, đánh giá và lựa chọn mô hình ứng dụng công nghệ thông tin điển hình cấp huyện để phổ biến áp dụng rộng rãi; bảo đảm an toàn thông tin và hoàn chỉnh môi trường pháp lý
Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin Nội dung này đòi hỏi các Bộ, Ngành và đơn vị liên quan phải tiếp tục xây dựng và phát triển đội ngũ giám đốc công nghệ thông tin; bồi dưỡng kiến thức công nghệ thông tin cho cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước; nghiên cứu xây dựng chế
độ ưu đãi đối với cán bộ, công chức chuyên trách về công nghệ thông tin; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về quản lý dự án công nghệ thông tin và đẩy mạnh ứng dụng đào tạo trực tuyến cho cán bộ, công chức
Một số giải pháp thực hiện: Rõ ràng, việc thực hiện và hoàn thành các mục tiêu lớn nói trên không hề đơn giản Do đó, để đảm bảo hoàn thành tốt các mục tiêu đề ra, trong thời gian tới, các Bộ, ngành và đơn vị liên quan cần triển khai thực hiện tốt các giải pháp sau:
- Kết hợp chặt chẽ việc triển khai Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009 – 2010 với việc thực hiện Chương trình cải cách hành chính để ứng dụng công nghệ thông tin trong
Trang 27hoạt động của cơ quan nhà nước có tác dụng thực sự thúc đẩy cải cách hành chính và tăng hiệu quả của ứng dụng công nghệ thông tin
- Đa dạng hóa các hình thức ứng dụng công nghệ thông tin và nâng cao hiệu quả đầu tư về sử dụng điện thoại, thư điện tử, nhắn tin và các hình thức thông tin liên lạc khác để cung cấp thông tin phục vụ người dân và doanh nghiệp, không giới hạn chỉ sử dụng Internet, mạng máy tính
- Tăng cường liên hệ giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức, đoàn thể và doanh nghiệp để thực hiện tốt các dịch vụ trực tuyến và các hệ thống thông tin, đảm bảo việc ứng dụng công nghệ thông tin ổn định, thường xuyên Bên cạnh đó, trong thời gian tới cần triển khai các hình thức thuê dịch vụ công nghệ thông tin; tổ chức tuyên truyền rộng rãi nhằm nâng cao hiểu biết, nhận thức về các lợi ích trong việc xây dựng Chính quyền điện tử cho cán bộ, công chức, người dân và doanh nghiệp
Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là trong thời gian tới, chúng ta cần tích cực nghiên cứu tiếp thu kinh nghiệm tốt của các nước có Chính quyền điện tử phát triển; tiếp cận ứng dụng công nghệ, phương thức thực hiện tiên tiến vào điều kiện thực tế của Việt Nam Bên cạnh những mục tiêu từ nay đến hết năm 2010, trong Kế hoạch này, Chính phủ cũng đã đưa ra một số định hướng ứng dụng công nghệ thông tin đối với các cơ quan quản lý nhà nước đến năm 2015, trong đó tập trung vào ba nội dung cơ bản sau:
- Ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương thức cung cấp thông tin và dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp Phấn đấu đến năm
2015 cung cấp hầu hết các dịch vụ công cơ bản trực tuyến mức độ 3 và hoặc
4, người dân và doanh nghiệp có thể trao đổi thông tin, gửi, nhận hồ sơ, thanh toán phí dịch vụ, nhận kết quả dịch vụ qua mạng
- Ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương thức quản lý tài nguyên thông tin trong các cơ quan nhà nước; phát triển các cơ sở dữ liệu
Trang 28quốc gia về con người, đất đai, tài chính, kinh tế, công nghiệp và thương mại tạo nền tảng triển khai Chính quyền điện tử; từng bước tích hợp các hệ thống thông tin, tiếp tục xây dựng và mở rộng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu phục vụ cho hoạt động quản lý, điều hành chung của các cơ quan nhà nước
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước nhằm xây dựng môi trường làm việc điện tử giữa các cơ quan nhà nước trên phạm vi toàn quốc, tạo thói quen làm việc của cán bộ, công chức trên môi trường mạng và hệ thống thông tin trợ giúp, thay thế văn bản giấy
Sở Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm xây dựng và triển khai kế hoạch áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2000 vào
hoạt động của các Sở, Ban, ngành, UBND thành phố theo lộ trình sau:
+ Năm 2009, đánh giá kết quả áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 Thực hiện thí điểm việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theoTCVN ISO9001:2000 tại một số Sở và UBND thành phố
Hình 1.2 Cơ sở lý thuyết để xây dựng lộ trình ứng dụng CNTT
Xây dựng cơ sở dữ liệu
Đào tạo đội ngũ chuyên
về CNTT
Tự động hoá một số công việc cần thiết
Đổi mới quy trình đạt hiệu quả cao
Tác động
và điều hành công việc tại đơn vị
Nâng cao hiệu quả trao đổi khai thác thông tin trong môi trường CNTT
Sử dụng CNTT cho ra quyết định
Trang 29lượng theo TCVN ISO 9001:2000 trong hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước
Ngày 31/3/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của
cơ quan nhà nước giai đoạn 2009 – 2010
Theo kế hoạch, mục tiêu đến hết năm 2010 bảo đảm trung bình 60% thông tin chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành trực thuộc Trung ương được đưa lên cổng thông tin hoặc trang tin điện tử; tỷ lệ trung bình cán bộ, công chức tại các Bộ, UBND thành phố trực thuộc Trung ương sử dụng thư điện tử cho công việc đạt 80%; UBND cấp tỉnh là 60%, trong đó các tỉnh miền núi là 30% Chúng ta tin tưởng rằng trong thời gian tới, với quyết tâm của Chính phủ và sự tham gia tích cực của các Bộ, Ngành, người dân và doanh nghiệp
về ứng dụng công nghệ thông tin sẽ là đòn bẩy cơ bản để nâng cao hiệu quả
và hiệu lực quản lý nhà nước, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng, phục vụ người dân và
doanh nghiệp ngày càng tốt hơn [10]
Đối với phần mềm ứng dụng quản lý văn bản và điều hành trên môi trường mạng được triển khai sử dụng cho các cơ quan thuộc Trung ương là 90%; văn phòng UBND tỉnh là 80%, cấp huyện 50%;
Trong giai đoạn 2009-2010, ưu tiên triển khai các nhóm dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 3, gồm: cấp giấy đăng ký kinh doanh; cấp giấy phép đầu tư; giấy phép thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện; giấy phép xây dựng; chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng; chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất; giấy đăng ký ô tô, xe máy; đăng ký tạm vắng, tạm trú; giải quyết khiếu nại, tố cáo; giấy đăng ký hành nghề y dược và cấp giấy phép hoặc dịch vụ đặc thù, năm 2015 sẽ cung cấp hết các dịch vụ công cơ bản trực tuyến
ở mức độ 3 và 4
Trang 301.5 Cơ sở lý thuyết tuyên truyền ứng dụng CNTT trong dịch vụ công
Nguyên tắc hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước là hành lang pháp lý để người dân thực hiện và làm theo vì vậy công tác tuyên truyền sẽ là không thể thiếu được, tuyên truyền để người dân và các tổ chức hiểu được các
cơ quan nhà nước đang dần tiến tới một Chính quyền điện tử các dịch vụ công
sẽ được hoàn toàn công khai trên trang web điều hành chung, về hướng dẫn trình tự thủ tục và quy trình thực hiện cững như thời gian giải quyết các dịch
vụ công, từ đó người dân nhận thức được Nhà nước đang từng ngày cố gắng làm một cách tốt nhất công tác phục vụ của mình đối với người dân Căn cứ vào tình hình thực tế đó công dân, tổ chức phải tự nâng cao trình độ của mình
về sử dụng công nghệ thông tin, để nắm bắt được những phần mềm mà các cơ quan quản lý đã triển khai từ đó khai thác các thông tin này có hiệu quả nhất
Tăng cường khả năng tiếp cận và tác động có hiệu quả đến đối tượng: tuyên truyền, giáo dục là một nội dung quan trọng trong hoạt động lãnh đạo, quản lý Sự hỗ trợ của tin học và công nghệ thông tin trong tuyên truyền, giáo dục đối tượng đang ngày càng được mở rộng và phát triển
Với máy tính điện tử, con người có thể nhận được thông tin từ bất cứ nơi nào truyền tải đến Bởi vậy, mọi văn kiện của Đảng và nhà nước, mọi vấn
đề thuộc về đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật, các văn bản kế hoạch, hướng dẫn thực hiện, các chương trình về giáo dục- đào tạo, văn hoá nghệ thuật, những tiến bộ mới về khoa học và công nghệ tức là những thông tin thuộc về hệ thống mở cho công cộng đều có thể đem đến tận từng đối tượng nhờ sử dụng máy tính và các thiết bị công nghệ thông tin
Công dân có thể giao tiếp với các cơ quan công quyền thông qua máy tính và mạng máy tính Để tăng cường hiệu quả của sự tác động thông qua ứng dụng CNTT các chủ thể lãnh đạo, quản lý còn có khả năng quản lý chi tiết những vấn đề cần thiết của đối tượng, nhanh chóng nắm bắt đầy đủ thông tin, đồng thời hỗ trợ những vấn đề cần thiết cho đối tượng
Trang 311.6 Cơ sở lý thuyết của việc đổi mới các quy trình dịch vụ công
Trong những năm gần đây, sự ra đời của nhiều kỹ thuật quản lý ra đời
và nó là công cụ để hỗ trợ cho việc xây dựng các quy trình chuẩn về dịch vụ công, trong đó phương pháp quản lý chất lượng toàn diện TQM là phương pháp được sử dụng để nhằm không ngừng cải tiến và nâng cao vai trò quản cung ứng dịch vụ công của các cơ quan Nhà nước trong dịch vụ công
TQM được định nghĩa như sau: “Quản lý chất lượng tổng hợp là cách
quản lý của một tổ chức tập trung vào chất lượng, dựa vào sự tham gia của tất
cả các thành viên của tổ chức nhằm đạt được những thành công lâu dài nhờ việc thoả mãn khách hàng và đem lại lợi ích cho các thành viên của tổ chức
đó và xã hội” [19; 24,25]
Trong quá trình thực hiện các dịch vụ đều có các quy trình thực hiện cụ thể, mục đích của quy trình đặt ra là để thoả mãn sự hài lòng của người dân Mục đích của TQM là cải tiến dịch vụ liên tục nhằm thoả mãn người dân ở mức tốt nhất cho phép, cụ thể: Huy động toàn bộ các nhân viên; lập kế hoạch
và kiểm soát toàn diện
Hình 2: Phiên họp thường kỳ của Chính phủ tháng 3/2009 lần đầu tiên
Chính phủ thực hiện họp trực tuyến với các địa phương
Trang 321.7 Tóm lược chương 1 và nhiệm vụ chương 2
Dịch vụ công là một lĩnh vực nghiên cứu còn mới Hiện nay, chưa có nhiều cuốn sách viết về lĩnh vực này Trong chương 1 đã giới thiệu một số vấn đề lý thuyết liên quan dịch vụ công; cơ sở lý luận của việc xây dựng lộ trình và chế tài để thực hiện dịch vụ công; cơ sở lý thuyết một số biện pháp hỗ trợ cho dịch vụ công, vai trò của việc ứng dụng CNTT trong dịch vụ công… Các lý thuyết đó là căn cứ khoa học để đi sâu vào phân tích và đề ra các giải pháp trong các chương sau
Như vậy, trong chương 1 chúng ta đã sơ lược giới thiệu được vấn đề liên quan tới dịch vụ công trong lĩnh vực quản lý Nhà nước Trong phần tiếp theo trong chương 2, dựa trên các cơ sở lý thuyết này chúng ta xem xét đánh giá, phân tích thực trạng của dịch vụ công tại UBND thành phố Nam Định, để
từ đó có những nhìn nhận, đánh giá chính xác về thực trạng điều hành, quản
lý đối với lĩnh vực dịch vụ công tại UBND thành phố Nam Định và đưa ra các giải pháp trong thời gian tới Nội dung chương 2 gồm:
2.1 Giới thiệu chung về UBND thành phố Nam Định
2.2 Khái quát v ề thực trạng dịch vụ công tại UBND TP Nam Định 2.3 Phân tích đánh giá thực trạng về ứng dụng CNTT trong dịch vụ công t ại UBND thành phố Nam Định
2.4 Phân tích, đánh giá thực trạng lộ trình ứng dụng CNTT tại UBND thành phố Nam Định
2.5 Phân tích đánh giá thực trạng các biện pháp hỗ trợ việc thực hiện
d ịch vụ công tại UBND thành phố Nam Định
2.6 Tóm lược chương 2 và nhiệm vụ chương 3
Trang 33CHƯƠNG 2
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VIỆC ỨNG DỤNG CNTT TRONG DỊCH VỤ CÔNG TẠI UBND THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH
2.1 Giới thiệu chung về UBND thành phố Nam Định tỉnh Nam Định
Uỷ ban nhân dân thành phố Nam Định địa chỉ tại số 3 Trần Đăng Ninh Thành phố Nam Định, nguyên tắc làm việc của Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định
Ủy ban nhân dân Thành phố làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm phát huy vai trò lãnh đạo của tập thể Ủy ban nhân dân; đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và ủy viên
- Giải quyết công việc theo quy định của pháp luật, đúng phạm vi trách nhiệm, đúng thẩm quyền; bảo đảm sự lãnh đạo của Thành uỷ, sự giám sát của Hội đồng nhân dân thành phố và sự chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh
- Trong phân công công việc, mỗi việc chỉ được giao một cơ quan, đơn
vị, một người phụ trách và chịu trách nhiệm chính Cấp trên không làm thay công việc cho cấp dưới, tập thể không làm thay công việc cho cá nhân và ngược lại Công việc được giao cho cơ quan, đơn vị thì Thủ trưởng cơ quan, đơn vị đó phải chịu trách nhiệm về tiến độ, kết quả công việc được giao
- Tuân thủ trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết công việc theo quy định của pháp luật, chương trình, kế hoạch công tác và Quy chế làm việc của
Uỷ ban nhân dân thành phố
- Đề cao sự phối hợp công tác, trao đổi thông tin trong giải quyết công việc, đảm bảo dân chủ, minh bạch trong mọi hoạt động theo đúng phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định
Trang 34Cơ cấu tổ chức bộ máy của UBND thành phố Nam Định tổ chức theo
mô hình trực tuyến trong đó Ban lãnh đạo gồm: 7 người
Uỷ ban nhân dân thành phố có 12 phòng ban chức năng: Phòng tài chính – kế hoạch; phòng tư pháp, phòng tài nguyên môi trường; phòng giáo dục và đào tạo; phòng y tế, phòng nội vụ, phòng lao động thương binh xã hội, phòng văn hoá, phòng Kinh tế, phòng quản lý đô thị, phòng thanh tra, Văn phòng đăng ký đất đai Các phòng, ban chức năng giữ vai trò tham mưu cho Ban lãnh đạo của UBND thành phố về các công việc chuyên môn
Hình 2.1: Mô hình cơ cấu tổ chức của dịch vụ công của
Văn phòng UBND Khối chuyên viên
Văn thư – lưu trữ
Bộ phận tiếp nhận và trả
hồ sơ
Văn xã Kinh tế Nội chính
Quản lý đô thị (địa chính)
Trang 352.2 Khái quát thực trạng dịch vụ công tại UBND thành phố Nam Định
UBND thành phố Nam Định cung cấp các loại dịch vụ công như: cấp phép xây dựng nhà ở riêng lẻ theo quy định của tỉnh, thành phố, cấp phép đăng ký kinh doanh cho các hộ cá thể; làm các thủ tục xét cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất; chứng thực bản sao và hợp đồng dân sự; tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân
Bảng 2.1 Các đơn vị cung ứng dịch vụ công tại UBND.TP Nam Định
1 Phòng Tài chính & kế hoạch TP Nam Định 04
3 Phòng Quản lý đô thị thành phố Nam Định 01
4 Văn phòng đăng ký nhà đất TP Nam Định 01
[ Tác giả tự tổng hợp]
Các dịch vụ công tại UBND thành phố Nam Định theo một cấu trúc
của hệ thống văn bản, tài liệu theo cấu trúc hình 2.2
Hình 2.2: Cấu trúc của hệ thống tài liệu dịch vụ công [13;61]
Sổ tay chất lượng
Các thủ tục
Các văn bản hướng dẫn công việc Các hồ sơ, biểu mẫu
Trang 362.2.1 Dịch vụ cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh [23;3-4]
(1) Phạm vi áp dụng: Các đối tượng hộ kinh doanh xin cấp GCN
ĐKKD trên địa bàn thành phố Nam Định với các nội dung đăng ký sau đây:
+ Đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh,
+ Thay đổi, bổ sung nội dung đăng ký kinh doanh,
+ Đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
(2 ) Tài liệu liên quan: Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày
29/11/2005; Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/08/2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh;
(3) Quy trình: D ịch vụ đăng ký kinh doanh [Phụ lục 13]
(4 ) Phân tích và đánh giá thực trạng dịch vụ đăng ký kinh doanh
Các dịch vụ đều có sự tác động của 2 yếu tố đó là môi trường bên trong
và yếu tố môi trường bên ngoài, và dịch vụ đăng ký kinh doanh cũng bị tác động bởi các nhân tố này Theo số liệu thống kê thì tổng số 25 đơn vị phường,
xã của thành phố Nam Định [Phụ lục 10] tổng số hộ đang kinh doanh là:
7.244 hộ , trong đó số hộ được cấp mới là: 6112 hộ; số hộ cấp lại: 580 hộ; thay đổi nội dung là 552 hộ
Một số tồn tại trong hoạt động cấp đăng ký kinh doanh: Quá trình thực hiện cấp giấy giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh một số hiện tượng tiêu cực xảy ra trong môi trường bên trong như sau:
+ Nếu muốn làm nhanh thì khách hành phải trả lệ phí cao hơn
+ Tuy quy trình đã đề ra như vậy nhưng người thực hiện không hướng dẫn đầy đủ các biểu mẫu chi tiết đầy đủ với mục đích gây khó khăn để đòi phí dịch vụ cao hơn so với quy định; lãnh đạo thường hay đòi hỏi chi phí ngoài phần đã quy định (hiện tượng tiêu cực)
Trang 37+ Nhân viên chưa tư vấn và định hướng cho khách hàng của mình là các hộ kinh doanh nên kinh doanh hay sản xuất mặt hàng này là tốt và phù hợp với thị trường
+ Do các hộ kinh doanh hiện nay các mặt hàng kinh doanh đa dạng vì vậy mà nhiều khi những người thực hiện chưa thẩm định được hết các mặt hàng kinh doanh trên địa bàn
+ Nhân viên hướng dẫn thủ tục ở các công đoạn chưa thực sự trở thành chuyên gia tư vấn thực sự đối với các hộ kinh doanh để họ làm ăn có lãi và nộp lại thuế cho Nhà nước
2.2.2 Dịch vụ xét duyệt và thẩm định dự án đầu tư [24; 4,5]
(1) Phạm vi áp dụng: Các dự án xây dựng cơ bản do nguồn vốn của xã,
phường, thành phố có mức đầu tư dưới 5 tỷ đồng
(2 ) Tài liệu liên quan; Luật Xây dựng số 16/2003/QH 11 ngày
26/11/2003; Luật Đấu thầu số 61/2003/QH 11 ngày 29/11/2003
(3) Quy trình dịch vụ thẩm định, xét duyệt dự án đầu tư [Phụ lục 14]
(4) Phân tích và đánh giá thực trạng của việc thẩm định dự án đầu tư
Trong quá trình tổ chức thực hiện các quy trình thẩm định, xét duyệt
dự án đầu tư đảm bảo đúng các bước, thời gian của quy trình và đạt hiệu quả
Những tồn tại trong việc phê duyệt và chỉ định thầu các dự án hầu như
là dựa trên những quen biết và quan hệ giữa người được thầu với Uỷ ban nhân dân thành phố Nam Định
Trong quá trình thực hiện thẩm định các dự án đầu tư phần lớn có nhiều yếu tố tác động vào đó là cả yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài, nếu
dự án muốn được thẩm định thì phải có lại phần trăm cho một loạt các công đoạn từ khâu tiếp nhận hồ sơ đến ký hoàn tất dự án
Đó là lý do tại sao hiện nay toàn bộ các dự án không phải chỉ ở thành phố Nam Định mà toàn bộ cả nước đều kém chất lượng và đều bị “rút ruột”
Trang 38Theo kết quả thực hiện trong năm 2008 [Phụ lục 11] tổng số dự án đầu
tư xây dựng cơ bản của thành phố Nam Định là 32 dự án, số tiền là 41.461.671.000 đồng các dự án đã góp phần tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội và an sinh xã hội Tuy nhiên tiến độ thực hiện các dự án còn chậm do quá trình thực hiện phải chờ cấp ngân sách
2.2.3 Dịch vụ công trong lĩnh vực nhà đất [25; 3,4]
(1) Mục đích: Quy định trình tự tiến hành, nội dung, trách nhiệm của
các bộ phận, cá nhân liên quan trong làm thủ tục mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất của UBND Thành phố Nam Định
(2) Phạm vi áp dụng: Làm thủ tục mua bán nhà và chuyển quyền sử
dụng đất của mọi công dân (công dân dưới 18 tuổi phải có người giám hộ); Phòng Tài nguyên môi trường chủ trì tổ chức thực hiện Quy trình này với sự tham gia của UBND phường, xã và Chi cục Thuế Thành phố
(3) Tài liệu liên quan: Luật đất đai năm 2003; Nghị định số
181/2004/NĐ-CP ngày 29/04/2004 về hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003;
(4) Quy trình: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất [Phụ lục 15]
(5) Phân tích và đánh giá thực trạng của dịch vụ
Trong năm 3 năm tổng số hộ đã được duyệt là 18562 hộ bằng 91,4% so
với số hồ sơ đã nhận [Phụ lục 12]
Trong những năm gần đây nhờ việc áp dụng quy trình quản lý chất lượng ISO 9001- 2000 nên các hồ sơ và thời gian được đảm bảo đúng tiến độ, giảm thiểu được phiền hà đến cho các tổ chức và cá nhân
2.2.4 Dịch vụ cấp phép xây dựng [26;3]
(1) Phạm vi áp dụng: Cấp giấy phép xây dựng đối với các công trình
nhà ở tư nhân trên địa bàn Thành phố theo phân cấp quản lý của Tỉnh;
Trang 39(2) Tài liệu viện dẫn: Luật Xây dựng ngày 26/11/2003;Nghị định số
08/2005/NĐ- CP ngày 24/01/2005 của Chính phủ về quy hoạch xây dựng
(3) Quy trình: cấp phép xây dựng [Phụ lục 16]
(4 ) Phân tích về dịch vụ cấp phép xây dựng
- Tổng số giấy phép xây dựng đã cấp (bao gồm cả giấy phép xây dựng tạm): 377 hồ sơ
- Hồ sơ xin cấp giấy phép xây dựng số lượng 418 hồ sơ
- Công tác tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ in cấp giấy phép xây dựng đã thực hiện đã thực hiện đều có sổ ghi chép, có biên lai, phiếu nhận hồ sơ
+ Phiếu thẩm tra hồ sơ xin cấp giấy phép xây dựng: 398 hồ sơ
+ Phiếu chuyển hồ sơ xin cấp giấy phép xây để thi hành 398 hồ sơ
- Việc kiểm tra các căn cứ và điều kiện xét cấp giấy phép xây dựng đã thực hiện:
+ Căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất)
+ Căn cứ vào quy hoạch chi tiết đã được UBND tỉnh phê duyệt
+ Căn cứ vào nghị định, thông tư hướng dẫn về việc cấp phép xây dựng trong thời điểm ban hành có hiệu lực;
+ Căn cứ vào tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng ban hành, trong thời điểm ban hành có hiệu lực;
- Số công trình cấp giấy phép gia hạn giấy phép xây dựng 3 công trình
- Số công trình thay đổi thiết kế 12 công trình
- Công tác phổ biến, tuyên truyền các văn bản pháp quy về xây dựng (Nghị định số 180/2007/NĐ- CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ, Quyết định
số 01/2009/ QĐ- UBND ngày 06/01/2009 của UBND tỉnh Nam Định ban hành quy định về trách nhiệm quản lý chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Nam Định Việc tuyên truyền phổ biến pháp luật đã tổ chức tuyên truyền phổ biến: các phường, xã các tổ dân phố, hình thức tuyên truyền bằng
Trang 40loa đài, số công trình xây dựng đã được kiểm tra việc thi công xây dựng công trình theo giấy phép xây dựng: 247 công trình
- Công tác kiểm tra đã thực hiện:
+ Ký cam kết yêu cầu xây dựng đúng nội dung xin phép
- Tổng số công trình xây dựng vi phạm: 322 công trình: trong đó có
313 công trình không có giấy phép xây dựng; 07 công trình thi công sai giấy phép xây dựng; 01 công trình xây dựng ảnh hưởng đến công trình lân cận, 01 công trình xây dựng ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường
- Số biên bản ngừng thi công xây dựng công trình 252 công trình
- Số công trình phải cưỡng chế phá dỡ: 02 công trình
Một số tồn tại trong dịch vụ cấp phép xây dựng: Hiện nay sở xây dựng chưa có website để đưa các hướng dẫn, thông tư kịp thời lên trang điện tử để các phòng ban chuyên môn thuận tiện theo dõi và truy cập
2.2.5 Một số dịch vụ công thuộc lĩnh vực tư pháp [ 27; 3]
2.2.5.1 Dịch vụ cấp lại bản chính giấy khai sinh, bản sao giấy tờ từ sổ gốc hộ tịch
(1) Phạm vi áp dụng: Áp dụng cho những công dân đã đăng ký khai
sinh và có tên trong Sổ đăng ký khai sinh do UBND Thành phố Nam Định đang quản lý;
(2)Tài liệu liên quan: Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003; Nghị
định số 158/2005/NĐ-CP ngày 25/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản
lý Hộ tịch; Quyết định 01/2006/QĐ-BTP về ban hành biểu mẫu hộ tịch; Nghị
(1) Phạm vi áp dụng: UBND Thành phố Nam Định thực hiện việc thay
đổi, cải chính hộ tịch cho người đủ 14 tuổi trở lên và bổ sung hộ tịch, xác định