Khóa luận tốt nghiệp pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư thực trạng và hướng hoàn thiện bộ môn Luật môi trường, trường Đại học luật Hà Nội. TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TRƯƠNG MINH PHƯƠNG 392502 PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ, KHU DÂN CƯ THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN. Chuyên ngành:Luật kinh tế KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ...... Một trong những nguyên nhân của thực trạng môi trường đô thị, khu dân cư hiện nay là do những quy định pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư chưa thực sự chặt chẽ; chưa đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững đô thị, khu dân cư. Nhất là công tác thực thi pháp luật còn nhiều hạn chế, nhiều quy định pháp luật chưa được chấp hành một cách nghiêm chỉnh, vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư vẫn diễn ra, công tác xử lý vi phạm chưa thực sự triệt để. Với mong muốn tìm hiểu các quy định pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư cùng thực tiễn thi hành, chỉ ra các điểm còn hạn chế và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như giải pháp thi hành pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư, em đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư Thực trạng và hướng hoàn thiện” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ, KHU DÂN CƯ 4
1.1 Một số khái niệm 4
1.1.1 Khu dân cư, đô thị 4
1.1.2 Bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư 8
1.1.3 Pháp luật bảo vệ môi tường đô thị và khu dân cư 9
1.2 Sự cần thiết bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư bằng pháp luật 10
1.2.1 Thực trạng và những ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đô thị, khu dân cư 10
1.2.2 Vai trò bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư của pháp luật 13
CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ, KHU DÂN CƯ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH 16
2.1 Nội dung pháp luật bảo vệ môi trường đô thị và khu dân cư 16
2.1.1 Nôi dung pháp luật về yêu cầu bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư 16
2.1.2 Nội dung pháp luật về quy hoạch bảo vệ môi trường tại đô thị, khu dân cư 26
2.1.3 Nội dung pháp luật về bảo vệ môi trường đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh tại đô thị, khu dân cư 30
2.1.4 Nội dung pháp luật về trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư 37
2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật bảo vệ môi trường đô thị và khu dân cư 42
2.2.1 Những kết quả đạt được trong công tác thực thi pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư 42
Trang 22.2.2 Những hạn chế trong thực thi pháp luật bảo vệ môi trường đô thị và khu dân cư.
46
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ BIỆN PHÁP THI HÀNH PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ VÀ KHU DÂN CƯ 55 3.1 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư 55
3.1.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư 55 3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về yêu cầu bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư 56 3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch bảo vệ môi trường tại đô thị, khu dân cư 60 3.1.4 Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh tại đô thị, khu dân cư 61 3.1.5 Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư 63 3.1.6 Ban hành quy chế riêng về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư 65
3.2 Một số kiến nghị về biện pháp thi hành pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư 65
3.2.1 Tăng cường thanh tra, kiểm tra để kịp thời phát hiện hành vi vi phạm 66 3.2.2 Tăng cường ngân sách, huy động nguồn lực cho các hoạt động bảo vệ môi
trường đô thị, khu dân cư 66 3.3.3Hoàn thiện hệ thống thông tin và tăng cường cung cấp thông tin về môi trường.67 3.2.4Xây dựng cơ chế tiếp nhận phản ánh về môi trường, các hành vi gây ô nhiễm môi trường từ các tổ chức, cá nhân 68 3.2.5 Nâng cao nhận thức, ý thức của người dân về công tác bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư 68
KẾT LUẬN 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1, Lý do lựa chọnđề tài
Tại bất cứ quốc gia nào, các đô thị, khu dân cư luôn là đầu tàu phát triểnkinh tế - xã hội Tại Việt Nam, tỷ lệ trung bình tăng trưởng kinh tế hằng năm tại khuvực đô thị luôn gấp từ 1,5 – 2 lần tỷ lệ trung bình của cả nước, tổng sản phẩm trênđịa bàn của 5 thành phố trực thuộc trung ương chiếm trên 50% GDP cả nước, tổngthu ngân sách khu vực đô thị chiếm trên 70% tổng thu ngân sách toàn quốc1 Đicùng với sự phát triển và những đóng góp lớn cho nền kinh tế là sức ép không nhỏcủa các đô thị, khu dân cư lên môi trường Tốc độ, quy mô phát triển càng lớn thìsức ép lên môi trường càng cao Tại các đô thị, khu dân cư ở Việt Nam, nhiều vấn
đề môi trường xuất hiện và vẫn đang có xu hướng ngày càng trầm trọng như:Ônhiễm bụi; ô nhiễm môi trường nước tại các sông, hồ, kênh rạch nội thành, nội thị;tình trạng ngập úng xảy ra thường xuyên; vấn đề xử lý chất thải rắn chưa triệt để;Quy hoạch phát triển đô thị chưa đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững,… Nhữngvấn đề môi trường đó đã và đang ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng đời sống của cưdân đô thị, khu dân cư
Một trong những nguyên nhân của thực trạng môi trường đô thị, khu dân cưhiện nay là do những quy định pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư chưathực sự chặt chẽ; chưa đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững đô thị, khu dân cư Nhất
là công tác thực thi pháp luật còn nhiều hạn chế, nhiều quy định pháp luật chưađược chấp hành một cách nghiêm chỉnh, vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường đôthị, khu dân cư vẫn diễn ra, công tác xử lý vi phạm chưa thực sự triệt để
Với mong muốn tìm hiểu các quy định pháp luật bảo vệ môi trường đô thị,khu dân cư cùng thực tiễn thi hành, chỉ ra các điểm còn hạn chế và đề xuất giải pháp
1Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016),Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2016 – Chuyên đề môi
trường đô thị,Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam, Hà Nội, Tr.10.
Trang 4hoàn thiện pháp luật cũng như giải pháp thi hành pháp luật bảo vệ môi trường đô
thị, khu dân cư, em đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư - Thực trạng và hướng hoàn thiện” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của
mình
2, Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư không phải là một đềtàimới Liên quan đến đề tài này đã có một số khóa luận tốt nghiệp của trường Đạihọc Luật Hà Nội như: Khóa luận tốt nghiệp đề tài “Pháp luật bảo vệ môi trường đôthị, khu dân cư” của tác giả Trần Bích Thủynăm 2008; khóa luận tốt nghiệp đề tài
“Pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư ở Việt Nam” của tác giả NguyễnThị Thuận năm2009; khóa luận tốt nghiệp đề tài “Pháp luật bảo vệ môi trường đôthị, khu dân cư ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Quyên năm 2011.Tuy nhiêncác khóa luận này dựa trên các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, khudân cư có hiệu lực tại các thời điểm trước đây, cụ thể là dựa trên Luật bảo vệ môitrường 2005 và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Hiện nay, Luật bảo vệmôi trường năm 2014 đã thay thế luật cũ, nhiều văn bản mới cũng đã được banhành, vấn đề bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư đã được quan tâm nhiều hơncùng với đó là thực tiễn thi hành hiện nay đã có nhiều điểm khác
Mới đây cũng có một số công trình nghiên cứu về đề tài này, điển hình là đềtài Luận án tiến sĩ “Tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở ViệtNam hiện nay” của tác giả Phạm Thị Ngọc Dung do PGS TS Nguyễn Minh Đoanhướng dẫn năm 2017 Đây là công trình nghiên cứu tâm huyết về vấn đề bảo vệ môitrường đô thị ở Việt Nam dưới góc độ thực hiện pháp luật Bên cạnh đó còn có một
số bài viết trên các tạp chí về đề tài này như: Bài viết “Bàn về tổ chức thưc hiện
Trang 5pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Ngọc Dungđăng trên Tạp chí dân chủ và Pháp luật số 2/2016, “Những hạn chế của pháp luậthiện hành về bảo vệ môi trường đô thị tại Việt Nam và giải pháp hoàn thiện” của tác
giả Vũ Thị Duyên Thủy đăng trên tạp chí Luật học- Trường đại học luật Hà Nội số
7/2017; “Thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở các tỉnh miền núi phía
Bắc” của tác giả Phạm Thị Ngọc Dung đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật số 1/
2017
Ngoài ra còn nhiều bài nghiên cứu, bài viết khác về vấn đề môi trường đôthị, khu dân cư cũng đề cập đến chính sách pháp luật về môi trường đô thị, khu dân
cư
3, Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Khóa luận chỉ ra thực trạng pháp luật bảo vệ môi trường đô thị và khu dân cư
và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện các quy định còn bất cập, hạn chế
- Khóa luận cũng tìm hiểu thực tiễn thi hành các quy định pháp luật bảo vệ môitrường đô thị, khu dân cư và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thihành pháp luật
4, Mục đích nghiên cứu của đề tài
Khóa luận được thực hiện nhằm đi sâu tìm hiểu về những ưu điểm, hạn chếcủa những quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư;tìm hiểu thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường đô thi, khudân cư Từ đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy đinh pháp luật và những giải
Trang 6pháp có tính khả thi trong công tác thi hành pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khudân cư
5, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các quy định pháp luật bảo vệ môitrường đô thị, khu dân cư và thực tiễn thi hành
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Khóa luận chủ yếu nghiên cứu các quyđịnh hiện hành của pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư;nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư thôngqua một số báo cáo, thông kê của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các chuyêngia về môi trường đô thị, khu dân cư trong những năm gần đây
6, Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Khóa luận áp dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vậtlịch sử của chủ nghĩa Mác- Lê – nin cùng một số phương pháp khác như: phân tích,tổng hợp so sánh, thống kê…
7, Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóaluận bố cục thành 3 chương gồm:
- Chương 1: Những vấn đề chung về pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân
Trang 7CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆMÔI
TRƯỜNG ĐÔ THỊ, KHU DÂN CƯ.
1.1 Một số khái niệm.
1.1.1 Khu dân cư, đô thị.
1.1.1.1Khu dân cư
Khái niệm khu dân cư hiện nay chưa có cách hiểu thống nhất Trong các từđiển Tiếng Việt hiện cũng chưa đưa ra định nghĩa về khu dân cư, khái niệm khu dân
cư trong nhiều trường hợp còn được hiểu là cộng đồng dân cư, cụm dân cư Điều lệMặt trận Tổ quốc Việt Nam được Đại hội VI Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thông quatháng 9/2004, tại Điều 27 Chương IV có ghi: “Ban Công tác Mặt trận được thànhlập ở thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, khu phố (gọi chung là “khu dân cư”)”2
Về phương diện pháp lý, hiện mới chỉ có Thông tư số 23/2012/ TT- BCAQuy định về khu dân cư, xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp, nhà trườngđạt tiêu chuẩn “an toàn về an ninh, trật tự” có đưa ra định nghĩa về khu dân cư.Theo đó tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư này định nghĩa: “Khu dân cư là nơi tập hợpngười dân, hộ gia đình cư trú tập trung trong phạm vi một khu vực nhất định, baogồm: Thôn, xóm, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc, khóm, tổ dân phố và đơn vị dân
cư tương đương.” Định nghĩa này vừa nêu những đặc trưng của khu dân cư vừađịnh nghĩa theo hướng liệt kê những đơn vị dân cư được coi là khu dân cư
Từ những định nghĩa nêu trên có thể thấy khu dân cư không phải là một cấphành chính và có thể tồn tại dưới các hình thức, tên gọi khác nhau và có đặc điểmnhư sau:
2 http://tapchimattran.vn/hoi-dap/khu-dan-cu-la-gi-5869.html
Trang 8- “Khu dân cư” là một cấu trúc cộng đồng bao gồm: một số hộ gia đình tụ
cư, sống đan xen trong một khu vực địa lý nhất định (thôn, xóm, bản, khu phố) Têngọi, cơ cấu địa giới, số lượng dân cư tùy theo yêu cầu, cách sắp xếp, bố trí của mỗiđịa phương
- Các hộ dân sinh sống ở “khu dân cư” có quan hệ gắn bó với nhau tronglao động sản xuất, sinh hoạt văn hóa, tinh thần, trong giao tiếp xã hội, tâm lý tưtưởng và ứng xử cộng đồng
- Các hộ dân sinh sống ở “khu dân cư” ngoài chịu tác động, chi phối củachủ trương, chính sách, pháp luật chung của Đảng, Nhà nước, còn chịu sự tác động,chi phối của bộ máy chính quyền địa phương, của “Hệ thống chính trị khu dân cư”cùng các phong tục, tập quán nơi mình cư trú, sinh sống”
1.1.1.2 Đô thị
Trên thế giới, các đô thị đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử Những đô thị
Ai Cập cổ đại quy tụ dọc theo hai bên bờ sông Nile đã được hình thành từ 3000 nămTCN Ở Tây Á, các đô thị Lưỡng Hà cũng đã ra đời từ khoảng 3000 năm TCN vớinhững đô thị tiêu biểu như: Khorsabad, Babylon, Persepolis, … Các nền văn minh
Hi Lạp và La Mã cổ đại cũng xuất hiện những đô thị tiêu biểu như: Athens, Tyrins,Millet, …3Tại Việt Nam cũng có lịch sử phát triển đô thị từ rất lâu đời, đô thị ViệtTrì là đô thị cổ nhất ở bắc Việt Nam, nó xuất hiện khoảng thế kỷ thứ VII TCN từthời đại các vua Hùng Tiếp đến là đô thị Cổ Loa trong khoảng thế kỷ III-II TCNlàtrung tâm của nước Âu Lạc4 Đến thập kỷ 90, số lượng đô thị ở Việt Nam lên đếnkhoảng 500 đô thị Tính đến tháng 12/2016 cả nước có 795 đô thị với tỷ lệ đô thịhóa đạt 35, 2%5 Vậy khái niệm đô thị được hiểu như thế nào?
Hiện nay khái niệm đô thị được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau.Theo các hiểu thông thường được giải thích trong nhiều từ điển Tiếng Việt, “đô thị
3 http://caodang.tdt.edu.vn/Upload/file/Tailieuhoctap/XD/Nguyen%20Duong%20Tu/LUOC%20KHAO
%20LICH%20SU%20DO%20THI-%20DUONG%20TU.pdf
4 co-viet-nam-.html
http://vanhoahoc.edu.vn/nghien-cuu/van-hoa-hoc-ung-dung/van-hoa-do-thi/1338-tran-quoc-vuong-do-thi-5 Bộ Tài nguyên và Môi trường,tlđd 1, Tr.3.
Trang 9là nơi đông dân, tập trung buôn bán như thành phố, thị xã”6; hay đô thị là “Nơi dân
cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể cả công nghiệp, thành phố hoặcthị trấn” 7
Dưới góc độ pháp lý, Luật quy hoạch đô thị 2015 có đưa ra định nghĩa “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong
lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoáhoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc giahoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thànhphố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn”8
Theo quy định trong Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 về phân loại đôthị được thông qua ngày 25/05/2016 thì chỉ được coi là đô thị nếu đáp ứng các tiêuchí phân loại đô thị cũng chính là các đặc trưng của đô thị như sau:
Về chức năng, là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp
quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùngtrong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc mộtvùng lãnh thổ nhất định
Về quy mô dân số,quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4000 người
trở lên
Về mật độ dân số, phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại
đô thị, tuy nhiên tối thiểumật độ dân số toàn đô thị đạt từ 1.000 người/km2 trở lên;mật độ dân số tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 5.000 người/km2 trở lên
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trên phạm vi toàn đô thị phải đạt
tối thiểu 55% so với tổng số lao động
Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng vàkiến trúc, cảnh quan đôthịphải phù hợp
với các tiêu chuẩn được pháp luật quy định
Tại một số đô thị có tính chất đặc biệt như đô thị là trung tâm du lịch, khoahọc và công nghệ, giáo dục, đào tạo; đô thị ở miền núi, vùng cao, có đường biêngiới quốc gia; đô thị ở hải đảo, thì các tiêu chí nêu trên có thể thấp hơn Tóm lại, đểđược coi là đô thị thì phải đáp ứng các tiêu chí nêu trên ở mức độ nhất định đượcpháp luật hiện hành quy định Điều này cho thấy khái niệm đô thị mang tính lịch sử
6Nguyễn Như ý (1999), Đại từ điển Tiếng Việt,Nhà xuất bản văn hóa thông tin , Hà Nội, tr.661.
7Trung tâm từ điển học Hà Nội ( 1994), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội, tr 322.
8 Khoản 1 Điều 3 Luật quy hoạch đô thị 01/VBHN-VPQHngày 20 tháng 7 năm 2015.
Trang 10và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội Ở các giai đoạn lịch sử vớitrình độ phát triển kinh tế xã hội khác nhau sẽ có tiêu chí hay quan niệm khác nhau
về khái niệm đô thị
Đô thị có thể được phân loại dựa trên các tiêu chí khác nhau Theo quy địnhcủa pháp luật Việt Nam hiện hành, đô thị được phân thành 6 loại gồm loại đặc biệt,loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V theo các tiêu chí cơ bản như: Vị trí, chứcnăng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đô thị; quy mô dânsố; mật độ dân số; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp; trình độ phát triển cơ sở hạ tầng9
Như vậy, khu dân cư là nơi tập trung các hộ gia đình sinh sống trong mộtkhu vực nhất định Còn đô thị là nơi tập trung đông dân cư với tỷ lệ lao động phinông nghiệp cao, có hệ thống hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật phù hợp, có vai tròlớn trong phát triển kinh tế xã hội Với các đặc điểm của đô thị, khu dân cư nêu trên
có thể thấy hoạt động tại các đô thi, khu dân cư tác động mạnhđến môi trường vàhậu quả của ô nhiễm môi trường đô thị có ảnh hưởng trực tiếp đến lượng lớn dân
cư
Tuy nhiên, Luật bảo vệ môi trường 2014 không hề đưa ra khái niệm “khudân cư”, “đô thị”, liệu những cách hiểu nêu trên về khu dân cư và đô thị có phù hợpvới những nội dung được đề cập trong quy định của Luật bảo vệ môi trường 2014.Bởi nếu theo cách hiểu về “khu dân cư” từ các định nghĩa nêu trên thì các “khuphố” hay “tổ dân phố” chính là một trong những đơn vị được coi là khu dân cư vànhư vậy đô thị chính là tập hợp của nhiều khu dân cư Cho nên hoạt động bảo vệmôi trường tại các khu dân cư được xem là đã bao gồm cả hoạt động bảo vệ môitrường tại các đô thị Tuy nhiên Chương VIII của Luật bảo vệ môi trường năm 2014với tiêu đề “Bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư” dễ dẫn tới cách hiểu rằng Luậtbảo vệ môi trườngcó sự tách biệt rõ ràng về hai khái niệm “đô thị” và “khu dân cư”.Trong khi nên hiểu rằng tiêu đề Chương VIII Luật bảo vệ môi trường 2014 chủ yếunhằm nhấn mạnh tới vấn đề bảo vệ môi trường tại các đô thị thông qua việc xácđịnh rõ những yếu tố đặc biệt của đô thị so với khu dân cư chứ không nhằm táchbiệt rạch ròi hai khái niệm này Từ đó, để xây dựng một hành lang pháp lí thốngnhất và khả thithì Luật bảo vệ môi trường, hoặc các văn bản hướng dẫn trong lĩnh
9 Điều 140 Luật tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13ngày 19 tháng 06 năm 2015.
Trang 11vực bảo vệ môi trường nên có định nghĩa về “đô thị”, “khu dân cư” dưới góc độ bảo
vệ môi trường nhằm thống nhất cách hiểu về hai khái niệm trên trong lĩnh vực môitrường Bởi các định nghĩa đô thị, khu dân cư được đề cập ở trên cũng chỉ là nhữngđịnh nghĩa được nhìn nhận trong các lĩnh vực khác
1.1.2 Bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư.
Môi trường hiểu theo nghĩa thông thường “là toàn bộ nói chung những điềukiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trongmối quan hệ với con người hay sinh vật ấy”, là “sự kết hợp toàn bộ hoàn cảnh hoặcđiều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới sự tồn tại, phát triển của thực thể hữu cơ”10
Luật bảo vệmôi trường 2014 định nghĩa: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật
chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người
và sinh vật ”11
Bảo vệ môi trườnglà hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác độngxấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cảithiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằmgiữ môi trường trong lành12
Tại các đô thị, khu dân cư nơi mà dân cư tập chung đông đúc, các hoạt độngsản xuất, kinh doanh, dịch vụ diễn ra sôi động thì rất dễ diễn ra các tác động xấuđến môi trường hay xảy ra ô nhiễm môi trường Bảo vệ môi trường đô thị, khu dân
cư là vấn đề được đặc biệt quan tâm bên cạnh các hoạt động bảo vệ môi trườngkhác Mục tiêu cuối cùng của bảo vệ môi trường đô thi, khu dân cư là có được môitrường trong lành tại các đô thị, khu dân cư Để đạt được điều này trước hết cần giữgìn hiện trạng môi trường tại đô thi, khu dân cư để đảm bảo tình trạng môi trườngkhông xấu đi, hay không bị ô nhiễm nặng hơn Đây là một việc không dễ dàng trongbối cảnh dân số tại các đô thị ngày càng gia tăng, sức ép đô thị hóa ngày càng lớn
10Trường Đại học Luật Hà Nội (2015),Giáo trình Luật môi trường,Nhà xuất bản công an nhân dân, Hà
Nội,Tr.9.
11 Xem: Khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 06 năm 2014.
12 Xem: Khoản 3 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 06 năm 2014
Trang 12Nguy cơ ô nhiễm môi trường luôn hiện hữu, nên giữ gìn hiện trạng môi trường luônphải song hành với hoạt động phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môitrường, ứng phó với sự cố môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên Điềunày đòi hỏi phải đánh giá, dự báo được những tác nhân có thể ảnh hưởng xấu đếnmôi trường và kịp thời có những biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn, hạn chế tối đanhững tác động xấu đến môi trường có thể xảy ra Hiện nay, môi trường tại rấtnhiều đô thị, khu dân cứ đã bị ô nhiễm, suy thoái nên bảo vệ môi trường tại các đôthị, khu dân cư cũng có nghĩa là phải tiến hành các hoạt động nhằm khắc phục ônhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường
Hoạt động bảo vệ môi trường nói chung, bảo vệ môi trường đô thị, khu dân
cư nói riêng có thể được tiến hành bằng nhiều biện pháp khác nhau như: Biện pháp
tổ chức – chính trị, biện pháp kinh tế, biện pháp khoa học – công nghệ, biện phápgiáo dục, biện pháp pháp lý Trong đó biện pháp pháp lý là biện pháp hữu hiệu thểhiện sâu sắc vai trò của Nhà nước trong bảo vệ môi trường
Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu rằng: bảo vệ môi trường đô thị, khudân cư là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường;ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môitrường tại đô thị và khu dân cư, sử dụng hợp lý các tài nguyên thiên nhiên nhằm giữcho môi trường đô thị, khu dân cư trong lành
1.1.3 Pháp luật bảo vệ môi tường đô thị và khu dân cư.
Pháp luật bảo vệ môi trường đô thị và khu dân cư cũng là một bộ phậncủa luật môi trường nói chung “Luật môi trường là lĩnh vực pháp luật chuyênngành bao gồm các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lí điều chỉnh các quan
hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình khai thác, sử dụng hoặc tác động đếnmột hoặc một vài yếu tố của môi trường trên cơ sở kết hợp các phương pháp điềuchỉnh khác nhau nhằm bảo vệ một cách hiệu quả môi trường sống của con người”13
13 Trường Đại học Luật Hà Nội, tlđd 10,Tr.40.
Trang 13Từ đó có thể định nghĩa pháp luật bảo vệ môi trường đô thị và khu dân cưlàtổng thể các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý do cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinhgiữa các chủ thểtrong hoạt động bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư
Các quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư điềuchỉnh có thể phân thành hai nhóm Thứ nhất là nhóm quan hệ phát sinh giữa mộtbên là Nhà nước với một bên là tổ chức, cá nhân từ hoạt động quản lý nhà nước đốivới môi trường đô thị, khu dân cư Thứ hai là nhóm quan hệ phát sinh giữa các cánhân, tổ chức với nhau do thỏa thuận ý chí của các bên chẳng hạn như quan hệ bồithường thiệt hại do việc gây ô nhiễm, suy thoái hay sự cố môi trường gây nên
Hiện nay, pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư được quy địnhchủ yếu tại Luật bảo vệ môi trường 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành Ngoài
ra một số vấn đề liên quan được đề cập trong một số văn bản khác, chẳng hạn vấn
đề quy hoạch đô thị liên quan chặt chẽ với quy hoạch bảo vệ môi trường được quyđịnh tại Luật quy hoạch đô thịnăm 2009, một số nội dung của quy hoạch bảo bảo vệmôi trường được quy định tại Luật quy hoạch 2017,…
1.2 Sự cần thiết bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư bằng pháp luật.
1.2.1 Thực trạng và những ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đô thị, khu dân cư.
1.2.1.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường tại các đô thị, khu dân cư.
Ô nhiễm môi trường tại các đô thị, khu dân cưđang là vấn đề đáng báo động
và nhận được sự quan tâm rất lớn của Nhà nước cũng như toàn xã hội Thực trạngmôi trường không khí, nước, đất, …của các đô thị, khu dân cư vẫn đang đặt ranhững thách thức lớn cho các nhà quản lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Hầu
Trang 14hết các đô thị, khu dân cư của nước ta đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môitrường không khí ngày càng gia tăng Nổi cộm nhất trong vấn đề ô nhiễm không khítại các đô thị, khu dân cư ở Việt Nam hiện nay là ô nhiễm không khí do bụi Các sốliệu quan trắc trong giai đoạn từ 2012 đến 2016 cho thấy mức độ ô nhiễm bụi tại các
đô thị Việt Nam vẫn ở ngưỡng cao và chưa có dấu hiệu giảm trong 5 năm gần đây.Sức ép lớn từ nhiều nguồn thải cùng với tỷ lệ xử lý nước thải thấp ảnh hưởng lớnđến chất lượng môi trường nước ở đô thị, các khu dân cư Không chỉ nước mặt mànước dưới đất tại nhiều đô thị, khu dân cư cũng đang trong tình trạng ô nhiễm Môitrường đất tại các khu đô thị, khu dân cư có nguy cơ bị ô nhiễm do chịu tác độngnước thải sinh hoạt, các chất thải của hoạt động công nghiệp, xây dựng, sinh hoạt vàcác bãi chôn lấp rác thải, đặc biệt là ở các đô thị lớn như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh,Hải Phòng, Đà Nẵng Ô nhiễm tiếng ồn cũng là vấn đề môi trường nổi cộm ở nhiều
đô thị Nhất là tại các tuyến đường giao thông tại các đô thị lớn, ô nhiễm tiếng ồnđều vượt QCVN 26:2010 quy định đối với khung giờ từ 6h đến 21h ( 70 dBA) Bêncạnh đó, vấn đề xử lý chất thải rắn vẫn luôn là vấn đề môi trường nhức nhối tại các
đô thị, khu dân cư trong những năm gần đây Dù tỷ lệ xử lý chất thải đã được cảithiện (tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt 85, 3% trong năm 201514 ), nhưng công nghệ xử
lý chất thải chủ yếu vẫn là chôn lấp và đốt, công tác thu gom, phân loại chất thải rắntại nguồn hầu như chưa được thực hiện
1.2.1.2Những ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đô thị, khu dân cư
Ô nhiễm môi trường tại các đô thị, khu dân cư ảnh hưởng đến mục tiêu pháttriển bền vững Phát triển bền vững được hiểu dưới nhiều khía cạnh và theo nhiềucác tiếp cận khác nhau, theo quan điểm của Nhà nước ta phát triển bền vững là
“phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năngđáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tường lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòagiữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” Bảo vệ môitrường trong đó có bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư là một trong những tiêu chíquan trọng của phát triển bền vững Môi trường đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm ảnh
14 Bộ Tài nguyên và Môi trường,tlđd 1,Tr 96.
Trang 15hưởng nghiêm trọng đến môi trường, là rào cản cho tăng trưởng kinh tế và cũng lànguyên nhân gây nên những bất ổn trong xã hội
Thứ nhất, ô nhiễm môi trường đô thị, khu dân cư ảnh hưởng lớn đến môi
trường xung quanh Ô nhiễm không khí với sự gia tăng của nồng độ các khí nhà
kính(C02, CFC, CH4, ) góp phần gây nên hiệu ứng nhà kính là nguyên nhân củahiện tượng biến đổi khí hậu, hạn hán, lũ lụt,… Ô nhiễm bụi tại các đô thị, khu dân
cư cũng là nguyên nhân gây nên hiện tượng khói bụi, sương mù Quá trình quanghợp của các loài thực vật thủy sinh, môi trường sống của cá và các loài thủy sảnkhác bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi tình trạng ô nhiễm nước mặt Một số dòngsông tại các đô thị đã trở thành dòng sông “chết” do bị ô nhiễm nặng và không cònloài sinh vật nào có thể sinh sống Sự gia tăng các hóa chất độc hại trong môi trườngđất ảnh hưởng xấu đến quá trình trao đổi chất của các loại cây trồng
Thứ hai, ô nhiễm môi trường tại các đô thị, khu dân cư cản trở sự phát
triển kinh tế Đi cùng với ô nhiễm môi trường gia tăng là những khoản chi phí ngày
càng lớn cho hoạt động xử lý chất thải; các khoản chi phí để khắc phục sự cố, phụchồi môi trường Người dân phải bỏ ra chi phí cho việc khám, chữa bệnh có nguyênnhân từ ô nhiêm môi trường, khoản chi phí này khó mà đong đếm được, cùng với
đó là sự tốn kém thời gian, công sức, … Môi trường ô nhiễm làm mất mỹ quan đôthị, cảnh quan môi trường dẫn tới suy giảm lượt khách du lịch, để lại ấn tượng xấucho du khách, gây thất thu lớn cho ngành dịch vụ này
Thứ ba, ô nhiễm môi trường đô thị, khu dân cư gây nên những bất ổn trong
xã hội Môi trường đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm dẫn tới nguy cơ bùng phát dịch
bệnh, gây nên sự bất bình trong dân chúng, xung đột giữa các chủ thể gây ô nhiễm
và người dân bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm,… Có thể thấy, ô nhiễm môi trường bất kểlúc nào cũng có thể trở thành nguyên nhân của những bất ổn xã hội tại đô thị, khudân cư Những vấn đề môi trường nghiêm trọng cũng là nguy cơ gây bất ổn chínhtrị Ngoài ra, ô nhiễm môi trường đô thị, khu dân cư ảnh hưởng trực tiếp đến sứckhỏe cộng đồng Môi trường không khí tại các đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm làmtăng nguy cơ đột quỵ, mắc các bệnh về tim mạch, ung thư phổi, các bệnh hô hấp
Trang 16cấp tính và mãn tính Tại Việt Nam, số liệu của Bộ y tế cũng chỉ rõ những nhữngảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe người dân, theo đó số người bịmắc các bệnh hô hấp chiếm từ 3 đến 4% tổng dân số, tỷ lệ người mắc bệnh hô hấp ởcác đô thị phát triển như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, cao hơn nhiều so với các đôthị khác15 Các bệnh ở trẻ em liên quan đến ô nhiễm không khí có xu hướng ngàycàng tăng cao Nước mặt ở các đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm hay chất thải rắnkhông được xử lý triệt để phát tán mùi hôi thối, ảnh hưởng đến sinh hoạt của ngườidân Nước mặt bị ô nhiễm ngấm xuống lòng đất hay những nơi môi trường đấtnhiễm các chất độc hại cũng khiến sức khỏe người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Như vậy, nhìn từ góc độ an ninh môi trường, ô nhiễm môi trường tại đô thị,khu dân cư ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng và môi trường; gây nhiều thiệthại về kinh tế và cũng là nguy cơ cho các bất ổn chính trị, xã hội; cản trở mục tiêuphát triển bền vững An ninh môi trường chỉ có thể được đảm bảo khi không có tácđộng lớn của môi trường đến sự ổn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế củaquốc gia
1.2.2Vai trò bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư của pháp luật.
Với thực trạng và những ảnh hưởng mọi mặt của môi trường đô thị, khu dân
cư nêu trên, có thể thấy bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư là vấn đề cấp thiết.Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình
và cá nhân, trong đó Nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng Nhà nước bằngquyền lực của mình, sử dụng pháp luật là cộng cụ quan trọng, hữu hiệu để bảo vệ
15 Bộ tài nguyên và Môi trường,tlđd 1, tr.107.
Trang 17môi trường Các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư đượcnhà nước ban hành đã phát huy vai trò bảo vệ môi trường trên nhiều khía cạnh
Pháp luật quy định các quy tắc xử sự mà người dân phải thực hiện khi tácđộng đến môi trường đô thị, khu dân cư Với tốc độ tăng dân số và đô thị hóa hiệnnay, dân số tại các đô thị, khu dân cư ngày càng trở nên đông đúc Thêm vào đó,kinh tế ngày càng phát triển kéo theo sự đa dạng hóa các nhu cầu của con người.Những yếu tố trên dẫn đến sự tác động ngày càng sâu rộng của con người đến môitrường đô thị, khu dân cư khiến môi tường biến đổi theo chiều hướng xấu đi Vớivai trò là công cụ điều chỉnh các hành vi trong xã hội, pháp luật quy định các chuẩnmực ứng xử phù hợp nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất những hành vi gây tácđộng xấu đến môi trường đô thị, khu dân cư Những quy định về yêu cầu bảo vệmôi trường đô thị, yêu cầu bảo vệ môi trường nơi công cộng, yêu cầu bảo vệ môitrường đối với hộ gia đình, … đã đưa ra những quy tắc xử xự, hay các nghĩa vụ màcác chủ thể buộc phải tiến hành để đảm bảo giữ gìn môi trường đô thị, khu dân cưđược trong lành Việc các chủ thể thực hiện đúng yêu cầu mà pháp luật đặt ra sẽ hạnchế những tác hại, ngăn chặn được suy thoái, góp phần rất lớn bảo vệ môi trường đôthị, khu dân cư 16
Pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức đặcbiệt là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đảm bảo cho hoạt động quản lý môitrường đô thị được thực hiện một cách có tổ chức Bảo vệ môi trường là nghĩa vụ,trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Trong đó sự tham giacủa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có vai trò hết sức quan trọng nhằm đảmbảo các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của mình.Thông qua quyền lực nhà nước được pháp luật quy định, các cơ quan nhà nước vớithẩm quyền của mình thực hiện việc quản lý, đảm bảo các chủ thể thực hiện đúngvới quy tắc xử xự mà pháp luât quy định, xử lý các hành vi vi phạm; từ đó tạo ra cơchế thực thi pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư
16 Trường Đại học Luật Hà Nội, tlđd 10, Tr.26.
Trang 18Pháp luật quy định các trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể có hành vigây ô nhiễm môi trường, tạo tính răn đe, buộc các chủ thể thực hiện nghĩa vụ củamình trong bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư;hạn chế hành vi vi phạm gây ônhiễm môi trường Đưa ra các tiêu chuẩn, quy tắc xử xự mới chỉ là bước đầu, làmsao để những quy tắc đó được các chủ thể thực hiện đúng, phát huy vai trò của cácquy định luật trên thực tiễn là điều quan trọng cần hướng tới Trên thực tế khôngphải bất cứ yêu cầu nào của pháp luật cũng được các chủ thể tự giác thực hiện Bởi
lẽ nhiều yêu cầu của pháp luật có mâu thuẫn với các lợi ích kinh tế của cá nhân, tổchức, nhu cầu bức bách của cuộc sống… Chẳng hạn như các yêu cầu về đóng phíbảo vệ môi trường, yêu cầu về công trình bảo vệ môi trường đối với các chủ dựán, Khi đó vấn đề môi trường được đem so sánh với các lợi ích khác và không phảikhi nào vấn đề môi trường cũng được đặt lên trên hết Do đó, các chế tài hànhchính, hình sự sẽ buộc các chủ thể vi phạm phải cân nhắc về cái giá phải trả choviệc xem nhẹ các vấn đề môi trường Các quy định này vừa có ý nghĩa răn đe, vừa
có ý nghĩa giáo dục, tuyên truyền là cơ sở để nâng cáo ý thức tuân thủ pháp luật củamọi cơ quan, tổ chức, cá nhân
Pháp luật quy định về cáctiêu chuẩn môi trường, quy chuẩn kỹ thuật về môitrường là cơ sở để đánh giá chất lượng môi trường đô thị, khu dân cư “Tiêu chuẩnmôi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh,hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật vàquản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tựnguyện áp dụng để bảo vệ môi trường ”17Việc công bố các tiêu chuẩn môi trườngkhuyến khích các chủ thể đáp ứng các tiêu chuẩn giúp hạn chế tác động xấu đếnmôi trường “Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số vềchất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trongchất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyềnban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường”18 Việc phápluật buộc các chủ thể phải đáp ứng các quy chuẩn đặt ra là cơ sở để đánh giá sự tuânthủ pháp luật của các chủ thể cũng như cơ sở để xử lý các hành vi vi phạm
17 Khoản 6 điều 3 Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 06 năm 2014.
18 Khoản 5điều 3 Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 06 năm 2014.
Trang 19Như vậy, sự điều chỉnh của pháp luật có ý nghĩa hết sức to lớn trong việcbảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư, giữ cho môi trường đô thị, khu dân cư đượctrong lành
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
1.“Khu dân cư là nơi tập hợp người dân, hộ gia đình cư trú tập trung trongphạm vi một khu vực nhất định, bao gồm: Thôn, xóm, làng, bản, ấp, buôn, phum,sóc, khóm, tổ dân phố và đơn vị dân cư tương đương ” Đô thị là nơi tập trung đôngdân cư với tỷ lệ lao động phi nông nghiệp cao, có hệ thống hạ tầng xã hội và hạ tầng
kỹ thuật phù hợp, có vai trò lớn trong phát triển kinh tế xã hội
Bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạnchế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ônhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường tại đô thị và khu dân cư, sử dụnghợp lý các tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ cho môi trường đô thị, khu dân cư tronglành
Pháp luật bảo vệ môi trường đô thị và khu dân cư cũng là một bộ phận củaluật môi trường nói chung Pháp luật bảo vệ môi trường đô thị và khu dân cư là tổngthể các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý do cơ quan Nhà nước có thẩmquyền ban hành nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa các chủ thể tronghoạt động bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư
Trang 202.Vấn đề ô nhiễm môi trường đô thị, khu dân cư là vấn đề đáng báo động vànhận được sự quan tâm rất lớn của Nhà nước cũng như toàn xã hội Thực trạng ônhiễm môi trường không khí, nước, đất và tiếng ồn tại các đô thị, khu dân cư củaViệt Nam hiện nay gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân và môi trường, tổnthất về kinh tế, cản trở sự phát triển bền vững và nhiều tác hại khác
Thực trạng và những ảnh hưởng của ỗ nhiễm môi trường đô thị cho thấy sựcần thiết phải bảo vệ môi trường, đặc biệt là bằng công cụ pháp luật Pháp luật bảo
vệ môi trường với tư cách là công cụ quyền lực Nhà nước đã phát huy vai trò bảo vệmôi trường trên nhiều khía cạnh
CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ, KHU
DÂN CƯ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH.
2.1 Nội dung pháp luật bảo vệ môi trường đô thị và khu dân cư.
2.1.1Nôi dung pháp luật về yêu cầu bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư.
2.1.1.1 Nội dung pháp luật về yêu cầu chung về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư
Thứ nhấtpháp luật về yêu cầu tuân thủ những nguyên tắc chung trong bảo
vệ môi trường đối với bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư
Bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư là một bộ phận của bảo vệ môi trườngnói chung nên cũng cần tuân theo những nguyên tắc chung về bảo vệ môi trườngquy định tại Luật bảo vệ môi trường 2014 Điều 4 Luật bảo vệ môi trường 2014 quyđịnh những nguyên tắc chung và cũng là yêu cầu đối với mọi hoạt động động bảo
vệ môi trường bao gồm:
Trang 21- Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức,
hộ gia đình và cá nhân
- Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội,bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứngphó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trườngtrong lành
- Bảo vệ môi trường phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên, giảmthiểu chất thải
- Bảo vệ môi trường quốc gia gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực vàtoàn cầu; bảo vệ môi trường bảo đảm không phương hại chủ quyền, an ninh quốcgia
-Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa,lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
- Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên và ưutiên phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thành phần môi trường, đượchưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trườngphải khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của phápluật
Từ những nguyên tắc này có thể thấy, hoạt động bảo vệ môi trường đô thị,khu dân cư là trách nhiệm chung của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân, hộ giađình;hoạt động nàyphải được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục chứ không
Trang 22thể chộp dật, nhất thời; phải ưu tiên phòng ngừa ô nhiễm, sự cố môi trương, giảmthiểu chất thải; chú trọng đến nghĩa vụ của các chủ thể gây ô nhiễm cũng như nghĩa
vụ của các chủ thể hưởng lợi từ môi trường Hơn nữa, bảo vệ môi trường tại các đôthị, khu dân cư không hoàn toàn giống nhau bởi mỗi đô thị, khu dân cư lại có nhữngđặc điểm riêng về tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế xã hội khácnhau Việc thực hiện tốt những yêu cầu nêu trên là cơ sở quan trọng cho hoạt độngbảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư được tiến hành một cách hiệu quả
Thứ hai, pháp luật về cộng đồng dân cư tham giabảo vệ môi trường đô thị,
khu dân cư
Bên cạnh yêu cầu tuân thủ những nguyên tắc chung bảo vệ môi trường, sựtham gia tích cực của cộng đồng dân cư tại đô thị, khu dân cư là yêu cầu quan trọngđối với bảo vệ môi trường tại đô thị, khu dân cư Cộng đồng dân cư được hiểu làcộng đồng người sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc,
tổ dân phố và điểm dân cư19 Vai trò của cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi trường
đô thị, khu dân cư thể hiện qua nhiều hoạt động
Một là, cộng đồng dân cư tham gia phản biện xã hội về bảo vệ môi trường
thông qua các hình thức: tham vấn chủ trương, chính sách, kế hoạch và pháp luật
liên quan đến bảo vệ môi trường và tham vấn về đánh giá môi trường chiến lược vàĐTM Khoản 1 Điều 52 Nghị định số 19/2015/ NĐ- CP quy định các chủ trương,chính sách phải có sự tham vấn của cộng đồng dân cư như: Xây dựng chiến lược,quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án bảo vệ môi trường cấp quốc gia, vùng,liên vùng và cấp tỉnh;xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môitrường;xác lập các chỉ tiêu về môi trường trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội cấp quốc gia, liên vùng, vùng và cấp tỉnh Việc lấy ý kiếntham vấn được thực hiện thông qua việc công bố công khai dự thảo văn bản trên cáctrang thông tin điện tử hoặc phương tiện thông tin đại chúng
19 Khoản 10 Điều 3 Nghị định 19/2015/ NĐ- CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường.
Trang 23Điều 21 Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định chủ dự án phải tham vấncộng đồng dân cư chịu tác động trực tiếp bởi dự án trong quá trình thực hiện ĐTM.Hình thức lấy ý kiến là họp cộng đồng dân cư có sự tham gia của các bên:Chủ dự
án, UBND cấp xã nơi thực hiện dự án, đại diện ủy ban MTTQVN cấp xã nơi thựchiện dự án, các tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ dân phố,thôn, bản được UBND cấp xã triệu tập ( Khoản 6 điều 12 Nghị định số 18/2015/NĐ- CP) Nếu như văn bản trước đây ( Nghị định của Chính phủ số 29/2011/ NĐ-
CP ngày 18/04/2011) quy định về đánh giá môi trường chiến lược, ĐTM, cam kếtbảo vệ môi trường chỉ đặt ra yêu cầu đối thoại giữa chủ dự án và đại diện của cộngđồng dân cư trong trường hợp cần thiết thì với quy định hiện hành tham vấn cộngđồng dân cư là bước bắt buộc trong thực hiện ĐTM20 Tuy nhiên, những nội dungcủa báo cáo ĐTM, đánh giá môi trường chiến lược thường mang tính chuyên mônđòi hỏi người có kiến thức chuyên ngành môi trường mới có thể hiểu thấu đáo vàđánh giá được trong khi phần lớn các thành viên trong cộng đồng dân cư không thểđáp ứng đòi hỏi này Do đó, cần có cơ chế hỗ trợ về chuyên môn, tạo điều kiện đểngười dân có thể đóng góp ý kiến của mình một các xác đáng, hiệu quả
Hai là, cộng đồng dân cư tự quản môi trường địa phương Khoản 1 Điều
83 Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định nhà nước khuyến khích cộng đồng dân cưthành lập tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường nơi mình sinh sống Khoản 2 Điều
83 Luật bảo vệ môi trường quy định nhiệm vụ của tổ chức tự quản về bảo vệ môitrường như: Kiểm tra, đôn đốc hộ gia đình, cá nhân thực hiện quy định về giữ gìn vệsinh và bảo vệ môi trường; tổ chức thu gom, tập kết và xử lý chất thải; giữ gìn vệsinh môi trường tại khu dân cư và nơi công cộng;…
Mặc dù quy định khá nhiều những nghĩa vụ cho tổ chức tự quản về bảo vệmôi trường song pháp luật môi trường lại chưa có cơ chế khuyến khích cần thiếtcho hoạt động của tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường21 Từ đó các tổ chức tựquản về bảo vệ môi trường khá mờ nhạt trong khi đây vừa là những chủ thể chịu tác
20Hoàng Thị Ngọc Quỳnh (2015),Vai trò của cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi trường, pháp luật và thực
tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr.22.
21 Vũ Duyên Thủy(2017), “Những hạn chế của pháp luật bảo vệ môi trường đô thị tại Việt Nam và giải pháp
hoàn thiện”, Luật học, số 7, tr.73.
Trang 24động trực tiếp từ ô nhiễm môi trường, đáng ra phải là những chủ thể tích cực nhấttrong công tác bảo vệ môi trường
Ba là, cộng đồng dân cư tham gia giám sát, phát hiện, khiếu nại, tố cáo
hành vi vi phạm pháp luật Vai trò giám sát của cộng đồng dân cư thể hiện qua các
quy định về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư tại Điều 146 Luật bảo vệ môitrường 2014 Khoản 1 Điều 5 Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định Nhà nước chủtrương tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia kiểmtra, giám sát hoạt động động bảo vệ môi trường công cộng Hơn nữa Nghị định19/2015/ NĐ- CP ghi nhận giám sát về môi trường là một trong những nội dung củacộng đồng dân cư tham gia bảo vệ môi trường Trong quá trình giám sát công tácbảo vệ môi trường tại địa phương, khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật bảo vệmôi trường, cộng đồng dân cư có quyền thực hiện các biện pháp bảo vệ quyền vàlợi ích của mình22 Trong đó các biện pháp khiếu nại, khởi kiện người có hành vi viphạm pháp luật môi trường là những biện pháp hữu hiệu để cộng đồng dân cư yêucầu cơ quan có thẩm quền bảo vệ quyền và lợi ích của mình
Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện nay vẫn chưa có quy định về quyềnkhởi kiện của cộng đồng dân cư Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thìcác chủ thể có quyền khởi kiện bao gồm: cơ quan, tổ chức, cá nhân23 Cộng đồngdân cư rõ ràng không thể được coi là một tổ chức để có thể tự mình khởi kiện Nóicách khác cộng đồng dân cư là một tập thể mà pháp luật Việt Nam vẫn chưa côngnhận khởi kiện tập thể Do đó, trường hợp một cộng đồng dân cư bị thiệt hại bởihành vi gây ô nhiễm của chủ thể khác mà muốn khởi kiện những chủ thể này thìbuộc phải “đi đường vòng” với hai phương thức: Thứ nhất là các cá nhân trongcộng đồng dân cư đó đứng ra khởi kiện chủ thể vi phạm với tư cách cá nhân; thứ hai
là áp dụng quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ lợi ích công cộng,lợi ích của Nhà nước tại Khoản 4 Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, theo đó đạidiện cộng đồng dân cư phải “nhờ” cơ quan Tuy nhiên, hoạt động khởi kiện tronglĩnh vực môi trường, đặc biệt là khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy
22 Khoản 3Điều 146 Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 06 năm 2014.
23 Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015.
Trang 25thoái, sự cố môi trường gây ra là một lĩnh vực rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi nhiềuthời gian và công sức Do đó, cộng đồng dân cư trong trường hợp phải thực hiệnquyền và lợi ích của mình thông qua các cơ quan đại diện thường gặp phải trở ngại
từ chính thái độ thiện chí hợp tác của các cơ quan đó
2.1.1.2Nội dung pháp luật vềnhững yêu cầu riêng về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư
Thứ nhất, nội dung pháp luật về yêu cầu đối với bảo vệ môi trường đô thị
Đô thị là nơi tập chung đông dân cư, có tác động mạnh đến môi trường, do
đó Luật bảo vệ môi trường 2014 đặt ra những yêu cầu đối với bảo vệ môi trường tại
đô thị Theo đó, các tổ chức, cá nhân tại các đô thị đều phải thực hiện các yêu cầubảo vệ môi trường như:Có thiết bị, phương tiện, địa điểm để phân loại tại nguồn,thu gom, tập trung chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với khối lượng, chủng loại chấtthải và đủ khả năng tiếp nhận chất thải đã được phân loại tại nguồn từ các hộ giađình trong khu dân cư; bảo đảm yêu cầu về cảnh quan đô thị, vệ sinh môi trường;lắp đặt và bố trí công trình vệ sinh nơi công cộng; chủ đầu tư dự án khu dân cư tậptrung, chung cư phải thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trườngtheo quy định; đốivới khu dân cư phân tán phải có địa điểm, hệ thống thu gom, xử lý rác thải; có hệthống cung cấp nước sạch và các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp và
an toàn
Những yêu cầu này thể hiện rõ sự quan tâm của nhà nước đối với môitrường tại đô thị, khu dân cư Tuy nhiên một số yêu cầu khá chung chung, cần đượchướng dẫn rõ hơn Chẳng hạn như “các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch,đẹp và an toàn” là những hoạt động gì ? Nếu Luật đã quy định là “phải có” nhữnghoạt động này, thì cần xác định rõ, đồng thời quy định cả cách thức tiến hành cáchoạt động này Những yêu cầu mà pháp luật đặt ra là những yêu cầu tối thiểu để
Trang 26đảm bảo chất lượng môi trường sống cho cộng đồng tại các đô thị, khu dân cư Do
đó, những yêu cầu này cần phải rõ ràng, cụ thể để người dân thực hiện bảo vệ môitrường một cách hiệu quả
Bên cạnh đó, Luật bảo vệ môi trường 2014 cũng đề ra yêu cầu mang tínhnguyên tắc đối với bảo vệ môi trường đô thịđó là “Bảo vệ môi trường đô thị thựchiện theo nguyên tắc phát triển bền vững gắn với việc duy trì các yếu tố tự nhiên,văn hóa, lịch sử và bảo đảm tỷ lệ không gian xanh theo quy hoạch”24 Đây là quyđịnh phù hợp với yêu cầu chung về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư; cho thấy
sự quan tâm của nhà nước ta đến phát triển bền vững trong mọi trường hợp Yêucầu này nhấn mạnh đến sự hài hòa giữa bảo vệ môi trường đô thị với phát triển kinh
tế, xã hội, văn hóa Và đặc biệt là yêu cầu đảm bảo tỷ lệ không gian xanh Tại các
đô thị, không gian xanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc mang lại lợi ích chocon người, xã hội và môi trường trong đô thị Cây xanh đô thị có tác dụng hấp thụbức xạ nhiệt của mặt trời, làm giảm các “ đảo nhiệt” và hấp thụ CO2 và các khí độchại của môi trường Tuy nhiên, quy định của Luật bảo vệ môi trường về yêu cầu đốivới không gian xanh chưa thực sự chặt chẽ Hiện có nhiều loại quy hoạch khác nhautại đô thị, khu dân cư: Quy hoạch đô thịcó nội dung về quy hoạch cây xanh đô thị(Luật quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12), quy hoạch bảo vệ môi trường ( Luật bảo
vệ môi trường số 55/2014/QH13), quy hoạch sử dụng đất…Do đó cần nêu rõ loạiquy hoạch cần tuân thủ trong điều khoản này bởi các quy hoạch trên chưa hẳn đãthống nhất với nhau
Ngoài ra, Luật bảo vệ môi trường 2014 còn đề ra yêu cầu về kết cấu hạ tầng
về bảo vệ môi trường phải đồng bộ, phù hợp với quy hoạch đô thị, khu dân cư tậptrung đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt25 Hạ tầng kỹ thuật bảo
vệ môi trườngtheo Luật bảo vệ môi trường 2014bao gồm hệ thống thu gom, lưu giữ,
vận chuyển, tái chế, tái sử dụng, xử lý chất thải và quan trắc môi trường Theo Luậtquy hoạch đô thị 2015 thì quy hoạch hạ tầng kỹ thuật đô thị được lập đối với các đốitượng gồm: Giao thông đô thị;cao độ nền và thoát nước mặt đô thị; cấp nước đô thị;thoát nước thải đô thị; cấp năng lượng và chiếu sáng đô thị; thông tin liên lạc;nghĩa
24 Khoản 1 Điều 80 Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 06 năm 2014.
25 Khoản 2 Điều 80 Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 06 năm 2014.
Trang 27trang và xử lý chất thải rắn Có thể thấy hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường đã được
đề cập trong nội dung của quy hoạch hạ tầng kỹ thuật đô thị Tuy nhiên, hạ tầng kỹthuật bảo vệ môi trường cũng được đề cập trong nội dung của quy hoạch bảo vệ môitrường26, cùng một lúc được điều chỉnh bởi hai loại quy hoạch song hiện chưa có cơchế đảm bảo những nội dung về hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trườngcủa hai loại quyhoạch này được thống nhất với nhau Nói cách khác Luật bảo vệ môi trường hiệnnay mới chỉ quy định mang tính định hướng chứ chưa có bất kỳ hướng dẫn cụ thểnào về cách thức đánh giá sự phù hợp hay cơ chế đồng bộ hạ tầng kỹ thuật bảo vệmôi trường với hạ tầng kỹ thuật đô thị trong vấn đề quy hoạch đô thị
Thứ hai, nội dung pháp luật về yêu cầu bảo vệ môi trường đối với hộ gia
đình
Về mặt pháp lý, hiện chưa có khái niệm cụ thể về hộ gia đình Tuy nhiên,trên cơ sở các quy định về hộ gia đình của Bộ luật dân sự 2015 và khái niệm “hộ giađình sử dụng đất” trong Luật đất đai 2013 có hiểu, hộ gia đình là những người cóquan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hônnhân và gia đình, đang sống chung và có tài sản chung Hộ gia đình cũng là chủ thểquan trọng trong quan hệ pháp luật môi trường, muốn có sự tham gia của toàn xãhội trong bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư thì không thể không chú trọng đếnvai trò của hộ gia đình Chính vì vậy, Điều 82Luật bảo vệ môi trường 2014 đã quyđịnh về yêu cầu bảo vệ môi trường đối với hộ gia đình Theo đó, hộ gia đình có cácnghĩa vụ trong bảo vệ môi trường như:Giảm thiểu, phân loại tại nguồn, thu gom vàchuyển rác thải sinh hoạt đến đúng nơi quy định; giảm thiểu, xử lý và xả nước thảisinh hoạt đúng nơi quy định; không được phát tán khí thải, gây tiếng ồn, độ rung vàtác động khác vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường, gây ảnh hưởng xấu đếncộng đồng dân cư xung quanh; nộp đủ và đúng thời hạn phí bảo vệ môi trường; chitrả cho dịch vụ thu gom, xử lý chất thải theo quy định của pháp luật; tham gia hoạtđộng bảo vệ môi trường công cộng và tại khu dân cư Có công trình vệ sinh, chuồngtrại chăn nuôi gia súc, gia cầm bảo đảm vệ sinh, an toàn
26 Khoản 1 Điều 9 Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 06 năm 2014.
Trang 28Tuy nhiên, các quy định về nghĩa vụ của hộ gia đình chưa có những chếtài
cụ thể, do đó các quy định này mới chỉ dừng lại ở mức khuyến khích mà chưa cógiá trị bắt buộc các chủ thể thực hiện27 Chẳng hạn, nghĩa vụ giảm thiểu và phân loạichất thải tại nguồn hiện nay mới chỉ được hướng dẫn cách phân loại chất thải rắnnói chung tại Nghị định 38/2015/ NĐ- CP về quản lí chất thải và phế liệu Nếu các
hộ gia đình không tuân thủ nghĩa vụ phân loại chất thải tại nguồn thì cũng không bị
áp dụng biện pháp chế tài nào Giảm thiểu chất thải hiện cũng chỉ được quy địnhnhư một khẩu hiệu trong quản lí chất thải, nghị định 38/ 2015/ NĐ- CP về quản líchất thải và phế liệu quy định về vấn đề giảm thiểu nước thải, chất thải nguy hại,bụi,… bằng những khẩu hiệu chung chung như “ Có biện pháp giảm thiểu,…”,
“Khuyến khích giảm thiểu,…” Với những quy định này, nhà làm luật dường nhưtrông chờ vào ý thức của các hộ gia đình trong việc giảm thiểu chất thải sinh hoạt,trong khi thực tế ý thức bảo vệ môi trường của họ còn thấp, khó có sự tự giác thựchiện giảm thiểu chất thải nếu không có biện pháp kiểm soát, chế tài xử lý xử lý chặtchẽ
Thứ ba, nội dung pháp luật về yêu cầu bảo vệ môi trường nơi công cộng
Nơi công cộng là nơi diễn ra các hoạt động chung của nhiều người, do đómôi trường cũng dễ bị ảnh hưởng Bảo vệ môi trường nơi công cộng trước hết cần
có sự tham gia tích cực và ý thức của mọi cá nhân, tổ chức Các yêu cầubảo vệ môitrường nơi cộng cộng được quy định tại Điều 81 Luật bảo vệ môi trường 2014.Theo đó:
Cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm thực hiện các quyđịnh về bảo vệ môi trường và giữ gìn vệ sinh nơi công cộng; phân loại, chuyển rácthải vào thùng chứa rác công cộng hoặc đúng nơi quy định tập trung rác thải; không
để vật nuôi gây mất vệ sinh nơi công cộng
Bên cạnh đó, đối với tổ chức, cá nhân quản lý công viên, khu vui chơi, giảitrí, khu du lịch, chợ, nhà ga, bến xe, bến tàu, bến cảng, bến phà và khu vực côngcộng khác có trách nhiệm: bố trí nhân lực thu gom chất thải, làm vệ sinh môi trườngtrong phạm vi quản lý; bố trí công trình vệ sinh công cộng; phương tiện, thiết bị thu
27 Vũ Duyên Thủy,tlđd 20, tr.74.
Trang 29gom chất thải đáp ứng nhu cầu giữ gìn vệ sinh môi trường; niêm yết quy định vềgiữ gìn vệ sinh nơi công cộng
Tại Điều 20 và Điều 28 Nghị định 155/ 2016/ NĐ- CP Về xử phạt vi phạmhành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cũng đã quy định những chế tài hànhchính đối với các hành vi vi phạm quy định về vệ sinh nơi công cộng và và bảo vệmôi trường nơi công cộng Theo đó, hình thức xử phạt chính đối với các hành vinày
là cảnh cáo, hoặc phạt tiền Hình thức phạt tiền được quy định khá nghiêm khắc vớimức phạt tương đối cao, từ 500 000 đồng đến 5000 000 đồng đối với cá nhân chocác hành vi vi phạm quy định về vệ sinh nơi công cộng, từ 10 000 000 đồng đến
20 000 000 đồng đối với hoạt động quản lý công viên, khu vui chơi, giải trí, lễ hội,khu du lịch, chợ, nhà ga, bến xe, bến tàu, bến cảng, bến phà và khu vực công cộngkhác có một trong các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ môi trường nơi côngcộng Tuy nhiên, hình thức xử phạt bổ sung đối với các hành vi vi phạm yêu cầubảo vệ môi trường nơi công cộng còn hạn chế, chỉ dừng lại ở hình thức đình chỉhoạt động của các cơ sở vi phạm Có thể đa dạng hóa các hình thức xử phạt bổ sungnhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường nơi công cộng trên cơ sở học tập và ápdụng các chế tài được các nước trên thế giới sử dụng Chẳng hạn như hình thứcbuộc người vi phạm quy định về bảo vệ môi trường nơi công cộng phải lao độngcông ích trong một khoảng thời gian nhất định dưới sự giám sát của người có thẩmquyền Đây là một trong những chế tài được áp dụng khá thành công ở Singaporehay thủ đô Manila của Philippines Hay các hình thức công khai danh tính, hình ảnhngười vi phạm tại các nơi công cộng, trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằmnâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người vi phạm Có thể thấy, các quy địnhhiện hành về yêu cầu bảo vệ môi trường nơi công cộng khá đầy đủ, chặt chẽ songcông tác thực thi những quy định này còn nhiều hạn chế
Thứ tư, nội dung pháp luật vềvề yêu cầu bảo vệ môi trườngtrong mai táng,
hỏa táng
Yêu cầu bảo vệ môi trường trong mai tang, hỏa táng được quy định tại Điều
84 Luật bảo vệ môi trường 2014 Theo đó, khu mai táng, hỏa táng phải bảo đảm cácyêu cầu sau: Phù hợp với quy hoạch; có vị trí, khoảng cách đáp ứng yêu cầu về vệsinh môi trường, cảnh quan khu dân cư;không gây ô nhiễm nguồn nước và môi
Trang 30trường xung quanh Các quy định này được hướng dẫn khá cụ thể tại Nghị định23/2016/ NĐ- CP ngày 05 tháng 04 năm 2016 về xây dựng, quản lý, sử dụng nghĩatrang, cơ sở hỏa táng Theo đó, việc xây dựng nghĩa trang, cơ sở hỏa táng phải phùhợp với quy hoạch nghĩa trang vùng tỉnh và quy hoạch chi tiết xây dựng nghĩatrang, cơ sở hỏa táng Các loại quy hoạch này luôn phải có nội dung về đánh giámôi trường chiến lược nhằm dự báo các tác động đến môi trường và biện pháp khắcphục Các phần mộ cá nhân phải tuân thủ quy định về diện tích tối đa được phépxây dựng Các yêu cầu cụ thể về quy cách xây dựng, yêu cầu về vệ sinh môi trường,kiến trúc, cảnh quan đối với nghĩa trang, cơ sở hỏa táng được quy định chi tiết theoQuy chuẩn quốc gia QCVN 07-10:2016/BXD về Các công trình hạ tầng kỹ thuật -Công trình nghĩa trang ban hành kèm theo Thông tư 01/2016/TT-BXD ngày 01tháng 02 năm 2016 Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về các công trình hạ tầng
kỹ thuật Với nội dung trong các văn bản hướng dẫn nêu trên, yêu cầu “ không gây
ô nhiễm nguồn nước và môi trường xung quanh” vừa rất chung chung vừa chỉ mangtính khẩu hiệu và không thực sự cần thiết
Bên cạnh đó, Luật bảo vệ môi trường 2014 còn yêu cầu:“Việc quàn, ướp, dichuyển, chôn cất thi thể, hài cốt phải bảo đảm yêu cầu về vệ sinh môi trường”;
“Việc mai táng người chết do dịch bệnh nguy hiểm thực hiện theo quy định của Bộ
Y tế” Các yêu cầu này cũng được hướng dân chi tiết tại Thông tư BYTngày 26 tháng 5 năm 2009 Hướng dẫn vệ sinh trong hoạt động mai táng, hỏatáng Thông tư này hướng dẫn khá chi tiết về vệ sinh trong quàn ướp, khâm liệm,vận chuyển thi hài, mai táng, hỏa táng; vệ sinh nhà tang lễ, nghĩa trang, …
02/2009/TT-Các yêu cầu bảo vệ môi trường trong mai táng, hỏa táng được quy địnhtương đối chi tiết, cụ thể Tuy nhiên, quy định về yêu cầu đối với khu mai táng, hỏatáng “không gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường xung quanh” chưa thực sự hợp
lý và còn khá chung chung Thứ nhất, quy định này có sự phân biệt giữa “nguồnnước” và “môi trường xung quanh” trong khi theo cách hiểu thông thường thì “môitrường xung quanh” đã bao gồm cả môi trường đất, nước, không khí, Thứ hai, kháiniệm“ môi trường xung quanh”chưa được xác định rõ ràng về phạm vi và giới hạncủa thành phần môi trường cần phải được xem xét Hiện nay chưa có bất kỳ văn bảnnào hướng dẫn về vấn đề này Bên cạnh đó, quy định “Nhà nước khuyến khích việchỏa táng, chôn cất trong khu nghĩa trang theo quy hoạch, xóa bỏ hủ tục gây ô nhiễm
Trang 31môi trường” cũng chưa được cụ thể Hiện chưa có văn bản nào hướng dẫn, hay quyđịnh về danh mục các hủ tục mai táng gây ô nhiễm môi trường gây khó khăn trongquá trình thực thi pháp luật trên thực tế Quy định này cũng cho thấy một thực tếhiện nay vẫn còn những khu nghĩa trang, khu chôn cất không theo quy hoạch Hơnnữa, mặc dù quy định các yêu cầu nêu trên nhưng pháp luật lại không có chế tài đốivới các hành vi vi phạm, Nghị định 155/ 2016/ NĐ- CP không có quy định nào xửphạt hành chính khi vi phạm quy định về yêu cầu bảo vệ môi trườngtrong mai táng,hỏa táng Điều này khiến cho việc thực thi các quy định pháp luật gặp nhiều khókhăn
Thứ năm, nội dung pháp luật về yêu cầu quản lý nước thải tại đô thị, khu
dân cư tập chung
Tài nguyên nước không phải là tài nguyên vô hạn nếu không được sử dụngtiết kiệm, hợp lý Bảo vệ tài nguyên nước là yêu cầu quan trọng tại các đô thị, khudân cư, trong đó quan trọng hàng đầu là công tác quản lý nước thải tại đô thị, khudân cư Nhận thức rõ vấn đề này, Khoản 1 Điều 100 Luật bảo vệ môi trường 2014
quy định“Đô thị, khu dân cư tập trung phải có hệ thống thu gom riêng nước mưa
và nước thải.” Có hệ thống thu gom nước mưa và nước thải riêng làyêu cầu cần
thiết nhằm bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước Vì nước mưa thôngthường chưa bị nhiễm các loại chất độc hại và có thể dễ dàng tái sử dụng được trongkhi nước thải để tái sử dụng cần trải qua nhiều công đoạn xử lý Hơn nữa nếu đểnước mưa và nước thải lẫn với nhau sẽ làm loãng nồng độ các chất nguy hại trongnước thải, có thể gây nên những khó khăn trong hoạt động quan trắc nhằm xác địnhcác hành vi xả thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về nước thải Tuy nhiên quy định nàykhó đảm bảo thực hiện trên thực tế vì thiếu chặt chẽ và không cụ thể Hiện nay chưa
có quy định hướng dẫn cụ thể về cách thức thực hiệnquy định này như thế nào, yêucầu chất lượng của hệ thống thu gom nước mưa, nước thải ra sao, về trách nhiệmxây dựng, quản lí cũng như các chế tài đối với các trường hợp vi phạm28
28 Vũ Duyên Thủy, tlđd, tr.73.
Trang 322.1.2 Nội dung pháp luật về quy hoạch bảo vệ môi trường tại đô thị, khu dân cư.
Theo cách hiểu chung, quy hoạch là quá trình soạn thảo một tập hợp cácchương trình liên quan được thiết kế để đạtcác mục tiêu nhất định Nó bao gồm việcđịnh ra một hoặc nhiều vấn đề cần được giải quyết, thiết lập các mục tiêu quy hoặc,xác định các giả thiết và quy hoạch cần dựa vào, tìm kiếm và đánh giá các biệnpháp hành động có thể thay thế và lựa chọn hành động cụ thể để thực hiện29 Dướigóc độ pháp lý, quy hoạch là việc sắp xếp, phân bố không gian các hoạt động kinh
tế - xã hội, quốc phòng, an ninh gắn với phát triển kết cấu hạ tầng, sử dụng tàinguyên và bảo vệ môi trường trên lãnh thổ xác định để sử dụng hiệu quả các nguồnlực của đất nước phục vụ mục tiêu phát triển bền vững cho thời kỳ xác định30 Từ đó
có thể hiểu:Quy hoạch bảo vệ môi trườnglà việc phân vùng môi trường để bảo tồn,
phát triển và thiết lập hệ thống hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường gắn với hệ thốnggiải pháp bảo vệ môi trường trong sự liên quan chặt chẽ với quy hoạch tổng thể pháttriển kinh tế - xã hội nhằm bảo đảm phát triển bền vững31.Có thể thấy, quy hoạch làcông cụ có tính chiến lược trongbảo vệ môi trường, là phương pháp thích hợp để đạtđược các mục tiêu bảo vệ môi trường được đặt ra Nhận thức được vai trò của quyhoạch trong bảo vệ môi trường, Luật bảo vệ môi trường đã dành riêng một mục( Mục 1 Chương II) để quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường Đây là một trongnhững điểm mới của Luật bảo vệ môi trường 2014 so với Luật bảo vệ môi trường
2005 Nếu như theo Luật trước đây quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cưchỉ là một nội dung trong bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư thì đến Luật bảo vệmôi trường 2014quy hoạch bảo vệ môi trường được nhận thức có vai trò quan trọngđối với hoạt động bảo vệ môi trường nói chung, trở thành một mục riêng chứ khôngchỉ có ý nghĩa trong bảo vệ môi trường tại đô thị, khu dân cư Vai trò của quy hoạchbảo vệ môi trường được nâng lên, đánh dấu “sự thay đổi lớn trong tư duy quản lýmôi trường tại Việt Nam”32 Theo quy định của Luật bảo vệ môi trường 2014, quyhoạch bảo vệ môi trường bao gồm 2 cấp độ là quy hoạch bảo vệ môi trường cấpquốc gia và quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh Quy hoạch bảo vệ môi trường
29 Vũ Duyên Thủy, tlđd, tr.70.
30 Khoản 1 Điều 3 Luật quy hoạch số 30/2009/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2017.
31 Khoản 21 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 06 năm 2014.
32 Vũ Duyên Thủy, tlđd, tr.71.
Trang 33cấp quốc gia do bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức lập Ủy ban nhân dân tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) tổchức xây dựng nội dung hoặc lập quy hoạch bảo vệ môi trường trên địa bàn Kỳ quyhoạch bảo vệ môi trường kéo dài 10 năm tầm nhìn 20 năm
Quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia có những nội dung cơ bảnnhư:Đánh giá hiện trạng môi trường, quản lý môi trường, dự báo xu thế diễn biếnmôi trường và biến đổi khí hậu;phân vùng môi trường; bảo tồn đa dạng sinh học vàmôi trường rừng; quản lý môi trường biển, hải đảo và lưu vực sông; quản lý chấtthải; hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường; hệ thống quan trắc môi trường; các bản đồquy hoạch thể hiện nội dung nêu trên; nguồn lực thực hiện quy hoạch; tổ chức thựchiện quy hoạch Nội dung quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh được thực hiệnphù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương bằng một quy hoạch riêng hoặc lồngghép vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
Tuy nhiên, nội dung pháp luật về quy hoạch bảo vệ môi trường còn tồn tạinhững hạn chế nhất định
Thư nhất là về tên gọi của loại hình quy hoạch
Tên của loại hình quy hoạch theo Luật bảo vệ môi trường 2005 là “ quyhoạch bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư” được quy định thành một điều luậttrong chương về “Bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư” đã cho thấy được tính chấtđặc biệt và tầm quan trọng của quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cưtrong hoạt động động bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư Luật bảo vệ môi trường2014đã không phát huy được ưu điểm này của Luật bảo vệ môi trường năm 2005,
và khiến cho vai trò của quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư trở nên mờnhạt Điều này được thể hiện rõ qua việc Luật bảo vệ môi trường 2014quy định mộtchương riêng về “quy hoạch bảo vệ môi trường” và coi quy hoạch bảo vệ môitrường tại đô thị, khu dân cư là một bộ phận trong quy hoạch bảo vệ môi trường nóichung như bao bộ phận khác Trong chương VIII về “Bảo vệ môi trường đô thị, khudân cư” cũng không hề đề cập đến quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cưtrong khi đây là nội dung hết sức quan trọng và có ý nghĩa chiến lược trong hoạtđộng bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư
Thứ hai là về nội dung của quy hoạch bảo vệ môi trường
Trang 34Nội dung cơ bản trong quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia có đề cập đếncác yếu tố “Hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường; hệ thống quan trắc môitrường;”Liên quan đến nội dung quy hoạch bảo vệ môi trường tại đô thị, khu dân
cư, Luật quy hoạch đô thị 2015 cũng có một số nội dung bảo vệ môi trườngtrongquy hoạch hạ tầng kỹ thuật đô thị (quy hoạch cấp nước, thoát nước thải đô thị, quyhoạch xử lý chất thải rắn, quy hoạch nghĩa trang,…) Có thể thấy, quy hoạch đô thị
có mối liên hệ mật thiết với các vấn đề bảo vệ môi trường Các yếu tốmôi tường tựnhiên và môi trường nhân tạo được hình thành và luôn tồn tại trong suốt quá trìnhhình thành, hoạt động và phát triển của đô thị là:
- Môi trường đất được hình thành và phát triển trong quá trình quy hoạch và
sử dụng, khai thác đất đô thị phực vụ các hoạt động phát triển đô thị
- Môi tường không gian vật thể nước: sông, hồ, mặt nước trong đô thị cungcấp cho cuộc sốn và các hoạt động đô thị;
- Môi tường đô thị phát sinh do acacs hoạt động đô thị: Cấp nước, thoátnước, giao thông đô thị, cung cấp năng lượng đô thị, …
- Môi trường chất thải rắn đô thị từ các khu chức năng đô thị;
- Môi trường do hoạt động cảu ấc khu chức năng đô thị: Môi tường khucaaoong nghiệp, các khu ở, khu vui chơi, giải trí, … 33
Tuy nhiên hiện nay chưacó quy định cụ thể về việc phối hợp, lồng ghép cácnội dung trong quy hoạch bảo vệ môi trường với những nội dung, yêu cầu bảo vệmôi trường trong quy hoạch đô thị Đây cũng là hạn chế của Luật bảo vệ môi trường
2014 và Luật quy hoạch đô thị 2015
Thứ ba, về mối liên hệ giữa quy hoạchbảo vệ môi trường với các loại hình
quy hoạch khác.
Vấn đề quy hoạch bảo vệ môi trường và quy hoạch đô thị cũng được đề cậptrong Luật quy hoạch 2017 đã được thông qua vàsẽ có hiệu lực vào ngày 1/1/2019.Theo quy định của Luật này thì quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn thuộc vào hệthống quy hoạch quốc gia, trong khi quy hoạch bảo vệ môi trường thuộc quy hoạchngành quốc gia Luật quy hoạch 2017 chỉ quy định “Quy hoạch đô thị, quy hoạchnông thôn phải phù hợp với quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạchtỉnh”, mà không đề cập đến môi quan hệ giữa quy hoạch ngành quốc gia ( trong đó
33 Vũ Duyên Thủy(2017), tlđd 20, tr.71.
Trang 35có quy hoạch bảo vệ môi trường) với quy hoạch đô thị Điều này càng khiến choviệc lồng ghép các nội dung bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư trong quy hoạch
đô thị để hướng tới xây dựng quy hoạch môi trường đô thị trở nên khó khăn trongkhi đây là một trong những đòi hỏi quan trọng của hoạt động động bảo vệ môitrường đô thị, khu dân cư
Thứ tư, về một số bất cập trong quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường
2014 so với Luật quy hoạch 2017 sẽ có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2019
Luật quy hoạch 2017 được thông qua cũng khiến cho nhiều nội dung về quyhoạch bảo vệ môi trường của Luật bảo vệ môi trường 2014 trở nên thiếu thống nhấtvới Luật này và cần sớm có những sửa đổi, bổ sung nhằm đảm bảo sự thống nhấtcủa hệ thống pháp luật Tuy nhiên, Luật quy hoạch 2017 cũng chưa thực sự giảiquyết được cơ chế phối hợp giữa quy hoạch bảo vệ môi trường với các loại quyhoạch khác Chẳng hạn như chưa thể hiện mối quan hệ giữa quy hoạch bảo vệ môitrường là loại quy hoạch ngành với quy hoạch cấp tỉnh trong khi đó Luật bảo vệ môitrường 2014 đòi hỏi cấp tỉnh phải lập quy hoạch bảo vệ môi trường riêng hoặc lồngghép trong quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội đã cho thấy mối quan hệ chặt chẽgiữa quy hoạch ngành với quy hoạch của địa phương Do đó pháp luật cần có hướngdẫn cụ thể về vấn đề này trong thời gian tới
2.1.3 Nội dung pháp luật về bảo vệ môi trường đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh tại đô thị, khu dân cư.
2.1.3.1 Nội dung pháp luật về nghĩa vụđánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường của các chủ thể sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
“Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo tác động đến môitrường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai
dự án đó.” Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là một hoạt động đánh giá môitrường với mục đích cơ bản là đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển kinh tế, xã hội vớibảo vệ môi trường
Theo quy định của pháp luật hiện hành, trong trường hợp các cơ sở sản xuấtkinh doanh tại đô thị, khu dân cư thực hiện các dự án có tác động đến môi trường
Trang 36(các dự án thuộc danh mục dự án phải thực hiện ĐTMtại Phục lục II Nghị định18/2015/ NĐ- CP ) thì chủ dự án phải tự mình hoặc thuê tổ chức tư vấn thực hiệnĐTM và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thực hiện ĐTM Việc ĐTMphải thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị dự án Kết quả thực hiện ĐTM thể hiện dướihình thức báo cáo ĐTM Nội dung chính của báo cáo ĐTM được quy định tại Điều
22 Luật bảo vệ môi trường 2014 Trong quá trình thực hiện ĐTM, chủ dự án phảitiến hành tham vấn cơ quan, tổ chức, cộng đồng chịu tác động trực tiếp bởi dự án.Báo cáo ĐTM phải được thẩm định và phê duyệt bởi cơ quan nhà nước có thẩmquyền Trước khi dự án được đưa vào vận hành, chủ đầu tư dự án phải tổ chức thựchiện biện pháp bảo vệ môi trường theo quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM; phảibáo cáo cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM kết quả thực hiện các công trình bảo vệmôi trường phục vụ vận hành dự án đối với dự án lớn, có nguy cơ tác động xấu đếnmôi trường do Chính phủ quy định Những dự án này chỉ được vận hành sau khi cơquan phê duyệt báo cáo ĐTM kiểm tra, xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môitrường
Có thể thấy, hoạt động ĐTM có ý nghĩa hết sức quan trọng, qua đó giúpxem xét nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là cộng nghệ xử lý chất thải, giảm thiểutác động tiêu cức tới môi trường và giám sát môi trường Thông qua hoạt độngĐTM, nhiều phương án thực hiện dự án sẽ được xem xét các mặt lợi hại, từ đó giúplựa chọn được phương án phù hợp cả yêu cầu phát triển và bảo vệ môi trường Hoạtđộng ĐTM góp phần ràng buộc trách nhiệm pháp lí của các chủ dự án, các cơ sở đốivới các nghĩa vụ về bảo vệ môi trường trong báo cáo ĐTM đã được cơ quan nhànước có thẩm quyền phê duyệt Hoạt động giám sát sau dự án giúp các cơ quan cóthẩm quyền xem xét hoạt động của các cơ sở có vi phạm những gì mà họ đã cam kếttrong báo cáo ĐTM hay không, là cơ sở để xác định trách nhiệm pháp lý của cácchủdự án sau này.34
Tuy nhiên, những quy định về hoạt động ĐTM hiện nay còn một số điểmbất hợp lý Về vấn đề này, nhiều chuyên gia trong lĩnh vực bảo vệ môi trường chorằng, nội dung của báo cáo ĐTM hiện nay còn quá “ôm đồm” Vốn là bộ môn khoahọc chỉ có thể dự báo được các tác động của dự án đến môi trường tự nhiên, nayĐTM còn phải ôm thêm việc dự báo các tác động vốn không phải “sở trường” của
34 Trường Đại học Luật Hà Nội, tlđd 10,Tr.147- 149.
Trang 37nó, như: tác động đến xã hội (là nhiệm vụ của bộ môn khoa học khác gọi là Đánhgiá tác động xã hội - ĐTX), đến sức khỏe con người (là nhiệm vụ của bộ môn khácgọi làĐánh giá tác động sức khỏe – ĐTS)… Đã vậy, các nguồn lực cho ĐTM quákhiêm tốn (riêng về kinh phí chỉ bằng 1% đến 10% so với mức trung bình của quốctế) nên bất khả thi Hơn nữa với quy định vềĐTM hiện nay chỉ có một giai đoạn duynhất ( thực hiện ĐTM trong giai đoạn chuẩn bị dự án), trong khi về mặt khách quanĐTM đỏi hỏi nhiều giai đoạn khác nhau, từ sơ bộ đến các mức chi tiết hơn tùy theocác giai đoạn của dự án đầu tư Điều này khiến cho ĐTMmới chỉ thực hiện được ởmức sơ bộ và không đủ căn cứ cần thiết về môi trường để quyết định đầu tư cho phùhợp nhưng vẫn cứ phải quyết, từ đó nhiều người coi ĐTM chỉ là hình thức Mặc dùĐTM mới chỉ đạt được mức sơ bộ nhưng lại được quy định là căn cứ gần như duynhất để quản lý, kiểm soát môi trường trong suốt quá trình triển khai dự án và “cảđời” của một cơ sở sản xuất/kinh doanh/dịch vụ (sau dự án).35
Trường hợp các cơ sở sản xuất, kinh doanh tại đô thị, khu dân cư thực hiệncác dự án không thuộc đối tượng phải thực hiện ĐTM và các phương án sản xuất,kinh doanh, dịch vụ không thuộc đối tượng phải lập dự án đầu tư theo quy định củapháp luật vềđầu tư thì có nghĩa vụ lập kế hoạch bảo vệ môi trường (KBM) gửi cơquan có thẩm quyền xem xét, xác nhận trước khi triển khai dự án, phương án sảnxuất, kinh doanh, dịch vụ Sau khi kế hoạch bảo vệ môi trường được xác nhận, chủ
cơ sở sản xuất, kinh doanh phải có trách nhiệm tổ chức thực hiện các biện pháp bảo
vệ môi trường theo kế hoạch bảo vệ môi trường đã được xác nhận Luật mới đã thaycụm từ “Cam kếtbảo vệ môi trường” bằng từ “ Kế hoạchbảo vệ môi trường ” nhằmtạo điều kiện cho chủ dự án thực hiện trách nhiệm và chủ động trong bảo vệ môitrường, mặt khác sẽ thuận lợi cho công tác quản lý bảo vệ môi trường đối với các
dự án không phải lập báo cáoĐTM Tại Phụ lục IV Nghị định 18/2015/ NĐ- CP cóquy định những đối tượng không phải đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường nhằmhạn chế những phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ít gây tác động đến môitrường mà vẫn phải lập kế hoạch bảo vệ môi trường gây lãng phí, phiền hà cho xãhội.36
35 http://www.nhandan.com.vn/cuoituan/item/30646302-bat-cap-trong-danh-gia-tac-dong-moi-truong.html
36 http://moitruong.com.vn/quy-dinh-phap-luat/quy-dinh-ve-quy-hoach-bao-ve-moi-truong-14473.htm
Trang 382.1.3.2 Nội dung pháp luật về nghĩa vụ quản lý chất thải của các cơ sở sản xuất kinh doanh
Dân số ngày càng đông, các hoạt động sản xuật kinh doanh ngày càng được
mở rộng khiến cho vấn đề quản lý chất thải tại các đô thị, khu dân cư ngày càng trởnên cấp bách Luật bảo vệ môi trường 2014 đã quy định về nghĩa vụ quản lý chấtthải của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Theo đó, chủ cơ sở sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ làm phát sinh chất thải có trách hiệm giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế
và thu hồi năng lượng từ chất thải hoặc chuyển giao cho cơ sở có chức năng phùhợp để tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng Chủ cơ sở sản xuât, kinh doanh,dịch vụ phải thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ
- Đối với chất thải rắn, pháp luật môi trường quy định cơ sở sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ phải thực hiện việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn côngnghiệp thông thường, chất thải rắn y tế phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh,dịch vụ theo quy định của pháp luật về quản lý chất thải rắn37 Nghị định 38/2015 /NĐ- CPngày 24 tháng 04 năm 2015 về quản lý chất thải, phế liệu đã quy định khá
rõ ràng các nghĩa vụ của chủ nguồn thải (trong đó có các cớ sở sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ, ) tương ứng với mỗi loại chất thải rắn Trong đó, đặc biệt nhấnmạnh nghĩa vụ phân loại chất thải rắn thông thường tại nguồn để thuận lợi cho việctái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng và xử lý.38 Đây là cũng là nghĩa vụ mà thực
tế thực hiện còn rất nhiều tồn tại
- Đối với nước thải không nguy hại, pháp luật môi trường hiện hành có quyđịnh tương đối chặt chẽ về xử lý nước thải Theo đó, nước thải của cơ sở sản xuất,kinh doanh, dịch vụ phải được thu gom, xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường39.Các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải đã được ban hành tương đối đầy
đủ.40Việc thu gom, xử lý nước thải của các cơ sở sản xuất kinh doanh có thể đượcthực hiện dưới ba hình thức: Tự xử lý tại hệ thống xử lý nước thải của cơ sở; đấunối để đưa nước thải vào xử lý tại hệ thống xử lý nước thải tập trung của khu công
37 Xem: Khoản 1 Điều 19 Thông tư 31/2016/ TT- BTNMT ngày 14 tháng 10 năm 2016 về bảo vệ môi trường cụng công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung, làng nghề và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
38 Xem: Điều 95 Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 06 năm 2014.
39 Xem : Điều 100 Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 06 năm 2014.
40 Đó là các quy chuẩn như: QCVN 11:2008/BTNMT – QCKT quốc gia về nước thải công nghiệp chế biến thuỷ sản;QCVN 12:2008/BTNMT – QCKT quốc gia về nước thải công nghiệp dệt may;QCVN
13:2008/BTNMT – QCKT quốc gia về nước thải công nghiệp giấy và bột giấy;QCVN 14:2008/BTNMT – QCKT quốc gia về nước sinh hoạt;
Trang 39nghiệp, làng nghề hoặc là chuyển giao cho cơ sở có chức năng phù hợp để xử lý Dùtheo hình thức nào cũng phải đáp ứng các quy chuẩn kỹ thuật về nước thải đã đượcban hành.41Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nằm ngoài khu công nghiệp cóquy mô xả nước thải từ 1.000 m3/ngày đêm trở lên (không bao gồm nước làm mát),phải lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động liên tục và truyền số liệu trực tiếpcho Sở Tài nguyên và Môi trường địa phương.42 Ngoài ra, pháp luật còn yêu cầu cơ
sở sản xuất kinh doanh có hệ thống xử lý nước thải và lưu lượng nước thải từ 30m3/ngày đêm trở lênphải có nhật ký vận hành hệ thống xử lý nước thải được ghichép đầy đủ, lưu giữ tối thiểu 02 năm Các chế tài xử phạt hành chính đối với hành
vi vi phạm các quy định về xả nước thải có chứa các thông số môi trường nguy hạivào môi trường đã được ban hành trong Nghị định số 155/2016về xử phạt vi phạmhành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.43
Mặc dù đã tương đối đầy đủ và chặt chẽ, nhưng thực tế hiện tượng xảnướcthải chưa qua xử lý được xả thải trực tiếp ra môi trường vẫn diễn ra phổ biến.Không thể phủ nhận nguyên nhân từ những yếu kém trong công tác thi hành nhưng
có lẽ vẫn còn những hạn chế nhất định trong quy định pháp luật về quản lý nướcthải của các cơ sở sản xuất, kinh doanh Qua các quy định của pháp luật môi trườnghiện nay, nhất là quy định tại Thông tư 31/2016/ TT-BTNMT về bảo vệ môitrườngcụm công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập chung, làng nghềvà cơ sở sảnxuất, kinh doanh, dịch vụcho thấy yêu cầu quản lý chất thải tại các cơ sở sản xuất,kinh doanh, dịch vụ vừa và nhỏ chưa được quan tâm đúng mực Theo Thông tưnàythì tần suất quan trắc nước thải định kỳ đối với các cơ sở sản xuật, kinh doanh,dịch vụ có quy mô nhỏ chỉ là 1 lần/ 1 năm44, với tần suất này khó mà nắm được thực
tế công tác xử lý nước thải ở các cơ sở này Thêm vào đó, yêu cầu về nhật ký vậnhành hệ thống xử lý nước thải chỉ áp dụng đối vớicơ sở sản xuất kinh doanh có hệthống xử lý nước thải và lưu lượng nước thải từ 30 m3/ngày, đêm trở lên
- Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định về trách nhiệm kiểm soát bụi, khíthải, tiếng ồn, độ rung của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Tổ chức, cá
41 Khoản 3 Điều 37 Nghị định 38/2015/NĐ- CP ngày 24 tháng 04 năm 2015 về quản lý chất thải, phế liệu.
42 Điều 39Nghị định 38/ 2015/ NĐ- CP ngày 24 tháng 04 năm 2015 về quản lý chất thải, phế liệu.
43 Điều 14 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18 tháng 11 năm 2016 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
44 Phụ lục 10 ban hành kèm theo Thông tư 31/2016/TT- BTNMT ngày 14 tháng 10 năm 2016 về bảo vệ môi trường cụng công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung, làng nghề và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Trang 40nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có phát tán bụi, khí thải phải kiểmsoát và xử lý bụi, khí thải bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường Ngoài ra, đối với
cơ sở phát sinh khí thải có loại hình, quy mô tương đương đối tượng phải lập báocáo ĐTM hay có phát sinh khí thải công nghiệp thuộc danh mục các nguồn khí thảilưu lượng lớn thì còn phải có nhật ký vận hành hệ thống xử lý khí thải, hệ thốngquan trắc khí thải tự động.45Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong khu dân cưgây tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ phải thực hiện biện pháp giảm thiểu, khônglàm ảnh hưởng đến cộng đồng dân cư Cụ thể là phải đầu tư, lắp đặt hệ thống giảmthiểu tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường vàcác quy định khác có liên quan
- Đối với cơ sở phát sinh chất thải nguy hại thì phải thực hiện các nghĩa vụtheo quy định chặt chẽ của pháp luật Theo đó, chủ nguồn thải phải thực hiện cácnghĩa vụ như: lập hồ sơ về chất thải nguy hại và làm các thủ tục đăng ký chủ nguồnthải chất thải nguy hại với cơ quan quản lý nhà nước về môi trường cấp tỉnh;có biệnpháp giảm thiểu phát sinh chất thải nguy hại; tự chịu trách nhiệm về việc phân định,phân loại, xác định số lượng chất thải nguy hại phải báo cáo và quản lý; có khu vựclưu giữ tạm thời chất thải nguy hại; lưu giữ chất thải nguy hại trong các bao bì hoặcthiết bị lưu chứa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và quy trình quản lý theo quy định; định
kỳ 06 tháng báo cáo về việc lưu giữ chất thải nguy hại tại cơ sở phát sinh với Sở Tàinguyên và Môi trường bằng văn bản riêng hoặc kết hợp trong báo cáo quản lý chấtthải nguy hại định kỳ Trường hợp không tự tái sử dụng, tái chế, đồng xử lý, xử lý,thu hồi năng lượng từ chất thải nguy hại tại cơ sở, chủ nguồn thải chất thải nguy hạiphải ký hợp đồng để chuyển giao chất thải nguy hại với tổ chức, cá nhân có giấyphép phù hợp
Có thể thấy các quy định của Luật bảo vệ môi trường 2014 về trách nhiệmquản lý chất thải của các cơ sở sản xuất, kinh doanh tại đô thị, khu dân cư khá toàndiện và đầy đủ Các chế tài hành chính, hình sự cũng đã được quy định đối với cáchành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải Tuy nhiên, pháp luật chủ yếu quyđịnh trách nhiệm cho các chủ thể mà thiếu những quy định về cơ chế khuyến khích
45 Xem: Điều 19 Thông tư 31/2016/TT- BTNMTngày 14 tháng 10 năm 2016 về bảo vệ môi trường cụng công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung, làng nghề và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.