1. Trang chủ
  2. » Vật lý

Tài liệu ôn tập môn Ngữ văn 10 - Học kì II (1-4-2020)

14 36 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 31,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tâm trạng quá cô đơn đã làm cho nàng phải thốt lên câu hỏi: Liệu ngọn đèn dầu mờ ảo ấy có thấu chăng nỗi lòng của nàng, có chiếu sáng được đến tâm can đang mong nhớ chồng của nàng, Liệ[r]

Trang 1

Trường THPT Nguyễn Khuyến

Tổ Văn

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KÌ II Môn: Ngữ Văn – Khối 10

I.Đọc- hiểu:

1 Nhận biết các phương thức biểu đạt: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận

2 Nhận biết các phong cách ngôn ngữ: phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.

3 Sửa lỗi sai cho câu văn (lỗi ngữ âm và chữ viết, lỗi dùng từ, lỗi ngữ pháp, lỗi phong cách ngôn ngữ)

4 Nhận biết và phân tích tác dụng của các biện pháp nghệ thuật (ẩn dụ, hoán dụ, điệp, đối).

II Làm văn: (văn nghị luận):

1 “Phú sông Bạch Đằng” – Trương Hán Siêu

2 Tác phẩm “Đại cáo bình Ngô” – Nguyễn Trãi

3 “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” (Trích “Truyền kì mạn lục”- Nguyễn Dữ).

4 “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” (Trích “Chinh phụ ngâm”- Nguyên tác Đặng

Trần Côn; dịch Nôm: Đoàn Thị Điểm) (Khuyến khích tự học)

5 “Trao duyên” ( trích “Truyện Kiều”- Nguyễn Du)

6 “Chí khí anh hùng” ( trích “Truyện Kiều”- Nguyễn Du)

III Tài liệu tham khảo:

1 “Phú sông Bạch Đằng” – Trương Hán Siêu

Đề: Cảm nhận của em về bài Phú sông Bạch Đằng

Truơng Hán Siêu tên thật là Thăng Phủ, quê ở làng Phúc Am, phủ Yên Khánh, nay thuộc Phúc Thành, xã Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Ông làm quan trong suốt bốn đời vua Trần Vì tính tình ông cuơng trực và học vấn uyên thâm nên đuợc các vua thời Trần rất tin cậy và kính trọng Vào thời kì nhà Trần suy yếu, các vua hậu Trần chỉ lo ăn chơi, huởng thụ mà quên trách nhiệm trấn hung đất nuớc Trong dịp du ngoạn sông Bạch Đằng, một nhánh sông Kinh Thầy nơi quân

ta hai lần đánh tan quân xâm lược Mông-Nguyên, Truơng Hán Siêu nhớ đến các bậc anh hùng xưa, vừa tự hào vừa viết nên bài phú sông Bạch Đằng Ở thời trung đại, bài phú này đuợc đánh giá là hay bậc nhất Chưa có thông tin chính xác Trương Hán Siêu viết “Bạch Đằng giang phú”vào năm nào, nhưng qua giọng văn “Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá-Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”, ta có thể nhận định được, bài phú này ra đời sau khi Trần Quốc Tuấn đã mất

Mở đầu bài phú là ba chữ “Khách có kẻ”, nhân vật khách xuất hiện nơi nhánh sông này, chính

là Truơng Hán Siêu, đây là nhân vật trữ tình Mặc dù ông là nguời cuơng trực, học vấn uyên thâm nhưng con nguời ông phóng khóang và cũng luôn hết mình vì thiên nhiên Từ khách mang cái thú vui thưởng ngoạn, ngao du trên thuyền ngắm nhìn, thăm thú những cảnh đẹp hòa cùng đất trời Biết bao vùng miền lữ khách đã đặt chân đến Sự phóng khoáng ấy còn đuợc thể

hiện rõ hơn trong câu thơ “Giương buồm giong gió chơi vơi”, khách là một tao nhân khoáng

đạt chơi vơi với cánh buồm, làm bạn với gió trăng qua mọi miền sông nuớc, sống hết mình với

thiên nhiên Vị khách này là nguời đã đi nhiều nơi, đến nhiều chỗ, nhưng những hình ảnh ở đây chỉ mang tính tuợng trưng để làm nổi bật lên cá tính, làm nổi bật lên con nguời yêu thiên nhiên, yêu đất nuớc lấy việc du ngoạn làm thú vui ở đời, tự hào về thói giang hồ của

mình Đêm thì mải miết chơi với ánh trắng kia, ngày sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương; chiều thăm chừ Vũ Huyệt “Nơi có nguời ở- Đâu mà chẳng biết” chứng tỏ một điều rằng ông là nguời đi nhiều nơi, biết nhiều chỗ, nhưng ở đây chỉ là hình ảnh tuợng trưng nói lên tâm hồn

Trang 2

nguời thi sĩ, một cá tính, yêu thiên nhiên thiết tha, lấy việc đi du ngoạn bốn phuơng là niềm vui thú Các địa danh: Nguyên Tuơng, Ngũ Hồ… đều trên đất Trung Hoa không chỉ đẹp, mà gợi ra một không gian bao la, rộng lớn, chỉ những nguời có tâm hồn phóng khoáng, trí nơi bốn

phuơng Hòa cùng với tâm hồn nguời thi sĩ hình ảnh “bờ lau san sát- bến lách đìu hiu- Sông chìm giáo gãy- Gò đầy xương khô”, sông Bạch Đằng để lại rất nhiều những dấu tích lịch sử

Đó là những dấu mốc oai hùng của lịch sử chống giặc ngoại xâm mang niềm tự hào hào khí của dân tộc, Trương Hán Siêu bày tỏ nỗi tiếc thương những anh hùng đã hi sinh vì đất nước Tâm trạng buồn, thương tiếc, cảm xúc đứng lặng giờ lâu của khách biểu lộ niềm xúc động, lòng tiếc thương và biết ơn vô hạn đối với anh hùng liệt sĩ đã hi sinh xương máu bảo vệ dòng sông cùng sự tồn vong của dân tộ, đây cũng chính tình nghĩa thuỷ chung “uống nước nhớ nguồn” đuợc thể hiện qua câu thơ:

Buồn vì cảnh thảm

Đứng lặng giờ lâu

Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá

Tiếc thay dấu vết luống còn lưu

Thuyền bè muôn đội, tinh kì phấp phới,

Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói,

Trận đánh được thua chửa phân,

Chiến lũy bắc nam chống đối

Không những vậy, những năm tháng một thời oanh liệt theo cứ lớp sau xô lớp trước mà trở về Các trận đánh tái hiện từ thời Ngô Quyền đến thời Trần Hưng Đạo Điều này cho thấy thời đó dân tộc ta phải đương đầu với quân xâm lược phương Bắc và vận nước luôn trong tình trạng lâm nguy, ngàn cân treo sợi tóc Nghe các bậc tiền bối kể lại diễn biến từng trận đánh Ban đầu, quân ta và quân địch đều tập trung binh lực hùng hậu cho một trận đánh quyết tử Đây là

sự đối đầu không riêng về lực lượng mà còn là đối đầu về ý chí : quân ta với lòng yêu nước và sức mạnh chính nghĩa, quân địch thế cường bạo với bao mưu mô xảo quyệt Chính vì vậy mà trận chiến diễn ra ác liệt: “Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ- bầu trời đất chừ sắp đổi”

Nhà thơ từ miêu tả, tự sự rồi suy ngẫm về sự vinh phục, về sự thắng bại trong lịch sử ta Tổ quốc bền vững là nhờ hai nhân tố quan trọng: đất hiểm và nhân tài Tác giả đã nêu lên bài học lịch sử vô giá Bạch Đằng, Chi Lăng… là đất hiểm Ngô Quyền, Lê Lợi, Quang Trung…đều là nhân tài Điện an là sự nghiệp bảo vệ nền độc lập, hoà bình, yên vui cho đất nước Tác giả sử dụng lối so sánh, nhắc đến vai trò to lớn của lã Vọng, Hàn Tín để lại võ công lừng lẫy, tác giả ngợi ca Hưng đạo Vương vĩ đại thuở bình Nguyên oanh liệt Đoạn văn miêu tả dòng sông, kể lại trận thuỷ chiến là đặc sắc nhất, màu sắc tráng lệ, hình ảnh kì vĩ Phép đối được vận dụng rất tài tình biểu lộ niềm tự hào dân tộc – sức mạnh nhân nghĩa Việt Nam Tác giả đã bày tỏ quan niệm về đất hiểm và nhân tài, về cái vinh và cái nhục, cái tiêu vong và cái vĩnh hằng Tư tưởng cao đẹp ấy được diễn tả thật tráng lệ nên thơ tạo nên vẻ đẹp văn chương trong Bạch Đằng giang phú Kết thúc bài phú, tác giả đã ca ngợi hai vị vua Trần, Sông Bạch Đằng hùng vĩ một dải dài, mồ chôn lũ xâm lăng Máu giặc như nhuộm đỏ cả dòng sông Một cách nói hào hùng, giặc bất nghĩa nhất định sẽ bị tiêu vong:

Anh minh hai vị thánh quân,

Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh

Hai vị “Thánh quân” được nhắc đến là Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông, hai vị vua này đã lãnh đạo cuộc kháng chiến lần thứ 2- thứ 3 đánh thắng giặc Nguyên – Mông Họ là hai

vị vua yêu nước thương dân, họ đã khơi dậy sự đoàn kết, sức mạnh dân tộc lòng yêu nuớc đem lại bài học giữ nước cho muôn đời

Trang 3

Phú sông Bạch Đằng là đỉnh cao nghệ thuật thể phú trong văn học Việt Nam thời trung đại: với ngôn từ đẹp, dễ đọc, bố cục chặt chẽ, câu từ linh họat mang đậm tính triết lý Chất trữ tình sâu lắng cùng với giọng điệu hùng ca, không khí trang trọng, tài hoa trong miêu tả, hùng hồn trong

tự sự, rung động cùng cảm xúc, sáng suốt khi bình luận là những thành công của Trương Hán Siêu Từ đó, tác giả bày tỏ niềm tự hào dân tộc, đây cũng là lời nhắc nhở những thế hệ mai sau tiếp nối truyền thống cha anh để lại

2.ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ_Nguyễn Trãi

Đề: Phân tích tư tương nhân nghĩa thể hiện qua đoạn 1 trong bài “ĐCBN“ của Nguyễn Trãi: -Mở bài:

Nguyễn Trãi là một nhà thơ, nhà văn kiệt xuất của dân tộc, là danh nhân văn hóa thế giới, một người anh hùng với lí tưởng nhân nghĩa, yêu nước, thương dân Ông để lại cho đời sau nhiều tác phẩm có giá trị lớn: Quân trung từ mệnh tập, Ức trai thi tập, BNĐC BNĐC là tác phẩm tiêu biểu nhất của Nguyễn Trãi Đây là bài cáo được Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi Viết để tuyên bố rộng rãi với nhân dân về quá trình kháng chiến thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam sơn Ngay ở phần đầu tiên của bài cáo Nguyễn Trãi đã nêu lên triết lí nhân nghĩa của ông

như một niềm tự hào về đất nước:

“ Từng nghe:

Chứng cớ còn ghi“

-Thân bài:

Ở phần đầu bài cáo, tác giả đã nêu cao luận đề chính nghĩa của dân tộc, tạo cơ sở pháp

lí vững chắc cho bản tuyên ngôn

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.

“Nhân nghĩa“ là một nội dung của Nho Giáo nói về sự thương yêu, giúp đỡ giữa con người với nhau Tuy nhiên đối với Nguyễn Trãi, “nhân nghĩa“ đã được nâng lên một bậc

“Nhân nghĩa“ đối với ông là “việc“, là hành động cụ thể gắn với mục đích "yên dân" và "trừ bạo“ mang nội dung yêu nước, thương dân Nó đã được chứng minh bằng sự tồn tại của nước Đại Việt như một chân lí lịch sử

Đất nước Việt Nam có truyền thống nhân nghĩa, con người Việt Nam nhân đạo Đó là nội dung mà Nguyễn Trãi muốn đề cập trong phần một bài cáo, Nguyễn Trãi đã cất cao giọng nêu tên đất nước

“Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,“

Ta nhận thấy ở đây một giọng điệu sảng khoái, phấn khởi Chắc có lẽ khi viết hai dòng

văn này, mọi tình cảm yêu nước của ông đều họp lại tại trái tim để rồi từ đó, ông bật ra“Như nước Đại Việt ta từ trước“

Nước Đại Việt đã có “từ trước“, vì thế mà hình thành một“ nền văn hiến“ lâu đời Văn hóa Đại Việt dù ít nhiều có ảnh hưởng của văn hóa phương Bắc nhưng nó vẫn đậm đà bản sắc dân tộc

Nếu Lý Thường Kiệt đó từng nói: Sông núi bờ cõi nước Nam đã được định phận tại sách trời thì Nguyễn Trãi lại nêu lên một nội dung khái quát hơn

“Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác”.

Đất Nam, đất Bắc đó có ranh giới rõ ràng Có thể do trời chia cũng có thể do người chia Nhưng ta có thể hiểu rằng, trải qua hơn 1000 năm đấu tranh gian khổ, cha ông ta mới

Trang 4

dựng nên đất nước Giang sơn đã được chia thì phong tục, tập quán cũng có nhiều khác lạ Nhưng có một điều giống nhau là cả hai nước đều tồn tại song song những triều đại

“Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần; bao đời xây nền độc lập;

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên; mỗi bên xưng đế một phương”;

Đây là hai dòng văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Nguyễn Trãi đã khẳng định đất nước

ta có chủ quyền như một lời xỉ vả vào mặt quân thù Tuy lúc yếu, lúc mạnh nhưng “hào kiệt” không thiếu, nào là Đinh Bộ Lĩnh, Lý Thường Kiệt, Ngô Quyền…

Có đủ tất cả các yếu tố của một quốc gia độc lập tự chủ: tên nước, văn hiến, lãnh thổ, phong tục, con người và đặc biệt là “nền độc lập” đã được xây dựng từ bao đời Những lời văn mạnh mẽ, dứt khoát, có ý khẳng định chắc chắn, Nguyễn Trãi đã khẳng định một cách hùng hồn chủ quyền dân tộc Nguyễn Trãi nêu bật lịch sử các triều đại bằng phép liệt kê, song hành,

đó khẳng định lịch sử dài lâu của đất nước, đồng thời khẳng định tư thế độc lập của Đại Việt với các triều đại phong kiến phương Bắc Nam cũng như khẳng định về hậu quả thất bại tất yếu của kẻ thù khi chúng xâm phạm đến độc lập chủ quyền của dân tộc ta

“Vậy nên:

Lưu Cung tham công nên thất bại;

Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong;

Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã”

Nguyễn Trãi đã cho ta thấy những chiến công oanh liệt của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, giữ gìn tự do của Tổ quốc Cách nêu dẫn chứng rõ ràng cụ thể bằng những lời lẽ chắc chắn, hào hứng, thể hiện niềm tự hào dân tộc

Nói về nước Đại Việt ta, cảm hứng của tác giả tràn đầy niềm tự hào dân tộc Câu văn biền ngẫu sóng đôi, cân xứng tạo nên giọng điệu trang nghiêm, khẳng định khi nói về quốc gia độc lập, tự chủ và đặc biệt nghệ thuật so sánh lại càng tôn cao và khẳng định thêm điều đó

-Kết bài:

Có thể nói Nguyễn Trãi đã tổng kết tư tưởng nhân nghĩa của nhân dân ta thành một truyền thống, một nguyên lí cao đẹp bằng những lí luận và dẫn chứng đanh thép cùng những hình tượng nghệ thuật giàu sức gợi tả Lý tưởng nhân nghĩa ấy sẽ còn mãi trường tồn cùng sự vững bền vĩnh cửu của dân tộc, đất nước

3 CHUYỆN CHỨC PHÁN SỰ ĐỀN TẢN VIÊN_Nguyễn Dữ

Đề: Phân tích nhân vật Ngô Tử Văn trong “Chuyện chức phán sự đền tản viên” của Nguyễn

Dữ

-Mở bài:

“Chuyện chức phán sự ở đền Tàn Viên” của Nguyễn Dữ là một trong những chuyện hay, tiêu biểu của “Truyền kỳ mạn lục” Câu chuyện đã phê phán hiện thực xã hội và đề cao phẩm chất kẻ sĩ, đồng thời phản ánh khá rõ tinh thần dân tộc của tác giả, mà nhân vật chính là Ngô Tử Văn một con người tính tình khảng khái, trung trực

-Thân bài:

Mở đầu câu truyện tác giả đã giới thiệu trực tiếp ngắn gọn về tên họ, quê quán, tính tình, phẩm chất Ngô Tử Văn được giới thiệu là người tính tình cương trực, thẳng thắn, khảng khái, nóng nảy, thấy sự gian tà thì không thể chịu được Lời giới thiệu mang giọng ngợi khen,

có tác dụng định hướng cho người đọc về hành động kiên quyết của nhân vật này Minh chứng

rõ ràng cho tính cách cứng cỏi của Ngô Tử Văn là hành động đốt đền tà của chàng Trong khi mọi người đều lắc đầu, lè lưỡi, không dám làm gì quỷ thần ở ngôi đền gần làng quấy hại nhân dân thì Tử Văn cương quyết, công khai, đường hoàng, ung dung, tắm rửa sạch sẽ, khấn trời rồi châm lửa đốt hủy ngôi đền Hành động đó xuất phát từ ư muốn diệt trừ yêu ma, trừ hại cho dân, từ lòng tự tin vào chính nghĩa của Ngô Tử Văn, chứng tỏ cốt cách khảng khái của kẻ sĩ

Trang 5

Sự cương trực, khảng khái của Ngô Tử Văn cũn bộc lộ rõ qua thái độ của chàng với hồn

ma tên tướng giặc Tướng giặc khi sống là kẻ xâm lược nước ta, tàn hại dân ta, khi chết rồi vẫn quen thói ỷ mạnh hiếp yếu, cướp nơi trú ngụ của thổ thần nước Việt, lại còn gian trá bày trò đút lót rồi tác yêu tác quái với nhân dân trong vùng Hắn bị Tử Văn đốt đền là đáng đời nhưng lại hiện hình, xảo quyệt làm như mình là kẻ bị hại, dựng tà pháp khiến cho chàng bị sốt nóng sốt rét, đầu lảo đảo Hồn ma tướng giặc buông lời mắng mỏ, đe dọa, quyết kiện Tử Văn xuống tận Diêm Vương Trước sự ngang ngược trắng trợn, quyền phép đáng sợ của hồn ma tướng giặc, Ngô Tử Văn vẫn điềm nhiên, không hề run sợ mà tự tin, không coi những lới đe dọa ra

gì, thậm chí chẳng thèm tiếp lời hồn ma tướng giặc Thái độ ấy thể hiện một khí phách cứng cỏi, một niềm tin mạnh mẽ vào chính nghĩa, sự đúng đắn trong hành động của Ngô Tử Văn Mặt khác, bản lĩnh của chàng còn thể hiện qua thái độ biết ơn lời chỉ dẫn của thổ thần nước Việt Do Tử Văn dũng cảm, trừ hại cho dân nên thần linh mới phù trợ giúp đỡ chàng

Tính cách kiên định chính nghĩa của Ngô Soạn còn thể hiện rõ trong quá trình chàng bị lôi xuống địa phủ Cảnh địa phủ rùng rợn với quỷ sứ hung ác, con sông đầy gió tanh sóng xám

Tử Văn bị bọn quỷ sai lôi đi rất nhanh, bị phán xét lạnh lùng là kẻ “tội sâu ác nặng, không được liệt vào hàng khoan giảm”, bị kết thêm tội ngoan cố bướng bỉnh nhưng chàng chẳng hề run sợ, không hề nhụt chí, một mực kêu oan, đòi phải được phán xét công khai, minh bạch Khi đối diện trước Diêm vương uy nghiêm, Tử Văn đấu tranh vạch tội tên tướng giặc bằng những lí lẽ cứng cỏi, bằng chững không thể chối cãi, giọng điệu rất đanh thép vững vàng Chàng đó bảo vệ lẽ phải mà bất chấp tính mạng của mình, không chịu khuất phục trước uy quyền, kiên quyết đấu tranh cho công lí và lẽ phải đến cùng Kết quả, chàng đã chiến thắng hồn ma gian tà của tên tướng giặc, bảo toàn được sự sống của mình, được tiến cử vào chức phán sự đền Tản Viên, chịu trách nhiệm giữ gìn bảo vệ công lí Chiến thắng ấy của Ngô Tử Văn có ý nghĩa vô cùng to lớn, đã trừng trị đích đáng hồn ma tướng giặc xảo trá, làm sáng tỏ nỗi oan khuấ, phục hồi chức vị cho thổ thần nước Việt, giải trừ tai họa cho nhân dân

-Kết bài:

Qua cuộc đấu tranh không khoan nhượng, chống lại cái ác, Ngô Tử Văn đã nổi bật lên

là người chính trực, khảng khái, dũng cảm bảo vệ công lí đến cùng, là một kẻ sĩ cứng cỏi của nước Việt Từ đó, tác giả Nguyễn Dữ đã khẳng định niềm tin chính nghĩa nhất định thắng gian

tà, thể hiện tinh thần tự tôn dân tộc, bộc lộ quyết tâm đấu tranh triệt để với cái xấu cái ác

Truyện thông qua cuộc đấu tranh của Ngô Tử Văn còn ngầm phản ánh thế giới thực của con người với đầy rẫy sự việc xấu xa như nạn ăn của đút, tham quan dung túng che dấu cho cái

ác hoành hành, công lí bị che mắt

4 TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ_Đặng Trần Côn

Đề1: Phân tích đoạn thơ sau:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.

Ngoài rèm thước chẳng mách tin Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?

Đèn có biết dường bằng chẳng biết, Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

Buồn rầu nói chẳng nên lời, Hoa đèn kia với bong người khá thương.”

(Trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”- Chinh phụ ngâm – Bản diễn nôm của Đoàn

Thị Điểm)

-Mở bài:

Trang 6

Đặng Trần Côn là nhà thơ lớn của dân tộc, sống vào nửa đầu thế kỉ XVIII Ông để lại cho đời sau nhiều nhiều tác phẩm có giá trị, một trong số ấy có “ Chinh phụ ngâm” Tác phẩm

“ Chinh phụ ngâm” thuộc thể loại ngâm khúc, có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc Đoạn trích “ TCLLCNCP” được trích trong tác phẩm đã thể hiện nỗi nhớ mong người chồng chinh chiến cùng với khát khao hạnh phúc của người chinh phụ Đặc biệt qua tám câu thơ đầu của đoạn trích, người đọc dễ dàng cảm nhận được tình cảnh trống vắng và tâm trạng của nhân vật trữ tình

-Thân bài:

Mở đầu đoạn trích, tác giả đã miêu tả tâm trạng của người chinh phụ, thông qua những hành động:

“ Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”

Tác giả sử dụng bút pháp miêu tả nội tâm qua ngoại hình, hành động lặp đi lặp lại không mục đích của người chinh phụ và dáng vẻ buồn rầu, ủ ê không nói lên lời, trong hiên vắng thẫn thờ đợi chồng về Thời gian đã là chiều tối, không gian là một khoảng hiên vắng

lặng cùng với cử chỉ “gieo từng bước” như khắc họa rõ nét cảm giác cô đơn, quạnh vắng của

người chinh phụ Với một khung cảnh như vậy, gợi cho ta sự sum họp, đầm ấm của gia đình, nhưng giờ đây chỉ có mình người phụ nữ lẻ loi, cô độc trong khoảng không trống vắng, không

có người chồng bên cạnh Cảm giác trống trải bủa vây người chinh phụ làm cho nàng gieo từng bước chân một cách mệt mỏi và chậm rãi Mỗi bước chân như chất chứa nỗi lòng, nỗi ưu

tư phiền muộn của người phụ nữ xa chồng, đang mong ngóng từng ngày chồng trở về Người phụ nữ như quặn thắt trong lòng khi chỉ nghe được tiếng bước chân âm thầm của mình

“ Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen”

Hành động buông rèm rồi cuốn lên nhiều lần đó là hành động lặp đi, lặp lại không có mục đích rõ ràng, thề hiện một tâm trạng tù túng, nóng ruột Cảm giác vừa nhớ nhung da diết, vừa lo lắng sốt ruột cho sự an nguy của chồng mình đang đi chinh chiến phương xa Nỗi nhớ cùng với tâm trạng mong ngóng đợi tin của chồng dồn nén ở người chinh phụ, tạo ra một cảm giác cô đơn buồn khổ ở nhân vật trữ tình Chẳng những thế, càng mong ngóng chờ đợi thì kết quả lại chẳng được gì

“ Ngoài rèm thước chẳng mách tin”

“ Thước” là loài chim báo tin lành, báo tin người đi xa đã trở về Thế mà ngay lúc này, con chim Thước lại im bặt, làm cho nỗi nhớ, nỗi khắc khoải mong chờ trong lòng người chinh phụ lại tăng lên gấp bội Chim thước chẳng mách tin, người chông yêu thương vẫn chưa trở về, nỗi đau đớn âm thầm nhưng quá lớn ấy khiến nàng khao khát có sự đồng cảm Nhưng trong khung cảnh đau buồn này thì chỉ có ngọn đèn leo lét làm bạn với nàng

“ Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?”

Tâm trạng quá cô đơn đã làm cho nàng phải thốt lên câu hỏi: Liệu ngọn đèn dầu mờ ảo

ấy có thấu chăng nỗi lòng của nàng, có chiếu sáng được đến tâm can đang mong nhớ chồng của nàng, Liệu ngọn đèn có thấu hiểu được sức nặng của nỗi cô đơn, của sự nhung nhớ lại dồn

cả lên nàng Câu hỏi tu từ như là tâm trạng của người chinh phụ, câu hỏi nhưng không có câu trả lời, nhân vật trữ tình hỏi ngọn đèn-một vật vô tri vô giác- nhưng dường như đang muốn được bày tỏ nỗi lòng của mình Đó chính là lời than thở, hi vọng trong nàng, nỗi khắc khoải đợi chờ đã trở nên day dứt không yên

“ Đèn có biết dường bằng chẳng biết Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”

Điệp ngữ bắc cầu “ Đèn biết chăng - đèn có biết” diễn tả nỗi tù tùng, nỗi buồn dài lê thê của người chinh phụ Hình ảnh “ đèn” đã được lặp lại hai lần Nhân vật trữ tình đã giải tỏa tâm

sự với ngọn đèn, nhưng một vật vô tri vô giác như vậy thì làm sao hiều rõ được cảm giác của người chinh phụ Nhân vật trữ tình lại ôm nỗi cô đơn, buồn bã một mình Nhìn ngọn đèn leo lét trong màn đêm tĩnh mịch như vậy, lòng người chinh phụ càng thêm quặn thắt Ngọn đèn là

Trang 7

hình ảnh gợi cảm giác sum họp, ấm áp, càng khắc sâu nỗi cô đơn, buồn bã, khắc khoải trong lòng người

“ Buồn rầu nói chẳng nên lời, Hoa đèn kia với bóng người khá thương”

Kết thúc tám câu thơ là hình ảnh “ hoa đèn” “ Hoa đèn” là đầu bấc đèn dầu đã cháy như than nhưng được nung đỏ lên trông như hoa Hình ảnh “ngọn đèn, hoa đèn”, gợi cho ta liên tưởng đến hình ảnh đèn không tắt trong bài ca dao

“ Đèn thương nhớ ai

Mà đèn không tắt?”

Trong im lặng dằng dặc, dưới ánh đèn đêm thăm thẳm, chinh phụ trẻ chỉ có biết trò chuyện với cái bóng của chính mình, với ngọn đèn, gợi cho ta cảm nhận được nỗi cô đơn khắc khoải và vô vọng của người chinh phụ

Qua tám câu thơ đầu, người đọc đã cảm nhận được những tâm trạng của người chinh phụ Khung cảnh quạnh hiu, trống vắng cùng với những động từ miêu tả hành động để thể hiện tâm trạng, điệp ngữ bắc cầu đã khắc họa sự ưu tư, phiền muộn và cô đơn của nhân vật trữ tình khi nhớ về người chồng chinh chiến của mình

-Kết bài:

Bằng nghệ thuật tả cảnh tả tình điêu luyện, tác giả đã diễn tả thành công những cung bậc cảm xúc khác nhau trong lòng người chinh phụ và thông qua đó lên án chiến tranh phi nghĩa, đề cao hạnh phúc lứa đôi

Tác phẩm “Chinh phụ ngâm” đã toát lên tư tưởng chủ đạo trong văn chương một thời,

đó là tư tưởng đòi quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc rất chính đáng của con người

Đề2: Phân tích đoạn thơ sau:

“Lòng này gửi gió đông có tiện?

Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.

Non Yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu, Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.

Cảnh buồn người thiết tha lòng, Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.”

(Trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”- Chinh phụ ngâm – Bản diễn nôm của Đoàn

Thị Điểm)

-Mở bài:

Đặng Trần Côn là nhà thơ lớn của dân tộc, sống vào nửa đầu thế kỉ XVIII Ông để lại cho đời sau nhiều nhiều tác phẩm có giá trị, một trong số ấy có “ Chinh phụ ngâm” Tác phẩm

“ Chinh phụ ngâm” thuộc thể loại ngâm khúc, có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc Đoạn trích “ TCLLCNCP” được trích trong tác phẩm đã thể hiện nỗi nhớ mong người chồng chinh

chiến cùng với khát khao hạnh phúc của người chinh phụ, đặc biệt là đoạn thơ: “Lòng này gửi gió đông có tiện

.

Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”

-Thân bài:

Nếu như ở khổ trước người chinh phụ càng cảm thấy cô đơn, buồn sầu tới bao nhiêu thì

ở tám câu này nỗi nhớ nhung của người chinh phụ lại càng tăng lên bấy nhiêu, cùng với sự thương nhớ ấy là tâm trạng lo lắng cho số phận của người chồng nơi biên ải Tâm trạng lo lắng của người chinh phụ được tác giả thể hiện như một mạch ngầm dù người chinh phụ không nói

ra nhưng ta vẫn cảm nhận được, thể hiện sự tinh tế trong miêu tả nội tâm của tác giả

Trang 8

Đầu tiên tác giả đã nhân hóa gió đông như một người đưa tin đến non yên nhằm nhấn mạnh nỗi mong nhớ, lo lắng của người chinh phụ về người chồng

“Lòng này gửi gió đông có tiện?

Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.

“Lòng này” là sự thương nhớ khôn nguôi Trong cô đơn, người chinh phụ chỉ biết hỏi gió,nhờ gió đưa tin, nhắn tin tới người chồng yêu thương nơi chiến địa xa xôi, nguy hiểm, nơi non Yên nghìn trùng Làm sao tới được non Yên, nơi người chồng đang “nằm vùng cát

trắng,ngủ cồn rêu xanh”? Chỉ còn lại nỗi nhớ

“Non Yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời”.

“Nhớ thăm thẳm” nghĩa là nhớ mãi, nhớ nhiều, nhớ lâu, nhớ không bao giờ nguôi nỗi nhớ thương đè nặng trong lòng, triền miên theo thời gian đêm ngày năm tháng không bao giờ nguôi, vừa được cụ thể hóa bằng độ dài của không gian vô tận, bát ngát với hình ảnh đường lên trời thăm thẳm xa xôi

Sau khi hỏi “gió đông”để bày tỏ niềm thương nỗi nhớ chồng, người chinh phụ lại hỏi trời để rồi tủi thân, than trách

“Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu, Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”.

Trời ở cao xa, không chỉ là cao mà là thăm thẳm, không chỉ là xa mà trở nên xa vời, nên không thấu, không hiểu cho “nỗi nhớ chàng”của người vợ trẻ Nỗi nhớ càng trở nên đau đáu trong lòng Đau đáu nghĩa là áy náy, lo lắng, day dứt khôn nguôi Có thể nói qua cặp từ láy:

“đằng đẵng” và “đau đáu” dịch giả đã thành công trong việc miêu tả những thương nhớ, đau buồn, lo lắng của người chinh phụ một cách cụ thể, tinh tế, sống động Tâm trạng ấy được miêu tả trong quá trình phát triển mang tính bi kịch đáng thương

Ở hai câu cuối, nhà thơ lấy ngoại cảnh để thể hiện tâm cảnh, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình cực kì điêu luyện Tính hình tượng kết hợp với tính truyền cảm tạo nên sắc điệu trữ tình sâu lắng thiết tha

“Cảnh buồn người thiết tha lòng, Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.”

Nỗi thương nhớ, lúc thì “thăm thẳm”, lúc thì “đau đáu”, triền miên suốt ngày đêm Đêm nối đêm như dài thêm Càng cô đơn thì càng thao thức Nhìn cành cây ướt dẫm sương đêm mà thâm lạnh lẽo Nghe tiếng trùng kêu rả rích thâu canh như tiếng “mưa phùn” mà thâm buồn nhớ Âm thanh ấy, cảnh sắc ấy vừa lạnh lẽo vừa buồn, càng khơi gợi trong lòng người vợ trẻ, cô đơn biết bao thương nhớ, lo lắng, buồn rầu Lòng đau đớn như bị cắt xé, chà xát Có thể nói hai câu thơ cuối này rất gần gũi với hai câu thơ nổi tiếng trong truyện Kiều của Nguyễn Du

“Cảnh nào cảnh chằng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

Qua đoạn thơ, ta cảm nhận chất nhạc lôi cuốn trong thơ song thất lục bát Đoạn thơ giàu giá trị nhân văn, đã thể hiện sâu sắc và cảm động nỗi buồn, niềm khao khát hạnh phúc của người chinh phụ

-Kết bài:

Bằng nghệ thuật tả cảnh tả tình điêu luyện, tác giả đã diễn tả thành công những cung bậc cảm xúc khác nhau trong lòng người chinh phụ và thông qua đó lên án chiến tranh phi nghĩa, đề cao hạnh phúc lứa đôi

Tác phẩm “Chinh phụ ngâm” đã toát lên tư tưởng chủ đạo trong văn chương một thời,

đó là tư tưởng đòi quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc rất chính đáng của con người

5 TRAO DUYÊN_Nguyễn Du

Đề: Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau:

Trang 9

“ Cậy em em có chịu lời, Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

Giữa đường đứt gánh tương tư, Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.

Kể từ khi gặp chàng Kim, Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề.

Sự đâu sóng gió bất kì, Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.

Ngày xuân em hãy còn dài, Xót tình máu mủ thay lời nước non.

Chị dù thịt nát xương mòn, Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”

(Trích truyện Kiều –Nguyễn Du)

-Mở bài:

Nguyễn Du - đại thi hào của dân tộc Việt Nam, là nhà thơ hiện thực và nhân đạo lớn nhất trong nền văn học Việt Nam Ông để lại cho đời sau nhiều tác phẩm có giá trị Truyện Kiều là một kiệt tác - bài thơ như tiếng khóc ai oán của người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy rẫy những thối nát, bất công Đoạn trích “Trao duyên” đã nói lển nỗi lòng đau xót của Thúy Kiều khi phải trao mối tình mặn nồng giữa nàng và Kim Trọng cho Thúy Vân, cũng là phần mở đầu cho cuộc đời đầy đau khổ của Thúy Kiều Và đặc sắc nhất có lẽ là 12 câu thơ đầu Chỉ 12 câu nhưng sao như tiếng nấc uất nghẹn ngào

-Thân bài:

“ Cậy em em có chịu lời, Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”

Thúy Kiều đã dùng những lời lẽ chân tình, thuần hậu để nói chuyện với Thúy Vân Từ

“cậy” được sử dụng thật đặc sắc, là “cậy” chứ không phải “nhờ”, người được “cậy” khó lòng

từ chối Thúy Kiều đó đặt hết niềm tin tưởng của mình vào Thúy Vân và Thúy Vân không thể

từ chối được và phải “chịu lời” Kiều đó đặt Vân lên vị trí cao hơn, hạ mình xuống như để van nài, kêu xin Không có người chị nào lại xưng hô với em mình bằng những từ ngữ tôn kính chỉ dùng với bề trên như “thưa- lạy” Kiều muốn chuẩn bị tâm lí cho Vân để đón nhận một chuyện

hệ trọng mà nàng chuẩn bị nhờ cậy em bởi nàng hiểu rằng việc mà nàng sắp nói ra đây là rất khó khăn với Vân và cũng là một việc rất tế nhị

“Giữa đường đứt gánh tương tư, Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”.

“Gánh tương tư” là của chị, tình yêu sâu nặng là của chị nhưng giờ giữa đường lại “đứt gánh” mất rồi Tơ duyên là của chị, khi đến với em nó đó là “tơ thừa” Chị hiểu em tuổi còn trẻ

có thể chưa biết đến tình yêu Đáng lẽ em còn được hưởng bao mật ngọt của tình yêu nhưng xin em hãy xót người chị bạc mệnh này mà đáp nghĩa cùng chàng Kim Lời của Kiều thật cảm động Cái băn khoăn của Kiều là băn khoăn cho Kim Trọng phải lỡ làng nhân duyên Cái day dứt của Kiều là day dứt cho Thúy Vân phải “chắp mối tơ thừa” của mình Từ “mặc” sử dụng ở đây không phải là mặc kệ em, mặc cho ra sao thì ra mà có nghĩa là Kiều muốn phó thác, giao phó trách nhiệm lại cho Thúy Vân, tin tưởng tuyệt đối vào sự cậy nhờ của mình nơi Vân

“Kể từ khi gặp chàng Kim, Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề”.

Từ “khi” được lặp lại ba lần như muốn nhấn mạnh tình cảm mà Kiều dành cho Kim Trọng nào đâu phải tình cảm một sớm một chiều Những kỉ niệm đẹp giữa nàng và Kim Trọng như sống lại trong những câu thơ “ngày quạt ước, đêm chén thề” Câu thơ ẩn chứa những tình cảm ngọt ngào, những niềm vui nhưng cũng nghe như tiếng nấc nghẹn của Thúy Kiều, những

kỉ niệm đẹp ấy sẽ kết thúc, chỉ còn lại chuỗi ngày bi thảm tiếp sau

Trang 10

Sợ chưa thuyết phục được em, Kiều đã dùng hết lý lẽ, sự tỉnh táo nhất của lí trí để trải lòng cùng em

“Ngày xuân em hãy còn dài, Xótt tình máu mủ thay lời nước non”.

Đúng vậy, Thúy Vânn còn trẻ, còn nhiều thời gian vun đắp cho tình cảm riêng tư nên xin hãy nhận lời chị kết duyên cùng chàng Kim Để thêm thuyết phục và Vân không thể chối

từ, Kiều đó đem “tình máu mủ” ra để cầu xin Vân “Máu chảy ruột mềm” còn gì thiêng liêng hơn tình chị em gắn bó, ruột thịt Em hãy giúp chị thay “lời nước non” cùng chàng Kiều cũng

đã đặt mình vào địa vị của Vân, phải kết duyên cùng người mình không quen biết, mà còn là người yêu của chị mình, ta có thể cảm nhận ở đây Thúy Vân là người thiệt thòi nhất

Chữ Tình đối với Kiều vô cùng quan trọng, thế nhưng nàng lại từ bỏ nó để làm tròn chữ Hiếu Mất đi tình yêu đối với nàng là mất đi tất cả Nói đến đây Kiều tưởng như cuộc đời mình

đã kết thúc, không còn gì để luyến tiếc, níu giữ

“Chị dù thịt nát xương mòn, Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”

Bản thân phải hi sinh, Kiều không đắn đo thiệt hơn, nhưng khi nhờ cậy đến em gái thì

đó là một cái ơn lớn· đối với nàng Cho nên lời nhờ cậy của Kiều thật thiết tha, lời cảm tạ của Kiều thật sâu sắc, cảm động Xét về ngôn từ thì lời nói của Kiều khẩn thiết mà vẫn đúng mực, kêu nài mà vẫn chí nghĩa chí tình Nhờ cậy thì vịn đến tình máu mủ ruột thịt Cảm tạ thì đề cao

ơn nghĩa của Thúy Vân và nói đến sự bạc mệnh của mình Kiều quả thật là người “sắc sảo mặn mà”

Kiều đã hi sinh tất cả, kể cả cuộc đời nàng đang độ xuân xanh vì gia đình Thuý Vân dù

có vô tư đến đâu cũng có thể hiểu nỗi đau và sự hi sinh quá lớn của chị nên chắc chắn rằng nàng không thể khước từ và chỉ ngậm ngùi đồng ý nhận duyên từ chị Có lẽ vì thế nên ngay từ đầu chúng ta không nghe một lời đối thoại nào của Vân mà chỉ nghe những lời thuyết phục, van nài và bộc bạch nơi Kiều Vân đã chấp thuận

-Kết bài:

Đoạn trích thể hiện bi kịch tình yêu, thân phận bất hạnh và nhân cách cao đẹp của Thúy Kiều, đồng thời cho thấy tài năng miêu tả nội tâm nhân vật của Nguyễn Du Qua đó nhằm lên

án, phê phán xã hội phong kiến thối nát đã chia rẽ tình yêu lứa đôi, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, chà đạp lên số phận của người phụ nữ, những con người xinh đẹp, tài hoa

*Nội dung các câu thơ trong đoạn trích:

- 6 câu tiếp: Thúy Kiều trao kỉ vật:

Nói xong lời thỏa nguyện và hàm ơn đối với em, Kiều trao vật kỉ niệm

“Chiếc vành với bức tờ mây, Duyên này thì giữ vật này của chung”.

Khi trao kỉ vật cho Thúy Vân, nỗi mất mất hiện hữu quá rõ Cầm đến kỉ vật, kỉ niệm tình yêu sống dậy đối lập với hiện thực phũ phàng, Thúy Kiều không còn đủ lý trí để kìm nén

được nữa, giọng nói của nàng run lên: “Duyên này thì giữ vật này của chung”, nghe như có

tiếng nấc nghẹn ngào trong đó Đau đớn vì duyên thì trao cho em mà tình yêu thì không trao được Kỉ vật với Thúy Vân chỉ đơn giản là vật làm tin nhưng với Thúy Kiều nó lại là tình yêu

Trao duyên cho em, con người đạo lý ở Thúy Kiều mách bảo cần phải trao kỉ vật Vả lại, khi tình yêu tan vỡ, giữ kỉ vật chỉ thêm đau Nhưng Thúy Kiều không chỉ là con người của đạo lý mà còn là con người của tình riêng Thúy Vân giữ kỉ vật trong khi chính Kiều mới là người giữ kỉ niệm của tình yêu Cuộc chia lìa giữa kỉ niệm và kỉ vật là cuộc chia lìa giữa linh hồn và thể xác Đau đớn dồn vào hai chữ “của chung” Nguyễn Du như hóa thân để cảm thông, chia sẻ đến tận cùng nỗi đau với nhân vật của mình, từ đó cất lên tiếng nói nhân đạo sâu sắc, mới mẻ

“Dù em nên vợ nên chồng, Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.

Mất người còn chút của tin,

Ngày đăng: 25/02/2021, 16:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w