1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thiết kế hệ thống tư vấn quyết định tài chính

94 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, bài toán Quyết định tài chính là một bài toán rất phức tạp: Nó có thể là các bài toán về quyết định tăng vốn đầu tư, quản lý công nghệ sản xuất, quyết định mở rộng thị trường,

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

-

TƯ VẤN QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS TS NGUYỄN THANH THUỶ

Trang 2

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các tài liệu tham khảo, số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Hà n ội, tháng 10 năm 2009

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chúng ta đang sống trong thế kỷ 21, kỷ nguyên của công nghệ Công nghệ thông tin là công nghệ hàng đầu trong cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phục vụ con người Sự tham gia của công nghệ thông tin trong tất cả các ngành của nền Kinh tế quốc dân tạo nên một sức mạnh vượt trội so với các thập kỷ trước đây Mỗi con người trong guồng máy phát triển của thế giới cần phải thích ứng và vận dụng những hiểu biết của mình để khai thác và sử dụng một cách hiệu quả nhất công nghệ thông tin trong công việc, cũng như trong cuộc sống hàng ngày Một trong những hướng phát triển mang tính ứng dụng, nhằm khai thác tri thức con người là Trí tuệ nhân tạo, trong đó có Hệ chuyên gia

Quyết định đầu tư tài chính là một trong những bài toán khó nhất trong các bài toán thực tế, với các thông số rất khó có thể quy thành luật và chủ động điều khiển được

Áp dụng kiến thức Hệ chuyên gia và Trí tuệ nhân tạo trong việc khai thác và sử dụng các tri thức của các chuyên gia kinh tế là một lĩnh vực khá mới mẻ và phong phú Tuy nhiên, bài toán Quyết định tài chính là một bài toán rất phức tạp: Nó có thể là các bài toán về quyết định tăng vốn đầu tư, quản lý công nghệ sản xuất, quyết định mở rộng thị trường, quyết định đầu tư chứng khoán, trong đó bài toán quyết định đầu tư chứng khoán là bài toán nóng nhất trong thời điểm hiện nay Thị trường chứng khoán phản ảnh “sức khoẻ” của nền kinh tế Việt Nam cũng như thế giới Nói đúng hơn thị trường chứng khoán phản ánh rất cụ thể năng lực, uy tín và thương hiệu của các công

ty trong công cuộc cạnh tranh khốc liệt

Các nhà đầu tư Việt nam nói riêng và ở các nước mới có thị trường chứng khoán nói chung thường tham gia theo xu hướng số đông, mà không quan tâm đến kiến thức cơ bản cũng như cách nhìn nhận lâu dài về thị trường Các nhà đầu tư theo số đông vẫn tham gia đầu tư kiểu “lướt sóng” mà không quan tâm đến các chỉ số tài chính,

nó thường được tính dựa trên bản “Cáo bạch” của các công ty mình định đầu tư

Trang 4

Để phần nào giúp các nhà đầu tư chứng khoán có những kiến thức cơ bản về thị trường chứng khoán cũng như tham khảo các tư vấn trực tiếp từ các kiến thức mang tính cơ bản nhất, việc xây dựng một Hệ chuyên gia tư vấn quyết định là điều rất cần thiết và thực sự có ý nghĩa

Các mục tiêu của bài toán là xây dựng Hệ thống tư vấn quyết định tài chính:

- Tư vấn quyết định tài chính và hướng các nhà đầu tư theo một cách bài bản nhất, tích cực nhất trong quá trình phát triển dài hạn

- Trợ giúp đắc lực cho công tác huấn luyện đào tạo kiến thức cơ bản và các thành phần trong thị trường chứng khoán

Cho phép tôi được tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS – TS Nguyễn Thanh Thuỷ, người đã tận tình giảng dạy cho chúng tôi những kiến thức cơ bản nhất về Trí tuệ nhân tạo, Hệ chuyên gia, đồng thời là người đã giúp tôi rất nhiều trong quá trình xây dựng luận văn thạc sỹ này

Tôi cũng xin cảm ơn các thầy giáo, các chuyên gia toán kinh tế, các chuyên gia về phân tích tài chính - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình xây dựng cơ sở tri thức

Với đề tài nghiên cứu này, luận văn xây dựng một cái nhìn khái quát về cách xây dựng một Hệ thống tư vấn quyết định đầu tư tài chính, cụ thể là đầu tư chứng khoán Song do thời gian thực hiện còn hạn hẹp, các kiến thức về chuyên môn chưa nhiều, nên luận văn chắc chắn còn nhều hạn chế và không tránh khỏi sai sót Rất mong được sự góp ý giúp đỡ của các thầy cô, các chuyên gia về lĩnh vực và các bạn

đồng nghiệp, để tôi có thể hoàn thiện luận văn này hơn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN - 1 -

ĐẶT VẤN ĐỀ - 2 -

CHƯƠNG I: THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ BÀI TOÁN RA QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ - 7 -

1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán - 7 -

1.1.1 Lịch sử ra đời - 7 -

1.1.2 Định nghĩa - 8 -

1.1.3 Sự cần thiết của TTCK Việt Nam - 8 -

1.2 Sở giao dịch chứng khoán - 10 -

1.2.1 Khái niệm về Sở giao dịch chứng khoán - 10 -

1.2.2 Nhiệm vụ sở giao dịch chứng khoán - 11 -

1.3 Các khái niệm về thị trường chứng khoán - 12 -

1.3.1 Khái niệm chứng khoán - 12 -

1.3.2 Chứng khoán Nợ - Trái phiếu - 13 -

1.3.2.1 Khái niệm Trái phiếu: - 13 -

1.3.2.2 Đặc điểm của Trái phiếu - 13 -

1.3.2.3 Các loại Trái phiếu - 13 -

1.3.3 Chứng khoán vốn – Cổ phiếu (CP) - 14 -

1.4 Các loại giá chứng khoán - 15 -

1.4.1 Mệnh giá (Face value-Par value) - 15 -

1.4.2 Giá trị sổ sách (Book value) - 15 -

1.4.3 Thị giá (Market price) - 16 -

1.5 Chỉ số chứng khoán các loại giá trị trung bình - 17 -

1.5.1 Chỉ số chứng khoán (CKn-Index) - 17 -

1.5.2 Giá trị trung bình trượt SMA (Simple Moving Averages) - 18 -

1.5.2.1 Giá trị trung bình trượt trong 30 ngày của CKn-Index - 18 -

1.5.2.2 Giá trung bình trượt trong 200 ngày của CKn-Index - 18 -

1.5.2.3 Giá trung bình trượt trong 50 ngày của CKn-Index - 18 -

1.6 Các nguyên tắc đầu tư chứng khoán - 18 -

1.6.1 Danh mục đầu tư - 18 -

1.6.2 Các nguyên tắc đầu tư chứng khoán - 19 -

1.6.3 Mục tiêu đầu tư chứng khoán - 20 -

1.7 Các phương pháp đưa ra quyết định đầu tư CK - 21 -

1.7.1 Xếp loại chứng khoán - 21 -

1.7.2 Các loại chỉ số tài chính dùng để quyết định đầu tư - 21 -

1.7.2.1 Chỉ số PE - 21 -

1.7.2.2 Chỉ số PEG - 22 -

1.7.2.3 Chỉ số PB (Price-to-Book ratio) - 23 -

1.7.2.4 Chỉ số ROA ( Return On Assets) - 23 -

Trang 6

1.7.3 Đánh giá các chỉ số tài chính của các chuyên gia - 25 -

1.7.4 Các thông tin bên ngoài có thể ảnh hưởng và hỗ trợ việc ra quyết định đầu tư chứng khoán - 26 -

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HỆ CHUYÊN GIA - 28 -

2.1 Khái niệm về Hệ chuyên gia - 28 -

2.2 Cấu trúc Hệ chuyên gia - 28 -

2.2.1 Cơ sở tri thức - 29 -

2.2.1.1 Biểu diễn tri thức nhờ logic - 29 -

2.2.1.2 Biểu diễn tri thức nhờ mạng ngữ nghĩa - 31 -

2.2.1.3 Biểu diễn tri thức nhờ luật dẫn - 31 -

2.2.1.4 Biểu diễn tri thức nhờ Frame - 33 -

2.2.1.5 Biển diễn tri thức nhờ bộ ba liên hợp đối tượng – thuộc tính – giá trị OAV - 33 -

2.2.2 Mô tơ suy diễn - 34 -

2.2.2.1 Suy diễn tiến (Forward Chaining) - 35 -

2.2.2.2 Suy diễn lùi (Backward Chaining) - 37 -

2.2.2.3 Kỹ thuật cài đặt các chiến lược suy diễn - 39 -

2.2.2.4 Chiến lược điều khiển - 39 -

2.2.3 Khối giải thích - 40 -

2.2.3.1 Giải thích về cách suy luận - 40 -

2.2.3.2 Giải thích tại sao - 40 -

2.2.4 Thu thập và tổ chức cơ sở tri thức - 40 -

2.2.4.1 Các loại tri thức - 41 -

2.2.4.2 Các nguồn tri thức - 41 -

2.2.4.3 Quá trình thu thập tri thức - 42 -

2.2.4.4 Thời gian cần thiết cho việc thu thập tri thức - 42 -

2.2.4.5 Vai trò của từng thành viên tham gia - 43 -

2.2.5 Giao diện - 44 -

CHƯƠNG III XÂY DỰNG HỆ CHUYÊN GIA HỖ TRỢ CÁC QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN - 45 -

3.1 Kiến trúc Hệ chuyên gia hỗ trợ quyết định đầu tư chứng khoán - 45 -

3.2 Các đặc thù của một Hệ tư vấn quyết định đầu tư chứng khoán - 46 -

3.3 Lựa chọn chiến lược suy diễn cho bài toán - 48 -

3.4 Chọn ngôn ngữ cài đặt cho hệ thống - 49 -

3.5 Tổ chức chương trình của một Hệ chuyên gia tư vấn đầu tư chứng khoán - 49 -

3.5.1 Module thu nạp cơ sở tri thức - 50 -

3.5.2 Module quản lý tri thức - 50 -

3.5.3 Module giải quyết vấn đề - 50 -

3.5.4 Module giải thích - 51 -

3.5.5 Module truyền thông - 52 -

3.6 Các phiên làm việc của Hệ hỗ trợ quyết định đầu tư chứng khoán - 53 -

Trang 7

CHƯƠNG IV: TỔNG KẾT - 56 -

4.1 Các kết quả đạt được - 56 -

4.2 Đánh giá - 57 -

4.3 Kết luận - 57 -

4.4 Hướng phát triển tương lai - 58 -

PHỤ LỤC 1: Tập các luật được sử dụng trong Hệ hỗ trợ quyết định đầu tư chứng khoán: - 59 -

PHỤ LỤC 2: Bảng tham chiếu các mã chứng khoán và các chỉ số tài chính của thị trường chứng khoán Việt Nam ngày 16/10/2009 - 83 -

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO - 91 -

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN - 92 -

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN - 93 -

Trang 8

CHƯƠNG I: THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ BÀI TOÁN

RA QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ

1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán

1.1.1 Lịch sử ra đời

Từ thời trung cổ, ở Tây phương đã có những hình thức của thị trường chứng khoán Tại các thành phố có các vị trí thuận lợi, các thương gia tụ họp lại trong các buổi họp chợ để thương lượng mua bán hàng hóa Điểm đặc biệt là trong những buổi thương lượng này các thương gia chỉ nói miệng với nhau không cần có giấy tờ cũng như không có hàng hóa trước mặt

Chỗ tự họp riêng biệt của các lái buôn này dần dần được nới rộng vì có thêm nhiều người tham gia Đến cuối thời trung cổ, loại chợ riêng này trở thành một “thị trường” Thị trường chứng khoán bắt đầu hình thành Những phiên chợ cách quãng quá lâu, từng tuần hay từng tháng không thuận tiện cho những cuộc thương lượng nữa Do đó nhóm Thị trường bèn họp riêng hàng ngày cho kịp thời vụ

Buổi họp đầu tiên của giai đoạn này xảy ra năm 1453 trong một lữ quán của gia đình Van Der Buerze tại Bruges (Bỉ) Trước lữ quán có một bảng hiệu cái túi da gọi là “bourse” Chữ “bourse” được xem như phát xuất từ bấy giờ

Đến năm 1847 mậu dịch thị trường tại Bruges suy sụp khi Bruges mất hẳn sự phồn vinh vì eo biển dẫn tàu bè vào thị trấn bị cát lấp mất Thị trường được rời đến cảng Anvers

Tại Luân đôn vào giữa thế kỷ 18, mậu dịch thị trường được thiết lập theo mẫu thị trường Anvers gọi là Stock Exchange Rồi lần lượt các mậu dịch thị trường được thiết lập tại Pháp, tại Mỹ với ít nhiều cải tiến, thay đổi tùy theo những điều kiện tại mỗi quốc gia

Lịch sử phát triển của thị trường chứng khoán thế giới đã trải qua biết bao thăng trầm cùng với sự tăng trưởng kinh tế của từng giai đoạn Những dấu ấn đáng ghi nhớ cho những thăng trầm của thị trường chứng khoán:

- Ngày 29.10.1929 cuộc khủng hoảng tài chính tại thị trường Mỹ, Châu Âu, Nhật kéo dài đến chiến tranh thế giới thứ II Năm 1987, thị trường chứng khoán thế giới lại

Trang 9

đảo điên do hệ thống thanh toán kém cỏi không đáp ứng được nhu cầu giao dịch, sụt giá chứng khoán ghê gớm, mất lòng tin và hậu quả còn nặng nề hơn khủng hoảng 1929

- Tiếp theo là cuộc khủng hoảng tài tiền tệ châu Á năm 1997 mà ngòi nổ được châm từ Thái Lan, rồi sau đó đến năm 1998 lan rộng sang Malaysia, Philippines, Indonesia, Singapore và lan tiếp sang Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông và cả nước Nga.Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đã làm sụp đổ Chính phủ Thái Lan, Indonesia

và CHLB Nga gây biến động lớn trên các thị trường chứng khoán toàn cầu

- Gần đây nhất là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 là một cuộc khủng hoảng bao gồm sự đổ vỡ hàng loạt hệ thống ngân hàng, tình trạng thiếu hụt tín dụng, tình trạng sụt giá chứng khoán và mất giá tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước trên thế giới, có nguồn gốc từ khủng hoảng tài chính ở Hoa Kỳ, nó dẫn đến suy thoái kinh tế ở rất nhiều nước

Tuy vậy, sự can thiệp kịp thời của các nhà lãnh đạo các quốc gia bằng cách tung ra các gói kích cầu, thay đổi chính sách phù hợp đã phục hồi lại sức sống của nền kinh tế và thị trường chứng khoán lại phục hồi trở lại

1.1.2 Định nghĩa

Thị trường chứng khoán (TTCK) là thị trường giao dịch về các loại chứng khoán trung và dài hạn do các công ty cổ phần hoặc Nhà nước phát hành nhằm huy động vốn trong công chúng để tài trợ cho các dự án đầu tư phát triển doanh nghiệp

Thị trường chứng khoán là bộ phận quan trọng nhất của thị trường tài chính,

nó thực hiện chức năng cung cấp vốn trung và dài hạn của Chính Phủ và các doanh nghiệp thông qua việc mua bán các loại giấy có giá trị kỳ hạn trên một năm như Trái phiếu Chính Phủ, Trái phiếu công ty, cổ phiếu công ty cổ phần

1.1.3 Sự cần thiết của TTCK Việt Nam

Nền kinh tế Việt Nam đang cần một khối lượng vốn hàng chục tỷ đô la để tái thiết và phát triển Nếu chỉ trông cậy vào nguồn vốn từ nước ngoài đổ vào sẽ không

có sự phát triển vững chắc lâu dài Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy nguồn vốn nội tại là nhân tố quyết định của một nền kinh tế

Trang 10

Lâu nay nguồn vốn trong nước tài trợ cho các đơn vị kinh tế chủ yếu là các

xí nghiệp quốc doanh Hiện nay, trong cơ chế thị trường, hầu hết các doanh nghiệp đều rơi vào tình trạng thiếu vốn nghiêm trọng, lúng túng trong vấn đề giải quyết vốn Nguồn vốn ngân sách hầu như bị cắt hoàn toàn, nguồn vay tín dụng ngân hàng chủ yếu là vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động với các điều kiện ngặt nghèo Phần lớn các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động cầm chừng để tồn tại vì không có vốn đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị, khả năng cạnh tranh trên thị trường yếu, ngày càng tụt hậu so với sức phát triển trên thị trường và nền kinh tế

Từ thực tế đó, cần phải có một giải pháp lớn, một cơ chế mới đồng bộ cho doanh nghiệp tự huy động vốn, nhất là vốn trung và dài hạn, vốn không có thời hạn Môi trường mới như vậy giúp cho các doanh nghiệp huy dộng vốn đó là thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán là trục chính của thị trường vốn trung và dài hạn mở

ra một hướng mới huy động tập hợp những khoản tiết kiệm trong công chúng thành một nguồn vốn tập trung phân phối cho các doanh nghiệp, các dự án Đối với công

ty cổ phần, TTCK còn là nơi giúp họ tạo vốn hình thành và phát triển công ty dưới hình thức mua bán cổ phần hoặc Trái phiếu

TTCK tạo ra phương thức tài trợ trực tiếp để cạnh tranh với phương thức tài trợ gián tiếp, thông qua các ngân hàng Cạnh tranh cả đầu vào (thu hút tiết kiệm) lẫn đầu ra (tài trợ cho các doanh nghiệp) Cạnh tranh sẽ làm lãi suất thị trường giảm xuống, góp phần kiềm chế lạm phát Với những nỗ lực của Chính phủ nhằm kiềm chế lạm phát, lãi suất cũng trên đà đi xuống Những người gửi tiết kiệm đã có sự mong đợi kỳ hạn tín phiếu dài hơn, để hưởng mức lãi suất cao hoặc hùn vốn mua cổ phần với hy vọng thu lợi tức cao hơn TTCK sẽ đáp ứng được điều này đồng thời còn giúp các nhà đàu tư chuyển vốn dễ dàng, có thể chia nhỏ vốn đầu tư vào nhiều loại cổ phiếu, Trái phiếu của nhiều công ty nhằm hạn chế rủi ro TTCK sẽ là nơi giúp cho công chúng có thể mua bán cổ phiếu Trái phiếu bất cứ lúc nào họ cần với giá thị trường

Tác động tích cực khác của TTCK là việc định giá liên tục trị giá của công ty cổ phần Giá chứng khoán diễn biến trên thị trường sẽ giúp cho công ty thấy rõ lòng tin và những đánh giá của công chúng về công ty mình Công ty phải nỗ lực liên tục trong sức

Trang 11

ép thị trường nhằm tìm kiếm cơ hội đầu tư, gia tăng lợi nhuận, phát triển có hiệu quả Chính vì thế, TTCK còn được xem như một cơ sở hạ tầng về tài chính giúp cho nguồn vốn đầu tư đi vào những doanh nghiệp biết tạo ra hiệu quả qua định hướng của của thị trường vốn Chỉ những loại chứng khoán nào hứa hẹn an toàn, hoặc có tỷ suất lợi nhuận cao nhất mới có khả năng thu hút mạnh nhất nguồn vốn tiết kiệm của công chúng

1.1.4 Nh ững vấn đề của thị trường chứng khoán Việt Nam

Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời chỉ chưa đầy 10 năm nhưng đã có những ảnh hưởng to lớn đến nền kinh tế quốc dân Việc nghiên cứu và xây dựng một

Hệ thống hỗ trợ quyết định đầu tư chứng khoán là cần thiết và thực sự có ý nghĩa Một số vấn đề đặt ra cho TTCK Việt Nam :

- Hàng hóa nào cho thị trường chứng khoán? Các loại chứng khoán như cổ phiếu, Trái phiếu là hàng hóa của TTCK Làm thế nào để có nhiều loại chứng khoán với khối lượng lớn để hoạt động giao dịch được diễn ra liên tục tránh tình trạng khan hiếm dẫn đến đầu cơ lũng đoạn

- Ai cung cấp hàng hóa cho thị trường chứng khoán? Phải chăng là các công

ty cổ phần đại chúng, Nhà nước hay các ngân hàng thương mại

- Ai mua chứng khoán trên TTCK? Công chúng và các tổ chức đầu tư Liệu với mức thu nhập khiêm tốn bản chất tiết kiệm theo phương “ăn chắc, mặc bền” của người dân Việt Nam, họ có dám “liều mạng” tham gia vào cuộc chơi chứng khoán đầy rủi ro này không?

- Giá chứng khoán luôn là ẩn số? Làm sao để công chúng hiểu rõ những sự kiện xảy ra đối với Công ty Cổ phần mà họ đã trót đặt vốn vào đó (mua chứng khoán)? Số phận những đồng vốn đó ra sao?

1.2 Sở giao dịch chứng khoán

1.2.1 Khái niệm về Sở giao dịch chứng khoán

Như chúng ta đã biết, bất cứ thị trường nào cũng đều có thể diễn ra ở bất cứ đâu nếu có đủ 5 thành tố : hàng hóa, cung, cầu, giá cả và phương thức hoạt động Thị trường chứng khoán cũng thế Các loại chứng khoán đều có thể tự do mua bán ở

Trang 12

bất cứ nơi nào mà cung và cầu gặp nhau, giao dịch trao đổi và tự thỏa thuận giá cả

Vì vậy TTCK cũng có thị trường tự do, thường gọi là thị trường OTC tồn tại song song với một thị trường có tổ chức gọi là Sở giao dịch chứng khoán (Sở GDCK)

Sở GDCK là một loại thị trường chứng khoán chính thức, được tạo lập tại một nơi chốn nhất định có địa chỉ cụ thể rõ ràng, có giờ đóng mở cửa, có qui chế hoạt động và có một danh sách các loại CK niêm yết báo giá nhằm tuyển chọn, bảo đảm cho các loại hàng hóa ở đây đều là những loại hàng hóa có chất lượng cao

- Thực chất, Sở GDCK là một công ty "chợ", có trụ sở riêng, tên gọi riêng, có vốn đăng ký, có các thành viên là những nhà môi giới CK hoặc các nhà kinh doanh CK

cùng nhau góp vốn hình thành dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn

- Sở GDCK có tư cách pháp nhân, tự chủ về tài chính và hoạt động dưới sự giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước gọi là Ủy ban chứng khoán Nhà nước

Hiện nay ở Việt Nam đang có hai sở giao dịch chứng khoán ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh:

+ Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội được thành lập ngày 11 tháng 07 năm

1998 theo quyết định số 127/1998/QĐ-TTg Tên tiếng Anh của sở giao dịch này là Hanoi Stock Exchange, viết tắt là HNX (HASTC)

+ Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, được thành lập ngày

20 tháng 7 năm 2000, và các giao dịch bắt đầu từ ngày 28 tháng 7 năm 2000 Từ khi thành lập đến ngày 7 tháng 8 năm 2007, nó mang tên Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSTC) Từ ngày 8 tháng 8 năm 2007, HSTC mới được đổi tên thành Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE)

1 2.2 Nhiệm vụ sở giao dịch chứng khoán

1 Bảo đảm hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị trường được tiến hành công khai, công bằng, minh bạch và hiệu quả

2 Thực hiện chế độ tài chính, báo cáo thông kê, kế toán và kiểm toán theo quy định của pháp luật và của Bộ Tài chính

Trang 13

3 Thực hiện công bố thông tin theo quy định tại Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn

4 Cung cấp thông tin và phối hợp với các cơ quan chức năng trong công tác thanh tra, kiểm tra và phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán

và thị trường chứng khoán

5 Bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước giao; quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn và tài sản, chịu trách nhiệm trước pháp luật về tổn thất các nguồn vốn và tài sản của Sở Giao dịch

6 Phối hợp thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán cho nhà đầu tư

7 Bồi thường thiệt hại cho thành viên giao dịch trong trường hợp Sở Giao dịch gây thiệt hại cho thành viên giao dịch, trừ trường hợp bất khả kháng

8 Xử lý và trả lời những thắc mắc, khiếu nại, khiếu kiện của các nhà đầu tư, các tổ chức niêm yết

9 Sở Giao dịch được Nhà nước giao vốn điều lệ và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của Sở Giao dịch trong phạm vi vốn Điều lệ của mình

10 Sở Giao dịch chịu trách nhiệm kế thừa quyền và nghĩa vụ pháp lý của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán theo quy định của pháp luật

11 Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

1.3 Các khái niệm về thị trường chứng khoán

1.3.1 Khái niệm chứng khoán

Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoăc vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán bao gồm : Cổ phiếu - Trái phiếu - Chứng chỉ quĩ đầu tư - Các loại chứng khoán khác

Chứng khoán là một công cụ rất hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường để tạo một lượng tiền vốn lớn tài trợ dài hạn cho các mục đích mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp hay các dự án đầu tư của Nhà nước hoặc tư nhân

Trang 14

1.3.2 Chứng khoán Nợ - Trái phiếu

1.3.2.1 Khái niệm Trái phiếu:

Trái phiếu là hợp đồng nợ dài hạn được ký kết giữa chủ thể phát hành (Chính Phủ hay doanh nghiêp) và người cho vay đảm bảo một sự chi trả lợi tức định kỳ và hoàn lại vốn gốc cho người cầm Trái phiếu vào thời điểm nhất định

- Mệnh giá của Trái phiếu được ghi trên tờ Trái phiếu

- Lãi Trái phiếu: (Coupon interest rate): là mức lãi được ấn định trả hàng năm cho người chủ Trái phiếu Lãi danh nghĩa của Trái phiếu C = C% * F

trong đó : - F là mệnh giá của Trái phiếu

- C% là lãi suất của Trái phiếu

Ví dụ: Công ty Cocacola vừa mới phát hành 100.000 Trái phiếu mệnh giá 1.000USD Với tỷ suất lãi Trái phiếu hàng năm là 5% và thời gian đáo hạn là 2 năm

C = 100.000.000 USD x 5% = 5.000.000 USD

Như vậy, tại cuối năm thứ nhất công ty phải trả lãi 5.000.000 USD Đến cuối năm thứ 2 công ty phải trả lãi 5 triệu USD và 100 triệu USD vốn gốc

1.3.2.2 Đặc điểm của Trái phiếu

- Trái phiếu là loại chứng khoán nợ có kỳ hạn nhất định

- Lãi suất của Trái phiếu thường thấp nhưng ổn định và không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh

- Ít rủi ro

- Khi công ty bị giải thể thanh lý tài sản thì trái chủ là người được ưu tiên trả

nợ trước cổ đông

1.3.2.3 Các loại Trái phiếu

- Trái phiếu Chính Phủ (Government bond): Chính Phủ các quốc gia thường xuyên phát hành các loại Trái phiếu với qui mô toàn quốc để thực hiện các chính sách tài trợ quốc gia để đầu tư phát triển nền kinh tế cũng như tài trợ cho các phương án vĩ mô của Nhà nước

Trang 15

- Trái phiếu công ty: Theo quy định của Nhà nước Việt Nam có hai loại công

ty được phát hành, đó là: Doanh nghiệp Nhà nước và công ty cổ phần Các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, nếu hội tụ đầy đủ các tiêu chuẩn do Ủy ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đề ra sẽ được phép phát hành Trái phiếu để huy động vốn sử dụng đầu tư dài hạn

1.3.3 Chứng khoán vốn – Cổ phiếu (CP)

a, Khái niệm:

Cổ phiếu là loại chứng khoán vốn được phát hành bởi công ty cổ phần chia vốn điều lệ thành những phần nhỏ bằng nhau mỗi phần vốn đó được gọi là cổ phần Mỗi cổ đông nhận được một giấy chứng nhận về cổ phần đã góp gọi là cổ phiếu Cổ đông trở thành một trong những người chủ sở hữu công ty, nắm quyền kiểm soát công ty

b, Đặc điểm:

+ Cổ phiếu là loại chứng khoán vốn không kỳ hạn

+ Người đóng góp vốn vào công ty cổ phần gọi là cổ đông không có quyền đòi nợ nhưng có quyền tham gia vào việc điều hành và kiểm soát công ty

+ Cổ tức cao nếu công ty hoạt động tốt nhưng không ổn định, nó hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty

+ Cổ phiếu nhiều rủi ro xuất phát từ những rủi ro trong kinh doanh

+ Khi công ty phá sản thì cổ đông là người cuối cùng được chia phần còn lại tài sản của công ty nếu có

c, Trách nhiệm và quyền hạn của cổ đông:

* Trách nhiệm:

- Là một trong những người chủ sở hữu của công ty có trách nhiệm góp vốn nhưng không được rút vốn, có quyền chuyển nhượng quyền sở hữu cổ phần trên thị trường bằng cách bán lại cho nhà đầu tư khác

- Trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ của công ty và nếu công ty làm ăn thua lỗ thì xem như họ mất phần vốn đã bỏ ra để mua cổ phiếu

Trang 16

* Quyền hạn:

- Có thu nhập cổ đông được hưởng qua phần chia cổ tức từ kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh

- Quyền được chia giá trị còn lại khi thanh lý

- Quyền bầu cử cổ đông thường được tham gia vào việc bầu cử Hội đồng quản trị, ban kiểm soát công ty, có giá trị tương đương tỷ lệ với số vốn đóng góp

- Có quyền nêu ý kiến chất vấn, phán quyết những vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty

1.4 Các loại giá chứng khoán

1.4 1 Mệnh giá (Face value-Par value)

Mệnh giá là giá được ghi trên bề mặt của tờ chứng khoán Mệnh giá chỉ được dùng với mục đích kế toán, không ảnh hưởng đến giá thị trường của nó

Mệnh giá được xác định theo công thức:

Mệnh giá chứng khoán cao hay thấp là tùy vào tổng số chứng khoán cần phát hành nhiều hay ít, ý nghĩa của việc đặt mệnh giá CK cao hay thấp:

+ Mệnh giá cao khi đơn vị phát hành chưa muốn bán CK rộng rãi ra công chúng + Ngược lại, khi muốn bán CK rộng rãi ra công chúng, đa số các nước người ta thường ấn định mệnh giá thấp - khoảng 0.5-1USD/share (nghĩa là tổng số lượng CK phát hành nhiều) để tạo điều kiện cho công chúng dễ dàng mua chứng khoán Việc này rất có

ý nghĩa đối với nền kinh tế vì nó tạo điều kiện thuận lợi cho cho công chúng tiết kiệm

1.4 2 Giá trị sổ sách (Book value)

Giá trị sổ sách (Book value) cổ phiếu là giá trị cổ phiếu được tính theo sổ sách kế toán của công ty

Tổng số vốn cần huy động của đợt phát hànhTổng số CK cần phát hành

Mệnh giá CP =

Trang 17

- Giá trị sổ sách khác với giá trị thanh lý tài sản khác với thị giá cổ phiếu trên thị trường

- Giá trị sổ sách được hình thành từ bảng tổng kết tài sản (TKTS) theo các chuẩn mực kế toán dễ dàng

Tuy nhiên, trên thị trường người ta không giao dịch theo mệnh giá hay Giá trị sổ sách cổ phiếu mà theo một giá khác - đó là thị giá

1.4 3 Thị giá (Market price)

Thị giá cổ phiếu là giá cả cổ phiếu được giao dịch trên thị trường từng thời điểm Đó là giá mà người mua phải trả và người bán nhận được

Thị giá thay đổi hàng giờ, hàng ngày hoặc chỉ ổn định trong một thời gian ngắn tùy theo tình hình cung cầu CK ở từng thời điểm nhất định Cơ chế vận động của thị giá:

- Nếu có những thông tin cho thấy công ty kinh doanh có hiệu quả, cổ đông đang nắm giữ CP của công ty sẽ tiếp tục giữ, không muốn bán ra, thậm chí còn muốn mua thêm trong khi công chúng cũng rất muốn mua vì bị hấp dẫn bởi tỷ suất sinh lời đó dẫn đến giá trị (Giá trị sổ sách) CP của công ty này sẽ gia tăng Khi ấy, lệnh mua sẽ nhiều hơn lệnh bán tức cầu lớn hơn cung và làm cho thị giá tăng lên

- Ngược lại, nếu có những tín hiệu cho thấy công ty kinh doanh thua lỗ, những cổ đông đang nắm giữ CP của công ty sẽ có xu hướng muốn bán vì sự thua

lỗ đó sẽ làm cho giá trị (Giá trị sổ sách) CP giảm - trong lúc đó đa số công chúng lại không muốn mua Hệ quả là lệnh bán nhiều hơn lệnh mua, cung lớn hơn cầu và làm cho thị giá giảm

- Giá trị sổ sách là một hằng số cố định trong một thời gian, giữa 2 kỳ công

bố bảng Tổng kết tài sản (TKTS), tùy theo kết quả kinh doanh đã được xác định, trong khi đó, thị giá là một biến số luôn thay đổi có thể tăng giảm liên tục hàng giờ, hàng ngày tùy theo những thông tin có liên quan đến tiềm năng sinh lời của công ty

Tổng tài sản - Tài sản vô hình - Tổng nợ - Vốn cổ phần ưu đãiTổng số cổ phần thường phát hành

Giá trị sổ sách CP =

Trang 18

1.5 Chỉ số chứng khoán các loại giá trị trung bình

1.5 1 Chỉ số chứng khoán (CKn-Index)

Các chỉ số thị trường chứng khoán được xây dựng nhằm đưa ra câu trả lời nhanh cho thắc mắc “sức khỏe của thị trường chứng khoán như thế nào Rất nhiều chỉ số và số trung bình của thị trường chứng khoán (TTCK) được công bố để đo lường nhiều hiện tượng khác nhau Là số bình quân thị giá gia quyền của n loại chứng khoán của n công ty lớn (n-tùy loại chỉ số) Tức là chứng khoán nào tổng thị giá cao sẽ có quyền số lớn hơn, trong đó:

I : Chỉ số giá chứng khoán

pi1 : Thị giá của chứng khoán loại i thời điểm hiện tại

qi1 : Số lượng chứng khoán loại i đã phát hành thời điểm hiện tại

pi0 : Thị giá của chứng khoán loại i thời điểm gốc

qi0 : Số lượng chứng khoán loại i đã phát hành thời điểm gốc

Cách tính “Chỉ số chứng khoán tăng/giảm”:

- Quy ước chỉ số chứng khoán của thời điểm gốc (năm cơ sở) là 100 điểm

- Sau đó tại từng thời điểm : nếu I = +/-1% tức là +/-10 điểm

Các chỉ số chứng khoán thông dụng:

- Chỉ số tổng hợp Dow Jones

- Chỉ số ngành công nghiệp Dow Jones (DJIA)

- Chỉ số ngành vận tải Dow Jones (DJTA)

- Chỉ số ngành dịch vụ công cộng Dow Jones (DJUA)

- Số trung bình chứng khoán Stand & Poor (S&P90, S&P400, S&P20, S&P40)

- Chỉ số NIKKEI

- Chỉ số tài chính TTCK New York

- Chỉ số Việt nam: Vn-Index

Trang 19

1.5.2 G iá trị trung bình trượt SMA (Simple Moving Averages)

Trung bình trượt giản đơn (SMA) được tính bằng cách cộng giá đóng cửa của chứng khoán trong một số thời kì và rồi chia tổng này cho số thời kì đó Kết quả

là giá trung bình của chứng khoán theo thời gian

Công thức tính:

Với: n = số thời kì của trung bình trượt

1.5.2.1 Giá tr ị trung bình trượt trong 30 ngày của CKn-Index

“Giá trị trung bình trượt trong 30 ngày của chỉ số CKn-Index” bằng tổng tất

cả các giá trị chỉ số CKn-Index trong 30 ngày trước đó chia cho 30

1.5.2.2 Giá trung bình trượt trong 200 ngày của CKn-Index

“Giá trị trung bình trượt trong 200 ngày của chỉ số CKn-Index” bằng tổng tất cả các giá trị chỉ số CKn-Index trong 200 ngày trước đó chia cho 200

1.5.2.3 Giá trung bình trượt trong 50 ngày của CKn-Index

“Giá trị trung bình trượt trong 50 ngày của chỉ số CKn-Index” bằng Tổng

tất cả các giá trị chỉ số CKn-Index trong 50 ngày trước đó chia cho 50

1.6 Các nguyên tắc đầu tư chứng khoán

1.6 1 Danh mục đầu tư

Danh mục đầu tư (Portfolio) là danh sách các chứng khoán được tuyển chọn phù hợp với tính chất và mục tiêu đầu tư để đặt vốn đầu tư vào các chứng khoán đó Portfolio sẽ gồm những chứng khoán khác nhau của các công ty khác nhau, trong những ngành khác nhau

Trang 20

- Tính chất và mục tiêu đầu tư chứng khoán

- Tình hình tài chính và kế hoạch ngân sách gia đình của nhà đầu tư

- Tình hình hoạt động của các công ty, các ngành kinh doanh và nền kinh tế

1.6 2 Các nguyên tắc đầu tư chứng khoán

- Nghiên cứu cẩn thận: Phải nghiên cứu cẩn thận các chứng khoán (CK) mà

mình muốn mua Nhà đầu tư phải am hiểu ít nhiều về các công ty cổ phần, về thị trường chứng khoán (TTCK) và tình hình nền kinh tế để phân tích, đánh giá các CK một cách cẩn thận trước khi mua bán nhằm giảm thiểu rủi ro xuống mức thấp nhất, tránh mua bán CK theo tin đồn, ngẫu hứng…

- Đa dạng hóa các CK: Nhà đầu tư không nên đầu tư vào một loại CK duy

nhất mà cần đầu tư vào nhiều loại CK khác nhau nhằm phân tán rủi ro Tuy nhiên không nên đa dạng quá rộng sẽ tạo nên một quy mô khối lượng vốn đầu tư trên mỗi

CK quá ít, lợi nhuận thu được không đảm bảo trang trải chi phí giao dịch

- Chọn CK có tính thanh khoản cao: Khi đầu tư vào một loại CK nên tìm

hiểu khối lượng giao dịch CK đó nhiều hay ít, thường xuyên hay đôi khi mới được mua bán CK nào dễ bán lại, có tính thanh khoản cao sẽ giúp cho nhà đầu tư nhanh chóng thoát ra khỏi loại CK đó khi giá CK có dấu hiệu sụt giảm để chuyển dịch vốn vào loại CK khác, tránh bị ứ đọng vốn

- So sánh mức may rủi: Các CK luôn có độ may rủi khác nhau, vì thế nhà đầu tư

nên so sánh mức độ may rủi giữa các loại CK bằng các kỹ thuật phân tích tài chính để quyết định nên đầu tư vào loại CK nào phù hợp với tính chất và mục tiêu đầu tư

- Chọn thời cơ: Khi mua bán CK phải chọn thời cơ thích hợp nhất để có lợi

nhuận nhiều nhất bằng cách theo dõi thị giá và chỉ số giá CK hàng ngày CK của công ty dù tốt nhưng thị giá cũng có ngày lên, ngày xuống khác nhau Vì vậy, ta phải chọn thời cơ tốt để mua hay bán

- Mua bán theo chiều hướng thị trường:

+ Khi có trào lưu lên giá CK thì nên mua vào

+ Khi có trào lưu xuống giá CK thì nên bán ra

Trang 21

- Tập thử trước khi Mua-Bán thật sự: Trước hết hãy tập mua bán thử bằng

cáhc ghi chép lại các lần mua bán thử, nếu như thấy có kết quả tốt thì mới bắt đầu đầu tư thực với quy mô vốn lớn dần lên

1.6 3 Mục tiêu đầu tư chứng khoán

Khi đầu tư vào CK phải xác định một hoặc kết hợp một số mục tiêu Để đáp ứng mỗi mục tiêu, nhà đầu tư có thể chọn một số loại CK phù hợp với các mục tiêu đó

- Mục tiêu an toàn vốn:

Mục tiêu an toàn vốn cần đạt được cả trên hai khía cạnh: Phải thu hồi đủ số vốn đầu tư và tránh bị mất giá tiền tệ trên vốn đầu tư do lạm phát xảy ra Với mục tiêu này, nhà đầu tư nên đầu tư vào các loại CK rất ít rủi ro như Trái phiếu Chính Phủ, Trái phiếu được chỉ số hóa (được đưa vào danh sách để tính chỉ số)

Mục tiêu này thích hợp cho những người tích lũy tiền để thanh toán những khoản chi tiêu sau này trong kế hoạch ngân sách gia đình

- Mục tiêu tạo thu nhập ổn định:

Mục tiêu này nhằm sử dụng tiền tiết kiệm để tạo thêm thu nhập với mức độ rủi ro tương đối chấp nhận đuợc Với mục tiêu này, nhà đầu tư nên đầu tư vào các loại CK có thu nhập khá cao, nhưng rủi ro cũng cao hơn Trái phiếu Chính Phủ, như

cổ phiếu ưu đãi, Trái phiếu công ty

Chọn mục tiêu này thường là những người có thu nhập thấp và ổn định, như công nhân-viên chức, những người hưởng lương hưu

- Mục tiêu gia tăng vốn:

Mục tiêu này nhằm kỳ vọng một tỷ suất thu lợi cao, dù biết rõ rủi ro mất vốn cũng sẽ khá cao Với mục tiêu này, nhà đầu tư thường nhắm vào các CK có nhiều rủi ro và có mức sinh lợi kỳ vọng cao như cổ phiếu thường, nhất là cổ phiếu thường của các công ty mới thành lập, các công ty sắp phá sản, các công ty có tiềm năng tăng trưởng mạnh như thuộc ngành khai khoáng…

Mục tiêu này thích hợp với những người thích phiêu lưu, mạo hiểm và sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao để kỳ vọng được hưởng nhiều lợi nhuận làm gia tăng mạnh mẽ vốn đầu tư

Trang 22

1.7 Các phương pháp đưa ra quyết định đầu tư CK

1.7.1 Xếp loại chứng khoán

Đánh giá mức tín nhiệm của chứng khoán (xếp loại chứng khoán), vì đặc thù của chứng khoán là uy tín của các công ty nên chứng khoán của công ty đó sẽ phản ảnh đúng thực lực của mỗi công ty Ta sẽ căn cứ vào khả năng tạo ra lợi nhuận của từng công ty để đánh giá mức độ tín nhiệm Tuy nhiên, một điều cũng khá quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến “sức khỏe” thực sự của công ty chính là các yếu tố bên ngoài tác động vào:

- Loại A: Mức tín nhiệm cao nhất – chất lượng CK cao nhất, khả năng trả lãi

và vốn gốc vững chắc nhất

- Loại a: Mức tín nhiệm cao – CK có chất lượng cao, khả năng trả nợ mạnh

- Loại B: Mức tín nhiệm khá – CK có thể tin cậy được, khả năng hoàn trả tốt nhưng có thể bị ảnh hưởng bởi những điều kiện kinh tế bất lợi

- Loại b: Mức tín nhiệm trung bình – CK có thể xem xét được vì tuy có khả năng trả nợ nhưng chịu ảnh hưởng bởi những điều kiện kinh tế bất lợi lớn hơn

- Loại C: Mức tín nhiệm thấp – CK có chất lượng thấp, khả năng trả nợ rơi vào các điều kiện bất lợi lớn

- Loại c: Mức tín nhiệm đáng ngờ – CK chưa thể xác định được rõ ràng về khả năng hoàn trả Các công ty còn non trẻ hoặc thuộc các ngành kinh doanh đang đang xuống dốc thường rơi vào hạng này

- Loại D: Mức tín nhiệm rất thấp – Các công ty đang có khó khăn về tài chính nghiêm trọng, việc công ty còn non trẻ hoặc thuộc các ngành kinh doanh đang xuống dốc, các công ty hoạt động trong lĩnh vực có nhiều rủi ro

1.7.2 Các loại chỉ số tài chính dùng để quyết định đầu tư

1.7.2.1 Chỉ số PE

PE là một chỉ số được các nhà đầu tư sử dụng rất phổ biến trong phân tích tài chính Tất nhiên tỷ lệ này cũng có những hạn chế nhất định nhưng nó có ưu điểm là

Trang 23

dễ tính và dễ hiểu Chỉ số này cho biết thị trường sẵn sàng trả bao nhiêu cho mỗi đôla lợi nhuận của một công ty, chúng ta hãy xem xét PE

Công thức tính:

P (Market Price) là giá của cố phiếu trên thị trường

E là EPS (Earning Per Share) là thu nhập (lợi tức) của mỗi cổ phiếu, EPS là phần lợi nhuận ròng sau thuế mà công ty chia cho các cổ đông thường trong năm tài chính gần nhất

Cách tính chỉ số EPS

EPS cho biết nhà đầu tư được hưởng lợi nhuận trên mỗi cổ phần họ đang nắm giữ hàng năm là bao nhiêu Chỉ số này càng cao thì càng được đánh giá tốt vì khi đó khoản thu nhập trên mỗi cổ phiếu sẽ cao hơn

Ví dụ, với mã chứng khoán CKn: Lợi nhuận ròng từ quý 3/2008 đến hết Quý 2/2009 của công ty là: 140 tỷ (VND) Tổng số cổ phiếu lưu hành của công ty đến thời điểm tháng 10/2009 là 35 triệu cổ phiếu và số cổ phiếu

Như vậy EPS = 140,000,000,000/35,000,000 = 4,000 (VND)

Giá chứng khoán CKn tại ngày 09/10/2009 là : 79,000 (VND)/cổ phiếu

- P (Market Price) là giá của cố phiếu trên thị trường

Lợi nhuận ròng - Cổ tức ưu đãi

Số lượng cổ phiếu phổ thôngEPS =

Giá hiện tại trên thị trường (P) Thu nhập trên một cổ phiếu (E)

PE =

Trang 24

- E là EPS (Earning Per Share) là thu nhập (lợi tức) của mỗi cổ phiếu

- G (Growth) là tốc độ tăng trưởng thu nhập cổ phiếu

Khi tính toán chỉ số PEG, người ta có thể sử dụng thu nhập của năm trước hoặc thu nhập dự kiến của năm tới, nhưng tốc độ tăng trưởng được sử dụng luôn là tốc độ tăng trưởng ước tính của năm tới, nó phụ thuộc vào dự đoán và chiến lược phát triển của công ty đó và các nhân tố khách quan khác, như điều kiện thị trường,

sự kỳ vọng của các nhà đầu tư

Ví dụ, giả sử một công ty có giá trị tài sản ghi nhận trên bảng cân đối kế toán

là 400 tỷ VND, tổng nợ 300 tỷ VND, như vậy giá trị ghi sổ của công ty là 100 tỷ Hiện tại công ty có 4 triệu cổ phiếu đang lưu hành, như vậy giá trị ghi sổ của mỗi cổ phiếu là 25.000 VND Nếu giá thị trường của cổ phiếu đang là 50.000 VND, thì P/B của cổ phiếu được tính như sau: P/B = 50.000/25.000 = 2

1.7.2.4 Chỉ số ROA ( Return On Assets)

ROA- Đây là một chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một công

ty so với tài sản của nó ROA sẽ cho ta biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời ROA được tính bằng cách chia thu nhập hàng năm cho tổng tài sản, thể hiện bằng con số phần trăm

Công thức tính:

Lãi ròng Tổng giá trị tài sản ROA =

Trang 25

Tỷ số này được tính ra bằng cách lấy lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận trước thuế) của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo (có thể là 1 tháng, 1 quý, nửa năm, hay một năm) chia cho bình quân tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp trong cùng kỳ

Số liệu về lợi nhuận ròng hoặc lợi nhuận trước thuế được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh Còn giá trị tài sản được lấy từ bảng cân đối kế toán

Tài sản của một công ty được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA ROA càng cao càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn Ví dụ, nếu công

ty A có thu nhập ròng là 1 triệu USD, tổng tài sản là 5 triệu USD, khi đó ROA là 20%,

1.7.2.5 Chỉ số ROE (Return On Equity)

Công thức tính:

Tỉ số này đánh giá mức sinh lời vốn chủ của doanh nghiệp, chỉ tiêu này càng cao thì vốn cổ đông của công ty càng được sử dụng hiệu quả và ngược lại

Nó thường được các chuyên gia chứng khoán khuyến khích nhà đầu tư phân tích để

so sánh với các cổ phiếu khác nhau trên thị trường Theo quan điểm của các chuyên gia chứng khoán, ROE là thước đo tốt nhất về năng lực của một công ty trong việc tối đa hóa lợi nhuận từ mỗi đồng vốn đầu tư Công ty đạt được ROE càng cao khả năng cạnh tranh càng mạnh Khi công ty chỉ đạt tỷ lệ ROE tương đương với lãi vay ngân hàng ở mức độ đánh giá tương đối, nhà đầu tư cần phải xem lại khả năng sinh lời của công ty, vì nếu công ty nào cũng chỉ sinh lời ở mức này thì sẽ không có công

ty nào đi vay ngân hàng, bởi lợi nhuận từ vốn vay chỉ đủ để trả lãi vay ngân hàng Tất nhiên, ở đây chỉ đặt trường hợp công ty chưa vay ngân hàng

Khi công ty đạt tỷ lệ ROE cao hơn lãi vay ngân hàng nhà đầu tư nên tìm hiểu xem công ty đã vay ngân hàng và khai thác hết lợi thế cạnh tranh trên thị trường chưa để có thể đánh giá công ty có tiềm năng tăng tỷ lệ này hay không Nếu mở rộng được thị phần cần thêm vốn, vốn này có thể vay và công ty có khả năng thu được thêm lợi nhuận sau khi trả lãi vay

Lãi ròng Vốn chủ sở hữuROE =

Trang 26

Ngoài ra, ROE cũng giúp nhà đầu tư đánh giá các công ty trong cùng ngành nghề để ra quyết định lựa chọn đầu tư Phương thức lựa chọn sẽ là công ty có tỷ lệ ROE cao, vì công ty đó có khả năng tăng lợi thế cạnh tranh

Khi xem xét chỉ số ROE, cần lưu ý đến một vài yếu tố như tuổi đời của công

ty hay loại hình kinh doanh của công ty đó Các công ty mới thành lập thường có ROE cao, bởi quyết định phân bổ vốn của công ty này thường đơn giản hơn Còn với các công ty lâu đời, đặc biệt là công ty hoạt động trong ngành có mức độ tập trung vốn cao như truyền thông, công nghệ thì tỷ lệ ROE thường thấp hơn, bởi họ tốn nhiều chi phí để tạo ra được một đồng doanh thu hay lợi nhuận

1.7.3 Đánh giá các chỉ số tài chính của các chuyên gia

- PE

Theo quan điểm của các chuyên gia, PE dưới 10 thì nên mua Nếu đang nắm giữ cổ phiếu có mức PE từ 10 đến 12 lần thì không nên bán và có thể mua tiếp PE nằm trong khoảng từ 12 đến 18 có thể mua được khi thị trường đang trong giai đoạn ổn định theo hướng tốt PE từ 18 trở lên xem xét bán cổ phiếu Tuy nhiên, với nhà đầu tư theo trường phái "tăng trưởng", PE có thể được chấp nhận cao hơn nếu tốc độ tăng lợi nhuận (E) cao

đủ vào giá trị cổ phiếu PEG lớn hơn 1 thì cổ phiếu đang bị đánh giá cao

- ROE

Thông thường, tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh trong quá trình huy động vốn,

mở rộng quy mô Cho nên, khi ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư Theo các chuyên gia tài chính chỉ số này lớn hơn 20% được coi là hợp lý

Trang 27

- ROA

Nếu chỉ số này lớn hơn 0, thì có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi Chỉ số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả Còn nếu chỉ số nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ

1.7.4 Các thông tin bên ngoài có thể ảnh hưởng và hỗ trợ việc ra quyết định đầu tư chứng khoán

- Tình hình biến động của nền kinh tế thế giới Thông thường, giá cổ phiếu có

xu hướng tăng khi nền kinh tế phát triển và có xu hướng giảm khi nền kinh tế yếu đi Bởi khi đó, khả năng về kinh doanh có triển vọng tốt đẹp, nguồn lực tài chính tăng lên, nhu cầu cho đầu tư lớn hơn nhiều so với nhu cầu tích luỹ và như vậy sẽ có nhiều người sẽ đầu tư vào cổ phiếu

- Ảnh hưởng biến động của nền kinh tế thế giới đến nền kinh tế Việt Nam: Để chống lại sự ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thế giới đến Việt Nam, chính phủ đã đưa ra các chính sách nhằm kích cầu để tránh lạm phát và giảm tỷ lệ thất nghiệp

- Ảnh hưởng của tỷ giá ngoại hối

- Quyết định mở rộng các ngành nghề của Công ty sở hữu mã cổ phiếu

- Quyết đầu tư thêm vốn của các Công ty sở hữu mã cổ phiếu

- Tình hình thị trường và thương hiệu của Công ty sở hữu mã cổ phiếu: Thương hiệu (brand): Đây được xem là một tài sản vô hình của công ty, những thương hiệu tên tuổi như P&G trị giá hằng triệu đôla Trên TTCKVN thì Kinh Đô là công ty đã đưa giá trị thương hiệu của mình vào trong giá cổ phiếu

- Những thay đổi chính sách của chính phủ: Nếu khoản thuế đánh vào thu nhập từ chứng khoán cao (hoặc tăng lên) sẽ làm cho số người đầu tư giảm xuống, từ

đó làm cho giá chứng khoán giảm

- Các chiến lược kinh tế vĩ mô của chính phủ Việt Nam nhằm phát triển ngành nghề kinh tế như công nghiệp nặng, khai khoáng

- Sự thay đổi về tỷ lệ lãi xuất ngân hàng: Lãi suất tăng làm tăng chi phí vay đối với doanh nghiệp Chi phí này được chuyển cho các cổ đông vì nó sẽ hạ thấp lợi nhuận

mà doanh nghiệp dùng để thanh toán cổ tức Hơn nữa, lãi suất tăng còn gây tổn hại cho triển vọng phát triển của doanh nghiệp vì nó khuyến khích doanh nghiệp giữ lại tiền nhàn rỗi, hơn là liều lĩnh dùng số tiền đó mở rộng sản xuất, kinh doanh Chính vì vậy,

Trang 28

lãi suất tăng sẽ dẫn đến giá cổ phiếu giảm Ngược lại, lãi suất giảm có tác động tốt cho doanh nghiệp vì chi phí vay giảm và giá cổ phiếu thường tăng lên Tuy nhiên, sự dao động của lãi suất không phải luôn được tiếp theo bởi sự phản ứng tương đương và trái ngược của giá cổ phiếu Chỉ khi nào lãi suất phản ánh xu hướng chủ đạo trong lạm phát, nó mới trở thành thước đo hiệu quả sự dao động của TTCK Lãi suất có xu hướng giảm khi lạm phát giảm và lạm phát giảm khiến giá cổ phiếu tăng cao hơn Ngược lại, lạm phát tăng cùng với lãi suất, giá cổ phiếu sẽ giảm Nhưng nếu lạm phát không phải

là một vấn đề nghiêm trọng và lãi suất tăng, đầu tư vào TTCK thường mang lại nhiều lãi Bởi vì trong trường hợp này, lãi suất tăng là do nền kinh tế tăng trưởng

- Ảnh hưởng của những nhà lãnh đạo công ty và nguồn lực con người: Nhân viên, các quản trị cấp cao, các chuyên gia của công ty được xem là những người đã tạo ra giá trị gia tăng cho công ty Điều đó đã được thực tế chứng minh qua thời gian

- Các khách hàng, nhà cung cấp chính và các dự án mà công ty đang thực hiện

- Tình hình tài chính của các đối thủ hợp nhất hoặc các công ty mới tham gia vào kinh doanh cùng ngành nghề

- Các tranh chấp cụ thể và có liên quan đền pháp luật, có sự can thiệp của toà án

- Những biến động về giá nguyên liệu thô như: nhiên liệu, khoáng sản

- Những biến động về chính trị, xã hội, quân sự: Đây là những yếu tố phi kinh

tế nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến giá cổ phiếu trên thị trường Nếu những yếu

tố này có khả năng ảnh hưởng tích cực tới tình hình kinh doanh của DN thì giá cổ phiếu của DN sẽ tăng lên

- Kỳ vọng của nhà đầu tư: TTCK là thị trường của những kỳ vọng Nhà đầu luôn mua chứng khoán bởi vì những kỳ vọng về mức lợi nhuận cao trong tương lai chứ không phải bởi vì những thành quả đã đạt được trong quá khứ của một công ty nào đó

Trang 29

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HỆ CHUYÊN GIA

2.1 Khái niệm về Hệ chuyên gia

Giáo sư Edward Feigenbaum của trường đại học STANFORD, một trong những chuyên gia đứng đầu nghiên cứu về Hệ chuyên gia đã định nghĩa Hệ chuyên gia như sau:

Hệ chuyên gia là một hệ thống chương trình máy tính chứa các thông tin, tri thức và các quá trình suy luận về một lĩnh vực cụ thể nào đó để giải quyết các vấn đề khó hoặc hóc búa đòi hỏi sự tinh thông đầy đủ của các chuyên gia con người đối với các giải pháp của họ Nói một cách khác Hệ chuyên gia là dựa trên tri thức của các chuyên gia con người giỏi nhất trong lĩnh vực quan tâm”

2.2 Cấu trúc Hệ chuyên gia

Chuyên gia

lĩnh vực sNgử dụng ười

Bộ thu nạp

tri thức người - máy Giao diện Bộ giải thích

Mô tơ suy diễn

Cơ sở tri thức

Bộ nhớ làm việc

Hình1: Cấu trúc hệ chuyên gia

Trang 30

2.2.1 Cơ sở tri thức

Cơ sở tri thức chứa các thông tin về lĩnh vực Tri thức chuyên gia về một lĩnh vực là sự kết hợp giữa kiến thức lý thuyết về vấn đề nào đó và một tập hợp các qui tắc giải quyết vấn đề theo kiểu heuristic, mà kinh nghiệm khi sử dụng những quy tắc này

tỏ ra hiệu quả trong lĩnh vực đó Mức độ hiệu quả của Hệ chuyên gia phụ thuộc vào kích thước và chất lượng của cơ sở tri thức mà hệ đó được, cơ sở tri thức của Hệ chuyên gia không thể tự nó sinh ra mà được tạo lập nhờ việc thu thập và biểu diễn tri thức của con người bằng những phương pháp biểu diễn tri thức khác nhau

Chức năng chủ yếu của bất kỳ phương pháp biểu diễn tri thức của Hệ chuyên gia cũng là nắm bắt được những đặc trưng chủ yếu nhất của lĩnh vực đang xét và làm cho các thông tin đó trở thành thao tác được đối với thủ tục giải quyết vấn đề Tuỳ theo mục đích ứng dụng của từng Hệ chuyên gia cụ thể mà ta có thể có những phương pháp biểu diễn tri thức khác nhau như:

- Phương pháp biểu diễn tri thức mô tả: Logic, mạng ngữ nghĩa, bộ ba liên hợp

- Phương pháp biểu diễn tri thức thủ tục: Luật dẫn

- Phương pháp biểu diễn tri thức hỗn hợp: Frame

Yêu cầu chung của các phương pháp biểu diễn tri thức là:

- Thích hợp để thể hiện tất cả những thông tin cần thiết

- Cung cấp khả năng thi hành hiệu quả của mã kết quả

- Cung cấp một hệ thống tự nhiên cho việc thể hiện những tri thức cần thiết

2.2.1 1 Biểu diễn tri thức nhờ logic

Logic là loại thể hiện tri thức cổ điển nhất trong máy tính Trong đó thường gặp nhất là logic mệnh đề và logic vị từ Cả hai kỹ thuật này đều dùng ký hiệu để biểu diễn tri thức và các toán từ áp lên các ký hiệu để suy luận logic

Các kỹ thuật logic cung cấp cho các nhà nghiên cứu một công cụ hình thức để thể hiện và suy luật tri thức

a) Logic mệnh đề:

Logic mệnh đề thể hiện và suy lý với các mệnh đề Mệnh đề là câu, nhận một

ía trị hoặc đúng hoặc sai Giá trị này gọi là trị chân lý của mệnh đề Logic mệnh đề gắn một biến ký hiệu cho mệnh đề, ví dụ A : “Ô tô sẽ khởi động” Các phép toán

Trang 31

logic mệnh đề như AND, OR, NOT, kéo theo và tương đương cho phép suy lý với các cấu trúc rất đa dạng

Logic mệnh đề cung cấp công cụ thu nhận các sự kiện và các luật theo dạng ký hiệu và dùng phép toán logic để thao tác trên các sự kiện và các luật Tiếp cận logic hình thức đảm bảo một phương pháp chính xác để quản lý các câu có giá trị đúng hay sai

Trong Logic mệnh đề, mỗi ký hiệu sơ cấp P, Q… biểu thị một mệnh đề Mỗi mệnh đề có thể chứa một thông tin phức tạp nào đó mà ta không có cách nào thâm nhập được Muốn làm điều đó, ta nên chuyển sang dạng logic vị từ

b) Logic vị từ:

Logic vị từ là sự mở rộng của Logic mệnh đề để thể hiện rõ hơn các tri thức Ví

dụ, thay vì dùng một mệnh đề P duy nhất để biểu diễn câu “Hôm Chủ nhật trời mưa”,

ta có thể tạo ra một vị từ thời tiết mô tả quan hệ này như sau: thời tiết (thứ ba, mưa)

Cũng như logic mệnh đề, logic vị từ sử dụng các ký hiệu để thể hiện tri thức Các ký hiệu này gồm hằng số, vị trí, biến và hàm, Logic vị từ cho phép thực hiện các phép toán logic mệnh đề trên các ký hiệu

Việc sử dụng logic vị từ cho phép biểu diễn hầu hết các khái niệm và các phát biểu định lý, định luật trong các bộ môn khoa học Cách biểu diễn này khá trực quan và có một cơ sở lý thuyết vững chắc cho những thủ tục suy diễn nhằm tìm kiếm và sản sinh ra những tri thức mới dựa trên các sự kiện và luật đã cho

Ưu điểm của các phương pháp logic:

− Biểu diễn logic là các ngôn ngữ biểu diễn tri thức kiểu mô tả

− Trực quan đối với người sử dụng

− Có thể kiểm tra tính mâu thuẫn trong cơ sở tri thức và có khả năng suy diễn với các cơ chế quen thuộc: Modus ponens và modus tollens

Nhược điểm:

− Ngữ nghĩa chương trình khó hiểu do có mức độ hình thức hoá cao

− Năng lực xử lý thấp, một trong những khó khăn cơ bản của quá trình suy diễn là cơ chế hợp và suy diễn vét cạn

- Không khai thác được triệt để cấu trúc dữ liệu

Do đó, nhiều bài toán đòi hỏi phải có công cụ biểu diễn logic bậc cao hơn

Trang 32

2.2.1.2 Biểu diễn tri thức nhờ mạng ngữ nghĩa

Mạng ngữ nghĩa là phương pháp thể hiện tri thức bằng cách dùng đồ thị gồm các nút và các cung; nút thể hiện đối tượng và cung thể hiện quan hệ giữa các đối tượng

Trong thực tế, các quan hệ R, giữa các đối tượng có thể có bản chất và nội dung khác nhau Có thể có hàng trăm quan hệ R, nhưng có hai loại đặc biệt là:

+ Quan hệ “A is B”, hay “A là B”, nghĩa là:

− Đối tượng A thuộc vào tập đối tượng được biểu diễn bởi khái niệm B, hoặc

− Tập các đối tượng được biểu diễn bởi khái niệm A là tập con của tập đối tượng được biểu diễn bởi khái niệm B

+ Quan hệ “A KIND OF” hay “A bao gồm” Đây là quan hệ ngược với quan hệ

“Là” Trong quan hệ này các thông tin cơ bản về đối tượng được cho bởi B sẽ truyền lại cho A Nghĩa là ta có một cơ chế lan truyền thông tin trên mạng ngữ nghĩa tuỳ thuộc vào các mối quan hệ Nhờ đó đạt được yêu cầu biểu diễn khối lượng tri thức và dữ liệu

Ưu điểm:

− Biểu diễn trực quan sự kiện và quan hệ giữa các sự kiện

− Là ngôn ngữ biểu diễn dạng mô tả

− Có tính module cao

− Có thể áp dụng một số cơ chế trên mạng

Nhược điểm:

− Không có một phương pháp suy diễn chung cho mọi loại ngữ nghĩa

− Khó kiểm soát quá trình cập nhật tri thức, dễ dẫn đến mâu thuẫn trong cơ

sở tri thức

2.2.1.3 Biểu diễn tri thức nhờ luật dẫn

Luật là cấu trúc tri thức dùng để liên kết thông tin đã biết với các thông tin khác; các thông tin này có thể được suy diễn để người ta hiểu biết thêm

Luật thuộc dạng tri thức thủ tục Nó gần thông tin đã cho với một vài hoạt động Các hoạt động này có thể là khẳng định về thông tin mới hay thủ tục sẽ được thực hiện Như vậy luật mô tả cách giải quyết vấn đề

Trang 33

Về mặt logic, cấu trúc luật kết nối một hay nhiều giả thiết, hay cái có trước trong câu IF, với một hay nhiều kết luận, hay là kết quả trong câu THEN Dạng biểu diễn tổng quát của các luật dẫn có dạng:

Ưu điểm:

Việc biểu diễn tri thức nhờ các luật có các ưu điểm sau:

- Trực quan, đơn giản, thuận tiện cho các phát biểu kiểu IF … THEN nên thích hợp cho việc mô tả các tình huống điển hình của chuyên gia, do đó thể hiện được cách giải quyết vấn đề phức tạp

− Cho phép thể hiện các tri thức không chắc chắn

− Có thể suy diễn theo chiến lược khác nhau: Suy diễn tiến, suy diễn lùi và suy diễn hỗn hợp

− Có thể kiểm tra tính mâu thuẫn giữa các luật

− Có tính module cao, do đó việc thêm_xóa_sửa_cập nhật các luật rất thuận tiện

Trang 34

Nhược điểm:

- Năng suất xử lý thấp, khó mô tả sâu về đối tượng của vấn đề

− Không sử dụng được các cấu trúc dữ liệu

2.2.1.4 Biểu diễn tri thức nhờ Frame

Khung Frame là cấu trúc dữ liệu để thể hiện tri thức đa dạng về khái nhiệm hay đối tượng nào đó

Khi một người vào một hoàn cảnh mới, họ tìm trong trí nhớ một cấu trúc gọi

là khung Đây là một khung được nhớ lại một cách thích nghi để phù hợp với thực tại bằng cách thay đổi các chi tiết cần thiết” (M.Minski_1975)

Mỗi khung riêng lẻ có thể được xem như là một cấu trúc dữ liệu, chứa các thông tin liên quan đến những thực thể rập khuôn Các rãnh (slot) trong khung chứa các thông tin như:

+ Thông tin nhận diện khung

+ Các quan hệ giữa khung này với khung khác

+ Các chi tiết mô tả yêu cầu dùng cho đối sánh khung

+ Thông tin thủ tục về cách sử dụng cấu trúc được mô tả

+ Thông tin mặc định của khung

+ Thông tin về thể hiện mới

Nhờ sức mạnh và tính tổng quát của nó, nên phương pháp biểu diễn tri thức bằng khung được coi là một phương pháp quan trọng trong Hệ chuyên gia

Frame là sự kết hợp của cả hai dạng biểu diễn: Mô tả và thủ tục

Nhược điểm:

− Khó sử dụng

− Kém trực quan

− Phức tạp hoá việc mô tả và điều khiển trong vấn đề phức tạp

2.2.1.5 Biển diễn tri thức nhờ bộ ba liên hợp đối tượng – thuộc tính – giá trị OAV

Biểu diễn tri thức bộ ba liên hợp là sử dụng bộ ba đối tượng – Thuộc tính – Giá trị

để chỉ ra rằng “Đối tượng” với “Thuộc tính’ đã cho nào đó có một “giá trị” nào đó

Ví dụ: Bộ ba (Sam, Tuổi, 5) cho biết “(Thuộc tính) Tuổi của (đối tượng) Sam là (giá trị) 5”

Trang 35

Đối tượng trong bộ ba liên hợp được chia làm hai loại: Đối tượng tĩnh và đối tượng động Các đối tượng tĩnh được lưu trong bộ nhớ ngoài và được nạp vào bộ nhớ trong khi cần xử lý Các đối tượng động được khởi tạo trong quá trình làm việc

và được lưu trong bộ nhớ trong phục vụ cho việc xử lý Các đối tượng có thể sắp xếp và liên kết lại với nhau giống như trong liên kết các Frame Tuy vậy, không thể biết một cách chính xác và tường minh bản chất của từng liên kết Do đó, người ta thường sử dụng bộ ba liên hợp để biểu diễn sự kiện không chắc chắn với một đại lượng “Độ chắc chắn” CF của đại lượng hay sự kiện nào đó

Ưu điểm

− Trực quan, tính module cao, cho phép diễn đạt tường minh các luật suy diễn

− Là ngôn ngữ biểu diễn mô tả

Nhược điểm

− Có các nhược điểm tương tự mạng ngữ nghĩa

− Không biểu diễn một cách tường minh các quan hệ, liên kết giữa các đối tượng

2.2.2 Mô t ơ suy diễn

Là bộ xử lý tri thức, mô hình hoá cách lập luận của chuyên gia Môtơ hoạt động dựa trên thông tin về vấn đề đang xét, so sánh với tri thức lưu trong cơ sở tri thức rồi rút ra kết luận hay bình luận

Hệ chuyên gia mô hình hoá quá trình suy diễn của con người trong khối môtơ suy diễn Môtơ suy diễn thực hiện quá trình khớp các sự kiện trong bộ nhớ làm việc với các tri thức về lĩnh vực trong cơ sở tri thức, để rút ra kết luận về vấn

đề

Môtơ suy diễn làm việc dựa trên các sự kiện trong bộ nhớ làm việc và tri thức về lĩnh vực trong cơ sở tri thức để rút ra thông tin mới, cần tìm các luật để khớp phần giả thiết của luật với thông tin có trong bộ nhớ Khi phát hiện thấy khớp, kết luận của luật này được xem là thông tin mới

Để giải một bài toán trong hệ thống Hệ chuyên gia, trước tiên cần thể hiện tri thức bằng các phương pháp như đã trình bày Sau đó cần tạo ra các hệ thống suy diễn dựa trên tri thức Trong Hệ Chuyên Gia, việc suy diễn được thực hiện thông qua các kỹ thuật suy diễn và các chiến lược điều khiển Các kỹ thuật suy diễn hướng dẫn hệ thống theo cách tổng hợp tri thức từ tri thức đã có trong cơ sở tri thức và từ

Trang 36

các sự kiện ghi lại trong bộ nhớ Các chiến lược điều khiển thiết lập đích đến và hướng dẫn hệ thống suy diễn Cả hai thành phần này được tích hợp trong một module gọi là mô tơ suy diễn

Trạng thái ban đầu của bài toán cần giải quyết là ngữ cảnh với các sự kiện

mà Hệ chuyên gia được cung cấp Chức năng của hệ là dựa vào hệ luật dẫn đã được cung cấp, nó phải thực hiện một tiến trình suy diễn, theo một chiến lược nào đó để đạt đến trạng thái cuối cùng của bài toán, tức là đạt được ngữ cảnh mới với các sự kiện mới mà người sử dụng quan tâm

Cũng giống như các Hệ chuyên gia khác Hệ hỗ trợ quyết định đầu tư chứng khoán có thể sử dụng hai chiến lược suy diễn cơ bản được trong việc xây dựng dựa trên cơ sở tri thức luật dẫn là suy diễn tiến và suy diễn lùi

2.2.2 1 Suy diễn tiến (Forward Chaining)

Là phép tìm kiếm thông tin mới theo hướng mũi tên của luật dẫn, nghĩa là từ tập hợp các sự kiện suy diễn dần từ những cái đã biết để đạt được một kết luận nào

đó, thể hiện cái được tìm ra

Suy diễn tiến là chiến lược bắt đầu bằng tập sự kiện đã biết, rút ra các sự kiện mới nhờ dùng các luật mà phần giả thiết khớp với sự kiện đã biết, và cứ tiếp tục quá trình này cho đến khi thấy trạng thái đích, hoặc cho đến khi không còn luật nào khớp được các sự kiện đã biết hay sự kiện mới thu thập trong quá trình suy diễn Suy diễn tiến còn được gọi là suy diễn hướng dữ liệu

Phương pháp này cho phép từ một số thông tin ban đầu đã biết, tìm ra tất cả ác thông tin có thể suy diễn được, bất kể thông tin đó có cần thiết hay có ý nghĩa gì đối với người sử dụng hay không? Phương pháp suy diễn này phù hợp với các bài toán lập

kế hoạch, điều hành…

- Mô tả hoạt động:

a, Tìm trong hệ luật dẫn một luật chưa mở, có phần giả thiết phù hợp với các sự kiện đã biết Luật chưa mở là luật dẫn chưa từng được sử dụng trong quá trình suy diễn

b, Mở luật vừa tìm được và bổ xung các sự kiện ở phần kết luận của nó vào danh sách các sự kiện đã biết

Trang 37

c, Quay lại bước a Quá trình suy diễn sẽ dừng khi tìm ra kết luận cần thiết hoặc khi không còn luật chưa mở nào được tìm thấy trong bước a

- Cấu trúc dữ liệu của quá trình suy diễn tiến:

a, Danh sách biến mệnh đề: Danh sách chứa tất cả các sự kiện phần giả thiết

của các luật dẫn trong hệ luật dẫn Nó được dùng để tìm ra và “nghiệm” lại giả thiết của một luật khi ta muốn mở lại luật đó

b, Danh sách biến: Danh sách các sự kiện xuất hiện ở phần giả thiết của các

luật Trong danh sách này, mỗi biến chỉ xuất hiện một lần duy nhất, và có 3 dữ liệu để theo dõi nó: tên biến, tình trạng của biến (đã hoặc chưa biết), giá trị của biến nếu nó đã được biết

c, Hàng đợi kết luận: Cấu trúc dữ liệu này dùng trong quá trình suy diễn tiến

để chứa các sự kiện đã được kết luận Sự kiện ở vế phải của luật sẽ được đưa vào hàng đợi khi luật tương ứng với nó được mở, sau đó, nó sẽ được dùng để tìm những luật có phần giả thiết liên quan tới sự kiện đó, và khi không còn luật nào như vậy thì

nó được loại khỏi hàng đợi

d, Con trỏ biến mệnh đề: Dùng để theo dõi các quá trình duyệt qua các luật và các

biến mệnh đề ở vế trái của luật đó Con trỏ biến mệnh đề gồm hai thành phần là số hiệu luật đang xét và số thứ tự của biến mệnh đề đang xét trong phần giả thiết của luật đang xét

- Giải thuật suy diễn tiến:

Bước1 : Khởi tạo các giá trị

- DS_biến_mệnh_đề: Duyệt về trái của tất cả các luật, xác định tên các biến mệnh đề và đưa vào DS_biến_mệnh_đề

- DS_biến: Từ DS_biến_mệnh_đề chọn những biến mệnh đề không có trong phần kết luận của bất kỳ kết luận nào để đưa vào DS_biến (mỗi biến mệnh đề chỉ xuất hiện một lần) Khởi tạo trạng thái cho những biến mệnh đề này là NI(chưa biết)

- HĐ_kết_luận:= Rỗng

- Contrỏ_biến_mệnhđề:= Null ( chưa xét kết luận nào)

Bước 2: Nhận giả thiết

- Nhận các giá trị của giả thiết ban đầu

- Đưa các tên biến mệnh đề của các giả thiết ban đầu vào HĐ_kết_luận

- Cập nhật giá trị của chúng trong DS_biến và ghi trạng thái là 1

Trang 38

Bước 3: Suy diễn

3.1 Current:= Phần tử đầu HĐ_kết_luận

3.2 Duyệt DS_biến_mệnhđề tìm phần tử bằng Current

3.2.1 Nếu không tìm thấy:

- Huỷ Current khỏi HĐ_kết_luận

- Nếu HĐ_kết_luận <> Rỗng quay lại bước 3.1 ngược lại dừng chuơng trình 3.2.2 Nếu tìm thấy:

- Đưa số hiệu luật tương ứng vào Contrỏ_biến_mệnh_đề và gán số thứ tự ưu biến mệnh đề đang xét là 1

- Kiểm tra lần lượt giá trị các mệnh đề ở vế trái của luật có số hiêu trong Contrỏ_ biến_mệnhđề Nếu có mệnh đề chưa biết: Hỏi giá trị và cập nhật DS_biến_mệnh_đề

- Khi đã biết tất cả các mệnh đề ở vế trái, và nếu chúng đều thoả: mở luật và đưa biến mệnh để ở vế phải của luật vào cuối hàng đợi

- Quay lại bước 3.2 để tiếp tục duyệt

2.2.2.2 Suy diễn lùi (Backward Chaining)

Suy diễn lùi là chiến lược suy diễn để chứng minh một giả thiết bằng cách thu thập thông tin hỗ trợ Suy diễn lùi còn được gọi là suy diễn hướng đích

Chiến lược suy diễn lùi được dùng để tìm thông tin ngược chiều lại mũi tên của các luật dẫn Nói cách khác, cho phép ta tìm ra các nguyên nhân của một kết luận, mong muốn, phỏng đoán, nào đó đã được định trước, xác định cho ta biết đâu là các sự kiện cần phải có để có thể đi đến kết luận đó Đây là cơ chế suy diễn rất phù hợp cho các vấn đề chẩn đoán, tìm lỗi, ra quyết định

- Mô tả hoạt động:

a, Tìm luật có vế phải (kết luận) phù hợp với mục tiêu

b, Xét vế trái (điều kiện) của luật đó để xem, với ngữ cảnh hiện tại, cần thêm điều kiện gì thì luật sẽ được mở

c, Nếu các điều kiện cần thêm này là các sự kiện “nguyên thuỷ”, nghĩa là nó không nằm trong phần kết luận của một luật nào đó, thì phải hỏi người sử dụng, và bổ sung câu trả lời vào ngữ cảnh Ngược lại, xem đó như một mục tiêu mới, và quay về bước a

d, Nếu tất cả các điều kiện của luật đều thoả mẫn thí kết luận về mục tiêu đang xét Quá trình suy diễn dừng khi không còn mục tiêu nào cần xác định

Trang 39

- Các cấu trúc dữ liệu trong suy diễn lùi:

a, Danh sách kết luận: Là danh sách chứa tất cả các kết luận có thể đưa ra

qua quá trình suy diễn Nó bao gồm các mệnh đề có xuất hiện ở vế phải của các luật dẫn, nghĩa là các mệnh đề mà ta có thể suy ra được trong quá trình suy diễn Mỗi phần tử trong danh sách sẽ bao gồm: số hiệu của luật và kết luận của luật đó

b, Danh sách mệnh đề: Danh sách chứa tất cả các sự kiện phần giả thiết của

các luật dẫn trong hệ luật dẫn Nó được dùng để tìm ra và “nghiệm” lại giả thiết của một luật khi ta muốn mở lại luật đó

c, Danh sách biến: Danh sách các sự kiện xuất hiện ở phần giả thiết của các luật

Trong danh sách này, mỗi biến chỉ xuất hiện một lần duy nhất, và có 3 dữ liệu để theo dõi nó: tên biến, tình trạng của biến (đã hoặc chưa biết), giá trị của biến nếu nó đã được biết

d, Ngăn xếp kết luận: Dùng theo dõi mục tiêu của bài toán và các mục tiêu

nảy sinh trong quá trình suy diễn Ở mỗi thời điểm, phần tử ở đầu ngăn xếp là kết luận mà quá trình suy diễn đang phải tìm ra nguyên nhân cho nó Mỗi phần tử của ngăn xếp gồm 2 thành phần: số hiệu của luật và biền mệnh đề ở vế bên phải của nó

- Giải thuật suy diễn lùi:

Bước 1: Xác định mục tiêu: một kết luận hay phỏng đoán nào đó

Bước 2: Duyệt danh sách kết luận để tìm ra luật có vế phải phù hợp với mục tiêu

Nếu tìm thấy, đặt số hiệu luật và vế phải của nó vào ngăn xếp kết luận Ngược lại: Thông báo không tìm thấy và kết thúc

Bước 3: Xét mỗi mệnh đề ở vế trái của luật ở đầu ngăn xếp kết luận

3.1 Nếu có biến mệnh đề nào thuộc danh sách kết luận thì đưa số hiệu luật có

về phải trùng với biến kết luận này vào đỉnh ngăn xếp kết luận và quay lại bước 3 3.2 Nếu biến không thuộc danh sách kết luận và chưa được biết thì yêu cầu nhập giá trị cho biến

Bước 4: Kiểm tra giả thiết của luật ở đầu ngăn xếp kết luận

4.1 Nếu phần giả thiết của luật không thoả:

- Tìm luật tiếp theo có vế phải trùng với biến kết luận ở đỉnh ngăn xếp kết luận Nếu tìm thấy, thay số hiệu của luật này vào đỉnh ngăn xếp kết luận và quay bước 3 Ngược lại, xoá phần tử ở đỉnh ngăn xếp kết luận

Trang 40

- Nếu ngăn xếp kết luận = Rỗng thì thông báo không tìm thấy kết quả

Ngược lại, quay lại bước 4

4.2 Nếu phần giả thiết của luật thoả mãn:

-Xoá luật khỏi đầu ngăn xếp kết luận

- Nếu ngăn xếp kết luận = Rỗng thì suy ra được kết quả

Ngược lại quay lại bước 3

2.2.2.3 Kỹ thuật cài đặt các chiến lược suy diễn

Để đảm bảo khả năng quay về vị trị xuất phát của quá trình suy diễn, ta phải

có cấu trúc lưu lại mà quá trình suy diễn đi qua, ta sử dụng cấu trúc VET

Ngoài ra để đảm bảo về khả năng giải thích công việc đang tiến hành, ta sử dụng thêm cấu trúc Goal làm nhiệm vụ cung cấp tuần tự cho quá trình suy diễn những công việc cần làm và đang làm ở thời điểm hiện tại

Do tính chất làm việc tuần tự nên hai cấu trúc VET và Goal được cài đặt ở dạng danh sách Stack

2.2.2.4 Chiến lược điều khiển

Chức năng chung của cơ chế điều khiển là đưa ra cách chọn luật trong tập luận để

áp dụng trong trường hợp có nhiều hơn một luật thoả mãn Các nhiệm vụ cụ thể bao gồm:

• Chọn hướng suy diễn cho bài toán theo một quy tắc hay chiến lược heuristic nào

đó

• Điều khiển quá trình tìm kiếm thông qua cấu trúc và thứ tự luật trong tập luật

• Giải quyết vấn đề cạnh tranh khi gặp một số luật có đặc tính, vai trò tương tự nhau Một số chiến lược giải quyết tranh chấp có thể áp dụng là:

- Khúc xạ (refraction), quy định rằng khi một luật được khởi chạy, nó không thể chạy lại trước khi các phần tử trong bộ nhớ làm việc phù hợp với các điều kiệm của nó được cải biến lại Chiến lược này cho phép ngăn ngừa vòng lặp

- Sự mới xảy ra (Recency), chọn những luật có điều kiện phù hợp với các mẫu vừa mới bổ sung vào bộ nhớ làm việc Chiến lược này tập trung việc tìm kiếm vào một dòng suy luận duy nhất

- Tính đặc trưng (Specificty), quy định rằng một luật đặc trưng sẽ được ưa thích hơn luật tổng quan Một luật có tính đặc trưng hơn nếu nó có nhiều điều kiện hơn, nghĩa là nó sẽ đối sánh với số mẫu ít hơn trong bộ nhớ làm việc

Ngày đăng: 25/02/2021, 16:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[5]. Fosback, Norman G. Stock Market Logic. Dearborn Financial Publishing, Inc., 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stock Market Logic
[6]. Murphy John. Intermarket Analysis. Wiley Trading, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intermarket Analysis
[7]. Zweig, M. Winning of Wall Street. 1986, 1997, Warner Books Sách, tạp chí
Tiêu đề: Winning of Wall Street
[3]. Hỏi và đáp về Thị trường chứng khoán - Cẩm nang tư vấn, TS. Đặng Quang Gia chủ biên, Nhà xuất bản thống kê., 2007 Khác
[4]. Arnold, Curtis M. Timing The Market. Weiss Research, Inc., 1993 Khác
[8]. Systems Engineering and Analysic, Bẹnamin S. Blanchard – Wolter J.Fabrycky Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w