1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề án lạm phát trong nền kinh tế thị trường

43 346 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề án Lạm phát Trong Nền Kinh tế Thị trường
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Đề án
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 261,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẺ ÁN LÝ THUYẾT TẢĨ CHÍNH TĨẺN TẺĐÊ TÀI : LẠM PHÁT TRONG NÊN KINH TÉ THỊ TRƯỜNGA. Lời mờ đầu .Trong lịch sử và hiện tại, lạm phát luôn là một vấn đề nóng bỏng với từngnước dù nước đó là một nước có nền kinh tế phát triển hay một nước cónền kinh tế kém phát triển, nó luôn tồn tại song song với nền kinh tế thịtrường và được xem như là một vấn đề lớn đối với tất cả các nước ,khi tồntại nó trong nền kinh tế nó ảnh hưởng rất lớn đến tất cả các mặt của mộtnên kinh tế như sự ổn định của một nền kinh tế các vấn đề khác như tăngtrưởng , thất nghiệp ổn định chính trị xã hội..............và đã có rất nhiều hậu quảxấu do lạm phát gây ra . Trong lịch sư đã chứng kiến những “cơn” lạmphát ,tiêu biểu như siêu lạm phát ở Đức ( 1921-1923 ) các nước mỹ la tinh(1980-1990 ) siêu lạm phát ở việt nam cuối thập kỉ 80 .. .Những hậu quả màlạm phát cao gây ra cho nền kinh tế các nước đã chịu là rất to lớn nên chínhphủ các nước luôn luôn tìm mọi cách để khống chế lạm phát ở mức có thểkiểm soát được .Các nhà kinh tế học các nhà kinh tế học đã tìm rất nhiềuchứng cứ biện pháp, giải pháp đê luận giải và kiểm soát lạm phát ở mức cóthể để giữ cho nền kinh tế ổn định và có thể phát triến .Và việc kiểm soátlạm phát như thế nào là vấn đề hàng đầu trong các cuộc tranh luận về chínhsách kinh tế .

Trang 1

trưởng , thất nghiệp ổn định chính trị xã hội và đã có rất nhiều hậu quảxấu do lạm phát gây ra Trong lịch sư đã chứng kiến những “cơn” lạmphát ,tiêu biểu như siêu lạm phát ở Đức ( 1921-1923 ) các nước mỹ la tinh(1980-1990 ) siêu lạm phát ở việt nam cuối thập kỉ 80 .Những hậu quả màlạm phát cao gây ra cho nền kinh tế các nước đã chịu là rất to lớn nên chínhphủ các nước luôn luôn tìm mọi cách để khống chế lạm phát ở mức có thểkiểm soát được Các nhà kinh tế học các nhà kinh tế học đã tìm rất nhiềuchứng cứ biện pháp, giải pháp đê luận giải và kiểm soát lạm phát ở mức cóthể để giữ cho nền kinh tế ổn định và có thể phát triến Và việc kiểm soátlạm phát như thế nào là vấn đề hàng đầu trong các cuộc tranh luận về chínhsách kinh tế

Vì vậy việc nghiên cứu về lạm phát luôn luôn được quan tâm hàng đầutrong nền kinh tế thị trường để cho nó phù hợp với từng giai đoạn pháttriển của nền kinh tế

Trang 2

Trong đề án này chúng ta sẽ nghiên cứu về vấn đề lạm phát thực chất nónhư thế nào khi xãy ra trong nền kinh tế thì nó sẽ diễn biến trong nền kinh

tế với hình thái ra sao nó sẽ tác động đến những gì trong nền kinh tế vàđiều đặc biệt quan trọng là khi tồn tại nó trong nền kinh tế thị trường thì donhững nguyên nhân gì và từ đó chúng ta sẽ có những giải pháp đế khắcphục tình trạng đó và dự đoán cũng như có những dự trù trước cho nhữngchính sách về các lĩnh vực trong nền kinh tế trong tương lai và chúng ta sẽnghiên cứu về những cuộc lạm phát đã điễn ra trong quá khứ Nhữngnguyên nhân , hậu quả và những gì đã làm của các nước đế đối phó với nó Đồng thời sẽ có những định hướng riêng cho từng nền kinh tế cho từngnước

Với đề án này nhằm giúp cho người đọc có thể hiểu một cách tổng quan

về vấn đề lạm phát bản chất,nguyên nhân và hậu quả và rõ hơn về thực tếlạm phát tại việt nam qua các giai đoạn và có thể định hướng về mức lạmphát trong tương lai

B Phần hai: Nôi dung của đề án

I Cơ sở thuyết :

1 lạm phát là gì ? Mọi hàng hóa trên thị trường đều có giá cả của nó ,giá của hàng hóa được đo bằng lượng tiền phải bỏ ra để trao đổi Người tagọi một cuốn sách có giá 20000 VND vì nếu muốn sở hửu cuốn sách đóphải bỏ ra 20000 VND để trao đối Neu cũng cuốn sách đó vào thời điểmhiện tại có giá 20000 VND nhưng vào đúng ngày này năm sau nó có giá lênđến 25000 VND người ta gọi một cách dân dã đó là sách đã lên giá Đây làđối với một hàng hóa cá biệt nhưng nếu giá cả của tất cả các loại hàng hóakhác trên thị trường ( có thể là ở những tỷ lệ khác nhau ) chứ không riêng

Trang 3

đối với sách , thì người ta gọi hiện tượng đó là lạm phát giá cả ,hay nói cách

khác là nền kinh tế đang trong tình trạng lạm phát giá cả như vậy ta có thể

hiểu lạm phát là tình trạng giá cả của tất cả các mặthàng tăng lên so với

một thời điểm bất kì trước đó Tiền có giá cả ,giá

cả của tiền là số lượng

đơn vị hàng hóa mà mỗi đơn vị tiền có thế trao đối được Neu gọi giá cả của

hàng hóa là p,thì giá cả của một đơn vị tiền tệ sẽ bằng : 1 / p , như vậy các

hàng hóa dùng đơn vị tiền tệ để đo lường giá cả , thìtiền tệ, ngược lại sử

dụng các đơn vị hàng hóa để đo lường giá cả của chính

20/1923 1 cốc nước ngọt như vậy có giá là 192 triệu

DM như vậy ngày

Trang 4

tháng 1/1922 giá cả của 1 DM là l/p =1/1 hàng hóa (cốc nước ngọt ) và

tháng 10/1923 giá của một DM là 1/192000000 (cốc nướcngọt ) Gía trị

của DM hay sức trao đổi thành nước ngọt giảm xuống một cách khủng

khiếp trong vòng 22 tháng Như vậy có thể hiểu một cách khái quát rằng :

lạm phát là sự giảm giá trị hay sức trao đổi thành hàng hóa khác của tiền

Vậy đế làm rõ hơn thực chất lạm phát là gì ? Trong lịch sử đã có rất nhiều

quan điểm về thực chất lạm phát là gì ,đế có được cáinhìn toàn diện hơn về

lạm phát ta xem xét một số quan điểm sau :

Trang 5

- cho quan điểm này là Mac, Ồng quan niệm ràng lạm phát là do nhà nước tư

bản tạo ra đế nhằm bóc lột giai cấp công nhân ,lạm phát hoàn toàn mang

tính chất chính trị , như vậy theo ông muốn loại bỏ hoàn toàn lạm phát thì

phải tiêu diệt nhà nước tư bản vì chính nhà nước tư bản là gốc rể sinh ra

lạm phát nhưng trên thực tế lại cho thấy lại hoàn toàn khác ở các nước

CNXH cũ thì lạm phát vẫn tồn tại như các nước đông Âu,Liên xô cũ ,việt

nam do vậy có thể chắc chắn mà khắng định rằng lạmphát không mang

tính chích trị mà lạm phát là một hiện tượng kinh

xét lạm phát dưới góc độ là một hiện tượng kinh tế

- Quan điểm của phái tiền tệ (Milton Friedman): thứ nhất chúng tahãy nhìn kết quả của việc cung tiền tệ tăng lên và kéo dài, khi sử dụng cáchphân tích của phái tiền tệ ( Hình 1 ) :ban đầu nền kinh tế ở điểm cắt nhaucủa AD1 và AS1 với sản phẩm ở tại mức tỷ lệ tụ’ nhiên và mức giá cả tạiP1 Neu cung tiền tệ tăng lên đều đặn và dần dần trong suốt cả năm thìđường tổng cầu di chuyển dần dần sang phải đến AD2 .Trước tiên trongmột thời gian rất ngắn ,nền kinh tế có thể chuyển động đến điểm 1 ’ và sảnphẩm có thể tăng lên trên mức tỷ lệ tự nhiên đến Y\nhưng kết quả giảmthất nghiệp xuống dưới mức tỷ lệ tự nhiên sẽ làm cho lương tăng lên vàđường tổng cung sẽ nhanh chóng di chuyển vào ,nó sẽ dừng di chuyến khinào đạt đến AS2, tại thời điểm đó nền kinh tế quay trở lại mức tự nhiên củasản phẩm trên đường tổng cung dài hạn , ở điểm cân bằng mới ,điểm 2 mứcgiá tăng từ P1 lên P2

Trang 6

Neu năm sau đó cung tiền tệ tăng lên ,đường tổng cầu sẽ lai di chuyển đếnAD3 và đường tổng cung sẽ di chuyển vào tư AS2 đến AS3 nền kinh tế sẽ

Trang 7

chuyển động sang điểm 2’và sau đó sang 3 ,tại đây mức giá cả tăng đếnP3 Neu cung tiền tệ tiếp tục trong những năm tiếp theo ,thì nền kinh tế sẽtiếp tục chuyển động đến mức giá càng cao hơn nữa Khi mà cung tiền tệcòn tăng thì quá trình này sẽ tiếp tục và lạm phát sẽ xãy ra.

Các nhà tiền tệ có tin rằng một mức giá cả tăng kéo dài có thể do bất kìnguyên nhân nào khác ngoài việc tăng cung tiền tệ gây nên không ? Câu trảlời là “không” Trong cách phân tích của phái tiền tệ cung tiền tệ được coi

là nguyên nhân duy nhất làm di chuyến đường tống cầu ,do vậy không cócái gì nữa có thể làm cho nền kinh tế chuyển từ điểm 1 sang 2 ,3 và xa hơnnữa Cách phân tích của phái tiền tệ chỉ ra rằng lạm phát nhanh có thể do sựtăng cao của cung tiền tệ thúc đẩy

Quan điểm của phái Keynes : cách phân tích của phái Keynes chỉ

ra rằng cung tiền tệ tăng kéo dài sẽ có ảnh hưởng sẽ có ảnh hưởng như nhau

AS4

Trang 8

đối với đường tổng cầu và đường tống cung mà chúng ta thấy trong hình 1;đường tổng cầu sẽ dichuyển sang phải và đường tổng cung sẽ di chuyểnvào ,giống như kết luận của phái tiền tệ việc tăng nhanh cung tiền tệ sẽ làmcho mức giá tăng kéo dài với tỷ lệ cao ,do vậy gây nên lạm phát.

Chính sách tài chính tự nó có thể gây nên lạm phát không ? đế xem xét vấn

đề này chúng ta hãy xem hình 2 (minh họa ảnh hưởng của việc tăng thườngxuyên từng đợt chi tiêu của chính phủ- chẳng hạn như từ 500 tỷ VND lên

600 tỷ VND) đối với tổng sản phẩm và mức giá cả Lúc đầu chúng ta đang

ở điểm l,tại đó sản phẩm ở mức tự nhiên và mức giá cả Pl Tăng lên trongchi tiêu của chính phủ di chuyển đường tổng cầu ra đến AD2 và chúng tachúng ta chuyển đến điểm 1’ tại đó sản phẩm ở trên mức tự nhiên tạiY1 .Đường tổng cung sẽ bắt đầu di chuyển vào ,cuối cùng đạt đến điểmAS2 tại đó nó cắt đường tổng cầu AD2 tại điểm 2 ở đó sản phẩm lại ở mức

tự nhiên và mức giá tăng lên đến P2

V) ,nhưng cuối cùng chúng ta đến điểm 2 thì tỷ lệ lạm phát quay trở lại

Trang 9

bàng không Nên ta có thể thấy rằng việc tăng một đợt trong chi tiêu của

chính phủ chỉ đưa đến một đợt gia tăng tạm thời của lạm phát chứ không

phải một mức lạm phát mà trong đó mức giá cả tăng kéo dài

Tuy nhiên nếu chi tiêu của chính phủ gia tăng kéo dài thì chúng ta sẽ có mộtmức lạm phát tăng kéo dài ,nhưng việc tăng chi tiêu kéo dài không phải làmột việc có thể dễ dàng thực hiện được vì có giới hạn của ngân sách chínhphủ Tuy nhiên điều này cho chúng ta thấy rằng có thể bác bỏ quan điểmcủa Friedman là lạm phát lúc nào cũng là kết quả của sự tăng trưởng tiền tệ

Tóm tắt : Việc phân tích tổng cung và tổng cầu của chúng ta cho thấy

rằng các quan điểm của các trường phái Keynes và trường phái tiền tệ vềquá trình lạm phát không khác nhau lắm , cả hai đều tin rằng lạm phát cao

có thể xảy ra chỉ với một tỷ lệ tiền tệ tăng trưởng cao Thừa nhận rằng lạmphát có nghĩa là một sự tăng kéo dài của mức giá cả với tỷ lệ nhanh ,đại đa

số các nhà kinh tế đều tán thành với Milton Friedman rằng :”Lạm phát baogiờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ”

Quan điếm của các nhà kinh tế học tân cố điển (P.Samelson): lạmphát chính là sự tăng lên của giá bánh mỳ ,giá ô tô tăng, chi phí sản xuấttăng tất cả các thứ này cho chúng ta biết rằng lạm phát chính là sự gia tăngcủa mặt bằng giá cả của tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế “Đọc cuốnKinh tế học của Paul A Samuelson và W.D Nordhaus thì chúng ta sẽ bắtgặp khái niệm “lạm phát giá cả” và những luận giải của ông về quan điểmcủa mình

Sau khi đã tìm hiều các quan điểm của các nhà kinh tế học ,cáctrường phái kinh tế chúng ta có thể hiểu được thế nào là lạm phát và bản

Trang 10

chất kinh tế của lạm phát một cách tương đối đầy đủ Như theoR.Jackman.C.Muley và J.Trevithich thì “Lạm phát có thể được định nghĩađúng nhất là xu hướng duy trì mức giá chung cao” Hoặc “lạm phát là mộtquá trình tăng giá liên tục ,tức là mức giá chung tăng lên hoặc là quá trìnhđồng tiền liên tục giảm giá “

b Phân loại lạm phát : Ta có thể phân loại lạm phát về theo mặt

định tính hoặc định lượng về mặt định tính chúng ta sẽ chia lạm phátthành : lạm phát thuần túy ,lạm phát cân bằng và lạm phát không cânbằng nhưng trong thực tế chúng ta thường hay sử dụng đó là cách phânloại lạm phát trên mặt định lượng là chủ yếu .Chúng ta sẽ tiếp cận lạmphát trên mặt định lượng

Dựa trên độ lớn nhỏ của tỉ lệ % lạm phát tính trên năm người ta chia lạmphát tính trên năm ,người ta chia lạm phát làm các loại :

lạm phát một chữ số (lạm phát vùa phải): đây là loại lạm phát nhỏ hơn 10%một năm ,nếu nền kinh tế đang trong tình trạng lạm phát ở mức này thì cóthê nói đây là một nên kinh tê khá ôn định ơ mức lạm phát này khôngnhững nó không ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế mà nó còn ảnh hưởng mộtcách tích cực nhiều hơn ,nó đảm bảo công ăn việc làm ,duy trì lực lượng laođộng và tình trạng thất nghiệp , kích thích các doanh nghiệp sản xuất vớimức sản lượng lớn hơn Đối với loại này thì tuỳ theo chiến lược và chiếnthuật phát triển kinh tế mỗi thời kỳ mà các Chính phủ có thể chủ động địnhhướng mức khống chế trên cơ sở duy trì một tỷ lệ lạm phát là bao nhiêu đểgắn với một số mục tiêu kinh tế khác: Kích thích tăng trưởng kinh tế, tăngcường xuất khẩu và giảm tỷ lệ thất nghiệp trong các năm tài khoá nhất định

Trang 11

Lạm phát hai chữ số (lạm phát phi mã ) : khi giá cả bắt đầu tăng đến hai chữ

số mỗi năm , Đây là tỷ lệ lạm phát vượt ra ngoài khả năng kiểm soát củaNHTW thì lạm phát sẽ trở thành kẻ thù của sản xuất và thu nhập thực tế ,nó

sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ và để lại những hậu quả xấu cho nền kinh tế nhưthất nghiệp,phân phối thu nhập , tệ nạn với sản lượng của nền kinh tế ,tới nợnước ngoài .v v nó sẽ trở thành nỗi lo ngại đối với các nền kinh tế

Siêu lạm phát (lạm phát trên 100%) :Trong lịch sử đã chứng kiến nhiều

“cơn “lạm phát ở rất nhiều nước lên tới trên ba chữ số như lạm phát ởBolivia năm 1985 đến 11000 %/năm, đó là tình trạng vào 1/1/1985 nếu mộtchiếc bánh ngọt có giá bằng 1 đồng Bolivia ,thì đến 1/1/1986 (sau một năm )

nó có giá là 111 đồng (hay tăng lên gấp 111 lần ) và điển hình nhất là siêulạm phát ở Đức (1922-1923) kể từ tháng 11/1922 đến tháng 11/1923 giá cảhàng hóa bình quân ở Đức tăng 1500 tỷ lần so với mức trước năm

1914 ,điều đó tương đương với việc mua một con tem vào năm 1914 có giá

là 29 xen MỸ thì đến năm 1923 con tem ấy có giá là 435 USD Rồi siêulạm phát ở việt nam vào những năm 80 của thế kỉ trước lên tới hơn 700%

và hậu quả nó gây ra cho các nền kinh tế là rất to lớn

c Đo lường lạm phát : Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi

sự thay đổi trong giá cả của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trongmột nền kinh tế , Các giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tố hợpvới nhau để đưa ra một chỉ số giá cả để đo mức giá cả trung bình, là mứcgiá trung bình của một tập hợp các sản phẩm Tý lệ lạm phát là tỷ lệ phầntrăm mức tăng của chỉ số này ,

Điều này được thể hiện qua công thức sau : Lt = ( Pt-Pt-1 ) / Pt-1

Trong đó : Lt - tỷ lệ lạm phát giai đoạn t

Trang 12

t - là giai đoạn tính lạm phát

Pt - là tồng giá cả giai đoạn tPt-1 -là tổng giá cả giai đoạn t-1

(t-1 và t là hai giai đoạn kế tiếp nhau )

Trên thực tế không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát

vì giá trị của chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗihàng hóa trong chỉ số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà

nó được thực hiện Các phép đo phổ biến của chỉ số lạm phát bao gồm :Trong thực tế đa số ở các nước trên thế giới người ta thường sử dụng hai chỉ

số chủ yếu :đó chính là chỉ số giá tiêu dùng và hệ số điều chỉnh GDP :

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là chỉ số quan trọng mà một số nước thường lấy

để đo tỷ lệ lạm phát và được xem là để đo lường chi phí liên quan đến rổhàng hóa và dịch vụ cụ thể đượcngười tiêu dùng mua Chỉ số giá tiêu dùng(CPI) được tính theo côngthức sau

CPI = (ỵ Pit.Qio) / (ỵ Pio.Qio)

Trong đó : Pit - là giá hàng hóa sản phẩm i trong giai đoạn tPio - là giá hàng hóa sản phẩm i trong giai đoạn cơ sởQio - là tổng lượng hàng hóa sản phẩm i (i=l đến n ) Tronggiai đoạn cơ sở( rổ hàng hóa được ấn định đối với một năm cơ sở và Q làtrọng số ,n là tổng sản phẩm )

Trang 13

Cách tính CPI không phải là cộng các giá cả lại và chia cho tổng khốilượng sản phẩm mà là cân nhắc từng mặt hàng theo tầm quan trọng của nótrong nền kinh tế

- Chỉ số giảm phát GDP được coi là chỉ số phản ánh bình quân giá của tất

cả các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước Do vậy ,chỉ số này

có thể nói là toàn diện hơn chỉ số giá GDP vì nó bao quát hết tất cả các loạihàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế Chỉ số này được dùng để tính giảmphát GDP danh nghĩa và GDP thực tế Có thể tính chỉ số giảm phát GDPtheo công thức sau :

LGDP = GDP(danh nghĩa) / GDP (thực tế ) = (X Pit

Qit) / X Pio.Qit)

Trong đó : LGDP - là chỉ số giảm phát GDP (chỉ số Paasche)

Qit - là lượng hàng hóa sản phẩm i ( i=l đến n) trong giaiđoạn t

Ngoài hai chỉ tiêu quan trọng trên thì trong thực tế người ta còn sửdụng một số chỉ tiêu khác như : - Chỉ số giá sinh hoạt (viết tắt tiếng Anh:CLI)

- Chỉ số giá sản xuất ( PPI)

- Chí số giá bán buôn

- Chí số giá hàng hóa

- Chỉ số giá chi phí tiêu dùng cá nhân ( PCEPI)

Trên đây là các chỉ số để đo lường lạm phát trong nền kinh tế ,trong từngnền kinh tế ,từng điều kiện cụ thể của từng quốc gia mà họ sẽ sử dụng

Trang 14

những chỉ số khác nhau để đo lường mức lạm phát của nước mình ,các chỉ

số này cho biết mức lạm phát chung của mình cũng như mức độ tăng giácủa từng mảng trong nền kinh tế ( như mảng về sản xuất ,tiêu dùng )

2 Nguyên nhân của lạm phát

Sau khi đã hiểu về bản chất của lạm phát là như thế nào thì đặt ra cho chúng

ta câu hỏi tại sao lại có lạm phát ? Nguyên nhân gì đã sinh ra lạm phát ?

Trên thực tế thì lạm phát ở các nước khác nhau ,xãy ra ở những thời kì khácnhau là do những nguyên nhân khác nhau Tuy nhiên không vì thế mà lạmphát không có những nguyên nhân cụ thể , bằng việc tống hợp ở nhiềunước trên thế giới và qua nhiều thời kì ,giai đoạn phát triển khác nhau củacác nền kinh tế thì theo các nhà kinh tế học hiện đại nguyên nhân của lạmphát được xuất hiện từ ba nhóm chủ yếu sau : Đó là nhóm do cơ cấu , dotăng trưởng tiền tệ và do thâm hụt ngân sách nhà nước

Thứ nhất : Nguyên nhân do cơ cấu Trong nhóm nguyên nhân gây ra lạmphát này chúng ta sẽ đi vào hai nguyên nhân đó là hiện tượng cầu kéo vàhiện tượng chi phí đẩy

Hiện tượng cầu kéo :lạm phát do cầu kéo thực chất là do sự mất cân đốigiữa tông cung và tổng cầu hàng hóa dịch vụ trong nền kinh tế ,do những cúsốc về cầu diễn ra đột ngột

Xét một nền kinh tế đang ở mức tiềm năng Q1 tại đó mức giá chung củanền kinh tế là tại p 1 đột nhiên nền kinh tế phải chịu ảnh hưởng của một cúsốc cầu ,có thể là trong nước hay quốc tế (Ví dụ : như chiến lược phát triểnkinh tế của một nước chẳng hạn làm cho cầu đầu tư tăng lên một cách đột

Trang 15

biến ,làm đường tống cầu của nền kinh tế dịch sang phải (từ AD1 sang

AD2 ) ,sau một thời gian làm cho mức cân bàng của nền kinh tế chuyển

sang một trạng thái mới ( được giả thiết là nền kinh tế đang ở mức toàn

dụng nhân công do đó không có sự thay đổi của tổng cung đường tổng

cung không thay đổi ) ,tại đó mức sản lượng của nền kinh

nền kinh tế cũng tăng lên theo đó Đây là theo kinh tế học của Keynes

về phân tích tổng cung ,tổng cầu ( AD-AS )

Trang 16

Trong khi đó, chủ nghĩa tiền tệ giải thích rằng do tổng cầu cao hơn tổngcung, người ta có cầu về tiền mặt cao hơn, dẫn tới cung tiền phải tăng lên đểđáp ứng Do đó có lạm phát.

Trang 17

• Hiện tượng chi phí đẩy : Chi phí của sản xuất là yếu tố cấu thành nên giá

cả hàng hóa cho nên sự biến động của chi phí sản xuất là nguyên nhân thứhai có thể gây ra lạm phát, các nhân tố có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chiphí sản xuất là : Nguyên vật liệu (do tính chất khan hiếm của NVL ,đirợckhai thác trong tự nhiên nên khi trữ lượng giảm xuống sẽ làm giá cả của nótăng lên ) Thứ hai là chi phí để mua sức lao động Thứ ba là chi phí vốn( hiện nay chi phí huy động vốn ngày một cao hơn ) Ngoài ra thì doanhnghiệp còn bị rất nhiều áp lực từ phía nhà nước có thể làm giá sản phẩmtăng cao (như phí và thuế thu nhập )

Các chi phí sản xuất này khi tăng trong cả nền kinh tế sẽ làm cho mặt bằnggiá cả của hàng hóa sẽ tăng cao gây nên lạm phát:

Khi các yếu tố chi phí trên tăng lên ,làm cho tại mỗi mức giá lượng cung sẽgiảm xuống làm đường tổng cung của nền kinh tế dịch chuyển sang phải(AS1 lên AS2 -hình trên ) tại điểm cân bằng mới của nền kinh tế , sảnlượng giảm từ Q1 xuống Q2 và mức giá tăng từ P1 lên P2 nền kinh tế rơivào vừa suy thoái vừa lạm phát

(Mức giá)

Trang 18

Ví dụ : Năm 1973 , 1978 OPEC nâng giá dầu mỏ ,năm 1990-1991 khủnghoảng vịnh persian ,cả ba lần giá cả hàng hóa bình quân ở hầu hết các nướctrên thế giới đều tăng

Trên đây chúng ta đã tìm hiểu nguyên nhân thứ nhất của lạm phát

đó là lạm phát do cơ cấu (cầu kéo và chi phí đẩy ) ,tiếp theo chúng ta sẽ tìmhiểu nguyên nhân thứ hai sinh ra lạm phát đó là nguyên nhân do nguyênnhân từ phía tiền tệ

Nguyên nhân thứ hai : Nguyên nhân tăng trưởng tiền tệ

Khi có nền kinh tế có sự tăng trưởng tiền tê một cách quá mức và kéodàithì cũng gây nên hiện tượng lạm phát ( khi Y tăng 1 % thì lượng tiền cungứng cần thiết cho lưu thông hàng hóa chỉ cần tăng nhỏ hơn 1% ,nhưng trongthực tế khi Y tăng lên 1% thi lượng cung tiền thực tế thường tăng với mộtmức độ lớn hơn 1% đây chính là tăng quá mức và quá trình này kéo dài thì

sẽ gây nên lạm phát do tăng trưởng tiền tệ ) :

Neu gọi Ms là mức cung tiền danh nghĩa p là giá cả bình quân và L làmức cung tiền thực tế thì: Ls= ( Ms / p )

Gọi Ml là nhu cầu về tiền danh nghĩa thì Ld sẽ là nhu cầu về tiền thực

tế ,với : Ld = ( Md / p )

Milton Friedman đặt tên cho các khái niệm này vào thập niên 50 của thế kỉtrước Và nhu cầu tiền thực tế trong nền kinh tế Ld được xác định bởi côngthức : Ld = Md / p =a YAb

Thị trường tiền tệ chỉ quân bình khi lượng cung về tiền thực tế là tươngđương với lượng cầu tiền thực tế nghĩa là : Ls = Ld + a.YAb Vì a và b

Trang 19

theo Friedman - là những hắng số khá ổn định về mặt dài hạn ,nên thị

trường chỉ cân bằng nếu Ls và Ld tăng gần tương đương với mức tăng của

Y Do vậy khả năng ngược lại là khi Y cố định về mặt ngắn hạn ,sự tăng

cung tiền tệ Ms sẽ chỉ có thể được cân đối nếu có sự tăng tương ứng của

cầu tiền tệ danh nghĩa Md Vì thị trường tiền tệ luôn luôn có xu hướng quay

về mặt thực tế khi cung ứng tiền danh nghĩa tăng một tỷ lệ là ÀMs , nó sẽgây ra lạm phát với tỷ lệ chính thức là bằng tỷ lệ tăng của cung ứng tiềndanh nghĩa trừ đi tỷ lệ tăng của nhu cầu tiền danh nghĩa chia cho tống của 1cộng với tỷ lệ tăng trong nhu cầu tiền về danh nghĩa

Rõ ràng dù nhu cầu tiền danh nghĩa có tăng hay không thì mọi sự tăng lêncủa cung ứng tiền tệ danh nghĩa - về mặt ngắn hạn -đều nhanh chóng gây

Trang 20

nên lạm phát Đây là một nguyên nhân khá phổ biến gây nên hiện tượnglạm phát ở các quốc gia trên thế giới

c Nguyên nhân thứ ba : Bội chi ngân sách nhà nước (Nguyên nhân tò

phía chính phủ )

Trang 21

Đây là một nguyên nhân mà chúng ta thường đã thấy rất nhiều trong lịch

sử của các nước mà làm cho mức lạm phát của các nước có thể lên rấtcao Đó là nguyên nhân chủ quan từ phía chính phủ bằng cách chi tiêu quámức của mình chính phủ đôi khi đã làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạnglạm phát nghiêm trọng điến hình là cuộc lạm phát ở Đức (1921-1923 )

Nhu cầu chi tiêu của chính phủ là rất lớn ,cho rất nhiều đối tượng khácnhau trong nền kinh tế : chi tiêu để kích cầu ,thực hiện các chính sách ,rồicác khoản chi mua thường xuyên thường có quy mô rất lớn để đáp ứngcho nhu cầu chi tiêu của mình thì có rất nhiều con đường khác nhau vàchính phủ có thể lựa chọn trong đó có các con đường chủ yếu là : tăngthuế , phát hành các chứng khoán nhà nước ( trái phiếu chính phủ ), donắm đặc quyền trong tay về tài chính nên có một cách dễ dàng và nhanhchóng mà có thể tài trợ một cách dễ dàng cho ngân sách đó là phát hànhthêm tiền mặt để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình , tuy nhiên chỉ trongtrường họp ngân sách nhà nước bị thâm hụt nhiều thì khả năng phát hànhtiền đế đáp ứng cho chi tiêu mới xảy ra Trong thực tế về ngân sách của cácnước trên thế giới rât hiếm khi có thặng dư (nếu có thì chỉ có trong rất ngắnhạn ,tạm thời và thặng dư thường rất nhỏ ) ,mà tình trạng chung của ngânsách các nước là luôn luôn lâm vào tình trạng thâm hut lớn

Dưới đây là tình hình thu chi ngân sách việt nam qua các năm

Ngày đăng: 05/11/2013, 20:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w