Bên cạnh việc chọn hình thức thi cho phù hợp với môn học, người giáo viên ngày nay còn phải biết tạo hứng thú trong thi, kiểm tra cho môn học đó nhằm tạo tâm lý vững vàng cho học sinh kh
Trang 1Nguyễn Thị Minh Tâm
Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm bằng hình ảnh cho môn "tin học văn phòng" tại trường cao đẳng cộng đồng hà tây
Trang 2NGUYỄN THỊ MINH TÂM
XÂY DỰNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM BẰNG HÌNH ẢNH CHO MÔN "TIN HỌC VĂN PHÒNG TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG HÀ TÂY
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM KỸ THUẬT
Trang 3Luận văn "Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm bằng hình ảnh cho môn "Tin học văn phòng" tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây" được hoàn thành
bởi sự cố gắng nỗ lực của bản thân tác giả và sự hướng dẫn tận tình của TS Lê Thanh Nhu
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác (nếu có) đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể Tất cả các số liệu, kết quả nghiên cứu đều là trung thực và
chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 2 tháng 11 năm 2008
N guyễn Thị Minh Tâm
Trang 4Sau một thời gian tìm hiểu và làm việc khẩn trương, cùng với sự giúp đỡ tận tình của TS Lê Thanh Nhu, tác giả đã hoàn thành luận văn với đề tài:
"Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm bằng hình ảnh cho môn "Tin học văn phòng"
tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây"
Với tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành cảm ơn TS
Lê Thanh Nhu, người đã trực tiếp giảng dạy và dành nhiều thời gian, tâm huyết hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận văn Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo trong trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây, các thầy, cô giáo trong khoa Sư phạm kỹ thuật, Trung tâm đào tạo và bồi dưỡng sau đại học - trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã giúp đỡ tôi rất nhiều về kiến thức chuyên môn, tài liệu nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành luận văn
Tuy đã rất cố gắng, nhưng luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của Hội đồng chấm luận văn, các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để bài luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 2 tháng 11 năm 2008
N guyễn Thị Minh Tâm
Trang 5CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG CÂU HỎI
TRẮC NGHIỆM BẰNG HÌNH ẢNH TRONG KIỂM TRA ĐÁNH
GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
6
1.2 Tác dụng của hình ảnh trong kiểm tra đánh giá 36
CH ƯƠNG II - THỰC TRẠNG CỦA VIỆC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG HÀ TÂY
Trang 62
2.5 Giới thiệu chung về một số phần mềm kiểm tra đánh giá 56
CH ƯƠNG III - XÂY DỰNG THỬ NGHIỆM CÂU HỎI TRẮC
NGHIỆM KHÁCH QUAN BẰNG HÌNH ẢNH TRONG KIỂM TRA
ĐÁNH GIÁ MÔN "TIN HỌC VĂN PHÒNG"
58
3.1 Quy trình xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan bằng
hình ảnh
58
3.2 Xây dựng thử nghiệm câu hỏi trắc nghiệm khách quan
bằng hình ảnh cho chương V - môn "Tin học văn phòng"
Trang 789
Sơ đồ 1.1: Quá trình dạy học
Sơ đồ 1.2: Các phương pháp kiểm tra đánh giá
Sơ đồ 1.3: Các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Hình 1.1: Thang nhận thức của Bloom
Bảng 2.1: Mục đích của việc kiểm tra đánh giá
Bảng 2.2: Mục tiêu kiến thức giáo viên yêu cầu đối với sinh viên trong KTĐG
Bảng 2.3: Ý nghĩa của môn "Tin học văn phòng" đối với nghề nghiệp của sinh viên
Bảng 2.4: Mục tiêu cần đạt được qua môn học
Bảng 2.5: Kết quả thăm dò các hình thức kiểm tra đang được thực hiện trong trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây
Bảng 2.6: Tần suất sử dụng các hình thức kiểm tra đối với môn "Tin học
văn phòng"
Bảng 2.7: Hình thức thi do sinh viên lựa chọn cho môn học
Biểu đồ 2.1: Mục đích của việc kiểm tra đánh giá
Biểu đồ 2.2: Mục tiêu kiến thức giáo viên yêu cầu đối với sinh viên
Biểu đồ 2.3: Ý nghĩa môn học "Tin học văn phòng" đối với nghề nghiệp của sinh viên
Biểu đồ 2.4: Mục tiêu cần đạt được qua môn học
Biểu đồ 2.5: Các hình thức kiểm tra đang được thực hiện trong trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây
Biểu đồ 2.6: Tần suất áp dụng các hình thức kiểm tra cho môn "Tin học văn phòng"
Biểu đồ 2.7: Hình thức thi do sinh viên lựa chọn cho môn học
Trang 890
Bảng 3.2: Phân bố câu hỏi
Bảng 3.3: Kết quả đánh giá theo mục tiêu bài trắc nghiệm
Bảng 3.4: Kết quả đánh giá câu hỏi trắc nghiệm
Bảng 3.5: Bảng tổng hợp đánh giá câu hỏi qua mức độ khó
Bảng 3.6: Bảng tổng hợp đánh giá câu hỏi qua mức độ phân biệt
Bảng 3.7: Các loại điểm ở lớp thực nghiệm và đối chứng
Biểu đồ 3.1: Mức độ khó của các câu hỏi trắc nghiệm
Biểu đồ 3.2: Độ phân biệt của các câu hỏi trắc nghiệm
Biểu đồ 3.3: Đồ thị phân bố điểm lớp thực nghiệm
Biểu đồ 3.4: Đồ thị phân bố điểm lớp đối chứng
Biểu đồ 3.5: Biểu đồ tần suất điểm
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật cũng như
những công trình nghiên cứu, những phát minh mới đang ra đời một cách nhanh chóng thì sự thay đổi trong giáo dục nhằm đào tạo ra những con người nhanh nhạy, có kiến thức, năng lực và tay nghề vững vàng để theo kịp sự phát triển của xã hội đang là vấn đề trọng tâm của nền giáo dục Nhưng làm thế nào để xác định được năng lực thực sự của những con người mới này, điều này phụ thuộc rất nhiều vào kết quả đánh giá chất lượng người học
Đánh giá chất lượng người học trong quá trình đào tạo đang là một vấn đề rất được quan tâm ở nhiều trường nói riêng cũng như của Bộ Giáo dục và Đào tạo nói chung Việc đánh giá được thể hiện thông qua các bài thi, bài kiểm tra kết thúc môn học Chính vì vậy cần phải lựa chọn hình thức thi nào để có thể đánh giá được người học đầy đủ, chính xác và khách quan nhất Trong những
năm gần đây Bộ Giáo dục và Đào tạo đã sử dụng hình thức thi trắc nghiệm vào một số môn trong đợt thi tốt nghiệp cũng như thi tuyển sinh năm 2007 Điều đó cho thấy rằng không những đánh giá chất lượng đầu ra mà cả việc
chọn lọc người học cũng đã trở thành một vấn đề đang được quan tâm hàng đầu trong nền giáo dục Việt Nam hiện nay
Vậy lựa chọn hình thức thi nào là phù hợp? Thực tế trong các nhà trường Việt Nam từ xưa đến nay thì phương pháp kiểm tra tự luận vẫn đang được áp dụng phổ biến nhất, ngoài ra còn có các phương pháp khác như thi vấn đáp, thi thực hành, thi trắc nghiệm khách quan, trong đó mỗi phương pháp lại có
những ưu, nhược điểm riêng Và với những ưu điểm nhất định thì hình thức thi trắc nghiệm khách quan đang là sự quan tâm, ứng dụng ngày càng nhiều
Trang 10Bên cạnh việc chọn hình thức thi cho phù hợp với môn học, người giáo viên ngày nay còn phải biết tạo hứng thú trong thi, kiểm tra cho môn học đó nhằm tạo tâm lý vững vàng cho học sinh khi bước vào kỳ thi, người học không quá lo sợ, căng thẳng sẽ giúp cho kết quả thi được tốt hơn và đánh giá được đúng hơn Trong quá trình dạy học, giáo viên có thể đưa vào những hình ảnh sinh động, những tình huống khác nhau nhằm gây sự chú ý của người học Còn trong đánh giá kiểm tra trắc nghiệm đòi hỏi người giáo viên phải đa dạng câu hỏi, đồng thời cũng có thể sử dụng những hình ảnh nhằm lôi cuốn sinh viên, tạo ra những cơ sở gợi ý cho sinh viên, từ đó giúp họ có hứng thú hơn và chịu khó tìm tòi hơn
Ngày nay với sự trợ giúp của công nghệ thông tin thì việc sử dụng máy tính để tiến hành kiểm tra đánh giá không còn là vấn đề khó khăn Thuận lợi của việc sử dụng máy tính trong kiểm tra đánh giá là: Quản lý bài thi đơn
giản, người học có hứng thú hơn trong khi làm bài đặc biệt là khi bài thi có sử
dụng những hình ảnh sẽ có tác dụng gợi ý sáng tạo hơn cho thí sinh đồng thời khâu chấm bài dễ dàng và khách quan
Đối với môn "Tin học văn phòng", do đặc điểm của môn học là môn thực hành là chính Sau khi học xong môn học này, yêu cầu sinh viên phải biết
thực hiện các thao tác đơn giản đối với các phần mềm Microsoft Word, Excel
và PowerPoint nên việc tiến hành thi, kiểm tra trên giấy là không hiệu quả, còn nếu thi thực hành thì việc đánh giá sẽ chưa thật đầy đủ, toàn vẹn cho toàn
bộ chương trình môn học Do đó nếu sử dụng hình thức thi trắc nghiệm khách quan bằng hình ảnh trên máy tính kết hợp với thi thực hành cho môn học này
sẽ đảm bảo chất lượng của quá trình kiểm tra đánh giá
Có thể nói dạy học và kiểm tra đánh giá người học là hai khâu luôn đi song hành với nhau Từ đó giúp cho việc đánh giá cả người dạy và người học
Trang 11được chính xác hơn nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và chất
lượng đào tạo sinh viên, nhưng cũng cần phải đảm bảo được tính chính xác, toàn diện, khách quan, đặc biệt cần phải tạo được hứng thú cho người học Do
đó tác giả luận văn đã chọn đề tài: “Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm bằng
Hà Tây”
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan bằng hình ảnh cho môn học
“Tin học văn phòng” nhằm nâng cao hiệu quả đánh giá kiểm tra kết quả học
tập của học sinh tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây
3 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn “Tin học văn phòng” của sinh viên chuyên ngành tin học tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được các câu hỏi trắc nghiệm bằng hình ảnh trong ngân hàng câu hỏi một cách khoa học và phù hợp với mục tiêu dạy học sẽ góp phần đánh giá được người học một cách chính xác, đầy đủ và khách quan, đồng thời tạo được hứng thú trong kiểm tra đối với môn học này
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập
- Khảo sát tình hình kiểm tra đánh giá tại Trường Cao đẳng Cộng đồng
Hà Tây
Trang 12- Nghiên cứu nội dung chương trình môn học “Tin học văn phòng”, trên
cơ sở đó xây dựng một số câu hỏi trắc nghiệm khách quan bằng hình ảnh cho môn học
- Thực nghiệm sư phạm đối với hệ thống câu hỏi đã xây dựng để kiểm tra đánh giá độ tin cậy, tính khả thi và hiệu quả của giả thuyết khoa học đã đề ra
và hoàn thiện các đề xuất
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Xây dựng một số câu hỏi trắc nghiệm khách quan bằng hình ảnh cho môn
“Tin học văn phòng” và thực nghiệm trên sinh viên chuyên ngành tin học và điện tử của Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Từ những tài liệu có liên quan đến vấn
đề cần nghiên cứu, phân tích, tổng hợp để rút ra cơ sở lý luận của vấn đề cần
thực hiện
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo các giáo viên chuyên ngành tin học để lấy ý kiến đóng góp trong việc xây dựng các câu hỏi trắc nghiệm cho môn học "Tin học văn phòng"
- Phương pháp thực nghiệm: Kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của việc sử
dụng phương pháp kiểm tra trắc nghiệm bằng hình ảnh cho môn “Tin học văn phòng” với đối tượng sinh viên chuyên ngành tin học
7 Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 03 chương:
Chương I - Cơ sở lý luận của việc xây dựng câu hỏi trắc nghiệm bằng hình ảnh trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Trang 13Chương II - Thực trạng kiểm tra đánh giá ở Trường Cao đẳng Cộng đồng
Hà Tây
Chương III - Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm bằng hình ảnh cho môn học
“Tin học văn phòng”
Trang 14
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM BẰNG HÌNH ẢNH
TRONG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
1.1 Tổng quan về kiểm tra đánh giá
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Kiểm tra
Thông thường kiểm tra được coi là khâu cuối cùng của một quá trình bất
kỳ Nó trả về kết quả có thể là một sự vật, một hiện tượng nào đó và được đánh giá ở một trong hai trạng thái đúng hoặc sai Nhưng nó lại là khâu đầu tiên khi đưa kết quả đã đạt được đó áp dụng vào thực tiễn vì khi đó chúng ta
có thể đánh giá được một sự vật, một hiện tượng có nên được ứng dụng trong thực tiễn hay không
Đối với quá trình dạy học việc kiểm tra sẽ giúp đánh giá được chất lượng dạy của thầy và đặc biệt là khẳng định được sự cố gắng nỗ lực cũng như chất lượng của trò, họ đã biết gì và làm được gì sau khi học xong một môn học nào đó
Tuy nhiên để đánh giá đúng chất lượng của việc học và việc dạy thì phải tiến hành kiểm tra hay thực hiện một hình thức kiểm tra sao cho phù hợp, chính xác và khách quan
1.1.1 2 Đánh giá
Trong thực tiễn, sau khi thực hiện kiểm tra và thu được kết quả, người ta tiến hành đánh giá kết quả đó để xác định kết quả có đúng hay không, có phù hợp với thực tiễn hay không để có biện pháp cải tiến hay thay đổi quá trình
Trang 15Trong dạy học, việc đánh giá việc học của học sinh thông qua kiểm tra cuối kỳ sẽ biết được học sinh đã thu được gì trong quá trình học tập Việc đánh giá chính xác kết quả học tập của học sinh sẽ giúp cho nhà trường thấy được mục tiêu đào tạo của mình có phù hợp không, có đạt chất lượng không
để có thể có được một phương pháp giáo dục thích hợp
Như vậy, đánh giá là sự khẳng định lại trên cơ sở kiểm tra và bao giờ cũng đi liền với kiểm tra Quá trình kiểm tra nghiêm túc, phù hợp với trình độ học sinh đồng thời với quá trình đánh giá chính xác, khách quan trình độ của học sinh sẽ mang lại một kết quả tốt cho thực tiễn cuộc sống
1.1.1 3 Trắc nghiệm
Trong thực tiễn, trắc nghiệm được xem là một hình thức kiểm tra nhanh
về kiến thức, người được kiểm tra chỉ phải trả lời đúng hoặc sai, hoặc chọn một trong các phương án trả lời, đôi khi đó chỉ là những lựa chọn một cách ngẫu nhiên theo kiểu “được đâu hay đấy” Tuy nhiên, trắc nghiệm cũng được dùng để đo lường năng lực hay thành quả của các đối tượng nào đó nhằm những mục đích xác định
Trong giáo dục, trắc nghiệm được tiến hành thường xuyên trên lớp, qua các kì kiểm tra, kì thi nhằm thu thập thông tin về năng lực và kết quả học tập của học sinh Trên cơ sở đó đưa ra những nhận định, đánh giá và các giải pháp điều chỉnh quá trình dạy học
Trang 161.1.1 4 Trắc nghiệm khách quan
Loại này cung cấp một phần hay tất cả thông tin cần thiết và đòi hỏi học sinh phải chọn một câu để trả lời hoặc chỉ cần cung cấp thêm vài từ Dạng thi này được gọi là khách quan bởi vì chúng đạt tính khách quan khi chấm điểm, tính chất chủ quan chỉ gặp phải ở việc lựa chọn nội dung thi, kiểm tra và ở
việc định ra câu trả lời
1.1.2 Mục đích, vai trò và các yêu cầu của việc kiểm tra đánh giá
1.1 2.1 Mục đích của kiểm tra đánh giá
Trong mọi lĩnh vực, kiểm tra đánh giá là khâu quan trọng nhằm góp phần trả về xã hội những sản phẩm có chất lượng tốt và đảm bảo theo nhu cầu xã hội
Trong giáo dục, kiểm tra đánh giá có tác động tới việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo của học sinh Đặc biệt đối với bậc đại học, cao đẳng sẽ tạo ra những kỹ sư tài năng cho đất nước, cần phải thích ứng nhanh nhạy với sự thay đổi của khoa học công nghệ Khi đó việc kiểm tra đánh giá lại càng phải cần đảm bảo phản ánh đúng nhất, chất lượng nhất
Như vậy, kiểm tra đánh giá có tác động tới mọi đối tượng trong hệ thống giáo dục:
*Đối với giáo viên: Kiểm tra đánh giá giúp giáo viên xác định được năng lực, mục đích cũng như trình độ của học sinh, để điều chỉnh nội dung sao cho phù hợp
Ví dụ: Các lớp chính quy so với lớp tại chức hay các lớp đào tạo ngắn hạn
sẽ có trình độ khác nhau, mục đích khác nhau nên lượng kiến thức đưa đến cho các đối tượng này cũng khác nhau
Trang 17*Đối với học sinh: Kiểm tra đánh giá góp phần phản ánh năng lực của học sinh dựa vào kết quả mà họ đạt được, do đó học sinh sẽ tự ý thức được nhiệm
vụ của mình muốn gì, cần gì để từ đó tự giác phấn đấu để đạt được sự tiến bộ
và mục tiêu của mình
*Đối với các nhà quản lý giáo dục
Dựa vào kết quả kiểm tra đánh giá để xác nhận năng lực của học sinh, từ
đó làm cơ sở để cấp văn bằng, chứng chỉ cho họ, đồng thời cũng là để đánh giá kết quả học tập của học sinh có đảm bảo cho quá trình tiếp tục học tập hay không và có biện pháp tích cực nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của trường mình
Cũng nhờ vào kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, nhà trường mới đánh giá được phần nào hoạt động dạy, năng lực thực hành nghề của người thầy, từ đó sẽ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao đối với những giáo viên chưa có đủ kỹ năng sư phạm và kỹ năng nghề cần có
1.1 2.2 Vai trò của việc kiểm tra đánh giá
Trong một nhà trường, hoạt động chủ yếu là quá trình dạy học Quá trình này bao gồm những khâu chủ yếu được mô tả trong sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Quá trình dạy học
Mục tiêu
dạy học
Trò (Phương pháp học)
Nội dung dạy học
Thi
kiểm tra
Kết
quả dạy học
Liên hệ ngược trong Liên hệ ngược ngoài
Thầy
(Phương pháp
dạy)
Trang 18Trong sơ đồ trên, việc thi, kiểm tra có tác động trở lại các đối tượng như sau:
*Đối với thầy: Kiểm tra đánh giá cho những thông tin về kết quả dạy học, giúp cho thầy đánh giá được kết quả dạy của thầy và học của trò, qua đó có thể rút ra kinh nghiệm về nội dung và phương pháp dạy nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng dạy học
*Đối với trò: Kiểm tra đánh giá sẽ cho những thông tin về kết quả học, giúp cho trò tự đánh giá được kết quả của mình đồng thời có tác dụng rèn luyện cho học sinh khả năng tự lực đặt ra vấn đề và giải quyết vấn đề, phản ứng nhanh nhạy, linh hoạt trước những tình huống “có vấn đề”, khả năng lý giải các vấn đề tư duy logic…, tác phong kỷ luật ghép mình vào khuôn khổ, thúc đẩy việc học của trò Ngoài ra kiểm tra đánh giá cũng góp phần giúp cho trò thấy được năng lực giảng dạy của thầy, để từ đó lựa chọn cho mình những người thầy giỏi có thể giúp họ có được những kiến thức mà họ cần cho tương lai, nhất là trong môi trường đào tạo mới như hiện nay, đào tạo theo hệ thống tín chỉ
*Đối với các nhà quản lý giáo dục: Kết quả thi và kiểm tra là những căn
cứ pháp lý cơ bản để xử lý học sinh, là những thông tin rất quan trọng làm rõ
cơ sở cho việc điều hành, chỉ đạo quá trình đào tạo trong trường Dựa vào kết quả đánh giá học sinh để nhà trường có thể sàng lọc những học sinh có đủ điều kiện, tố chất cho việc đào tạo những ngành nghề phù hợp, đồng thời cũng sàng lọc cả những người giáo viên không đủ trình độ, năng lực để đứng trên bục giảng
Trang 191.1 2.3.Các yêu cầu của việc kiểm tra đánh giá
Kiểm tra đánh giá có tác động tới mọi đối tượng: người dạy, học sinh và
cả các nhà quản lý Vì vậy việc kiểm tra đánh giá cần phải đảm bảo một số yêu cầu sau:
*Đảm bảo tính quy chuẩn
Việc kiểm tra để có được kết quả đánh giá chất lượng giáo dục là rất cần thiết cho mọi cấp học, bậc học Tuy nhiên việc kiểm tra đánh giá là nhằm mục đích xác định lượng kiến thức mà học sinh thu được nên nó cần phải tuân theo một số chuẩn mực nhất định để đảm bảo sự chính xác, tính khách quan Tính quy chuẩn trong kiểm tra đánh giá được thể hiện ở một số vấn đề cần được xác định rõ ràng:
- Mục tiêu đánh giá nhằm xác định những tiêu chuẩn cụ thể đối với người được đánh giá
- Đối tượng đánh giá: để có thể đưa ra những nội dung đánh giá cho phù hợp
- Nội dung đánh giá: Cần phải phù hợp với đối tượng được đánh giá, tránh tình trạng bài kiểm tra quá khó hoặc quá dễ, không phản ánh được chất lượng học sinh
- Phương pháp và phương tiện sử dụng: phải phù hợp với từng môn học
cụ thể
- Hình thức đánh giá: tuỳ thuộc vào tính chất môn học để có được cách kiểm tra thích hợp, có thể là viết, vấn đáp hoặc thực hành…
- Chuẩn đánh giá (barem điểm) đúng đắn, rõ ràng, công khai
*Đảm bảo tính khách quan và tin cậy:
Đây là yêu cầu quan trọng trong quá trình tiến hành kiểm tra đánh giá Nó khẳng định đúng chất lượng của học sinh và được thể hiện ở một số điểm sau:
Trang 20- Tính khách quan được thể hiện ở nội dung kiểm tra phải phù hợp với yêu cầu của chương trình, không xuất phát từ ý muốn chủ quan của người ra đề
- Việc tổ chức kiểm tra nghiêm túc theo đúng quy chế: bí mật đề thi, coi kiểm tra, thi nghiêm túc, tránh hiện tượng nhìn bài, xem tài liệu…, xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm
- Cuối cùng là khách quan trong chấm bài, không theo chủ ý của người chấm, mỗi câu hỏi chỉ có một câu trả lời đúng nhất
*Đảm bảo tính toàn diện và hệ thống
- Quá trình đánh giá là đầy đủ nếu người được đánh giá hiểu biết sâu sắc
và toàn bộ vấn đề mà giáo viên truyền đạt Chính vì vậy việc ra đề phải bao quát toàn bộ chương trình cả khối lượng và chất lượng kiến thức, kĩ năng; năng lực tư duy; năng lực tự học; tính sáng tạo; tinh thần, ý thức, thái độ học tập Điều này sẽ đảm bảo học sinh có hiểu biết các kiến thức, biết vận dụng, thậm chí nếu có thể thì đánh giá được cả sự sáng tạo của học sinh
- Đảm bảo kiểm tra đánh giá thường xuyên, có hệ thống để thu được
“thông tin ngược” về kết quả dạy học, từ đó có cơ sở để đánh giá và điều chỉnh hoạt động dạy học, tạo động lực kích thích tính tích cực học tập của học viên [ 7]
- Trong dạy học, giáo viên cần tuân thủ nghiêm ngặt chế độ kiểm tra, thi: kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kì, kiểm tra tổng kết, thi… Các kì kiểm tra, thi phải được tổ chức, tiến hành một cách khoa học, có kế hoạch và có hệ thống
*Đảm bảo tính công khai:
Kiểm tra đánh giá phải được tổ chức và tiến hành công khai về kế hoạch, nội dung kiểm tra và công khai về kết quả
Trang 21Cần đảm bảo thống nhất giữa nội dung chương trình dạy học với nội dung kiểm tra
Kết quả kiểm tra cần được công bố kịp thời để mỗi học viên xem xét, tự đánh giá, xếp hạng trong học tập của bản thân cũng như có sự phối hợp giữa các thành viên trong lớp nhằm nâng cao chất lượng lớp học
*Đảm bảo tính phát triển:
Kiểm tra phải tác động tích cực vào học sinh, đòi hỏi phải xem xét theo hướng phát triển Do đó cần kiểm tra đánh giá cả quá trình học tập trên cơ sở xem xét kết quả từng khâu, từng giai đoạn học tập của học sinh
Giáo viên cần biết trân trọng những cố gắng, đánh giá cao những nỗ lực, thành tích của học viên, đồng thời uốn nắn, sửa chữa những sai sót, hạn chế của họ và mở ra triển vọng và hướng phát triển [7]
Trong giáo dục, khi đào tạo một thế hệ chúng ta phải xác định đào tạo ai (đối tượng), đào tạo cái gì (nghề), đào tạo như thế nào (phương pháp) và yêu cầu đối với đối tượng được đào tạo là gì (kỹ năng) Đó là những mục đích mà cần phải đặt ra và đạt được Mục tiêu là sự lượng giá của mục đích tại những thời điểm nhất định, tại thời điểm đó học sinh cần nhận thức được gì, chỉ cần nắm bắt được kiến thức hay đòi hỏi phải thực hành được công việc cụ thể nào đó?
Như vậy mục tiêu dạy học chính là:
- Định ra phương hướng, tiêu chí cần đạt được để từ đó quyết định đến nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học
- Xác định cái mà học sinh phải đạt được sau mỗi phần học và kết quả đánh giá được phản ánh thông qua kiểm tra đánh giá
Trang 22Để đạt được tốt mục tiêu dạy học người giáo viên phải thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học và giúp học sinh hình thành nên mức độ nhận thức mà họ
phải đạt được qua môn học Còn học sinh sẽ phải tự biết tìm cho mình một phương pháp học tập thích hợp nhằm đạt được kết quả mong muốn
Cấu trúc kết quả học tập, theo Bloom (1956) được phân thành 6 mức nhận thức như sau: [Tr21-13]
Tổng hợp Phân tích
Áp dụng Hiểu Nhận biết
Hình 1 1: Thang nhận thức của Bloom
Mức 1: Nhận biết
Mức này yêu cầu học sinh chỉ cần nắm bắt, ghi nhớ những kiến thức mà giáo viên truyền đạt Đó thường là những định nghĩa, thuật ngữ, sự kiện, các quy ước…
Mức 2: Hiểu
Đến đây học sinh không chỉ nắm bắt, ghi nhớ mà còn cần phải biết tự giải thích, trình bày vấn đề theo cách riêng của mình Xác định nội dung chính của vấn đề đưa ra, từ đó phát triển lên theo ý hiểu của mình
Trang 23Mức 3: Áp dụng
Bên cạnh việc biết và hiểu vấn đề, học sinh còn phải biết vận dụng những kiến thức đã học vào trường hợp cụ thể Đây là mức cao hơn mức hiểu nên việc kiểm tra đánh giá ở mức này được thông qua kết quả, sản phẩm cụ thể
mà học sinh tạo ra
Mức 4: Phân tích
Đây là mức đòi hỏi học sinh phải biết tự phân tích, đánh giá một vấn đề,
từ đó xác lập mối liên quan giữa các thành phần, các bộ phận, so sánh tìm ra
sự giống và khác nhau giữa các vấn đề
Mức 5: Tổng hợp
Từ việc hiểu, biết vận dụng vào trường hợp cụ thể và biết phân tích vấn
đề thì tổng hợp đòi hỏi học sinh phải biết lựa chọn, phối hợp những kiến thức
có liên quan và các kĩ năng đa dạng để hoàn thành các dạng bài tập khác nhau Như vậy ở mức này yêu cầu khả năng tóm tắt, khái quát hoá, lập luận, sắp xếp và giải quyết vấn đề
Mức 6: Đánh giá
Đây là mức cao nhất của việc kiểm tra đánh giá Ở mức này học sinh phải
tự biết đánh giá vấn đề cụ thể, biết tìm ra cái đúng, cái sai, biết phê phán và đưa ra lời bình luận cho một vấn đề nào đó
Việc chia mục tiêu nhận thức thành 6 mức như trên cũng chỉ là tương đối nên khó có thể đánh giá hết được năng lực thực sự của học sinh đến mức nào
Do đó chúng ta tổng hợp mục tiêu kiểm tra đánh giá lại thành hai phần:
Trang 24*Mục tiêu cảm xúc
Đó là việc đạt được những hứng thú trong học tập đối với học sinh từ đó tác động đến thái độ học tập, tiếp thu và làm tăng khả năng thích nghi đối với môn học
*Mục tiêu vận động tâm lý
Điều này liên quan tới khả năng vận động tư duy (động não), chịu khó tìm tòi để tiếp thu được kiến thức cũng như sáng tạo ra những vấn đề mới trong bài học đang được nghiên cứu của học sinh Để hoàn thành được mục tiêu này, đòi hỏi người giáo viên phải biết gợi ý để tác động đến mọi giác quan của học sinh, giúp cho họ cảm thụ được bài học và kích thích tính tò mò ở học sinh
Hiện nay có nhiều hình thức kiểm tra đánh giá đang được thực hiện Tuy nhiên phương pháp nào là tối ưu, là hoàn thiện lại đang là mối quan tâm lớn của toàn xã hội Việc áp dụng phương pháp kiểm tra nào tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng môn học cụ thể nhưng phải đảm bảo được tính chính xác, khách quan và toàn diện
Một số phương pháp đang được sử dụng hiện nay:
S ơ đồ 1.2: Các phương pháp kiểm tra đánh giá
Các phương pháp KTĐG Quan sát Vấn đáp Viết
Tự luận Trắc nghiệm
khách quan
Trang 251.1 4.1 Phương pháp quan sát
Đây là phương pháp kiểm tra tại chỗ và được vận dụng chủ yếu trong các bài thực hành, nhằm giúp giáo viên xác định được các kĩ năng về nhận thức, thái độ và mức độ vận dụng kiến thức vào tình huống cụ thể
Các phương pháp quan sát giúp xác định những thái độ, những sự phản ứng vô ý thức, những kỹ năng thực hành và một số kỹ năng về nhận thức, chẳng hạn cách giải quyết vấn đề trong một tình huống đang được nghiên cứu
Nhược điểm của phương pháp này là:
- Không đánh giá được hết khả năng của học sinh trong toàn bộ chương trình môn học mà chỉ đánh giá được từng phần
- Vẫn mang tính chủ quan, phụ thuộc vào tâm trạng, thái độ của giáo viên
1.1 4.2 Phương pháp vấn đáp
Là hình thức hỏi - đáp giữa thầy và trò, có thể được thực hiện ngay tại lớp hoặc giáo viên đưa câu hỏi trong phiếu thi, học sinh chuẩn bị bài và trả lời câu hỏi trong một thời gian ngắn Phương pháp này giúp đánh giá thực chất lượng kiến thức cũng như mức độ hiểu vấn đề của học sinh
Phương pháp vấn đáp thường có lợi khi nêu câu hỏi một cách tự phát trong một tình huống cần kiểm tra Ngoài ra còn được dùng khi sự tương tác giữa người chấm và học sinh là quan trọng, chẳng hạn khi xác định thái độ, phỏng vấn…
Ưu điểm của phương pháp này:
- Có được kết quả ngay sau khi kết thúc buổi thi
- Đòi hỏi học sinh phải hiểu kỹ vấn đề và có thể phát triển lên (nếu cần)
Trang 26- Giúp học sinh rèn luyện kỹ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ nói
Nhược điểm:
- Tốn nhiều thời gian nếu số lượng học sinh lớn, khi đó sẽ ảnh hưởng tới thái độ, gây cho giáo viên trạng thái mệt mỏi và do đó tác động không tốt tới việc chấm điểm Đồng thời học sinh cũng sẽ mệt mỏi, căng thẳng
- Mức độ khó, dễ trong các đề thi là không tương đương
- Cách hỏi của các giáo viên là khác nhau nên việc đánh giá học sinh là không chính xác
1.1 4.3 Phương pháp kiểm tra viết
Đây là phương pháp được thực hiện thường xuyên và nhiều nhất trong các kỳ thi, do dễ tổ chức, dễ thực hiện và trong cùng một lúc có thể kiểm tra được nhiều học sinh Phương pháp này được chia làm hai hình thức thực hiện
là trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm tự luận là phương pháp giáo viên đưa ra câu hỏi dưới dạng phân tích, tổng hợp Học sinh suy nghĩ và diễn đạt ý hiểu của mình bằng ngôn ngữ viết, có dẫn chứng để chứng minh những ý kiến mà mình đưa ra
Có nhiều cách để thực hiện một bài thi trắc nghiệm tự luận như: viết, tiểu luận, bài tập lớn… và trong một khoảng thời gian nhất định
Trang 27- Tạo điều kiện cho học sinh phát triển một cách tự do theo ý hiểu của mình, nhờ đó cũng giúp giáo viên tìm ra được những ví dụ hay, những sáng tạo mới mà có khi ngay cả giáo viên cũng chưa nghĩ tới
- Học sinh tự do hơn trong việc trình bày bài làm, thể hiện những hiểu biết, những lập luận và có thể đưa ra ý kiến riêng của mình để so sánh, giải thích, thiết lập các mối quan hệ giữa các vấn đề đang nghiên cứu
Nhược điểm:
- Mỗi đề thi thường có ít câu hỏi nên không thể bao trùm hết toàn bộ nội dung chương trình học, do đó không thể đánh giá hết trình độ của học sinh đối với môn học đó như thế nào
- Số lượng học sinh kiểm tra trong cùng một lúc là nhiều nên dễ nảy sinh nhiều kiểu gian lận trong thi cử như mở sách, xem bài của bạn, học tủ…
- Khó xác định được tiêu chí đánh giá, thường chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và bằng cảm tính nên khó chấm điểm, số lượng bài thi lớn nên tốn nhiều thời gian cho việc chấm bài
- Điểm thi có độ tin cậy thấp do phụ thuộc rất nhiều yếu tố như yếu tố tâm
lý, tình trạng sức khoẻ của người chấm, thậm chí không tránh khỏi hiện tượng quen biết, xin điểm trong khi chấm bài
Trong tình hình hiện nay các loại hình đào tạo đang được mở rộng với rất nhiều ngành nghề, trường lớp Vì vậy việc sử dụng phương pháp thi vấn đáp
và thi trắc nghiệm tự luận là khó có thể thực hiện được và cũng không được khuyến khích thực hiện
Trang 281.1 4.4 Phương pháp trắc nghiệm khách quan
Hình thức thi trắc nghiệm khách quan là một bài thi gồm nhiều câu hỏi với các lựa chọn do giáo viên đưa ra, học sinh chỉ việc lựa chọn một đáp án nào là đúng nhất hoặc chỉ cần điền thêm một số từ còn thiếu vào chỗ trống Trong vấn đề kiểm tra đánh giá hiện nay thì phương pháp trắc nghiệm khách quan đang được khuyến khích sử dụng nhiều nhất Ngay cả trong việc thi tuyển sinh và thi tốt nghiệp là hai cuộc thi quan trọng hàng năm cũng đang được Bộ giáo dục và đào tạo tiến hành thực hiện theo hình thức thi này
Ưu điểm:
- Trong một thời gian ngắn kiểm tra được nhiều kiến thức cụ thể, đi vào những khía cạnh khác nhau của một kiến thức, kĩ năng Nội dung kiến thức kiểm tra “rộng” có tác dụng chống lại khuynh hướng học tủ, học lệch Số lượng câu hỏi nhiều, đủ cơ sở tin cậy, đủ cơ sở để đánh giá chính xác trình độ của học sinh thông qua kiểm tra
- Tuy việc biên soạn câu hỏi tốn thời gian, song việc chấm bài nhanh chóng và chính xác Lượng thông tin phản hồi lớn, làm cơ sở điều chỉnh quá trình dạy học
- Gây hứng thú và tích cực học tập cho học sinh Giúp học sinh phát triển
kĩ năng nhận biết, hiểu, vận dụng ở mức thấp và mức cao
- Do số lượng câu hỏi nhiều, thời gian dành cho mỗi câu ít nên học sinh phải tranh thủ đọc, hiểu, suy nghĩ và đưa ra lựa chọn nên tránh được hiện tượng nhìn bài bạn hay mở sách… Đặc biệt việc áp dụng công nghệ mới ICT (Information & communication technology) vào việc soạn thảo đề thi cũng hạn chế đến mức thấp nhất hiện tượng nhìn bài hay trao đổi bài
Trang 29Cùng với những ưu điểm như trên thì trắc nghiệm khách quan cũng gặp phải một số nhược điểm:
- Việc soạn thảo được ngân hàng câu hỏi sẽ tốn rất nhiều thời gian và đòi hỏi người giáo viên phải nắm chắc kiến thức môn học
- Không tránh khỏi việc đoán mò, may rủi trong khi thi
- Kết quả bài thi không thể đánh giá được hết năng lực của học sinh, đặc biệt là tính năng động và khả năng sáng tạo của học sinh do câu hỏi đã có sẵn đáp án Đồng thời hạn chế trong việc đánh giá năng lực diễn đạt viết hoặc nói của học sinh
Nhưng nhược điểm trên đây đối với phương pháp thi trắc nghiệm khách quan là có thể sửa chữa được một cách dễ dàng dựa vào số lượng thời gian, kinh nghiệm giảng dạy của giáo viên, họ sẽ dễ dàng bổ sung vào ngân hàng câu hỏi ngày càng phong phú hơn, đa dạng hơn
yếu và hợp thành của quá trình đào tạo
Trang 30Kiểm tra đánh giá bằng trắc nghiệm được coi là một công cụ đo lường trong đánh giá kết quả học tập của học sinh và đã có một quá trình phát triển khá lâu
Năm 1985 ở Pháp, Alffred Binet và các bạn đồng sự đã phát minh ra một
số bài trắc nghiệm để khảo sát tâm lý của các trẻ em khuyết tật về não
Việc sử dụng trắc nghiệm để đo lường kết quả học tập trong lĩnh vực giáo dục bắt đầu từ năm 1920 Các học sinh đã trắc nghiệm xem họ có thể nhớ lại các tư liệu đã học nhanh như thế nào?
Năm 1950 với sự phát triển của công nghệ máy tính, việc xây dựng và
tiến hành kiểm tra, đánh giá câu hỏi trắc nghiệm thuận lợi hơn Điển hình trong thời gian này có tác giả E.F.Lindquist
Năm 1960 việc xây dựng và sử dụng các câu trắc nghiệm được phát triển rộng rãi với rất nhiều công trình của các tác giả Q.Stodo và k.Stordahl, R.L.Ebel, Gibbon Và đến lúc này thì quan niệm về đánh giá trong giáo dục cũng được thay đổi
Ở Mỹ vào đầu thế kỷ XX đã bắt đầu áp dụng khách quan trong dạy học Đến năm 1940 đã xuất hiện nhiều hệ thống đánh giá kết quả của học sinh Năm 1961 đã có 2126 mẫu trắc nghiệm tiêu chuẩn [Tr85 - 11]
Ở Anh, năm 1963 đã có hội đồng Hoàng gia hàng năm quyết định các trắc nghiệm chuẩn cho các trường trung học
Từ năm 1963, ở Liên Xô việc nghiên cứu kết quả của trắc nghiệm đã trở thành một đề tài lớn trong Viện hàn lâm khoa học Liên Xô với tiêu đề: "Trình
độ kiến thức kỹ năng kỹ xảo của học sinh và tình trạng ngăn ngừa không tiến
và lưu ban" do Viện sĩ E.I.Monetzen chủ trì [Tr13 - 1]
Trang 31Ở Trung Quốc việc thi đại học bằng trắc nghiệm khách quan được tiến hành từ năm 1998, ở Thái Lan năm 1999, Nga năm 2003, Nhật Bản và Hàn
Quốc năm 1980
Năm 1969 giáo sư Dương Thiệu Tống đã đưa môn Trắc nghiệm và thống
kê giáo dục vào giảng dạy tại các lớp cao học và tiến sĩ giáo dục tại trường Đại học Sài Gòn
Năm 1971 đã có những nghiên cứu trắc nghiệm khách quan vào chương trình sinh vật như: Trần Bá Hoành với công trình "Thử dùng phương pháp Test điều tra tình hình nhận thức của học sinh về một số khái niệm trong chương trình sinh vật lớp 9"
Năm 1992 đề án: "Cải tiến phương pháp kiểm tra đánh giá kiến thức và
kỹ năng của học sinh đại học và cao đẳng" của GS - TS Lâm Quang Thiệp Trong hai năm gần đây 2007 và 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết định lựa chọn hình thức thi trắc nghiệm khách quan trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng Điều này khẳng định được rằng phương pháp trắc nghiệm khách quan đang dần chiếm được vị trí và hiệu quả trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và trong giáo dục Riêng đối với Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây thì phương pháp thi trắc nghiệm khách quan còn được vận dụng rất hạn chế Toàn trường mới có
23 giáo viên sử dụng hình thức thi này, chiếm 20% tổng số giáo viên toàn trường (được thể hiện trong phần phụ lục 1 - Phiếu điều tra giáo viên) Do vậy
cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc nghiên cứu, xây dựng và ứng dụng trắc nghiệm khách quan vào lĩnh vực dạy học nói chung và trong môn "Tin học văn phòng" nói riêng
Trang 321.1 5.2 Các loại trắc nghiệm
a) Trắc nghiệm chủ quan (Trắc nghiệm tự luận)
Là loại bài kiểm tra viết, bao gồm các câu hỏi cho phép có sự tự do tương đối để trả lời một vấn đề được đặt ra, đồng thời lại đòi hỏi học sinh phải nhớ lại những thông tin, kiến thức đã được học và phải biết sắp xếp, diễn đạt nội dung theo lời văn của mình nhưng phải chính xác, sáng sủa
Đây là một dạng câu hỏi mở Câu trả lời có thể là một đoạn văn ngắn, một bài viết tóm tắt, một bài diễn giải hoặc một bài tiểu luận
Hình thức trắc nghiệm này vẫn được xem là chủ quan vì việc đánh giá, cho điểm có thể tuỳ thuộc rất nhiều vào yếu tố chủ quan của người chấm thi
từ khâu xây dựng đáp án, thang điểm, xác định các tiêu chí đánh giá đến khâu
chấm bài Thôgn thường một bài thi trắc nghiệm chủ quan gồm ít câu hỏi, nhưng mỗi câu hỏi thường bao hàm nhiều ý, nhiều nội dung khác nhau
Với dạng thi trắc nghiệm khách quan, học sinh chỉ cần lựa chọn được
phương án trả lời là đúng hoặc đúng nhất hoặc chỉ cần điền thêm một vài từ Loại câu hỏi này còn được gọi là câu hỏi đóng, giáo viên giữ vai trò lựa chọn
nội dung thi và định ra các phương án trả lời có sẵn, học sinh có nhiệm vụ lựa
chọn phương án trả lời mà không được bổ sung hay thay đổi cách giải
Trang 33c) Trắc nghiệm chuẩn hoá
Là loại trắc nghiệm do các chuyên gia thuộc về lĩnh vực đó xây dựng một cách công phu, đã qua thử nghiệm, có thể dùng đại trà trong nhiều năm, phương án được yêu cầu chuẩn mực của chương trình, phù hợp với trình độ,
năng lực chung của học sinh cùng lứa tuổi, cùng khối lớp
Những trắc nghiệm chuẩn thường được thẩm định, thông qua hội đồng cấp quốc gia, được sử dụng cho các kỳ thi cuối cấp để đánh giá kiến thức, kỹ năng, trình độ, được sử dụng rộng rãi trong ngành giáo dục giúp giáo viên đối chiếu, so sánh trình độ học sinh của mình giảng dạy với trình độ chung
d) Trắc nghiệm do giáo viên thiết kế
Hiện nay với sự phát triển của công nghệ thông tin thì ở mọi lĩnh vực đều
có những chuẩn mực nhất định Vì vậy mọi thứ đều có sẵn kể cả những mẫu bài thi, đề thi và đáp án Tuy nhiên những mẫu này nhiều khi không đáp ứng được nhu cầu của các giáo viên ở các trường hoặc không thích hợp với mục tiêu giảng dạy của họ Do đó giáo viên phải tự soạn những đề thi của riêng họ
để đánh giá kết quả học tập trong môn học mình giảng dạy, trong đó có cả các
đề thi trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm do giáo viên thiết kế là loại trắc nghiệm được giáo viên tự xây dựng để sử dụng vào mục đích cụ thể, phù hợp với từng đối tượng học cụ
thể và có nội dung được giới hạn trong nội dung bài giảng
1.1.5.3 Các tiêu chuẩn của một bài trắc nghiệm được xây dựng tốt
*Độ giá trị, tức là nó phải đo được cái định đo: Độ giá trị là khái niệm cho biết mức độ mà một bài trắc nghiệm đo được đúng cái mà nó định đo [Tr63 - 15]
Có bốn loại độ giá trị:
Trang 34- Độ giá trị bề mặt: là sự thể hiện ra ngoài mặt Đây là độ giá trị mong đợi trong bất kỳ trắc nghiệm nào
- Độ giá trị liên quan đến tiêu chí: Loại này được đưa ra dựa vào dự báo
về thành quả đạt được trong tương lai (học thuật, nghề nghiệp ) hoặc là vào ước lượng một vài thành quả đồng thời (như là đánh giá kỹ năng thí nghiệm
bằng một bài kiểm tra viết hay trắc nghiệm bút chì)
- Độ giá trị nội dung: là mức độ mà theo đó việc thi cử phản ảnh được nội dung và mục tiêu môn học Vì việc giảng dạy tốt hay không được thể hiện, làm rõ thông qua việc trắc nghiệm các thành quả học tập Đây là hình thức
chủ yếu của giá trị mà giáo viên quan tâm
- Độ giá trị cấu trúc: Đó là những điều gì đó không thể quan sát được nhưng đúng do người điều tra tạo nên Ví dụ: đặc điểm, thái độ, năng lực cá nhân như trí thông minh, nỗi lo sợ bị kiểm tra, năng lực tính toán Đây là
một biến số mà không có một tiêu chí đơn lẻ nào ứng với nó và không liên quan tới độ giá trị nội dung
*Độ tin cậy tức là phải đo được cái nó cần đo ở mức độ chắc chắn và chính xác nhất có thể được: Độ tin cậy là khái niệm cho biết bài trắc nghiệm
đo bất cứ cái gì mà nó đo đáng tin cậy đến đây, ổn định đến mức nào
Ví dụ: Chúng ta cần có một độ tin tưởng nào đó vào thứ tự sắp xếp học sinh tương ứng kết quả của một bài trắc nghiệm đặc biệt nào đó Khi đó nếu ta thực hiện bài trắc nghiệm hai lần trên cùng một đối tượng, trong cùng một điều kiện như nhau thì hai kết quả thu được sẽ gần giống nhau đến mức nào?
*Tránh gây ra những tác dụng không mong muốn về mặt giáo dục Chẳng
hạn, nếu đã thống nhất là không nên học vẹt, thì một bài trắc nghiệm không nên khuyến khích khuynh hướng này trong học sinh bằng cách làm cho học sinh có lối học đó được lợi
Trang 35* Trình bày một cách sáng sủa, với những chỉ dẫn rõ ràng, xác định đối
với học sinh Ngôn ngữ sử dụng cần chính xác và ở mức độ phù hợp với sự trưởng thành của học sinh
Điều này có nghĩa là việc ra câu hỏi trắc nghiệm nhằm đánh giá, phát hiện
kiến thức và kĩ năng của học sinh Những công việc làm cho họ lúng túng, không thu hút được học sinh sẽ được coi như thất bại trong việc thu tập chứng
cứ thích hợp hoặc do làm cho học sinh xao lãng với công việc đã định trước Những công việc để đánh giá hợp lý là những việc mà học sinh muốn tìm cách giải quyết, là những việc nêu một cách rõ ràng những gì đòi hỏi ở học sinh và cung cấp bằng chứng về năng lực trí tuệ của học sinh
*Thuận tiện cho quản lý và thuận tiện đối với việc cho điểm
1.1.5.4 Kỹ thuật soạn một bài trắc nghiệm
a) Giai đoạn chuẩn bị
Để soạn ra một bộ đề thi hay một ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm phải đòi
hỏi mất nhiều thời gian cũng như công phu soạn thảo Những câu hỏi đó phải đáp ứng được một số yêu cầu nhất định như: có phù hợp với mục tiêu đánh giá không? có nằm trong chương trình giảng dạy không? Như vậy để có được bộ câu hỏi trắc nghiệm đạt hiệu quả, ta cần lưu ý một số nguyên tắc sau:
*Phân tích nội dung và phác thảo bài trắc nghiệm
Sự phân tích nội dung sẽ cung cấp một bản tóm tắt những ý đồ của chương trình giảng dạy được diễn đạt theo nội dung Nội dung nào được coi như bao trùm trong khung chương trình học? Có những chương nào quan
trọng trong nội dung đó
*Xác định rõ mục tiêu muốn kiểm tra đánh giá: Có nghĩa là phải xác định được những hành vi, kiến thức, trình độ mà giáo viên muốn học sinh đạt được
Trang 36qua môn học là gì? Điều quan trọng là học sinh biết gì, có thể làm gì, nghĩ gì,
giải quyết như thế nào
*Lập bảng phân bố các câu hỏi một cách chi tiết trước khi soạn bài trắc nghiệm: Bảng phân bố được lập bằng cách dùng một ma trận, với các mục tiêu ở phía trên và các đề mục hay nội dung ở phía dưới như mẫu sau:
Mục tiêu
Đề mục
(nội dung)
Nhớ (số câu hỏi)
Hiểu (số câu hỏi)
Vận dụng (số câu hỏi)
Tổng số câu hỏi
Để xác định được số câu hỏi cho từng nội dung chúng ta cần căn cứ vào
mục tiêu môn học, phần nào là chính, phần nào là phụ Ngoài ra có thể xem xét đến mối quan hệ của môn học với các môn học khác
Đối với từng mức độ nhận thức cũng có thể đưa ra số lượng câu hỏi khác nhau Điều này căn cứ vào mức độ cần thiết để hình thành và phát triển những năng lực ở học sinh và yêu cầu của giáo viên đối với học sinh khi tham gia môn học đó phải đạt được yêu cầu nào
Số câu hỏi trong toàn bộ bài kiểm tra trắc nghiệm không quá nhiều cũng không quá ít nhưng phải bao quát được toàn bộ nội dung môn học Đồng thời
số lượng câu hỏi phải phụ thuộc vào thời gian dành cho nó sao cho ngay cả
những học sinh làm chậm cũng có thể trả lời được
b) Giai đoạn thực hiện
Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ những yêu cầu như phân tích nội dung, xác định mục tiêu kiểm tra đánh giá, lập bảng phân bố thì đi đến xây dựng bộ câu
hỏi hay đề thi trắc nghiệm theo quy tắc sau:
Trang 37- Bộ câu hỏi hay đề thi phải được soạn và công bố công khai cho học sinh nhiều ngày trước khi tiến hành thi (kiểm tra)
- Tổng số câu hỏi trong bộ câu hỏi phải nhiều hơn số câu hỏi cần dùng
- Mỗi câu hỏi có liên quan đến một nội dung cụ thể và phải nằm trong
chương trình học
- Xây dựng câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, sử dụng ngôn ngữ đơn giản, tránh tối nghĩa Nên chọn những từ có nghĩa chính xác
- Đưa tất cả những thông tin cần thiết vào trong câu dẫn nếu có thể được
- Không cố tăng mức độ khó của câu hỏi bằng cách diễn đạt câu hỏi theo cách phức tạp hơn - trừ khi muốn kiểm tra về mặt đọc hiểu
- Tránh cung cấp những dữ kiện dẫn đến câu trả lời
- Tránh những câu rập khuôn hay những câu trích dẫn từ sách giáo khoa hay bài giảng vì điều này sẽ khuyến khích học sinh học vẹt để tìm được câu
trả lời đúng
- Khi viết câu hỏi không nên đưa ra những từ hay câu thừa
- Tránh những câu hỏi mang tính chất đánh lừa hay gài bẫy và những câu
có sự mơ hồ về mặt ý nghĩa trong câu nhận định và trong ý nghĩa
- Tránh sử dụng những câu hỏi đan cài với nhau hay phụ thuộc lẫn nhau
- Khi lên kế hoạch cho một bộ câu hỏi cần chú ý sao cho một câu hỏi không cung cấp đầu mối cho việc trả lời một hay nhiều câu hỏi khác
- Trong bộ câu hỏi, nên sắp xếp các câu trả lời đúng theo cách ngẫu nhiên
- Trong bộ câu hỏi hay đề thi nên đề ra phương thức cho điểm cho mỗi câu để giúp học sinh tự xác định được thang điểm cũng như lựa chọn câu hỏi
để trả lời sao cho đạt được số điểm cao nhất
Trang 38- Các câu hỏi phải được viết như thế nào để chỉ có một câu trả lời đúng duy nhất cho câu hỏi đó
1.1.6 Nghiên cứu việc ứng dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan
1.1.6 1 Một số quan niệm không đúng về trắc nghiệm khách quan
- Trắc nghiệm khách quan có tính chất may mắn nhiều hơn: Quan niệm này cũng có một phần nào đúng trong trường hợp câu hỏi có chất lượng thấp, các phương án sai quá lộ liễu hoặc nhìn thấy phương án đúng quá rõ ràng Tuy nhiên học sinh không thể may mắn được trong tất cả các câu hỏi của bài thi vì bài thi trắc nghiệm khách quan thường có rất nhiều câu hỏi và các câu trả lời thường sát nhau về nghĩa, nêu nếu chỉ đoán mò hay lựa chọn ngẫu nhiên mà không cần đến sự học tập thì học sinh chắc chắn cũng sẽ không đạt được điểm cao
- Trắc nghiệm khách quan chỉ đánh giá khả năng ghi nhớ mà không phát khả năng tư duy, sáng tạo: Thông thường các bài thi chỉ nhằm mục đích kiểm tra kiến thức học sinh tiếp thu được đối với môn học và tư duy sáng tạo là một phần rất nhỏ cần đạt được trong mỗi bài kiểm tra Với phương pháp trắc nghiệm khách quan các câu hỏi dưới dạng điền khuyết là đủ để đánh giá được khả năng ghi nhớ, tư duy của học sinh vì nó buộc họ phải biết lựa chọn từ đúng nhất, thích hợp nhất cho chỗ trống đó
- Phương pháp này dễ copy bài hơn: Đây là một quan niệm sai lầm vì mỗi bài thi có rất nhiều câu hỏi và bao trùm toàn bộ chương trình môn học, thời gian giành cho mỗi câu hỏi là ngắn, thang điểm chia đều cho tất cả các câu không thể xem nhẹ câu nhiều điểm hay ít điểm Trong khi hình thức thi trắc nghiệm tự luận thì thang điểm được chia cho từng câu theo mức độ khó dễ khác nhau, khi làm bài học sinh chỉ cần đưa ra được ý chính, chủ yếu nhất của
Trang 39câu hỏi là đã đạt được điểm Do đó nếu học sinh không chú tâm làm bài mà chỉ mải xem sách, xem vở thì sẽ không hoàn thành được bài thi
1.1.6.2 Các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Sơ đồ 1.3: Các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan [11]
a) Câu hỏi nhiều lựa chọn (Multiple Choice Question)
Loại này thường có hình thức của một câu phát biểu không đầy đủ hay một câu hỏi dẫn được nối tiếp bằng một số câu trả lời mà học sinh phải chọn:
- Câu trả lời đúng rõ rệt, hay
- Câu trả lời tốt nhất trong nhiều câu chọn hợp lý
- Câu trả lời kém nhất hay câu trả lời không có liên quan gì nhất, hay có nhiều hơn là một câu trả lời thích hợp
Câu dẫn có thể dưới dạng sơ đồ hay đồ thị và không nhất thiết thuần tuý bằng lời
Ưu điểm của loại câu hỏi này:
- Các phương án lựa chọn nhiều nên học sinh phải biết phân tích vấn đề
để lựa chọn đáp án chứ không thể đoán mò hay chờ vào may rủi được
Các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách
Câu hỏi
nhiều
lựa chọn
Câu hỏi đúng sai Câu hỏi điền ghép đôi Câu hỏi
khuyết
Câu hỏi xếp thứ tự
Cụm từ
Từ
Trang 40- Dễ dàng đặt câu hỏi và đưa ra các phương án tương tự nhau
- Chấm điểm nhanh, chính xác và không nhất thiết là do giáo viên dạy môn học chấm nên đảm bảo được tính khách quan trong chấm bài
Nhược điểm:
- Các phương án trả lời cần phải hợp lý, gây nhiễu nhưng phải gần đáp án nên giáo viên phải mất nhiều công suy nghĩ hơn và sẽ khó khăn với những người ít kinh nghiệm
- Việc đánh lạc hướng học sinh sẽ không còn ý nghĩa nếu họ biết trước
đề Đặc biệt như hiện nay việc ra ngân hàng câu hỏi là bắt buộc đối với môn học
- Không kích thích được sự sáng tạo, không thấy được khả năng giải quyết vấn đề một cách linh hoạt của học sinh Thậm chí học sinh không có cơ hội để đưa ra một đáp án hay hơn các đáp án đã cho
b) Câu hỏi đúng - sai
Trong nội dung của dạng câu hỏi này có những câu nói, những lời phát biểu đúng hoặc không đúng với chân lý chung, những thông tin phù hợp hoặc không phù hợp với nội dung văn bản học sinh đã học hoặc đã nghe Câu hỏi dạng này là một câu đầy đủ về mặt ý nghĩa ở dạng khẳng định hoặc phủ định Nhiệm vụ của học sinh là phải lựa chọn một trong hai phương án: đúng hoặc sai
Với những học sinh có kiến thức chung rộng, có năng lực nghe hiểu, đọc hiểu tốt khi gặp câu hỏi dạng này sẽ chọn được nhiều câu trả lời đúng
Ưu điểm:
- Đây là loại câu hỏi dễ, đơn giản nên rất dễ ra đề