1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ phát triển hệ giá trị của con người việt nam hiện nay theo tư tưởng hồ chí minh

180 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù trong di sản tinh thần của Hồ Chí Minh để lại, không có những tác phẩm chuyên khảo bàn về hệ giá trị của con người Việt Nam, nhưng được thể hiện ở trong nhiều bài viết, bài nói dư

Trang 1

NGUYỄN VĂN TUYÊN

PHÁT TRIỂN HỆ GIÁ TRỊ

CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: HỒ CHÍ MINH HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

NGUYỄN VĂN TUYÊN

PHÁT TRIỂN HỆ GIÁ TRỊ CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Chuyên n gành: Hồ Chí Minh học

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và đã được trích dẫn đầy đủ đúng quy định

Tác giả luận án

Nguyễn Văn Tuyên

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 6

1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề giá trị con người, phát triển giá trị của con người Việt Nam 6 1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh

về phát triển giá trị của con người Việt Nam 17 1.3 Những vấn đề đã được nghiên cứu và những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu 26

Chương 2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ HỆ GIÁ TRỊ CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM 30

2.1 Một số khái niệm 30 2.2 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ giá trị của con người Việt Mam 35 2.3 Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ giá trị của con người Việt Nam 54

Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HỆ GIÁ TRỊ CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 89

3.1 Nhân tố tác động đến sự phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam 89 3.2 Sự phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam 103 3.3 Những vấn đề đặt ra từ sự phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam 121

Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HỆ GIÁ TRỊ CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG

HỒ CHÍ MINH 129

4.1 Quan điểm 129 4.2 Giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh 135

KẾT LUẬN 160 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 162 TÀI LIỆU THAM KHẢO 163

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề con người nói chung, giá trị của con người Việt Nam nói riêng là một nội dung quan trọng, vừa là mục tiêu, động lực của sự nghiệp cách mạng, vừa là mục đích của tư tưởng; sức mạnh của văn hóa và con người Việt Nam là nhân tố làm nên thắng lợi to lớn trong

sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Mặc dù trong di sản tinh thần của Hồ Chí Minh để lại, không có những tác phẩm chuyên khảo bàn về hệ giá trị của con người Việt Nam, nhưng được thể hiện ở trong nhiều bài viết, bài nói dưới những hình thức, mức độ khác nhau; đặc biệt được thể hiện rõ trong quá trình thực tiễn lãnh đạo xây dựng, phát triển nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc xây dựng, phát triển giá trị của con người Việt Nam, trong Di chúc, Người căn dặn sau khi chiến tranh kết thúc "đầu tiên là công việc đối với con người" [99, tr.616]

Việt Nam đang thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0) Nhờ có đường lối đúng đắn, chúng ta đã tiếp thu nhiều giá trị tiến bộ của nhân loại để không ngừng phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho người dân Tuy nhiên, mặt trái của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, kinh tế thị trường và Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang tác động tiêu cực đến hệ giá trị truyền thống của người Việt Nam; làm cho thang giá trị có

sự xung đột, chuyển đổi, thậm chí khủng hoảng trong việc lựa chọn giá trị định hướng, nhất là ở thế hệ trẻ Nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp vốn có của dân tộc như: yêu nước, đoàn kết, nhân ái, nghĩa tình, hiếu học, cần cù… dù vẫn được phần lớn người dân Việt Nam trân trọng, gìn giữ và phát huy, nhưng cũng đang

có biểu hiện mai một, suy thoái, nhất là giá trị đạo đức Thực tế đó đòi hỏi yêu cầu bức thiết cần tìm ra những giải pháp nhằm phát huy những giá trị tích cực,

Trang 6

hạn chế mặt tiêu cực, hướng tới xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng

Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, cùng với phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng phát triển văn hóa, con người, đặt con người ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển văn hóa Điều đó được thể hiện thông qua các Văn kiện Đại hội Đảng, từ Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1998) đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (2016); các Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, Hội nghị Trung ương 10 khóa IX, Hội nghị Trung ương 7 khóa X… Trong

nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”,

Đảng ta xác định nhiệm vụ trọng tâm của xây dựng văn hóa là xây dựng con người có nhân cách, đạo đức tốt đẹp và tinh thần đó được thể hiện xuyên suốt trong Nghị quyết, từ tên gọi đến mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ cũng như những giải pháp Đây là cơ sở quan trọng cho việc tiếp tục nghiên cứu, đúc kết và xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng

Hồ Chí Minh

Với những lý do trên, tôi chọn “Phát triển hệ giá trị của con người

Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu luận

án tiến sĩ, chuyên ngành Hồ Chí Minh học

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu làm sáng tỏ những quan điểm lý luận của Hồ Chí Minh về

hệ giá trị con người Việt Nam; từ đó vận dụng vào việc phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu làm rõ một số khái niệm cơ bản về: Giá trị, hệ giá trị; tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ giá trị của con người Việt Nam; phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam

Trang 7

- Nghiên cứu cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ giá trị của con người Việt Nam

- Nghiên cứu quan điểm lý luận của Hồ Chí Minh về hệ giá trị tiêu biểu, cốt lõi và phương pháp phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam

- Phân tích sự phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam trước tác động tích cực, tiêu cực của nhân tố khách quan và chủ quan

- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Vấn đề phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Trong di sản tinh thần để lại, Hồ Chí Minh đã đề cập trực tiếp, gián tiếp đến nhiều giá trị của con người Việt Nam Có những giá trị chung của dân tộc như: yêu nước, đoàn kết, nhân ái, cần cù, hiếu học…; có giá trị riêng của mỗi giai cấp, tầng lớp xã hội, ngành nghề: công nhân, nông dân, bộ đội, công an, phụ nữ, thanh niên, thiếu niên, nhi đồng…; có giá trị cá nhân: sức khỏe, các quyền con người… Có những giá trị chính trị: độc lập, tự

do, hạnh phúc, dân chủ…; có những giá trị đạo đức: trung thực, dũng cảm, liêm khiết, chính trực… Song, trong khuôn khổ của luận án, tác giả chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu các giá trị: Yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc; đoàn kết; nhân ái; trung thực, trách nhiệm; cần cù, sáng tạo Đây là những giá trị tiêu biểu, cốt lõi nhất, tạo nên bản sắc văn hóa, con người Việt Nam Từ những giá trị tiêu biểu, cốt lõi mang tính nguyên tắc này đã sản sinh ra nhiều giá trị quý báu khác của con người Việt Nam

- Về thời gian: Từ năm 1998 đến năm 2018, là giai đoạn nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập

Trang 8

quốc tế; là giai đoạn Đảng, Nhà nước ta đặc biệt coi trọng xây dựng, phát triển văn hóa, con người, đánh dấu bằng sự ra đời của Nghị quyết Trung ương

5 khóa VIII

- Về không gian: Trong quốc gia Việt Nam

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và phát triển văn hóa, con

người Việt Nam

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phân tích

và tổng hợp, lôgíc và lịch sử, tổng hợp và khái quát hóa, đối chiếu và so sánh, thống kê,

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

5.1 Ý nghĩa về mặt khoa học

- Luận án góp phần làm sáng tỏ những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ giá trị của con người Việt Nam; hệ thống hóa các quan điểm

lý luận của Người về hệ giá trị của con người Việt Nam

- Góp phần làm phong phú và sâu sắc thêm hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, về hệ giá trị của con người Việt Nam nói riêng; khẳng định những đóng góp quan trọng của Người vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin

5.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn

- Từ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ giá trị của con người Việt Nam, có thể vận dụng vào việc phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam hiện nay

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh tại các cơ quan nghiên cứu, các học viện và nhà trường về văn hóa, con người Việt Nam đương đại

Trang 9

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương, 11 tiết:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ giá trị của con người Việt Nam Chương 3: Thực trạng phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam theo

tư tưởng Hồ Chí Minh

Chương 4: Quan điểm và giải pháp phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 N HỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ GIÁ TRỊ CON NGƯỜI, PHÁT TRIỂN GIÁ TRỊ CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM

Bàn về vấn đề giá trị và giá trị con người Việt Nam đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước dưới những góc độ khác nhau

Tiêu biểu có Nguyễn Hồng Phong, trong cuốn Tìm hiểu tính cách dân tộc [122]

đã nêu và phân tích khá sâu sắc về đặc điểm, tính cách con người Việt Nam truyền thống như: tinh thần yêu nước bất khuất và lòng yêu chuộng hòa bình, nhân đạo; tính tập thể - cộng đồng; trọng đạo đức; cần cù, giản dị, thực tiễn; lạc quan Nghiên cứu từ góc độ lịch sử, ông khẳng định rằng dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng, một dân tộc được rèn giũa trong một môi trường đặc biệt, vừa mới ra đời hãy còn chập chững đã phải chiến đấu chống kẻ thù xâm lược; là một dân tộc có tinh thần tương trợ, hào hiệp, nghĩa tình, trung hậu, vị tha, coi trọng đạo đức và những giá trị tinh thần, là một dân tộc cần cù, giản dị, lạc quan… Chính “nhờ có những đức tính ấy mà đã vượt bao nhiêu trở ngại vô cùng lớn lao trên con đường tiến hóa của mình” [122, tr.200]

Cũng với cách tiếp cận trên, trong cuốn Những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam [149], Ngô Đức Thịnh đã phân tích khá sâu sắc một số vấn đề

lý luận trong nghiên cứu giá trị văn hóa và chuyển đổi hệ giá trị trong đổi mới

và hội nhập ở Việt Nam, trong đó nêu lên định nghĩa về “giá trị”, cách phân loại “giá trị”; nêu và phân tích hệ giá trị văn hóa tổng quát truyền thống Việt Nam, trong đó có những giá trị tiêu biểu như: Chủ nghĩa yêu nước; tinh thần cộng đồng; tinh thần lạc quan, nhân nghĩa; tinh thần cần cù, chịu đựng gian khổ… Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó và khảo sát riêng ở

cả ba miền Bắc, Trung, Nam, tác giả đã chọn ra 5 giá trị tiêu biểu của dân tộc Việt Nam đó là: Chủ nghĩa yêu nước; tính cộng đồng (làng xóm, vùng, miền,

Trang 11

dân tộc); cần cù, chịu khó; hiếu học, khát vọng học; gắn bó huyết thống (gia đình) và làng bản Bên cạnh những giá trị tổng quát đó, tác giả nêu và phân tích các giá trị bộ phận, thể hiện trong một số lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội như: Thích ứng môi trường và khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong lĩnh vực văn hóa đảm bảo đời sống như ăn, mặc, ở, đi lại,… trong các cách tổ chức và quản lý xã hội truyền thống, trong giáo dục và đào tạo con người,

Trong cuốn Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam [44],

Trần Văn Giàu đã đưa ra các khái niệm: “giá trị”, “giá trị tinh thần”, “truyền thống” Theo tác giả, các giá trị truyền thống Việt Nam được hình thành từ tác động tổng hòa của năm yếu tố cơ bản đó là: Hoàn cảnh địa lý; vị trí ngã tư đường giao lưu văn hóa và kinh tế Bắc Nam - Đông Tây; có nền văn minh bản địa đặc sắc; hoàn cảnh lịch sử; chủ nghĩa Mác - Lênin Tác giả đã nêu và phân tích những điều kiện lịch sử và những nhân tố tác động đến sự hình thành, phát triển của giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam Ông đưa ra bảng giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam bao gồm: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa Theo tác giả, những giá trị đó vừa mang tính phổ biến, vừa mang dấu ấn riêng và cái làm nên dấu ấn riêng, đặc sắc riêng đó chính là tổng hòa của nhiều yếu tố, trong đó hoàn cảnh lịch sử đặc thù của dân tộc đóng vai trò quyết định Những giá trị tinh thần truyền thống ấy, theo tác giả "vừa đủ để cho dân tộc ta sinh tồn tự do và vinh dự… các đức tính ấy hoàn toàn phù hợp, hài hòa với các giá trị đạo đức, giá trị tinh thần mà cả loài người đều quý trọng" [44, tr.164]

Tác giả Phạm Minh Hạc, trong cuốn Giá trị học, Cơ sở lý luận góp phần đúc kết, xây dựng giá trị chung của người Việt Nam thời nay [55] đã phân tích

làm rõ các khái niệm cơ bản về “giá trị”, “hệ giá trị”, “thang giá trị”, “thước đo giá trị” Ông nêu lên hệ thống giá trị của con người bao gồm: Giá trị chung của loài người (tính người, tình người, các giá trị chân, thiện, mỹ); các giá trị toàn

Trang 12

cầu (hòa bình, an ninh, hữu nghị, hợp tác, không xâm phạm chủ quyền, độc lập dân tộc); các giá trị dân tộc (tinh thần dân tộc, lấy các giá trị bản sắc dân tộc làm chuẩn mực (yêu nước, trách nhiệm cộng đồng); các giá trị gia đình (hòa thuận, hiếu thảo, coi trọng giáo dục gia đình); giá trị bản thân (giá trị nhân cách, giá trị cá nhân) Theo ông, các giá trị chân, thiện, mỹ; giá trị sống còn; giá trị lao động; giá trị gia đình là những giá trị chung của nhân loại Trong bài

mục thứ sáu với tiêu đề Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh - Tư tưởng chỉ đạo nghiên cứu giá trị, tác giả đã đề xuất nội dung cơ bản chủ nghĩa nhân văn Hồ

Chí Minh, bao gồm: Yêu thương vô hạn con người, nhất là người bị áp bức, nghèo khổ; tôn trọng con người; giải phóng con người khỏi áp bức, nô lệ, nghèo khổ, lầm than; khoan dung; sử dụng đúng từng người… từ đó tác giả khẳng định: "Chủ nghĩa nhân văn và nhân cách Hồ Chí Minh là một xuất phát điểm đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của chúng ta" [55, tr.71] Trong bài mục thứ hai mươi ba và thứ hai mươi tư, tác giả đã chỉ ra những biến động phức tạp một số giá trị ở Việt Nam; đồng thời đề xuất một số nguyên tắc và phương án nhằm đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trong cuốn Về giá trị và giá trị châu Á [128], Hồ Sĩ Quý đã phân tích những quan niệm cơ bản về giá trị và giá trị truyền thống, cắt nghĩa tại sao giá trị lại có vai trò đặc biệt đối với đời sống con người? Ông cho rằng, thế giới các giá trị, về thực chất chính là toàn bộ thế giới bên trong và bên ngoài con người được định hình trong tư duy và tình cảm của con người Do tồn tại với tư cách

là khuôn thước của sự đánh giá, là một biểu hiện đặc trưng cho quan hệ giữa chủ thể với khách thể trong đời sống xã hội Theo ông, truyền thống, ngoài những giá trị cơ bản, còn có những giá trị gián tiếp và phái sinh khác, bởi vậy, “hầu hết mọi hiện tượng truyền thống trong xã hội thường là có giá trị không giống nhau, thậm chí nước đôi (tính hai mặt) đối với từng cộng đồng người” [128, tr.56] Theo ông, hệ giá trị ưu trội của người Đông Á nói chung,

Trang 13

người Việt Nam nói riêng “có thể gồm nhiều giá trị cụ thể khác nhau, song đứng hàng đầu trong hầu hết các bảng phân loại bao giờ cũng là bốn giá trị

hiếu học, cộng đồng, cần cù và huyết tộc” [128, tr.210] Trong chương VI

của cuốn sách này, tác giả tập trung phân tích những tác động tích cực và tiêu cực của toàn cầu hóa đến sự biến động giá trị ở Việt Nam Thông qua kết quả khảo sát và lấy từ các nguồn tư liệu khác nhau, tác giả khẳng định trong toàn cầu hóa, một số giá trị có sự biến động, trong đó có các giá trị:

15 "Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2011-2015" Trong đó,

đã xây dựng khung lý luận về giá trị và hệ giá trị (bao gồm các khái niệm công cụ; các quy luật, đặc tính; phương pháp luận và các phương pháp cụ thể…) làm cơ sở cho việc xây dựng hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ mới Xác lập một hệ giá trị Việt Nam truyền thống với 23 giá trị, được tập hợp theo

05 đặc trưng cơ bản; giải thích nguồn gốc hình thành của các đặc trưng và các giá trị mà mỗi đặc trưng chi phối Các học giả đã tập trung nghiên cứu sự biến động của hệ giá trị Việt Nam truyền thống trong giai đoạn hiện đại, trong đó chỉ ra những giá trị được bảo tồn, những giá trị đang mất đi, những thói hư tật xấu (phi giá trị) đang phát sinh và những giá trị cần phát triển Trên cơ sở đó,

đề xuất mô hình hệ giá trị định hướng cốt lõi trọng điểm gồm 10 giá trị: 2 giá trị xã hội phổ biến (dân chủ và pháp quyền); 2 giá trị con người truyền thống điển hình (yêu nước và nhân ái); 2 giá trị con người thời kỳ hội nhập (trung thực và bản lĩnh); 2 giá trị con người trong quan hệ với đồng loại (trách nhiệm

và hợp tác); 2 giá trị con người thời kỳ công nghiệp và kinh tế tri thức (tính khoa học và sáng tạo) Để hiện thực hóa được hệ giá trị định hướng cốt lõi

Trang 14

trọng điểm này, tác giả đã phác thảo 5 nhóm giải pháp cơ bản: nhóm giải pháp

về thể chế; nhóm giải pháp về tổ chức; nhóm giải pháp giáo dục - tuyên truyền; nhóm giải pháp hành động; nhóm giải pháp phát triển

Trong cuốn Một số vấn đề về hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn

hiện tại [145], do Trần Ngọc Thêm chủ biên đã tập hợp khá nhiều bài viết của

các nhà khoa học Trong đó đáng lưu ý là bài viết của tác giả Lương Đình Hải với tiêu đề “Xây dựng hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế: góp thêm vài ý kiến nhỏ” Theo tác giả, hệ giá trị của một dân tộc hay một cộng đồng được hình thành qua quá trình lịch

sử lâu dài, được sàng lọc, gạt bỏ, bổ sung, tiếp biến và phát triển phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Hệ giá trị được lưu giữ, truyền bá từ thế hệ này qua thế hệ khác sẽ trở thành tài sản, là thước đo, “khuôn mẫu” để mỗi cá nhân

và cả xã hội định hướng cho các hành vi hoạt động của mình Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát riêng, tác giả nêu lên bảng giá trị Việt Nam cần xây dựng trong giai đoạn hiện nay đó là: 1) Tinh thần yêu nước; 2) Tinh thần nhân ái; 3) Anh hùng, dũng cảm; 4) Biết chấp nhận (nhẫn), tiếp thu; 5) Hiếu học; 6) Sáng tạo; 7) Cần cù; 8) Lạc quan; 9) Trọng đạo lý; 10) Ưa ổn định Tác giả khẳng định “Dù đang có những biến động nhưng các giá trị này không thể biến mất mà đang được tiếp tục củng cố, có những hình thức biểu hiện mới với những mức độ khác nhau” [145, tr.244] Cũng trong cuốn sách này, tác giả Nguyễn Hữu Nguyên với bài viết với tiêu đề “Phác thảo hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại” đã phác thảo những giá trị Việt Nam hiện đại bao gồm: 1) Ý chí bền bỉ, chịu khó và vượt khó; 2) Ý chí bất khuất, tự cường dân tộc; 3) Tài năng quân sự, dũng cảm; 4) Lạc quan và hài hước; 5) Dung hợp các giá trị văn hóa; 6) Khéo léo, năng động, sáng tạo; 7) Đoàn kết

và tính thực tế

Bàn về vấn đề phát triển giá trị cho con người Việt Nam, trong cuốn

Định hướng giá trị con người Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập [56],

Trang 15

đồng tác giả Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên, ngoài việc nêu lên một số khái niệm cơ bản về “giá trị”, “thang giá trị”, “thước đo giá trị”, “định hướng giá trị” đã nêu lên những cơ sở lý luận xây dựng bộ công cụ điều tra; nêu lên một số yêu cầu về hệ giá trị trong thời kinh tế thị trường; dự báo xu hướng biến đổi định hướng giá trị con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tác giả cho rằng, con người Việt Nam hiện nay đang hình thành định hướng giá trị mới Vì vậy, phải “tổ chức, điều khiển sao cho việc điều chỉnh hệ thống định hướng giá trị cũ có thể thay bằng một hệ thống định hướng giá trị mới, diễn ra một cách thận trọng, tuần tự, bảo đảm sự an tâm, ổn định trong từng con người, từng gia đình và toàn xã hội” [56, tr.59] Cũng ở cách tiếp cận này, đồng tác giả Nguyễn Quang Uẩn - Nguyễn Thạc - Mạc Văn Thăng,

trong cuốn Giá trị - định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị [166] đã

phân tích một số vấn đề lý luận về giá trị, định hướng giá trị và quá trình hình thành giá trị Từ kết quả nghiên cứu, tác giả nêu lên một số giá trị như: tự do, hòa bình, sức khỏe, việc làm… và định hướng giá trị nhân cách như: sống có tình nghĩa; sáng tạo trong học tập, lao động, công tác; có ý thức và hành vi sẵn sàng bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước

Ngoài các sách đã nêu ở trên, còn có một số bài báo khoa học đăng trên tạp chí Triết học, Xã hội học, Khoa học xã hội Việt Nam… đã tập trung phân tích những tác động của toàn cầu hóa đến sự biến đổi của văn hóa, con người

Việt Nam Trong đó, đáng lưu ý có bài viết của Hồ Sĩ Quý, Động thái của một số giá trị truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hóa [127], trong đó, tác

giả khẳng định toàn cầu hóa với bộ mặt phức tạp của nó đang làm cho hệ thống các giá trị thay đổi đáng mừng và cũng đang lo; đồng thời, tác giả chỉ ra những biến động của một số giá trị truyền thống ở Việt Nam như: giá trị “Hiếu học, đề cao giáo dục”, “cần cù, yêu lao động”, giá trị “cộng đồng, gia đình” Ở góc nhìn khác, Nguyễn Đình Tường, trong bài Giữ gìn và phát huy giá trị văn

hóa truyền thống ở Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hóa [162] cũng cho

Trang 16

rằng, toàn cầu hóa không chỉ mang lại thời cơ lớn, mà còn tạo ra những thách thức không nhỏ đối với tất cả các quốc gia, đặc biệt là với các nước đang phát triển Đối với Việt Nam, xu thế toàn cầu hóa đang tác động tích cực lẫn tiêu cực đến giá trị truyền thống của con người; đặt ra vấn đề làm thế nào để vừa

có thể tiếp thu các giá trị của thời đại, vừa có thể giữ được bản sắc dân tộc vốn có, để không bị nhấn chìm vào các nền văn hóa khác Trên cơ sở đó, tác giả nêu lên một số giải pháp nhằm giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam bao gồm: Tăng cường giáo dục truyền thống lịch sử và truyền thống cách mạng của dân tộc cho thế hệ trẻ; giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống phải luôn gắn liền với tăng cường giáo dục pháp luật; xác lập bản lĩnh văn hóa Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế

Tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền, trong bài viết Toàn cầu hóa và nguy

cơ suy thoái đạo đức, lối sống con người Việt Nam hiện nay [68] cho rằng,

toàn cầu hóa bên cạnh mặt tích cực là đã góp phần làm biến đổi con người Việt Nam, từ lối sống khép kín, cam chịu, phụ thuộc, ỷ lại vốn có sang lối sống cởi mở, năng động, tự lập, dám chịu trách nhiệm, phù hợp với xu thế thời đại; mặt khác, làm xuất hiện lối sống sùng bái vật chất, cá nhân, vị kỷ, thực dụng, đua đòi, ăn chơi, lãng phí, trụy lạc, thác loạn, ưa dùng bạo lực… làm suy thoái nhiều giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Về vấn

đề này, Mai Thị Quý, trong bài viết Tác động của toàn cầu hóa đến truyền thống cần cù, tiết kiệm của dân tộc Việt Nam [129] cho rằng, toàn cầu hóa

kinh tế đã và đang tác động đến truyền thống cần cù của dân tộc ta theo chiều

hướng vừa tích cực, vừa tiêu cực: một mặt, toàn cầu hóa tạo điều kiện phát huy đức tính cần cù, yêu lao động của đa số người dân; mặt khác, toàn cầu hóa cũng đem đến nguy cơ xem nhẹ, hay chí ít là chưa phát huy đúng mức

truyền thống cần cù của dân tộc Tác giả Võ Văn Thắng trong bài viết Nhân

ái - một giá trị văn hóa truyền thống cần kế thừa và phát huy trong việc xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay [140] cho rằng, lòng nhân ái là một giá trị

Trang 17

của dân tộc ta, góp phần tạo nên một nét độc đáo trong chủ nghĩa nhân văn truyền thống Việt Nam… Hiện nay, tinh thần nhân ái vẫn được nhân dân ta kế thừa, phát huy và nâng lên một tầm cao mới; lòng nhân ái không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà đã vượt ra ngoài biên giới, đến với các nước trong

khu vực và quốc tế Tác giả Trương Hoài Phương, trong bài Giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống của con người Việt Nam - Một yêu cầu tất yếu khách quan trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa [123] nêu ra những biện

pháp để giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống của con người Việt Nam đó là: Tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhân thức về các giá trị truyền thống của con người Việt Nam; quan tâm, tạo lập môi trường xã hội lành mạnh, đấu tranh chống nguy cơ xói mòn các giá trị truyền thống của con người Việt Nam; tích cực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, nhằm đổi mới

và nâng cao các giá trị truyền thống của con người Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Dưới góc độ triết học, tác giả Trần Sĩ Phán, trong bài viết Xung đột hệ giá trị tinh thần và xây dựng giá trị của con người Việt Nam [118], đã phân

tích sự xung đột hệ giá trị tinh thần, đó là những tình huống hoặc quá trình xã hội trong đó tồn tại các mâu thuẫn, những khác biệt giữa hai bên (cá nhân với

cá nhân, cá nhân với xã hội hay giữa các nhóm xã hội với xã hội nói chung) trong nhận thức, trong quan niệm về sự sắp xếp thứ bậc, lựa chọn các giá trị tinh thần Theo tác giả, “nguyên nhân của xung đột chủ yếu do những khác biệt, thiếu thống nhất trong nhận thức về các giá trị; thiếu tương ứng, tương dung, sự cách biệt giữa sự mong đợi, kỳ vọng của cá nhân, của nhóm người với giới hạn bởi những yếu tố và khả năng đáp ứng sự kỳ vọng đó của xã hội” [118, tr.21-22] Để xây dựng hệ giá trị của con người Việt Nam hiện nay, tác giả đề xuất một số giải pháp: Coi trọng tổng kết thực tiễn, xây dựng lý luận giá trị con người Việt Nam, nhằm góp phần nâng tầm tư duy của chúng ta trong việc giải quyết các vấn đề xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam đáp

Trang 18

ứng yêu cầu phát triển đất nước bền vững; tạo sự thống nhất, đồng thuận trong nhận thức, trong việc lựa chọn các giá trị… truyền bá hệ giá trị đó vào trong xã hội thông qua nhiều con đường, nhiều phương thức khác nhau, trong

đó các phương tiện truyền thông đại chúng giữ một vai trò hết sức quan trọng;

phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của con người Việt Nam; khắc phục tàn dư tâm lý sản xuất nhỏ, truyền thống lạc hậu

Trước những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và kinh tế thị trường đến giá trị của con người Việt Nam, một số học giả đã nghiên cứu, đề xuất những định hướng và giải pháp xây dựng, phát triển giá trị của con người Việt Nam Trong đó, đáng lưu ý là bài viết của Đỗ Huy và

Nguyễn Thu Nghĩa, với tiêu đề Bảng giá trị của văn hóa Việt Nam trong hành trình chuyển từ truyền thống sang hiện đại [66] đã nêu lên một số giá trị truyền thống tiêu biểu của người Việt Nam như: yêu nước; đoàn kết; nhân ái; tiết kiệm; ham học; biết ơn tổ tiên và những người có công với nước Theo tác

giả, để phát huy những giá trị đó cần thiết lập mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa dân tộc và quốc tế; kiến tạo những năng lượng dân chủ mới, ý thức pháp luật mới; huy động đông đảo nhân dân tham gia các quá trình xã hội hóa, hoạt động văn hóa lành mạnh thống nhất và đa dạng; điều hòa quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế…; làm cho các quá trình hiện đại hóa khắc phục được sự tha hóa thái quá trên con người

Tác giả Lê Vân Anh, trong bài viết Vấn đề giáo dục định hướng giá trị

trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO [4] cho rằng, định hướng giá trị là một trong những biến đổi rõ nét của đặc trưng, xu hướng nhân cách và có ý nghĩa hướng dẫn hoạt động của con người Định hướng giá trị mang đậm tính lịch sử - xã hội chung của cả cộng đồng, nét riêng của từng dân tộc, nét đặc thù của các nhóm xã hội, “giá trị, thước đo giá trị hay định hướng giá trị, có ý nghĩa khác nhau với từng người, nhóm người, giai cấp, dân tộc Đối với người này nó có ý nghĩa tích cực, nhưng đối với chủ thể khác nó có ý nghĩa ngược

Trang 19

lại” [4, tr.8] Cùng với cách tiếp cận đó, đồng tác giả Thái Duy Tuyên và Phan

Minh Tiến, trong bài viết Định hướng giá trị con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cho rằng các giá trị cốt lõi đã được hình thành qua

quá trình lịch sử, cho đến nay vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong bảng giá

trị của người Việt Nam đó là: yêu nước; nhân ái; hiếu học; cần kiệm; năng động, sáng tạo; dũng cảm; tự chủ, tự cường; mềm dẻo; cởi mở, lạc quan…

Những giá trị tiêu biểu đó là những thế mạnh của Việt Nam trong điều kiện hiện tại Theo các tác giả, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã mở đầu cho công cuộc đổi mới với việc xác nhận các giá trị như: Chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa; mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa; thi hành chính sách mở cửa Từ

ba giá trị cơ bản này đã tạo ra nhiều giá trị dẫn xuất, làm thay đổi hệ giá trị xã hội cũng như định hướng giá trị cho con người Việt Nam Tác giả cho rằng

“để chuyển từ một hệ giá trị này sang một hệ giá trị khác của một cộng đồng thường là một quá trình không giản đơn và diễn ra trong một thời gian dài Vì vậy, cần hình thành hệ giá trị quá độ, nhằm đảm bảo sự phát triển cân bằng,

ổn định và bền vững của xã hội” [164, tr.23]

Bàn về giáo dục, định hướng giá trị cho con người Việt Nam có khá

nhiều bài viết Đáng lưu ý là bài viết của tác giả Phạm Đỗ Nhật Tiến, Giáo dục nhân cách con người Việt Nam nhìn từ góc độ văn hóa [154] đã chỉ rõ

nhân cách con người hình thành phụ thuộc vào ba môi trường văn hóa quan trọng: văn hóa học đường, văn hóa gia đình và văn hóa xã hội Theo tác giả, nếu các chuẩn mực giá trị tạo nên văn hóa nhà trường không được xây dựng

và phát triển một cách có ý thức thì mặt tiêu cực sẽ có chiều hướng lấn át mặt tích cực, mà kết quả cuối cùng là chất lượng dạy và học không đảm bảo; văn hóa gia đình có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách đứa trẻ Thiếu văn hóa gia đình, đứa trẻ sẽ rơi vào trạng thái mất đi

Trang 20

những liên kết tình cảm với gia đình và cộng đồng Văn hóa xã hội tích cực hay tiêu cực sẽ tác động trở lại với văn hóa gia đình và văn hóa nhà trường

Hướng vào đối tượng cụ thể trong xã hội là thế hệ trẻ, tác giả Trần Viết

Lưu trong bài viết Giáo dục giá trị truyền thống cho thế hệ trẻ [82] cho rằng,

giá trị truyền thống có vai trò quan trọng góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia Tác giả chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự thiếu hụt giá trị truyền thống trong thế hệ trẻ là do: Ảnh hưởng của mặt trái nền kinh tế thị trường đã khiến cho đời sống xã hội ngày càng nảy sinh nhiều hiện tượng phi đạo đức; sự lạc hậu về chương trình và phương pháp giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức công dân trong hệ thống giáo dục quốc dân; một số bộ phận thế

hệ trẻ không chịu tu dưỡng rèn luyện, sa ngã trước những cám dỗ vật chất và thị hiếu tầm thường Tác giả nêu lên định hướng giáo dục giá trị truyền thống cho thế hệ trẻ, trong đó nêu lên những yêu cầu cần đạt được và một số giải pháp chủ yếu trong giáo dục giá trị cho thế hệ trẻ Tác giả Nguyễn Văn Công

và Lê Phạm Phương Lan, trong bài viết Định hướng giá trị đạo đức cách mạng

- giữ vững nền tảng nhân cách của thanh niên trong giai đoạn hiện nay [22]

cho rằng, xu hướng chung của thanh niên Việt Nam hiện nay là không ngừng

tu dưỡng đạo đức, lối sống, nỗ lực vươn lên trong học tập và rèn luyện… Bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận không nhỏ có biểu hiện phẩm chất đạo đức, lý tưởng cách mạng và niềm tin đang bị suy giảm; sống thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội; sự lệch lạc trong nhận thức về giá trị và định hướng giá trị

Những công trình nghiên cứu, bài viết trên đây đã cung cấp cho tác giả

cơ sở lý thuyết về giá trị học, giúp tác giả hiểu rõ hơn các khái niệm công cụ

có liên quan như: “giá trị”, “hệ giá trị”, “thang giá trị” “thước đo giá trị” “định hướng giá trị”; về cách tiếp cận vấn đề giá trị của con người nói chung, người Việt Nam nói riêng; về những giá trị phổ quát và giá trị đặc thù của mỗi quốc gia dân tộc, trong đó có giá trị tiêu biểu, cốt lõi của dân tộc Việt Nam như:

yêu nước, đoàn kết, nhân ái, cần cù, sáng tạo Các công trình trên đây đã

Trang 21

giúp tác giả có cái nhìn tổng quát về sự tác động của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và kinh tế thị trường đến sự vận động, biến đổi những giá trị truyền thống của con người Việt Nam theo cả hai xu hướng tích cực lẫn tiêu cực; nêu lên định hướng và những giải pháp cơ bản nhằm phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam trong bối cảnh mới hiện nay Đây là nguồn tư liệu quý báu để tác giả có thể vận dụng vào việc giải quyết những vấn đề đặt ra ở trong luận

án này

1.2 N HỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TƯ TƯỞNG

HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN GIÁ TRỊ CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM

Vấn đề con người, xây dựng, phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các nhà khoa học ở trong và ngoài nước

Tiêu biểu có Thủ tướng Phạm Văn Đồng với cuốn Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu, nước mạnh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1994 [41] Trong cuốn sách, tác giả phân tích, luận giải con

người Việt Nam trong lịch sử Việt Nam với những phẩm chất tốt đẹp như: kiên cường, bất khuất, thông minh, sáng tạo, coi trọng đạo đức làm người, cần cù nhẫn nại trong lao động, tương trợ nhân ái trong đời sống, khoan dung độ lượng trong quan hệ xã hội, linh hoạt trong phong cách ứng xử, quý trọng ý thức cộng đồng Từ đó, tác giả đề cập vấn đề Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu, nước mạnh, trong đó khẳng định người làm chủ

sự nghiệp dân giàu, nước mạnh là quần chúng nhân dân Con người phải được thực hiện các quyền con người, quyền công dân trên các phương diện: dân sinh, dân trí và dân chủ Khẳng định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước bảo đảm các quyền con người, quyền công dân

Đồng tác giả Phạm Minh Hạc, Nguyễn Khoa Điềm trong cuốn Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

[50] đã phân tích những nội dung cơ bản về: Đường lối giáo dục, phát triển toàn diện con người; mô hình nhân cách con người Việt Nam có khả năng

Trang 22

thích ứng với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đó là: Con người có lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có khả năng tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; có ý chí kiên cường, có hoài bão lớn lao…; có lòng nhân ái,

có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân; có tư duy sáng tạo và óc khoa học; có kỹ năng thực hành giỏi, tay nghề cao; có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật, tinh thần trách nhiệm cao; tôn trọng

và hợp tác được với người khác; có sức khỏe, có khả năng tự hoàn thiện không ngừng, năng động và thích ứng; ý thức bảo vệ môi sinh, biết yêu cái đẹp [50, tr.203]

Các tác giả nêu lên những định hướng chiến lược xây dựng đạo đức con người Việt Nam; định hướng chiến lược phát triển trí tuệ con người Việt Nam; định hướng chiến lược phát triển thể chất con người Việt Nam; định hướng chiến lược phát triển thẩm mỹ đối với thế hệ trẻ Việt Nam Phân tích vấn đề xây dựng lối sống, đạo đức và chuẩn mực giá trị xã hội mới trong thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đề xuất phương hướng, nhiệm vụ

và các giải pháp về thể chế, xã hội, giáo dục, đầu tư để xây dựng lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị xã hội mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Các tác giả tập trung phân tích thực trạng đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống của thanh niên hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất 6 giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức, lý tưởng chính trị, lối sống cho thế hệ trẻ, đó là: Tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất công tác giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống cho thế hệ trẻ; thống nhất mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống cho thanh niên học sinh, sinh viên; đổi mới nội dung, phương pháp dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn, đổi mới hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; xây dựng môi trường lành mạnh để giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống cho thanh niên học sinh, sinh viên;

Trang 23

đổi mới đầu tư và những điều kiện cho các hoạt động giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống cho học sinh, sinh viên

Cũng với cách tiếp cận trên, trong cuốn Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa [42], Nguyễn Khoa

Điềm và Phan Hữu Dật nêu lên những định hướng xây dựng, phát triển con người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; những phương pháp đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống nhằm phát triển văn hóa, con người Việt Nam phù hợp với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời, đề xuất 5 kiến nghị đó là: 1) Mục tiêu đưa tư tưởng

Hồ Chí Minh vào cuộc sống là xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Do đó, phải gắn kết nội dung của tư tưởng

Hồ Chí Minh với cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống tham nhũng dưới sự lãnh đạo của Đảng; 2) Đẩy mạnh và mở rộng phạm vi nghiên cứu (cuộc đời của Người cùng tư tưởng chính trị, triết học, tư tưởng kinh tế,

tư tưởng về con người…), đồng thời đổi mới phương pháp nghiên cứu (cách tiếp cận đa chiều, đặt vĩ nhân trong điều kiện lịch sử cụ thể, trong mối quan

hệ với bối cảnh thời đại, quốc gia, quốc tế…); 3) Đẩy nhanh hơn nữa việc giáo dục, giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh một cách căn bản, chính quy trong các nhà trường, đối với thanh niên; 4) Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật cho việc nghiên cứu, giảng dạy, tuyên truyền để đưa tư tưởng

Hồ Chí Minh vào cuộc sống; chú trọng địa bàn đồng bào dân tộc và đồng bào vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; 5) Đảng lãnh đạo tuyệt đối hệ thống chính trị và toàn xã hội trong nhiệm vụ đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống Phải coi việc tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin là nhiệm vụ chính trị hàng đầu, có tính nguyên tắc đối với toàn Đảng và chính quyền các cấp

Cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt

Nam phát triển toàn diện [28] của Thành Duy, tuy chưa phải là một công

Trang 24

trình phản ánh thật đầy đủ và toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về con người thể hiện trên nhiều mặt, song tác giả đã phân tích khá sâu sắc về mối quan hệ giữa văn hóa với việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, phù hợp với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; về quá trình hình thành con người Việt Nam phát triển toàn diện; bản chất con người Việt Nam phát triển toàn diện, trong đó luận giải làm sáng tỏ nội hàm khái niệm "con người mới xã hội chủ nghĩa" với đầy đủ phẩm chất "đức" và "tài"; nêu lên những giải pháp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trong đó nhấn mạnh quan điểm của Hồ Chí Minh về chiến lược "trồng người" gắn với vai trò của giáo dục đào tạo; xác định rõ đối tượng và nội dung xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện; nêu lên phương pháp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trong đó nhấn mạnh đến phương pháp nêu gương

Trong cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người [5], Phạm Ngọc

Anh đã phân tích bối cảnh lịch sử, quá trình hình thành, phát triển và những đặc điểm nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người; nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người Trong đó, có quyền dân sự - chính trị; quyền kinh tế, văn hóa, xã hội; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền của phụ nữ; quyền của các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam; quyền của trẻ em, vấn đề bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền con người Trên cơ sở đó, tác giả vận dụng vào thực tiễn, bảo đảm phát triển các quyền cơ bản của con người ở nước ta hiện nay

Cuốn Phát triển văn hóa và con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh của đồng tác giả: Hoàng Anh, Nguyễn Huy Bắc, Phạm Văn Thủy [2]

đã tập hợp bài viết của các nhà khoa học về phát triển văn hóa và con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Người Trong đó, các nhà khoa học cho rằng, con người là vấn

Trang 25

đề cốt lõi trong triết lý phát triển của Hồ Chí Minh Đó là triết lý vì mục tiêu nâng cao giá trị của con người: “Điều vĩ đại của nhà tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện tập trung ở triết lý phát triển vì con người Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển” [2, tr.45] Các tác giả nêu lên những nguyên lý, phương pháp, hình thức giáo dục theo tư tưởng

Hồ Chí Minh: Giáo dục gắn liền với chính trị - xã hội; học đi đôi với hành, lý luận liên hệ với thực tiễn; phối hợp nhà trường - gia đình và xã hội; giáo dục thường xuyên và học tập suốt đời

Cuốn Giá trị di sản tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần xây dựng con người mới Việt Nam của tác giả Nguyễn Văn Dương [27], tập hợp những bài

viết cho hội thảo về văn hóa và đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, do Khu

di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch tổ chức, nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Người Trong cuốn sách này có một số bài viết đề cập sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng con người Việt Nam hiện nay

Bài viết với tiêu đề “Đạo lý làm người của Bác Hồ chuẩn mực để xây dựng con người Việt Nam” của Trần Viết Hoàn, nguyên Giám đốc Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, trong đó tác giả đã khẳng định rằng đạo lý làm người của Bác Hồ là những chuẩn mực để xây dựng con người Việt Nam, cụ thể: Tình người; lòng trung thành; sống khiêm tốn, giản dị; lời nói đi đôi với việc làm Bài viết của tác giả Đỗ Hoàng Linh "Chủ tịch Hồ Chí Minh - nhân cách của thời đại" đã nêu ra những phẩm chất đạo đức mẫu mực của Chủ tịch

Hồ Chí Minh cần học tập, đó là: Đức tính quyết tâm, kiên trì bền bỉ; luôn trung thành, ngay thẳng và khảng khái; mềm mỏng nhẹ nhàng nhưng khôn khéo, thông tuệ, quyết đoán, tự tin Khiêm tốn, lịch lãm, giản dị, liêm khiết; lòng nhân ái bao la, quan tâm tận tình, sâu sắc đến từng đồng chí, đồng bào và tất cả mọi người; kiên định về mục đích, vững vàng về tinh thần, lạc quan cách mạng, tin tưởng vào sự tất thắng của chính nghĩa Ngoài ra, bài viết khác của tác giả Đỗ Huy “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người, phát

Trang 26

triển giáo dục, nâng cao dân trí”; tác giả Bùi Kim Hồng, Giám đốc Khu di tích

Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, “Thấm nhuần những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chống “giặc nội xâm” để xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”,… cũng đã trình bày một số quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa

Tác giả Trần Sâm, Cảnh Nguyên, Đào Tam Tỉnh với cuốn Bác Hồ với

sự nghiệp trồng người [132] Đây là cuốn sách tập hợp những mẩu chuyện

ngắn của nhiều tác giả, ghi chép lại lời kể của những nhân chứng lịch sử đã nhiều năm sống, hoạt động gắn bó với Hồ Chí Minh như: Trần Đại Nghĩa, Vũ

Kỳ, Nguyễn Văn Cần, Hoàng Đạo Thúy Qua những hồi ức đó, các tác giả cho người đọc thấy được những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với

sự nghiệp “trồng người” trong suốt cuộc đời hoạt động, lãnh đạo cách mạng Việt Nam; giúp người đọc có cách nhìn toàn diện, chân thực hơn về tư tưởng

và sự nghiệp xây dựng con người mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tác giả Nguyễn Đài Trang, một nhà nghiên cứu Việt Nam đang sinh sống

và làm việc tại Canađa, trong cuốn Hồ Chí Minh, nhân văn và phát triển [158]

đã cho rằng, lý tưởng sâu xa Hồ Chí Minh là sự hướng dẫn vô song về đạo đức làm người, “đó là cả một hệ thống những lời dẫn giải về ý nghĩa thực sự của sự phát triển con người, được truyền dẫn đến nhân dân Việt Nam với một chân giá trị hiền hòa và cách thức giản dị đi từ nhân cách của một bậc thầy vĩ đại nhất của thời hiện đại” [158, tr.343] Tác giả dẫn lời của David Halberstam khi nhận xét rằng “càng thành công Hồ Chí Minh lại càng giữ gìn các giá trị của người Việt Nam: tôn trọng người lớn tuổi, không màng đến danh lợi, thương yêu trẻ con” [158, tr.346]

Trong cuốn Xây dựng con người Việt Nam theo Di chúc của Chủ tịch

Hồ Chí Minh [3], tác giả Hoàng Anh cho rằng, con người là vấn đề cốt lõi trong triết lý phát triển Hồ Chí Minh, triết lý phát triển vì mục tiêu ngày càng nâng cao giá trị của con người Theo tác giả, đổi mới, trước hết phải bắt đầu

Trang 27

từ đổi mới con người với tư cách vừa là chủ thể, vừa là khách thể tác động của sự nghiệp đổi mới; sẽ không có sự đổi mới xã hội nếu không bắt đầu từ chính con người, chỉ có điều là cần phải có sự phù hợp giữa những thay đổi của hoàn cảnh và con người, của thực tiễn cách mạng; phải hướng vào những con người cụ thể, phát triển nhân cách phong phú, đó là nền tảng để

xã hội phát triển, “bởi mục đích phát triển của toàn xã hội nếu không chuyển thành những động cơ tư tưởng bên trong của các cá nhân thì không thể thực hiện được" [3, tr.45-46] Tác giả đề xuất một số giải pháp xây dựng con người mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó nhấn mạnh đến phương pháp giáo dục, phương pháp nêu gương "Người tốt, việc tốt", những "điển hình về con người văn hóa" để làm cơ cho việc xây dựng con người mới Việt Nam, nhất là trong giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ

Liên quan đến vấn đề này còn có một số luận án tiến sĩ Đáng lưu ý

là Luận án tiến sĩ triết học của Lê Quang Hoan, Tư tưởng Hồ Chí Minh về con

người với việc phát huy nhân tố con người trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa

ở Việt Nam hiện nay [63] đã làm rõ cơ sở, quá trình hình thành phát triển tư

tưởng Hồ Chí Minh về con người; phân tích quan niệm của Hồ Chí Minh về con người, vai trò của con người trong tiến trình cách mạng Việt Nam; từ đó vận dụng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay

Luận án tiến sĩ Triết học, Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện của Nguyễn Hữu Công [21] đã làm rõ cơ sở lý luận của tư

tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện; luận chứng những nội dung cơ bản trong tư tưởng phát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh,

từ đó vận dụng vào việc xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Theo tác giả, con người phát triển toàn diện là những con người được trang bị thế giới quan khoa học, có lý tưởng cách mạng, có tri thức, đạo đức, sức khỏe, năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng tốt Con người Việt Nam hoàn toàn có đủ khả năng trở thành những con người phát triển toàn diện;

Trang 28

Đảng và Nhà nước có thể đào tạo, phát triển con người toàn diện bằng cách tiến hành giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ; đề ra những yêu cầu phù hợp

về phẩm chất năng lực của con người Việt Nam trong từng giai đoạn cách mạng Phát triển con người theo hướng toàn diện là xu thế khách quan của lịch sử Cách mạng Việt Nam cần phải chú trọng đến vấn đề này Dưới góc

độ nghiên cứu này, trong Luận án tiến sĩ Triết học của Phạm Thị Đoạt, Con người phát triển toàn diện: Từ học thuyết Mác đến tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới [39] đã

phân tích vấn đề con người, bản chất con người; vấn đề giải phóng con người và phát huy nhân tố con người; xây dựng và phát triển toàn diện con người Việt Nam hiện nay

Liên quan trực tiếp, gián tiếp đến vấn đề hệ giá trị của con người trong

tư tưởng Hồ Chí Minh còn có khá nhiều bài viết đăng trên các tạp chí: Cộng sản, Lịch sử Đảng, Triết học, Nghiên cứu con người Đáng lưu ý là bài viết

của tác giả: Hồng Hà, Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và con người [47],

trong đó khẳng định rằng Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc Người ý thức rõ giá trị và vị thế của văn hóa dân tộc; coi trọng những truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam; trong sự nghiệp xây dựng con người, điều quan trọng bậc nhất là xây dựng lý tưởng, đạo đức cách mạng Về lý tưởng, đó là xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh Về đạo đức cách mạng,

đó là trung với nước, hiếu với dân, biết yêu thương con người; cần kiệm liêm chính, chi công vô tư và có tinh thần quốc tế vô sản trong sáng

Tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, trong bài Đầu tiên là công việc đối với

con người: vì dân - một tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh [20] đã khẳng

định, trên hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh

đã tiếp thu giá trị tự do, bình đẳng, bác ái là những giá trị phổ quát của nhân loại; đồng thời “đã sớm nhận ra sự khác biệt quá lớn giữa những giá trị nhân văn phương Tây được người ta hết lời ngợi ca và quyền con người trong thực tế

Trang 29

ở chính nơi đã sản sinh ra những tư tưởng và giá trị nhân văn ấy” [20, tr.4] Cùng với cách tiếp cận đó, nhưng ở một góc nhìn khác, tác giả Trần Thị Huyền

trong bài viết Công việc đối với con người” trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh [70] cho rằng, lòng thương yêu con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là sự quan tâm, chăm sóc, mà còn là sự nhắc nhở chăm lo cải tạo và xây dựng con người, giải phóng con người, bởi “Người luôn đặt niềm tin mãnh liệt vào sự hướng thiện của con người, sự vươn lên của họ thông qua giáo dục

và tự giáo dục để hướng tới những giá trị cao đẹp” [70, tr.59]

Trong bài Hồ Chí Minh với vấn đề dân sinh [61], tác giả Nguyễn Đình

Hòa cho rằng, trong quan niệm của Hồ Chí Minh, con người có cả nhu cầu giá trị vật chất và giá trị tinh thần Vì vậy, chăm lo cho con người không chỉ chú ý giải quyết những vấn đề ăn, mặc, ở mà còn phải chăm lo đến đời sống tinh thần của họ Từ đó, tác giả khẳng định rằng “quan điểm của Hồ Chí Minh

về vấn đề dân sinh không chỉ thể hiện tính nhân văn, nhân đạo cao cả, mà còn hàm chứa trong đó những giá trị chỉ dẫn quan trọng mang tầm chiến lược” [61, tr.22] Ở khía cạnh này, tác giả Nguyễn Xuân Thông, trong bài viết Đưa

tư tưởng yêu thương, quý trọng con người, sống có tình có nghĩa của Hồ Chí Minh vào hiện thực cuộc sống [151] cũng cho rằng, yêu thương, quý trọng

con người, sống có tình, có nghĩa là giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc, được hình thành, phát triển qua hàng nghìn năm lịch sử, trở thành một giá trị bất hủ của con người Việt Nam đã được Hồ Chí Minh tiếp thu, kế thừa và phát triển trong điều kiện mới Theo tác giả, tư tưởng sống có tình có nghĩa của Hồ Chí Minh, trước hết đó là tình nghĩa con người, là tình cảm gia đình, anh em, bạn bè… “nhưng không chỉ dừng lại ở đó, mà được thể hiện với nội dung mang tính cách mạng rộng lớn và cao cả Đó còn là tình đồng chí, nghĩa đồng bào, tình giai cấp và nhân loại, phản ánh chân giá trị đạo đức và nhân văn sâu sắc” [151, tr.16] Theo tác giả, ngày nay, giá trị đạo đức “yêu thương, quý trọng con người, sống có tình, có nghĩa” của Hồ Chí Minh có giá trị to lớn, thiết

Trang 30

thực và sâu sắc, đòi hỏi mỗi chúng ta cần nhận thức đẩy đủ, thể hiện bằng hành vi cụ thể trong hoạt động và cuộc sống của mình

Những công trình nghiên cứu, bài viết trên đây giúp tác giả có cái nhìn tổng quát những cống hiến to lớn của Hồ Chí Minh trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn về các vấn đề: Con người, vị trí vai trò của con người đối với sự vận động, phát triển của lịch sử; về vấn đề giải phóng con người Việt Nam bị áp bức; về vấn đề xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện bao gồm: đức, trí, thể, mỹ; về vấn đề xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Các công trình nghiên cứu và bài viết trên đã giúp tác giả nhận thức đầy đủ hơn những định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển con người Việt Nam phù hợp với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh Đây là nguồn

tư liệu quý giá để tác giả tham khảo, tiếp tục nghiên cứu vấn đề hệ giá trị của con người Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh

1.3 N HỮNG VẤN ĐỀ ĐÃ ĐƯỢC NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

Các công trình nghiên cứu nêu trên đã tập trung nghiên cứu các vấn đề chủ yếu sau:

Một là, đã nghiên cứu cơ sở lý thuyết về khoa học giá trị, trong đó nêu

lên các khái niệm công cụ: “giá trị”, “hệ giá trị”, “thang giá trị”, “định hướng giá trị”…; xây dựng và khái quát hệ giá trị truyền thống con người cùng những biểu hiện của nó trên cả hai khía cạnh tích cực và tiêu cực; chỉ ra những tác động ảnh hưởng của nhân tố khách quan (xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và kinh tế thị trường) và nhân tố chủ quan đến sự biến đổi giá trị truyền thống con người Việt Nam Từ đó đề xuất những giải pháp nhằm phát huy các giá trị tích cực, đồng thời hạn chế những yếu tố tiêu cực của con người Việt Nam hiện nay

Hai là, đã tập trung nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề con

người, trên các khía cạnh: Khái niệm về con người và bản chất con người; mối liên hệ hữu cơ giữa xây dựng, phát triển văn hóa với xây dựng, phát

Trang 31

triển con người; vị trí, vai trò của con người đối với sự phát triển của lịch sử; vấn đề giải phóng con người; phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thực hiện các quyền con người, Đặc biệt,

các tác giả đã nghiên cứu vấn đề xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là những con người có phẩm chất (giá trị) như: Có lý tưởng xã hội chủ nghĩa; có năng lực làm chủ; có kiến thức khoa học, hiểu biết và thực hành pháp luật; có đạo đức cách mạng; năng động, sáng tạo,…

Ba là, từ sự phân tích nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về con

người như đã nêu ở trên, các tác giả nêu lên những định hướng chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, thể chất và thẩm mỹ; đề xuất những giải pháp tiếp tục xây dựng, phát triển con người; phát huy nhân tố con người; xây dựng và phát triển những mặt tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực, những biểu hiện suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống của con người Việt Nam hiện nay trước tác động của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và kinh tế thị trường

Có thể nói, các công trình nghiên cứu trên đây có những đóng góp quan trọng về mặt khoa học, góp phần làm phong phú và sâu sắc thêm hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với dân tộc và thời đại Đây là nguồn tài liệu quý giá để các thế hệ sau tham khảo, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu còn ít, hoặc có nhưng chưa đề cập một cách trực tiếp đến vấn đề hệ giá trị của con người Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh; chưa đi sâu nghiên cứu làm rõ cơ sở hình thành tư tưởng

Hồ Chí Minh về hệ giá trị của con người Việt Nam; chưa khái quát thành hệ

thống quan điểm lý luận về hệ giá trị của con người Việt Nam, về phương pháp phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam trong thời đại mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ giá trị của con người mới Việt Nam; từ thực trạng phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam cùng những đòi hỏi khách quan của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại

Trang 32

hóa và hội nhập quốc tế, cần tìm ra những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển

hệ giá trị của con người Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh Đây

là những "khoảng trống" trong nghiên cứu về Hồ Chí Minh hiện nay

Từ kết quả nghiên cứu tổng quan, luận án tập trung giải quyết một số vấn đề sau:

Một là, trên cơ sở hệ thống hóa những quan điểm khác nhau về giá trị,

hệ giá trị, cần làm rõ các khái niệm công cụ: tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ giá trị của con người Việt Nam; phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam Nghiên cứu cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ giá trị của con người Việt Nam Đây là yêu cầu cần thiết, nhằm giúp chúng ta thấy được logic trong tư duy Hồ Chí Minh về vấn đề giá trị của con người Việt Nam; đồng thời, phân biệt giữa tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ giá trị của con người Việt Nam với những tư tưởng khác trong hệ thống tư tưởng của Người

Hai là, nghiên cứu quan điểm lý luận của Hồ Chí Minh về hệ giá trị tiêu

biểu, cốt lõi của con người Việt Nam: Yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc; đoàn kết; nhân ái; trung thực, trách nhiệm; cần cù, sáng tạo; về phương pháp phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam đã được triển khai trong thực tiễn lãnh đạo xây dựng, phát triển văn hóa, con người mới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Ba là, nghiên cứu, phân tích những nhân tố khách quan (quốc tế), chủ

quan (trong nước) đã và đang tác động tích cực, tiêu cực, cùng những biểu hiện của nó đến hệ giá trị của con người Việt Nam; phân tích thực trạng phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh Trên cơ

sở đó rút ra những vấn đề cần giải quyết, nhằm tiếp tục phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam trong thời gian tới

Bốn là, từ những chỉ dẫn Hồ Chí Minh về hệ giá trị của con người Việt

Nam; từ quan điểm, đường lối chủ trương của Đảng về xây dựng, phát triển văn hóa, con người, thể hiện trong nhiều văn kiện, nghị quyết; từ thực trạng phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam, luận án đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu có tính khả thi, nhằm tiếp tục phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam hiện nay

Trang 33

Tiểu kết chương 1

Vấn đề con người nói chung, hệ giá trị của con người Việt Nam nói riêng trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của các học giả ở trong và ngoài nước, dưới những góc độ khác nhau Các công trình nghiên cứu đã tập trung phân tích cơ sở lý thuyết về khoa học giá trị; hệ thống hóa và phân tích khá sâu sắc một số giá trị truyền thống tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, cùng với những biểu hiện của nó trên cả hai khía cạnh tích cực và hạn chế; những xu hướng biến đổi của hệ giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam, trước tác động của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, kinh tế thị trường và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay… Qua tổng hợp tư liệu cũng cho thấy, đã có khá nhiều công trình, bài báo khoa học đi sâu nghiên cứu (trực tiếp, gián tiếp) liên quan đến vấn đề con người, hệ giá trị của con người Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó tập trung vào các vấn đề: Giải phóng con người; xây dựng và phát triển con người toàn diện; phát huy nhân

tố con người… giúp tác giả có cái nhìn tổng quát hơn những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn về vấn đề con người nói chung, hệ giá trị của con người Việt Nam nói riêng; khẳng định giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với dân tộc và nhân loại Tuy nhiên, còn khá ít công trình nghiên cứu trực tiếp đến vấn đề hệ giá trị của con người Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Từ những kết quả đã nghiên cứu, luận án tập trung giải quyết các vấn đề: Hệ thống hóa các khái niệm về giá trị, hệ giá trị; làm rõ khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ giá trị của con người Việt Nam, khái niệm phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam; nêu và phân tích cơ sở hình thành và nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ giá trị của con người Việt Nam; phân tích thực trạng phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam trước tác động của nhân tố khách quan, chủ quan, trên cả hai khía cạnh tích cực và hạn chế; nêu và phân tích một số quan điểm và giải pháp cơ bản, nhằm tiếp tục phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 34

Chương 2

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ HỆ GIÁ TRỊ

CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM

2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM

2.1.1 Khái niệm giá trị, hệ giá trị

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, thuật ngữ “giá trị” đã được bàn đến từ rất sớm, bắt đầu bằng quan niệm về lợi ích của các nhà triết học cổ đại như Xôcrát, Platôn, Protago, tiếp tục được phát triển ở thời kỳ trung cổ và cận đại Sang đầu thế kỷ XIX, việc nghiên cứu giá trị phát triển mạnh mẽ, thâm nhập vào hầu hết các ngành học nhân văn Sau này, sự phát triển của giá trị học đã dẫn đến những xu hướng định nghĩa khác nhau về “giá trị” Có thể khái quát

thành các xu hướng: Một là, xu hướng đồng nhất giá trị với khách thể, cho

rằng giá trị thuộc về bản thân sự vật, hiện tượng Chẳng hạn, F.Chzel cho rằng, “giá trị” là “những tiêu chuẩn về cái có thể ao ước được, chúng xác định

các mục đích chung của hành động” Hai là, xu hướng coi “giá trị” thuộc về

chủ thể đánh giá Chẳng hạn, theo Ngô Đức Thịnh, khái niệm “giá trị” “là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của con người về tự nhiên, xã hội và

tư duy theo hướng những cái gì là cần, là tốt, là hay, là đẹp” [149, tr.23], hay

nói cách khác, đó chính là những cái được con người cho là chân, thiện, mỹ,

giúp khẳng định và nâng cao bản chất người Ba là, xu hướng cho rằng giá trị

thể hiện mối quan hệ giữa khách thể với chủ thể, trong đó, chủ thể giữ vai trò chủ đạo Các quan điểm theo xu hướng này cho rằng, bản thân sự vật khi còn

là “vật tự nó”, nghĩa là còn tồn tại “ngoại thân” với con người thì chưa có giá trị, giống như viên kim cương khi chưa được con người phát hiện ra giá trị của nó thì cũng chỉ là hòn cuội bên bờ sông Amazone mà thôi Giáo sư Vũ Khiêu cho rằng “giá trị là những thành tựu của con người góp vào sự phát triển đi lên của lịch sử xã hội, phục vụ cho lợi ích và hạnh phúc của con

Trang 35

người Giá trị xuất hiện từ mối quan hệ xã hội giữa chủ thể và đối tượng, nghĩa là từ thực tiễn và chiến đấu của con người xã hội” [136, tr.71] Lương Đình Hải cho rằng, giá trị “là những sự vật, hiện tượng, quá trình hay ở tất thảy những thứ được con người xem là có ý nghĩa nhất định, ít nhiều, đối với

sự tồn tại, vận động và phát triển của con người, xã hội” [145, tr.231]; còn theo Trần Ngọc Thêm, “Giá trị là tính chất của khách thể được chủ thể đánh giá là tích cực xét trong so sánh với các khách thể cùng loại trong một bối cảnh không gian - thời gian cụ thể” [146, tr.39]

Từ quan niệm về giá trị, các học giả đi đến khái niệm “hệ giá trị” Phạm Minh Hạc cho rằng: “Hệ giá trị là các giá trị của một tập hợp người như dân tộc, thế giới, vùng, gia đình, bản thân…” [55, tr.30] Theo Hồ Sĩ Quý, hệ giá trị “là thuật ngữ/ khái niệm dùng để chỉ một tập hợp các giá trị, được thể hiện dưới dạng các phẩm chất, các nguyên tắc, các lý tưởng và cả các triết lý… định hướng cho hoạt động của một công ty, một hãng, một doanh nghiệp, một viện nghiên cứu, một trường đại học, một khách sạn, hay một ngành hoạt động” [145, tr.191] Theo Trần Ngọc Thêm, “Hệ giá trị là toàn bộ các giá trị của một khách thể trong một bối cảnh không gian - thời gian xác định cùng với mạng lưới các mối quan hệ của chúng” [146, tr.51]

Như vậy, dù ở cách tiếp cận khác nhau để đưa ra những định nghĩa khác nhau về “giá trị”, nhưng các học giả đều thống nhất quan điểm coi giá trị

là những sự vật, hiện tượng, quá trình hay tất cả những gì được xem là có ý nghĩa đối với sự vận động, phát triển của con người và xã hội Giá trị bao gồm

cả hai mặt chủ quan và khách quan, gắn bó chặt chẽ với nhau, tồn tại cùng với

sự vận động và phát triển của xã hội Giá trị chỉ có ở xã hội trong đó con người tồn tại, sinh sống; con người là giá trị cao nhất, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra mọi giá trị

Các giá trị liên kết với nhau thành hệ thống, trong đó mỗi giá trị có vị trí xác định gọi là hệ (bảng thang) giá trị xã hội Cũng như phân loại nhiều đối

Trang 36

tượng nghiên cứu khác, đứng trên giác độ nghiên cứu khác nhau, người ta phân loại giá trị theo nhiều cách khác nhau, song phổ biến hơn cả là phân chia thành giá trị vật chất (ăn, mặc, ở, đi lại…) và giá trị tinh thần (nhận thức, giá trị chính trị, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ, giá trị tâm linh…) Mỗi quốc gia

- dân tộc, mỗi một cộng đồng, trong những hoàn cảnh lịch sử và xã hội cụ thể đều có những giá trị riêng của mình Tuy nhiên, không phải là cái gì mang tính chuyên biệt, loại trừ và tách biệt hoàn toàn với nhau, mà phần nhiều mang tính đồng nhất Chẳng hạn, yêu nước, cần cù lao động không chỉ là giá trị riêng có ở Việt Nam mà có cả ở nhiều quốc gia khác

2.1.2 Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ giá trị của con người Việt Nam

Sinh thời, Hồ Chí Minh không có tác phẩm chuyên khảo, cũng không đưa ra định nghĩa về giá trị, hệ giá trị Tuy nhiên, khi đọc các trước tác của Người, ta thấy thuật ngữ “giá trị” xuất hiện trong khá nhiều bài viết, bài nói

và được biểu đạt bằng ngôn từ mộc mạc, giản dị mà sâu sắc Có thể khái quát

ở một số vấn đề sau:

Thứ nhất, Hồ Chí Minh thường dùng thuật ngữ “giá trị” để so sánh giữa

một sự vật, hiện tượng này với một sự vật, hiện tượng khác Chẳng hạn, Người viết: “người An Nam phải tòng quân 4 năm, người Angiêri 3 năm; thế là theo sự tính toán của bọn quân phiệt Pháp thì giá trị của 2 người lính bản xứ gần bằng 5 người lính Pháp” [85, tr.219] Nhận xét về đặc điểm của các dân tộc phương Đông, Người cho rằng “đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” [85, tr.284]

Thứ hai, Hồ Chí Minh dùng thuật ngữ “giá trị” để khẳng định tính pháp

lý, hay tính chân lý của một sự vật, hiện tượng nào đó Chẳng hạn, Người viết:

“Nếu viên chủ sự viện kiểm sát xét kỹ theo đúng tinh thần pháp lý thì trong số hai nghìn rưởi biên bản lập hằng năm ở Bắc Kỳ, không có biên bản nào là có giá trị đối với Pari cả” [85, tr.445]; “Nếu Pháp đã ký điều ước quân sự với Mỹ, và

Trang 37

nếu Mỹ mở cuộc chiến tranh “phòng ngừa” chống Nga, thì thế nào? Trả lời thiết thực là: Hiệp ước ấy sẽ hoàn toàn không có giá trị” [91, tr.375]

Thứ ba, Hồ Chí Minh sử dụng thuật ngữ “giá trị” để khẳng định những

gì đáng quý, cần gìn giữ và phát huy (thường là các giá trị văn hóa tinh thần) Chẳng hạn, Người viết: “Chúng ta đem tinh thần mà chiến thắng vật chất, chúng ta vì nước, vì dân mà chịu khổ, một cái khổ rất có giá trị, thì vật chất càng khổ tinh thần càng sướng” [89, tr.176] Cũng có khi Người dùng thuật ngữ “giá trị” trong lĩnh vực kinh tế Chẳng hạn, Người viết: “Giá trị một ngày công còn thấp, vì năng xuất lao động thấp” [97, tr.214] Hồ Chí Minh có hai lần đề cập trực tiếp đến thuật ngữ “giá trị con người”: lần thứ nhất là trong

Điện gửi nhân dân thế giới, sau chiến tranh thế giới thứ hai, Hồ Chí Minh

viết: “Người ta tưởng đã có thể hy vọng vào việc thiết lập một thế giới mới dựa trên phẩm cách và giá trị con người, trên quyền bình đẳng của các dân tộc

dù nhỏ hay lớn và quyền tự do của các dân tộc” [89, tr.152]; lần thứ hai là trong bài Tội ác Mỹ tàn bạo hơn Hítle, Người viết: “Một hiện tượng rõ ràng

nữa là tác hại của những phương tiện chiến tranh hoá học của Mỹ đối với nhân dân Nam Việt Nam Những tác hại đó rất khó đánh giá Làm sao có thể tính được giá trị của sinh mạng một con người?” [99, tr.247]

Như vậy, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thuật ngữ “giá trị” là những gì đáng quý, có tính pháp lý, có ý nghĩa đối với sự tồn tại, vận động, phát triển của con người và xã hội Giá trị trước hết thuộc về bản thân sự vật, hiện tượng được con người nhận thức, đánh giá Giá trị vừa mang tính khách quan lại vừa mang tính chủ quan, gắn liền với hoạt động của con người, là yếu tố cốt lõi của văn hóa

Từ quan niệm về giá trị, đi đến khái niệm: Tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ giá trị của con người Việt Nam là một hệ thống quan điểm sâu sắc, toàn diện

về các giá trị tiêu biểu, cốt lõi của con người Việt Nam, được hình thành trên

cơ sở kế thừa có chọn lọc các giá trị truyền thống của dân tộc và nhân loại,

Trang 38

thể hiện ở lý tưởng, phẩm chất, nguyên tắc ứng xử được xác lập để định hướng cho hoạt động của con người, nhằm mục tiêu xây dựng xã hội mới, con người mới

2.1 3 Khái niệm phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam

Trong Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “phát triển” có nghĩa là sự “Biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [119, tr.743] Phát triển là một phạm trù triết học chỉ quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật Quá trình vận động đó diễn ra vừa tuần tự, vừa nhảy vọt để đưa đến sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng, dẫn đến sự thay đổi về chất, diễn ra theo đường xoáy ốc đi lên và sau mỗi một chu kỳ, sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn

Phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam là sự biến đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện của những giá trị tiêu biểu, cốt lõi thuộc về con người Việt Nam, nhưng ở trình độ ngày càng cao hơn Sự phát triển đó chịu ảnh hưởng của nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan, trong đó nhân tố chủ quan có ý nghĩa quyết định Đó là quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa cái thiện (cái tốt) với cái ác (cái xấu) cùng tồn tại đan xen, chuyển hóa lẫn nhau ở bên trong mỗi cá nhân; là quá trình vừa khắc phục, triệt tiêu các yếu tố tiêu cực, vừa kế thừa, phát huy những yếu tố tích cực, hướng con người vươn tới tầm cao văn hóa Sự phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam chịu tác động ảnh hưởng của nhiều nhân tố (khách quan, chủ quan) như: Môi trường

xã hội trong đó con người sống và hoạt động; phụ thuộc cơ chế, chính sách phát triển văn hóa, con người của các chủ thể lãnh đạo, quản lý…; phụ thuộc vào năng lực nhận thức, thái độ và hành vi ứng xử của mỗi cá nhân và cộng đồng người Việt

Trang 39

Khái niệm phát triển và phát huy tuy khác nhau, song lại có mối quan

hệ mật thiết, không tách rời, thậm chí có thể thay thế cho nhau trong một số trường hợp nhất định “Phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [119, tr.742] Để phát triển hệ giá trị văn hóa, con người đỏi hỏi phải phát huy nhằm làm cho những cái tốt, cái đẹp ngày một lan tỏa

để lấn át những cái ác, cái xấu Phát triển còn có quan hệ mật thiết với bảo tồn Bảo tồn nghĩa là “Giữ lại không để cho mất đi” [119, tr.37]; mục đích của bảo tồn là để những cái tốt, cái đẹp không bị mất mát, tổn thất Bảo tồn giá trị truyền thống văn hóa, con người Việt Nam không mâu thuẫn với phát triển,

mà phải trên nguyên tắc phát triển, vì mục tiêu phát triển Nói cách khác, những cái gì trong “kho vốn” giá trị truyền thống văn hóa, con người đóng vai trò động lực thúc đẩy sự phát triển thì chúng ta bảo tồn, phát huy; còn cái nào cản trở, kìm hãm sự phát triển thì hạn chế và dần loại trừ Bảo tồn giá trị văn hóa, con người không cản trở mà còn là cơ sở cho sự phát triển giá trị con người theo đúng hướng Bản thân quá trình phát triển hệ giá trị con người luôn có sự đào thải yếu tố lỗi thời, lạc hậu, không phù hợp Do vậy, nguyên tắc phát triển là nguyên tắc mang ý nghĩa chỉ đạo cho việc bảo tồn và phát

Như vậy, theo tác giả, phát triển hệ giá trị của con người Việt Nam là một khái niệm chỉ hoạt động của các chủ thể nhằm làm cho những cái hay, cái t ốt trong các giá trị tiêu biểu, cốt lõi của con người Việt Nam không ngừng nảy nở, lan tỏa và bồi đắp thêm

2.2 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ HỆ GIÁ TRỊ CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM

2.2.1 Cơ sở tư tưởng, lý luận

2.2.1.1 G iá trị truyền thống văn hóa, con người Việt Nam

Từ truyền thống nghĩa là tradition, bắt nguồn từ chữ traditio trong

tiếng Latinh có nghĩa là “giao, chuyển giao” Truyền thống bắt nguồn từ lịch

Trang 40

sử, song không phải mọi thứ thuộc về lịch sử đều là truyền thống, mà chỉ có những gì được kế thừa, lưu truyền mới gọi là truyền thống Truyền thống

thường có tính hai mặt: Một mặt, nó góp phần suy tôn, gìn giữ những gì quý giá, là cốt cách, nền tảng cho sự vận động, phát triển của xã hội; mặt khác,

truyền thống cũng là mảnh đất nuôi dưỡng làm sống lại mặt bảo thủ, lạc hậu, lỗi thời, kìm hãm sự phát triển của mỗi quốc gia Do vậy, truyền thống chứa đựng cả cái tốt lẫn cái xấu, cái tốt là các giá trị văn hóa, còn cái xấu là những phi giá trị văn hóa (Hồ Chí Minh thường gọi những giá trị tốt đẹp là “truyền thống quý báu” và các phi giá trị là “truyền thống lạc hậu”) Khi nói “giá trị truyền thống” là nói tới những giá trị tích cực, mang tính phổ biến, tương đối

ổn định, tiêu biểu của một dân tộc, có tác dụng định hướng cho hành động của con người; nói đến giá trị truyền thống là nói đến những gì tốt đẹp, có ý nghĩa đối với con người và sự phát triển của xã hội, được thừa nhận, đánh giá, thẩm định nghiêm ngặt bởi thời gian Hồ Chí Minh đã kế thừa các giá trị truyền thống con người Việt Nam, thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, tư tưởng truyền thống dân tộc Việt Nam luôn coi trọng con

người, xem con người là quý nhất “một mặt người hơn mười mặt của”, người

ta là “hoa của đất” Trong sinh hoạt cộng đồng, người Việt rất trọng thể diện,

dù sống trong điều kiện vật chất khó khăn, ông cha ta vẫn dạy con cháu rằng

“lời chào cao hơn mâm cỗ”, “đói cho sạch, rách cho thơm”, “tốt danh hơn lành áo”… Giữa sự giàu sang, phú quý với phẩm giá con người, ông cha ta luôn đặt phẩm giá con người lên trên Kế thừa, phát triển giá trị truyền thống dân tộc, Hồ Chí Minh coi con người là quý nhất, trên cả ba cấp độ: dân tộc, cộng đồng và cá nhân Người đặc biệt coi trọng giá trị sinh mệnh (giá trị sống) của con người, coi đó là quý nhất Con người là sản phẩm của quá trình tiến hóa lâu dài của lịch sử, thông qua hoạt động lao động; đến lượt mình, con người lại góp phần sáng tạo ra lịch sử, thúc đẩy xã hội phát triển

Ngày đăng: 25/02/2021, 15:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1998), Việt Nam văn hóa sử cương, tái bản, Nxb Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Đồng Tháp
Năm: 1998
2. Hoàng Anh, Nguyễn Duy Bắc, Phạm Văn Thủy (2010), Phát triển văn hóa và con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa và con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Anh, Nguyễn Duy Bắc, Phạm Văn Thủy
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
3. Hoàng Anh (2014), Xây dựng con người Việt Nam theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng con người Việt Nam theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Anh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2014
4. Lê Vân Anh (2007), "Vấn đề giáo dục định hướng giá trị trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO", Tạp chí Khoa học giáo dục (24), tr.7-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giáo dục định hướng giá trị trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO
Tác giả: Lê Vân Anh
Năm: 2007
5. Phạm Ngọc Anh (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
6. Phạm Ngọc Anh, Nguyễn Khánh Bật, Phạm Văn Bính (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
Tác giả: Phạm Ngọc Anh, Nguyễn Khánh Bật, Phạm Văn Bính
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
7. Phạm Ngọc Anh (2009), Triết lý phát triển Hồ Chí Minh - Giá trị lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý phát triển Hồ Chí Minh -
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
8. Phạm Ngọc Anh (2013), “Quyền sống của con người - Từ quan niệm của Hồ Chí Minh đến quy định của Hiến pháp”, Tạp chí Lý luận Chính trị (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền sống của con người - Từ quan niệm của Hồ Chí Minh đến quy định của Hiến pháp”, "Tạp chíLý luận Chính trị
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Năm: 2013
9. Phạm Minh Anh (2016), Định hướng giá trị của thanh niên trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng giá trị của thanh niên trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Tác giả: Phạm Minh Anh
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2016
10. Ban Tuyên giáo Trung ương (2014), Tài liệu nghiên cứu nghị quyết và một số chủ trương của Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI (Dùng cho Báo cáo viên), Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu nghị quyết và một số chủ trương của Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI (Dùng cho Báo cáo viên)
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2014
11. Hoàng Chí Bảo (2006), Văn hóa và con người Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và con người Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
12. Hoàng Chí Bảo (2007), Văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
13. Đặng Quốc Bảo, Trương Thúy Hằng (2009), “Quán triệt quan điểm về con người của Chủ tịch Hồ chí Minh vào nghiên cứu “phát triển con người” và “chỉ số phát triển con người” trong hoàn cảnh nước ta hiện nay”, Tạp chí Khoa học Giáo dục (44), tr.1-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quán triệt quan điểm về con người của Chủ tịch Hồ chí Minh vào nghiên cứu “phát triển con người” và “chỉ số phát triển con người” trong hoàn cảnh nước ta hiện nay”," Tạp chí Khoa học Giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Trương Thúy Hằng
Năm: 2009
14. Nguy ễ n Chí B ề n (2010), Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh t ế quốc tế , Nxb Chính tr ị qu ố c gia Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguy ễ n Chí B ề n
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
15. Phan Kế Bính (2005), Việt Nam phong tục, tái bản, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
16. Bộ Tư pháp (2005), Việt Nam với vấn đề quyền con người, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam với vấn đề quyền con người
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2005
17. Doãn Thị Chín, Lê Thị Thảo (Đồng Chủ biên) (2016), Giáo dục lối sống cho sinh viên Việt Nam hiện nay theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục lối sống cho sinh viên Việt Nam hiện nay theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Tác giả: Doãn Thị Chín, Lê Thị Thảo (Đồng Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật Hà Nội
Năm: 2016
18. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (2002), Giá trị truyền thống trước những thách thức của Toàn cầu hóa, Nxb Chính trị quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị truyền thống trước những thách thức của Toàn cầu hóa
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà nội
Năm: 2002
19. Nguyễn Trọng Chuẩn (2005), “Để phát triển con người một cách bền vững”, Tạp chí Triết học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để phát triển con người một cách bền vững”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 2005
20. Nguyễn Trọng Chuẩn (2009), ““Đầu tiên là công việc đối với con người”: vì dân - Một tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Tạp chí Triết học (9), tr.3-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đầu tiên là công việc đối với con người”: vì dân - Một tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w