1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát thực trạng ô nhiễm độc tố vi nấm ochratoxin a trong ngô tại hà giang và đề xuất giải pháp giảm thiếu mức độ ô nhiễm

92 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 679,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm tắt đề tài nghiên cứu Nấm mốc đã được sử dụng rất lâu trong các sản phẩm thực phẩm lên men, trong khi đó một số chủng vi nấm phát triển trong các hạt ngũ cốc đã sản sinh độc tố vi nấ

Trang 2

1.1 Tầm quan trọng của vệ sinh an toàn thực phẩm 5 1.1.1 Khái niệm về thực phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm và các

1.3.1 ảnh hưởng của ô nhiễm thực phẩm nói chung 9

1.4 Cấu tạo, phương pháp phân tích, điều kiện phát triển và

Trang 3

1.4.4 Tính chất Ochratoxin 13 1.5 Tình hình nghiên cứu Ochratoxin trên thế giới 14 1.5.1 Mức độ ô nhiễm sản phẩm nông sản và môi trường 14

2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

Trang 4

2.5.1 Các chỉ tiêu nông sản 30

3.1 Kết quả điều tra, phỏng vấn về tập quán thói quen sản

xuất, thu hoạch, bảo quản, sử dụng ngô và kiến thức của

3.1.6 Kiến thức của người dân về nấm mốc, tác hại của nấm mốc

3.2 Kết quả khảo sát mức độ ô nhiễm liên quan đến tập quán

sản xuất, thu hoạch, bảo quản, sử dụng, thời gian và kiến

3.2.1 Mức độ ô nhiễm liên quan đến tập quán sản xuất 41 3.2.2 Mức độ ô nhiễm liên quan đến tập quán thu hoạch 42 3.2.3 Mức độ ô nhiễm liên quan đến tập quán bảo quản 43

3.3 Kết quả phân tích và đánh giá mức độ ô nhiễm Ochratoxin

3.4 Kết quả điều tra và bàn luận về các bệnh nhân mắc bệnh

Trang 5

huyện Quản Bạ và Bệnh viện tỉnh Hà Giang liên quan đến

3.4.1 Kết quả điều tra các bệnh nhân mắc bệnh thận, gan tại nơi

3.4.2 Kết quả điều tra các bệnh nhân mắc bệnh thận, gan tại

trạm y tế xã Cán tỷ, Bệnh viện huyện Quản Bạ và Bệnh

Phụ lục 2 Phiếu điều tra tình hình sản xuất, chế biến, bảo quản, sử

dụng ngô và các sản phẩm ngô - Phần I Phiếu điều tra nông sản)

Phụ lục 3 Phần II Phiếu điều tra y tế

70

72

77

Trang 6

Tóm tắt đề tài nghiên cứu

Nấm mốc đã được sử dụng rất lâu trong các sản phẩm thực phẩm lên men, trong khi đó một số chủng vi nấm phát triển trong các hạt ngũ cốc đã sản sinh độc tố vi nấm Ochratoxin A là một trong số các độc tố vi nấm khá phổ biến Nhiều nghiên cúu đã chứng minh độc tố này nguy hiểm, có thể gây viêm thận, gây ung thư thận, gan, gây quái thai, đột biến gen, tác động tiêu cực lên quá trình sinh hoá Với lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Khảo sát thực trạng ô nhiễm độc tố vi nấm Ochratoxin A trong ngô tại Hà Giang và đề xuất giải pháp giảm thiếu mức độ ô nhiễm” Với 4 mục tiêu cụ thể: Điều tra thói quen sản xuất, thu hoạch, bảo quản và sử dụng ngô, tìm nguyên nhân gây

ô nhiễm; Đánh giá mức độ ô nhiễm Ochratoxin A trong ngô; Điều tra số bệnh nhân gan, thận mãn bao gồm cả ung thư; Đề xuất giải pháp can thiệp nhằm giảm thiểu ô nhiễm Ochratoxin A Đối tượng là: 160 hộ gia đình và 63 mẫu ngô Thời gian từ tháng 01-10/2008 Nghiên cứu theo phương pháp cắt ngang

có phân tích

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: Mức độ ô nhiễm Ochratoxin A trên ngô

ở xã Cán Tỷ là rất nghiêm trọng (58,7%); Yếu tố nguy cơ gây ô nhiễm Ochratoxin A là nấm mốc; Nguyên nhân gây ô nhiễm Ochratoxin A là tập quán sản xuất lạc hậu (85%) để ngô khô dần ngoài nương, phương tiện bảo quản nghèo nàn; Để chứng minh ngô mốc tại Hà Giang gây bệnh cho số bệnh nhân được điều tra trên thì cần phải có thêm chứng cứ khoa học, trong nghiên cứu này chỉ dừng lại ở nhận xét là những vùng ăn ngô nhiều thì có số bệnh nhân ung thư gan, thận cao Từ kết quả trên cho thấy, biện pháp chính để khắc phục tình trạng ô nhiễm Ochratoxin A trên ngô là: Thực hiện giáo dục truyền thông sâu rộng các biện pháp chủ động phòng tránh ô nhiễm nấm mốc độc phát triển và sinh độc tố vi nấm Ochratoxin A trong sản phẩm ngô

Trang 7

ABSTRACT Mold has been used for a long time in fermented food, in the meanwhile some fungi in cereals produce mycotoxin Ochratoxin A is one of popular mycotoxin Many studies shown that this mycotoxin was very toxic and it caused carcinogenic, gentoxicity, renal crystadenomas and adverse impact in biochemical process With above reasons, I had carried out “The survey on current situation of Ochratoxin A contamination in maize in Ha Giang province and proposed measures to minimize the contamination level”, with 4 objectives: Habit of production, harvesting, preserving and using of maize to find out the contamination causes; Assessment of contamination level of Ochratoxin A in maize; Investigation in patients with chronic liver and renal diseases including cancer; Proposal of intervention for minimizing Ochratoxin A contamination The subjects of study are: 160 household and 63 samples of maize Period of time: from Jan to Oct 2008 by using method of cross-sectoral analysis

The results of study shown that: Level of Ochratoxin A contamination

is quite high in Can Ty commune (58.7%); the risk of contamination is mold; Reasons of contamination is backward practice (85%) of on-site preservation and poor equipment; for conclusion of causing diseases by mold in maize in

Ha Giang province, it is necessary to study further to get more scientific evidences Within this study, the only comment was made is that in the area that people eating more maize have more patients of liver and renal cancers From these above results, it is shown that the key measures to deal with the problem are: further education and communication on the active prevention of mold growth and producing Ochartoxin A in maize products

Trang 8

Mở đầu

Vệ sinh an toàn thực phẩm có tác động trực tiếp thường xuyên đến sức khoẻ của mỗi người dân, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, thương mại, du lịch

và an sinh xã hội, về lâu dài còn ảnh hưởng đến phát triển nòi giống dân tộc

Trong những năm qua, được Đảng, Quốc hội, chính phủ và toàn thể xã hội quan tâm, công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm đã có nhiều tiến

bộ, đặc biệt có sự chuyển biến tích cực về nhận thức, nâng cao trách nhiệm của lãnh đạo các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và người tiêu dùng, góp phần bảo vệ sức khoẻ nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội [5]

Ngộ độc thực phẩm là một hội chứng cấp tính, xảy ra đột ngột do ăn phải thức ăn có chất độc, biểu hiệu bằng những triệu chứng dạ dày – ruột (đau bụng, nôn, ỉa chảy…) và những triệu chứng khác tuỳ theo đặc điểm của từng loại ngộ độc (tê liệt thần kinh, co giật, rối loạn hô hấp, tuần hoàn, vận

động…) Ngộ độc thực phẩm do độc tố vi nấm là một trong những nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm, ngộ độc này có thể là ngộ độc cấp tính, và có thể dẫn đên ngộ độc mãn tính làm ảnh hưởng tới hệ thống miễn dịch, suy giảm chức năng các cơ quan quan trọng của cơ thể và dẫn đến ung thư (gan, thận ), biến dị gen gây quái thai [11], [12]

Nấm mốc đã được sử dụng rất lâu trong các sản phẩm thực phẩm lên men, trong khi đó một số chủng vi nấm phát triển trong các hạt ngũ cốc đã sản sinh độc tố vi nấm Nấm mốc gây ô nhiễm ở khắp mọi nơi và độc tố thường

được phát hiện trong các thực phẩm bị ô nhiễm do nấm mốc ký sinh trên ngô, lạc và các hạt ngũ cốc trong quá trình sản xuất, bảo quản trong kho, hạt ngô hoặc sản phẩm nông sản khác khi hàm lượng nước trong chúng cao

Độc tố vi nấm là các chất độc được tạo bởi nấm mốc trên cánh đồng khi chúng được trồng trọt trong đất thích hợp với thời gian bảo quản Các chất này

Trang 9

có liên quan đến ung thư gan ở người ở động vật, các tác hại ghi nhận là có hại đến gan, giảm khả năng sinh sản và tăng độ nhậy cảm với bệnh tật [11], [12] Ochratoxin A là một trong số các độc tố vi nấm khá phổ biến Ochratoxin A là một độc tố nguy hiểm có thể gây viêm thận, gây ung thư thận, gan, gây quái thai, đột biến gen, tác động tiêu cực lên quá trình sinh hoá Ochratoxin A là sản phẩm chuyển hoá độc (toxic metabolites) được tách chiết lần đầu năm 1965 từ chủng nấm mốc Aspergillus ochraceus Wish, A sulphureus, A melleus từ năm 1970 và Penicilium viridicatum Westling từ

năm 1969 [41]

Nước ta nằm trong khu vực điều kiện khí hậu nhiệt đới, gió mùa, nóng

ẩm thường xuyên có nhiệt độ cao và độ ẩm lớn, có thời gian mưa kéo dài vào mùa hạ và bão lụt lại xảy ra thường xuyên tại các vùng ven biển miền Trung,

đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ, nên độ ẩm trong các lương thực, thực phẩm như gạo, ngô, đậu, cà phê…thường cao, đã một mặt làm cho việc bảo quản các sản phẩm nông sản gặp rất nhiều khó khăn mặt khác tạo điều kiện thuận lợi cho nấm mốc độc phát triển nhanh Chưa kể các loại sản phẩm trên thường lại thu hoạch trong thời vụ dễ gặp mưa dài ngày, đó là mối nguy cơ lớn cho vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm

Việt nam là nước nông nghiệp, nên sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu kinh tế của đất nước, các sản phẩm nông nghiệp này, trong những năm qua, không những đã phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng nội địa mà còn góp phần quan trọng cho việc xuất khẩu, giúp cho Việt nam thu được nhiều ngoại tệ mạnh để phục vụ cho sự nghiệp hiện đại hoá đất nước

Một số nghiên cứu mức độ ô nhiễm do độc tố vi nấm chủ yếu là Aflatoxin, nhận thấy rằng ô nhiễm do độc tố vi nấm Aflatoxin gây ảnh hưởng

đến sức khoẻ con người: Ung thư gan, tổn thương gan, dạ dày, giảm miễn dịch Nhưng với độc tố vi nấm Ochratoxin A còn có rất ít nghiên cứu Năm

Trang 10

1996, Ts Nguyễn Thuỳ Châu, Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch đã khảo sát 8 mẫu ngô tại 3 tỉnh miền Bắc là Hà Bắc, Hoà Bình, Sơn

La có 7 mẫu bị nhiễm Ochratoxin A, trong đó có mẫu nhiễm đến 36 ppb, hàm lượng trung bình là 10 ppb [4], không phát hiện thấy Ochratoxin A trong 19 mẫu ngô tại 5 tỉnh Đồng Nai, An Giang, Lâm Đồng, Cửu Long, Sông Bé Từ tháng 1/2004 đến tháng 12/2005, Bộ Y tế (Cục An toàn vệ sinh thực phẩm) đã tiến hành nghiên cứu đề tài Khảo sát điều tra thực trạng ô nhiễm độc tố vi nấm Ochratoxin A trong ngô và các sản phẩm chế biến từ ngô tại Hà Giang và Cao Bằng, góp phần xác định mức độ ô nhiễm độc tố vi nấm Ochratoxin A và đề xuất ngưỡng giới hạn ô nhiễm độc tố vi nấm Ochratoxin A trong thực phẩm

Với lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Khảo sát thực trạng ô nhiễm độc tố vi nấm Ochratoxin A trong ngô tại Hà Giang và đề xuất giải pháp giảm thiếu mức độ ô nhiễm”

Nội dung nghiên cứu bao gồm:

1 Khảo sát, điều tra thói quen sản xuất, thu hoạch, bảo quản và sử dụng ngô của người nông dân thuộc xã Cán Tỷ huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang

2 Đánh giá mức độ ô nhiễm Ochratoxin A trong ngô

3 Điều tra số bệnh nhân gan, thận mãn bao gồm cả ung thư trong 5 năm gần đây (2000- 2005) tại xã điều tra của tỉnh Hà Giang Tìm mối liên quan giữa bệnh và ăn ngô mốc hoặc bệnh và vùng ăn ngô

4 Đề xuất giải pháp can thiệp nhằm giảm thiểu ô nhiễm Ochratoxin A trong ngô

Trang 11

Chương I Tổng quan tài liệu

1.1 Tầm quan trọng của vệ sinh an toàn thực phẩm

1.1.1 Khái niệm về thực phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm

Thực phẩm là những sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản [6], [22] Các nhóm chất dinh dưỡng chính mà thực phẩm cung cấp bao gồm: năng lượng, chất đạm, chất béo, các vitamin, khoáng chất, vi chất, nước và chất xơ Có vô số các loại thực phẩm khác nhau, mỗi thực phẩm có thể cung cấp đồng thời nhiều chất dinh dưỡng cùng một lúc Tuy nhiên, mỗi thực phẩm thường có xu hướng cung cấp một nhóm chất dinh dưỡng chủ đạo trong số các nhóm chất kể trên, Hofvander chia thực phẩm thành 4 nhóm cơ bản: nhóm cung cấp năng lượng (tinh bột), nhóm cung cấp chất đạm, nhóm cung cấp chất béo, nhóm cung cấp chất khoáng và vitamin [37]

Thực phẩm được ăn vào dưới nhiều dạng, dạng tươi sống tự nhiên như trái cây, rau sống hoặc dưới dạng nấu chín như thịt, cá và rất nhiều thực phẩm sau các quá trình gia công, chế biến như thịt hộp, cá hộp, bánh kẹo, mứt Trong suốt quá trình từ sản xuất, chế biến, phân phối, vận chuyển, bảo quản và sử dụng, thực phẩm đều có thể có nguy cơ bị ô nhiễm bởi các tác nhân sinh học, hoá học và vật lý nếu thực hành sản xuất không tuân thủ các quy định vệ sinh an toàn Khi đó, thực phẩm có thể trở nên nguy hại cho sức khoẻ con người và là nguyên nhân dẫn đến ngộ độc thực phẩm

Vệ sinh an toàn thực phẩm là các điều kiện và biện pháp cần thiết để bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khoẻ, tính mạng của con người Theo FAO và WHO định nghĩa năm 1984 “Vệ sinh an toàn thực phẩm là việc

Trang 12

bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khoẻ, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phảm không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hoá học, sinh học hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm của

động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khoẻ người sử dụng” [50]

Thực phẩm bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn không những làm giảm

tỷ lệ bệnh tật, tăng cường khả năng lao động mà còn góp phần phát triển kinh

tế, văn hoá, xã hội và thể hiện nếp sống văn minh của một dân tộc Hội nghị Châu á lần thứ 3 về an toàn thực phẩm và dinh dưỡng tổ chức tại Bắc Kinh tháng 10/2002 đã dành nhiều thời gian thảo luận đến biện pháp đẩy mạnh công tác VSATTP trong những năm cuối thể kỷ 20 để chuẩn bị bước vào thiên niên kỷ mới [45]

1.1.2 Vệ sinh an toàn thực phẩm và phát triển giống nòi

VSATTP không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ cộng đồng mà còn tác động đến quá trình điều hoà gen, ảnh hưởng đến giống nòi Thực tế, Nhật Bản đã rất thành công trong việc ”cải tạo giống nòi” thông qua chương trình kiểm soát ATTP Trong 20 năm (từ 1957-1977) nhờ áp dụng chương trình này mà chiều cao của người Nhật trưởng thành đã được gia tăng 4,3cm ở nam và 2,7cm ở nữ (trong khi quy luật chung chỉ là 2cm) [1]

1.1.3 Vệ sinh an toàn thực phẩm với phát triển kinh tế và xã hội

VSATTP là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt Sử dụng thực phẩm an toàn sẽ cải thiện được sức khỏe con người và là quyền cơ bản của con người Bên cạnh đó, ATTP còn cung cấp một nền tảng cho năng suất, hiệu quả phát triển kinh tế, thương mại, du lịch và an ninh xã hội Bảo đảm VSATTP sẽ tăng cường nguồn lực, thúc đẩy phát triển và là nền tảng cho xoá đói giảm nghèo Tuy nhiên, thế giới lại đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm thực phẩm và ngộ

độc thực phẩm nghiêm trọng Các bệnh do thực phẩm gây ra không chỉ gây

Trang 13

ảnh hưởng đến sức khoẻ và cuộc sống của con người mà còn gây thiệt hại về kinh tế đối với cá nhân người mắc bệnh, gia đình họ với cộng đồng và Chính phủ Các bệnh này đã tạo ra một gánh nặng lớn cho hệ thống chăm sóc sức khoẻ và giảm đáng kể năng suất lao động [1]

Theo báo cáo của WHO năm 2006 dịch cúm gia cầm H5N1 đã xuất hiện ở 44 nước ở Châu Âu, Châu á, Châu Phi và Trung Đông gây tổn thất nghiêm trọng về kinh tế 40 nước đã từ chối không nhập khẩu thịt gà từ Pháp gây thiệt hại 48 triệu USD/tháng Tại Đức, thiệt hại do cúm gia cầm cũng lên tới 140 triệu Euro Tại ý đã phải chi 100 triệu Euro cho phòng chống cúm gia cầm [1] Tại Mỹ đã phải chi 3,8 tỷ USD để chống bệnh này Theo báo cáo của FDA Mỹ năm 2006, trung bình cứ 1.000 dân có 175 người bị NĐTP mỗi năm

và chi phí cho 1 ca NĐTP mất 1.531 USD ở úc, chi phí cho một ca bị NĐTP mất 1.679 đô la úc Còn ở Anh mất 789 bảng Anh [1], [49]

ở nước ta, mặc dù chưa có thống kê đầy đủ và rõ ràng nhưng những chi phí để cấp cứu các bệnh nhân bị NĐTP tại các bệnh viện là rất lớn Vụ NĐTP trên 200 người mắc ở Thái Bình năm 1998 do ăn nem chạo nhiễm Salmonella enteritidis là một ví dụ điển hình, chi phí cho một ca bị NĐTP lúc đó là không dưới 200.000 đồng [21]

1.2 Ô nhiễm thực phẩm, ngộ độc thực phẩm

1.2.1 Ô nhiễm thực phẩm và nguyên nhân

Ô nhiễm thực phẩm là tình trạng bất kỳ một chất nào không được chú ý cho vào thực phẩm mà có mặt trong thực phẩm do kết quả của việc sản xuất, chế biến, xử lý, đóng gói, vận chuyển, lưu giữ thực phẩm hoặc do ảnh hưởng của môi trường tới thực phẩm [11], [12]

Các chất ô nhiễm thực phẩm có thể là các vi sinh vật (vi khuẩn, virus,

ký sinh trùng, vi nấm), các hoá chất (các hoá chất bảo vệ thực vật, các kim

Trang 14

loại nặng, phụ gia, các dư lượng kháng sinh, hormone…) và các tác nhân vật

lý (các mảnh thủy tinh, mảnh kim loại, chất phóng xạ…) [11], [12]

1.2.2 Ngộ độc thực phẩm và nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm

Ngộ độc thực phẩm là một hội chứng cấp tính, xảy ra đột ngột do ăn phải thức ăn có chất độc, biểu hiệu bằng những triệu chứng dạ dày – ruột (nôn, ỉa chảy…) và những triệu chứng khác tuỳ theo đặc điểm của từng loại ngộ độc (tê liệt thần kinh, co giật, rối loạn hô hấp, tuần hoàn, vận động…) [11], [12]

Các nguyên nhân gây NĐTP: Ngộ độc thực phẩm do vi sinh vật (vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, vi nấm), do hoá chất (các hoá chất bảo vệ thực vật, các kim loại nặng, phụ gia, các dư lượng kháng sinh, hormone…), do bản thân thức ăn chứa các chất độc tự nhiên do thức ăn bị biến chất [11], [12]

1.3 Tác hại ô nhiễm độc tố vi nấm nói chung và ô nhiễm Ochratoxin

1.3.1 ảnh hưởng của ô nhiễm thực phẩm nói chung

Ô nhiễm thực phẩm nói chung ảnh hưởng tới sức khoẻ Sử dụng thực phẩm ô nhiễm có thể dẫn đến hoặc ngộ độc thực phẩm cấp tính mà biểu hiện thông thường là nôn, đau bụng, ỉa chẩy và các triêu chứng khác tuỳ theo tác nhân gây ngộ độc (ví dụ ngộ độc do hoá chất BVTV, do nấm độc có thêm các triệu chứng thần kinh ), hoặc khi ăn phải các tác nhân gây độc ở mức vừa phải chưa đủ liều gây cấp tính thì sẽ bị ngộ độc thực phẩm mãn tính, các chất độc, hoăc các chất chuyển hoá trung gian của tác nhân gây độc tích luỹ vào các phủ tạng như gan, thận làm rối loạn dần dần các chức năng sống của cơ thể dẫn đến các bệnh mãn tính, suy gan, suy thận, ung thư Hậu quả của ngô độc thực phẩm sẽ không những ảnh hưởng tới phát triển thể lực, thể chất, giống nòi mà ảnh hưởng cả đến sự phát triển kinh tế – xã hội như hàng hoá ô nhiễm

Trang 15

bị trả lại , ảnh hưởng phát triển thương mại, ảnh hưởng tới du lịch, không tiêu thụ được sản phẩm thực phẩm [11], [12].

1.3.2 Tác hại của độc tố vi nấm

Ngộ độc thực phẩm do độc tố vi nấm là một trong những nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm, có thể gây nên ngộ độc cấp tích, ngăn cản hệ thống miễn dịch, gây suy giảm các chức năng của cơ thể và gây nên bệnh ung thư [11], [12]

Bảng 1.1 Tác hại của độc tố vi nấm nói chung và Ochratoxin [11], [12]

1.4.1 Cấu tạo: Ochratoxin A, B, C, D là sản phẩm chuyển hoá độc

(toxic metabolites) được tách chiết lần đầu năm 1965 từ chủng nấm mốc

Aspergillus ochraceus Wish, A sulphureus, A melleus từ năm 1970 và

Trang 16

Penicilium viridicatum Westling từ năm 1969 [41] Nấm mốc gây ô nhiễm ở

khắp mọi nơi và độc tố thường được phát hiện trong các thực phẩm bị ô nhiễm

do nấm mốc ký sinh trên ngô, lạc và các hạt ngũ cốc được bảo quản trong kho, hạt ngô hoặc nguồn thực vật bị thối rữa

Ochratoxin A là độc tố phổ biến có công thức C20H18ClNO6 {(5-chloro-3,4- dihydro- 8- hydroxy- 3- methyl-1- oxo-1H-2- benzopyran-7- yl) carbonyl}-L-phenylalamine] (hình 1.1, 1.2) Ochratoxin A có dạng kết tinh tinh thể từ xylene nhiệt độ chảy (mp) 169oC Phát mầu (exhibits) huỳnh quang xanh lá cây (green fluorescence): [α]D - 118o (C=1,1 trong CHCl3); (bước sóng hấp thu cực đại) λmax (dung môi ethanol): 215, 333 nm; (khả năng hấp thu của phân tử tại λmax) ε 34000; 2400 (Van der Merwe)

[(R)-N-Độc tố Ochratoxin A còn gặp ở dạng kết tinh có nhiệt độ chảy (mp) 90o

từ benzen (một mole benzen kết tinh, one mole of benzen of crystallization) λmax: 213, 332 nm (ε 36800; 6400) (Steyn Holzapfel) LD50 trên chuột đường uống 20-22 mg/ kg (Purchase Theron)

Hình 1.1: Công thức Ochratoxin A and Ochratoxicoses (theo Leonov AN

Trang 17

Methyl ester của OA R1: CH3 R2: Cl R3: H Methyl-ethyl ester của OB R1: CH3 hoặc C2H5 R2: H R3: H

Hình 1.2: Công thức Ochratoxin A (theo bách khoa toàn thư thuốc các chất sinh học, hoá học Merck Index Hoa Kỳ xuất bản lần thứ 12 năm 1996)[39]

Ochratoxin A là độc tố vi nấm được cấu thành từ dẫn xuất có liên kết

rất bền của isocoumarin và L-β-phenylalamine (hình 1.1) được chiết xuất dưới dạng acid và methyl, ethyl este từ các nấm độc thuộc chủng Aspergillus ochraceus, A alliaceus, A ostiamus, A mellus và Penicillium viriditicum, P cyclopium [41]

Ochratoxin A:

Ochratoxin B: C20H19NO6 [(R)-N-{(3,4- dihydro- 8- hydroxy- 3- methyl-1- oxo-1H-2- benzopyran-7- yl) carbonyl}-L-phenylalamine] Là dẫn xuất không có chloro của Ochratoxin A nên ít độc hơn Kết tinh từ methanol

có nhiệt độ chảy (mp) 221oC (Van der Merwe), theo Nesheim là 208-209o Phát huỳnh quang mầu xanh da trời (blue fluorescence): [α]D - 35o (C=0,15); λmax (ethanol): 218, 318 nm; ε 37200; 6900

Trang 18

Ochratoxin C: C22H22ClNO6 [(R)-N-{(5-chloro-3,4- dihydro- 8- hydroxy- 3- methyl-1- oxo-1H-2- benzopyran-7- yl) carbonyl}-L-phenylalamine ethyl ester] Thể vô định hình ethyl ester của Ochratoxin A có

độc tính tương đương, λmax (ethanol) 333 nm, ε 6500

1.4.2 Phương pháp xác định

Trung tâm nghiên cứu ung thư quốc tế đã chọn lọc 2 phương pháp để phân tích xác định Ochratoxin A [32]:

TLC phân tích bán định lượng với giới hạn của phương pháp là 10mg/g

để xác định Ochratoxin A trong đại mạch và hạt cà phê xanh (green coffee), lúa mỳ, yến mạch, ngô, quả nho để chế biến rượu vang, đậu hạt, gan, thận và mô cơ bắp

HPLC phân tích định lượng, xác định được chính xác hàm lượng tồn dư Ochratoxin A trong nông sản ở lượng rất thấp, hiện nay là phương pháp phổ biến được dùng ở các Labor phân tích

1.4.3 Điều kiện phát triển

Điều kiện lý tưởng phát triển nấm mốc sản sinh ra độc tố vi nấm Ochratoxin A ở nhiệt độ 30oC và hoạt độ nước aw =0,956 [39]

Năm 1985, Tong CH và cộng sự đã thử nghiệm và nhận thấy tại pH 4,5 khả năng phát triển và sản sinh Ochratoxin A từ chủng A sulphureus và P viridicatum bị ức chế hoàn toàn (97-99%) bởi Potassium sorbate, 0,067%

methyl paraben và 0,2% sodium propionate [46]

1.4.4 Tính bền vững

Ochratoxin A chịu được nhiệt, nhiệt độ sôi bình thường không huỷ

được Ochratoxin A [39]

Trang 19

1.5 Tình hình nghiên cứu Ochratoxin trên thế giới

1.5.1 Mức độ ô nhiễm sản phẩm nông sản và môi trường

Thực phẩm bị nhiễm Ochratoxin được phát hiện nhiều ở ngô, lúa mỳ, lúa mạch, gạo, đậu, cà phê, bia, nho khô, nước nho, rượu vang, ca cao và thuốc lá khi bảo quản ở độ ẩm cao và nhiệt độ thuận lợi

Tại khu vực Balkan nơi bị dịch viêm thận địa phương do độc tố vi nấm Ochratoxin A (Balkan endemic mephrophathy), Pavlovic M và cs (1979) đã nhận thấy trong 768 mẫu bánh và ngũ cốc được lấy mẫu tại Nam Tư bị nhiễm Ochratoxin A cao hơn các nước khác và mức độ ô nhiễm trung bình là 8,7% Thống kê hàng năm mức ô nhiễm Ochratoxin A trong ngũ cốc là 43% [42]

Ngoài ra trong thức ăn gia súc Skrinjar M và cộng sự khảo sát năm

1992 trong thân cây ngô, củ cải đường và cỏ khô alfafa có dư lượng Ochratoxin A là 400 ppb Nếu quá trình bảo quản, chế biến, hạt cà phê được

xử lý rửa sạch và phơi sấy khô kịp thời, có thể giảm ô nhiễm Ochratoxin A tới 90% [44]

Năm 2003 Mortensen GK và cộng sự đã xác định trong đất tại Đan Mạch có 0,2-30 mcg/kg trọng lượng khô (dry weight) Ochratoxin A, và 1-100 mcg/kg trọng lượng khô Zearalenone (ZON) [40]

Tại Kenya bột ngô được xem là thành phần lương thực chính với lượng

sử dụng trung bình 400g/ người/ ngày Ngoài ra cũng là nguồn thức ăn chính của gia cầm và gia súc Mariuki GK và cộng sự đã chọn 168 mẫu bột ngô của

2 hãng Ugali và Jogoo để xác định sự ô nhiễm nấm mốc và độc tố vi nấm Kết quả khảo sát nhận thấy có 2 chủng Aspergillus flavus, A sulphureus, 1 chủng Fusarium monoliforme và 2 chủng Penicillium stoloniferum và P cyclopium

Hầu như tất cả các mẫu đều bị nhiễm Aflatoxin B1, B2 với dư lượng 0,4-20 mcg/kg, Ochratoxin A (50-1000 mcg/ kg) và Zearalenone 2500-5000 mcg/kg [38]

Trang 20

Fazekas và cộng sự năm 2001 theo dõi thực trạng nhiễm Ochratoxin A tại Hungary [28] trong hạt ngũ cốc, cà phê và thực phẩm cho người (36 mẫu bánh mỳ, 16 mẫu bột mỳ và 6 mẫu ngô); thức ăn gia súc (30 mẫu bột mỳ, 32 mẫu ngô và 20 mẫu đại mạch); cà phê thương phẩm (30 mẫu), xác định bằng phương pháp IAC-HPLC (Immuno affinity column- high performance liquid chromatography), giới hạn xác định của phương pháp 0,1 ng/g, các tác giả đã nhận thấy mức ô nhiễm Ochratoxin A trong các thực phẩm như sau:

Bảng 1.2 Mức độ ô nhiễm Ochratoxin A trong các thực phẩm [28]

Thực phẩm Tỷ lệ mẫu ô nhiễm (%) Dư lượng ô nhiễm trung bình

% bị ô nhiễm

Mức ô nhiễm(ppb)

Tài liệu tham khảo (xuất xứ) Trong thực phẩm

(Shotwell và

cs 1971)

Trang 22

(Osborne 1980)

Trang 23

mẫu (33%) và nhận thấy dư lượng là 10-130 mg/lit [28], [41]

Trang 24

1.5.3 Độc tính

LD 50 của Ochratoxin A trên chuột theo đường uống từ 20-22 mg/kg gây độc với cả thận và gan [31] Động vật uống Ochratoxin A bị độc carcinom tiểu quản thận (tubular cell carnocimas) trên chuột cái, chim và động vật có vú khác, đã gây thành dịch địa phương với bệnh thận của lợn tại Đan Mạch, Thuỵ

Điển và một số nước khác thuộc cộng đồng châu Âu [33]

1.5.4 Ochratoxin ở bệnh thận

Tại Tuynidi đã sử dụng khá nhiều hạt ngũ cốc trong hỗn hợp thức ăn cho cá bị nhiễm Ochratoxin A, trong các bệnh nhân bị viêm thận đã phát hiện thấy xuất hiện nồng độ cao Ochratoxin A trong các mẫu máu và bệnh viêm thận đã có dấu hiệu xuất hiện thành dịch địa phương và có liên quan đến khí hậu thời tiết giống như tại vùng Balkan [33]

Theo dõi kiểm tra các lò mổ tại Đan Mạch và Thuỵ Điển đã nhận thấy 25-35% lợn bị bệnh thận có tích luỹ một lượng Ochratoxin

1.5.6 Ochratoxin gây quái thai - dị dạng

Tác động gây quái thai đã được kiểm tra trên chuột với liều 40 mg/kg Ochratoxin trong 45 tuần Người ta đã thử nghiệm gây quái thai (teratogen) và ung thư trên động vật [34]

Trang 25

1.5.7 Khả năng gây ung thư

Ochratoxin A có thể gây ung thư (anticipated) Seventh Annual Report

of Carcinogens (PB 95- 109781, 1994) Taurine

Trong chương trình nghiên cứu độc học tại Hoa Kỳ năm 1988, Viện Y

tế sức khoẻ Hoa Kỳ đã thử nghiệm gây ung thư trên chuột chủng F344/N độc

tố vi nấm Ochratoxin A sản sinh từ A ochraceus và một số chủng nấm mốc

khác Trong các kết quả thử nghiệm đã xác định độc tố Ochratoxin A đã gây canxinôm tế bào thận trên chuột cái [14], [16]

1.5.8 Tác động sinh hoá

Năm 1994 Harvey RB và cs đã thử nghiệm trên lợn sữa có trọng lượng

18 kg/ con sử dụng độc tố Ochratoxin A và T-2 Nhóm 1 đối chứng không bổ sung Ochratoxin A và T-2 Nhóm thử nghiệm được chia làm 2 lô sử dụng chung hỗn hợp 2,5 mg Ochratoxin A + 8 mg T-2 trên 1 kg thức ăn gia súc trong 30 ngày (lô 2a) và lô 2b sử dụng riêng biệt 2,5 mg Ochratoxin A/ kg thức ăn (2b1) và 80 mg T-2 (2b2)

Sau 30 ngày thử nghiệm, kiểm tra các chỉ tiêu nhân trắc, sinh hoá và bệnh lý nhận thấy: trọng lượng cơ thể của nhóm thử nghiệm có sử dụng độc tố Ochratoxin A và T-2 đều giảm so với nhóm đối chứng Trọng lượng gan lợn của nhóm sử dụng độc tố Ochratoxin A và độc tố hỗn hợp có giảm nhưng trọng lượng thận của nhóm sử dụng Ochratoxin A lại tăng Ochratoxin A đã làm giảm cholesterol huyết thanh, phốt pho vô cơ, giảm giá trị phosphatase kiềm, giảm khối lượng tế bào (mean cell volume), nồng độ hemoglobin và đại thực bào (macrophage phagocytosis) và tăng giá trị créatinin và protein tổng

số Nhóm sử dụng riêng T-2 đã giảm hemoglobin và giá trị huyết thanh phosphatase kiềm Sử dụng kết hợp 2 độc tố Ochratoxin A và T-2 đã giảm cholesterol huyết thanh, gamma glutamyltransferase, alkaline phosphatase,

Trang 26

khối lượng tế bào, hepatocrit và hemoglobin, sinh u nguyên bào lympho và đại thực bào và tăng nồng độ créatinin huyết thanh (lymphoblastogenensis)

Từ các số liệu trên, tác giả đã kết luận: Độc tố vi nấm Ochratoxin A và T-2 đã gây ô nhiễm đơn độc hoặc kết hợp trên lợn sữa đều tác động đến sự thay đổi triệu chứng lâm sàng, nhân trắc học, sinh hoá, huyết học và miễn dịch [30], [31] Cùng thời gian đó Harvey RB và cs đã kiểm tra mức độ độc hại của Ochratoxin A tới khả năng miễn dịch trên lợn sữa có trọng lượng trên

20 kg với lượng ăn vào trong thức ăn gia súc là 2,5 mg Ochratoxin A/ kg thức

ăn gia súc Theo dõi trong 35 ngày, các tác giả trên đã nhận thấy lợn sữa nhiễm độc tố Ochratoxin A đã giảm khả năng cảm ứng ưa base da (cutaneous basophil hypersensitivity) tới sự đáp ứng PHA (ngưng kết tố hồng cầu thực vật phytohemagglutinin) giảm và làm chậm sự tăng mẫn cảm tới tuberculin, giảm kích thích tới sản sinh nguyên bào lympho, giảm sự hình thành interleukin-2 khi tế bào lympho được kích thích bởi concanavalin (hoạt chất được tách từ

đậu Jack bean- Canavalia ensiformis Papilionate được sử dụng làm tác nhân gây động lực trên bề mặt và phân chia tế bào) gây giảm số lượng cùng hoạt tính thực bào (phagocytic activity) của đại thực bào (macrophage) Các số liệu thu được đã chỉ rõ Ochratoxin A có thể ức chế tế bào gián tiếp đáp ứng miễn dịch (cell-mediated immune response) với lợn sữa [30], [31]

1.5.9 Tác động làm giảm độc tính

Borjecki A và cộng sự năm 2001 đã thử nghiệm tác động của vitamin E trên chuột bị nhiễm Ochratoxin A và nhận thấy nếu sử dụng vitamin E cùng với liều gây nhiễm Ochratoxin A (nhóm III) so với nhóm II (không sử dụng vitamin E) giá trị hồng cầu, huyết cầu tố hemoglobin và thế tích huyết cầu (hematocrit) không bị giảm và gần tương tự như nhóm đối chứng (nhóm I) [26]

Trang 27

1.5.10 Quy định mức dư lượng

Quy định với thực phẩm: Walkev B và cộng sự năm 2002 đã thông báo giới hạn của JECFA lượng ăn vào 100mcg/kg bw perweek (Trọng lượng cơ thể/tuần) ; 1,5-5,7 mcg/kg trọng lượng cơ thể/ngày theo quy định của Canada

và 5mcg/kg trọng lượng cơ thể/ngày theo quy định của cộng đồng EEC [47]

Quy định với thức ăn chăn nuôi: Tại Liên Xô cũ năm 1980 đã có quy

định trong thức ăn gia súc, gia cầm đối với các loại tuổi không được vượt quá

50 ppb Ochratoxin A Với các hạt ngũ cốc như ngô, lúa mỳ, mạch dùng làm thức ăn gia súc, lượng Ochratoxin A không được vượt quá 3-4 mcg/ kg (ppb) [36]

1.5.11 Nhận xét chung

Ochratoxin A có độc tính rất cao có thể gây nhiễm độc thận, quái thai, nhiễm độc gen sinh ung thư , độc với thận và nhiều biến đổi sinh hoá khác

1.6 Tình hình nghiên cứu Ochratoxin A ở Việt Nam

Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới có khí hậu và độ ẩm cao, có thời gian mưa kéo dài vào mùa hạ và bão lụt lại xảy ra thường xuyên tại các vùng ven biển miền Trung, đồng bằng Bắc Bộ sông Hồng và Nam Bộ tạo điều kiện thuận lợi cho nấm mốc độc phát triển nhanh và gây ô nhiễm độc tố vi nấm tới lương thực, thực phẩm như gạo, ngô, đậu và cà phê đều là các mặt hàng có khả năng xuất khẩu truyền thống và tiêu dùng nội địa cao lại thu hoạch trong thời

vụ dễ gặp mưa dài ngày

Hà Giang là một tỉnh miền núi cao nằm ở cực bắc tổ quốc, phía Bắc giáp các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây – Trung Quốc, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai Diện tích tự nhiên là 7.884,37 km2

Hà Giang mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu lục đại Bắc á Trung Hoa, có

Trang 28

hai mùa rõ rệt, mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều và mùa đông lạnh, khô hạn Hà Giang có 778.473 ha diện tích đất tự nhiên, đất nông nghiệp có 134.184 ha chiếm 17% diện tích đất tự nhiên, đất lâm nghiệp có 334.100 ha, chiếm 42,4%,đất chưa sử dụng có 310.064 ha, chiếm 39,3%, còn lại là đất chuyên dùng và đất ở Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng, toàn tỉnh có 9 nhóm đất chính, trong đó chủ yếu là nhóm đất xám rất thích hợp để trồng các loại cây công nghiệp, cây dược liệu và cây ăn quả

Nước ta là nước nông nghiệp, có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, việc bảo quản lương thực thực phẩm là một trong các vần đề lớn để tránh hư hỏng lương thực thực phẩm, nhất là gần đây việc tăng nhanh sản lượng ngô, lạc và các sản phẩm chế biến nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng cho nội địa và xuất khẩu, đã đặt yêu cầu cho các ngành nông nghiệp, y tế phải quan tâm đến vấn

đề đảm bảo chất lượng an toàn cho LTTP và các sản phẩm chế biến khỏi ô nhiễm trước hết đối với độc tố vi nấm là quan trọng và cần thiết để bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng

Bộ Y tế đã xây dựng giới hạn dư lượng Aflatoxin trong thực phẩm và sữa theo Quyết định 867/QĐ-BYT là 35 ppb [2], trong đó có Ochratoxin A là

điều chưa hợp lý vì gần đây theo khuyến cáo của tổ chức FAO/WHO nhiều nước đã giới hạn với Ochratoxin A là từ 2- 10 ppb do đã phát hiện Ochratoxin

A gây ung thư thận và gan phổ biến trên động vật và người tại các nước vùng Balkan và một số nước tại cộng đồng châu Âu

Năm 1996, Ts Nguyễn Thuỳ Châu, Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch đã khảo sát 8 mẫu ngô tại 3 tỉnh miền Bắc là Hà Bắc, Hoà Bình, Sơn La có 7 mẫu bị nhiễm Ochratoxin A, trong đó có mẫu nhiễm đến 36 ppb, hàm lượng trung bình là 10 ppb, không phát hiện thấy Ochratoxin A trong 19 mẫu ngô tại 5 tỉnh Đồng Nai, An Giang, Lâm Đồng, Cửu Long, Sông Bé.[4]

Trang 29

Năm 2000, Lâm Thanh Hiền, Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, đã khảo sát 56 mẫu cà phê nhân tại 4 tỉnh Đắclắc (23 mẫu), Gia Lai (14 mẫu), Lâm Đồng (12 mẫu), Đồng Nai (7 mẫu), kết quả cho thấy 50/56 mẫu bị nhiễm

độc tố Ochratoxin A với hàm lượng trung bình rất thấp 0,38ppb, và biến thiên

từ 0,04 – 7,74ppb [15]

Năm 2006, Ths Nguyễn Minh Trí, Khoa chế biến Trường Đại học Thuỷ sản Nha Trang, đã khảo sát 64 mẫu gạo tại 4 chợ tại Nha Trang: Chợ Đầm, Chợ Xóm mới, Chợ Vĩnh Hải, chợ Phước Thái, kết quả cho thấy 22/64 mẫu nhiễm độc tố Ochratoxin A với hàm lượng trung bình là 0,63ppb [20]

Tóm lại các nghiên cứu về Ochratoxin A còn rất ít nghiên cứu Một số nghiên cứu đều chỉ ra rằng việc ô nhiễm độc tố Ochratoxin A xảy ra nhiều tỉnh thành trên toàn quốc đối với nhiều sản phẩm (ngô, cà phê, gạo) với các mức ô nhiễm khác nhau Đặc biệt đối với một số vùng miền cao (Hà Giang, Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng) là các tỉnh trồng nhiều ngô nhất, người nông dân còn nghèo, dân trí thấp, nguồn thức ăn chủ yếu là ngô, thời tiết thuận lợi cho nấm mốc phát triển nhanh và gây ô nhiễm độc tố vi nấm

Trang 30

Chương 2 Phương pháp nghiên cứu 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Người nông dân (thói quen sản xuất, thu hoạch, bảo quản và sử dụng ngô)

- Mẫu ngô sau khi thu hoạch và bảo quản dùng làm thức ăn cho người

và gia súc (phân tích mức ô nhiễm OchratoxinA) trong 1 vụ:

+ Ngô thường: Hạt ngô thường có màu vàng, trắng, đỏ, tím Màu vàng

là do nội nhũ có chứa hợp chất carotenoid, xanthophyl và zeaxanlin, ngô có hạt màu đỏ hay hồng là có chứa chất màu antoxian [18] Mỗi cây có từ 1-3 bắp, mỗi bắp cho từ 300-1000 hạt Thành phần hoá học của các loại ngô được thể hiện ở bảng 2.1 [18]

Bảng 2.1 Thành phần hoá học của các loại ngô(% chất khô) [18] Loại ngô Tinh bột Protein Chất béo Chất tro

Trang 31

2.2 Địa điểm:

Nơi điều tra:

- Tại xã Cán Tỷ huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang

Nơi phối hợp điều tra:

- Tại Cục An toàn vệ sinh thực phẩm,

Hà Giang làm địa điểm nghiên cứu Tại Hà Giang, dựa vào danh sách các huyện, bốc thăm ngẫu nhiện chọn huyện Quảng Bạ Dựa danh sách các xã của Quảng Bạ, bốc thăm ngẫu nhiên chọn xã Cán Tỷ

- Chọn hộ gia đình điều tra phỏng vấn: dựa vào danh sách các hộ do Uỷ ban xã cung cấp, và dựa vào bảng số ngẫu nhiên, chọn đủ số hộ cần nghiên cứu[17] [19]

Trang 32

Trong đó: n: số hộ gia đình cần điều tra

Z (1-α/2) = 1,96 (hệ số tin cậy ở mức xác xuất 0,05)

p: tỷ lệ ước đoán hộ gia đình có kiến thức VSATTP = 0,5

sử dụng ngô Cán bộ đi phỏng vấn là cán bộ y tế cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh, trước khi đi phỏng vấn được tập huấn cẩn thận về cách thu thập thông tin trong phiếu điều tra

- Điều tra hồi cứu kết hợp điều tra cắt ngang số lượng người bị bệnh ung thư và bệnh viêm thận mãn tại xã điều tra của huyện Quản Bạ Nguồn số liệu thu thập từ Trạm y tế xã, Trung tâm Y tế huyện, Bệnh viện tỉnh Hà Giang Tìm mối liên quan giữa số lượng bệnh nhân của các vùng có mức tiêu thụ ngô khác nhau, (phụ lục 3) Thống kê Y tế thực hiện ở tất cả các tuyến của địa phương, vì vậy để tránh trùng lặp nhóm nghiên cứu đã loại các hồ sơ của các bệnh nhân theo nguyên tắc chỉ tính một lần duy nhất ở tuyến cao nhất, nếu các

Trang 33

tuyến dưới cũng có hồ sơ của bệnh nhân đó thì loại khỏi danh sách thống kê Không tính nhiều lần cho một bệnh nhân

2.4.2 Phân tích mẫu ngô

2.4.2.1 Số lượng mẫu: Do kinh phí có hạn nên chỉ hạn chế số lượng

mẫu phân tích đánh giá mức độ ô nhiễm là 63 mẫu ngô được lấy ngẫu nhiên tại các hộ gia đình Mẫu được lấy vào một vụ Xác định hàm lượng Ochratoxin A trong ngô bằng phương pháp sắc ký lỏng cao áp (HPLC), kỹ thuật chiết xuất theo phương pháp của AOAC 1990 [24], [29]

2.4.2 2 Phương pháp phân tích mẫu

- Hoá chất: Tất cả hoá chất (chlorua kali, acid chlohydric, acid phosphoric,…) ở mức PA Tất cả dung môi (methanol, chloroform, acetonitrile, propanol-2-ol, n-hexane) ở mức HPLC Nước khử ion được

sử dụng để chuẩn bị các dung dịch dùng trong quá trình tách chiết, tinh chế

và phân tích trên HPLC

- Chuẩn bị các dung dịch chuẩn: Các dung dịch chuẩn được chuẩn bị 10

mg OTA/ml methanol Một loạt các dung dịch chuẩn từ 0,3 đến 100 ng OTA/ml được chuẩn bị bằng pha loãng Nồng độ của dung dịch chuẩn gốc

được xác định bằng độ hấp phụ tia cực tím (A) theo công thức :

ρ (àg /ml) = 1 000maA

ε Trong đó : ρ nồng độ của độc tố chuẩn trong dung dịch

ma trọng lượng phân tử

Trang 34

ε khả năng hấp thu của phân tử tại λmax

λmax bước sóng hấp thu cực đại

Độc tố ma (g/mol) Dung môi λmax ε (cm2mol-1)

- Định lượng OTA trên HPLC:

Sử dụng thiết bị HPLC của Nhật

Để tối ưu hoá độ nhạy cảm khi phân tích OTA sử dụng các thông số huỳnh quang kích thích và phát xạ khác nhau (OTA 335 và 465 nm) Phân tích được tiến hành trên cột C18 (3àm C18, 0,46 x 25 cm)

Hệ thống được phân tích với phase động H3PO4 (0,33 M)/ acetonitrile/ propanol-2 (650/400/50) ; tốc độ dòng 0,5 ml/ phút Thời gian

đối với OTA là 56 phút Các sắc ký đồ được phân tích dựa vào phần mềm Class-LC10 của Shimadzu version 1.60

+ Chiết xuất: Thêm 10 ml dung dịch KCl 4% (pH 1,5) vào 20 g mẫu

đã được nghiền nhỏ Rồi được thêm vào 90 ml acetonitrile, lắc 20 phút Chất chiết được lọc qua giấy lọc nhờ hút chân không

+ Tinh chế: 100 ml n-hexane được thêm vào dịch lọc, lắc 5 phút, sau khi để lắng, bỏ lớp trên, lặp lại bước này 1 lần nữa Thêm vào lớp dưới

50 ml nước khử ion, và 100 ml chloroform Lớp dung môi trên được chiết lại 2 lần với 50 ml chloroform Trộn chung chloroform chiết được

Cho bay hơi trong cô quay cho đến khi gần khô ở 400C, tránh

Trang 35

ánh sáng Bình chứa chloroform được tráng rửa bằng choloroform chuyển sang ống nghiệm và làm khô dưới khí nitơ 2ml methanol được thêm vào,

đánh siêu âm, lọc qua giấy lọc có kích thước lỗ lọc nhỏ hơn 0,45àm Làm khô dưới khí nitơ 500 àl methanol được thêm vào và đem phân tích trên HPLC (phụ lục 1)

2.5 Các chỉ tiêu điều tra nghiên cứu

2.5.1 Các chỉ tiêu về nông sản

- Tổng hộ điều tra: 160/ 696 hộ toàn xã

- Tổng nhân khẩu: 956/ 3.707 người toàn xã

- Dân tộc Mông: 100%

- Tổng số ngô điều tra trong 1 vụ:

+ Tổng thu toàn xã là 776.950 kg/696 hộ, số ngô trực tiếp điều tra là 245.000 kg/160 hộ [ngô lai: 98.000 (40%); ngô thường:147.000 (60%)] trong đó:

+ Ngô chất lượng tốt: 212.170 kg (86,6%) [lai: 80.000; không lai: 132.170]

+ Chất lượng kém (mốc): 32.830 kg (13,4%) [lai: 18.000; không lai:14.830]

- Các hình thức thu hoạch

- Các hình thức bảo quản

- Các hình thức sử dụng ngô mốc

- Thời gian ngô mốc đối với ngô thường và ngô lai

- Kiến thức của người dân về nấm mốc, tác hại của nấm mốc và các biện pháp phòng chống

- Nguồn thông tin gia đình tiếp cận được về ngô trồng

- Tổng số thôn điều tra: 8/8 thôn của xã

- Thức ăn chính: ngô (100%)

Trang 36

- Mức sống bình quân: 150.000 đồng / tháng

2.5.2 Các chỉ tiêu liên quan tới các bệnh

- Triệu chứng về bệnh gan:

- Cảm giác mệt mỏi, ăn không ngon

- Đau tức hạ sườn phải

- Cảm giác mệt mỏi, ăn kém ngon

- Đái buốt, đái rắt

- Huyết áp cao

Trang 37

- Sốt

- Sụt cân

2.5.3 Các chỉ tiêu đánh giá ô nhiễm

- Mẫu ô nhiễm: mẫu có chứa Ochratoxin A trong sản phẩm nông sản

được tính theo mcg/kg sản phẩm (ppb)

- Mức độ ô nhiễm: là số mẫu bị ô nhiễm Ochratoxin A trong tổng số

mẫu lấy phân tích để kiểm tra

- Ô nhiễm vượt mức cho phép: Lấy chỉ số quy định trong Quyết định

867/QĐ-BYT năm 1998 (35 ppb) cho phép mức tồn dư độc tố vi nấm mốc chung cho các loại độc tố vi nấm (trong đó không có chứa Aflatoxin để so sánh)

- Mẫu vượt độ ẩm cho phép: Lấy chỉ số quy định trong Quyết định

867/QĐ-BYT năm 1998 (14%) để so sánh Nếu lớn hơn 14% là vượt mức cho phép

2.6 Xử lý và phân tích số liệu

Số liệu sau khi thu thập được xử lý trên chương trình và SPSS SPSS là phần mềm chuyên dụng xử lý thông tin sơ cấp (thông tin được thu thập trực tiếp từ đối tượng nghiên cứu (người trả lời bằng câu hỏi) thông qua một bảng câu hỏi được thiết kế sẵn Thông tin được xử lý là thông tin định lượng (có ý nghĩa về mặt thống kê)

Trang 38

Chương 3 Kết quả và thảo luận

3.1 Kết quả điều tra, phỏng vấn về tập quán thói quen sản xuất, thu hoạch, bảo quản, sử dụng ngô và kiến thức của người dân

3.1.1 Đối tượng điều tra

Đối tượng điều tra là 956 người của 160 hộ gia đình bao gồm cả nam cả nữ

Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi, giới tính và nghề nghiệp

1

Tuổi Trong độ tuổi lao động (18-55 )

Ngoài tuổi lao động <18 và >55

406

550

42,5 57,5 Nghề

nghiệp

Học sinh Cán bộ Nông nghiệp

53

12

891

5,5 1,3 93,2 Kết quả bảng trên cho thấy số ngoài độ tuổi lao động chiếm hơn 50%

Số cán bộ và học sinh thấp (1,3 – 5,5%), trong khi đó chủ yếu là lao động nông nghiệp thuần túy chiếm 93,2%

3.1.2 Tập quán sản xuất

Người nông dân tại nơi điều tra, trồng hai loại ngô thường và ngô lai Trên cơ sở điều tra cơ cấu giống ngô sản xuất tại địa phương, nghiên cứu được

Trang 39

tiến hành tại 160 hộ với khối lượng thu hoạch 245000kg ngô trong đó 40% ngô lai và 60% ngô thường

3.1.3 Tập quán thu hoạch

Người nông dân tại nơi điều tra thu hoạch ngô theo hai hình thức là bẻ bắp tươi và để bắp khô cùng cây tại nương (để bắp khô cùng cây tại nương sau

Trang 40

3.1.4 Tập quán bảo quản

Người dân tại nơi điều tra ngô sau thu hoạch được người dân bảo quản theo bốn hình thức sau:

- Chất lên gác có tiếp xúc với khói bếp

- Chất lên gác không được tiếp xúc với khói bếp

- Bóc lật bẹ, treo

- Chất đống trên sàn nhà

Đối với trường hợp thu hoạch bẻ bắp tươi, người ta phơi sơ bộ cho gần khô sau đó bảo quản Riêng đối với hình thức bóc lật bẹ, thì treo luôn (vừa phơi vừa bảo quản)

Tương tự, đối với ngô để khô tại nương thì sau khi thu hoạch, người ta cũng tiến hành bảo quản theo 4 cách trên

Tương quan tỷ lệ các hình thức bảo quản được trình bày ở bảng 3.4, 3.5

Bảng 3.4 Thực trạng bảo quản ngô thu hoạch bằng cách bẻ bắp tươi

Ngày đăng: 25/02/2021, 12:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm