Nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương và tập trung trình bày một số vấn đề sau: Chương I: Hệ thống cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh; Các yếu tố ảnh hưởng
Trang 2-
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA PV GAS GIAI ĐOẠN 2008-2015
Trang 3Ngày nay, sự cạnh tranh trên thị trường giữa các nước và doanh nghiệp ngày càng khốc liệt Điều này cũng xảy ra tương tự đối với Việt Nam, đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập WTO Vì vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển là một vấn đề sống còn đối với tất cả các doanh nghiệp Việt Nam
Lựa chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của
PV GAS giai đoạn 2008 – 2015” để nghiên cứu là phù hợp với xu thế phát
triển trong thời kỳ đầu của hội nhập kinh tế Quốc tế
Nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương và tập trung trình bày một số vấn đề sau:
Chương I: Hệ thống cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh; Các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, gồm các yếu tố bên ngoài (yếu tố ngành) và các yếu tố bên trong (nội bộ); Đặc điểm của ngành sản xuất kinh doanh khí; Các mô hình phân tích và nội dung đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Chương II: Đánh giá thực trạng về năng lực cạnh tranh của PV GAS Trên cơ sở đánh giá, xác định được điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp; Đồng thời nhận diện được các cơ hội và thách thức trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, làm cơ sở thực hiện các giải pháp về cạnh tranh
Chương III: Trên cơ sở các đánh giá của chương II, tác giả đưa ra một
số giải pháp về tăng cường đầu tư kho chứa sản phẩm lỏng, cảng xuất nhập
sản phẩm lỏng; giải pháp nâng cao sức cạnh tranh về công nghệ; giải pháp
tăng cường năng lực quản lý môi trường; tất cả nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của PV GAS
Tác giả hy vọng góp phần làm rõ hơn vấn đề năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngành khí nói chung và của PV GAS nói riêng qua luận văn này
Trang 4becomes fiercer and fiercer It has also happened to Vietnam, especially when Vietnam has joined WTO Therefore, it is essential for all enterprises
in Vietnam to improve and strengthen their competition to exist and develop
The theme “Some solutions to improve and strengthen PV GAS’ capacity of competition for the period 2008 -2015” being chosen to research
is in accordance with the tendency of development in the early stage of international integrity of economics
The thesis includes 3 chapters and mainly mentions the following:
Chapter I: System of argument basis on competition and capacity of competition; Factors affecting enterprise’s capability of competition, including exterior factors (factors of industry) and interior factors; Characters
of gas industry; Models of analizing and assessing enterprise’s capability of competition
Chapter II: Analizing and assessing PV GAS’ of capacity of competition; Pointing out PV GAS’ strength and weakness; Recognizing opportunities and challengers waiting for PV GAS to suggest/recommend solutions of competition
Chapter III: Based on Chapter II, the author recommends some solutions of investment in LPG storage and terminal; solutions to improve and strengthen competition of technology; solutions to improve and strengthen management of environment All are for the top purpose of improving and strengthening PV GAS’ capacity of competition
The author hopes that the thesis contributes to make clearer the capacity of competition of enterprises in gas industry in general and of PV GAS in particular
Trang 5Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
MỤC LỤC
Phần mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn, ứng dụng lý luận vào thực tiễn 4
6 Cấu trúc của luận văn 4
7 Tài liệu cơ sở của luận văn 5
Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh 7
1.1 Cạnh tranh trong kinh tế thị trường 7
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh 7
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh 8
1.1.3 Quy mô và mức độ của cạnh tranh 9
1.1.4 Vận hành của Cạnh tranh 9
1.1.5 Các thị trường không có cạnh tranh 11
1.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 12
1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 12
1.2.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 14
1.2.3 Phân tích các yếu tố nội bộ doanh nghiệp 15
1.2.4 Phân tích các yếu tố của môi trường ngành 18
1.2.5 Phân tích SWOT 27
1.3 Nội dung đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 31
1.4 Các mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 32
1.4.1 Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh 32
1.4.2 Mô hình ma trận SWOT 32
1.5 Tóm tắt nội dung chương 1 33
Chương 2: Đánh giá thực trạng cạnh tranh của PV GAS giai đoạn 2000-2007 34 2.1 Giới thiệu về PV Gas 34
2.2 Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của PV Gas giai đoạn 2000 – 2007 39 Phân tích nội bộ 39
2.2.1 Sản phẩm 39
2.2.2 Thị phần 42
2.2.3 Năng lực vốn của doanh nghiệp 43
2.2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ 45
2.2.5 Quản trị nhân lực 47
Trang 6Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
2.2.6 Hệ thống quản lý 49
2.2.7 Uy tín, thương hiệu PV GAS 50
Phân tích môi trường ngành 53
2.2.8 Tình hình thị trường 55
2.2.9 Phân tích sức mạnh của nhà cung cấp 62
2.2.10.Nguy cơ thay thế 69
2.2.11.Phân tích sức mạnh khách hàng 72
2.2.12.Phân tích đối thủ cạnh tranh 75
2.2.13.Các rào cản gia nhập 77
2.3 Nhận diện điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của PV GAS 79
2.3.1 Điểm mạnh 79
2.3.2 Điểm yếu 80
2.3.3 Cơ hội 80
2.3.4 Thách thức 81
2.4 Tóm tắt chương 2 83
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của PV GAS giai đoạn 2008 – 2015 85
3.1 Những căn cứ khoa học để đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của PV Gas đến 2015 85
3.1.1 Vai trò quan trọng của ngành công nghiệp khí trong sự phát triển kinh tế xã hội 85
3.1.2 Chính sách của Nhà nước Việt Nam đối với ngành công nghiệp khí 87 3.1.3 Căn cứ thực trạng cạnh tranh của PV Gas 87
3.1.4 Cân đối cung cầu LPG giai đoạn 2008 - 2015 88
3.1.5 Căn cứ chiến lược phát triển của PV Gas 89
3.1.6 Áp lực trong hoạt động 91
3.2 Một số giải pháp nâng cao năng lực canh tranh của PV Gas 92
3.2.1 Giải pháp 1: “ Phát triển cơ sở hạ tầng kho chứa và cảng phân phối sản phẩm lỏng” 92
3.2.2 Giải pháp 2: “Nâng cao sức cạnh tranh về công nghệ sản xuất khí” 99 3.2.3 Giải pháp 3: “ Nâng cao năng lực quản lý môi trường của PV GAS phục vụ mục tiêu phát triển bền vững” 105
2.5 Tóm tắt chương 3 110
Kết luận 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
Trang 7Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả SXKD 2005-2007 của PV GAS 39 Bảng 2.2 Vốn ĐTPT của PV GAS giai đoạn 2000-2007 44
Bảng 2.4 Tiêu thụ LPG theo miền giai đoạn 2000-2007 59 Bảng 2.5 Lĩnh vực tiêu thụ LPG theo vùng 2000-2007 60 Bảng 2.6 Yêu cầu kỹ thuật dối với khí hóa lỏng 61
Bảng 2.8 Sản lượng LPG của PV GAS giai đoạn 2000-2007 66 Bảng 2.9 Tình hình nhập khẩu LPG từ 2003-2007 66 Bảng 2.10 Cung cầu LPG giai đoạn 2000-2007 tai Việt Nam 67 Bảng 2.11 Thị phần sản lượng LPG thị trường LPG khu vực
phía Nam của các công ty lớn
76
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của M E Porter 19 Hình 1.2 Nội dung phân tích năng lực cạnh tranh của DN 32 Hình 2.1 Sản lượng khí, condensate, LPG của PV GAS 44
Hình 3.1 Bản đồ hệ thống kho chứa LPG của PV GAS 2007 98
Trang 8Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
P hần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế của Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục đà phát triển ấn tượng trong khi quá trình đô thị hóa được đẩy nhanh hơn bao giờ hết Vì vậy nhu cầu
về năng lượng nói chung sẽ tiếp tục xu hướng tăng
Năng lượng luôn luôn đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu được trong việc đảm bảo phát triển kinh tế xã hội ở mọi quốc gia Ở Việt Nam, vai trò của năng lượng còn đặc biệt quan trọng vì đất nước đang tiến hành công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa Do vậy, việc phát triển và sử dụng năng lượng một cách vững chắc và hiệu quả là một yêu cầu cấp bách và có tầm quan trọng sống còn đối với nền kinh tế quốc gia
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế vững chắc của Việt Nam, nhu cầu năng lượng đang tăng mạnh và tình hình việc đảm bảo an ninh năng lượng ngày càng căng thẳng
Là một đơn vị đầu ngành trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh khí và các sản phẩm khí, đối với Tổng công ty Khí (PV GAS) , việc đảm bảo đầy đủ
cơ sở hạ tầng, tài chính, nhân lực… phục vụ cho thu gom, vận chuyển, chế biến, tàng trữ, phân phối khí và sản phẩm khí không chỉ cho công tác sản xuất kinh doanh mà còn góp phần đáp ứng một phần yêu cầu bức thiết về nhu cầu năng lượng cho quốc gia, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị đảm bảo an ninh quốc gia
Sau 18 năm hoạt động, PVGas đã cung cấp khí để sản xuất gần 35% - 40% sản lượng điện, 30% thị phần phân bón và trên 40% thị phần khí hóa lỏng
cả nước Kể từ năm 1995 đến nay, Khí được sử dụng đã thay thế dầu DO để sản xuất điện đã làm lợi cho Nhà nước một khoản ngoại tệ trên 4,5 tỷ Đô la
Trang 9Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
Mỹ, góp phần không nhỏ trong việc giải quyết tình trạng thiếu hụt năng lượng
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, góp phần hạn chế nạn phá rừng và ô nhiễm môi trường nhờ đưa các sản phẩm khí vào sử dụng thay thế nhiên liệu truyền thống
Bên cạnh các thành tích đạt được trong quá trình phát triển, những năm gần đây do trữ lượng khí trong nước ngày càng giảm sút làm cho thị phần và doanh thu từ hoạt động kinh doanh LPG sụt giảm mạnh, kéo dài qua nhiều năm Sự suy giảm thế cạnh tranh của PV GAS hiện nay có nguyên nhân từ:
- Do nguồn cung nguyên liệu khí đầu vào giảm, nguồn khí bổ sung chậm
và không ổn định
- Giá khí nguyên liệu tăng cao do chi phí đầu tư trong công tác tìm kiếm,
thăm dò, khai thác tăng theo nhu cầu năng lượng của thế giới Trong khi giá khí thương phẩm trong nước vẫn duy trì ở mức thấp do yêu cầu đảm bảo an ninh điện của quốc gia
- Dư thừa công suất thiết bị công nghệ do thiếu nguyên liệu
- Cơ sở hạ tầng, kho tàng, công nghệ chậm thay đổi do đầu tư chậm
- Địa bàn hoạt động quá tập trung hoặc kéo dài với qui mô nhỏ
- Nguy cơ tụt hậu đã không được nhận diện đầy đủ
- Sự gia tăng mạnh mẽ sự cạnh tranh của các đối thủ trong và ngoài ngành
có nguyên nhân từ sự hoà nhập và mở cửa nền kinh tế sau khi Việt Nam gia nhập WTO
- Nhà nước đang giảm dần các chính sách bảo hộ Doanh nghiệp Nhà nước
do các cam kết của lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế
- Sự gia tăng đáng kể các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện sản xuất và
kinh doanh cùng lĩnh vực
Trang 10Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
Từ các nguyên nhân trên dẫn tới hệ quả là PV GAS đã ít nhiều suy giảm thế cạnh tranh và giảm thị phần kinh doanh Do vậy, để có thể tiếp tục giữ vững và phát huy vai trò chủ đạo trong ngành, PV GAS rất cần thiết phải có các nhóm giải pháp nhằm duy trì và gia tăng thị phần, chiếm lĩnh thị trường Xuất phát từ tình hình thực tiễn và thực trạng cạnh tranh của PV GAS, Luận
văn: “Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của PV GAS giai đoạn 2008 – 2015 ” được tác giả lựa chọn thực hiện là một trong những nhóm
giải pháp phục vụ mục tiêu trên
2 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu lý luận về năng lực cạnh tranh, các yếu tố ảnh hưởng đến năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Đánh giá hiện trạng năng lực cạnh của một doanh nghiệp cụ thể (PV
GAS) trong sản xuất và kinh doanh khí và sản phẩm khí
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của PVGAS
cho đến năm 2015 nhằm duy trì lợi thế tiến lên chiếm lĩnh thị trường
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: hoạt động sản xuất, vận chuyển, tàng chứa và
kinh doanh sản phẩm khí (chủ yếu là sản phẩm LPG) của PVGAS
- Phạm vi nghiên cứu: Kinh doanh sản phẩm khí của PVGAS
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng gồm:
- Phương pháp nghiên cứu hệ thống tài liệu lý luận liên quan cạnh tranh
của doanh nghiệp nói chung và cạnh tranh trong kinh doanh sản phẩm khí nói riêng;
- Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp từ số liệu thực tế
Trang 11Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
- Phương pháp hệ thống, nghiên cứu toàn diện công tác sản xuất và kinh
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Phân tích hiện trạng để tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh sản phẩm khí của PVGAS nhằm duy trì hoặc tăng lợi nhuận trong hoạt động
+ Kết quả nghiên cứu có thể được dùng để xem xét để chuyển thế cạnh tranh đó thành một chiến lược cạnh tranh cụ thể trong kinh doanh và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm khí đến năm 2015 của PV GAS
6 Cấu trúc của luận văn
Kết cấu nội dung chính của luận văn gồm ba chương, bao gồm:
Trang 12Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
- Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh và các yếu tố ảnh
hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hội nhập
Trong phần này nêu tổng quan lý luận về năng lực cạnh tranh; Các nhân
tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp; Mô hình được áp dụng để phân tích năng lực cạnh tranh
- Chương 2: Đánh giá thực trạng cạnh tranh của của PVGAS đến 2007
+ Lịch sử hình thành, đặc điểm hình thành và phát triển PV
+ Hiện trạng qui mô và tình hình phát triển của PV GAS trong sản xuất và kinh doanh, thực trạng về năng lực tài chính, các sản phẩm dịch vụ , trình độ công nghệ, nhân lực và trình độ quản trị, mạng lưới cung cấp phân phối sản phẩm
+ Phân tích môi trường bên trong của PV Gas, các điều kiện thuận lợi cho sự phát triển, những mặt còn hạn chế
+ Phân tích môi trường hoạt động bên trong của PV Gas, các điều kiện thuận lợi cho sự phát triển, những mặt còn hạn chế
+ Phân tích những lợi thế và thách thức về mặt cạnh tranh đối với các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của PVGAS
- Chương 3: Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của
PVGAS như giải pháp về cơ sở hạ tầng, phát triển công nghệ, năng lực quản lý về môi trường PV GAS
7 Tài liệu cơ sở của luận văn
- Trung tâm thông tin tư liệu dầu khí Petrovietnam
Trang 13Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
- Các báo cáo đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh
của PV GAS các năm 2005 - 2007
- Chiến lược phát triển PV GAS đến năm 2015 và định hướng đến năm
2025 đã được Tập đoàn Dầu khí Việt Nam phê duyệt tháng 9/2007
- Chiến lược phát triển Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đến năm 2015 và
định hướng đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 3/2006
- Luật xây dựng và Quy chế quản lý dự án đầu tư của Chính phủ
- Các giáo trình giảng dạy trong lĩnh vực quản lý kinh tế của Trường Đại
học Bách Khoa Hà Nội
- Luận văn của các khóa trước thuộc các trường Đại học
Trang 14Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
Ch ương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh
Cở sở lý luận về năng lực cạnh tranh được trình tìm hiểu ở những khía cạnh sau:
- Khái niệm cạnh tranh - Khái niệm về năng lực cạnh tranh
- Vai trò của cạnh tranh - Phân tích yếu tố ảnh hưởng năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Quy mô và mức độ của cạnh tranh - Nội dung phân tích năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp
- Vận hành của cạnh tranh - Các mô hình phân tích năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp
- Thị trường không có cạnh tranh
1.1 C ạnh tranh trong kinh tế thị trường
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác
Cạnh tranh trong hoạt động kinh tế, đó là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, người tiêu dùng) nhằm giành lấy những vị thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất với nhau hoặc có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp
Cạnh tranh là người mua được quyền chọn lựa Tất nhiên những người mua này có thể là các doanh nghiệp khác hoặc các cá nhân người tiêu dùng
Trang 15Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
Cạnh tranh là sức mạnh mà hầu hết các nền kinh tế thị trường tự do dựa vào để đảm bảo rằng các doanh nghiệp thoả mãn được các nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng Khi có cạnh tranh, không một chính phủ nào cần phải quy định các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng gì với số lượng, chất lượng
và giá cả thế nào Cạnh tranh trực tiếp quy định những vấn đề đó với các doanh nghiệp
Thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau như lĩnh vực kinh tế, thương mại, luật, chính trị, sinh thái, thể thao Cạnh tranh có thể là giữa hai hay nhiều lực lượng, hệ thống, cá nhân, nhóm, loài, tùy theo nội dung mà thuật ngữ này được sử dụng Cạnh tranh có thể dẫn đến các kết quả khác nhau Một vài kết quả, ví dụ như trong cạnh tranh về tài nguyên, nguồn sống hay lãnh thổ, có thể thúc đẩy sự phát triển về mặt sinh học, tiến hóa, vì chúng có cơ hội, được cung cấp lợi thế cho sự sống sót, tồn tại
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng,
và trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêu dùng Doanh nghiệp phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ trong đó cao hơn để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu dùng Cạnh tranh, làm cho doanh nghiệp năng động hơn, nhạy bén hơn, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế
Trang 16Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
Cạnh tranh là một thách thức, nhưng đồng thời cũng là một cơ hội Thách thức là vì chúng ta phải đấu nhau với cả những "gã khổng lồ" có tiềm lực to lớn và có kinh nghiệm đầy mình Cơ hội là vì chúng ta có được một sức
ép lành mạnh để vươn lên Không có sức ép, chắc gì chúng ta đã chịu từ bỏ cách nghĩ, cách làm cũ
Ngoài mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả không mong muốn về mặt xã hội Nó làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện sở hữu của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, có những tác động tiêu cực khi cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất chấp pháp luật Vì lý do trên cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được điều chỉnh bởi các định chế xã hội, sự can thiệp của Nhà nước
Trong xã hội, mỗi con người, xét về tổng thể, vừa là người sản xuất đồng thời cũng là người tiêu dùng, do vậy cạnh tranh thường mang lại nhiều lợi ích hơn cho mọi người và cho cộng đồng, xã hội
1.1.3 Quy mô và mức độ của cạnh tranh
Cạnh tranh cũng có thể tồn tại ở các quy mô khác nhau; một vài dạng
cạnh tranh có thể sảy ra giữa hai thành viên trong loài, trong khi những sự cạnh tranh khác có thể gồm cả loài
Mức độ cạnh tranh cũng khác nhau Ở một số mức độ, sự cạnh tranh, ganh đua có thể có mức độ rất bình thường, nhiều khi chỉ để đạt được sự kiêu
hãnh, thắng lợi nhỏ nào đó Song, một số sự cạnh tranh khác có thể ở mức độ rất cao, cực kỳ quyết liệt, ví dụ một vài cuộc chiến tranh có thể nổ ra do sự cạnh tranh quyết liệt giữa hai đất nước, hai quốc gia hay hai dân tộc
1.1.4 Vận hành của Cạnh tranh
Cạnh tranh hoạt động như thế nào? Xem xét các giả thiết dưới đây:
Trang 17Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
- Các doanh nghiệp muốn làm ra tiền;
- Người tiêu dùng có tiền và muốn tiêu tiền để thoả mãn nhu cầu và mong
muốn của mình
Chúng ta thêm vào ba chính sách cơ bản của chính phủ:
- Các quy định về an toàn và sức khoẻ;
- Bảo vệ chống cạnh tranh không công bằng, lừa dối hoặc thiếu đạo đức,
để người mua được biết thực sự họ đang mua cái gì;
- Bảo vệ chống các hoạt động độc quyền - ví dụ như các thoả thuận giữa
các đối thủ cạnh tranh về mức giá bán cao, những vụ sáp nhập làm huỷ hoại cạnh tranh, hay lạm dụng vị trí thống trị trên thị trường - để đảm bảo sự cạnh tranh thực sự giữa các doanh nghiệp
Sau đó chúng ta tránh sang một bên để cạnh tranh trên thị trường tự hoạt động Ở hầu hết các thị trường, trong đa số trường hợp, đây gần như là tất cả quy định cần thiết của chính phủ để đảm bảo quyền lợi của người mua
Làm sao chúng ta biết được giá cả cao hơn mức phải có? Cạnh tranh giữa các nhà cung cấp để bán hàng cho người tiêu dùng sẽ giữ giá ở mức thấp
Làm sao chúng ta biết được rằng chi phí thấp ở mức phải có? Nếu các nhà cung cấp có thể bán cho nhiều người mua hơn và thu được nhiều lợi nhuận hơn bằng cách có những hành động nhằm làm hạ mức chi phí của mình thì họ
sẽ làm điều đó
Làm sao chúng ta biết được rằng khoa học kỹ thuật tiến bộ ở mức cần phải có? Cạnh tranh giữa các công ty buộc họ phải tiến bộ hơn các đối thủ để thu hút người mua
Làm sao chúng ta biết được rằng chất lượng sản phẩm đạt mức cao như phải có? Nếu người mua muốn có những cải tiến chất lượng, người bán sẽ cố
Trang 18Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
tìm tòi khám phá và sẽ kiếm được nhiều tiền hơn bằng cách thoả mãn nhu cầu của người mua
1.1.5 Các thị trường không có cạnh tranh
Trước tiên, có những thị trường, trong đó cạnh tranh không đem lại ý nghĩa kinh tế nào Có một vài lĩnh vực như vậy thường được gọi là "những lĩnh vực độc quyền tự nhiên", trong đó lợi ích của việc cạnh tranh không đáng với cái giá phải bỏ ra Do đó những lĩnh vực này thường do Nhà nước quản lý hoặc điều tiết Ví dụ, ở Việt Nam, đó là các ngành Điện, Cung cấp nước, thoát nước, Bưu chính viễn thông, Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng:
- Thứ nhất: Có ít lĩnh vực độc quyền tự nhiên hơn nhiều so với người ta
từng nghĩ Ví dụ ngành đường sắt vẫn được nhiều người coi là lĩnh vực độc quyền tự nhiên, một ngành mà ở nhiều nước cần phải có sự kiểm soát chặt của chính phủ, nhưng quyền lợi của những người gửi hàng lại được bảo vệ tốt hơn nhờ sự cạnh tranh của các công ty vận tải đường bộ
và đường thuỷ hơn là nhờ sự kiểm soát của chính phủ
Ðối với những lĩnh vực tiếp tục cần phải có sự kiểm soát, chúng ta thấy rằng sự kiểm soát này giờ đã đỡ mang tính can thiệp thô bạo và đỡ đắt
đỏ hơn nhiều so với trước mà vẫn vảo vệ được công chúng khỏi bị lạm dụng độc quyền
- Thứ hai, một đất nước không thể lúc nào cũng tự có khả năng ủng hộ thị
trường cạnh tranh trong một số lĩnh vực nhất định Tuy nhiên đối với nhiều sản phẩm, hàng nhập khẩu có thể tạo cho người mua nhiều lựa chọn và ngăn không cho các "nhà độc quyền" địa phương được tận dụng
vị thế của mình Đối với một số sản phẩm, hàng nhập khẩu có thể là một hình thức cạnh tranh hiệu quả, trong khi đối với những sản phẩm khác, các cơ quan điều tiết của chính phủ có thể phải đề phòng hành động của
Trang 19Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
các doanh nghiệp địa phương đặt các nhà nhập khẩu cạnh tranh vào thế bất lợi
- Cuối cùng, như đã nói ở trên, các doanh nghiệp sẽ cố gắng vô hiệu hoá
cạnh tranh Họ thích có cạnh tranh khi họ đóng vai trò người mua trên thị trường, tìm kiếm những sản phẩm tốt nhất với giá cả hợp lý nhất cho bản thân và thường hợp tác với các nhà chức trách về vấn đề cạnh tranh
để bảo vệ sự cạnh tranh đó Nhưng họ có xu hướng thích một sự tồn tại
dễ dàng hơn và đoàn kết hơn khi họ bán các sản phẩm của mình cho người mua Như nhà kinh tế học người Anh J R Hicks có lần đã nhận xét: " Lợi ích tốt nhất trong tất cả những lợi ích của sự độc quyền là một cuộc sống êm ả" Do đó họ có thể cố gắng làm những việc như:
+ Thoả thuận với các công ty cạnh tranh gần gũi nhất về mức giá bán, hoặc ai sẽ bán cho khách hàng nào, hay ai sẽ bán ở những lãnh thổ nào;
+ Sáp nhập hoạt động với các công ty cạnh tranh gẫn gũi nhất;
+ Buộc các nhà cung cấp hoặc các nhà phân phối của mình ký các hợp đồng độc quyền để bảo đảm vị trí chiếm lĩnh của mình trên một thị trường nhất định
1.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Thuật ngữ “Năng lực cạnh tranh” được sử dụng phổ biến, thường
xuyên được nhắc tới trên các diễn đàn kinh tế cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng, thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu và được phân tích từ nhiều góc độ khác nhau
Trang 20Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
Hiện nay, còn nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Và hiện chưa có một lý thuyết nào hoàn toàn có tính thuyết phục về vấn đề này, do đó không có lý thuyết “chuẩn” về năng lực cạnh tranh Trong giới hạn của kiến thức và thời gian nghiên cứu, tác giả chỉ tập chung xem xét năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp và sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là khả năng bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận và được đo bằng thị phần của sản phẩm và dịch vụ
của doanh nghiệp trên thị trường
Quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng có nhiều khác biệt Có ý kiến cho rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường Có quan điểm gắn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có những quan điểm đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh… Một số ý kiến tán thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác thực lực và lợi thế của mình để thoả mãn nhu cầu khách hàng và thu được lợi nhuận Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình e rằng chưa đủ, bởi trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định Thực tế chứng minh một số doanh nghiệp rất nhỏ, không có lợi thế nội tại, thực lực bên trong yếu nhưng vẫn tồn tại và phát triển trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt như hiện nay
Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm hàng hoá dịch vụ hấp dẫn với người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh
Trang 21Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ: Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay nhiều sản phẩm và dịch vụ, vì vậy, người ta còn phân biệt năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ
1.2.2 Phân tích c ác yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được chia thành hai nhóm chính: nhóm các yếu tố thuộc môi trường bên trong (nội tại) của doanh nghiệp và nhóm các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp
Các yếu tố nội tại doanh nghiệp luôn tồn tại hai loại: những yếu tố tích cực và các yếu tố không tích cực Các yếu tố tích cực sẽ tạo ra các thế mạnh và các yếu tố không tích cực sẽ gây ra các hạn chế, các điểm yếu của doanh nghiệp Các yếu tố nội tại của doanh nghiệp tạo nên thế mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp bao gồm: Sản phẩm; Thị phần; Năng lực về vốn; Hệ thống hạ tầng kỹ thuật và công nghệ; Quản trị nhân lực; Hệ thống quản lý; Thương hiệu
và uy tín của doanh nghiệp
Môi trường bên ngoài doanh nghiệp là tập hợp các yếu tố khách quan bên ngoài doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc phân tích môi trường kinh doanh bên ngoài sẽ giúp doanh nghiệp xác định các cơ hội và thách thức tiềm ẩn đối với chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp
Môi trường kinh doanh bên ngoài doanh nghiệp gồm 3 cấp: môi trường quốc tế, môi trường kinh tế quốc dân (môi trường vĩ mô) và môi trường ngành (môi trường vi mô) Tác giả xin phép chỉ đề cập đến phân tích môi trường ngành trong phạm vi luận văn này
Trang 22Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
1.2.3 Phân tích các yếu tố nội bộ doanh nghiệp
Thế mạnh của doanh nghiệp là tổng hợp tất cả các thuộc tính, các yếu tố bên trong làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh Nói một các khác đó là tất cả các nguồn lực mà doanh nghiệp có thể huy động, sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh Điểm yếu của doanh nghiệp là tất cả những thuộc tính làm suy giảm tiềm lực của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh
Trên cơ sở các đánh giá nội bộ doanh nghiệp theo từng yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh, nhận định các thế mạnh điểm yếu chủ yếu của doanh nghiệp và xác định thứ tự ưu tiên của chúng
1.2.3.1 Sản phẩm dịch vụ
Phân tích sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp trên các khía cạnh: Chất lượng sản phẩm; Kiểu dáng, mẫu mã; Giá sản phẩm; Kênh phân phối; Quảng cáo, tiếp thị
- Chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng, tạo ra sự khác biệt nổi trội
của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh, góp phần quyết định vào hành
vi lựa chọn hàng hóa của người tiêu dùng
- Giá bán sản phẩm là một công cụ hữu hiệu trong cạnh tranh Một cuộc
cạnh tranh về giá giữa các sản phẩm cùng công năng, mục đích sử dụng hoặc giữa các sản phẩm thay thế sẽ khuyến khích người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm có giá thấp hơn để mua Do vậy, các doanh nghiệp luôn phải tìm kiếm các giải pháp để hạ giá thành sản phẩm trong khi vẫn duy trì hoạt động hiệu quả, đảm bảo một múc lợi nhuận hợp lý
- Hệ thống kênh phân phối thích hợp, đảm bảo tiết kiệm nhưng hiệu quả
trong việc bán sản phẩm Để có kênh phân phối thích hợp, doanh nghiệp
Trang 23Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
phải phân tích kỹ nhu cầu, phải nắm bắt kỹ xu hướng phát triển, qui hoạch của ngành, vùng,…
- Quảng cáo, tiếp thị, cải tiến về mẫu mã sản phẩm …nhằm gia tăng ý
muốn mua sắm của khách hàng, giúp người tiêu dùng nhận biết nguồn gốc sản phẩm và phân biệt rõ sản phẩm của các doanh nghiệp khác nhau Qua đó nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp trong tâm trí của khách hàng
1.2.3.3 Năng lực vốn của doanh nghiệp
Yếu tố vốn là yếu tố chủ chốt quyết định đến quy mô của doanh nghiệp
và quy mô có cơ hội có thể khai thác Nó phản ánh sự phát triển của doanh nghiệp và là sự đánh giá về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Vốn còn là nền tảng, là cơ sở cho doanh nghiệp hoạt động, góp phần đa dạng hóa phương thức kinh doanh, đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa sản phẩm Ngoài ra vốn còn giúp cho doanh nghiệp đảm bảo độ cạnh tranh cao và giữ ưu thế lâu dài trên thị trường
1.2.3.4 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và công nghệ
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật bao gồm dây truyền sản xuất, kho bãi, hệ thống thiết bị xuất nhập nguyên liệu, sản phẩm và trình độ công nghệ là nguồn lực rất quan trọng của doanh nghiệp Đây là những nhân tố cốt lõi, làm cơ sở để doanh nghiệp hoạch định các chiến lược phát triển Nâng cao hiệu quả sử dụng
Trang 24Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
cơ sở hạ tầng về công suất thiết bị, thời gian sử dụng sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí, giảm giá thành của sản phẩm qua đó nâng cao được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nâng cao trình độ công nghệ giúp doanh nghiệp
có khẳ năng dẫn đầu trong việc tạo ra các sản phẩm có các đặc tính nổi trội, có giá thành rẻ hơn so với sản phẩm của các đối thủ Mặt khác dựa vào ưu thế về trình độ công nghệ, doanh nghiệp sẽ có ưu thế trong gia tăng về quy mô thông qua hợp tác đầu tư
- Phân tích cơ sở hạ tầng kỹ thuật và công nghệ của doanh nghiệp dựa
trên các nhân tố sau:
- Hệ thống dây truyền sản xuất, nhà xưởng, kho bãi, hệ thống phân phối
sản phẩm hiện có của doanh nghiệp
- Hiệu quả sử dụng các yếu tố này và khẳ năng đáp ứng yêu cầu phát triển
của doanh nghiệp
- Trình độ công nghệ của doanh nghiệp so với ngành, khẳ năng phát triển
công nghệ của doanh nghiệp
1.2.3.5 Quản trị nhân lực
Phân tích ảnh hưởng các yếu tố lao động đến sản xuất là đánh giá cả hai mặt về số lượng và về chất lượng ảnh hưởng đến sản xuất Điều này có nghĩa rất quan trọng vì qua phân tích chúng ta có thể đánh giá được tình hình biến động về số lượng lao động, tình hình tăng năng suất lao động, tình hình bố trí cũng như tình hình sử dụng thời gian lao động để thấy rõ khả năng mặt mạnh cũng như mặt còn hạn chế của lao động Trên cơ sở đó mới có biện pháp khai thác quản lý sử dụng hợp lý lao động để làm tăng năng suất lao động
1.2.3.6 Hệ thống quản lý
Hệ thống quản quản lý doanh nghiệp là công cụ để lãnh đạo doanh doanh nghiệp sử dụng để hoạch định, tổ chức, điều hành, kiểm tra giám sát
Trang 25Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
việc sử dụng các nguồn lực trong doanh nghiệp Việc thiết lập được một hệ thống quản lý tốt cho phép doanh nghiệp doanh nghiệp huy động mọi nguồn lực của doanh nghiệp, phát huy tối đa công suất của các nguồn lực qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp Bên cạnh đó còn giúp doanh nghiệp tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật trong quá trình hoạt động
1.2.3.7 Thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp
Giá trị thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp bao gồm tất cả những giá trị đặc thù mà thương hiệu mang đến cho khách hàng Tất cả các thành tố của giá trị thương hiệu sẽ giúp cho khách hàng có thể hiểu được cũng như lưu giữ được rất nhiều thông tin khác nhau về sản phẩm và thương hiệu Nó sẽ mang đến cho khách hàng sự tự tin khi lựa chọn sản phẩm do những trải nghiệm mà khách hàng có được khi sử dụng sản phẩm này trước đây
1.2.4 Phân tích c ác yếu tố của môi trường ngành
Môi trường ngành gồm các yếu tố trong ngành và bên ngoài doanh nghiệp quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh của ngành
Môi trường của một ngành công nghiệp bao gồm các yếu tố chính là: Nhà cung cấp; Khách hàng; Đối thủ cạnh tranh; Sản phẩm thay thế; và rào cản gia nhập Trên cơ sở các phân tích ảnh hưởng các yếu tố của môi trường ngành đến năng lực cạnh tranh của của doanh nghiệp để nhận định các cơ hội thách thức chủ yếu đối với doanh nghiệp và xác định thứ tự ưu tiên của chúng Các yếu tố thuộc môi trường ngành được mô tả chi tiết trong hình 1.1
Trang 26Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
1.2.4.1 Đối thủ cạnh tranh
Các nhà kinh tế đánh giá khả năng cạnh tranh theo các chỉ số về mức độ tập trung của ngành và tỷ lệ tập trung (Concentration Ration – CR) là một trong những chỉ số phải kể đến đầu tiên Chỉ số này cho biết phần trăm thị phần do 4 công ty lớn nhất trong ngành nắm giữ Chỉ số càng cao cho thấy mức độ tập trung thị phần vào các công ty lớn nhất càng lớn; Nếu chỉ có một
số công ty nắm giữ phần lớn thị phần; thì ngành sẽ mang tính cạnh tranh ít hơn (gần với độc quyền bán) Tỷ lệ tập trung thấp cho thấy ngành có rất nhiều đối
Khách hàng
Quyền thương thuyết của khách hàng
Trang 27Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
thủ; trong đó không có đối thủ nào chiếm thị phần đáng kể Các thị trường gồm nhiều “mảnh ghép” này được cho là có tính cạnh tranh
Để có được lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ; một doanh nghiệp có thể chọn một số động thái cạnh tranh như sau:
- Thay đổi giá – tăng hoặc giảm giá để có được lợi thế ngắn hạn
- Tăng sự khác biệt của sản phẩm – cải thiện các đặc tính; đổi mới quá trình sản xuất và đổi mới sản phẩm
- Sử dụng các kênh phân phối một cách sáng tạo – dùng hội nhập theo
chiều dọc hoặc sử dụng một kênh phân phối mới chưa có trong ngành
- Khai thác mối quan hệ với các nhà cung cấp
Cường độ cạnh tranh chịu ảnh hưởng của các đặc điểm ngành sau đây:
- Số lượng công ty lớn Số lượng công ty lớn làm tăng tính cạnh tranh
Tính cạnh tranh sẽ càng mạnh hơn nếu các công ty này có thị phần tương đương nhau; phải “chiến đấu” để giành vị trí chi phối thị trường
- Thị trường tăng trưởng chậm Đặc điểm này khiến các công ty phải cạnh
tranh tích cực hơn để chiếm giữ thị phần
- Các chi phí cố định cao Chi phí cố định cao thường tồn tại trong một
ngành có tính kinh tế theo quy mô, có nghĩa là chi phí giảm khi quy mô sản xuất tăng Khi tổng chi phí chỉ lớn hơn không đáng kể so với các chi phí cố định thì các công ty phải sản xuất gần với tổng công suất để đạt được mức chi phí thấp nhất cho từng đơn vị sản phẩm Các công ty sẽ phải bán một số lượng rất lớn sản phẩm trên thị trường và vì thế phải tranh giành thị phần dẫn đến cường độ cạnh tranh tăng lên
- Chi phí lưu kho cao hoặc sản phẩm dễ hư hỏng Đặc điểm này khiến nhà
sản xuất muốn bán hàng hóa càng nhanh càng tốt Nếu cùng thời điểm
Trang 28Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
đó, các nhà sản xuất khác cũng muốn bán sản phẩm của họ thì cuộc cạnh tranh giành khách hàng sẽ trở nên dữ dội
- Chi phí chuyển đổi hàng hóa thấp Khi một khách hàng dễ dàng chuyển
từ sử dụng sản phẩm này sang sản phẩm khác; thì mức độ cạnh tranh sẽ cao hơn do các nhà sản xuất phải cố gắng để giữ chân khách hàng
- Mức độ khác biệt hóa sản phẩm thấp Đặc điểm này luôn dẫn đến mức
độ cạnh tranh cao Ngược lại; nếu sản phẩm của các công ty khác nhau
có đặc điểm hàng hóa khác nhau rõ rệt sẽ giảm cạnh tranh
- Khả năng thay đổi chiến lược cao Khả năng thay đổi chiến lược cao xảy
ra khi một công ty đang mất dần vị thế thị trường của mình; hoặc có tiềm năng giành được nhiều lợi nhuận hơn Tình huống này cũng làm tăng tính cạnh tranh trong ngành
- Các rào cản “thoát ra” cao Đặc điểm này khiến doanh nghiệp phải chịu
một chi phí cao nếu muốn từ bỏ không sản xuất sản phẩm nữa Rào cản này làm cho một doanh nghiệp buộc phải ở lại trong ngành ngay cả khi công việc kinh doanh không thuận lợi lắm Một rào cản phổ biến là tính đặc trưng của tài sản cố định Khi nhà máy và thiết bị có tính chuyên môn hóa cao thì khó có thể bán các tài sản đó cho những ngành khác
- Tính đa dạng của các đối thủ với các đặc điểm văn hóa; lịch sử và triết
lý khác nhau làm cho ngành kinh doanh trở nên không ổn định Có những công ty tăng trưởng không tuân theo quy luật làm cho các công ty khác không đánh giá được chính xác tình hình thị trường Vì thế, tính cạnh tranh cũng không ổn định và có chiều hướng tăng lên
- Sự sàng lọc trong ngành Thị trường tăng trưởng và có cơ hội thu được
lợi nhuận cao khuyến khích các công ty mới gia nhập thị trường và các công ty cũ tăng sản lượng Do vậy trong ngành sẽ có nhiều đối thủ cạnh
Trang 29Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
tranh hơn Đến một lúc nào đó; mức độ tăng trưởng chậm lại và thị trường trở nên bão hòa; tạo nên tình huống cung vượt quá cầu Khi đó cuộc sàng lọc diễn ra; cạnh tranh dữ dội dẫn đến chiến tranh giá cả và một số công ty phá sản
Dù quy luật về thị trường ổn định đúng đến mức nào; thì rõ ràng là tính
ổn định của thị trường và những thay đổi trong cung và cầu đều ảnh hưởng đến tính cạnh tranh Tính chu kỳ của cầu đối với sản phẩm gây ra mức độ cạnh tranh dữ dội
1.3.2.3 Nguy cơ Thay thế
Trong mô hình của Porter; thuật ngữ “sản phẩm thay thế” là đề cập đến sản phẩm thuộc các ngành sản xuất khác Theo các nhà kinh tế; nguy cơ thay thế xuất hiện khi nhu cầu về một sản phẩm bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi giá cả của một hàng hóa thay thế Sự tồn tại của các hàng hóa thay thế làm hạn chế khả năng tăng giá của doanh nghiệp trong một ngành sản xuất nhất định
Sự cạnh tranh gây ra bởi nguy cơ thay thế này thường đến từ các sản phẩm bên ngoài ngành Mặc dù nguy cơ về hàng thay thế thường ảnh hưởng đến ngành; thông qua sự cạnh tranh giá cả; nhưng người ta còn quan tâm đến các khía cạnh khác khi đánh giá về mối nguy cơ này
1.2.4.2 Sức mạnh của khách hàng
Sức mạnh của khách hàng là ảnh hưởng của khách hàng đối với một ngành sản xuất nào đó Nhìn chung; khi sức mạnh khách hàng lớn; thì mối quan hệ giữa khách hàng với ngành sản xuất sẽ gần với cái mà các nhà kinh tế gọi là độc quyền mua – tức là thị trường có nhiều nhà cung cấp nhưng chỉ có một người mua Trong điều kiện thị trường như vậy; khách hàng có khả năng
áp đặt giá Nếu khách hàng mạnh; họ có thể buộc giá hàng phải giảm xuống;
Trang 30Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
khiến tỷ lệ lợi nhuận của ngành giảm Sau đây là những yếu tố quyết định sức mạnh khách hàng
Khách hàng có sức mạnh lớn khi:
- Khách hàng có tính tập trung cao; tức là có ít khách hàng chiếm một thị
phần lớn
- Khách hàng mua một lượng lớn sản phẩm sản xuất ra trong bối cảnh
kênh phân phối hoặc sản phẩm đã được chuẩn hóa
- Khách hàng có khả năng sáp nhập hay mua lại công ty sản xuất
Khách hàng yếu trong những trường hợp sau:
- Trường hợp sáp nhập xảy ra: nhà sản xuất có khả năng sáp nhập hoặc
mua công ty phân phối/ bán lẻ
- Chi phí chuyển đổi sản phẩm của khách hàng lớn
- Có rất nhiều khách hàng; vì thế không khách hàng nào có ảnh hưởng
đáng kể đến sản phẩm hoặc giá sản phẩm Hiện tượng này xảy ra với hầu hết các loại hàng hóa tiêu dùng
- Nhà sản xuất cung cấp giá trị đầu vào đáng kể cho sản phẩm của người
mua
1.2.4.3 Sức mạnh của nhà cung cấp
Sức mạnh của nhà cung cấp thể hiện khả năng quyết định các điều kiện giao dịch của họ đối với doanh nghiệp Những nhà cung cấp yếu thế có thể phải chấp nhận các điều khoản mà doanh nghiệp đưa ra; nhờ đó doanh nghiệp giảm được chi phí và tăng lợi nhuận trong sản xuất; ngược lại, những nhà cung cấp lớn có thể gây sức ép đối với ngành sản xuất bằng nhiều cách; chẳng hạn đặt giá bán nguyên liệu cao để san sẻ phần lợi nhuận của ngành
Trang 31Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
Sau đây là một số yếu tố quyết định sức mạnh của nhà cung cấp:
- Mức độ tập trung của các nhà cung cấp Sức mạnh của nhà cung cấp sẽ
rất lớn; nếu mức độ tập trung của họ cao Nếu nhà cung cấp của một doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhiều nhà cung cấp khác; thì có khả năng là họ sẽ phải chấp nhận những điều khoản bất lợi hơn
- Mức độ chuẩn hóa của đầu vào Việc đầu vào được chuẩn hóa cũng làm
tăng tính cạnh tranh giữa các nhà cung cấp và do vậy làm giảm sức mạnh của họ; chẳng hạn như mối quan hệ giữa các nhà sản xuất lốp (nhà cung cấp) với các nhà sản xuất xe hơi
- Chi phí thay đổi nhà cung cấp Chi phí này càng cao thì doanh nghiệp sẽ
càng phải chịu nhiều điều khoản bất lợi mà nhà cung cấp đặt ra, vì việc chuyển từ nhà cung cấp này sang nhà cung cấp khác sẽ buộc doanh nghiệp sản xuất phải chịu các chi phí khổng lồ
- Nguy cơ tăng cường hợp nhất giữa nhà cung cấp và đơn vị sản xuất Khả
năng này càng cao thì sức mạnh của nhà cung cấp càng lớn
- Sức mạnh của doanh nghiệp thu mua Trong giao dịch thương mại; sức
mạnh của khách hàng đương nhiên sẽ làm giảm sức mạnh của nhà cung cấp Sức mạnh này được thể hiện rõ một khi khách hàng tẩy chay không mua sản phẩm
1.2.4.4 Các rào cản gia nhập
Không chỉ các đối thủ hiện tại mới tạo ra nguy cơ đe dọa các doanh nghiệp trong một ngành; mà khả năng các công ty mới có thể gia nhập ngành cũng ảnh hưởng đến cuộc cạnh tranh Mỗi ngành có những biện pháp riêng để bảo vệ mức lợi nhuận cao của các đơn vị đã có mặt trong thị trường, đồng thời ngăn cản các đối thủ tiềm năng gia nhập vào thị trường đó Những biện pháp này được gọi là các rào cản gia nhập
Trang 32Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
Các rào cản gia nhập không chỉ là sự điều chỉnh thông thường của thị trường Chẳng hạn như khi lợi nhuận của ngành tăng lên (hoặc tính hấp dẫn của ngành); chúng ta dự đoán rằng sẽ có thêm các công ty muốn xâm nhập vào thị trường để được hưởng mức lợi nhuận cao đó; khiến lợi nhuận của các công
ty trong ngành giảm dần Khi lợi nhuận giảm; chúng ta lại dự đoán rằng một số công ty sẽ rút lui; nhờ đó; tình trạng cân bằng thị trường được tái lập Giá giảm; hoặc dự đoán rằng giá sẽ giảm trong tương lai; ngăn cản các đối thủ tiềm năng bước vào thị trường Các công ty sẽ ngần ngại không muốn tham gia một thị trường bất ổn; đặc biệt là nếu việc tham gia thị trường đòi hỏi phải tốn một khoản chi phí khởi sự lớn Đó là những điều chỉnh thông thường của thị trường; nhưng nếu các công ty cố tình giữ giá thấp để duy trì mức lợi nhuận thấp của cả ngành (việc tập hợp các công ty thực hiện biện pháp này sẽ bị coi
là hành động phi pháp) như một chiến lược để ngăn cản những công ty khác không bước chân vào thị trường; thì việc đặt giá để ngăn cản gia nhập đó chính
là một rào cản gia nhập
Các rào cản gia nhập là những quy định đặc trưng của một ngành Các rào cản này làm giảm tốc độ tham gia của các công ty mới; nhờ đó duy trì mức lợi nhuận ổn định cho các công ty đang hoạt động trong ngành Xét từ góc độ chiến lược; các công ty có thể tạo ra; hoặc khai thác các rào cản này để tăng lợi thế cạnh tranh của mình Các rào cản gia nhập có thể bắt nguồn từ một số nguyên nhân chủ yếu sau đây:
- Chính phủ tạo nên các hàng rào Mặc dù vai trò chính của chính phủ
trong thị trường là duy trì cạnh tranh công bằng và lành mạnh thông qua các hành động chống độc quyền; nhưng chính phủ vẫn hạn chế cạnh tranh thông qua việc chấp nhận độc quyền và ban hành các quy định
- Bằng sáng chế và sở hữu trí tuệ là một rào cản gia nhập Các ý tưởng và
kiến thức giúp nâng cao lợi thế cạnh tranh được coi là sở hữu cá nhân
Trang 33Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
sau khi được cấp bằng sáng chế và ngăn không cho những người khác
áp dụng kiến thức này
- Tính đặc trưng của tài sản hạn chế cổng vào ngành Đặc trưng tài sản đôi
khi có thể khiến công ty sử dụng tài sản đó để sản xuất một sản phẩm hoàn toàn khác Tính đặc trưng của tài sản tạo thành hàng rào gia nhập bởi hai lý do
+ Thứ nhất; khi các công ty đã có những tài sản mang tính chuyên
môn hóa cao; họ sẽ quyết liệt chống lại nỗ lực muốn gia nhập ngành của các công ty mới nhằm mục đích giữ vững thị phần của mình Các công ty mới gia nhập có thể thấy trước mức độ cạnh tranh dữ dội này
+ Thứ hai là khi một ngành đòi hỏi công nghệ hoặc nhà máy hay
thiết bị có tính chuyên môn hóa cao; thì các công ty muốn tham gia hoạt động trong ngành sẽ ngần ngại trong việc đầu tư để có được các tài sản đó – vì những tài sản có tính chuyên môn cao như vậy rất khó bán nếu doanh nghiệp thua lỗ và muốn rút lui khỏi thị trường
- Tính kinh tế theo quy mô Sản xuất có hiệu quả chi phí cao nhất được
gọi là Quy mô có chi phí nhỏ nhất (Minimum Efficient Scale – MES) - chi phí sản xuất từng đơn vị sản phẩm đạt mức thấp nhất đồng nghĩa với việc mức sản xuất có hiệu quả chi phí cao nhất Nếu đã biết MES của các doanh nghiệp trong một ngành là bao nhiêu; thì chúng ta có thể xác định lượng thị phần cần thiết để có chi phí gia nhập thấp hoặc tương đương với các đối thủ cạnh tranh
- Các rào cản đối với việc thoát ra khỏi ngành cũng tương tư như các rào
cản gia nhập Rào cản thoát ra hạn chế khả năng rời khỏi thị trường của
Trang 34Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
công ty và vì thế có thể làm cho mức độ cạnh tranh trở nên gay gắt hơn – vì không thể rời bỏ ngành; nên công ty buộc phải cạnh tranh để tồn tại
Có thể tóm tắt điều kiện của hàng rào gia nhập và hàng rào thoát ra như sau:
Một công ty khó gia nhập ngành nếu:
- Tồn tại các bí quyết sản xuất hay ý tưởng được cấp bằng sáng chế
- Khó thay đổi mặt hàng sản xuất
- Khả năng tiếp cận với kênh phân phối thấp
- Khoảng cách giữa chi phí đầu vào so với chi phí đầu ra quá lớn
Một công ty khó thoát ra khỏi ngành nếu:
- Ngành đòi hỏi các tài sản có tính chuyên môn hóa cao
- Chi phí rời bỏ ngành cao
- Các công ty kinh doanh trong ngành có quan hệ chặt chẽ với nhau
1.2.5 Phân tích SWOT
Trên cơ sở đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh và nội bộ doanh nghiệp tiến hành lập ma trận SWOT để phân tích các thế mạnh (S-Strengths), những điểm yếu (W-Weaknesses), các cơ hội (O-Opprtunities) và các thách thức (T-Threats) Phối hợp các mặt đó để xác định, lựa chọn chiến lược cạnh tranh phù hợp cho doanh nghiệp
1.2.5.1 Đặc điểm của môi trường sản xuất kinh doanh của ngành khí
Sản xuất kinh doanh khí cũng như bao ngành sản xuất khác là phải có người tiêu thụ, sản phẩm làm ra phải đáp ứng nhu cầu, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Nhưng ngành Khí còn có những đặc thù riêng đó là:
Chi phí đầu tư ban đầu cao
Trang 35Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
Đầu tư ban đầu cho công tác thăm dò, tìm kiếm, đánh giá trữ lượng là rất lớn và phụ thuộc rất nhiều vào trữ lượng, điều kiện khai thác của từng bể do khí được khai thác dưới lòng đất và mỗi một phát hiện thì có những trữ lượng khác nhau và mỗi một phát hiện có những vị trí thuận lợi khó khăn riêng Tại Việt Nam, các mỏ khai thác đều ở ngoài khơi xa do chi phí đầu tư phát triển nguồn rất cao
Chi phí cố định cao
Do ngành công nghiệp Dầu khí nói chung và ngành khí nói riêng có yêu cầu cao về an toàn, phòng chống cháy nổ, công nghệ tiên tiến và có hệ thống vận chuyển, phân phối rộng khắp Trong tổng mức đầu tư của các dự án khí thì chi phí đầu tư cho khâu vận chuyển chiếm tỷ trọng lớn, bởi vì: phương tiện vận chuyển chính của các sản phẩm khí chính là hệ thống các đường ống dài hàng ngàn, hàng chục ngàn km Chính vì vốn đầu tư lớn, nên chi phí cố định cũng chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm khí
Đầu tư đồng bộ dây truyền khí
Do đặc tính sản khí thương phẩm không thể tàng chứa sau khi khai thác
chế biến nên dây truyền thu gom, vận chuyển, chế biến, phân phối khí phải liên
tục, gắn liền với hộ tiêu thụ Do đó phải đầu tư đồng bộ để có thể tiếp nhận nguyên liệu, chế biến và cung cấp tới khách hàng
Yêu cầu của khách hàng rất nghiêm ngặt
Phần lớn sản phẩm khí không lưu kho và vận chuyển bằng đường ống duy nhất Chính vì vậy, đây là vấn đề gây áp lực không nhỏ từ các hộ tiêu thụ lên các nhà cung cấp khí Nhà cung cấp khí phải đảm bảo cung cấp liên tục, ổn định, an toàn về sản lượng, thông số vận hành (áp suất, nhiệt độ, nhiệt trị
khí…)
Áp lực từ về nhập khẩu thiết bị chuyên ngành
Trang 36Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
Thiết bị phục vụ ngành khí đa số đươc nhập khẩu vì các Nhà cung ứng nội địa không đáp ứng được do các thiết bị có yêu cầu kỹ thuật cao Vì vậy, ngành khí rất phụ thuộc vào các nhà cung cấp thiết bị từ nước ngoài phục vụ công tác bảo dưỡng sửa chữa và các dự án ngành khí
Điều kiện khai thác khó khăn và phức tạp
Trên thế giới, trừ một số nước có điều kiện thuận lợi, còn hầu hết khí được khai thác từ ngoài biển cách đất liền xa và ở những độ sâu hàng ngàn mét Tại Việt Nam, các dự án khai thác và thu gom khí đều thực hiện ở ngoài
khơi thềm lục địa Việt Nam, cách đất liền hàng trăm km
Hiệu quả phụ thuộc cường độ, tần suất sử dụng
Do là ngành có chi phí đầu tư lớn, khách hàng cũng phải đủ lớn và ổn định do vậy thời gian hoàn vốn cũng như muốn đạt hiệu quả cao phụ thuộc rất nhiều vào cường độ, tần suất sử dụng
1.2.5.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của PV GAS
Hiện nay, công tác sản xuất kinh doanh khí có những nhân tố sau ảnh hưởng đến hiệu quả, đó là:
Nhân tố thuộc ngành khí
Như đã đề cập ở phần trên, nhân tố bên ngoài doanh nghiệp bao gồm: thị trường cạnh tranh và đối thủ cạnh tranh, nhân tố tiêu dùng, nhân tố tài nguyên môi trường, các chính sách của nhà nước Tuỳ thuộc mỗi loại hình hoạt động
sẽ chịu những ảnh hưởng tác động khác nhau Đối với loại hình sản xuất kinh doanh khí, do tính ưu việt và giá cả cạnh tranh nên công tác sản xuất kinh doanh khí không bị ảnh hưởng nhiều bởi đối thủ cạnh tranh, nhân tố tiêu dùng
mà chỉ chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố sau:
Trang 37Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
- Thị trường đầu vào: Giá các nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, các thiết
bị (phần lớn thiết bị và các hoá chất phục vụ ngành khí phải nhập khẩu)
- Các chính sách của nhà nước: Đó là chính sách giá khí Hiện nay, phần
lớn giá khí đầu ra đều do Chính phủ qui định và thấp hơn nhiều so với giá trong khu vực và thế giới
- Rủi ro về môi trường: do tính dễ cháy nổ của khí và sản phẩm khí; hệ
thống kho chứa sản phẩm lỏng (condensate, LPG) và cảng xuất sản
phẩm tập chung với quy mô lớn nên đòi hỏi các phải áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt trong toàn bộ các quá trình từ thu gom, vận chuyển, chế biến, tàng chứa sản phẩm lỏng và phân phối sản phẩm Sẽ là thảm họa cho doanh nghiệp, xã hội và môi trường nếu xảy ra sự cố về cháy nổ hoặc tràn dầu tại các cơ sản xuất của doanh nghiệp
Nhân tố bên trong doanh nghiệp
Cũng như các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh khác, sản xuất kinh doanh khí cùng chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau:
Trang 38Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
1.3 Nội dung đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Đánh giá môi trường kinh doanh bên ngoài và đánh giá nội bộ doanh nghiệp sẽ làm cơ sở để doanh nghiệp nhận diện thực trạng năng lực cạnh tranh của mình từ đó đưa ra các chiến lược cạnh tranh của mình
Trình tự và nội dung các bước đánh giá được mô tả theo hình 1.2
Đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nhgiệp
Đánh giá các yếu tố thuộc môi
Hình 1.2 Nội dung phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Nhận diện cơ hội và thách thức Nhận diện điểm mạnh và điểm
Trang 39Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
1.4 Các mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.4.1 Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh
Mô hình phân tích đưa ra kỹ thuật phân tích tính chất động của môi trường cạnh tranh, mục đích là đưa ra những vận dụng chiến lược cạnh tranh đặc biệt thích ứng cho từng trường hợp cụ thể Đánh giá áp lực của năm lực lượng cạnh tranh ảnh hưởng như thế nào tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong môi trường ngành 5 lực lượng đó là: Đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành; Quyền thương thuyết của các nhà cung cấp; Sức mạnh của Khách hàng; Đe dọa của các sản phẩm thay thế; Rào cản ra nhập ngành
1.4.2 Mô hình ma trận SWOT
Phương pháp này phân tích các thế mạnh (S-Strengths), những điểm yếu (W-Weaknesses), các cơ hội (O-Opprtunities) và các thách thức (T-Threats) Phối hợp các mặt đó để xác định, lựa chọn chiến lược cạnh tranh phù hợp cho doanh nghiệp
Để lập ma trận SWOT cần thực hiện qua 8 bước sau:
1 Liệt kê các cơ hội chủ yếu
2 Liệt kê các mội thách thức chủ yếu bên ngoài doanh nghiệp
3 Liệt kê những thế mạnh chủ yếu
4 Liệt kê những điểm yếu tiêu biểu của nội bộ doanh nghiệp
5 Kết hợp thế mạnh bên trong với cơ hội bên ngoài và đề xuất chiến
lược SO thích hợp Chiến lược này phát huy thế mạnh để tận dụng
cơ hội
6 Kết hợp điểm yếu bên trong với cơ hội bên ngoài và đề xuất
phương án chiến lược WO thích hợp Chiến lược này khắc phục điểm yếu bằng cách tận dụng các cơ hội
Trang 40Luận văn tốt nghiệp cao học Học viên: Trần Huy Thực
7 Kết hợp thế mạnh bên trong với mối thách thức bên ngoài và đề
xuất phương án ST thích hợp Chiến lược này lợi dụng thế mạnh của mình để đối phó với thách thức thách thức từ bên ngoài
8 Kết hợp điểm yếu bên trong với mối thách thức bên ngoài và đề
xuất phương án chiến lược WT Chiến lược này nhằm tối thiểu tác dụng của điểm yếu và phòng thủ trước các mối thách thức từ bên ngoài
1.5 Tóm tắt nội dung chương 1
Chương này đã tổng hợp khái quát các cơ sở lý luận vế năng lực cạnh tranh Xác định những đặc điểm then chốt của các ngành kinh tế-những đặc điểm quyết định sức mạnh của các lực lượng cạnh tranh và do đó quyết định cả mức lợi nhuận ngành Xác định các yếu tố thuộc môi trường ngành, các yếu tố nội tại của doanh nghiệp ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Đồng thời nêu lên các đặc điểm của các doanh nghiệp trong ngành khí Đề xuất mô hình phân tích năng lực cạnh tranh để phân tích ở chương 2
Nghiên cứu, tìm kiếm giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh rất cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp Để nâng cao năng lực cạnh tranh, cần thiết phải nhận diện được những nhân tố ảnh hưởng tích cực (thế mạnh) và những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực (điểm yếu) của mỗi doanh nghiệp, trên cơ sở đó có những giải pháp cụ thể để phát huy thế mạnh và khắc phục khó khăn, có như vậy mới tìm được một vị trí trong ngành nơi mà công ty duy trì được thế cạnh tranh Trên cơ sở khái quát lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, trước khi đưa ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của PV GAS, trong chương 2 tác giả xin đi sâu vào việc đánh giá năng lực cạnh tranh của PV GAS, qua đó xác định thế cạnh tranh của PV GAS