1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng bài giảng điện tử môn học vẽ kỹ thuật chuyên nghành chế tạo máy tại trường đại học công nghiệp hà nội

92 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 5,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giả thuyết khoa học Nếu xây dựng và sử dụng Bài giảng điện tử môn Vẽ kỹ thuật theo quan điểm dạy học hiện đại, đáp ứng các yêu cầu sư phạm thì sẽ hỗ trợ tốt hoạt động dạy của giáo viên

Trang 1

ngành: sư phạm kỹ thuật

võ thị như uyên

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS nguyễn khang

Hà Nội 2008

Trang 2

Tóm tắt nội dung luận văn Thạc sỹ sư phạm kỹ thuật

Đề tài “Xây dựng Bài giảng điện tử môn học Vẽ kỹ thuật cho sinh viên hệ cao đẳng chuyên ngành Chế tạo máy tại trường Đại học Công nghiệp Hà nội” Luận văn đã đề cập đến những nội dung cơ bản sau:

1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng BGĐT ở trường

Đại học Công nghiệp Hà nội;

2 Phân tích thực trạng sử dụng BGĐT môn học Vẽ kỹ thuật tại trường Đại học Công nghiệp Hà nội;

3 Đề tài tập trung nghiên cứu xây dựng Bài giảng điện tử môn học Vẽ kỹ thuật cho sinh viên hệ cao đẳng chuyên ngành chế tạo máy tại trường

Đại học Công nghiệp Hà Nội;

4 áp dụng và khai thác một số phần mềm đồ họa để thiết kế minh họa BGĐT chương Bản vẽ lắp của môn học Vẽ kỹ thuật, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ở bộ môn

Trang 3

Abstract of Technical pedagogic master thesis

Title: Building E-learning of Technical Drawing Subject for engineering college training level in Hanoi Industrial University

The main contents of thesis are:

1 Research on basically study and reality of building E-learning in Hanoi Industrial University

2 Analysis the implementing background of E-learning of Technical Drawing Subject in Hanoi Industrial University

3 Research on how to make a Technical Drawing Subject base on learning methodology for college training level in Hanoi Industrial University

E-4 Applying and exploring some design soft-wares in order to design for Technical Drawing Subject then contributing to improve teaching and learning this subject in Hanoi Industrial University

Trang 4

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

- CNTT: Công nghệ thông tin

- CNTT&TT: Công nghệ thông tin và truyền thông

- BGĐT: Bài giảng điện tử

- MTĐT: Máy tính điện tử

- PMDH: Phần mềm dạy học

- LAN: Local Area Networks

- WAN: Wide Area Networks

- GV: Giảng viên

- SV: Sinh viên

- PPDH: Phương pháp dạy học

Trang 5

Danh mục các bảng biểu, hình vẽ minh họa

Hình 1.1 Bản chất của công nghệ dạy học hiện đại

Hình 1.2 Mô hình mối quan hệ dạy - học cơ bản theo Hortsch

Hình 1.3 Mô tả quá trình dạy học

Hình 1.4 Mô hình công nghệ dạy học

Hình 1.5 Mô hình dạy học theo lý thuyết học tập theo Heimann và Schulz Hình 1.6 Mô hình dạy học theo Frank

Hình 1.7 Mô hình dạy học theo Inber

Hình 2.1 Giao diện chương trình Powerpoint

Hình 2.2 Giao diện chương trình Macromedia Flash

Hình 2.3 Giao diện chương trình Frontpage

Hình 2.4 Giao diện chương trình Hot Potatoes

Hình 2.5 Giao diện chương trình Autodesk Inventor

Hình 3.1 Các bước thiết kế bài giảng điện tử

Hình 3.2 Giao diện bài giảng điện tử chương bản vẽ lắp

Hình 3.3 Điều kiện tiên quyết

Hình 3.3 Mục tiêu

Hình 3.3 Hình biểu diễn

Hình 3.4 Biểu diễn quy ước

Hình 3.5 Số vị trí của chi tiết

Trang 6

và đào tạo đã và đang diễn ra trên qui mô toàn cầu, tạo nên những biến đổi sâu sắc trong nền giáo dục thế giới Cùng với vấn đề đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học theo hướng hiện đại hoá, cuộc cách mạng về phương pháp dạy học

đang diễn ra theo 3 hướng chính: tích cực hoá, cá biệt hoá và công nghệ hoá nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học nói riêng, giáo dục và đào tạo nói chung

Một phần của Công nghệ hoá ở đây chính là việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT), môi trường dạy học đa phương tiện vào quá trình dạy học Hội thảo Quốc tế về giảng dạy đại học

được tổ chức tại Pari (10/1998) đã khẳng định " Đặc biệt coi trọng trang bị các thiết bị giảng dạy chuyên ngành đối với các môn học ở trình độ cao phù hợp với nhu cầu xã hội và giảng dạy nhờ vào công nghệ mới về thông tin và truyền thông" Đây là thời cơ và thách thức của nền giáo dục các nước chậm phát triển trong đó có Việt Nam

Trang 7

Trong "Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010" của Chính phủ đã nhận định: "Sự đổi mới và phát triển giáo dục đang diễn ra ở qui mô toàn cầu tạo cơ hội tốt để giáo dục Việt Nam nhanh chóng tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những cơ sở lý luận, phương thức tổ chức, nội dung giảng dạy hiện đại và tận dụng các kinh nghiệm quốc tế để đổi mới và phát triển"

Chỉ thị số 58-ct/tw của Bộ Chính trị (khoá VIII) khẳng định: "ứng dụng và phát triển CNTT-TT là nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trước Mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng đều phải ứng dụng CNTT-TT để phát triển" Chỉ thị số 29/200/ct-bgd&đt về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2001-2005 nêu rõ: "CNTT và đa phương tiện sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong hệ thống quản lý giáo dục, trong chuyển tải nội dung chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về phương pháp dạy và học"

Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội từ nhiều năm nay đã triển khai đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy trong tất cả các Khoa, ngành đào tạo trong trường bảo đảm phù hợp với nhu cầu xã hội Về phương pháp giảng dạy, với đặc thù là trường đào tạo đa ngành, nhiều môn học có mô hình động phức tạp, thường xuyên phải cập nhật kiến thức, công nghệ mới Để

hỗ trợ cho việc đổi mới phương pháp dạy học, Nhà trường đã đầu tư kinh phí

để mua sắm thiết bị dạy học hiện đại, khuyến khích ứng dụng CNTT vào dạy học nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng đào tạo

Sử dụng Bài giảng điện tử trong dạy học kỹ thuật nói chung và trong các môn học mang tính chất tư duy trừu tượng như Vẽ kỹ thuật nói riêng, cùng với việc kết hợp sử dụng các phần mềm đồ họa chuyên ngành như Autodesk Inventor, SolidWorks, …để xây dựng mô hình vật thể, mô phỏng chuyển động của cụm lắp,… sẽ tiết kiệm chi phí cho việc chế tạo mô hình học cụ và giúp

Trang 8

cho tiết học trực quan, sinh động, giúp sinh viên hiểu sâu, nhớ lâu kiến thức, giảm thời gian truyền đạt lý thuyết của giáo viên, tăng thời gian thực hành vẽ bài tập của sinh viên và thời gian hướng dẫn của giáo viên

Được sự đồng ý của PGS.TS Nguyễn Khang, tôi lựa chọn đề tài:

Nghiên cứu xây dựng Bài giảng điện tử môn học Vẽ kỹ thuật cho sinh viên chuyên ngành Chế tạo máy tại trường Đại học Công nghiệp Hà nội”

2 Mục đích nghiên cứu

áp dụng và khai thác một số phần mềm đồ họa để xây dựng Bài giảng

điện tử môn học Vẽ kỹ thuật, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học

ở bộ môn

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học môn Vẽ kỹ thuật ở trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

3.2 Đối tượng nghiên cứu

 Bài giảng điện tử môn học Vẽ kỹ thuật;

 Các phần mềm đồ họa chuyên ngành

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra một số nhiệm vụ nghiên cứu sau:

 Lý thuyết xây dựng và sử dụng Bài giảng điện tử;

 Nội dung, phương pháp dạy học môn Vẽ kỹ thuật;

 Bài giảng điện tử và quá trình dạy học môn Vẽ kỹ thuật với sự hỗ trợ của Bài giảng điện tử

5 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng và sử dụng Bài giảng điện tử môn Vẽ kỹ thuật theo quan

điểm dạy học hiện đại, đáp ứng các yêu cầu sư phạm thì sẽ hỗ trợ tốt hoạt

động dạy của giáo viên tích cực hóa quá trình học của sinh viên, góp phần

Trang 9

nâng cao chất lượng dạy và học môn Vẽ kỹ thuật ở trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

6 Phạm vi nghiên cứu

 Đề tài tập trung nghiên cứu xây dựng Bài giảng điện tử môn học Vẽ kỹ thuật chuyên ngành chế tạo máy tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội;

 Thiết kế minh họa chương Bản vẽ lắp của môn học Vẽ kỹ thuật

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

 Phân tích các tài liệu để làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc xây dựngBGĐT tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

 Phân tích nội dung, chương trình môn Vẽ kỹ thuật hiện hành

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

a Phương pháp điều tra viết, phương pháp trò chuyện

Tìm hiểu thực trạng xây dựng BGĐT tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

b Phương pháp chuyên gia

Tham khảo ý kiến của các chuyên gia về phương pháp giảng dạy bộ môn, về Tin học, BGĐT, kinh nghiệm của họ về cách xây dựng BGĐT

Trang 10

Chương 1

Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng BGĐT

ở trường Đại học công nghiệp Hà nội

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của CNTT-TT, Internet, công nghệ truyền thông đa phương tiện (multimedia) đã mang lại nhiều ứng dụng trong đời sống xã hội như: trao đổi thư tín qua mạng Internet: e-mail; chính phủ điện tử: e-government; giáo dục điện tử: e-education; dạy học qua mạng: e-learning; thư viện điện tử: e-libraly; văn hoá số hay văn hoá

điện tử: e-culture Những thành tựu của CNTT-TT đã tạo ra một cuộc cách mạng trong hầu hết các lĩnh vực xã hội, kinh tế Sự thay đổi không chỉ thấy trong các nền sản xuất công nghiệp, điện tử, viễn thông mà ngay trong các lĩnh vực như: tài chính, ngân hàng, thương mại, quản lý nhà nước, giáo dục CNTT-TT không chỉ thay đổi căn bản phương thức điều hành và quản lý giáo dục (Education Management Technology)[26] mà còn tác động mạnh mẽ làm thay đổi nội dung và phương pháp dạy học CNTT-TT đã trở thành một bộ phận giáo dục về khoa học, công nghệ cho mọi HS

Tại Hội nghị quốc tế về giáo dục đại học thế kỷ 21 "Tầm nhìn và hành

động" tại Paris diễn ra từ ngày 5 đến 9 tháng 10 năm 1998 do UNESCO tổ chức đã đưa ra ba mô hình giáo dục:

Mô hình Vai trò trung tâm Vai trò người học Công nghệ sử dụng Truyền

Trang 11

MTĐT đã đóng vai trò quyết định trong việc chuyển từ mô hình truyền thống sang mô hình thông tin và sự xuất hiện của mạng máy tính là tác nhân chính để chuyển từ mô hình thông tin sang mô hình tri thức

Công nghệ đa phương tiện cho phép tích hợp nhiều dạng dữ liệu như văn bản, biểu đồ, đồ thị, âm thanh, hình ảnh, vi deo vào bài giảng nhằm giúp

HS có điều kiện tiếp thu bài học qua nhiều kênh thông tin Vai trò của

CNTT-TT trong việc tạo ra một môi trường dạy học mới cũng đã được các tác giả Quách Tuấn Ngọc [27], Đào Thái Lai [26], khẳng định

 CNTT-TT góp phần đổi mới việc dạy học

 CNTT-TT là công cụ đắc lực góp phần đổi mới việc chuẩn bị và lên lớp

của người thầy

 Cung cấp cho GV nhiều phương tiện dạy học mới như MTĐT, máy

chiếu đa năng, bảng điện tử

CNTT-TT đã làm cho quá trình dạy học không còn bị ràng buộc bởi không gian và thời gian HS có thể học ở mọi nơi, học mọi lúc, học suốt đời Việc học tập trở nên uyển chuyển, linh hoạt, căn cứ vào nhu cầu của HS HS được phép lựa chọn những phương thức học tập có hiệu quả, lựa chọn nội dung bài giảng và các tài liệu có liên quan phù hợp với năng lực bản thân Vấn đề này, các chuyên gia Quách Tuấn Ngọc [27], Đào Thái Lai [26], Nguyễn Huy Tú [28], Haji Razali bin Ahmad [29], Michel1e Selinger [30] cũng đã khẳng

định: CNTT-TT đã tạo ra một môi trường tương tác để người học hoạt động và thích nghi trong môi trường đó và như vậy CNTT-TT tạo điều kiện cho người học độc lập với mức độ cao và hỗ trợ cho người học vươn lên trong quá trình học tập

CNTT-TT tạo ra các mô hình dạy học mới:

1 Dạy học có sự trợ giúp của máy tính (Computer Based Training - CBT)

2 Dạy học trên nền website (Web Based Training -WBT)

3 Dạy học qua mạng (Online Learning Training- OLT)

Trang 12

4 Dạy học từ xa: GV và học viên không ở cùng một vị trí, không cùng thời gian (Distance Learning)

5 Sử dụng CNTT-TT tạo ra một môi trường ảo để dạy học (E-leaming) Việc ứng dụng CNTT-TT trong dạy học tập trung vào các lĩnh vực sau:

 Sử dụng các thiết bị (phần cứng) với vai trò là phương tiện, công cụ dạy học như: MTĐT (Pcs-personal Computers); Thiết bị hiển thị thông tin (display): Large colour monitors, Data projectors, Interactive whiteboards, OHP dispiays, TV interfaces ; Các thiết bị ngoại vi ghép nối với MTĐT: máy ảnh kỹ thuật số, máy quét, graphic calculators

 Sử dụng các ngôn ngữ lập trình như Pascal, Logo ; Các phần mềm thông dụng: Excel, Winword, Frontpage; Các phần mềm đồ hoạ (Graph Plotting Software-GPS); Các phần mềm số học, hệ thống đại số máy tính (Computer Algebra System-cas); Các phần mềm hình học

động (Dynamic Geometry Software-DGS); Các phần mềm trình diễn (Data Handling Software-dhs)

 Khai thác thông tin trên các CD-ROM và Intemet

Như vậy, việc ứng dụng CNTT-TT trong dạy học ở Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được các kết quả chính sau:

1 Nghiên cứu và khai thác các PMDH trên thế giới;

2 Triển khai thiết kế và xây dựng các PMDH cho các nội dung cụ thể;

3 Tổ chức dạy học với sự hỗ trợ của MTĐT;

4 Thử nghiệm khai thác mạng, Internet để dạy học từ xa;

Tuy nhiên, đứng trước những tiềm năng to lớn của CNTT-TT đối với GD&ĐT thì các thành tựu trên còn rất khiêm tốn ở đa số các trường, việc triển khai, ứng dụng CNTT trong giảng dạy và học tập còn nhỏ lẻ Việc đổi mới phương pháp dạy học chỉ dành cho các đợt thao giảng, hội giảng Đội ngũ giáo viên sử dụng thành thạo và kết hợp các phần mềm để xây dựng BGĐT là

Trang 13

không nhiều, hoặc có thì chỉ mang tính chất tự làm báo cáo, minh họa cho tiết giảng của riêng mình

Đối với bộ môn Hình họa - Vẽ kỹ thuật: đây là môn học cơ sở cho tất cả các chuyên ngành của trường kỹ thuật Việc ứng dụng CNTT nhằm xây dựng BGĐT cho môn học còn gặp rất nhiều khó khăn do tính chất đặc trưng của môn học Hiện nay, việc giảng dạy môn học này tuy đã có sự đổi mới về nội dung và phương pháp nhưng vẫn chưa tạo được sự hứng thú, kích thích được tính tích cực cho sinh viên trong quá trình học tập Vì lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: ”Nghiên cứu xây dựng Bài giảng điện tử môn học Vẽ kỹ thuật chuyên ngành Chế tạo máy tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội”, với mong muốn được đóng góp một phần vào công cuộc đổi mới

phương pháp dạy học bộ môn Hình họa – Vẽ kỹ thuật nói chung và môn Vẽ

kỹ thuật nói riêng

Trang 14

1.2 Công nghệ dạy học hiện đại

1.2.1 Công nghệ

Khái niệm về công nghệ được nhiều chuyên gia và tổ chức quốc tế quan tâm Theo GS.TS Nguyễn Xuân Lạc, khái niệm công nghệ được định nghĩa như sau:

"Công nghệ là một hệ thống phương tiện, phương pháp và kỹ năng nhằm vận dụng quy luật khách quan, tác động vào một đối tượng nào đó, đạt một hiệu quả xác định cho con người" [6 ,tr.1]

1.2.2 Công nghệ dạy học

Công nghệ dạy học nói riêng, công nghệ giáo dục và đào tạo nói chung

có nhiều định nghĩa khác nhau:

"Công nghệ đào tạo là quá trình sử đụng vào giáo dục và dạy học các phương tiện kỹ thuật và các phương tiện hỗ trợ, nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh" [5,tr.133]

"Công nghệ giáo dục là khoa học về giáo dục, nó xác lập các nguyên tắc hợp lý của công tác dạy học và những điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành quá trình đào tạo, cũng như xác lập các phương pháp và phương tiện có kết quả nhất để đạt được mục đích đào tạo " [ 22,tr.110,111]

"Công nghệ dạy học là một hệ thống phương tiện, phương pháp và kỹ năng tác động vào con người, hình thành một nhân cách xác định" [7,tr.2] Một cách khái quát: "Công nghệ dạy học là quá trình sử dụng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào quá trình dạy học nhằm thực hiện mục

đích dạy học với hiệu quả kinh tế cao" [5 ,tr.134]

Công nghệ dạy học có thể được xem như một quá trình công nghệ đặc biệt, một quá trình sản xuất những sản phẩm cao cấp, tinh vi nhất(con người) Học sinh không còn là đối tượng thụ động của quá trình tác động của giáo viên mà họ vừa là khách thể, vừa là chủ thể của quá trình dạy học

Trang 15

Ngày nay, quá trình dạy học không chỉ được hiểu là một quá trình công nghệ mà nó đã phát triển lên một tầm cao mới, đó là công nghệ dạy học hiện

đại Công nghệ dạy học hiện đại là một hệ thống phương tiện, phương pháp và

kỹ năng mới tác động vào con người, hình thành một nhân cách xác định

1.2.3 Bản chất và đặc điểm của công nghệ dạy học hiện đại

Bản chất của công nghệ dạy học hiện đại có thể được mô tả là sự kết hợp thành tựu của nhiều khoa học công nghệ khác nhau trong việc tổ chức quá trình dạy học bao gồm: đầu ra, đầu vào, điều kiện phương tiện, nội dung đào tạo, phương pháp và tiêu chuẩn đánh giá nhằm đạt mục đích đào tạo với chi phí tối ưu

Hình 1.1 Bản chất của công nghệ dạy học hiện đại

Đặc điểm của công nghệ dạy học hiện đại : công nghệ dạy học hiện đại có những đặc điểm sau:

 Tính hiện đại: Thường xuyên áp dụng, cập nhật vào thực tiễn dạy học những đổi mới về giáo dục một cách có căn cứ khoa học

 Tối ưu hóa: Chi phí ít nhất về thời gian và sức lực

Trang 16

 Tính tích hợp: Sử dụng thành tựu của nhiều khoa học vào việc đào tạo

 Tính lặp lại kết quả: Cùng một quá trình đào tạo phải đạt được những kết quả mong muốn gần giống nhau

 Tính khách quan: Có các tiêu chí đánh giá kết quả học tập rõ ràng, khách quan, kịp thời về định lượng và cả định tính

 Hệ thống hóa: Chương trình hóa hoạt động từ lúc thăm dò nhu cầu xã hội, tuyển sinh, học tập đều được tiến hành theo những quy trình

1.2.4 Tác dụng của công nghệ dạy học

ưu điểm:

+ Nâng cao năng suất và hiệu quả của dạy học

+ Cho phép cá thể hóa giáo dục: người học có thể học mọi lúc, mọi nơi + Tăng cường sự bình đẳng trong giáo dục : bình đẳng trong quan hệ thầy trò

+ Góp phần làm phong phú và hoàn thiện hơn cơ sở khoa học của dạy học, tạo cho nó những nền tảng khoa học vững chắc

Nhược điểm:

- Phụ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất và con người

- Chỉ áp dụng được cho một số môn học cụ thể

1.2.5 Những điểm lưu ý về công nghệ dạy học hiện đại

Một công nghệ (phương tiện, phương pháp và kỹ năng) dạy học chỉ có tác dụng tốt khi được sử dụng theo quan điểm công nghệ và quan điểm hệ thống [7]

Theo quan điểm công nghệ:

 Phải có phương tiện (máy tính, máy chiếu ) thích hợp và điều kiện vận hành tương ứng

 Người dạy có tay nghề (kiến thức, phương pháp và kỹ năng về tin học cũng như chuyên môn, ) đủ để làm chủ quá trình dạy học, như ứng

Trang 17

tác linh hoạt khi phát hiện thiếu hoặc thừa thời gian dạy học so với kế hoạch đã định

 Người học phải có học liệu thích hợp và biết ứng xử ngang tầm với những thuận lợi do công nghệ hiện đại đem lại

Theo quan điểm hệ thống:

Công nghệ dạy học hiện đại là một hệ thống con trong hệ thống công nghệ dạy học nói chung, vì thế phải được sử dụng trong mối tương quan với công nghệ dạy học truyền thống, theo phương châm đúng lúc, đúng chỗ và

đúng độ (trình độ, mức độ .), đảm bảo cho quá trình dạy học không chỉ khả thi mà còn hiệu quả

1.2.6 Bài giảng theo công nghệ dạy học hiện đại

Từ trước tới nay các giáo viên thường quen soạn bài (chuẩn bị giáo án) như sau [7] :

Phần chữ

Giáo viên sáng tác một phần dựa vào học vấn và kinh nghiệm dạy học của mình, phần còn lại thường đợc biên soạn theo tài liệu tham khảo như: sách, báo, bài giảng (thông thường chiếm tỷ lệ khá lớn) với phương tiện thông dụng là giấy, bút, một số người có dùng phương tiện sao chụp ,

Phần hình

Giáo viên sáng tác một phần theo khả năng của mình, phần còn lại được biên soạn theo tài liệu tham khảo (thông thường chiếm tỷ lệ khá lớn) với phương tiện thống dụng như giấy, bút, một số người có dùng các thiết bị can

in, sao chụp, các phương tiện nghe nhìn như tranh treo, phim, băng hình, không phải là thành phần trực tiếp của bài soạn, thường được dùng phối hợp trên lớp)

Một bài giảng theo công nghệ dạy học hiện đại công nghệ dạy học bằng máy tính) còn được gọi là bài giảng điện tử, cần đáp ứng đồng thời hai yêu cầu cơ bản sau [7]:

Trang 18

 Là một bài giảng giáp mặt đạt chuẩn mực sư phạm;

 Là một bài giảng từ xa qua mạng (LAN, WAN, .), người học có thể tái hiện đầy đủ những gì giáo viên cung cấp

Chuẩn mực sư phạm được hiểu là những tiêu chí/yêu cầu cơ bản đảm bảo cho quá trình dạy học và quá trình thực hiện hai hoạt động tương tác: dạy của thầy và học của trò) khả thi dạy được và học được) và hiệu quả (dạy tốt và học tốt)

Hình 1.2 Mô hình mối quan hệ dạy - học cơ bản theo Hortsch

1.2.7 Một số xu thế của dạy học hiện đại

1.2.7.1 Xu thế tổng quát của dạy học hiện đại

Các quá trình hiện đại hóa và tiêu chuẩn hóa sẽ là những xu thế tổng quát trong dạy học hiện đại, kể cả chính quy và không chính quy trong vài ba thập kỷ tới Nội dung của hiện đại hóa và tiêu chuẩn hóa chắc chắn được định hướng vào các mục tiêu nhân văn, dân chủ và phát triển bền vững Không chỉ

có vấn đề tăng cường các yếu tố khoa học - công nghệ trong việc khai thác, sử dụng các nguồn lực giáo dục, trong việc quản lý, điều hành hay đánh giá dạy học, trong phát triển chương trình và phương pháp, trong công nghệ dạy học

Trang 19

.Mà điều cốt lõi nhất chính là sự phát triển của người học nói riêng và con người nói chung

Học tập thường xuyên và học tập suốt đời là xu thế chung của dạy học hiện đại Những xu thế triển vọng nhất trong dạy học và giáo dục không thể không chịu những ảnh hưởng trực tiếp của sự phát triển nhu cầu của con người, trvớc hết là những nhu cầu gắn liền với học vấn, tri thức, tay nghề, sự thành dạt về mặt xã hội, hạnh phúc cá nhân trong đời sống cộng đồng đa dạng

Trong điều kiện xã hội học tập và nền kinh tế tri thức ngày càng mở rộng nhu cầu học vấn nâng lên rõ ràng, đa dạng hơn, và đặc biệt có tính chất chọn lọc hơn Người ta không chỉ đơn giản là cần học, muốn học, thấy bức bách rằng phải học, mà quan trọng hơn rằng phải học như thế nào, học chính xác cái gì, học vào những lúc nào và học đến mức độ nào thì đủ để hiểu biết,

để làm việc, để chung sống và để làm ngời

Học thường xuyên và học suốt đời là xu thế chung trong nhu cầu học tập của con người, đồng thời cũng là đòi hỏi khách quan của thời đại đối với dạy học trong những thập niên tới Chương trình và học chế nhà trường ngày càng đáp ứng cao hơn nhu cầu học thường xuyên, học suốt đời

1.2.7.2 Một số xu thế của dạy học hiện đại

Chương trình dạy học hiện đại không chỉ còn cứng nhắc như hiện nay

mà nó có những phần cơ bản, cốt lõi và chuẩn mực bắt buộc (phần cứng) và phần tự chọn, linh hoạt (phần mềm) thích ứng với người học, tạo điều kiện, cơ hội giúp người học thích ứng dễ dàng

Phát triển chương trình và phương pháp dạy học được cấu trúc đa dạng hơn, phong phú hơn, dãn rộng hơn tầm hạn giữa học ván tối thiểu và học vấn tối đa, mở rộng các lĩnh vực học tập (học theo bài, theo modul, theo chủ đề, theo dự án ) đáp ứng rộng rãi nhu cầu học tập của mỗi cá nhân

Trang 20

Phát triển các phương tiện công nghệ cao trong truyền thông, giao tiếp, giáo dục, sinh hoạt và môi trường thông tin toàn cầu hóa tạo điều kiện đáp ứng

đầy đủ hơn nhu cầu học tập của con ngời Học tập từ xa sẽ là một xu thế mạnh

mẽ trong dạy học Cần phải phát triển các chương trình học tự chọn, chuyển sang đào tạo, dạy học theo tín chỉ học phần, theo mo dul

Những phương pháp dạy học triển vọng nhất chính là những phương pháp dựa vào người học và hoạt động của người học, đó chính là những phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm

Xu hướng tăng cường sự tương tác, hợp tác và cạnh tranh, tham gia và chia xẻ trong các quanhệ giữa người dạy và người học, giữa người học với nhau giữa cá nhân và nhóm, giữa nhóm và tập thể lớp

Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin, điện tử, kỹ thuật số trong thiết kế và tổ chức quá trình dạy học là xu thế mạnh mẽ trong hiện đại hóa và tiêu chuẩn hóa phần lớn tài liệu học tập và giảng dạy được thiết kế và tổ chức bằng cả hai dạng văn bản in truyền thống (giáo khoa, giáo trình .) và văn bản điện tử (bài bảng điện tử, sách điện tử ) Chúng được sử dụng song song, bổ sung cho nhau để tăng cường hiệu quả và chất lượng thông tin, đa dạng hóa các hình thức học tập, phù hợp với chế độ học tập của cá nhân và học độc lập

Toàn cầu hóa kinh tế dẫn tới hội nhập, do đó dẫn tới xu thế quốc tế hóa văn bằng chứng chỉ, kỹ thuật thiết kế và cấu trúc chương trình dạy học, công nghệ đo lường và đánh giá dạy học, đòi hỏi quốc tế hóa trong lĩnh vực chuẩn học vấn, chuẩn kỹ năng của nhiều lĩnh vực học tập

1.3 Bài giảng điện tử

1.3.1 Khái niệm

Hiện nay ở Việt Nam, phong trào xây dựng các bài giảng điện tử của các môn học trên máy vi tính đang phát triển rất mạnh mẽ Tuy nhiên, có rất ít

Trang 21

tác giả đưa ra khái niệm về bài giảng điện tử và các khái niệm đưa ra cũng chưa thống nhất

Sau đây là một số khái niệm của các tác giả:

Theo Vương Đình Thắng, bài giảng điện tử được hiểu là toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh cùng các phương tiện dạy và học (như tranh ảnh, biểu bảng, biểu đồ các vi deo

- clip ) của một tiết học, được số hoá và cài đặt vào máy vi tính dưới dạng một chương trình nhằm thực hiện mục đích của quá trình dạy học đã đặt ra [23, tr.l03]

Theo tác giả Lê Công Triêm, bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức dạy học mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của giáo viên và học sinh đều được "chương trình hoá" do giáo viên điều khiển thông qua môi trường Multimedia do máy vi tính tạo ra [24, tr.44]

Từ các định nghĩa đã được trình bày ở trên, có thể nhận xét và đánh giá như sau:

- Các điểm chung: Các tác giả đều cho rằng, bài giảng điện tử là bài giảng đã được chương trình hoá và đưa vào máy vi tính

- Các điểm chưa thống nhất:

Theo cách hiểu thứ nhất, bài giảng điện tử là bản kế hoạch hoạt động dạy - học của giáo viên và học sinh Đây là cách hiểu của giáo án điện tử; vì giáo án điện tử là bản kế hoạch hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh đối với một bài học ở trên lớp theo một cấu trúc chặt chẽ, 1ogic

và được cài đặt vào máy tính dưới dạng một chương trình nhằm thực hiện mục

đích của quá trình dạy học Do vậy, giáo án điện tử chính là bản thiết kế của bài giảng điện tử

Theo cách hiểu thứ hai, bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức dạy học Trong khi đó, hình thức tổ chức dạy học là cách thức tổ chức hoạt động dạy học ở thời gian và địa điểm nhất định, với các phương pháp, phương tiện

Trang 22

dạy học cụ thể nhằm giải quyết các nhiệm vụ dạy học Khi tổ chức hoạt động dạy học, bài giảng điện tử là một chương trình dạy học được giáo viên điều khiển theo tiến trình dạy học, trong đó giáo viên sử dụng phối hợp và linh hoạt với các phương pháp, phương tiện dạy học cụ thể, với hình thức tổ chức dạy học hợp lý nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học Do vậy, bài giảng điện tử không phải là một hình thức tổ chức dạy học

1.3.2 Một số đặc trưng của bài giảng điện tử

Bài giảng điện tử là một chương trình hỗ trợ đồng thời cho hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Sự hỗ trợ đấy tạo điều kiện thuận lợi để giảng viên có thể tổ chức và điều khiển tốt hoạt động nhận thức của sinh viên,

để sinh viên phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng tạo chiếm lĩnh tri thức, hình thànhh kỹ năng, kỹ xảo

Nội dung bài giảng bao gồm hệ thống các tri thức được trình bày dưới dạng văn bản (những sự giải thích, minh hoạ, chỉ dẫn, các câu hỏi và câu trả lời), tranh, ảnh, hình vẽ, phim, biểu bảng, biểu đồ, đồ thị Những văn bản, tranh ảnh đó lần lượt xuất hiện theo tiến trình giảng dạy nhờ vào thao tác

đơn giản (nháy chuột trái) Nhờ vậy, giảng viên được giảm nhẹ việc thuyết giảng, tiết kiệm được thời gian ở trên lớp Sinh viên không phải chờ giảng viên viết bảng quá lâu hay vẽ bản vẽ hay thuyết trình mô tả nguyên lý làm việc của cụm lắp, Tất cả thời gian của tiết học được giảng viên sử dụng vào việc tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của sinh viên như: tăng cường đối thoại, thảo luận với người học; nêu thêm các câu hỏi phụ để đào sâu, mở rộng vấn

đề; tổ chức cho sinh viên tham gia xây dựng bài, hoạt động của từng nhóm, từng cá thể sinh viên; hướng dẫn, gợi mở sinh viên phát hiện hay giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình học tập

Bài giảng điện tử bao gồm một hệ thống kiến thức cơ bản, cần thiết mà sinh viên cần nắm vững Mặt khác, nhờ khả năng biểu diễn thông tin bằng đồ họa như các hình vẽ, mô hình, …các kiến thức của môn học được minh hoạ,

Trang 23

trực quan hoá, tất cả tri thức ấy được truy cập nhanh chóng, theo trật tự đã

định trước giúp giảng viên trình bày nội dung bài dạy một cách logic, đáp ứng kịp thời yêu cầu của quá trình dạy học nhằm minh hoạ, trực quan hoá, cụ thể hoá nội dung giúp cho sinh viên hiểu bài hơn, nhớ bài lâu hơn, phát hiện được những mối liên hệ giữa các đơn vị kiến thức dễ dàng hơn, tăng lòng tin của sinh viên với nội dung của bài học, giúp sinh viên phát triển trí tưởng tượng,

óc tò mò khoa học, nâng cao hứng thú nhận thức - học tập cho sinh viên

Nội dung xuất hiện trong bài giảng điện tử đã được biên soạn kỹ lưỡng

về mặt cú pháp, ngữ nghĩa, chuẩn tắc nhất về kích thước (size), kiểu dáng (style), màu sắc (color), loại chữ (font) và có cấu trúc logic nội dung chặt chẽ

Điều này giúp sinh viên rèn luyện được kỹ năng viết, vẽ, trình bày bài học vào

vở ghi của mình một cách chính xác đầy đủ và có thẩm mỹ

Nội dung của môn học được chia thành các bài học cụ thể được liên kết với nhau (Hyperlink) và liên kết với các tập tin khác, các CD tư liệu Chức năng liên kết của bài giảng điện tử cho phép truy cập nhanh chóng đến bài học bất kỳ, một mục bất kỳ, một kết luận hay tóm tắt nội dung của bài học trước

đó hay mở rộng kiến thức, ra bài tập, kiểm tra thông qua một thao tác nháy chuột đơn giản Yêu cầu này trong các tiết giảng thông thường chỉ được thực hiện bằng cách thông qua phát biểu bằng lời của sinh viên hoặc của giảng viên Đồng thời, khả năng hỗ trợ này cũng đáp ứng được yêu cầu của giảng viên trong việc ôn tập, hệ thống hoá, khái quát hoá kiến thức

Ngoài ra, bài giảng điện tử còn là tài liệu đắc lực giúp sinh viên có thể

tự học, tự nghiên cứu (khi các em không thể đến lớp đợc để nghe giảng, hoặc

do học trễ hoặc học vượt theo hệ tín chỉ)

Ngoài khả năng trình bày lý thuyết, bài giảng điện tử cho phép thực hiện phần minh hoạ và kiểm tra từng vấn đề nhỏ bằng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan được xây dựng dưới nhiều loại hình như các câu hỏi nhiều lựa chọn, câu hỏi đúng - sai, câu hỏi ghép đôi, câu hỏi điền khuyết nhằm kiểm tra,

Trang 24

đánh giá trình độ của sinh viên ngay sau khi kết thúc bài học Nó giúp giảng viên thu được tín hiệu ngược nhanh chóng để kịp thời điều chỉnh hoạt động của cả thầy và trò, thúc đẩy sinh viên cố gắng, tích cực làm việc một cách liên tục, có hệ thống Tuy nhiên, khả năng và hiệu quả sử dụng bài giảng điện tử phụ thuộc nhiều vào khả năng và phương pháp sử dụng, cách khai thác bài giảng của người giáo viên trong quá trình dạy học: Điều này không chỉ phụ thuộc vào trình độ sử dụng phương tiện của giáo viên mà còn phụ thuộc vào khả năng sư phạm của họ, khả năng khéo léo trong việc phối hợp giữa trình chiếu bài giảng điện tử với các phương pháp giảng dạy khác mới có thể phát huy tối đa hiệu quả của việc sử dụng bài giảng điện tử trong quá trình dạy học

Bài giảng điện tử được thiết kế bao gồm toàn bộ hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh đối với một bài học ở trên lớp theo một cấu trúc chặt chẽ, logic và hợp lý, được quy định bởi logic của môn học và logic nhận thức của học sinh, được cài đặt vào máy vi tính dưới dạng một chương trình cụ thể nhằm thực hiện tốt mục đích dạy học Xây dựng giáo án

điện tử hay thiết kế bài giảng điện tử là hai cách gọi khác nhau cho một hoạt

động cụ thể, đó là: thực hiện dạy - học với sự hỗ trợ của máy vi tính

- Nét đặc trưng cơ bản của bài giảng điện tử để phân biệt với bài giảng truyền thống, đó là, các kiến thức trong bài giảng được trình bày dới dạng văn bản, sơ đồ, tranh ảnh, vi deo - clip và được đặt liên kết giữa các đối tượng trong bài giảng

- Khi tổ chức hoạt động dạy học ở trên lớp, bài giảng điện tử được giáo viên điều khiển theo tiến trình dạy học, từ đó, góp phần đạt được mục tiêu của bài học Trong quá trình sử dụng bài giảng điện tử, giáo viên phối hợp với các phương pháp, phương tiện dạy học khác Bài giảng điện tử có thể được sử dụng dưới hình thức dạy học đồng loạt hoặc dưới hình thức học tập theo nhóm tại lớp, hình thức dạy học cá nhân

Trang 25

Trên cơ sở định nghĩa của các tác giả và các đặc trưng cơ bản của bài giảng điện tử, bài giảng điện tử được định nghĩa như sau:

Bài giảng điện tử là một chương trình dạy học được số hoá và cài đặt vào máy vi tính, ở đó thể hiện toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của giáo viên và học sinh, được giáo viên điều khiển theo tiến trình dạy học, cùng với các phương pháp, phương tiện dạy học cụ thể, với hình thức tổ chức dạy học thích hợp nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học

1.3.3 Các yêu cầu khi thiết kế bài giảng điện tử

 Quán triệt mục tiêu của bài học về kiến thức, kỹ năng thái độ;

 Nắm được các yêu cầu đổi mới trong việc thiết kế bài học;

 Hiểu biết sâu sắc nội dung của bài học, trên cơ sở đó xác định đúng

 Có kiến thúc thực tiễn phong phú để minh họa cho bài học

Phân biệt sự khác nhau giữa giáo án điện tử và giáo án truyền thống

- Sự giống nhau:

Giáo án (giáo án điện tử hay giáo án truyền thống) là một phương tiện vô cùng quan trọng không thể thiếu đối với người giáo viên khi lên lớp làm nhiệm vụ dạy học Nó được xem như là một phương tiện bắt bắt buộc đối với giáo viên trong hoạt động dạy học

Bản thiết kế bài giảng (truyền thống hay điện tử) đều phải thể hiện rõ

được hai loại hoạt động chủ yếu: Hoạt động của giáo viên và hoạt động của

Trang 26

học sinh Nội dung của bài học được chia thành các đơn vị hoạt động: hoạt

động 1, hoạt động 2 , hoạt động 3

- Sự khác nhau

Giáo án truyền thống Giáo án điện tử

Nội dung dạy học bao gồm toàn bộ tri

thức trong giáo trình, sách giáo khoa

hiện hành, được diễn đạt dưới dạng

văn bản là chủ yếu, đôi khi có sử

dụng mô hình, sơ đồ, hình vẽ…

Nội dung dạy học bao gồm toàn bộ tri thức cô đọng, chủ yếu của chương trình đại trà và những tri thức mở rộng, được diễn đạt dưới dạng văn bản, bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ, âm thanh, video-clip…

Kế hoạch hoạt động của thầy và trò

được giáo viên ghi ra giấy

Kế hoạch hoạt động của thầy và trò

được đưa vào máy vi tính dưới dạng một chương trình, trong đó có sử dụng các siêu liên kết nhằm kết nối giữa các mục với nhau, giữa bài mới và bài

cũ có liên quan, giữa lý thuyết với bài tập, giữa nội dung kiến thức cơ bản và

mở rộng, giữa các mục và trợ giúp… Thời lượng dành cho việc truyền đạt

lý thuyết là nhiều hơn

Thời lượng dành cho việc truyền đạt

lý thuyết giảm, tăng thời gian cho thực hành

Phần kiểm tra, đánh giá sau khi kết

thúc bài học có thể là các câu hỏi vấn

đáp, hoặc viết, khó có thể kiểm tra

được toàn lớp và cho biết kết quả tức

thời

Bao gồm các câu hỏi trắc nghiệm khách quan, được số hóa và đưa vào máy vi tính, cho biết kết quả tức thời

về kết quả học tập, những sai sót, ưu – nhược điểm…để kịp thời điều chỉnh trong quá trình dạy và học

Trang 27

Khi thiết kế bài giảng điện tử, cần chú ý :

- Bài giảng điện tử phải quán triệt mục tiêu của bài học về kiến thức, kỹ năng, thái độ;

- Bài giảng điện tử phải bao gồm những nội dung kiến thức cô đọng nhất;

- Đảm bảo cấu trúc logic hợp lý của bài học;

- Cấu trúc của bài giảng điện tử phải bao quát được tổng thể các phương pháp dạy học đa dạng và nhiều chiều, tạo điều kiện vận dụng phối hợp những phương pháp dạy học, kể cả những phương pháp truyền thống và phương pháp dạy học không truyền thống, đặc biệt là tăng cường thảo luận nhóm;

- Cấu trúc của bài giảng điện tử phải thể hiện được hai loại hoạt động chủ yếu: Hoạt động của giáo viên và hoạt động của sinh viên, trong đó phải làm nổi bật hoạt động của người học như là thành phần cốt yếu;

- Đưa các dạng dữ liệu khác nhau vào bài giảng;

- Sử dụng các siêu liên kết;

- Khi sử dụng bài giảng điện tử phải kết hợp với các phương pháp, phương tiện dạy học khác nhau nhằm phát huy tối đa tính tự giác, tích cực, sáng tạo của người học Giáo viên phải thực sự đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo trong quá trình dạy học nhằm giúp sinh viên chủ động tìm tòi tri thức, hình thành cho họ kỹ năng tự học, tự nghiên cứu;

- Giảm thời gian truyền đạt tri thức lý thuyết, tăng thời gian thực hành luyện tập và tổ chức cho sinh viên rút kinh nghiệm giờ dạy;

- Việc trình chiếu của giáo viên phải kết hợp với tự nghiên cứu có hướng dẫn, thảo luận nhóm;

- Phải đảm bảo phù hợp giữa lời giảng, sự trình diễn của giáo viên và sự theo dõi của sinh viên

Màn hình của bài giảng điện tử được chia thành 3 phần: Phần trên cùng chứa tiêu đề của bài giảng xuất hiện từ đầu đến cuối giờ học Phần bên trái các

Trang 28

đề mục của bài giảng Phần bên phải chiếm phần lớn diện tích của màn hình,

là nơi lần lượt xuất hiện nội dung bài giảng theo đúng kịch bản của quá trình dạy học

1.3.3 Bài tập điện tử:

Để đưa ra khái niệm bài tập điện tử, trước hết, cần tìm hiểu một số khái niệm liên quan

"Bài tập", theo nghĩa chung nhất, dùng để chỉ một phương tiện hoạt

động nhằm rèn luyện thể chất và tinh thần (trí tuệ) Trong dạy học, bài tập là một phương tiện dạy học

Trong giáo dục, thuật ngữ “bài tập" có nghĩa là bài ra cho học sinh làm

để vận dụng những điều đã học [18] Những định nghĩa trên chỉ mới giải thích

về mặt ngữ nghĩa chứ chưa làm rõ được bản chất của khái niệm "bài tập"

Bài tập được hiểu là một hệ thống thông tin xác định bao gồm hai tập hợp gắn bó chặt chẽ với nhau và tác động qua lại với nhau:

 Những điều kiện, tức là tập hợp những dữ liệu xuất phát, là cái đã cho, diễn tả trạng thái ban đầu của bài tập, từ đó cho phép tìm ra phép giải

 Những yêu cầu, cái cần tìm là trạng thái mong muốn đạt tới

Hai tập hợp này tạo thành bài tập, nhưng chúng lại không phù hợp với nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau; từ đó xuất hiện nhu cầu phải biển đổi chúng để khắc phục sự không phù hợp hay mâu thuẫn giữa chúng

Tóm lại, có thể hiểu bài tập là một hệ thông tin xác định bao gồm những điều kiện và những yêu cầu được đưa ra trong quá trình dạy học, đòi hỏi người học một lời giải đáp, mà lời giải đáp này về toàn bộ hoặc từng phần không ở trạng thái có sẵn của người giải tại thời điểm mà bài tập được đặt ra

"Câu hỏi" là thuật ngữ dùng để chỉ việc nêu vấn đề trong nói hoặc viết,

đòi hỏi phải có cách giải quyết Trong dạy học, câu hỏi mà giáo viên đưa ra là những vấn đề mà giáo viên đã biết và học sinh đã học, hoặc trên cơ sở những

Trang 29

kiến thức đã học mà trả lời một cách thông minh, sáng tạo Vì vậy, câu hỏi trong dạy học thường mang yếu tố khám phá hoặc khám phá lại dưới dạng một thông tin khác bằng cách yêu cầu học sinh tìm ra mối quan hệ, liên hệ, quy tắc con đường tạo ra cách giải quyết mới

Câu hỏi và bài tập có điểm giống và khác nhau, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Về mặt chức năng dạy học, câu hỏi và bài tập đều là nhiệm vụ

được đặt ra cho học sinh, là phương tiện để thầy giáo tổ chức hoạt động nhận thức, hoạt động thực hành cho học sinh Đồng thời, chúng cũng là phương tiện

để kiểm tra đánh giá và tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả nhận thức, rèn luyện

kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh Về hình thức, câu hỏi chỉ nêu yêu cầu, nhiệm

vụ mà học sinh cần trả lời, còn bài tập, vừa có dữ liệu, điều kiện vừa có yêu cầu nhiệm vụ học sinh cần giải quyết Câu hỏi trở thành bài tập hoặc mang tính chất bài tập khi nó mang yếu tố "vấn đề" - nêu và giải quyết vấn đề

Bài tập điện tử

Khái niệm bài tập điện tử, hiện nay có rất ít tác giả nghiên cứu Để đưa

ra khái niệm bài tập điện tử, có thể nêu một số điểm đặc trưng của nó như sau: Bài tập điện tử bao gồm những nhiệm vụ học tập do giáo viên đặt ra cho học sinh thực hiện được trình bày dưới dạng câu hỏi, bài toán, tình huống có vấn

đề được chương trình hoá và đưa vào máy vi tính, tạo ra sự tương tác trực tiếp giữa người và máy, buộc học sinh giải quyết trên cơ sở những tri thức, kỹ năng đã có, qua đó mà củng cố tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo

Chức năng chủ yếu của bài tập điện tử là dùng để kiểm tra, đánh giá và giúp người học tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả học tập của mình Đồng thời,

nó còn giúp người học rèn luyện kỹ năng vận đụng tri thức lý thuyết để giải quyết các bài tập, giúp họ củng cố, khắc sâu tri thức đã học

Từ đó, bài tập điện tử được định nghĩa như sau:

Bài tập điện tử là các nhiệm vụ học tập có tính chất vấn đề mà học sinh cần phải giải quyết trên cơ sở những tri thức, kỹ năng đã có, được đưa vào

Trang 30

máy vi tính dưới dạng một phần mềm, qua đó, nhằm giúp học sinh củng cố tri thức rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo, nhằm kiểm tra đánh giá và tự kiểm tra, tự

đánh giá

1.4 Phương tiện dạy học và vai trò của phương tiện dạy học

1.4.1 Phương tiện

Phương tiện theo từ điển Bách khoa toàn thư Micrososf Encyclopedia

99 được hiểu là một người hoặc một vật trung gian hay một công cụ trung gian để thực hiện giao tiếp Cụ thể hơn người ta có thể nói phương tiện là thành phần trung gian giữa hai hay nhiều thành phần giao tiếp với chức năng truyền đạt thông tin ban đầu sử dụng một phương tiện để truyền tải thông tin, còn người nhận phải sử dụng phương tiện để nhận và hiểu được thông tin từ người gửi

1.4.2 Đa phương tiện (Multimedia)

Đa phương tiện được hiểu nôm na là sự tổ hợp của nhiều phương tiện Khi nói đến đa phương tiện, người ta thường nói đến máy tính, đến công nghệ thông tin

Đa phương tiện còn được hiểu là một tổ hợp các công nghệ dựa trên nền tảng máy tính để tạo cho người dùng khả năng truy nhập và thao tác những văn bản, âm thanh và hình ảnh

Đa phương tiện trong dạy học là sự kết hợp các đối tượng mang thông tin khác nhau (văn bản , âm thanh, hình ảnh .) thành một hệ thống nhất để truyền thông tin giữa thầy và trò [8]

1.4.3 Phương tiện dạy học

Theo Tô Xuân Giáp, phương tiện dạy học được hiểu trong mối quan hệ giữa thông điệp và phương tiện, phương tiện chở thông điệp đi Thông điệp từ giáo viên, tuỳ theo phương pháp dạy học, được các phương tiện chuyển đến học sinh [2] Theo định nghĩa của Wolfgang Ihber, phương tiện là thiết bị có mang ký hiệu được chế tạo ra có chủ ý về phương diện dạy học và được sử

Trang 31

dụng một cách có lựa chọn nhằm truyền đạt một nội dung nào đó đến người học

Tóm lại, phương tiện dạy học trong công nghệ dạy học hiện đại là các vật mang thông tin được sáng tạo ra có chủ ý về phương diện dạy học và được

sử dụng một cách có lựa chọn nhằm truyền đạt thông tin đến người học

1.4.4 Vai trò của phương tiện dạy học

Phương tiện dạy học đóng một vai trò quan trọng trong dạy học, đặc biệt là trong công nghệ dạy học Nó được thể hiện trong các mô hình dạy học

được trình bày dưới đây:

Phương tiện là một thành phần của quá trình dạy học Theo lý luận về dạy học quá trình dạy học bao gồm mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện

Hình 1.3 Mô tả quá trình dạy học Trong công nghệ dạy học, công nghệ dạy học là một hệ thống phương tiện, phương pháp và kỹ năng tác động vào con người, hình thành một nhân cách xác định" [7,tr.2], phương tiện dạy học là một trong bốn thành phần của công nghệ dạy học và là một trong ba thành phần tác động vào người học nhằm đạt mục đích dạy và học (hình 1 4)

Mục đích Nội dung Phương pháp Phương tiện

Trang 32

Hình 1.4 Mô hình công nghệ dạy học Trong mô hình dạy học theo lý thuyết học tập của Heimann và Schulz[25], phương tiện là một trong những thành phần cốt lõi của quá trình dạy học dưới những tác động của điều kiện về con người, văn hóa, xã hội

Hình 1.5 Mô hình dạy học theo lý thuyết học tập theo Heimann và Schulz Trong mô hình dạy học của Frank[20], phương tiện là một trong sáu thành phần của quá trình dạy học ông cũng chỉ rõ phương tiện ở đây là vật chất cụ thể (bằng cái gì)

Trang 33

Hình 1.6 Mô hình dạy học theo Frank Trong mô hình dạy học của Ihber(1982), phương tiện được chỉ rõ gồm phuơng tiện của người học và phuơng tiện của người dạy

Trang 34

Hình 1.7 Mô hình dạy học theo Ihber Như vậy, phương tiện dạy học là một trong những thành phần của quá trình dạy học Nó có vai trò quyết định hiệu quả của quá trình dạy học Điều quan trọng là phải lựa chọn những phương tiện phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ trong cả quá trình dạy và học

1.4.5 Một số nguyên tắc sư phạm trong việc tạo và sử dụng phương tiện dạy học

Việc tạo ra các phương tiện theo ý đồ sư phạm là công việc hết sức khó khăn Tuy nhiên hiệu quả của việc sử dụng phương tiện còn tùy thuộc vào mỗi

Trang 35

bản thân người dạy và người học Ba nguyên tắc cơ bản trong việc tạo và sử dụng phương tiện dạy học sau:

Nguyên tắc đơn giản:

Hering đã đưa ra nguyên tắc đơn giản trong dạy học [20] : Quá trình

đơn giản hoá một mệnh đề khoa học là một quá trình chuyển hoá một mệnh

đề phức tạp, mô tả nhiều đặc điểm đặc biệt của sự vật hiện tượng thành mệnh

đề khái quát, mô tả những đặc điểm chung nhất của các sự vật hiện tượng mà vẫn giữ nguyên trình đúng đắn về khoa học Quá trình đơn giản hoá có thể tiến hành bằng cách:

 Loại bỏ những thành phần thứ yếu trong mệnh đề

 Thay thế những đặc điểm riêng bằng một khái niệm khái quát

Nguyên tắc trực quan:

Về mặt triết học, Lê nin đã chỉ rõ: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức thực tại khách quan” Theo quan điểm này, trực quan là xuất phát điểm của nhận thức, tức trực quan là nguồn cung cấp tri thức Theo tâm lý học nhận thức, quá trình nhận thức gồm ba giai đoạn: nhận thức cảm tính (bằng các giác quan), nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng) và giai đoạn tái sinh cái cụ thể trong tư duy (vận dụng vào thực tiễn) Nhận thức cảm tính nảy sinh do tác động trực tiếp của các sự vật và hiện tượng liên quan

đến giác quan của con người (thị giác, thính giác, xúc giác) Nhận thức cảm tính là giai đoạn thấp của quá trình nhận thức vì nó mới phản ảnh cái bên ngoài, cái không bản chất, song nó có vai trò rất quan trọng, tạo nên chất liệu cho tư duy trừu tượng Không có nhận thức cảm tính sẽ không có quá trình tư duy t rìu tợng Khả năng tiếp thu thông tin bằng thị giác lớn gấp khoảng 100 lần so với thính giác, do đó sự tác động vào thị giác có hiệu quả hơn nhiều so với tác động vào thính giác (dùng ngôn ngữ, tiếng động)

Trang 36

Nguyên tắc hiệu quả:

Việc sử dụng phương tiện dạy học nhằm mục đích đem lại hiệu quả dạy học cao cho dù phương tiện đó có phức tạp Phương tiện phải được sử dụng

đúng lúc, đúng chỗ và góp phần tích cực vào quá trình dạy học

1.4.6 Khả năng dạy học bằng máy tính điện tử

1.4.6.1 Các khả năng cơ bản của máy vi tính

Trong CNTT, máy vi tính là bộ phận chính đóng vai trò chủ đạo trong việc giao tiếp và thu nhận thông tin Do vậy, nó đã có ở hầu hết trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - chính trị - xã hội Sở dĩ như vậy là vì nó có các khả năng ưu việt sau:

- Máy vi tính là thiết bị tạo ra, luư trữ trong máy và hiển thị lại trên màn hình một khối lượng thông tin vô cùng lớn dưới dạng văn bản, hình ảnh

mà con người có thể tiếp nhận được Hơn nữa, việc truy cập thông tin hết sức

dễ dàng, nhanh chóng, chính xác, tiện lợi và rẻ tiền hơn ở mọi phương tiện thông thường khác

- Máy vi tính có khả năng tính toán, xử lý cực nhanh các phép tính với

độ chính xác cao Chức năng ưu việt này, giúp cho con người thực hiện những khối lượng công việc tính toán vô cùng lớn trong khoảng thời gian vô cùng nhỏ Mặt khác, các dữ liệu đã thu thập được qua tính toán, xử lý, cho ra các kết quả được hiển thị dưới dạng chuẩn như: biểu bảng, biểu đồ, đồ thị, tạo

điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu

- Máy vi tính còn tạo ra xã hội mới với đặc thù đặc biệt - xã hội nối mạng (Networking Social) Với xã hội được nối mạng, mọi thành viên đều

được nối với nhau bằng mạng máy tính toàn cầu Mọi cá nhân đều có thể liên lạc với nhau bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu Thành tựu tạo ra sự thay đổi đó chính là Internet Internet là một hệ thống gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau trên phạm vi toàn thế giới

Trang 37

- Máy vi tính còn có thể tạo ra được một thế giới ảo Thế giới ảo trong

đó không chứa đựng các đối tượng vật lý cụ thể mà chỉ là những biểu tượng về những đối tượng vật chất Thế giới ảo đang ngày càng phát triển và tác động sâu sắc tới từng thành viên của nhân loại, nó làm phong phú và đa dạng hơn môi trường sống của con người

- Nhờ phần mềm, thông qua máy vi tính có thể điều khiển hoàn toàn tự

động các quá trình theo chương trình đặt sẵn

1.4.6.2 Các khả năng hỗ trợ của máy vi tính trong dạy học

Nhờ những ưu điểm nổi trội, hiện nay, máy vi tính đã được ứng dụng vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đối với ngành giáo dục đào tạo, khi khai thác có hiệu quả, nó có thể hỗ trợ được tất cả các khâu của quá trình dạy học như truyền đạt tri thức, rèn luyện kỹ năng, ôn tập củng cố, kiểm tra,

đánh giá Vậy, máy vi tính có những khả năng hỗ trợ cơ bản nào trong quá trình dạy học?

1.4.6.2.1 Khả năng hỗ trợ khâu truyền đạt và lĩnh hội tri thức mới

Trong hoạt động dạy học, hoạt động dạy là hoạt động tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh, mà một trong các nhiệm vụ tổ chức

điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh là việc tổ chức điều khiển học sinh tri giác trực tiếp những hiện tượng, đối tượng được nghiên cứu Điều này bắt nguồn từ vai trò của nhận thức cảm tính trong quá trình nhận thức Nhận thức cảm tính cung cấp tài liệu cho quá trình tư duy, tư duy phải dựa trên những tài liệu cảm tính, trên những kinh nghiệm, trên cơ sở trực quan sinh

động Nhận thức cảm tính là một khâu của mối liên hệ trực tiếp giữa tư duy với hiện thực, là cơ sở của những khái quát kinh nghiệm dưới dạng các khái niệm, các quy luật Do đó, V.I Lê - Nin đã đưa ra công thức nổi tiếng về quá trình nhận thức: "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan " Xét toàn bộ quá trình nhận thức chung của loài

Trang 38

người cũng như của học sinh đều thể hiện theo công thức đó, song trong từng giai đoạn cụ thể, tùy theo điểm xuất phát trong quá trình nhận thức mà có thể

đi từ cụ thể đến trừu tượng hoặc từ trừu tượng đến cụ thể [17]

Máy vi tính tạo ra môi trường đa phương tiện với nhiều hình thức biểu diễn khác nhau như: văn bản, hình ảnh (biểu bảng, bản đồ, ảnh tĩnh, động, )

và âm thanh được trình bày theo một kịch bản đã vạch sẵn, nhằm đạt hiệu quả tối đa qua quá trình học tập đa giác quan Nó được lưu giữ lại và trình diễn cho học sinh, làm cho nội dung tri thức trở nên dễ nhớ, dễ hiểu và nhớ lâu hơn, vì độ bền vững của tri thức chỉ có thể đạt được khi người học tiếp thu chúng bằng nhiều con đường khác nhau dưới nhiều hình thức khác nhau Trong công tác nghiên cứu, với những đối tượng không thể quan sát trực tiếp

được như các hệ vi mô, vĩ mô, các quá trình biến đổi quá nhanh hoặc quá chậm, sự nguy hiểm hoặc không có thiết bị thì con người thường sử dụng phương pháp mô hình hoá để mô tả một cách đơn giản, gần đúng cấu trúc vật chất Sau đó, cho mô hình vận động theo những quy luật của đối tượng thật Quá trình này gọi là sự mô phỏng Nhờ việc xây dựng chính xác các mô hình

đó trên máy vi tính dưới sự trợ giúp của các phần mềm điều khiển, người ta có thể mô phỏng một cách sinh động, trung thực và đầy thuyết phục các đối tượng thực cần nghiên cứu, như: Sự chuyển động của một hành tinh trong hệ mặt trời, của một điện tử quay xung quanh hạt nhân, sự vận hành của hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, sự phát triển của một loài cây từ lúc gieo hạt cho đến khi ra hoa kết quả, làm cho nội dung của nó trở nên dễ hiểu, dễ nhớ [24]

Trên cơ sở tri giác tài liệu trực quan (tri giác mô hình, hình ảnh tĩnh,

động, âm thanh từ máy vi tính, học sinh xây dựng biểu tượng chính xác làm cơ sở cho việc hình thành khái niệm, học sinh tiến hành các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá để hình thành khái niệm, phán đoán, suy lý và qua đó, các thao tác tư duy ngày càng được hoàn thiện hơn

Trang 39

1.4.6.2.2 Khả năng điều khiến, kiểm tra

Máy vi tính tự động lưu giữ và đánh giá kết quả học tập của học sinh bao gồm cả mặt mạnh, mặt yếu và ghi lại thời gian học sinh trả lời câu hỏi, kịp thời đưa ra các thông tin phản hồi bao gồm các yêu cầu, hướng dẫn, những nội dung kết quả trả lời của học sinh Như vậy, máy vi tính cho giáo viên và học sinh là bức tranh chính xác về sự tiến bộ của học sinh trong quá trình tiếp thu tri thức Qua đó, giúp giáo viên kịp thời điều chỉnh phương pháp giảng dạy và sửa chữa cho từng học sinh; giúp học sinh tự điều chỉnh hoạt động học tập của mình cho phù hợp và hiệu quả

Việc kiểm tra kiến thức của học sinh bằng máy vi tính luôn đảm bảo

được tính công bằng, chính xác, khách quan, nhờ đó mà tính trung thực của học sinh cũng được rèn luyện Dạy học bằng máy vi tính đã góp phần giáo dục nhân cách người lao động mới Như vậy, máy vi tính được xem là một phương tiện kiểm tra có nhiều thế mạnh hơn các phơng tiện truyền thông khác, luôn

đảm bảo mối liên hệ ngược trong, ngược ngoài, điều khiển, điều chỉnh kịp thời hoạt động học tập của học sinh

Máy vi tính tạo điều kiện cho người học hoạt động độc lập tới mức độ cao, tách xa thầy giáo trong khoảng thời gian dài mà vẫn đảm bảo mối liên hệ ngược trong quá trình dạy học Do đó, việc sử dụng máy vi tính trong quá trình dạy học dẫn tới kiểu dạy học mới - dạy học cá thể hoá Mỗi học sinh ngồi trước màn hình có thể học theo tiến độ riêng, không cần sự giám sát trực tiếp của giáo viên, người này không phụ thuộc vào người kia

Với dạy học bằng máy tính điện tử, học sinh không bị hạn chế học tập theo một thời khoá biểu, theo không gian học tập ở trên lớp Các em có thể học tập ở bất cứ nơi đâu, ở bất cứ lúc nào, có thể ở nhà máy, ở xưởng trường, vườn trường, có thể đặt máy vi tính tại phòng nghỉ trong giờ ra chơi, học sinh

có thể tìm kiếm tri thức, rèn luyện kỹ năng, giải trí thông qua các trò chơi học tập

Trang 40

Như vậy, dạy học bằng máy vi tính là hình thức dạy học theo nhu cầu

Sự hoà nhập giữa công nghệ thông tin và viễn thông dẫn tới hình thành những mạng máy tính, đặc biệt là Internet cung cấp những kho thông tin và tri thức khổng lồ Giáo viên và học sinh có thể sử dụng cơ sở dữ liệu của mạng, tra cứu sách, tư liệu ở ngân hàng dữ liệu trung tâm, trích đọc, trích in những phần cần thiết một cách nhanh chóng và thuận tiện Nhờ có máy tính điện tử, người học có thể giao lưu với nhau không bị hạn chế bởi thời gian và khoảng cách,

có thể dạy học từ xa và mang tính chất giao tiếp chủ động Máy vi tính tạo

điều kiện cho việc thực hiện những ý tưởng vĩ đại trong giáo dục như học mọi nơi, học mọi lúc, học suốt đời, nâng cao tính nhân văn, dân chủ của nền giáo dục Máy vi tính có thể giúp người học ở mọi lúc, mọi nơi đều có khả năng chinh phục khoảng cách, tiếp thu nội dung giáo dục hiện đại nhất ở địa điểm tuỳ ý Họ có thể tuỳ chọn chương trình học, chọn thầy dạy, có thể học không chỉ một thầy giỏi, có thể giao lưu với nhiều bạn học ở những nơi khác nhau Vì thế mọi học sinh trên lãnh thổ đều có điều kiện tiếp thu chương trình học, thậm chí thầy học như nhau

Với máy tính điện tử, giáo viên có thể cài đặt lên mạng những bài dạy mẫu, có thể dạy học cho cả lớp hoặc chia lớp thành nhiều nhóm hội thoại với nhau Thông qua mạng, giáo viên có thể hướng dẫn, kiểm tra từng nhóm, từng học sinh Mạng cho phép hội thoại giữa giáo viên với học sinh và các học sinh với nhau

Khả năng liên lạc của máy vi tính được sử dụng nhiều trong các trường hợp mà mối liên lạc trực tiếp giữa người dạy và người học gặp nhiều khó khăn Khi đó, các bài học, bài tập, bài kiểm tra, được gửi và nhận được dạng các thư điện tử Với sự phát triển rộng rãi của mạng internet và hệ thống đa phương tiện thì khả năng này của máy vi tính càng được phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết

Ngày đăng: 25/02/2021, 12:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Khang(2007). Bài giảng Nghiên cứu xã hội và Khoa học giáo dục. Trường Đại học Bách khoa Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Nghiên cứu xã hội và Khoa học giáo dục
Tác giả: Nguyễn Khang
Năm: 2007
2. Tô Xuân Giáp(1997). Phương tiện dạy học. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương tiện dạy học
Tác giả: Tô Xuân Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
3. Lưu Xuân Mới(2000). Lý luận dạy học. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học
Tác giả: Lưu Xuân Mới
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
4. Vũ Cao Đàm(2006). Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. NXB Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2006
5. Đặng Vũ Hoạt(chủ biên), Hà Thị Đức(2004). Lý luận dạy học đại học. NXB §HSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại học
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt(chủ biên), Hà Thị Đức
Nhà XB: NXB §HSP
Năm: 2004
6. Nguyễn Xuân Lạc. Bài giảng Phương pháp luận nghiên cứu khoa học công nghệ. Trường Đại học Bách khoa Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Phương pháp luận nghiên cứu khoa học công nghệ
7. Nguyễn Xuân Lạc (2000 – 2006). Bài giảng Nhập môn Công nghệ dạy học hiện đại. Trường Đại học Bách khoa Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Nhập môn Công nghệ dạy học hiện đại
8. Lê Thanh Nhu(2004). Bài giảng Lý luận dạy học chuyên ngành kỹ thuật. Trường Đại học Bách khoa Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Lý luận dạy học chuyên ngành kỹ thuật
Tác giả: Lê Thanh Nhu
Năm: 2004
9. Hồ Ngọc Đại(1994). Công nghệ giáo dục. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ giáo dục
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
10. Thái Duy Tuyên(1996). Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học. Tạp chí NCGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Năm: 1996
11. Thái Duy Tuyên (1999). Những vấn đề cơ bản về Giáo dục học hiện đại. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về Giáo dục học hiện "đại
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
12. Phạm Viết Vượng(1997). Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. NXB ĐHQG Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Phạm Viết Vượng
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà nội
Năm: 1997
13. Nguyễn Hạnh(2002). Sử dụng máy vi tính trong nhà trường. NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng máy vi tính trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Hạnh
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2002
14. Trần Bá Hoành(2002). Những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cùc. TCGD, sè 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cùc
Tác giả: Trần Bá Hoành
Năm: 2002
15. Lê Văn Hồng(2001). Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm. NXB ĐHQG Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà nội
Năm: 2001
17. Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt(1987). Giáo dục học tập 1. NXB ĐHSP, Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học tập 1
Tác giả: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 1987
19. Nguyễn Văn Hùng(2007). ứng dụng phương pháp mô phỏng trong giảng dạy môn học Vẽ kỹ thuật cho hệ cao đẳng cơ khí tại trường Caođẳng Công nghiệp Sao đỏ. Luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: ứng dụng phương pháp mô phỏng trong giảng dạy môn học Vẽ kỹ thuật cho hệ cao đẳng cơ khí tại trường Cao "đẳng Công nghiệp Sao đỏ
Tác giả: Nguyễn Văn Hùng
Năm: 2007
20. Phạm Văn Kiên(2007). Nghiên cứu xây dựng hệ thống hỗ trợ giáo viên soạn BGĐT tại trường Cao đẳng Công nghiệp Sao đỏ. Luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng hệ thống hỗ trợ giáo viên soạn BGĐT tại trường Cao đẳng Công nghiệp Sao đỏ
Tác giả: Phạm Văn Kiên
Năm: 2007
21. Lê Đức Trung(2002). Công nghệ phần mềm. NXB Khoa học và kỹ thuật Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ phần mềm
Tác giả: Lê Đức Trung
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật Hà nội
Năm: 2002
22. Đỗ Ngọc Đạt(2002). Tiếp cận hiện đại hoạt động dạy học hiện đại. NXB §HQG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận hiện đại hoạt động dạy học hiện đại
Tác giả: Đỗ Ngọc Đạt
Nhà XB: NXB §HQG HN
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm