96 DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ Hình 1.1 Nhu cầu về đào tạo xuất phát từ nhu cầu phát triển Hình 1.2 Sơ đồ biểu thị mối quan hệ bên trong nhà trường Hình 1.3 Sơ đồ biểu thị mối quan h
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CAO ĐẲNG NGHỀ ĐIỆN TỬ CÔNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP VIỆT HUNG THEO ĐỊNH
HƯỚNG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
NGÀNH : SƯ PHẠM KỸ THUẬT
MÃ SỐ : PHẠM THỊ THANH NGA
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN KHANG
HÀ NỘI 2008
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, trong thời gian qua ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các Thầy cô giáo trong Khoa Sư phạm kĩ thuật- Trường đại học Bánh Khoa Hà nội, các đồng nghiệp và gia đình, đặc biệt là sự quan tâm, góp ý thường xuyên của PGS.TS Nguyễn Khang Nhân dịp này tôi xin bầy tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS Nguyễn Khang, người đã trực tiếp hướng dẫn và dành nhiều thời gian, công sức để sửa chữa, bổ sung từng trang bản thảo của luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể ban lãnh đạo Trường Cao đẳng Công nghiệp Việt Hung, lãnh đạo Khoa Điện- Điện tử, tập thể giáo viên khoa Điện- Điện
tử, Phòng nghiên cứu khoa học và đối ngoại, Phòng đào tạo trường đã giúp đỡ, cung cấp số liệu cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian có hạn, cũng như kinh nghiệm của bản thân còn nhiều hạn chế, do vậy luận văn không thể tránh khỏi những sai sót nhất định, rất mong các Thầy cô giáo và các anh chị đồng nghiệp xem xét, đóng góp ý kiến, bổ sung để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, tháng năm 2008 Học viên
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, những gì tôi viết trong luận văn này là do sự tìm tòi và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể
Luận văn này cho đến nay chưa từng được bảo vệ tại bất kì một hội đồng bảo
vệ luận văn nào trên toàn quốc và cho đến nay chưa hề được công bố trên bất kĩ một phương tiện thông tin nào
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những gì mà tôi cam đoan ở trên
Hà Nội, tháng năm 2008 Học viên
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ 5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 13
1.1 Đào tạo nghề theo định hướng nhu cầu sử dụng của xã hội 13
1.2 Thị trường trong đào tạo và mục tiêu đào tạo 16
1.3 Cá c mối quan hệ chi phối của đào tạo nghề trong xã hội 18
1.4 Tổng quan về chương trình đào tạo 20
1.4.2 Phát triển chương trình đào tạo 22
1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nội dung đào tạo trong GDNN 28
Trong GDNN, nội dung của bất kì ngành nghề nào cũng chịu tác động bởi nhiều yếu tố thuộc lĩnh vực khoa học- công nghệ, thực tiễn sản xuất- dịch vụ, khoa học GD, khoa học tâm lí và xã hội, khoa học quản lí Trong nền kinh tế của nước ta như hiện nay các tác động trên đến nội dung đào tạo là hết sức mạnh mẽ, trực tiếp và luôn biến động Bởi vậy nội dung đào tạo trong GDNN ở trạng thái động và đòi hỏi sự cập nhật, thích ứng, linh hoạt cao cả về khối lượng kiến thức, kĩ năng và mức độ đạt được của nội dung đào tạo khi chính nghành nghề có sự biến động, đổi mới về đặc điểm trong hoạt động nghề nghiệp 28
1.4.4 Các hướng tiếp cận trong việc xây dựng chương trình 30
1.5 Các loaị chương trình đào tạo nghề 33
1.5.1 Chương trình kiểu hệ thống môn/bài học 33
1.5.2.Kiểu chương trình đào tạo theo modul 35
1.5.3 Kiểu chương trình đào tạo kết hợp môn học và modul 38
1.6 Xây dựng các loại chương trình đào tạo theo Modul 39
1.6.1 Đào tạo theo năng lực thực hiện: 39
1.6.2 Đặc điểm của đào tạo theo năng lực thực hiện: 40
Trang 5CHƯƠNG 2 46
THỰC TRẠNG ĐT NGHỀ TẠI TRƯỜNG CĐCN VIỆT_ HUNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG CTĐT ĐÁP ỨNG NHU CẦU THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG 46
2.1 Giới thiệu về trường CĐCN Việt Hung 47
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 47
2.1.2 Nhiệm vụ của nhà trường 48
2.1.3 Về đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên 48
2.1.4 Về tổ chức bộ máy 49
2.1.5 Về đối tượng và hình thức tuyển sinh 51
2.1.6 Về quy mô và loại hình đào tạo 51
2.1.7 Về nghành nghề đào tạo 53
2.1.8 Kế hoạch và chương trình giảng dạy 54
2.1.9 Về cơ sở vật chất 54
2.2 Phân tích đánh giá thực trạng đào tạo tại trường CĐCN Việt Hung 57
2.2.1 Phân phối thời gian đào tạo cho toàn khóa 57
2.2.2 Về chương trình các môn học 58
2.2.3 Về chất lượng đào tạo 59
2.3 Đặc điểm nội dung và hình thức giảng dạy và những hạn chế của chương trình đào tạo nghề Điện Tử tại trường CĐCN Việt Hung 62
2.3.1 Đặc điểm nội dung các môn học của nghề ĐT 62
2.3.2 Hình thức giảng dạy 64
23.3 Những hạn chế của chương trình đào tạo hiện tại 64
2.4 Đề xuất xây dựng chương trình đào tạo nghề Điện tử của trường CĐCN Việt Hung theo định hướng nhu cầu của thị trường lao động 65
CHƯƠNG 3 67
XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CAO ĐẲNG NGHỀ ĐIỆN TỬ CÔNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG CĐCN VIỆT HUNG THEO ĐỊNH HƯỚNG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG 67
3.1 Định hướng phát triển đào tạo của nhà trường trong thời gian tới 67
3.1.1 Phương hướng phát triển chung 67
3.1.2 Các nhiệm vụ trọng tâm 67
3.1.3.Kế hoạch và chỉ tiêu đào tạo 68
3.2 Xây dựng chương trình đào tạo Cao đẳng nghề Điện tử theo định hướng nhu cầu của thị trường lao động 69
3.2.1 Cơ sở xây dựng chương trình: 69
Trang 63.2.2 Chọn kiểu cấu trúc chương trình môn học/môđun: 70
3.2.3 Cấu trúc và nội dung cụ thể chương trình đào tạo Cao đẳng nghề ĐTCN tại trường CĐCN Việt Hung 70
3.2.4 Danh mục các môn học và modul (3.6) 74
3.2.5 Các môđul tự chọn và nội dung cụ thể: 75
3.3 Tham khảo ý kiến các chuyên gia 94
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
Hình 1.1 Nhu cầu về đào tạo xuất phát từ nhu cầu phát triển
Hình 1.2 Sơ đồ biểu thị mối quan hệ bên trong nhà trường
Hình 1.3 Sơ đồ biểu thị mối quan hệ bên ngoài nhà trường
Hình 1.4 Mối quan hệ giữa đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động Hình 1.5 Các giai đoạn của mô hình mục tiêu
Hình 1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến nội dung đào tạo nhề nghiệp
Hình 1.7 Kiểu chương trình đào tạo nghề theo cấu trúc môn học
Hình 1.8 Kiểu chương trình đào tạo cấu trúc theo Modul
Hình 1.9 Kiểu chương trình đào tạo môn học kết hợp modul
Hình 1.10 Triết lí đào tạo theo năng lực thực hiện
Hình 1.11 Modul đào tạo theo năng lực thực hiện
Hình 1.12 Mối quan hệ giữa lĩnh vực hoạt động, lĩnh vực học tập và tình
huống học tập Hình 2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức của nhà trường
Hinh 2.2 Tốc độ phát triển về qui mô tuyển sinh
Bảng 2.3 Kết quả điều tra số học sinh cũ của trường
Bảng 2.4 Kết quả điều tra người sử dụng lao động
Trang 7Bảng 2.5 Số lượng phòng học và thư viện đang sử dụng
Bảng 2.6 Số phòng thí nghiệm và thực hành của khoa Điện- Điện Tử Bảng 3.1 Qui mô đào tạo của nhà trường đến năm 2010
Hình 3.2 Hệ thống đào tạo chuyên nghiệp
Trang 8động trong nước Cách mạng khoa học phát triển với tốc độ nhanh và có bước nhảy
vọt; với việc sử dụng ngày càng nhiều công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại, nhiều ngành nghề mới xuất hiện đòi hỏi người lao động phải thường xuyên bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp để cú đủ năng lực thích ứng với những thay đổi nhanh trong sản xuất kinh doanh và dịch vụ
Trang 9Trong bối cảnh quốc tế đó đòi hỏi dạy nghề của Việt Nam phải đổi mới và phát triển để đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật trực tiếp cho sự nghiệp công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế
1.2 Bối cảnh trong nước
Trong những năm qua (2002-2007), nền kinh tế nước ta đã đạt tốc độ tăng trưởng cao, GDP tăng trung bình trên 7%/năm; cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch mạnh theo hướng CNH, HĐH Các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu chế xuất, các ngành kinh tế mũi nhọn ngày càng phát triển, đầu tư trong nước và quốc tế thời gian qua và dự kiến trong thời gian tới ngày càng tăng, công nghệ mới được đưa vào sản xuất ngày càng nhiều, đòi hỏi nguồn nhân lực phải tăng nhanh về
số lượng và nâng cao chất lượng, hợp lý về cơ cấu ngành nghề đào tạo và cơ cấu trình độ đào tạo Hiện tại, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề ở nước ta còn thấp (khoảng 20%), tình trạng các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài “khát lao động có kỹ thuật” ngày càng trầm trọng
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB) chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm (thang điểm 10) - xếp thứ 11 trong 12 nước ở Châu Á được tham gia xếp hạng Đó là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam liên tục giảm (Năm 2006 xếp thứ 77 trong
125 quốc gia và nền kinh tế tham gia xếp hạng- tụt 3 bậc so với năm 2005) Nếu
chất lượng nguồn nhân lực không được cải thiện thì năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sẽ gặp khó khăn lớn
Theo dự báo của Uỷ ban Dân số và kế hoạch hoá gia đình Việt Nam, đến năm
2015 dân số Việt Nam đạt khoảng 94 triệu người, trong đó dân số trong độ tuổi lao động là 60,8 triệu người Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm dần trong các ngành nông nghiệp; lao động nông, lâm, ngư nghiệp sẽ giảm từ 56,8% (năm 2005) xuống còn 39% vào năm 2015, hàng năm số lao động trong khu vực nông nghiệp chuyển dịch sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, khoảng một triệu người Nếu cơ cấu và chất lượng lao động nước ta không phát triển nhanh theo hướng CNH, HĐH thì sẽ
Trang 10ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và tình trạng kém phát triển, nghèo đói và bất bình đẳng vẫn không được giải quyết Thực hiện CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế phải có đủ lực lượng lao động kỹ thuật chất lượng cao cho các ngành kinh tế, nhất là các ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ cao: tin học, tự động hóa, cơ điện tử, chế biến xuất khẩu v.v ; đòi hỏi lao động qua đào tạo trên 60%, trong đó trên 30% có trình độ trung cấp trở lên, có như vậy các doanh nghiệp mới đủ
sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế
Tình hình trên đòi hỏi dạy nghề phải được đầu tư phát triển mạnh, để tăng nhanh quy mô đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo, góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
1.3 Những vấn đề bất cập tồn tại trong đào tạo nghề nói chung và trong hệ thống chương trình môn học đang sử dụng trong đào tạo nghề
Mặc dù đã đạt được một số thành tựu đáng kể, đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước trong những năm vừa qua xong trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, đào tạo nghề nước ta đã bộc lộ những tồn tại, bất cập: Mạng lưới cơ sở dạy nghề, quy mô và chất lượng đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, yêu cầu đa dạng của xã hội Một bộ phận học sinh, sinh viên tốt nghiệp ra trường vẫn khó khăn trong tìm việc làm vì trình độ, kỹ năng nghề yếu, không sát với yêu cầu doanh nghiệp Nội dung, chương trình nặng
nề dàn trải, đầu vào xơ cứng khiến cho hàng vạn thanh niên, người lao động có nhu cầu học một nghề để lập thân, lập nghiệp không có cơ hội do còn nhiều rào cản Cơ
sở vật chất, trang thiết bị máy móc, phương tiện phục vụ cho giảng dạy, học tập còn
cũ kỹ, lạc hậu, chưa có đủ những máy móc, thiết bị hiện đại như các nước trong khu vực Sự hợp tác, liên kết giữa các cơ sở dạy nghề với các doanh nghiệp chưa chặt chẽ, không ít doanh nghiệp chưa thật quan tâm hợp tác với cơ sở dạy nghề; phương pháp dạy và học chuyển biến chậm, thời gian thực hành, thực tập ít, có cơ sở dạy nghề do kinh phí eo hẹp vẫn dạy chay, dạy lý thuyết là chính, thực hành thực tập không đáng kể Qua thí điểm đánh giá trình độ kiến thức, kỹ năng nghề của học sinh
ra trường ở một số cơ sở dạy nghề cho thấy kết quả rất thấp, còn khoảng cách khá
Trang 11xa giữa đào tạo ở nhà trường và yêu cầu thực tế của sản xuất; vấn đề xã hội hóa dạy nghề cũng còn nhiều vướng mắc và bất bình đẳng
Trường Cao đẳng Công nghiệp Việt Hung trực thuộc Bộ Công Thương là một trường đã có hơn 30 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành Trong những năm qua nhà trường đã cung cấp cho xã hội hàng chục nghìn lao động, kỹ thuật viên có trình độ, có kỹ năng, chuyên môn và đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của thị trường lao động Tuy nhiên để đáp ứng được những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, chiến lược đào tạo của nhà trường vẫn còn tồn tại không ít những khó khăn cần phải được giải quyết Một trong những vấn đề đó cần phải kể
đến là làm thế nào để "xây dựng chương trình đào tạo đáp ứng được với nhu cầu của thị trường lao động" vì đây là khâu then chốt quyết định đến sự tồn tại, phát
triển cũng như nâng cao vị thế và hình ảnh của nhà trường
Với tư cách là một giảng viên hiện đang công tác tại nhà trường, nhận thấy chất lượng đào tạo có ý nghĩa vô cùng quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của Nhà trường trong thời gian tới Được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của PSG.TS
Nguyễn Khang tác giả đã chọn đề tài " Xây dựng chương trình đào tạo Cao đẳng nghề Điện tử tại trường CĐCN Việt_Hung theo định hướng thị trường lao động"
làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp thạc sĩ khoa học chuyên ngành "Sư Phạm
kĩ thuật" với mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào sự phát triển chung của nhà trường
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xây dựng chương trình đào tạo Cao đẳng nghề Điện Tử Công nghiệp tại trường Cao đẳng công nghiệp Việt Hung theo định hướng thị trường lao động
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Nội dung chương trình đào tạo Cao đẳng nghề Điện Tử công nghiệp tại trường CĐCN Việt Hung
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu tổng quan về chương trình đào tạo nghề
- Đánh giá thực trạng chương trình đào tạo của trường CĐCN Việt Hung
Trang 12- Xây dựng chương trình đào tạo Cao đẳng nghề Điện tử Công nghiệp tại trường CĐCN Việt Hung
5 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Xây dựng chương trình đào tạo nghành Điện tử Công nghiệp hệ Cao đẳng nghề tại trường CĐCN Việt_Hung
6 CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Áp dụng phương pháp nghiên cứu lí luận để phân tích và tổng hợp các tài liệu có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu để xây dựng cơ sở lí luận của đề tài
Áp dụng phương pháp quan sát, khảo sát:
- Thông qua trao đổi, dự giờ, thảo luận, nghiên cứu lịch trình, giáo án, tìm hiểu các nhu cầu về lao động tại các doanh nghiệp bằng phiếu thăm dò, tham khảo các số liệu dự báo về nghề nghiệp của chính phủ, thăm quan và tìm hiểu về tổ chức đào tạo nghề tại một số trường nghề, các doanh nghiệp
- Tìm hiểu khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng thu được trong nhà trường của học sinh vào thực tế sản xuất và những yêu cầu của thực tế sản xuất với đào tạo nghề
7 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Kết quả nghiên cứu của đề tài là một chương trình đào tạo nghề bậc Cao đẳng khả thi phù hợp với hoàn cảnh và tình hình thực tế hiện nay của nhà trường, qua đó sẽ góp phần thực hiện nâng cao chất lượng đào tạo tại nhà trường nhằm cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực có chất lượng, có trình độ, phẩm chất và tư duy, đạo đức đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động
8 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và các danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục của luận văn, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Thực trạng đào tạo nghề tại trường Cao đẳng Công nghiệp Việt -
Hung
Trang 13Chương 3: Xây dựng chương trình đào tạo Cao đẳng nghề Điện tử Công
nghiệp tại trường Cao đẳng Công nghiệp Việt- Hung
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Đào tạo nghề theo định hướng nhu cầu sử dụng của xã hội
Việt Nam đang tiến nhanh trên con đường hội nhập với nền kinh tế toàn cầu, trong đó năng lực cạnh tranh một cách có hiệu quả phụ thuộc vào kĩ năng, sự phát triển của khu vực doanh nghiệp và tính sáng tạo của lực lượng lao động Nền kinh
tế hiện tại được đặc trưng bởi 2 quá trình cơ bản:
- Sự chuyển dần từ nền kinh tế truyền thống dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang phát triển kinh tế công nghiệp và dịch vụ, tăng cường xuất khẩu và thay thế nhập khẩu Khu vực kinh tế tư nhân đã được khuyến khích trở thành khu vực hinh tế quan trọng trong quá trình chuyển đổi, cùng với khu vực đầu tư nước ngoài, bao gồm đầu tư trực tiếp và gián tiếp liên doanh với các cơ sở kinh tế trong nước Tương tự ngày càng nhiều người lao động Việt Nam tìm được việc làm với tư cách người làm công ăn lương trong khu vực kinh tế hiện đại được trả công, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân
- Chuyển từ kế hoạch hóa tập trung sang định hướng thị trường.Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường, có nghĩa là các nguồn lực bao gồm cả lao động
kĩ thuật cần phải được phân bổ dưới tác động của cơ chế thị trường Yêu cầu nâng cao hiệu quả của các hoạt động đòi hỏi các hoạt động này phải gắn với nhu cầu của thị trường để sử dụng các nguồn đầu tư cho đào tạo một cách thiết thực và kinh tế nhất
Quá trình chuyển đổi giữa hai nền kinh tế tạo ra những ảnh hưởng to lớn đối với giáo dục nghề nghiêp:
* Trong nền kinh tế truyền thống, kế hoạch hóa tập trung: Việc trao đổi lao
động không được thực hiện thông qua cơ chế thị trường, thêm vào đó:
Trang 15• Các kế hoạch đào tạo thường dựa vào các điều kiện đầu vào: cơ cấu đào tạo hiện hành; chương trình đào tạo hiện có; Nguồn lực đào tạo hiện có (giáo
viên, cơ sở vật chất, phương tiện giảng dạy…
• Mối quan tâm của các nhà kế hoạch hóa đào tạo ở các cấp (Vĩ mô/ quốc gia, trung mô/ tỉnh và cấp vi mô/ trường, các cơ sở đào tạo) là các kết quả bên trong của quá trình đào tạo: ví dụ như tỉ lệ học sinh trên giáo viên, tỉ kinh phí
trên một học sinh…, tỉ lệ học sinh tốt nghiệp
Cũng trong nền kinh tế này, đào tạo nghề được định hướng theo cung nghĩa là:
• Kế hoạch hóa vĩ mô đồng nghĩa với kế hoạch hóa đào tạo nghề trong khu vực nhà nước
• Kế hoạch đào tạo tập trung, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của khu vực nhà nước, khu vực chính thức Nhu cầu nhân lực của khu vực phi chính thức, khu vực nông thôn truyền thống bị bỏ qua
• Chú ý đến hiệu quả bên trong, kết quả của bản thân hệ thống như: tỉ lệ giáo
viên/ học sinh; kinh phí đào tạo/ học sinh…
NHU CẦU PHÁT TRIỂN
NHU CẦU LAO ĐỘNG NHU CẦU VỀ KĨ NĂNG
NHU CẦU VỀ ĐÀO TẠO
Chương trình đào tạo
Giáo trình Thiết bị
học liệu Nhân sự
Hình 1.1_ Nhu cầu về đào tạo xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế
Trang 16• Tập trung vào đào tạo nghành, không chú ý đến kĩ năng
• Chú trọng đến đào tạo tiền nhiệm sở, đào tạo mới, đào tạo ban đầu
• Có sự phân biệt giữa các cấp đào tạo và lĩnh vực đào tạo Chuyên môn hóa sâu, khả năng phát triển tiếp theo trong một chuyên môn kém
*Trong nền kinh tế thị trường:
Các kế hoạch đào tạo xuất phát từ nhu cầu chiến lược của phát triển kinh tế ,
có thể hình dung thông qua mô hình 1.1
Trong nền kinh tế thị trường, đào tạo nghề không còn được định hướng theo cung nữa mà chuyển sang định hướng theo cầu, nghĩa là lúc này đào tạo nghề thực hiện:
- Đào tạo nghề chuyển sang cơ chế “định hướng đầu ra” thay vì dựa vào
mô hình “ số lượng đầu vào ”
- Lấy nhu cầu thị trường lao động làm trung tâm
- Mục tiêu: khắc phục “ sự trục trặc ” của thị trường lao động về số lượng, chất lượng lao động
Gắn với định hướng theo cầu, nhu cầu đào tạo nghề rộng lớn hơn bao gồm nhu cầu của các khu vực kinh tế phi chính thức, khu vực nông thôn truyền thống và đào tạo nghề cũng chú ý hơn đến hiệu quả bên ngoài, tính hiệu quả xã hội của hệ thống đào tạo như: tỉ lệ thất nghiệp, số việc làm, luân chuyển lao động, chuyển đổi nghề nghiệp……
* Định hướng phát triển cho những năm tới:
- Sự nghiệp dạy nghề nước ta cần được chuyển đổi nhanh từ hướng cung sang hướng cầu của thị trường sức lao động và yêu cầu đa dạng của xã hội, gắn dạy nghề với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, từng vùng, từng ngành, từng địa phương và gắn với tạo việc làm, thu nhập cho người lao động
- Đổi mới và nâng cao chất lượng dạy nghề theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa một cách toàn diện, đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp
Trang 17đào tạo, đánh giá kết quả học tập, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề, cơ
sở vật chất và trang thiết bị dạy nghề
- Tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm tiên tiến của các nước, tạo bước đột phá
về chất lượng dạy nghề ở nước ta, coi đây là những nhân tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực để nâng tính hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hiệu quả nền kinh tế, thành bại trong cạnh tranh và sự hội nhập sâu, rộng hơn vào kinh tế thế giới
1.2 Thị trường trong đào tạo và mục tiêu đào tạo
Trong nền kinh tế thị trường, có hai thị trường tác động trực tiếp tới các hoạt động đào tạo nghề đó là: thị trường lao động và thị trường đào tạo
- Thị trường lao động (the labor market):
“Thị trường lao động là nơi diễn ra việc mua bán, trao đổi sức lao động của con ng ười Giá cả và giá trị sức lao động được xác định theo sự thỏa thuận giữa
ng ười mua và người bán Sức lao động trong thị trường này được coi là hàng hóa sức lao động ( hàng hóa đặc biệt, phân biệt với sản phẩm hàng hóa, hàng hóa công nghiệp…)”
Thị trường lao động hoạt động tuân thủ theo qui luật của cơ chế thị trường: qui luật cung – cầu, qui luật giá cả - giá trị, qui luật cạnh tranh Điều này có nghĩa:
“khi coi sức lao động là hàng hoá, thì năng lực lao động, giá trị lao động là căn cứ
để xác định giá cả sức lao động” Người có năng lực chuyên môn phù hợp với nhu
cầu xã hội thì dễ dàng được tuyển dụng hơn Người có khả năng chuyên môn nghề nghiệp cao hơn sẽ chiếm ưu thế tuyển dụng và được trả lương cao hơn Năng lực lao động có được chủ yếu do học tập trong nhà trường và tích lũy kinh nghiệm của con người
- Th ị trường đào tạo (the vocational educational market):
“Thị trường đào tạo là nơi diễn ra sự trao đổi giữa con người hoặc đơn vị sử dụng (hoặc nơi sử dụng) có nhu cầu nâng cao giá trị sức lao động và sự đáp ứng việc nâng cao giá trị sức lao động đó tại đơn vị đào tạo( hoặc nơi đào tạo) thông qua cá c dịch vụ đào tạo” Trong thị trường đào tạo, người học là khách hàng, nhà
Trang 18trường( đơn vị đào tạo) là nơi cung ứng các dịch vụ đào tạo Thị trường đào tạo cũng có tác động của qui luật cung – cầu, qui luật giá cả - giá trị, qui luật cạnh tranh Thị trường đào tạo diễn ra hàng ngày trong mỗi nhà trường, giữa các nhà
trường, cả trong xã hội (nơi cung ứng, môi giới lao động…)
Đặc điểm quan trọng trong thị trường đào tạo nước ta là hoạt động trong cơ chế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa, có sự can thiệp của nhà nước thông qua các luật định, chế độ chính xách phát triển nguồn lực con người Việt Nam
- Quan hệ giữa dạy nghề với thị trường lao động và đào tạo:
Trong nền kinh tế thị trường, con người muốn nâng cao giá trị, giá cả sức lao động đều phải qua học, tập rèn luyện, tích lũy kinh nghiệm Về phía nhà trường đào tạo, để thu hút người học đều phải hướng tới việc nắm bắt, xác định nhu cầu của
người học Dạy học trong trường hợp này tương ứng với hoạt động cung cầu tri thức lao động giữa nhà trường và người học Như vậy, người học có thể được gọi là khách hàng của nhà trường Tuy nhiên, trong đào tạo: Người học trong nhà trường
là người được cung ứng các dịch vụ đào tạo thông qua hoạt động dạy học của thầy - trò và hoạt động tự giác, tích cực trong học tập và rèn luyện của người học để phát triển nhân cách Như vậy khách hàng trong đào tạo là người học với vai trò vừa là đối tác, vừa là đối tượng đào tạo của nhà trường
Chính vì vậy, dạy nghề có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với thị trường lao động và đào tạo Dạy nghề theo nhu cầu và yêu cầu của thị trường lao động, tham gia vào việc cung ứng sức lao động cho xã hội Nói khác đi, dạy nghề chính là một đối tác quan trọng tham gia vào hoạt động của thị trường lao động, một nhân tố có vai trò quyết định chất lượng của thị trường lao động Và vì vậy dạy nghề chỉ có thể tồn tại và phát triển khi hoạt động của nó gắn bó và đáp ứng nhu cầu đào tạo của thị trường lao động
Tiếp cận mục tiêu đào tạo trong cơ chế thị trường
Có nhiều quan điểm và phương pháp tiếp cận nhằm tác động và chi phối có hiệu quả các hoạt động đào tạo nghề Trong cơ chế thị trường, tiếp cận đào tạo nghề trên cơ sở tiếp cận nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu đào tạo của khách hàng trong mỗi
Trang 19cơ sở đào tạo là một phương pháp tiếp cận phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế
xã hội hiện nay Cách tiếp cận này xác định hoạt động đào tạo nghề bằt đầu từ việc xác định nhu cầu đào tạo, tìm kiếm khách hàng đào tạo, cung ứng dịch vụ đào tạo cho khách hàng và kết thúc là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng Sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng chính là mục tiêu đào tạo, đó là sự đạt được các giá trị của nhân
cách của người học( khách hàng) bao gồm: thái độ ý thức nghề nghiệp – kỹ năng nghề - kiến thức nghề nghiệp, phù hợp với nhu cầu và các chuẩn mực xã hội Đây
cũng chính là giá trị của nguồn nhân lực mà mỗi con người và toàn xã hội chúng ta đang tích lũy thông qua giáo dục và đào tạo Đi theo hướng tiếp cận này, toàn bộ quá trình đào tạo trong nhà trường được thực hiện theo các hoạt động đào tạo trong tổng thể của quá trình đào tạo cả trong nhà trường và ngoài nhà trường Nó được thiết kế tính toán, hạch toán cho từng nghành nghề, từng nội dung đào tạo, từng khóa học cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu theo cách tiếp cận trên
1.3 Các mối quan hệ chi phối của đào tạo nghề trong xã hội
Có hai mối quan hệ chi phối toàn bộ các hoạt động đào tạo nghề:
- Mối quan hệ bên trong( trong nhà trường ) là mối quan hệ giữa người học ( khách hàng), người dạy( đội ngũ giáo viên trường) và người quản lý (đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường, hình 1.2)
- Mối quan hệ bên ngoài (ngoài nhà trường), là mối quan hệ giữa trường nghề, cơ quan cung ứng tuyển dụng, môi giới lao động, cơ quan quản lý nhà nước
về đào tạo nghề và người học ( hình 1.3)
NGƯỜI QUẢN LÍ
Hình 1.2 Mối quan hệ bên trong
Trang 20Tích hợp hai mối quan hệ trên cho ta mối quan hệ toàn vẹn của mỗi cơ sở đào tạo nghề trong xã hội
Xét theo các mối quan hệ trên, thì đáp ứng đầy đủ của các mối quan hệ đó chính chính là qui mô, chất lượng và hiệu quả các hoạt động dạy nghề
Nhìn về khía cạnh khác, nếu kết hợp với mô hình đào tạo xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế (hình 1.1) ta có được mối quan hệ giữa đào tạo nghề với các nhu cầu của thị trường (như hình 1.4) Chính vì vậy với các trường nghề thực hiện
có hiệu quả việc đào tạo đáp ứng nhu cầu thị trường lao động chính là thúc đẩy hoạt động có hiệu quả các mối quan hệ trên
THỊ TRƯỜNG LĐ
(Nhu cầu lao động)
NGƯỜI HỌC (Nhu cầu về: Kiến thức, kĩ năng,
thái độ) Hình 1.4 Mối quan hệ giữa đào tạo nghề với nhu cầu của thị trường lao động
Trang 21- Nền kinh tế thị trường hiện tại là một nền kinh tế hội nhập, nên cơ cấu sản phẩm hàng hóa, dịch vụ xã hội và cơ cầu ngành nghề trong sản xuất và cơ cấu lao động xã hội thay đổi dẫn tới cơ cấu ngành nghề đào tạo sẽ thay đổi (theo hướng toàn cầu hóa) nhằm đáp ứng nhu cầu( chỉ đào tạo những nghành nghề mà xã hội cần, khác với việc chỉ đào tạo ngành nghề vốn có của cơ sở đào tạo)
- Do nhu cầu lao động có biến động lớn về số lượng và cơ cấu ngành nghề theo tiến trình của sản xuất, đồng thời chất lượng lao động đòi hỏi phù hợp, nên mục tiêu và nội dung đào tạo không ngừng thay đổi theo từng khóa đào tạo, thậm chí ngay trong một khóa học Tuy nhiên, việc thay đổi mục tiêu và nội dung đào tạo nghề chủ yếu trong lĩnh vực kiến thức – kỹ năng – thái độ nghề nghiệp, nó bao hàm
và thống nhất trong mục tiêu chung là đào tạo con người theo quan điểm và đường lối chính trị, thể hiện trong luật giáo dục của nước ta
- Trong thị trường lao động, trường nghề trở thành một nguồn cung lao động cho xã hội Sản phẩm đào tạo trong nhà trường là kết quả đào tạo trong từng người học( khách hàng) Người học( khách hàng) vừa là đối tác, vừa là đối tượng tác động chính của mọi hoạt động trong nhà trường (lấy học sinh làm trung tâm )
- Thị trường đào tạo tác động tới mọi hoạt động đào tạo nghề, tới sự tồn tại, phá t triển của mỗi trường nghề
1.4 T ổng quan về chương trình đào tạo
Theo như những phân tích ở trên, với các cơ sở thì đào tạo đáp ứng nhu cầu
của thị trường lao động chính là thúc đẩy hoạt động có hiệu quả của mối quan hệ
giữa nhà trường- người học- thị trường lao động Trong đó với nhà trường các yếu
tố bên trong chính là: chương trình, giáo trình, thiết bị học liệu và nhân sự Trong khuôn khổ đề tài chỉ đề cập đến một yếu tố đó là chương trình đào tạo, vậy chương trình đào tạo là gì?
1.4.1 Khái ni ệm chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo là gì? Câu hỏi đó ám ảnh nhiều nhà giáo dục học trên
thế giới Obanya (1996) cho rằng thuật ngữ “curriculum” (CTĐT) là tối nghĩa và thiếu chính xác Olaitan và Ali (1997) nhận thấy rằng: CTĐT không có nghĩa rõ
Trang 22ràng vừa như là ngành học vừa như là một lĩnh vực thực tế, “curriculum thiếu một ranh gi ới phân định rõ ràng” Bản chất thiếu nhất quán của thuật ngữ “curriculum”
đã tạo ra rất nhiều cách hiểu Tuỳ thuộc vào cách lý giải khác nhau người ta có các cách hiểu khác nhau như:
- CTĐT là những điều được dạy trong nhà trường
- CTĐT là một tập hợp của các môn học
- CTĐT là nội dung
- CTĐT là một chương trình học tập và nghiên cứu
- CTĐT là một tập hợp của các tài liệu học tập
- CTĐT là bất cứ cái gì được tạo ra bởi thày cô trong trường
- CTĐT là hàng loạt các tri thức, kỹ năng, hiểu biết kinh nghiệm mà ngưòi học trải qua trong nhà trường
- CTĐT là cái mà một người học trải qua như là một kết quả giáo dục và
đào tạo
Như vậy hiện tại có rất nhiều cách hiểu về chương trình đào tạo tuy nhiên có
có thể nhận thấy một số điểm cốt lõi của nó đó là:
CTĐT là một bản thiết kế về hoạt động dạy học trong đó phản ánh các yếu
tố mục đích dạy học, nội dung và phương pháp dạy học; và các kết quả dạy học, những yếu tố này được cấu trúc theo qui trình chặt chẽ về thời gian biểu Nói cách khác CTĐT là hệ thống việc làm của người dạy và người học được thiết kế theo cấu trúc tường minh, có thể kiểm soát được sao cho sau khi hoàn thành hệ thống việc làm ấy, người học và người dạy đạt được việc học và việc dạy của mình
Trang 23Theo Weltling ( 1993) cho rằng: “chương trình đào tạo là một bảng thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo ( đó có thể là một khóa học kéo dài vài giờ, một tuần, tháng hoặc vài năm ) Bảng thiết kế tổng thể cho biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ ra những gì có thể trông đợi ở người học sau khóa học, nó phác họa
ra qui trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, nó cũng cho biết các phương pháp đào tạo và cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập và tất cả các cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ“1 GS- TSKH Lâm Quang Thiệp: chương trình và quy trình đào tạo đại học, Hà Nội, 2006, trang 126
* Cấu trúc của chương trình đào tạo:
CTĐT là một hệ thống nhiều cấp độ Bao gồm chương trình dạy học của một quốc gia, của một ngành học, một bậc học, cấp học, lớp học, môn học, bài học, đơn
vị tri thức học tập Các chương trình của một ngành học, bậc học tức là các chương trình trong đó có nhiều chương trình môn học bao gồm chương trình khung
và chương trình của từng môn học
Dù chương trình học ở nào thì vẫn phải bao gồm các yếu tố cơ bản của hoạt động dạy học sau:
- Mục tiêu dạy học của chương trình
- Nội dung dạy học
Một chương trình dạy học dù ở cấp độ nào, là chương trình khung hay chương trình chi tiết cũng chỉ có giá trị khi được các cấp quản lí có thẩm quyền phê duyệt
1.4.2 Phát triển chương trình đào tạo
Thuật ngữ phát triển
Trang 24- Theo từ điển Việt (1996): Phát triển là làm biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp
- Lê Cao Đàm cho rằng: Phát triển là khái niệm dùng để chỉ sự vận động trong quá trình theo chiều hướng tiến lên Đó là một dòng tiến hoá có sự thay đổi
về chất lượng trong nội sinh của một quá trình nhất định [25,tr.25]
Ở đây liên quan đến phát triển chương trình đào tạo có các khái niệm thiết
kế chương trình( curriculum design) và phát triển chương trình (Curriculum development)
Thiết kế chương trình theo nghĩa hẹp là một công đoạn của việc phát triển chương trình đào tạo Tuy nhiên người ta thường hiểu thuật ngữ thiết kế chương trình đào tạo theo nghĩa rộng đồng nhất với thuật ngữ phát triển chương trình đào tạo
Phát triển chương trình đào tạo là một quá trình thiết kế, điều chỉnh, sửa đổi dựa trên việc đánh giá thường xuyên liên tục
Phát triển là một từ bản thân nó đã mang nhĩa là thay đổi theo hướng tích cực Thay đổi trong chương trình đào tạo có nghĩa là những lựa chọn hoặc điều chỉnh hoặc thay thế những thành phần trong chương trình đào tạo Tuy nhiên để có được
- Thay đổi phải mang lại sự tiến bộ hơn
Hiện có một số mô hình về phát triển CTĐT tuy nhiên trong phạm vi của đề tài này chỉ đưa ra một số mô hình nổi tiếng sau:
- Mô hình mục tiêu (thực ra phải dịch là mô hình mục đích mới đúng ND)
- Mô hình quá trình
- Mô hình phân tích tình huống
Trang 25
1.4.2.1 Mô hình mục tiêu (hình 1.5)
Hình 1.5_ Các giai đoạn trong mô hình mục tiêu PTCTĐT
Các giai đoạn của mô hình mục tiêu:Theo mô hình này, có 5 giai đoạn
chính trong phát triển CTĐT đó là:
- Khẳng định các mục tiêu chung (aim), mục tiêu cụ thể (goal) và mục đích (objective) Giai đoạn đầu tiên trong mô hình này thường bắt nguồn từ triết lý quốc gia về giáo dục Mục tiêu chung (aim) được hình thành gắn với bối cảnh xã hội rộng lớn hơn ở đó việc học tập diễn ra, chính vì lẽ đó mục tiêu chung phải bị chi phối bởi nhu cầu và các giá trị mà xã hội chấp nhận Mục tiêu chung của các trường được phản ánh trong sứ mệnh của nhà trường được phê chuẩn bởi quốc hội (đối với Việt nam – Chính phủ) khi trường được thành lập Mục tiêu cụ thể và các mục đích cũng đồng thời được hình thành gắn với khung chính sách chung
- Lựa chọn nội dung: Sau khi khẳng định mục tiêu và mục đích của giáo dục, cần chọn lựa nội dung giáo dục Nội dung giáo dục được dạy trong các trường thường được quyết định bởi cơ quan quyền lực có trách nhiệm thiết lập chương
Khẳng định mục tiêu
Chọn nội dung
Xác định kinh nghiệm học tập người học đã có hoặc
đã trải qua
Tổ chức và làm phù hợp
kinh nghiệm học tập với
bối cảnh Đánh giá
Trang 26trình Khi muốn cải tiến hoặc sửa đổi CTĐT trước hết cần xem xét lại CTĐT hiện hành liệu có cần thiết phải thêm những nội dung khác không
- Chọn kinh nghiệm học tập: Những kiến thức và kỹ năng nhằm để cung cấp cho người học đạt được nội dung chương trình đã được xác định Những nội dung này bao gồm từ những bài giảng tới những bài thực tập và thực hành và cần thiết đối với mỗi phạm vi nội dung
- Tổ chức và làm nội dung học tập phù hợp với bối cảnh: Mỗi phần kiến thức và kỹ năng cần phù hợp với mỗi phạm vi nội dung Những kiến thức và kỹ năng sẽ được tổ chức theo một trình tự sao cho bao hàm hết nội dung chương trình
- Đánh giá: Giai đoạn này giúp cho người thực hiện chương trình xác định hiệu quả của CTĐT và có thể có những sửa đổi cần thiết Giai đoạn này chính vì vậy có thể là cơ sở để bắt đầu những hoạt động phát triển CTĐT tiếp theo Giai đoạn này kiểm tra xem mức độ các mục tiêu của chương trình trở thành hiện thực đến đâu
1.4.2.2 Mô hình quá trình
Mô hình này có đặc điểm là nội dung, nguyên tắc và các thủ tục được định rõ hơn là những kết quả dự định được đề cập trong mục tiêu Theo mô hình này, nội dung lựa chọn đại diện sự hình thành tri thức khác biệt Nội dung cho thấy những thủ tục quan trọng, khái niệm then chốt và tiêu chí thuộc về một lĩnh vực tri thức nào đó
Phát triển CTĐT sử dụng mô hình quá trình liên quan đến việc hình thành phương pháp dạy và tài liệu nhất quán với nguyên tắc, khái niệm và tiêu chí nằm trong các hoạt động đó Trong thiết kế này, quá trình được xác lập ( nội dung học tập, phương pháp dạy, và tiêu chí hình thành trong hoạt động) Sản phẩm cuối cùng không được xác định trước theo mục tiêu ứng xử nhưng có thể đánh giá dựa vào những tiêu chí nằm trong lĩnh vực tri thức Nếu, ví dụ, bạn xác định nội dung của môn triết học và những thủ tục dạy học nào được chấp nhận và những tiêu chuẩn học chuyển tiếp dựa vào đó thành tích của một sinh viên được công nhận, bạn sẽ lập
kế hoạch hợp lý mà không sử dụng các mục tiêu Đó là đặc điểm của mô hình quá
Trang 27trình.Các mục tiêu hành vi biến mất, và giảng viên không khuyến khich bất kỳ quan điểm đáp lại của các sinh viên Thay vì các mục tiêu, nhấn mạnh nhằm vào những nguyên tắc chấp nhận của các thủ tục đối với những vấn đề đó Các giai đoạn trong
mô hình này không diễn ra kế tiếp nhau như trong mô hình mục tiêu
Các giai đoạn trong mô hình quá trình:
- Chọn nội dung
- Chọn những nguyên tắc và thủ tục
- Xác định phương pháp dạy và cơ sở vật chất
- Đánh giá theo những tiêu chí nằm trong lĩnh vực tri thức
Mô hình này có nhược điểm là thiếu vắng việc tổ chức và làm phù hợp nội dung với kinh nghiệm học tập còn tất cả các giai đoạn khác tương ứng với những giai đoạn trong mô hình mục tiêu
1.4.2.3 Mô hình phân tích tình huống
Mô hình này đặt PTCTĐT gắn kết chặt chẽ với cấu trúc hoàn cảnh Phương pháp này xem PTCTĐT như là phương tiện mà người giáo viên điều chỉnh và thay đổi kinh nghiệm của người học qua việc cung cấp kiến thức ở mỗi tình huống riêng
Mô hình này nhấn mạnh tầm quan trọng của quá trình PTCTĐT và những đặc trưng chính trị không tránh khỏi do các nhóm có quyền lực và có ảnh hưởng khác nhau và những quan tâm về lý tưởng cố gắng tìm kiếm để tác động vào quá trình giáo dục Trong mô hình này những khuyến cáo về CTĐT thường được thể hiện tuỳ thuộc vào thể chế được coi là thống nhất CTĐT chuẩn bị cho những bối cảnh kế hoạch hoá khác khác nhau bao gồm cả sự đánh giá về hiện trạng thể chế được xem là một
trong các đặc trưng nổi trội nhất Mô hình sẽ dựa vào giả thiết rằng việc PTCTĐT nên tập trung vào bối cảnh của đất nước, xã hội và thể chế Đồng thời nhà trường
và các giáo viên cũng được quan tâm khi PTCTĐT PTCTĐT lấy nhà trường làm cơ
sở là một trong những cách hiệu quả tác động tới những thay đổi thực chất trong nhà trường Đó là nơi mà các chuyên gia CTĐT đến và làm việc với giáo viên để PTCTĐT hoặc cải thiện việc dạy học bộ môn
Các giai đoạn trong mô hình phân tích tình huống:
Trang 28- Hình thành mục tiêu: Mục tiêu được xác định trên cơ sở phân tích tình huống
- Xây dựng chương trình: Bao gồm sự lựa chọn về nội dung môn học, trình tự của kịch bản dạy và học, bồi dưỡng giáo viên và chọn phương tiện phù hợp
- Giải thích và thực hiện: Khi xuất hiện những khó khăn và những vấn đề cần giải quyết trong quá trình giới thiệu một CTĐT được điều chỉnh
- Giám sát, đánh giá ý kiến phản hồi và cấu trúc lại : Điều này liên quan đến một khái niệm đánh giá rộng hơn là việc xác định tới mức độ nào một CTĐT đạt được những mục đích của nó Nhiệm vụ ở đây gồm việc đánh giá liên tục một phạm vi rộng các kết quả (người học, thái độ và tác động đến tổ chức.) và lưu trữ các ý kiến phản hồi
1.4.2.4 Mô hình hỗn hợp
Okebukola (1997) cho rằng: “mô hình hỗn hợp mang đặc điểm của cả ba mô hình trên” và bao gồm các bước sau đây:
- Chẩn đoán nhu cầu – Nhóm PTCTĐT bắt đầu bằng việc xác định nhu cầu
xã hội, nhà trường, sinh viên và nội dung môn học mà CTĐT dự kiến sẽ đáp ứng được
- Hình thành mục đích – sau khi nhu cầu đã được chẩn đoán và được xác định nhóm PTCTĐT sẽ xác định những mục tiêu nhằm đạt được
- Chọn nội dung – Nhóm chuyên gia và người sử dụng chương trình chọn nội dung CTĐT nhất quán với những mục tiêu đã xác định
- Tổ chức nội dung – Nhằm xác định trong mức nào và trong trình tự bố trí các môn học Đặc điểm của người học (lứa tuổi, thái độ với học tập) và trình độ của sinh viên là những nhân tố cần được quan tâm khi sắp xếp nội dung Phương pháp
và chiến lược dạy và học cần được xác định bởi người lập kế hoạch CTĐT
- Tổ chức các hoạt động học tập - Nhóm CTĐT quyết định kết hợp những hoạt động học tập , sự phối hợp và trình tự thực hiện
- Xác định tiêu chí đánh giá, phương thức và phương tiện đánh giá- Nhóm CTĐT sẽ xác định một số các kỹ thuật, phương tiện thích hợp để đánh giá thành
Trang 29tích của sinh viên và xác định liệu những mục tiêu của CTĐT đã đạt được hay không
- Thí điểm - Thí điểm được tiến hành theo các nhóm đối tượng khác nhau
- Hiệu chỉnh và thống nhất: Những được điều chỉnh trên cơ sở của số liệu thí điểm nhằm xác định sự biến động về nhu cầu và khả năng, nguồn lực và thực tế sư phạm sao cho CTĐT có thể thích ứng với tối đa với các lớp học
- Thông qua CTĐT được thực hiện bởi giáo viên, hội đồng khoa học dựa trên cơ sở đánh giá mức độ thích hợp của CTĐT gắn với các hướng dẫn có thể áp dụng được trong các khóa học
- Sử dụng CTĐT đã được thông qua
- Thẩm định thường kỳ CTĐT phải được xem xét và đánh giá thẩm định thường kỳ
Từ việc phân tích các mô hình phát triển CTĐT như ở trên ta thấy trong tất
cả các mô hình việc xác định và lựa chọn nội dung đào tạo được coi là vấn đề cơ bản cốt lõi trong phát triển chương trình đào tạo, bởi vai trò đáp ứng của nó đối với mục tiêu đào tạo được xác định; bởi qua nội dung có thể trả lời tường minh việc dạy
gì, học gì cũng như trả lời được câu hỏi dạy thế nào? Bằng phương tiện gì? Và việc đánh giá kết quả ra sao? Vậy các yếu tố ảnh hưởng đến nội dung đào tạo nghề là gi?
1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nội dung đào tạo trong GDNN
Trong GDNN, nội dung của bất kì ngành nghề nào cũng chịu tác động bởi nhiều yếu tố thuộc lĩnh vực khoa học- công nghệ, thực tiễn sản xuất- dịch vụ, khoa học
GD, khoa học tâm lí và xã hội, khoa học quản lí Trong nền kinh tế của nước ta như hiện nay các tác động trên đến nội dung đào tạo là hết sức mạnh mẽ, trực tiếp
và luôn biến động Bởi vậy nội dung đào tạo trong GDNN ở trạng thái động và đòi hỏi sự cập nhật, thích ứng, linh hoạt cao cả về khối lượng kiến thức, kĩ năng và mức
độ đạt được của nội dung đào tạo khi chính nghành nghề có sự biến động, đổi mới
về đặc điểm trong hoạt động nghề nghiệp
Trang 30Hình 1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến nội dung đào tạo trong GDNN
Đặc biệt là do sự xâm nhập, can thiệp của các công nghệ mới, công nghệ cao như: Công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới
Hình 1.6 minh họa các yếu tố ảnh hưởng đến nội dung đào tạo trong GDNN
và nội dung đào tạo trong GDNN phải phản ánh và đáp ứng được các đòi hỏi của các yếu tố trên, cụ thể:
- NDĐT phải căn cứ vào mục tiêu ĐT và đáp ứng được yêu cầu của MTĐT
- NDĐT được xác định căn cứ vào danh mục đào tạo trong GDNN và những
xu thế xác định nội dung đào tạo tiên tiến
Xu thế xác định NDĐT Danh mục ĐT TCCN& DN
MỤC TIÊU
ĐÀO TẠO
NỘI DUNG ĐT TCCN&DN
Kinh nghiệm ĐT
trong và ngoài
nước
Thị trường LĐ Phát triển KT- XH
Đào tạo NN Phát triển KH- CN
Tiêu chuẩn trình độ ĐT
Trang 31- NDĐT được xác định căn cứ vào tiêu chuẩn trình độ đào tạo và phản ánh được những kinh nghiệm đào tạo trng GDNN đã được đúc rút ở trong và ngoài nước
- NDĐT trong GDNN phải đáp ứng được yêu cầu của TTLĐ, ví dụ về trình
độ, kĩ năng nghề nghiệp, sự hiểu biết và tính sáng tạo, thích nghi trong lao động nghề nghiệp; những yêu cầu về quản lí và marketing trong hoạt động nghề nghiệp
- NDĐT phải đáp ứng được yêu cầu đặc trưng của quá trình đào tạo nghề nghiệp và sự tiến bộ của khoa học hiện đại
Việc xác định, lựa chọn và sắp xếp NDĐT cần phải că cứ vào một số nguyên tắc
- Tính khả thi và hiệu quả
1.4.4 Các hướng tiếp cận trong việc xây dựng chương trình
Trong thực tiễn, CTĐT là nơi phản ánh rõ quan điểm dạy học của tác giả thiết kế lên nó Vì vậy, khi xây dựng cũng như phân tích, phê phán và kế thừa một
CTĐT nào đó, yếu tố tiên quyết là phải xác định hướng tiếp cận trong việc xây dựng chương trình Hướng tiếp cận quy định thành phần cấu trúc của toàn bộ hệ thống từ CTĐT đến các hoạt động dạy và học
Trong lịch sử phát triển giáo dục, Có rất nhiều hướng tiếp cận trong việc thiết
kế chương trình ĐT Trong đó có ba hướng tiếp cận tương đối phổ biến trong việc
xây dựng chương trình đào tạo: tiếp cận nội dung (content approach), tiếp cận mục tiêu (objective approach) và tiếp cận phát triển (development approach)
1.4.4.1 Tiếp cận nội dung (content approach)
Câu hỏi đặt ra cho cách tiếp cận này là người học phải học cái gì? Người dạy dạy cái gì? Mục tiêu dạy học của chương trình là nội dung kiến thức mà người học
Trang 32phải lĩnh hội Vì vậy, điều quan tâm trước tiên và quan trọng nhất khi xác định NDĐT theo hướng này là khối lượng và chất lượng kiến thức cần truyền thụ cho người học Do đó tiêu chuẩn lựa chọn các phương pháp dạy học là tối ưu hóa việc truyền thụ tri thức Việc đánh giá kết quả học tập được hướng vào mức độ lĩnh hội tri thức của người học Đây là cách tiếp cận kinh điển trong xây dựng chương trình đào tạo, theo đó thành phần chính là nội dung kiến thức
Cách tiếp cận này được dùng rất phổ biến ở các trường từ trước tới nay tuy nhiên nó bộc lộ khá nhiều hạn chế và lạc hậu trong dạy học hiện đại đó là: Chương trình đào tạo chỉ chú trọng đến nội dung kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, nó đã bỏ qua nhiều khía cạnh khác như các kỹ năng cốt lõi không kém phần quan trọng; cách đánh giá kết quả học tập của cách tiếp cận này là xác định lượng kiến thức hoặc kỹ
năng nghề mà người học hấp thụ được Thêm vào đó nhược điểm của cách tiếp cận này là tính cập nhật kém, không gắn liền được nhu cầu của thị trường lao động Do vậy, người học ra trường khó có thể đáp ứng ngay được với công việc mà phía sử dụng lao động đòi hỏi, nên thường phía sử dụng lao động phải mất công đào tạo lại Chính vì những lí do trên mà phương pháp tiếp cận này ngày nay bị đánh giá là lạc hậu Nhiều quốc gia và các trường học trên thế giới không dùng để xây dựng
chương trình đào tạo nữa
1.4.4.2 Tiếp cận mục tiêu (objective approach)
Thực chất của cách tiếp cận này là dựa trên mục tiêu đào tạo để xây dựng
chương trình dạy học Hay nói cách khác là chương trình dạy học qui định mục tiêu dạy học Theo cách tiếp cận này, người ta quan tâm tới những thay đổi được mong đợi về năng lực hành động thực tiễn, nhận thức và thái độ ở người học do quá trình dạy học mang lại, sau khi kết thúc khóa học Câu hỏi ở đây là đầu vào và đầu ra của QTDH là gì? Vì vậy, CTDH phải thể hiện rõ mục tiêu dạy học dưới dạng đầu ra đã xác định trước của quá trình dạy học Mục tiêu dạy học phải được xây dựng rõ ràng sao cho có thể định lượng được và dùng nó làm tiêu chí để đánh giá hiệu quả của quá trình dạy học Dựa vào mục tiêu dạy học trong chương trình, người thực hiện
chương trình có thể đề ra nội dung kiến thức, phương pháp giảng dạy cần thực hiện
Trang 33để đạt được mục tiêu đề ra và phương pháp đánh giá thích hợp theo các mục tiêu dạy học Mục tiêu dạy học cũng là chuẩn để đánh giá kết quả học tập Với cách tiếp cận mục tiêu, người ta dễ dàng chuẩn hóa quy trình xây dựng chương trình và quy trình đào tạo theo một công nghệ Do đó, chương trình xây dựng theo cách này còn được gọi là “CTĐT theo kiểu công nghệ”
Ưu điểm của cách xây dựng chương trình theo cách tiếp cận mục tiêu:
- Mục tiêu dạy học cụ thể và chi tiết thuận lợi cho việc đánh giá hiệu quả
và chất lượng chương trình đào tạo
- Người học và người dạy biết rõ cần phải học và dạy như thế nào để đạt được mục tiêu
- Cho phép xác định các hình thức đánh giá kết quả học tập của người học Đối với cách xây dựng chương trình theo cách tiếp cận mục tiêu, điều quan trọng đầu tiên là xác định rõ mục tiêu dạy học Phương pháp tổng quát phân chia mục tiêu đào tạo theo 3 lĩnh vực nhận thức, kỹ năng và tình cảm thái độ của Bloom là cơ sở
để tham khảo xác định các mục tiêu cụ thể
1.4.4.3 Tiếp cận theo sự phát triển ( tiếp cận quá trình)
Theo cách tiếp cận này thì CTDH là quá trình trong đó dạy học thúc đẩy sự phát triển Sự phát triển ở đây được hiểu là phát triển con người, phát triển một cách tối đa mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, giúp họ có khả năng làm chủ được bản thân trong các tình huống của cuộc đời Theo cách tiếp cận này, mối quan tâm hàng đầu
là phát triển sự hiểu biết ở người học, chứ không phải là sự truyền thụ những kiến thức đã được xác định trước hay đến việc thay đổi hành vi của người học sau khi học Cách tiếp cận phát triển chú trọng vào việc dạy người học cách học hơn là vào việc truyền thụ kiến thức đơn thuần; chú trọng đến từng cá nhân người học hơn vào tập thể nói chung Coi cá nhân người học là một thực thể độc lập suy nghĩ và phải giúp họ phát triển được tính tự chủ trong việc quyết định mọi hành động và số phận của mình Chú trọng đến người học thực chất là chú trọng đến nhu cầu và hứng thú của người học Vì vậy, CTĐT phải đáp ứng được tối đa nhu cầu và hứng thú học tập
Trang 34của người học Do cách tiếp cận này chú trọng nhiều đến khía cạnh nhân văn của
chương trình đào tạo, nên còn gọi là tiếp cận nhân văn
Cách tiếp cận phát triển khác hoàn toàn cách tiếp cận nội dung hay tiếp cận mục tiêu ở chỗ, nó chú ý đến tính chủ động, đến sự phát triển nhân cách của người học Điều này dẫn đến thay đổi căn bản quan hệ giữa người dạy và người học.; thay đổi vị thế của người học trong quá trình dạy học Ở đây, người thầy không còn quyết định mọi vấn đề trong dạy học mà chỉ đóng vai trò cố vấn, cung cấp thông tin, hướng dẫn người học tìm kiếm và xử lí thông tin, giải quyết vấn đề Người học luôn luôn được khuyến khích tìm kiếm các giải pháp để giải quyết vấn đề và luôn được tạo cơ hội điều chỉnh việc rèn luyện nhận thức, tình cảm và hành vi Nhìn chung, cách tiếp cận này đề cao vấn đề nhân cách, giá trị của người học – vấn đề cốt
lõi của dạy học hiện đại – học để làm người
Như vậy có thể thấy, cách tiếp cận phát triển có rất nhiều ưu điểm, tuy nhiên cũng có không ít người phê phán nhược điểm của cách tiếp cận này Một trong những ý kiến phê phán tương đối phổ biến là cách tiếp cận này quá chú trọng đến nhu cầu và sở thích cá nhân Hai nữa, nhu cầu và sở thích cá nhân thường rất đa dạng và hay thay đổi nên chương trình đào tạo rất khó thỏa mãn
Trên đây là ba hướng tiếp cận CTĐT phổ biến hiện nay Mỗi cách tiếp cận
có ưu điểm và hạn chế riêng Trong day học hiện đại, cách tiếp cận phát triển có nhiều ưu điểm và ngày càng được chú ý hơn, tuy nhiên trong dạy nghề hiện nay các
chương trình đào tạo thường được thiết kế kiểu theo tiếp cận mục tiêu
1.5 Các loaị chương trình đào tạo nghề
Cách thiết kế chương trình đào tạo phản ánh xu thế phát triển của dạy học
Xu hướng chung là các chương trình đào tạo ngày càng được cấu trúc theo hướng
mở và gắn với các hoạt động của người học Hiện tại, trong dạy học có nhiều cách thiết kế một chương trình dạy học Thông thường trong dạy nghề có ba loại chương trình đào tạo
1.5.1 Chương trình kiểu hệ thống môn/bài học
Trang 35Trong kiểu chương trình này, các môn học được thiết kế độc lập, riêng rẽ và được sắp xếp tổ chức trong chương trình đào tạo như “ những lát cắt ngang”, gồm các môn chung; các môn kĩ thuật cơ sở; các môn lí thuyết chuyên môn và phần thực hành nghề được bố trí ở cuối chương trình học ( hình 1.6 )
Hình 1.7_ Kiểu chương trình đào tạo theo cấu trúc môn học
Đây là kiểu chương trình đào tạo theo kiểu truyền thống, theo thời gian lớp, bài, khóa học, ít bám sát với nghề thường được thực hiện trong phương thức tổ chức dạy học cơ bản “lớp- bài”
Chương trình đào tạo nghề theo môn học giúp người học hình thành kiến thức một cách có hệ thống theo logic của các bộ môn khoa học, do vậy người học
có khả năng tư duy sáng tạo và tiềm năng phát triển trong nghề nghiệp Loại chương trình đào tạo này phù hợp với đội ngũ lao động kĩ thuật có trình độ cao đòi hỏi nhiều năng lực tư duy sáng tạo, có năng lực phân tích bản chất của các sự vật, hiện tượng để tìm ra các giải pháp mới
Tuy vậy chương trình đào tạo theo kiểu môn học cũng có những hạn chế sau:
- Kĩ năng hành nghề chỉ được hình thành sau một thời gian học tập tương đối dài ở trường (thường là sau khóa học)
Lát cắt ngang Các môn chung
Các mô n kĩ thuật cơ sở Các môn lí thuyết chuyên môn
Thực hành nghề
Trang 36- Không tạo điều kiện cho người học tự lựa chon để phù hợp với điều kiện cá nhân như học vấn, tài chính, thời gian…
- Khó khăn khi thay đổi chương trình
- Không tạo điều kiện cho sự liên thông giữa các trình độ cũng như các phương thức đào tạo
1.5.2 Kiểu chương trình đào tạo theo modul
Trong dạy học, thuật ngữ modul được dùng để chỉ một đơn vị kiến thức hoặc một hệ thống kỹ năng (thực tiễn hay trí óc) vừa tương đối trọn vẹn và độc lập, vừa
có thể kết hợp với kiến thức hoặc kỹ năng khác, tạo thành hệ thống trọn vẹn có quy
mô lớn hơn Những kiến thức hoặc/và kỹ năng này thường được thể hiện dưới dạng
các việc làm của người học
Hay modul được hiểu: “là đơn vị học tập được tích hợp giữa kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành và thái độ nghề nghiệp một cách hoàn chỉnh nhằm giúp cho ng ười học nghề có năng lực thực hành trọn vẹn một công việc của một nghề”
Chương trình theo hệ thống mô đun là loại chương trình gồm nhiều mô đun được sắp xếp thành một hệ thống logic Thiết kế chương trình theo modul (Module)
là cách thiết kế hiện đại và phổ biến trong dạy học hiện nay, nhất là trong lĩnh vực đào tạo nghề nghiệp.Trong đó modu đào tạo có những đặc trưng chủ yếu sau:
- Định hướng vấn đề cần giải quyết- Năng lực thực hiện công việc
- Định hướng trọn vẹn vấn đề- Tích hợp nội dung
- Định hướng làm được- Theo nhịp độ người học
- Định hướng đánh giá liên tục, hiệu quả- Học tập không rủi ro
- Định hướng cá nhân hoặc nhóm nhỏ người học
- Định hướng lắp ghép phát triển
Nếu so sánh với loại chương trình theo hệ thống môn học, thì các kiến thức, kỹ
năng, thái độ trong một mô đun được tích hợp từ nhiều môn học như hình 1.8 và được sắp xếp tổ chức trong chương trình như các lát cắt dọc không theo thời gian Điều này có nghĩa là người học sau khi học xong và đạt kết quả một hoặc một số
Trang 37môđun riêng rẽ theo nhu cầu sử dụng có thể ra trường đi lầm được ngay mà không nhất thiết phải theo học cả khóa học
Hình 1.8_ Kiểu chương trình đào tạo theo modul
*Đặc điểm của chương trình dạy học theo hệ thống modul:
Thứ nhất: Các mô đun vừa có tính độc lập vừa có tính liên kết Đây là đặc
điểm nổi bật của modu, giúp cho chương trình dạy học có tính cơ động và khả năng ứng dụng rất cao, đặc biệt là các chương trình ngành học hay bậc học Do đặc điểm
này của mô đun nên chương trình dạy học theo mô đun bao giờ cũng là chương trình mở
Thứ hai: Kích cỡ của modul: Kích cỡ (độ lớn) của modul tùy thuộc vào dung
lượng kiến thức hoặc kỹ năng thành phần trong modul đó Vì vậy, không có quy định cứng nhắc về kích cỡ cho mọi modul
Độ lớn của mỗi mô đun được thể hiện bởi thời lượng học tập của học viên: trong một tuần, một học kỳ, một năm …v,v Cần lưu ý khi xác độ lớn của modu không phải là số buổi lên lớp của giáo viên hay số lần tiếp xúc giữa giáo viên với học viên mà là số lượng công việc học viên phải thực hiện trong một đơn vị kiến thức hay kỹ năng của mô đun đó, tương ứng với đơn vị thời gian học tập được quy định
Thứ ba: Cách kết nối mô đun trong chương trình Trong chương trình, các mô
đun có thể được kết nối theo mạng không gian hoặc theo tuyến tính Kết nối theo mạng không gian là trong khoảng thời gian cho phép, các học viên có thể thực hiện
Trang 38đồng thời một số mô đun, tùy theo khả năng và điều kiện của mình Kết nối theo
tuyến tính là học viên thực hiện từng modutrong khoảng thời gian cho phép
Thứ tư: Việc đánh giá kết quả học tập Mỗi mô đun phải được đánh giá riêng
và phải được hoàn thành trước khi sang modul mới Đây là điểm khác so với
chương trình truyền thống, ở đó việc đánh giá có thể được thể hiện khi học viên học xong toàn bộ chương trình
Thứ năm: Tính lựa chọn Trong một chương trình có nhiều dạng liên kết các
mô đun, vì vậy, học viên có thể lựa chọn các mô đun để hoàn thành chương trình học tập theo quy định Đây chính là ưu điểm lớn của chương trình theo mô đun
Nó cho phép học viên phát huy khả năng, tính độc lập và sự linh hoạt của mình theo các hoàn cảnh để đi đến mục tiêu học tập Điều cần lưu ý, tuy việc lựa chọn các mô đun là quyền của học viên, nhưng phải tuân theo các nguyên tắc, được quy định trong chương trình
Thứ sáu: Khả năng kết hợp, liên thông giữa các chương trình Nếu trong các
chương trình có một số mô đun giống nhau thì có thể sử dụng chung Vì vậy, tạo ra khả năng liên kết, liên thông giữa các chương trình, cho phép học viên cùng một lúc theo đuổi một số chương trình, trên cơ sở khai thác và sử dụng nguồn lực của mình Đây cũng là một thế mạnh của chương trình theo mô đun
* Điểm mạnh và hạn chế của chương trình theo modul:
Điểm mạnh: Cấu trúc chương trình theo modul là một trong những cách
tốt nhất để thể hiện quan điểm phát triển, quan điểm nhân văn trong dạy học Vì nó đáp ứng được các yêu cầu về dạy học phát triển (nhu cầu và sở thích cá nhân được
tôn trọng, các năng lực, tính độc lập và tự chủ, tự do của học viên được phát huy) Một điểm mạnh khác của chương trình theo mô đun là tạo cơ hội cho người học học
thường xuyên, học suốt đời, theo nhu cầu và điều kiện của mình, trên cơ sở tích lũy được các mô đun trong những điều kiện thuận lợi (tích lũy tín chỉ)
Hạn chế: Hạn chế lớn nhất của chương trình theo mô đun là việc tổ chức
học tập Việc bố trí thời gian học tập và thời khóa biểu là công việc không đơn giản Mặt khác, nếu việc học chủ yếu theo hình thức tích lũy tín chỉ (cấu trúc mô
Trang 39đun theo mạng) dễ dẫn đến thời gian học tập kéo dài, thiếu tính hệ thống, đôi khi dẫn đến lãng phí Một khó khăn nữa của học tập theo mô đun, đòi hỏi cơ sở vật chất, thiết bị và tài liệu phục vụ cho học tập của học viên phải đầy đủ, điều này dẫn đến chi phí học tập tốn kém
1.5.3 Kiểu chương trình đào tạo kết hợp môn học và modul
Kiểu chương trình này ra đời nhằm phát huy những ưu điểm và hạn chế bớt những nhược điểm của hai kiểu chương trình đào tạo nghề nói trên, ở nước ta từ những năm 1980 đã sử dụng kiểu chương trình này ( do Thụy Điển đưa vào đào tạo tại trườngCNKT Giấy Bãi Bằng) có hiệu quả tốt Hiện nay, thông qua dự án GD Kĩ thuật và Dạy nghề với vốn vay ODA của ngân hàng Phát triển châu Á, các trường trọng điểm đã và đang xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo theo kiểu kết
hợp này
Hình 1.9_ Kiểu chương trình đào tạo kết hợp môn học-modul
Trong chương trình đào tạo kiểu kết hợp, nội dung các môn học chung và các môn lí thuyết kĩ thuật cơ sở của nghề được tổ chức thành các môn học hoặc học phần độc lập và được sắp xếp theo những lát cắt ngang; nội dung các môn lí thuyết
kĩ thuật chuyên môn nghề được tổ chức thành các nội dung cần thiết đưa vào phần thực tập từng kĩ năng thành các môđun độc lập, trọn vẹn và được sắp xếp theo lát cắt dọc
modul1 modul 2 modul modul n
ND thực tập nghề
ND KTCM nghề
ND Kĩ thuật cơ sở nghề ( các môn học)
ND các môn chung ( các môn học )
Trang 40Chương trình đào tạo nghề kiểu này tạo được khả năng tốt để tổ chức quá trình đào tạo nghề một cách linh hoạt, năng động, giảm thiểu được những trùng lặp
về nội dung do có sự tích hợp giữa lí thuyết kĩ thuật chuyên môn nghề và thực hành nghề, có điều kiện để đào tạo bám sát được yêu cầu của thị trường lao động
1.6 Xây dựng các loại chương trình đào tạo theo Modul 1.6.1 Đào tạo theo năng lực thực hiện:
Hình 1.10 Triết lí đào tạo theo năng lực thực hiện3