1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường trung học phổ thông huyện si ma cai tỉnh lào cai

119 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là sự tác động của kinh tế đến đời sống tình cảm, tâm lý của con người đặc biệt là giới trẻ mà trong đó điển hình là trẻ thanh niên - học sinh trung học phổ thông Hoạt động tư vấn tâ

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ TÌNH

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN TÂM LÝ

HỌC ĐƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC

PHỔ THÔNG HUYỆN SI MA CAI, TỈNH LÀO CAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ TÌNH

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN TÂM LÝ

HỌC ĐƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC

PHỔ THÔNG HUYỆN SI MA CAI, TỈNH LÀO CAI

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Tình

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nhận và triển khai nghiên cứu đề tài, hoàn thành luận văn, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy

Cô trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các thầy cô khoa Tâm lý - Giáo dục Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc đến PGS.TS Phùng Thị Hằng đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong thời gian nghiên cứu để hoàn thành luận văn và có thể áp dụng có hiệu quả trong quá trình công tác

Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo Sở GD & ĐT Lào Cai, Ban Giám hiệu các trường THPT trên địa bàn huyện Si Ma Cai đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi có được những thông tin bổ ích phục vụ quá trình nghiên cứu

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu xong luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong tiếp tục nhận được ý kiến góp

ý của các thầy cô giáo cùng các đồng nghiệp

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2019

Học viên

Nguyễn Thị Tình

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6

1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Trên thế giới 6

1.1.2 Ở Việt Nam 9

1.2 Một số khái niệm cơ bản 11

1.2.1 Quản lý 11

1.2.2 Tư vấn tâm lý học đường, hoạt động tư vấn tâm lý học đường 12

1.2.3 Quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường 15

1.3 Hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT 16

1.3.1 Một số đặc điểm tâm lý của học sinh THPT 16

1.3.2 Tầm quan trọng của hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT 19

1.3.3 Mục đích, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT 20

1.4 Quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT 26

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.4.1 Lập kế hoạch quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT 26

1.4.2 Tổ chức triển khai hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT 27

1.4.3 Chỉ đạo thực hiện hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT 28

1.4.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT 30

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT 31

1.5.1 Các yếu tố khách quan 31

1.5.2 Các yếu tố chủ quan 32

Tiểu kết chương 1 34

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN SI MA CAI, TỈNH LÀO CAI 35

2.1 Khái quát về thực trạng các trường khảo sát 35

2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Si Ma Cai 35

2.1.2 Khái quát về tình hình giáo dục trung học phổ thông ở huyện Si Ma Cai 35

2.2 Mục đích, nội dung và phương pháp khảo sát thực trạng 38

2.2.1 Mục đích khảo sát 38

2.2.2 Nội dung khảo sát 38

2.2.3 Phương pháp khảo sát và phương thức xử lý số liệu 38

2.3 Kết quả khảo sát thực trạng 39

2.3.1 Thực trạng hoạt động tư vấn tâm lý học đường tại các trường THPT huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai 39

2.3.2 Thực trạng quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai 53

2.3.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động TVTL học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai 62

2.3.4 Đánh giá chung về thực trạng công tác tư vấn tâm lý học đường và quản lý hoạt động tư vấn học đường tại các trường THPT huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai 64

Tiểu kết chương 2 68

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN TÂM LÝ

HỌC ĐƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

HUYỆN SI MA CAI, TỈNH LÀO CAI 69

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 69

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 69

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 69

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 69

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 70

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 70

3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai 71

3.2.1 Tổ chức nâng cao nhận thức cho CBQL, giáo viên, học sinh về tầm quan trọng của hoạt động tư vấn tâm lý học đường và quản lý hoạt động này ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai 71

3.2.2 Tổ chức bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng dựa trên năng lực về tư vấn tâm lý học đường cho đội ngũ CBQL, giáo viên tham gia hoạt động TVTL học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai 75

3.2.3 Chỉ đạo đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai 78

3.2.4 Chỉ đạo đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai 81

3.2.5 Quản lý hiệu quả và lập kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kĩ thuật, sắp xếp thời gian hợp lý, khoa học cho hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào cai 83

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 86

3.4 Khảo nghiệm các biện pháp đề xuất 87

3.4.1 Mục đích 87

3.4.2 Nội dung và cách tiến hành 87

3.4.3 Kết quả khảo nghiệm 88

3.4.4 Tương quan giữa tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 90

Kết luận chương 3 92

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93

1 Kết luận 93

2 Khuyến nghị 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

BDGV : Bồi dưỡng giáo viên CBQL : Cán bộ quản lý CSVC : Cơ sở vật chất ĐBKK : Đặc biệt khó khăn

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ Bảng:

Bảng 2.1 Mạng lưới trường lớp HS, GV THPT huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai

năm học 2018 - 2019 36 Bảng 2.2 Xếp loại học lực của HS THPT huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai năm

học 2018-2019 37 Bảng 2.3 Xếp loại hạnh kiểm của HS THPT huyện Si Ma Cai năm học 2018-2019 37 Bảng 2.4 Nhận thức của các khách thể điều tra về tầm quan trọng của hoạt

động tư vấn tâm lý học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai 40 Bảng 2.5 Đánh giá của các khách thể điều tra về mục đích tư vấn tâm lý học

đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai 42 Bảng 2.6 Đánh giá của các khách thể điều tra về nội dung tư vấn tâm lý học

đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai 44 Bảng 2.7 Đánh giá của các khách thể điều tra về hình thức tổ chức hoạt động tư

vấn tâm lý học đường ở các trường THPT trên địa bàn huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai 47 Bảng 2.8 Đánh giá của các khách thể khảo sát về phương pháp tư vấn tâm lý

học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai 49 Bảng 2.9 Nhu cầu của học sinh về chủ thể thực hiện hoạt động tư vấn tâm lý

học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai 51 Bảng 2.10 Đánh giá của các khách thể điều tra về nội dung kế hoạch quản lý hoạt

động tư vấn tâm lý học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai 53 Bảng 2.11 Đánh giá của các khách thể điều tra về biện pháp tổ chức hoạt động tư

vấn tâm lý học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai 56 Bảng 2.12 Đánh giá của các khách thể điều tra về biện pháp chỉ đạo thực hiện

hoạt động TVTL học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai 58 Bảng 2.13 Đánh giá của các khách thể điều tra về biện pháp kiểm tra, đánh giá

kết quả hoạt động TVTL học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai 60

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Bảng 2.14 Đánh giá của khách thể điều tra về các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý

hoạt động TVTL học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai 62

Bảng 3.1 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt

động tư vấn tâm lý học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai 88 Bảng 3.3 Mức độ tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 90

Biểu đồ:

Biểu đồ 3.1 Tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động tư vấn

tâm lý học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai 89

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của BCH Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường theo định hướng XHCN và hội nhập Quốc tế, hiện nay cả nước đang tích cực thực hiện việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông nói chung và cấp THPT nói riêng, với mục tiêu hình thành những năng lực cần thiết cho học sinh Các cấp quản lí giáo dục đã có những giải pháp đồng bộ để thực hiện được mục tiêu đó

Để góp phần thực hiện nghị quyết trên, Bộ Giáo dục & Đào tạo đã ban hành Thông tư số 31/2017/TT-BGDĐT ngày 31 tháng 12 năm 2017 về việc hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lý cho học sinh trong trường phổ thông Với mục tiêu nhằm phòng ngừa, hỗ trợ và can thiệp (khi cần thiết) đối với học sinh đang gặp phải khó khăn về tâm lý trong học tập và cuộc sống để tìm hướng giải quyết phù hợp, giảm thiểu tác động tiêu cực có thể xảy ra; góp phần xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện và phòng, chống bạo lực học đường Hỗ trợ học sinh rèn luyện kỹ năng sống; tăng cường ý chí, niềm tin, bản lĩnh, thái độ ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ xã hội; rèn luyện sức khỏe thể chất và tinh thần, góp phần xây dựng và hoàn thiện nhân cách

Trong những năm qua, nền kinh tế của Việt Nam đã có bước đột phá lớn GDP hàng năm liên tục tăng nhanh tạo ra sự chuyến biến nhanh chóng về tất cả mọi mặt trong đời sống của con người Việt Nam Bên cạnh những mặt tích cực

mà nền kinh tế mới đem lại thì chúng ta cũng phải nhìn nhận thêm một số mặt hạn chế còn tồn tại và có xu hướng ngày càng gia tăng Đó là sự tác động của kinh tế đến đời sống tình cảm, tâm lý của con người đặc biệt là giới trẻ mà trong đó điển hình là trẻ thanh niên - học sinh trung học phổ thông

Hoạt động tư vấn tâm lý học đường cho học sinh là sự hỗ trợ tâm lý, giúp học sinh nâng cao hiểu biết về bản thân, hoàn cảnh gia đình, mối quan hệ xã hội, từ đó tăng cảm xúc tích cực, tự đưa ra quyết định trong tình huống khó khăn học sinh gặp phải khi đang học tại nhà trường

Mục đích của công tác tư vấn tâm lý cho học sinh phổ thông là nhằm phòng ngừa, hỗ trợ và can thiệp (khi cần thiết) đối với học sinh đang gặp phải khó khăn về tâm lý trong học tập và cuộc sống để tìm hướng giải quyết phù hợp, giảm thiểu tác động tiêu cực có thể xảy ra; góp phần xây dựng môi trường

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện và phòng, chống bạo lực học đường

Hỗ trợ học sinh rèn luyện kỹ năng sống; tăng cường ý chí, niềm tin, bản lĩnh, thái độ ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ xã hội; rèn luyện sức khỏe thể chất và tinh thần, góp phần xây dựng và hoàn thiện nhân cách

Học sinh THPT là lứa tuổi chuẩn bị bước vào cuộc sống tự lập, ở tuổi này, các em có những biến đổi mạnh mẽ cả về thể chất lẫn tâm hồn Nhân cách của các em đã được định hình về cơ bản, tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các em còn bộc lộ rõ sự bồng bột và xốc nổi Trong cuộc sống,

từ sinh hoạt gia đình đến việc học tập ở trường và tham gia các hoạt động

xã hội, các em luôn phải đối mặt với nhiều vấn đề khúc mắc, tình huống bất ngờ như: áp lực học tập, sự lựa chọn nghề, tình yêu tuổi học trò Những băn khoăn, vướng mắc của HS nếu không được điều chỉnh, giải tỏa kịp thời, thì rất dễ dẫn đến hậu quả đáng tiếc: nhẹ thì chán học, bỏ học; nặng thì trầm cảm, bạo lực học đường, thậm chí tự tử, gây án mạng… Nhiều bậc phụ huynh gặp khó khăn trong việc giáo dục con cái ở độ tuổi này… Thực trạng này cho thấy, các em thật sự cần người đáng tin cậy và có chuyên môn để chia sẻ tâm sự hoặc trợ giúp các em tìm cách thức giải quyết vấn đề một cách tốt nhất

Để đạt được mục tiêu giáo dục là đạo tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, việc nghiên cứu và nhận diện về hành vi của HS nói chung và HS cấp THPT nói riêng là cần thiết, bởi

có như vậy mới xác định được những yếu tố ảnh hưởng đưa đến những hành vi sai lệch, gây bất lợi cho sự phát triển của của các em Do vậy, việc xây dựng một mạng lưới chăm sóc sức khỏe tâm thần cho học sinh với sự lồng ghép những kiến thức về tâm lý, giáo dục sẽ giúp cho việc phát hiện sớm những biểu hiện bất thường của các em, giúp các em phòng ngừa và điều chỉnh những hành

vi sai lệch của mình, có đủ sức khỏe và trí tuệ để tiếp thu, lĩnh hội tri thức ở nhà trường, tạo điều kiện cho việc phát triển nhân cách một cách hài hòa, toàn diện Điều này cho thấy, tổ chức tốt hoạt động tư vấn tâm lý học đường với mục đích giúp học sinh nhận diện khó khăn tâm lý của bản thân, từ đó chủ động lựa chọn biện pháp khắc phục khó khăn một cách hiệu quả là việc làm có ý nghĩa thiết thực đối với các nhà trường nói chung và bậc THPT nói riêng

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Tỉnh Lào Cai là một tỉnh miền núi, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn Ở các trường THPT, hầu hết học sinh ở đây đều là người dân tộc thiểu số, các em gặp nhiều khó khăn tâm lý trong học tập và giao tiếp, do đó công tác tư vấn tâm lý học đường có ý nghĩa quan trọng Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đã hình thành mô hình tư vấn tâm lý học đường, mô hình này mới được áp dụng ở một số trường học với thời gian hoạt động ngắn và bước đầu đã đem lại hiệu quả nhất định Tuy nhiên, đối với nhiều trường THPT, hoạt động này chưa đạt được kết quả như mong muốn

Xuất phát từ những điều nêu trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường Trung học phổ thông huyện

Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai” làm đề tài luận văn để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động tư vấn tâm lý học đường, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động tư vấn tâm lý học đường trên địa bàn tỉnh

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

4 Giả thuyết khoa học

Hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai còn có những hạn chế nhất định như: hình thức tư vấn chưa phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của học sinh; kỹ năng tư vấn của giáo viên còn hạn chế… Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, trong đó có nguyên nhân thuộc về yếu tố quản lý, do đó, nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường phù hợp với tình hình thực tiễn thì hiệu quả của hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường THPT huyện Si

Ma Cai, tỉnh Lào Cai sẽ được nâng cao

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học

đường ở trường trung học phổ thông

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

5.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Giới hạn về khách thể điều tra và địa bàn khảo sát

- Về khách thể điều tra: Tiến hành khảo sát 270 khách thể, trong đó có

30 cán bộ quản lý; 40 giáo viên tham gia hoạt động tư vấn tâm lý học đường;

200 học sinh thuộc các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

- Về địa bàn khảo sát: Khảo sát tại 03 trường THPT thuộc địa bàn

huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai: Trường THPT số 1 huyện Si Ma Cai; trường THPT số 2 huyện Si Ma Cai; trường PTDT Nội trú THCS và THPT huyện Si

Ma Cai thuộc tỉnh Lào Cai

7 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:

7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu lý luận, các văn bản, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước

có liên quan đến GD&ĐT, quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2 1 Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát được sử dụng trong đề tài với mục đích quan sát cách thức quản lý, cách thực hiện hoạt động tư vấn tâm lý học đường tại các trường THPT nhằm thu thập thông tin thực tiễn cho đề tài

7.2.2 Phương pháp đàm thoại

Trao đổi, phỏng vấn một số cán bộ quản lý, tư vấn viên, giáo viên tham gia vào hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai để tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân của thực trạng hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường THPT trên địa bàn huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai, đồng thời làm sáng tỏ những thông tin thu nhận được từ phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

7.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Phương pháp này được sử dụng với mục đích khảo sát nhu cầu, nhận

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

thức, sự đánh giá của các khách thể điều tra về các hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai

7.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

Phương pháp này được sử dụng với mục đích xin ý kiến của các chuyên gia, các nhà quản lý, các giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm về việc xây dựng và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tư vấn tâm

lý học đường các trường THPT, đồng thời kiểm tra tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất

7.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục

Phương pháp này được sử dụng với mục đích đánh giá, tổng kết công tác quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường cho học sinh của Hiệu trưởng các trường THPT trên địa bàn huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai để thu thập thêm thông tin thực tiễn cho đề tài

7.3 Các phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

Sử dụng một số công thức toán thống kê như tính trung bình cộng, tính phần trăm… để xử lý các kết quả nghiên cứu thực tiễn

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu; Kết luận, Khuyến nghị; Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường

ở trường trung học phổ thông

- Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các

trường trung học phổ thông huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

- Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các

trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

* Xu hướng thứ nhất: Nghiên cứu đánh giá thực trạng nhu cầu tư vấn

tâm lý học đường của học sinh, sinh viên

Đây là xu hướng nghiên cứu khá phổ biến trên thế giới Các nội dung nghiên cứu thường tập trung làm rõ nhu cầu tư vấn từ các trung tâm tư vấn, các vấn đề cần tư vấn, tần suất đến phòng tâm lý học đường, nguyên nhân cản trở đến các dịch vụ hỗ trợ, tư vấn, mối quan hệ giữa stress và nhu cầu tư vấn… Các nghiên cứu theo khuynh hướng này cho thấy những vấn đề mà học sinh, sinh viên cần hỗ trợ tâm lý thường là các mối quan hệ xã hội, sự phát triển nghề nghiệp, giá trị sống, kĩ năng học tập, việc rèn luyện và phát triển bản thân (Egbochuku, 2008; Nyutu & Gysbers, 2007; Morgan, Stiffan, Shaw & Wilson, 2007) Các kết quả nghiên cứu khẳng định rằng, tần suất đến phòng tâm lý học đường của học sinh, sinh viên là khá hạn chế vì họ bị cản trở bởi nhiều nguyên nhân, như: lo ngại về tính bảo mật của thông tin cá nhân; sự phức tạp của một

số quy trình tư vấn, tư vấn tâm lý; không tự tin vào bản thân và không tin tưởng vào trình độ chuyên môn nghiệp vụ của của đội ngũ hỗ trợ tâm lý học đường (Morgan, Stiffan, Shaw Wilson, 2007) Kết quả của các nghiên cứu đồng thời cho thấy học sinh, sinh viên với nhu cầu khác nhau sử dụng các dịch vụ hỗ trợ,

tư vấn tâm lý khác nhau Có thể nói, xu hướng khảo sát thực trạng tư vấn, hỗ trợ tâm lý học đường cũng là một xu hướng nổi bật ở các nước Châu Á hiện nay, nơi mà tư vấn tâm lý học đường vẫn là một lĩnh vực còn khá mới mẻ Vì thế, những nghiên cứu về thực trạng tư vấn tâm lý học đường nói chung và hoạt động tư vấn tâm lý học đường của nhà quản lý nói riêng ở các trường là hết sức cần thiết nhằm phát triển thế hệ trẻ một cách toàn diện theo xu thế chung của thời đại

Đối với các nước Âu Mỹ, xu hướng khảo sát thực trạng hoạt động tư vấn tâm lý học đường chỉ phát triển và được chú trọng vào những năm 80 và 90 của

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

thế kỷ XX Hiện nay, việc điều tra về nhu cầu tư vấn tâm lý học đường ở học sinh, sinh viên nói chung là điều tất yếu mà các trung tâm tư vấn trong các trường học từ bậc tiểu học đến bậc đại học ở các nước Âu Mỹ phải chú trọng thực hiện hàng năm, hàng quý Việc khảo sát này hầu hết được tiến hành và xử

lý một cách chuyên nghiệp và khoa học qua các hệ thống trực tuyến trên các website (dẫn theo [2])

* Xu hướng thứ hai: Phát triển các thang đo về nhu cầu tư vấn, tư vấn tâm lý

Theo Nyutu (2001), ban đầu, những nghiên cứu về nhu cầu tư vấn, tư vấn tâm lý theo xu hướng điều tra (survey research) được thực hiện dựa trên một số công cụ và phương pháp đơn giản như phỏng vấn theo nhóm, phỏng vấn trọng tâm (focus group) và bảng hỏi… hoặc chỉ sử dụng các công cụ đánh giá

về nhu cầu (Students Needs Assessment Survey) ở học sinh, sinh viên Về sau, nhằm đánh giá chính xác, khách quan và khoa học về thực trạng nhu cầu tư vấn, tư vấn tâm lý ở học sinh, sinh viên nói trên, việc xây dựng và phát triển các thang đo về nhu cầu tư vấn, tư vấn tâm lý có đầy đủ tính hiệu lực và độ tin cậy được chú trọng

Ở Châu Phi, thang đo “The Students Counseling Needs Scale” (Thang đo

nhu cầu tư vấn cho học sinh) của Nyutu (2007) được sử dụng khá phổ biến Thang đo này cũng được chính Nyutu & Gysbers (2010) sử dụng trong một

nghiên cứu gần đây “Nhu cầu tư vấn của học sinh trung học phổ thông Kenya”

Nghiên cứu được thực hiện trên học sinh THPT ở Kenya Nghiên cứu một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng công cụ đánh giá để xác định nhu cầu tư vấn tại Kenya thay cho các công cụ đánh giá nhu cầu chung ở học sinh, sinh viên Xu hướng này vẫn đang rất được khuyến khích tại các nước Châu Á và Châu Phi

Riêng ở các nước Châu Âu và Châu Mỹ, các nghiên cứu về phát triển thang đo và công cụ đánh giá nhu cầu tư vấn, tư vấn tâm lý học đường đang dần được chú trọng Các công cụ này hỗ trợ rất lớn cho các nhà tư vấn xây dựng mô hình tư vấn, đáp ứng đúng nhu cầu của học sinh, sinh viên như McGannon,

Carey & Dimmitt (2007) có nhận định: “Tư vấn học đường có tiềm lực to lớn

trong việc giúp học sinh, sinh viên đạt các tiêu chuẩn cao hơn trong các lĩnh vực học đường và cuộc sống; điều này phần lớn phụ thuộc vào các công cụ đo lường nhu cầu tư vấn, hỗ trợ tâm lý và các phương pháp cải thiện hành vi của học sinh, sinh viên” (Corey Gerald (1991), Theory and Practice of Counseling and Psychotherapy, Brooks/Cole Publishing Company) (dẫn theo [2])

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

* Xu hướng thứ ba: Nghiên cứu xây dựng các mô hình tư vấn tâm lý học đường thay đổi nội dung, chương trình hoạt động tư vấn học đường

Đây là một xu hướng nghiên cứu mang tính thực tiễn và có ý nghĩa xã hội rất lớn Nhiều mô hình hỗ trợ tâm lý đã và đang được phát triển, mang lại hiệu quả cao tại một số trường đại học và các trường phổ thông

Ở Hoa Kỳ có mô hình tư vấn học sinh dựa trên kinh nghiệm; mô hình tư vấn của Trường Illinois (2007), mô hình tư vấn của Trường đại học tổng hợp Winsconsin (2008) và đặc biệt là mô hình tư vấn chuyển đổi của các tác giả Eschenauer và Chen - Hayes (2005) dành cho các trường học ở đô thị Bên cạnh đó, còn có các mô hình tâm lý học đường như mô hình phân phối dịch vụ tâm lý học trường học 3 tầng (năm 2008), mô hình dịch vụ tư vấn học đường tích hợp và toàn diện (năm 2010)

Ở Pháp đã hình thành một mạng lưới hỗ trợ đặc biệt (RASED) Đây là

mô hình trợ giúp đặc biệt bao gồm những hoạt động cùng nhau phòng ngừa và khắc phục khi GV không có biện pháp thay thế nào Mạng lưới RASED có hai nhiệm vụ chính là phòng ngừa và chỉnh trị, hỗ trợ

Ở Singapore có mô hình Dịch vụ chăm sóc học sinh (Student Care Service - SCS) Ở Trung Quốc có mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần tại các nhà trường cho học sinh các cấp… Các nghiên cứu đã cho thấy được nội dung, đặc điểm, biểu hiện, mức độ của nhu cầu được tư vấn hỗ trợ tâm lý học đường cho học sinh khi học sinh có khó khăn tâm lý Các nghiên cứu này nói chung đều có thể được ứng dụng hiệu quả trong việc xây dựng các chương trình, kế hoạch chẩn đoán, phòng ngừa và can thiệp sớm trong học đường

Hiện nay, Hiệp hội các nhà Tâm lý học đường Hoa Kỳ được xem như nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho các chương trình tư vấn hỗ trợ tâm lý học đường của hầu hết các nước trên thế giới ASCA hiện tại có hơn 23.000 hội viên trên toàn thế giới và là một phân hội của ACA với hơn 60.000 hội viên trên toàn thế giới Các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ tâm lý học đường đã trở nên phổ biến và không thể thiếu được trong các trường học, các cơ sở đào tạo ở Anh, Pháp, Nga, Đức… và nhiều quốc gia khác trên thế giới (dẫn theo [20])

Như vậy, trên thế giới, cùng với bề dày phát triển của hoạt động tư vấn nói chung tư vấn tâm lý học đường nói riêng, các nghiên cứu theo ba khuynh hướng trên đã góp phần giúp các nhà quản lý ở các trường phổ thông, đại học

có cơ sở để tìm các biện pháp tổ chức hoạt động tư vấn tâm lý học đường cho học sinh, sinh viên một cách bài bản, khoa học và hiệu quả nhất

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến hoạt động tư vấn tâm lý học đường Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:

Từ năm 2002 - 2006, tác giả Trần Thị Minh Đức đã công bố khá nhiều công trình nghiên cứu khác nhau có liên quan đến tư vấn, tham vấn tâm lý học đường Đặc biệt, từ những công trình nghiên cứu của mình năm 2016 tác giả xuất bản cuốn: “Giáo trình tham vấn tâm lý” Giáo trình bao gồm 8 chương được nghiên cứu khá công phu, tỉ mỉ về lịch sử hình thành và phát triển ngành tham vấn tâm lý, các lý thuyết tiếp cận cá nhân, các nguyên tắc, quy trình, kỹ năng tham vấn, tư vấn tâm lý học đường Đặc biệt có hệ thống bài tập để luyện tập kỹ năng tham vấn, tư vấn tâm lý học đường Đây là cuốn tài liệu tham khảo quý báu cho các giảng viên, giáo viên các cấp [4]

Năm 2006, tác giả Nguyễn Thị Oanh xuất bản cuốn sách “Tư vấn tâm lý

học đường” được Nhà xuất bản Trẻ phát hành trên toàn quốc Trong nội dung

cuốn sách tác giả cũng chỉ rõ nguyên tắc tư vấn tâm lý học đường, quy trình và

kỹ năng, kỹ thuật cần thiết để tiến hành công tác tư vấn tâm lý Có thể nói cuốn sách này xuất bản cùng với chuyên mục tư vấn học đường do báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh (tác giả Nguyễn Thị Oanh phụ trách) đã nhận được sự hưởng ứng rất nhiệt tình của đông đảo học sinh, phụ huynh và các trường học [15]

Năm 2013, tác giả Nguyễn Công Khanh đã xuất bản cuốn sách “Tư vấn tâm lý tuổi vị thành niên” Nội dung cuốn sách đề cập tới những đặc trưng tâm

lý cơ bản của trẻ tuổi vị thành niên; nghệ thuật giao tiếp ứng xử với bạn bè, cha mẹ; học cách phòng tránh những hiểm họa từ xa; trắc nghiệm tâm lý để tự biết mình Có thể nói cuốn sách là những tư liệu tham khảo rất cần thiết cho các nhà giáo dục và học sinh ở tuổi vị thành niên [12]

Năm 2013, tác giả Trương Thị Hằng đã nghiên cứu: “Biện pháp quản lý

hoạt động tư vấn tâm lý học đường cho học sinh THPT Đinh Tiên Hoàng, quận

Ba Đình, Hà Nội” Công trình nghiên cứu đã chỉ ra những tồn tại trong quản lý

công tác tư vấn tâm lý học đường như: cán bộ quản lý, GV làm công tác tư vấn tâm lý học đường còn thiếu về kỹ năng tư vấn; việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo triển khai, kiểm tra đánh giá hoạt động tư vấn tâm lý học đường còn tồn tại nhiều hạn chế Có 6 nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến thực trạng trên Đồng thời tác giả cũng đề xuất 4 biện pháp nhằm quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường đạt hiệu quả hơn [9]

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Năm 2018, tác giả Đặng Thị Bích Nga nghiên cứu: “Thực trạng quản lí

hoạt động tư vấn học đường ở các trường phổ thông quận 11, thành phố Hồ Chí Minh” Kết quả khảo sát cho thấy, bên cạnh những nội dung quản lí đã thực

hiện tốt, việc quản lí quản lý hoạt động tư vấn học đường (HĐTVHĐ) của hiệu trưởng các trường THPT quận 11, TP Hồ Chí Minh vẫn còn tồn tại những hạn chế như: việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện HĐTVHĐ còn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu, chưa chú trọng đến chuyên ngành của người được tuyển dụng làm công tác TVHĐ, chế độ chính sách cho tư vấn viên và những người làm công tác tư vấn chưa phù hợp, cơ sở vật chất của các phòng tư vấn vẫn chưa được đầu tư đúng mức, chưa thường xuyên chủ động tìm hiểu vấn đề của

HS khi xây dựng nội dung tham vấn Những hạn chế trong công tác quản lí HĐTVHĐ chủ yếu là do nhận thức của CBQL các cấp, các ban ngành về HĐTVHĐ vẫn chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, thiếu sự thống nhất dẫn đến việc quản lí còn mang tính chủ quan, thụ động Những hạn chế này là cơ sở để hiệu trưởng các trường này đề xuất những biện pháp quản lí hiệu quả [14]

Ngoài ra, thời gian gần đây có một số tác giả công bố các công trình

nghiên cứu về vấn đề này cụ thể như: “Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học

đường cho giáo viên ở các trường Tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên”

luận văn tốt nghiệp thạc sỹ Quản lý giáo dục (2018) của tác giả Ngô Xuân

Chiến; “Tổ chức hoạt động hỗ trợ tâm lý học đường ở các trường THCS thành

phố Thái Nguyên” luận văn tốt nghiệp thạc sỹ Quản lý giáo dục (2018) của tác

giả Nguyễn Thị Thắm,

Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau của hoạt động tư vấn tâm lý học đường như: nguyên tắc, nội dung, quy trình tư vấn tâm lý học đường; biện pháp quản lý hoạt động tâm lý học đường cho học sinh… Tuy nhiên, còn rất ít nghiên cứu đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường THPT cấp huyện Qua nghiên cứu này, chúng tôi mong muốn sẽ nghiên cứu sâu hơn và bổ sung thêm những khía

cạnh mới cho vấn đề “Quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các

trường Trung học phổ thông huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai”, nhằm tìm ra

những giải pháp hợp lý mang lại hiệu quả cao trong hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường Trung học phổ thông nói chung, ở các trường Trung học phổ thông huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai nói riêng

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

Trong nghiên cứu khoa học, có hiều quan điểm khác nhau về quản lý, theo những cách tiếp cận khác nhau Có thể điểm qua một vài quan điểm của các nhà nghiên cứu như sau:

- Theo tác giả Pall Hersey và Ken Blanc Hard trong cuốn “Quản lý

nguồn nhân lực” thì “Quản lý như là một quá trình làm việc cùng và thông qua

các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục đích của tổ chức” [16; tr 52]

Theo Harol Koontz trong tác phẩm “Những vấn đề cốt lõi của quản lý”

đã được dịch ra tiếng Việt Nam của nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà Nội

năm 1992 thì: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp

những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức” 10

Theo tác giả Hà Sỹ Hồ thì: “Quản lý là một quá trình hoạt động có định

hướng, có tổ chức, lựa chọn trong các tác động có thể dựa trên các thông tin

về tình trạng của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” 11

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có

kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” 17

Từ những quan niệm trên chúng tôi thấy, ở những góc độ khác nhau có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, quan niệm này phụ thuộc vào cái nhìn chủ quan và tính mục đích hoạt động của hệ thống Nhưng chúng ta có thể hiểu một cách khái quát là: Quản lý một đơn vị (cơ sở sản xuất, cơ quan, trường học,

xí nghiệp…) với tư cách là một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào trong thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt được mục tiêu đề ra Tuy có các cách tiếp nhận khác nhau nhưng trong quá trình nghiên cứu tác giả thấy khái niệm quản lý bao hàm một số ý nghĩa chung đó là:

- Quản lý là các hoạt động để đảm bảo mục đích chung là hoàn thành công việc qua nỗ lực của các cá thể trong tổ chức Đối tượng tác động của quản lý là một hệ thống xã hội hoàn chỉnh như một cơ thể sống gồm nhiều yếu tố liên kết hữu cơ theo một quy luật nhất định tồn tại trong thời gian, không gian cụ thể

- Quản lý là hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo bằng những quyết định đúng quy luật, hợp thời điểm và có hiệu quả của quản lý nhưng cũng phải tuân

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

theo những nguyên tắc nhất định hướng đến mục tiêu đó là đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ và ăn ý những nỗ lực của các cá thể nhằm đạt được mục đích chung của tổ chức hay nói cách khác là nguyên tắc đảm bảo phát huy cao độ năng lực của các cá nhân trong tổ chức để đạt được mục đích chung

- Hệ thống quản lý bao giờ cũng gồm 2 phân hệ là: Chủ thể quản lý và khách thể quản lý (người quản lý và người bị quản lý) Tác động quản lý là tác động có định hướng, có tổ chức mang tính tổng hợp bao gồm nhiều giải pháp khác nhau thông qua cơ chế quản lý để sử dụng có hiệu quả cao nhất nguồn lực sẵn có của tổ chức trong điều kiện nhất định nhằm đảm bảo cho hệ thống ổn định phát triển và đạt được mục tiêu đã định

- Mục tiêu cuối của quản lý là chất lượng sản phẩm vì lợi ích phục vụ con người Người quản lý tựu trung lại là nghiên cứu khoa học nghệ thuật giải quyết các mối quan hệ giữa con người với nhau vô cùng phức tạp không chỉ giữa chủ thể và khách thể trong hệ thống mà còn trong mối quan hệ tương tác với các hệ thống khác nhằm hướng đến mục tiêu chung của tổ chức mình

Như vậy, bản chất của quản lý là một loại lao động để điều khiển lao

động Đó là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể

quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đặt

ra trong điều kiện biến động của môi trường Xã hội ngày càng phát triển các loại hình lao động ngày càng phong phú, phức tạp, tinh vi thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng và quyết định để tổ chức hướng tới đích bằng con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất Với bản chất là một khoa học và nghệ thuật trong việc điều khiển và phối hợp sự nỗ lực của con người vì mục tiêu chung Trong xã hội hiện đại, tính khoa học và nghệ thuật của quản lý được đề cao

Như vậy, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có ý thức, có tính hướng

đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra

1.2.2 Tư vấn tâm lý học đường, hoạt động tư vấn tâm lý học đường

1.2.2.1 Tư vấn tâm lý học đường

* Tư vấn

- Tư vấn - trong tiếng Anh là Consultation - được xem như quá trình tham khảo về lời khuyên hay sự trao đổi quan điểm về vấn đề nào đó để đi đến một quyết định

- Tư vấn trong từ điển tiếng Việt được định nghĩa như là sự phát biểu ý kiến về những vấn đề được hỏi đến, nhưng không có quyền quyết định Hoạt động này phần nhiều diễn ra dưới dạng hỏi và đáp

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Theo tác giả Phùng Thị Hằng, "Tư vấn là đưa ra lời khuyên hoặc đóng

góp ý kiến về những vấn đề được hỏi đến nhưng không có quyền quyết định" [8]

- Tổ chức tư vấn thế giới đưa ra khái niệm: “Tư vấn là một quá trình trợ

giúp dựa trên các kỹ năng, trong đó một người dành thời gian, sự quan tâm và

sử dụng thời gian một cách có mục đích để giúp đỡ thân chủ khai thác tình huống, xác định và triển khai các giải pháp khả thi trong thời gian cho phép”

(dẫn theo [2])

- Theo tác giả Phạm Tất Dong và Nguyễn Như Ất, tư vấn được hiểu là: + Tư vấn là một dịch vụ trí tuệ, một hoạt động “chất xám” cung ứng cho khách hàng những lời khuyên đúng đắn và thích hợp chứ không phải là lời khuyên chung chung với một tình huống, một thời gian nhất định Và những lời khuyên, đóng góp ý kiến nhà tư vấn đưa ra chỉ thích hợp với một tình huống cụ thể, một chủ thể cụ thể tồn tại trong một hoàn cảnh và một thời gian cụ thể chứ nó không thích hợp với một hoàn cảnh khác, một chủ thể khác và một thời gian khác

+ Tư vấn không chỉ đơn thuần là đưa ra lời khuyên mà còn phải chỉ vẽ hướng thực hiện lời khuyên đưa ra sao cho có thể đạt được hiệu quả cao nhất [4]

- Tác giả Vũ Dũng cho rằng: "Tư vấn được định nghĩa là sự phán quyết,

khẳng định của chuyên gia với tư cách một lời khuyên giúp cho chủ thể giải quyết một vấn đề nào đó Tư vấn được hiểu là quá trình tìm hiểu vấn đề của khách hàng, đưa ra các giải pháp và lời khuyên để họ có khả năng tự quyết định một phương án hành động tốt nhất Hiểu theo cách này tư vấn không chỉ giúp cá nhân nâng cao hiểu biết, mà còn là sự hướng dẫn để giúp cá nhân đưa

ra được sự lựa chọn tốt nhất cho vấn đề của họ Với cách tiếp cận này thì tư vấn chính là quá trình đưa ra giải pháp giúp đối tượng được tư vấn giải quyết vấn đề mình đang gặp phải" [6; tr.25]

- Tác giả Chu Liên Anh quan niệm “Tư vấn là sự trợ giúp, trong đó

người tư vấn thông qua mối quan hệ tin cậy, tự nguyện, trao đổi thông tin để cung cấp giải pháp nhằm giúp khách hàng tìm ra phương án tốt nhất giải quyết vấn đề của họ” [1]

Trong khái niệm này, tư vấn có những đặc điểm cụ thể như sau: Tư vấn

là sự trợ giúp về mặt tâm lý, giúp nâng cao khả năng hành động cho cá nhân; mục tiêu của tư vấn là cung cấp giải pháp giải quyết vấn đề; tư vấn là mối quan

hệ tự nguyện, bình đẳng và tin cậy; người thực hiện tư vấn là người có kiến thức về chuyên môn mà họ tiến hành tư vấn, có kỹ năng cũng như các thái độ đạo đức cần thiết của hoạt động; đối tượng được tư vấn là người đang gặp khó

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

khăn trong giải quyết vấn đề và cần có sự trợ giúp Chúng tôi sử dụng khái niệm tư vấn của tác giả Chu Liên Anh làm khái niệm công cụ để tiến hành nghiên cứu

* Tư vấn tâm lý học đường:

Khi đề cập đến tư vấn, hướng dẫn cho học sinh trong trường học, khái niệm thường được nhắc đến là “tư vấn tâm lý học đường”

Theo tác giả Lê Sơn, Lê Hồng Minh, "Tư vấn tâm lý học đường bao gồm cả

ý nghĩa hướng dẫn và tư vấn tâm lý Hướng dẫn, cố vấn, cung cấp thông tin hướng nghiệp: trắc nghiệm, thông tin về kết quả trắc nghiệm tâm lý, tích cách con người, thông tin về thị trường lao động, về thế giới nghề nghiệp liên quan; tư vấn tâm lý, phát triển nhân cách (tư vấn phát triển, lắng nghe, khơi dậy…)" [18]

Theo thời gian và kinh nghiệm, hoạt động hướng nghiệp và tư vấn tâm lý trong nhà trường không chỉ là hoạt động đơn lẻ, mà là hoạt động nhằm xúc tác, thúc đẩy nhiều hoạt động khác trong trường học, dưới sự lãnh đạo giáo dục đặc biệt của hiệu trưởng, dưới hình thức một chương trình tổng thể tư vấn học đường

Tư vấn tâm lý học đường được xem là sự trợ giúp, hướng dẫn của giáo viên đến học sinh trong toàn bộ quá trình giáo dục khi học sinh có mong muốn, nhu cầu được tư vấn hay khi học sinh gặp khó khăn trong học tập, trong tham gia các hoạt động ở trường học

Đối với giáo viên, TVHĐ là một nhiệm vụ của cán bộ quản lý lớp Để thực hiện tốt nhiệm vụ này đòi hỏi giáo viên phải có những kiến thức và kỹ năng nhất định mới có thể thực hiện thành công nhiệm vụ TVHĐ cho học sinh của mình

Như vậy có thể hiểu: Tư vấn tâm lý học đường là quá trình giáo viên trợ

giúp, hỗ trợ học sinh một cách kịp thời thông qua hệ thống các phương pháp, cách thức tư vấn trên cơ sở vận dụng kiến thức và kỹ năng tư vấn phù hợp với từng trường hợp, đối tượng và hoàn cảnh cụ thể, qua đó giúp các em học sinh vượt qua được những khó khăn trong học tập và trong cuộc sống, thu nhận được kiến thức và kỹ năng cần thiết để phát triển nhân cách đáp ứng yêu cầu của xã hội

1.2.2.2 Hoạt động tư vấn tâm lý học đường

Tư vấn tâm lý học đường là một hoạt động Mục đích của hoạt động tư vấn TLHĐ là: trợ giúp người học nhận thức được thế mạnh/tiềm năng của mình để tự giải quyết khó khăn gặp phải; trợ giúp cha mẹ, nhà trường và các tổ chức xã hội trong hoạt động giáo dục, quản lý người học; phát hiện sớm những nguy cơ gặp

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

khó khăn, vướng mắc của học sinh trong học tập, quan hệ xã hội để phòng ngừa thông qua việc xây dựng những chương trình nhằm cải thiện môi trường học tập, quan hệ xã hội trong nhà trường; tác động can thiệp nhằm trợ giúp người học giải quyết những khó khăn nảy sinh trong học tập và cuộc sống Theo đó, thân chủ mà hoạt động tư vấn tâm lý học đường chủ yếu hướng tới là người học, trong đó đặc biệt là học sinh đang hoặc có nguy cơ gặp khó khăn, vướng mắc trong học tập, quan hệ xã hội, định hướng nghề nghiệp ; ngoài ra còn có cha mẹ, các tổ chức xã hội gặp khó khăn trong hoạt động quản lý, giáo dục học sinh hoặc hoạt động phối hợp thực hiện các hoạt động quản lý, giáo dục người học

Như vậy, có thể hiểu: Hoạt động tư vấn tâm lý học đường là hoạt động

trợ giúp người học nâng cao năng lực tự giải quyết khó khăn trong học tập, quan hệ xã hội, định hướng nghề nghiệp; ngoài ra còn trợ giúp cha mẹ học sinh, nhà trường và các tổ chức xã hội trong giáo dục người học; phát hiện sớm và phát triển các chương trình phòng ngừa, can thiệp thích hợp hướng đến thực hiện các mục tiêu giáo dục trong nhà trường

1.2.3 Quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường

Từ các khái niệm: Quản lý, quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường

đã nêu ở trên, có thể hiểu: Quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường là sự tác

động có ý thức của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng nhà trường) đến hoạt động tư vấn tâm lý học đường, nhằm trợ giúp người học nâng cao năng lực tự giải quyết khó khăn trong học tập, quan hệ xã hội, định hướng nghề nghiệp; trợ giúp cha mẹ học sinh, nhà trường và các tổ chức xã hội trong giáo dục người học; phát hiện sớm và phát triển các chương trình phòng ngừa, can thiệp thích hợp hướng đến thực hiện các mục tiêu giáo dục trong nhà trường

Hiệu trưởng trên cơ sở nắm vững các chủ trương của Bộ GD&ĐT về việc tổ chức TVTL cho học sinh ở trường THPT để đi đúng hướng, mềm hóa nội dung, đa dạng hóa về hình thức, thực hiện từng bước việc quản lý HĐTVTL cho học sinh tại trường theo các nội dung sau: Nâng cao nhận thức

về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của HĐTVTL; Xây dựng kế hoạch quản lý HĐTVTL và kế hoạch hoạt động; Tổ chức, chỉ đạo HĐTVTL; Kiểm tra đánh

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

giá kết quả HĐTVTL; Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tham gia vào Tổ tư vấn tâm

lý và Ban quản lý HĐTVTL; Xây dựng điều kiện quản lý HĐTVTL

1.3 Hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT

1.3.1 Một số đặc điểm tâm lý của học sinh THPT

Tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh, ở thời kỳ này học sinh đã có khả năng tư duy lý luận, trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo Những năng lực như phân tích, so sánh, tổng hợp cũng phát triển

Bên cạnh những đặc điểm thuận lợi về hoạt động nhận thức thì học sinh THPT còn gặp phải những khó khăn tâm lý trong học tập như: khó tập trung nghe giảng, khó tiếp thu bài, khó khăn trong việc ghi nhớ, khó khăn trong việc vận dụng kiến thức đã học… Những khó khăn về mặt nhận thức kể trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học tập của các em

1.3.1.2 Đặc điểm phát triển về tự ý thức

Tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của học sinh trung học phổ thông, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này

Sự tự ý thức của học sinh THPT được biểu hiện ở nhu cầu tìm hiểu và tự đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo các chuẩn mực đạo đức của xã hội, theo quan điểm về mục đích cuộc sống Điều này khiến học sinh quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, những phẩm chất nhân cách và năng lực riêng, cũng như tự đánh giá khả năng của mình

Giai đoạn này, học sinh không chỉ tự ý thức về cái tôi của mình mà cong nhận thức vị trí của mình trong tương lai Xuất hiện khuynh hướng phân tích và

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

tự đánh giá bản thân mình một cách độc lập Học sinh THPT có nguyện vọng thể hiện cá tính của mình trước mọi người một cách độc đáo, tìm cách đề người khác quan tâm đến mình hoặc làm điều gì đó nổi bật

Bên cạnh đó, sự phát triển tự ý thức cũng làm xuất hiện ở học sinh THPT những khó khăn từ chính bản thân: khó khăn trong giao tiếp, mặc cảm tự ti về bản thân, đánh giá thấp bản thân, cảm thấy buồn rầu…

1.3.1.3 Đặc điểm phát triển về tình cảm

Đặc điểm tình cảm của học sinh Trung học phổ thông rất phong phú Đặc điểm phát triển tình cảm thể hiện rõ nét trong tình bạn của các em, vì đây là lứa tuổi mà những hình thức đối xử có lựa chọn đối với mọi người trở nên sâu sắc

và mặn nồng

Ở lứa tuổi này nhu cầu về tình bạn, tâm tình cá nhân được tăng lên rõ rệt Tình bạn sâu sắc đã được thể hiện bắt đầu từ tuổi thiếu niên, nhưng sang tuổi này tình bạn của các em trở nên sâu sắc hơn nhiều Các em có yêu cầu cao hơn đối với tình bạn: yêu cầu sự chân thật, lòng vị tha, sự tin tưởng,tôn trọng lẫn nhau, sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau, hiểu biết lẫn nhau Trong quan hệ với bạn, các

em cũng nhạy cảm hơn: không chỉ có khả năng xúc cảm chân tình, mà còn phải

có khả năng đáp ứng lại xúc cảm của người khác (đồng cảm)

Tình bạn lứa tuổi này rất bền vững Tình bạn ở lứa tuổi này có thể vượt qua mọi thử thách và có thể kéo dài suốt cuộc đời

Ở lứa tuổi 15, 16 nam nữ thanh niên đều coi tình bạn là những mối quan

hệ quan trọng nhất của con người Bên cạnh tính bền vững, tình bạn của các em còn mang tính xúc cảm cao Thanh niên thường lý tưởng hoá tình bạn Các em nghĩ về bạn thường với điều mình mong muốn ở bạn hơn là thực tế Sự quyến luyến mạnh mẽ về mặt cảm xúc khiến các em ít nhận thấy những đặc điểm thực

tế ở bạn

Ở thanh niên mới lớn, sự khác biệt giữa các cá nhân trong tình bạn rất rõ Quan niệm của thanh niên về tình bạn và mức độ thân tình trong tình bạn có sự khác nhau Nguyên nhân kết bạn cũng rất phong phú (vì phẩm chất tốt ở bạn, vì tính tình tương phản, vì có hứng thú, sở thích chung…)

Một điều cần chú ý nữa là ở thanh niên mới lớn, quan hệ giữa thanh niên nam nữ tích cực hoá một cách rõ rệt Phạm vi quan hệ bạn bè được mở rộng Bên cạnh các nhóm thuần nhất, có khá nhiều nhóm pha trộn (cả nam và nữ) Do vậy, nhu cầu về tình bạn với các bạn khác giới được tăng cường Và ở một số em đã xuất hiện những lôi cuốn đầu tiên khá mạnh mẽ, xuất hiện nhu

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

cầu chân chính về tình yêu và tình cảm sâu sắc Tình yêu nam nữ, một loại tình cảm rất đặc trưng, bắt đầu xuất hiện ở độ tuổi này Dễ quan sát thấy những biểu hiện của sự phải lòng, thậm chí có sự xuất hiện những mối tình đầu đầy lãng mạn Những biểu hiện của loại tình cảm này nhìn chung rất phức tạp, không đồng đều

Theo những nghiên cứu về giới tính, người ta thấy rằng các em gái bộc

lộ sớm hơn các em trai, ít lúng túng hơn và cũng thường gặp ít những xung đột hơn, trong khi ở các em trai biểu hiện của tình cảm khác giới này thường thể hiện sự khó khăn, lúng túng Sự không đồng đều còn thể hiện ở chỗ trong khi một số em bộc lộ mạnh mẽ nhu cầu đối với người khác giới thì nhiều em khác vẫn tỏ ra thờ ơ, bình chân như vại Điều này không chỉ phụ thuộc vào yếu tố phát dục, trưởng thành mà còn phụ thuộc nhiều vào kế hoạch đường đời của mỗi cá nhân con người trẻ tuổi, phụ thuộc vào điều kiện giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội

Một điều rất rõ mà khoa học và thực tiễn cuộc sống đã khẳng định lại ở

độ tuổi này, sự chín muồi về sinh lý, về tình dục đã đi trước một bước, còn sự trưởng thành về tâm lý, về xã hội, kinh nghiệm sống chậm hơn nhiều Bởi vậy, những điều kiện cần và đủ cho việc đi vào cuộc sống tình yêu nam nữ ở độ tuổi này chưa được hội tụ Đó cũng là lý do chủ yếu giải thích tại sao nhiều mối tình đầu ở giai đoạn này dễ bị tan vỡ, dễ bị trở thành bi kịch Trong điều kiện gia đình, nhà trường và xã hội là những môi trường tốt, lành mạnh, trong sáng, những biểu hiện của tình yêu nam - nữ ban đầu ở độ tuổi đầu thành niên thường trở thành những kỷ niệm đẹp, một sự tập dượt nhẹ nhàng cho một mối tình đằm thắm, sâu sắc sau này trong cuộc sống của họ

Bên cạnh đó, ở học sinh Trung học phổ thông cũng bắt đầu lộ rõ hơn nhiều tình cảm đạo đức như khâm phục, kính trọng những con người dũng cảm, kiên cường, coi trọng những giá trị đạo đức cũng như lương tâm Các em có mong muốn làm được một điều gì đó mang lại lợi ích cho mỗi người, thể hiện sức mạnh thanh xuân của mình Những tình cảm cao đẹp khác về trí tuệ, thẩm

mĩ cũng được hình thành một cách khá sâu sắc Nhiều em say mê văn học nghệ thuật hoặc những môn khoa học khác nhau và phấn đấu vì nó một cách không mệt mỏi

Bên cạnh những mặt thuận lợi kể trên, học sinh THPT cũng gặp không ít khó khăn trong sự phát triển tình cảm, đó là những khó khăn tâm lý trong các

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

mối quan hệ: khó khăn trong các mối quan hệ giữa cá nhân với bạn bè, với thầy/cô giáo, với cha mẹ…

Từ những đặc điểm tâm lý kể trên có thể thấy trong sự phát triển tâm lý của học sinh THPT các em còn có những khó khăn nhất định, những khó khăn này có liên quan mật thiết đến nội dung, hình thức hoạt động tư vấn tâm lý học đường

1.3.2 Tầm quan trọng của hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT

Hoạt động tư vấn tâm lý học đường có vai trò rất quan trọng đối với bản thân học sinh, gia đình, nhà trường và xã hội

- Đối với bản thân học sinh: Nhờ có hoạt động tư vấn tâm lý, học sinh

hình thành được năng lực hiểu tâm lý, hiểu sức khỏe tâm thần của bản thân; được tham gia các hoạt động rèn luyện kỹ năng tự chăm sóc và ứng phó với các khó khăn tâm lý ở từng giai đoạn lứa tuổi; được trang bị một số kiến thức, kỹ năng để nhận diện những dấu hiệu bất thường về tâm lý và biết cách tìm nơi trợ giúp hoặc báo tin cho với cha mẹ, thầy cô, bạn bè

- Đối với gia đình: Hoạt động tư vấn tâm lý học đường là cầu nối giữa

học sinh, giáo viên, bạn bè với gia đình học sinh Nhờ có hoạt động tư vấn tâm lý, phụ huynh học sinh hiểu được những đặc điểm tâm lý đặc trưng của học sinh, biết phát hiện những khó khăn về tâm, sinh lý của các em, từ đó biết phối hợp với các lực lượng có liên quan trong những hoạt động như phòng ngừa khó khăn tâm lý, can thiệp sớm hoặc can thiệp chuyên sâu cho

học sinh trong một số trường hợp cần thiết

- Đối với nhà trường: Hoạt động tư vấn tâm lý học đường hướng vào

việc tư vấn cho ban giám hiệu nhà trường về định hướng các hoạt động giáo dục trong nhà trường thông qua việc cung cấp những thông tin khảo sát thực trạng, những kết quả thu được từ các nghiên cứu tại các trường; tư vấn cho giáo viên trong việc phối hợp với phụ huynh học sinh và các lực lượng khác

để tiến hành các hoạt động phòng ngừa, phát hiện sớm hoặc can thiệp chuyên sâu cho học sinh Các hoạt động hỗ trợ tâm lý góp phần tạo tiếng nói chung, kết nối nguồn lực của toàn trường trong định hướng giáo dục học sinh

- Đối với xã hội: Hoạt động tư vấn tâm lý học đường trong trường học

giúp học sinh kịp thời phòng tránh hoặc can thiệp sớm nhằm tháo gỡ các khó khăn, rối nhiễu tâm lý cho các em, từ đó góp phần tạo động lực và củng cố thái

độ cho học sinh trong việc triển khai nhiều hoạt động trong cộng đồng xã hội, đồng thời góp phần ngăn chặn, hạn chế và xóa bỏ các tệ nạn xã hội, giảm chi phí của xã hội trong giáo dục

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.3.3 Mục đích, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT

1.3.3.1 Mục đích của hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT

Mục đích của hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT được

quy định tại Điều 3 Thông tư 31/2017/TT-BGDĐT về hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lý cho học sinh trong trường phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, cụ thể như sau:

- Phòng ngừa, hỗ trợ và can thiệp (khi cần thiết) đối với học sinh đang gặp phải khó khăn về tâm lý trong học tập và cuộc sống để tìm hướng giải quyết phù hợp, giảm thiểu tác động tiêu cực có thể xảy ra; góp phần xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện và phòng, chống bạo lực học đường

- Hỗ trợ học sinh rèn luyện kỹ năng sống; tăng cường ý chí, niềm tin, bản lĩnh, thái độ ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ xã hội; rèn luyện sức khỏe thể chất và tinh thần, góp phần xây dựng và hoàn thiện nhân cách

Để đạt được mục đích trên, dựa theo thông tư số 31/2017/TT-BGDĐT, ban hành ngày 18/12/2017 hướng dẫn các trường phổ thông triển khai thực hiện công tác, hỗ trợ, tư vấn tâm lý học đường cho học sinh chủ thể tư vấn bao gồm:

Ban giám hiệu, giáo viên làm công tác tư vấn tâm lý học đường

1.3.3.2 Nội dung của hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT

Theo thông tư số 31/2017/TT-BGDĐT, ban hành ngày 18/12/2017 hướng dẫn các trường phổ thông triển khai thực hiện công tác, hỗ trợ, tư vấn

tâm lý học đường cho học sinh gồm các nội dung sau:

- Tư vấn tâm lý lứa tuổi, giới tính, hôn nhân, gia đình, sức khỏe sinh sản

vị thành niên phù hợp với lứa tuổi

- Tư vấn, giáo dục kỹ năng, biện pháp ứng xử văn hóa, phòng, chống bạo

lực, xâm hại và xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện

- Tư vấn tăng cường khả năng ứng phó, giải quyết vấn đề phát sinh trong

mối quan hệ gia đình, thầy cô, bạn bè và các mối quan hệ xã hội khác

- Tư vấn kỹ năng, phương pháp học tập hiệu quả và định hướng nghề nghiệp

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Tư vấn tâm lý đối với học sinh gặp khó khăn cần hỗ trợ, can thiệp, giải quyết kịp thời Giới thiệu, hỗ trợ đưa học sinh đến các cơ sở, chuyên gia điều trị tâm lý đối với các trường hợp học sinh bị rối loạn tâm lý nằm ngoài khả năng tư

vấn của nhà trường

1.3.3.3 Phương pháp tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT

- Phương pháp đàm thoại (trò chuyện): Đàm thoại là phương pháp tư

vấn trong đó tư vấn viên trò chuyện với học sinh về vấn đề có liên quan đến những khó khăn mà học sinh đang gặp phải bằng hệ thống câu hỏi do tư vấn viên chuẩn bị trước

Phương pháp đàm thoại giúp tư vấn viên thiết lập được mối quan hệ với

học sinh, hiểu học sinh; giúp học sinh bày tỏ tình cảm, bộc lộ được vấn đề đang gặp phải và khám phá được tiềm năng của bản thân để giải quyết vấn đề, qua đó tư vấn viên hiểu được các vấn đề học sinh đang gặp phải để trợ giúp tích cực

Khi thực hiện cần xác định rõ mục đích, yêu cầu trò chuyện Đặt câu hỏi/ nêu vấn đề để học sinh suy nghĩ, bộc lộ sự hiểu biết, kinh nghiệm, từ đó phát hiện ra các khía cạnh có liên quan đến vấn đề cần giải quyết

Tạo môi trường giao tiếp tích cực để học sinh chia sẻ thông tin; lắng nghe ý kiến của học sinh, phản hồi nội dung và xúc cảm một cách phù hợp; khích lệ học sinh suy nghĩ và trao đổi để đạt được mục đích của quá trình trò chuyện Kết thúc đàm thoại, thân chủ quyết định được phương pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề của bản thân

- Phương pháp quan sát: Đây là phương pháp tư vấn viên dựa trên tri

giác có chủ định nhằm xác định các đặc điểm tâm lý của học sinh qua hành vi,

cử chỉ, hành động, xúc cảm của học sinh

Phương pháp này cho phép tư vấn viên nắm được những biểu hiện về diễn biến tâm lý của học sinh trong quá trình trò chuyện, từ đó có sự điều chỉnh

về cách thức tác động đến học sinh sao cho phù hợp

Để quan sát có hiệu quả tư vấn viên cần có tư thế và cử chỉ thể hiện sự chăm chú, tập trung và tôn trọng học sinh, thông qua đó mà đoán biết được suy nghĩ của học sinh, biết được trạng thái tâm lý của học sinh, cụ thể:

Khi quan sát, cần hướng ánh mắt về phía học sinh, nghiêng người về phía trước để các em thấy sự quan tâm và chăm chú Đồng thời cần phải có cử chỉ phù hợp, chẳng hạn, gật đầu hoặc lắc đầu khi cần thiết…

Duy trì cuộc nói chuyện bằng cách đặt câu hỏi, tìm kiếm từ học sinh nhiều thông tin hơn bằng cách nhắc lại một số câu mà học sinh đã nói

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Phản hồi một cách tích cực và thích hợp

Không ngắt lời học sinh mà phải chọn đúng thời điểm hợp lý, tránh tạo

ức chế cho học sinh khi các em đang chia sẻ vấn đề của mình

Sử dụng sự im lặng để khuyến khích học sinh tiếp tục chia sẻ Việc ngưng lại và im lặng khi cần thiết thể hiện rằng tư vấn viên quan tâm đến học sinh, nhờ đó, kích thích sự chia sẻ đầy đủ của học sinh trong suốt quá trình trò chuyện chuyện

- Phương pháp kể chuyện: Kể chuyện là phương pháp tư vấn viên dùng

lời nói, điệu bộ, nét mặt để thuật lại một cách sinh động một câu chuyện có liên quan đến vấn đề của học sinh để giúp học sinh nhìn nhận vấn đề của bản thân trên cơ sở sự phân tích, đánh giá về các cách giải quyết vấn đề trong trong câu chuyện

Thông qua nội dung chuyện kể và cách thức kể chuyện của tư vấn viên

sẽ hình thành và phát triển được những cảm xúc tích cực và niềm tin đúng đắn

ở học sinh; giúp học sinh học tập được những cách thức giải quyết tích cực dựa trên sự phân tích và đánh giá vấn đề

Chuyện kể phải phù hợp với mục đích tư vấn, đặc điểm tâm lý của học sinh, gần gũi với đời sống thực tiễn của học sinh.Những câu chuyện được kể có thể do sáng táchoặc được viết theo các sách/báo, hoặc được sưu tầm từ đời sống thực tiễn

Giúp học sinh phân tích, đánh giá, liên hệ và rút ra những bài học bổ ích cho bản thân từ nội dung câu chuyện Tư vấn viên có thể nêu một số câu hỏi hoặc vấn đề để định hướng chú ý và dẫn dắt tư duy có chủ định ở học sinh; yêu cầu học sinh dự đoán về diễn biến của câu chuyện, cách xử lý tình huống của nhân vật trong câu chuyện…

- Phương pháp đóng vai và xử lý tình huống: Đây là phương pháp tư vấn

trong đó tư vấn viên tổ chức cho học sinh thực hành (làm thử) một số cách ứng

xử trong tình huống giả định

Phương pháp này giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà học sinh quan sát được Từ sự trải nghiệm, quan sát và đánh giá tình huống, học sinh được rèn luyện về những kỹ năng giải quyết các vấn đề của bản thân mình

Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề tư vấn, đặc điểm lứa tuổi, vốn kinh nghiệm sống của học sinh, hoàn cảnh tư vấn; đồng thời tình huống cần

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

để mở và phải có nhiều cách giải quyết để học sinh tự tìm ra phương án và cách ứng xử phù hợp

Sau khi đóng vai và kết thúc tình huống, học sinh thảo luận về các hành động của mỗi nhân vật, đồng thời suy nghĩ về những câu hỏi đặt ra như: Vấn đề cần phải giải quyết trong tình huống đó là gì? Nguyên nhân nào dẫn đến khó khăn, vướng mắc của nhân vật trong tình huống? Có thể có những cách giải quyết nào đối với vấn đề của nhân vật? Từ đó, tư vấn viên gợi dẫn học sinh đưa ra các biện pháp giải quyết vấn đề có hiệu quả, đồng thời thảo luận về những khía cạnh phù hợp trong những biện pháp khác nhau

- Phương pháp trực quan: Đây là phương pháp tư vấn viên sử dụng

những phương tiện trực quan, phương tiện kỹ thuật trong quá trình tư vấn, nhằm giúp học sinh nhận diện vấn đề và tự phân tích bản thân, từ đó đưa ra các biện pháp giải quyết khó khăn mà bản thân đang gặp phải

Phương pháp trực quan có thể được sử dụng với các hình thức như minh họa, trình bày gắn liền với việc tư vấn viên sử dụng phim, băng hình video về những nội dung tư vấn; hoặc gợi dẫn học sinh thể hiện suy nghĩ, quan điểm của bản thân ra hình vẽ, cách thức sắp xếp đồ vật…

Hình thức minh họa hoặc trình bày giúp học sinh học tập được những cách thức giải quyết vấn đề cụ thể, từ đó hình thành kinh nghiệm cho bản thân Với hình thức gợi dẫn học sinh thể hiện suy nghĩ của bản thân ra hình vẽ hoặc cách thức sắp xếp đồ vật, tư vấn viên có thể hiểu được những khía cạnh thuộc chiều sâu vô thức, nguyên nhân dẫn đến khó khăn tâm lý ở học sinh…

Lựa chọn phương tiện (tranh, ảnh, video) phù hợp với mục đích, nội dung tư vấn, phản ánh trung thực nội dung tư vấn; chuẩn bị phương án giải thích rõ ràng nhất về những hiện tượng, diễn biến quá trình và kết quả

Dựa trên quá trình quan sát của học sinh, tư vấn viên dẫn dắt học sinh suy nghĩ, từ đó rút ra những mối liên hệ trực tiếp với vấn đề của bản thân mình, đồng thời giúp học sinh rút ra kết luận, khái quát thành kinh nghiệm cá nhân

Lựa chọn hình thức phù hợp để học sinh tự thể hiện suy nghĩ của bản thân ra hình vẽ hoặc sự sắp xếp đồ vật Chẳng hạn, với hình thức vẽ tranh tự

do, tư vấn viên yêu cầu học sinh thể hiện suy nghĩ, mong muốn của bản thân ra hình vẽ, sau đó yêu cầu học sinh nói về ý nghĩa của những hình vẽ đó Với hình thức sắp xếp các con vật theo suy nghĩ chủ quan, tư vấn viên có thể sử dụng bộ con giống bao gồm nhiều con vật khác nhau, yêu cầu học sinh lựa chọn các con vật tượng trưng cho từng thành viên trong gia đình hoặc những người có liên

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

quan đến cuộc sống của học sinh, sau đó yêu cầu học sinh sắp xếp các con vật theo trình tự nhất định, phù hợp với suy nghĩ chủ quan.Tư vấn viên có thể tìm hiểu các mối quan hệ gia đình, quan hệ cá nhân của học sinh thông qua sự sắp xếp này Để tiếp tục tìm hiểu về nhu cầu, nguyện vọng của học sinh đối với các mối quan hệ gia đình và quan hệ cá nhân, tư vấn viên có thểyêu cầu học sinh thay đổi cách sắp xếp các con vậttheo mong muốn của bản thân mình…

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Là phương pháp thu thập thông

tin về học sinh trên diện rộng thông qua hệ thống câu hỏi được chuẩn bị trước Trong tư vấn học đường, phương pháp điều tra được sử dụng để khảo sát nhu cầu tư vấn, vấn đề đang gặp phải và cách thức học sinh đã sử dụng để giải quyết vấn đề của bản thân

Giúp học sinh nhận thức rõ về khó khăn tâm lý, thế mạnh và hạn chế của bản thân trong học tập và các mối quan hệ - giao tiếp; những cách thức đã sử dụng để khắc phục khó khăn; giúp tư vấn viên có hiểu biết ban đầu về nhu cầu

tư vấn của học sinh; các vấn đề học sinh đang gặp phải

Xây dựng phiếu điều tra bao gồm các câu hỏi đóng hoặc câu hỏi mở nhằm thu thập thông tin cần thiết về vấn đề cần tư vấn của học sinh

Triển khai việc lấy thông theo nội dung phiếu một cách khách quan, dành

đủ thời gian cho việc chia sẻ các quan điểm, ý kiến các nhân về các nội dung được gợi ý trong phiếu

Tiến hành tổng hợp, hệ thống hóa thông tin theo vấn đề đã xây dựng; phân tích và phân loại thông tin phục vụ cho các mục đích tư vấn

1.3.3.4 Hình thức tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT

* Căn cứ theo tính chất tư vấn tâm lý:

- Tư vấn trực tiếp: Là hình thức tư vấn trong đó tư vấn viên và học sinh

trò chuyện với nhau không qua môi trường trung gian Việc chọn địa điểm để

tư vấn trực tiếp được vận dụng linh hoạt, có thể ở phòng làm việc của tổ bộ môn, một địa điểm phù hợp trong khuôn viên trường, phòng tư vấn của trường

Tư vấn trực tiếp có thể diễn ra theo các hình thức:

Tư vấn trực tiếp tại trung tâm tư vấn: Đây là hình thức tư vấn viên và học sinh đối thoại trực diện Hình thức này được đánh giá là có hiệu quả nhất, bởi

vì, thông qua hình thức này tư vấn viên có thể khám phá chiều sâu vô thức và những xúc cảm phức tạp của học sinh, từ đó, có thể hiểu sâu sắc hơn về những khó khăn tâm lý của học sinh Hình thức này đòi hỏi tư vấn viên phải sử dụng phối hợp và linh hoạt các kỹ năng tư vấn để hỗ trợ học sinh.Với hình thức này,

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

nguyên tắc giữ bí mật thông tin tuyệt đối được thực hiện Có thể sử dụng hình thức này cho tư vấn cá nhân hoặc tư vấn nhóm

Tư vấn trực tiếp trước lớp: Với hình thức này,việc tư vấn diễn ra tại lớp học, trong không gian của lớp học Hình thức này thường phù hợp với nhu cầu

tư vấn của nhóm nhỏ học sinh (lớp học)

Tư vấn trước toàn trường: Tư vấn diễn ra trong buổi tập trung trên sân trường, hội trường Hình thức này thường phù hợp với nhu cầu tư vấn của nhóm lớn học sinh (học sinh toàn trường)

- Tư vấn gián tiếp: Đây là hình thức tư vấn viên và học sinh không đối

thoại trực tiếp mà thông qua yếu tố trung gian như báo, đài, điện thoại, internet… Với những hình thức này, thông tin có tính chất một chiều, các kỹ năng tư vấn không được huy động sử dụng một cách có hiệu quả Chẳng hạn, với hình thức tư vấn qua báo (báo Tiền phong, Sinh viên, Phụ nữ…), học sinh THCS có thể viết ra những băn khoăn, thắc mắc về tình yêu, tình bạn khác giới,… từ đó học sinh có thể nhận được sự giải đáp thông qua báo chí Với hình thức này nguyên tắc giữ bí mật thông tin không được thực hiện tuyệt đối.Hoặc với hình thức tư vấn qua đài truyền hình, những vấn đề mà học sinh thường gặp khó khăn sẽ được các chuyên gia tâm lý phân tích và bàn luận về cách giải quyết Chẳng hạn, thông qua các chương trình của Đài truyền hình Việt Nam như: Chương trình Người xây tổ ấm, Văn hóa ứng xử, Cửa sổ tình yêu… Cũng giống như hình thức tư vấn qua báo, hình thức tư vấn qua đài không đảm bảo được nguyên tắc giữ bí mật thông tin…

Dù là tư vấn trực tiếp hay gián tiếp, mục tiêu cuối cùng của các hình thức

tư vấn nêu trên vẫn hướng đến lợi ích của học sinh đang được tư vấn

* Căn cứ theo đối tượng tư vấn:

- Tư vấn cá nhân: Là quá trình trao đổi mang tính bí mật giữa tư vấn viên

và cá nhân người được tư vấn (học sinh, giáo viên, phụ huynh…) nhằm giải quyết các vấn đề có liên quan đến học sinh như xúc cảm (lo sợ, chán nản, đau

khổ…), vấn đề nạo thai, bị hành hung, hăm doạ, cưỡng bức

- Tư vấn nhóm: Là hình thức tư vấn dành cho các học sinh hoặc các đối

tượng khác nhau nhưng có cùng nhu cầu, cùng mối quan tâm Tư vấn nhóm tạo

ra sự hỗ trợ nhóm đối với mỗi cá nhân, hoặc cung cấp sự hỗ trợ xã hội cho mỗi

nhóm Thông qua tư vấn nhóm, có thể đạt được một mục đích chung nào đó

- Tư vấn gia đình: Là hình thức tư vấn viên trò chuyện, thảo luận cùng

với cá nhân học sinh và các thành viên trong gia đình về những vấn đề của gia

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

đình có liên quan đến khó khăn tâm lý ở học sinh Hình thức này giúp tư vấn viên hiểu được nguyên nhân của những khó khăn tâm lý ở học sinh, hiểu được cách nhìn nhận của mỗi thành viên trong gia đình về vấn đề thảo luận, từ đó tìm kiếm các biện pháp hỗ trợ học sinh một cách phù hợp

* Căn cứ theo chủ thể tham gia hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT

Trong trường học, nhiều lực lượng có thể tham gia phối hợp hỗ trợ tâm

lý học đường, tùy từng trường hợp và cơ cấu tổ chức của nhà trường mà các chủ thể tham gia hỗ trợ tâm lý có thể khác nhau

- Tư vấn tâm lý chuyên nghiệp: Chủ thể tư vấn là nhà tư vấn chuyên

nghiệp, đó là các nhà tâm lý giáo dục, các chuyên viên tâm lý học đường Đây

là lực lượng chính trong việc chăm sóc sức khỏe tâm lý của học sinh nói riêng

và hỗ trợ các vấn đề về tâm lý - giáo dục cho các đối tượng trong nhà trường nói chung

- Tư vấn tâm lý không chuyên nghiệp: Chủ thể là nhà tư vấn không

chuyên nghiệp, đó là giáo viên chủ nhiệm, giáo viên giảng dạy bộ môn, giáo viên làm công tác Đoàn thanh niên, ban giám hiệu, gia đình, hội phụ huynh học sinh và các lực lượng khác có liên quan như tổ y tế, tổ bảo vệ… Đây là lực lượng chưa được đào tạo cơ bản về tâm lý giáo dục hay tư vấn tâm lý; họ thực hiện chức năng hỗ trợ tâm lý học đường với tư cách là chức năng thứ hai sau chức năng giáo dục và hỗ trợ cho hoạt động giáo dục

Để hoạt động hỗ trợ tâm lý có hiệu quả, các chủ thể tham gia vào hoạt động này phải hiểu rõ và thống nhất về quy trình làm việc, nguyên tắc phối hợp

và nội dung công việc

1.4 Quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT

1.4.1 Lập kế hoạch quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT

Để việc quản lý hoạt động TVTL học đường có hiệu quả, Hiệu trưởng phải lập kế hoạch cho quá trình quản lý hoạt động TVTL học đường Lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu phát triển giáo dục và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó Để thực hiện chức năng kế hoạch, Hiệu trường THPT cần xác định rõ mục tiêu phát triển giáo dục từ đó quyết định dùng những biện pháp mang tính khả thi

Chức năng lập kế hoạch có vai trò khởi đầu, định hướng cho quá trình quản lý; là cơ sở huy động tối đa các nguồn lực; là căn cứ cho việc kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện các mục tiêu

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Việc xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường là một nội dung quan trọng của công tác quản lý của Hiệu trưởng Kế hoạch xây dựng cụ thể, chi tiết, phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường sẽ giúp việc thực hiện kế hoạch dễ dàng và mang lại kết quả cao Bản kế hoạch hướng tới các nội dung sau:

- Xác định mục tiêu, kế hoạch của hoạt động tư vấn tâm lí học đường Cần chỉ ra hoạt động tư vấn học đường của giáo viên nhằm vào đối tượng nào,

HS thu nhận được những kiến thức, kỹ năng và có thái độ như thế nào Từ đó, xây dựng kế hoạch cụ thể cho hoạt động tư vấn tâm lý học đường

- Dự kiến các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực và thời gian) cho hoạt động tư vấn tâm lý học đường Đây là công việc chuẩn bị về lĩnh vực tổ chức nhằm định hướng được chọn ai, ở đâu để làm tư vấn viên, chi phí cho mọi hoạt động tư vấn tâm lý học đường sẽ ở nguồn nào, tài liệu và phương tiện vật chất khác (như hội trường máy móc thiết bị, ) được khai thác ở đâu, thời lượng để thực hiện chương trình tư vấn tâm lý học đường và tổ chức vào thời gian nào trong năm học,

- Dự kiến các biện pháp và hình thức tổ chức tư vấn tâm lý học đường cho học sinh Mỗi nội dung tư vấn tâm lý học đường cần có biện pháp và hình thức tổ chức phù hợp Khi thực hiện hoạt động tư vấn tâm lý học đường cần có những dự kiến cụ thể cho hoạt động Chẳng hạn như: tư vấn cho học sinh trực tiếp hay gián tiếp; tư vấn theo nhóm hay từng cá nhân; dùng biện pháp nào để

tư vấn, biện pháp đánh giá như thế nào?

- Xác định đặc điểm của môi trường học đường và dự đoán những khó khăn tâm lí của học sinh

- Xây dựng cơ chế phối hợp các lực lượng giáo dục trong việc quản lý hoạt động TVTL học đường

- Duyệt kế hoạch, chương trình, nội dung hoạt động tư vấn tâm lý học đường

1.4.2 Tổ chức triển khai hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT

Sau khi kế hoạch được đề ra, quản lý hoạt động TVTL học đường theo kế hoạch đã xây dựng Tổ chức là thước đo năng lực điều hành hoạt động tư vấn tâm

lý học đường của Hiệu trưởng Tổ chức là quá trình Hiệu trưởng tiếp nhận, phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực và các nguồn lực khác theo những cách thức nhất định để thực hiện tốt các mục tiêu của hoạt động tư vấn tâm lý học đường

Quá trình tổ chức nhằm hiện thực hóa các mục tiêu của hoạt động TVTL học đường Quá trình này bao gồm những nội dung như sau:

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

* Xây dựng đội ngũ giáo viên thực hiện tư vấn tâm lí học đường bao gồm: Tổ tư vấn tâm lí, giáo viên chủ nhiệm, tổ trưởng chuyên môn, Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh

- Thành lập tổ tư vấn học đường:

+ Tuyển dụng hoặc lựa chọn và quy hoạch những giáo viên đủ năng lực, phẩm chất và trình độ chuyên môn đạt chuẩn theo quy định của từng bậc học, các ngành sư phạm hoặc khoa tâm lý giáo dục, am hiểu lĩnh vực tâm lý lứa tuổi, có kỹ năng và phương pháp công tác xã hội, được học sinh tin yêu, có khả năng tham gia công tác hỗ trợ tâm lý trong trường học; Tổ chức, phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhà trường trong hoạt động tư vấn tâm lý học đường cho học sinh;

+ Thực hiện chế độ chính sách cho những người làm công tác TVTL học đường Khuyến khích những người làm công tác TVTL học đường tham gia các lớp học bồi dưỡng bổ sung kiến thức, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ về TVTL học đường; Tổ chức các buổi tập huấn, chuyên đề, thảo luận, trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động hỗ trợ tâm lý học đường

- Xác định cơ chế quản lý và giải quyết các mối quan hệ của tổ chức: xác lập mạng lưới các mối quan hệ của tổ chức và giải quyết tốt các mối quan hệ trong và ngoài trường

* Phối hợp các lực lượng tham gia hoạt động TVTLHĐ: Tổ tư vấn, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, các phòng ban…

Thực hiện tốt chức năng tổ chức là sự thành công cơ bản của quá trình quản lý Để thành công khi thực hiện chức năng này, cán bộ quản lý cần chú ý:

+ Xây dựng văn hóa làm việc của tổ chức;

+ Biết động viên và thưởng phạt thích đáng;

+ Phát huy tối đa tiềm năng của nhân viên

* Huy động các nguồn lực khác nhau phục vụ hoạt động TVTL học đường: Xây dựng phòng tư vấn học đường; huy động cơ sở vật chất, trang thiết bị kĩ thuật…

1.4.3 Chỉ đạo thực hiện hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT

Chức năng chỉ đạo trong quá trình quản lý giáo dục là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của những người khác nhằm đạt tới các mục tiêu với chất lượng cao Trong quá trình tổ chức quản lý hoạt động TVTL học đường, Hiệu trưởng thực hiện vai trò chỉ đạo của người quản lý Thực chất đó

là quá trình Hiệu trưởng điều hành và hướng dẫn việc triển khai hoạt động

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

nhằm đạt mục tiêu của quản lý trên cơ sở phát huy sức mạnh của các nguồn lực Chức năng chỉ đạo bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

- Thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ tư vấn tâm lý học đường của nhà trường tới GV

- Thường xuyên đôn đốc, động viên và kích thích các GV tích cực triển khai, duy trì các hoạt động tư vấn tâm lý học đường một cách hệ thống nhằm nâng cao năng lực cho lực lượng GV làm công tác tư vấn tâm lý học đường

- Giám sát hoạt động tư vấn tâm lý học đường, đánh giá những kết quả

đã đạt được và những kết quả chưa đạt được và có biện pháp sửa chữa những tồn tại trong hoạt động tư vấn tâm lý học đường để nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động tư vấn tâm lý học đường

- Thúc đẩy các hoạt động phát triển Giám đốc Sở GD&ĐT chỉ đạo Ban Giám hiệu các trường khuyến khích, động viên, tạo điều kiện để GV tích cực tham gia hoạt động tư vấn tâm lý học đường

Chức năng chỉ đạo có nguồn gốc từ hai thuật ngữ Directing (điều hành) và thuật ngữ Leading (lãnh đạo), do đó, chỉ đạo vừa có ý nghĩa ra chỉ thị để điều hành vừa là tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ (ảnh hưởng tới quá trình hình thành động cơ làm việc) của GV tham gia tư vấn tâm lý học đường trong toàn bộ hệ thống trên cơ sở sử dụng đúng đắn các quyền của người quản lý

Thực hiện quyền chỉ huy (giao việc) và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ

tư vấn tâm lý học đường cũng như tác động có ảnh hưởng tới các thành viên khác phải đảm bảo phù hợp, thiết thực và cụ thể với khả năng và trình độ của từng GV Việc thực hiện thường xuyên, đôn đốc, động viên và kích thích đối tượng tích cực tham gia hoạt động tư vấn tâm lý học đường có tác dụng như quá trình như quá trình tạo động cơ bồi dưỡng cho mọi thành viên

Giám sát (tương ứng với thuật ngữ Supervision) là quá trình hoạt động của chủ thể quản lý nhằm theo dõi việc thực hiện các nhiệm vụ của cấp dưới, khi thấy có sự sai lệch, lúng túng thì giúp sửa chữa hoặc hỗ trợ, giúp đỡ mọi đối tượng thực hiện tốt các nhiệm vụ tư vấn tâm lý học đường được đặt ra

Việc cần thiết trong quá trình chỉ đạo của Giám đốc Sở GD&ĐT, Hiệu trưởng các nhà trường là tạo điều kiện thuận lợi về CSVC, thiết bị cũng như các điều kiện khác nhằm giúp thực hiện tốt hoạt động tư vấn học đường , nâng cao năng lực tư vấn tâm lý học đường cho GV

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.4.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT

Kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng trong quản lý quá trình sư phạm diễn ra trong nhà trường Nó giúp chủ thể quản lý có thông tin phản hồi chính xác từ đối tượng quản lý Việc kiểm tra đánh giá phải dựa trên chương trình, kế hoạch, phải có tiêu chí, chuẩn mực cụ thể cho từng loại hoạt động và phải được thực hiện hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng

Trong quá trình tổ chức hoạt động TVTL học đường, Hiệu trưởng cần kiểm tra, đánh giá sự thực hiện nhiệm vụ của các thành viên để điều chỉnh nhằm đảm bảo cho hoạt động tư vấn tâm lý học đường đạt tới mục tiêu xác định Hiệu trưởng trường THPT cần tiến hành kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm hàng năm, từng học kỳ Hiệu trưởng cần nắm được kế hoạch hoạt động

tư vấn tâm lý học đường của tư vấn viên, theo dõi các hoạt động qua báo cáo và qua kiểm tra thực tế để kịp thời nhắc nhở, uốn nắn cũng như có hình thức khen thưởng, động viên Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động tư vấn tâm lý học đường thể hiện qua các công việc như:

- Xác định nội dung kiểm tra hoạt động tư vấn tâm lý học đường;

- Xác định hình thức, phương pháp kiểm tra;

- Phân công lực lượng kiểm tra hoạt động tư vấn tâm lý học đường;

- Xây dựng và quy định các tiêu chuẩn đánh giá hoạt động tư vấn tâm lý học đường;

- Tiến hành đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch;

- Theo dõi, giám sát trực tiếp hoạt động tư vấn tâm lý học đường;

- Đánh giá hoạt động tư vấn tâm lý học đường thông qua nhận xét của cấp trên, qua các lực lượng giáo dục, qua học sinh và cha mẹ học sinh;

- Tổng kết, rút kinh nghiệm từng giai đoạn để kịp thời điều chỉnh giá hoạt động tư vấn tâm lý học đường có hiệu quả

Như vậy, để thực hiện tốt việc quản lý hoạt động TVTL học đường, Hiệu trưởng trường THPT cần xây dựng kế hoạch, tổ chức hoạt động một cách hợp

lý, chỉ đạo sát sao quá trình triển khai hoạt động, đồng thời có sự kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động so với mục tiêu đề ra trong kế hoạch

Ngày đăng: 25/02/2021, 11:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chu Liên Anh (2009), Kỹ năng tư vấn pháp luật của luật sư, Luận án tiến sĩ, Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng tư vấn pháp luật của luật sư
Tác giả: Chu Liên Anh
Năm: 2009
2. Phạm Thanh Bình (2014), Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh trung học cơ sở, Luận án tiến sĩ tâm lý học) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh trung học cơ sở
Tác giả: Phạm Thanh Bình
Năm: 2014
3. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2003), Quản lý nhà trường, Tài liệu giảng dạy dành cho học viên cao học quản lý giáo dục, Khoa Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà trường
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 2003
4. Phạm Tất Dong (1984), Tâm lý học lao động, Cục Đào tạo bồi dưỡng, Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lao động
Tác giả: Phạm Tất Dong
Năm: 1984
5. Trần Thị Minh Đức (2016), Giáo trình tham vấn tâm lý, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tham vấn tâm lý
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội)
Năm: 2016
7. Trần Thị Giồng (1996), Tầm quan trọng của tham vấn, Tài liệu tập huấn trẻ em làm trái pháp luật, Tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển - Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em, Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầm quan trọng của tham vấn
Tác giả: Trần Thị Giồng
Năm: 1996
8. Phùng Thị Hằng (2017), Giáo viên THCS với công tác tư vấn học sinh trong trường THCS, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên THCS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo viên THCS với công tác tư vấn học sinh trong trường THCS
Tác giả: Phùng Thị Hằng
Năm: 2017
9. Trương Thị Hằng (2013), Biện pháp quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường cho học sinh THPT Đinh Tiên Hoàng, quận Ba Đình, Hà Nội, Luận văn Quản lý giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường cho học sinh THPT Đinh Tiên Hoàng, quận Ba Đình, Hà Nội
Tác giả: Trương Thị Hằng
Năm: 2013
10. Harold.Koontz, Cyril odonell vaf Heiz Weihrich (1992), Những vấn đề cốt lõi của quản lý, NXB Khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cốt lõi của quản lý
Tác giả: Harold.Koontz, Cyril odonell vaf Heiz Weihrich
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 1992
11. Hà Sỹ Hồ (1995), Những bài giảng về quản lý trường học, tập II, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng về quản lý trường học
Tác giả: Hà Sỹ Hồ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
12. Nguyễn Công Khanh (chủ biên) (2012), Tư vấn tâm lý tuổi vị thành niên, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư vấn tâm lý tuổi vị thành niên
Tác giả: Nguyễn Công Khanh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội)
Năm: 2012
13. Trần Kiểm, Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lí giáo dục, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lí giáo dục
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
14. Đặng Thị Bích Nga (2018), “Thực trạng quản lý hoạt động tham vấn tâm lý học đường ở các trường THCS quận 11, thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2018, tr.21-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý hoạt động tham vấn tâm lý học đường ở các trường THCS quận 11, thành phố Hồ Chí Minh”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Đặng Thị Bích Nga
Năm: 2018
15. Nguyễn Thị Oanh (2006), Tư vấn tâm lý học đường, NXB Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư vấn tâm lý học đường
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2006
16. Pall Hersey và Ken Blanc Hard (1995), Quản lý nguồn nhân lực, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nguồn nhân lực
Tác giả: Pall Hersey và Ken Blanc Hard
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
17. Nguyễn Ngọc Quang (1989), Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục, Viện Quản lý giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Năm: 1989
18. Lê Sơn, Lê Hồng Minh (2010, 2013), Tài liệu Bồi dưỡng Giáo viên làm tư vấn viên học đường Tây Ninh, Khánh Hoà, Hậu Giang, Lưu hành nội bộ, Trung tâm ƯDKH TLGD Phía Nam - Viện Nghiên Cứu EBM (Giáo dục và QTKD) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Bồi dưỡng Giáo viên làm tư vấn viên học đường Tây Ninh, Khánh Hoà, Hậu Giang, Lưu hành nội bộ
19. Thông tư 31/2017/TT-BGDĐT về hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lý cho học sinh trong trường phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w