1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp tháo gỡ khó khăn về vốn vay cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn tại tỉnh thái nguyên

105 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 841,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN LƯƠNG ĐẶNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÁO GỠ KHÓ KHĂN VỀ VỐN VAY CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: KINH TẾ

Trang 1

NGUYỄN LƯƠNG ĐẶNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÁO GỠ KHÓ KHĂN VỀ VỐN VAY CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Mã số: 60.31.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG THỊ THU

Thái Nguyên - Năm 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này do chính tôi thực hiện, dưới sựhướng dẫn khoa học của TS Hoàng Thị Thu, Trưởng khoa Ngân hàng – Tài chính Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên.Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một công trình khoa học nào.Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Thái Nguyên, ngày 28tháng 7năm 2012

Tác giả

Nguyễn Lương Đặng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này tôi đã nhận được sự quan tâm và giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể Nhân dịp đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến:

Tập thể các thầy, cô giáo trong trường Đại học KT & QTKD Thái Nguyên đã tận tình chỉ bảo, truyền đạt cho chúng tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường

Các cán bộ Cục thống kê, Sở kế hoạch Đầu tư tỉnh Thái Nguyên và các doanh nghiệp nơi tôi liên hệ lấy số liệu đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi để hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành nhất của mình tới cô giáo TS Hoàng Thị Thu, Trưởng khoa Ngân hàng – Tài chính Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học của mình

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã ủng hộ, động viên tôi hoàn thành khoá học này

Thái Nguyên, ngày 28tháng 7năm 2012

Học viên

Nguyễn Lương Đặng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Đóng góp của đề tài 3

5 Bố cục luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DNNVV VÀ VỐN VAY CHO CÁC DNNVV 5

1.1 Lý luận chung về DNNVV và vốn vay của DNNVV 5

1.1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa 5

1.1.2 Vốn vay và vai trò của vốn vay với các DNNVV 23

1.1.3 Kinh nghiệm huy động vốn của DNNVV ở một số nước châu Á và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 30

1.2 Phương pháp nghiên cứu 37

1.2.1 Câu hỏi nghiên cứu 37

1.2.2 Phương pháp nghiên cứu 38

1.2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 40

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ VỐN VAY CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN 42

2.1 Tổng quan điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Thái Nguyên 42

2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 42

Trang 5

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 45

2.2 Đặc điểm các DNNVV hoạt động trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 47

2.2.1 Số lượng DNNVV 47

2.2.2 Số lượng DNNVV phân theo loại hình doanh nghiệp 49

2.3 Thực trạng các DNNVV hoạt động trong lĩnh vực NNNT tỉnh Thái Nguyên 51

2.3.1 Số lượng DNNVV hoạt động trong NNNT 51

2.3.2 Quy mô vốn kinh doanh của các DNNVV trong NNNT 55

2.3.3 Hiệu quả hoạt động của các DNNVV trong NNNT năm 2011 57

2.3.4 Thực trạng về khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay của các DNNVV trong NNNT tại Thái Nguyên 60

2.3.5 Nhu cầu về vốn của các DNNVV 63

2.4 Đánh giá những kết quả đạt được và những khó khăn về vốn của các DNNVV trong NNNT 64

2.4.1 Kết quả đạt được 64

2.4.2 Những khó khăn về vốn của các DNNVV trong NNNT 64

2.4.3 Những nguyên nhân dẫn đến khó khăn về vốn và tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp nông thôn 73

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÁO GỠ KHÓ KHĂN VỀ VỐN VAY CHO DNNVV TRONG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN 79

3.1 Quan điểm, định hướng phát triển DNNVV nói chung, DNNVV trong NNNT nói riêng của Nhà nước giai đoạn 2010 – 2015 79

3.1.1 Quan điểm 79

3.1.2 Mục tiêu phát triển DNNVV giai đoạn 2011 - 2015 79

3.1.3 Các giải pháp phát triển DNNVV nói chung, DNNVV trong NNNT nói riêng giai đoạn 2011 – 2015 81

3.2 Một số giải pháp tháo gỡ khó khăn về vốn cho DNNVV trong NNNT tỉnh Thái Nguyên 86

3.2.1 Các giải pháp từ phía doanh nghiệp 86

3.2.2 Các giải pháp từ phía ngân hàng và các tổ chức tín dụng 87

3.3.3 Các giải pháp từ phía tỉnh Thái Nguyên 89

3.3.4 Các giải pháp từ phía Nhà nước 89

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC 96

Trang 6

DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa

DNTN Doanh nghiệp tư nhân

NHNN Ngân hàng Nhà nước

NHTM Ngân hàng thương mại

NN Nông nghiệp

NNNT Nông nghiệp nông thôn

ROA Tỷ suất lợi nhuận tổng tài sản bình quân

ROE Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu

SMEs Small and medium enterprises (Doanh nghiệp nhỏ và vừa) TCTD Tổ chức tín dụng

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa một số nước 8

Bảng 1.2: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam 11

Bảng 2.1: Biến động DNNVV từ năm 2009 đến năm 2011 48

Bảng 2.2: Phân loại DNNVV theo loại hình DN năm 2011 50

Bảng 2.3: Số lượng DNNVV trong NNNT năm 2011 52

Bảng 2.4 Số lượng DNNVV phân theo quy mô doanh nghiệp 54

Bảng 2.5 Quy mô nguồn vốn của các DNNVV trong NNNT 56

Bảng 2.6: Các chỉ tiêu chủ yếu của các DNNVV trong NNNT năm 2011 59 Bảng 2.7: Cơ cấu vốn kinh doanh của các DNNVV trong NNNT theo loại hình DN 61

Bảng 2.8: Nhu cầu vay vốn của các DNNVV trong NNNT 63

Bảng 2.9: Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn CSH của các DNNVV trong NNNT từ năm 2007 đến năm 2011 66

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Biến động DNNVV từ năm 2009 đến năm 2011 49

Biểu đồ 2.2: Số lƣợng DNNVV theo địa bàn hoạt động 51

Biểu đồ 2.3: Cơ cấu DNNVV trong NNNT phân theo loại hình DN 53

Biểu đồ 2.4: Số lƣợng DNNVV trong NNNT theo địa bàn hoạt động 53

Biểu đồ 2.5: Cơ cấu DNNVV trong NNNT theo quy mô DN 55

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trong nông nghiệp nông thôn (NNNT) là các DNNVV đóng ở nông thôn hoặc có trụ sở ở đô thị nhưng làm dịch vụ đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông lâm nghiệp, bao gồm các các DN sản xuất nông nghiệp, DN chế biến hàng nông sản, DN cung cấp đầu vào, đầu

ra cho sản xuất NN như: cung cấp phân bón, thuốc trừ sâu, thu mua, tiêu thụ nông lâm sản…

Tại Thái Nguyên, DNNVV chiếm đa số các doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh và có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế của tỉnh Thái Nguyên Tuy nhiên số DNNVV hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn tại tỉnh Thái Nguyên lại rất ít, số lượng doanh nghiệp mới đăng ký ở khu vực này còn thấp và mới chỉ tập trung ở một số ngành như chế biến, vận tải, thuỷ sản; Các DNNVV trong nông nghiệp, nông thôn quy mô và năng lực sản xuất nhìn chung còn nhỏ bé, hiệu quả kinh doanh còn thấp mà nguyên nhân chủ yếu là do thiếu vốn, thiếu mặt bằng sản xuất, thiếu thị trường tiêu thụ, thiếu nguyên liệu, cơ sở hạ tầng yếu kém, công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý còn hạn chế… Trong đó, khó khăn cơ bản của khối doanh nghiệp này được chỉ ra vẫn là các vấn đề về vốn, đất đai và mặt bằng sản xuất

Trước những bức xúc, khó khăn trong việc tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp nông thôn tại tỉnh Thái Nguyên, cần

thiết phải thực hiện nghiên cứu: “Một số giải pháp tháo gỡ khó khăn về vốn vay cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn tại tỉnh Thái Nguyên” nhằm đề xuất một số chính sách

khắc phục những tồn tại hạn chế trong việc tiếp cận vốn của các doanh nghiệp

Trang 10

nhỏ và vừa trong nông nghiệp, nông thôn, từng bước tạo đà cho DNNVV trong nông nghiệp, nông thôn phát triển

2 Mục tiêu nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Là thực trạng huy động vốn và sử dụng vốn vay cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông

nghiệp nông thôn

Trang 11

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu tại tỉnh Thái Nguyên

- Về thời gian: 2009 - 2011

- Về nội dung: Đề tài giới hạn chính trong 3 nhóm nội dung là:

(1) Những vấn đề liên quan đến vốn vay và khả năng tiếp cận vốn vay của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp nông thôn

(2) Các giải pháp mà các doanh nghiệp đã, đang áp dụng nhằm khắcphục khó khăn về vốn vay

(3) Các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn về vốn , củng cố SXKD trong thời gian tới

4 Đóng góp của đề tài

- Giúp các nhà hoạch định chính sách, Chính quyền địa phương các cấp

và các doanh nghiệp và tổ chức tín dụng sẽ có tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác điều hành cũng như tháo gỡ những khó khăn trong tiếp cận vốn cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp nông thôn

- Tháo gỡ khó được khó khăn trong việc tiếp cận vốn cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp nông thôn sẽ tạo đà cho doanh nghiệp phát triển, từ đó góp phần tăng thu ngân sách, tạo thêm công ăn việc làm cho lao động trong nông nghiệp nông thôn Mặt khác còn giúp các tổ chức tín dụng có những chính sách phù hợp nhằm tăng cường khả năng cho Doanh nghiệp nhỏ

và vừa trong nông nghiệp nông thôn vay thêm vốn

Trang 12

5 Bố cục luận văn

Mở đầu

Chương 1:Cơ sở lý luận và thực tiễn về DNNVV và vốn vay cho các

DNNVV

Chương 2: Thực trạngvốn vay và khả năng tiếp cận vốn vay của doanh

nghiệp nhỏ và vừahoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn của tỉnh Thái Nguyên

Chương 3: Một số giải pháp tháo gỡ khó khăn về vốn vay cho Doanh

nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn của tỉnh Thái Nguyên

Kết luận

Trang 13

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DNNVV

VÀVỐN VAY CHO CÁC DNNVV 1.1 Lý luận chung về DNNVV và vốn vay của DNNVV

1.1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Khái niệm DNNVV ở các quốc gia trên thế giới

Trên thế giới, định nghĩa DNNVV hay SMEs (Small and Medium Enterprises) được hiểu và quy định khác nhau tuỳ theo từng nơi nhưng nói chung là những doanh nghiệp có số lao động hay doanh số ở dưới một mức giới hạn nào đó Từ viết tắt SMEs được dùng phổ biến ở Cộng đồng các nước Châu Âu và các tổ chức quốc tế như World Bank, United Nation, WTO SMEs được sử dụng nhiều nhất là ở Mỹ

Các nước thuộc Liên minh châu Âu truyền thống có cách định nghĩa về SMEs của riêng họ, ví dụ như ở Đức, SMEs được định nghĩa là những doanh nghiệp có số lao động dưới 500 người, trong khi đó ở Belgium là 100 người Nhưng cho đến nay các nước Liên minh châu Âu đã bắt đầu có khái niệm về SMEs chuẩn hoá hơn Những doanh nghiệp có dưới 50 lao động thì được gọi

là doanh nghiệp nhỏ và những doanh nghiệp có dưới 250 lao động được gọi là doanh nghiệp vừa Trong một số khu vực kinh tế, SMEs giữ vai trò chủ đạo trong công cuộc cải tạo và là động lực phát triển của nền kinh tế Trên toàn cầu SMEs chiếm 99% số doanh nghiệp và 40% đến 50% trong tổng GDP

Ở Mỹ, cách định nghĩa về SME có ý nghĩa rộng hơn ý nghĩa nội tại của SME Và ở các quốc gia Châu Phi họ cũng có những cách định nghĩa riêng và các định nghĩa này khác nhau ở các quốc gia Liên minh châu Âu thì sử dụng

Trang 14

định nghĩa về SME chuẩn như trên Sự khác nhau về định nghĩa SME ở các quốc gia này làm cho các nghiên cứu về SME trở nên khó khăn hơn

Ở New Zealand, SMEs có một sự đóng góp đáng kể cho nền kinh tế cả

về số lượng các doanh nghiệp và tỉ lệ % lực lượng lao động Tầm quan trọng của SME ở New Zealand ngày càng gia tăng với các cơ hội toàn cầu hoá và

sự phát triển khoa học kỹ thuật

Các tiêu chí để phân loại doanh nghiệp có hai nhóm: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng Nhóm tiêu chí định tính dựa trên những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp như chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế Do đó chúng thường được dùng làm cơ sở để tham khảo trong kiểm chứng mà ít được sử dụng để phân loại trong thực tế Nhóm tiêu chí định lượng có thể dựa vào các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận Trong đó:

Số lao động: có thể lao động trung bình trong danh sách, lao động thường xuyên, laođộng thực tế;

Tài sản hay vốn: có thể là tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản (vốn)cố định, giá trị tài sản còn lại;

Doanh thu: có thể là tổng doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm(hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ số này)

Trong các nước APEC tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất là số lao động Còn một số tiêu chí khác thì tuỳ thuộc vào điều kiện từng nước

Tuy nhiên sự phân loại doanh nghiệp theo quy mô lại thường chỉ mang tính tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:

Trang 15

Trình độ phát triển kinh tế của một nước: trình độ phát triển càng cao thì trị số các tiêu chí càng tăng lên Ví dụ ở Đức tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa là từ 500 lao động trở xuống, trong khi đó ở Việt Nam thì tiêu chí này tính từ 300 lao động trở xuống Một doanh nghiệp có 400 lao động ở Việt Nam không được coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa nhưng lại được tính ở Đức

Ở một số nước có trình độ phát triển kinh tế thấp thì các chỉ số về lao động, vốn để phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ thấp hơn so với các nước phát triển

Tính chất ngành nghề: do đặc điểm của từng ngành, có ngành sử dụng nhiều lao động như dệt, may, có ngành sử dụng ít lao động nhưng nhiều vốn như hoá chất, điện Do đó cần tính đến tính chất này đểcó sự so sánh đối chứng trong phân loại các SME giữa các ngành với nhau Trong thực tế, ở nhiều nước, người ta thường phân chia thànhhai đến ba nhóm ngành vớicác tiêu chí phân loại khác nhau Ngoài ra có thể dùng khái niệm hệ sốngành (Ib)

để so sánh đối chứng giữa các ngành khác nhau

Vùng lãnh thổ: do trình độ phát triển khác nhau nên số lượng và quy mô doanh nghiệp cũng khác nhau Do đó cần tính đến cả hệ số vùng (Ia) để đảm bảo tính tương thích trong việc so sánh quy mô doanh nghiệp giữa các vùng khác nhau

Trang 16

Bảng 1.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa một số nước

Dưới 3,5 triệu USD Dưới 500 lao động

Nhật Bản

Dưới 100 triệu Yên Dưới 300 lao động

Dưới 20 lao động

10 - 30 triệu Yên Dưới 100 lao động

Dưới 1 triệu DM Dưới 9 lao động

1-100 triệu DM

10 < 500 lao động

Dưới 1 triệu DM Dưới 9 lao động

Philippin

15 - 60 triệu Peso Không quy định lao động

< 15 triệu Peso Không quy định lao động

15 - 60 triệu Peso Không quy định lao động

< 15 triệu Peso Không quy định lao động

Đài Loan 1,6 triệu USD

4 -10 lao động

1,6 triệu USD

4 - 10 lao động

(Nguồn: Internet)

Tính lịch sử:mộtdoanh nghiệp trước đây được coi là lớn, nhưng với quy

mô như vậy, hiện tại hoặc tương lai có thể được coi là vừa hoặc nhỏ Như vậy trong việc xác định quy mô doanh nghiệp cần tính thêm hệ số tăng trưởng quy

mô doanh nghiệp trung bình (Id) trong từng giai đoạn Hệ số này chỉ được sử dụng khi xác định quy mô doanh nghiệp cho các thời kì khác nhau

Như vậy có thể xác định được quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộcmột ngành hoặc một địa bàn cụ thể theo công thức sau:

Trang 17

Sa: quy mô vừa và nhỏ chung trong một nước

- Khái niệm DNNVV ở Việt Nam

Ở Việt Nam, Chính phủ đã có nhiều văn bản xác định DNNVV:

Ngày 20/6/1998, Chính phủ đã ban hành công văn số 681/CP-KTN quy định tiêu chí tạm thời xác định DNNVV Theo quy định này, DNNVV là các

DN có vốn điều lệ dưới 5 tỉ đồng và có số lao động trung bình hàng năm dưới

200 người

Ngày 23/11/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV, theo Quy định tại Nghị định này, “DNNVV là cơ

sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỉ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người Căn cứ vào tình hình kinh tế-xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả 2 tiêu chí vốn và lao động hoặc 1 trong 2 tiêu chí trên”

Ngày 30 tháng 9 năm 2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CPVề trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Nghị định này DNNVV được hiểu làcơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô

Trang 18

tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) Tại Nghị định này khái niệm DNNVV được phân loại rõ thành ba cấp và chia thành 3 khu vực kinh tế khác nhau: (1) Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (2) Công nghiệp và xây dựng, (3) Thương mại và dịch vụ Ứng với mỗi cấp thì tiêu chí về vốn và lao động khác nhau Đây là văn bản mới nhất quy định tiêu chí xác định DNNVV ở nước ta

và thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2011 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV

Các tiêu chí xác định DNNVV ở Việt Nam hiện nay được quy định cụ thể như bảng 1.2 sau đây

Theo đó DNNVV gồm 3 nhóm: siêu nhỏ, nhỏ, vừa Doanh nghiệp siêu nhỏ thì không lấy nguồn vốn làm yếu tố để xác định mà chỉ lấy yếu tố số lao động trong doanh nghiệp với số lượng lao động từ 10 trở xuống ở tất cả các khu vực ngành nghề là yếu tố để xác định Như vậy với bất cứ doanh nghiệp nào đăng ký hoạt động kinh doanh mà có số lao động từ 10 người trở xuống

đều thuộc loại siêu nhỏ

Trang 19

Bảng 1.2: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam

Quy mô

Khu vực

Doanh nghiệp siêu nhỏ

Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa

Số lao động Tổng

nguồn vốn Số lao động

Tổng nguồn vốn Số lao động

I Nông, lâm

nghiệp và thuỷ sản 10 người trở xuống 20 tỉ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

200 người

từ trên 20 tỉ đồng đến 100

tỉ đồng

từ trên 200 người đến 300 người

II Công nghiệp và

xây dựng

10 người trở xuống

20 tỉ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

200 người

từ trên 20 tỉ đồng đến 100

tỉ đồng

từ trên 200 người đến 300 người

III Thương mại

và dịch vụ

10 người trở xuống

10 tỉ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

50 người

từ trên 10 tỉ đồng đến 50 tỉ đồng

từ trên 50 người đến 100 người

(Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP)

DN nhỏ và DN vừa thì lấy hai yếu tố là số lao động và tổng nguồn vốn

để xác định Trong đó với mỗi khu vực ngành nghề lại có mức xác định khác nhau

1.1.1.2 Đặc điểm của DNNVV ở Việt Nam

- Đặc điểm chung của các DNNVV ở Việt Nam

+ Đặc điểm về vốn

Trong hoàn cảnh chính sách tiền tệ thắt chặt, để phục vụ mục tiêu kiềm chế lạm phát, các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng Và khi gặp khó khăn trong việc vay vốn từ ngân hàng thì việc chạy vạy vay mượn từ nhiều nguồn khác là tất yếu Chính sách tài chính tiền tệ thắt chặt khiến cho lượng vốn cấp ra ít đi và lãi suất cao lên Năm 2007, tăng trưởng tín dụng 56%, nay giảm xuống 30%, lãi suất tăng từ 11% lên 20% Như vậy, doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn là

Trang 20

chuyện đương nhiên Với điều kiện này, khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp đã khó nhưng khả năng sử dụng vốn cũng rất khó do lãi suất quá cao Khoảng 20% doanh nghiệp khó có thể tiếp tục hoạt động Ngoài nhóm này, 60% thành viên hiệp hội đang chịu tác động của khó khăn kinh tế, nên sản xuất sút kém Lạm phát đang làm các công ty không kiểm soát được chi phí, mất thị trường và không đủ vốn để duy trì sản xuất 20% còn lại là các công ty chịu ít ảnh hưởng và vẫn trụ vững do trước nay ít phải nhờ đến nguồn vốn vay và được các nhà quản lý có kinh nghiệm dẫn dắt

Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 95% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam, song phần lớn trong số đó còn manh mún và đang gặp khó khăn Trong những năm gần đây số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng lên khá nhiều nhưng cũng mất đi khá lớn do sức ép của nền kinh tế và do cơ chế thị trường

+ Đặc điểm về lao động

Hiện nay, việc đào tạo đội ngũ lao động nghề cho các doanh nghiệp còn thiếu một cách trầm trọng Hơn thế nữa chất lượng đội ngũ lao động nghề còn chưa đáp ứng được với nhu cầu Đa phần việc tuyển chọn sử dụng lao động trong các doanh nghiệp hiện nay đều dựa trên những tiêu chí phổ thông hoặc không cần tiêu chí Đội ngũ công nhân làm việc nhiều năm cũng không được nâng cao tay nghề vì chính sách của các doanh nghiệp không tập trung vào những đối tượng này

+ Về tình hình sản xuất kinh doanh

Do việc thành lập các doanh nghiệp nhỏ và vừa tương đối dễ dàng cho nên trong trong những năm gần đây đã ra đời rất nhiều các loại hình doanh nghiệp này, các doanh nghiệp nhỏ và vừa với những ưu thế về việc kinh doanh không đòi hỏi quá nhiều vốn, lại thu hút được lượng lao động rất lớn

Trang 21

Hơn nữa các doanh nghiệp này kinh doanh chủ yếu những mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống cho nên không đòi hỏi phải đầu tư công nghệ kỹ thuật máy móc nhiều mà thay vào đó là sử dụng lượng lao động với giá rẻ càng làm cho việc kinh doanh của các doanh nghiệp này tương đối dễ dàng và thông thoáng Các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất nhạy cảm với những thay đổi trong kinh doanh nhanh chóng nắm bắt các cơ hội kinh doanh mỗi khi có thể Một yếu tố nữa là do bộ máy tổ chức của các doanh nghiệp này tương đối gọn nhẹ cho nên mỗi khi ra các quyết định kinh doanh thường rất nhanh Tuy nhiên cũng do thiếu vốn cho nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng thường bị mất

đi các cơ hội kinh doanh, các doanh nghiệp nghĩ tới việc vay ngân hàng nhưng đợi cho tới khi ngân hàng cho vay vốn thì các cơ hội kinh doanh cũng

đã qua đi

Trình độ lao động thấp, phương tiện kỹ thuật lạc hậu, trình độ quản lý chất lượng sản phẩm kinh doanh thấp cũng là những yếu tố làm cho sản phẩm của các doanh nghiệp này thường bị coi là kém chất lượng và làm ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

+ Đặc điểm về công nghệ và thiết bị

Hiện nay, xét về quy mô vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa thì số lượng vốn còn rất khiêm tốn, các doanh nghiệp thường đầu tư những thiết bị máy móc cơ bản đủ để hoạt động sản xuất những sản phẩm thuần tuý Chưa

có sự khác biệt trong đầu tư về kỹ thuật công nghệ cũng như tạo ra những sản phẩm có tính ứng dụng cao, có thể xây dựng được thương hiệu mạnh Mặt khác việc liên doanh liên kết cũng đã được các doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng, việc liên kết sẽ giúp các doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất và kỹ thuật

để sản xuất tốt hơn nhưng việc tạo ra những thương hiệu cho riêng mình thì thật sự là còn khó khăn

Trang 22

+ Đặc điểm về thị trường

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam, yếu tố thị trường còn chưa thực sự được đầu tư đúng mức Kể từ khi ra nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, thị trường Việt Nam sẽ ngày càng cởi mở hơn trong quá trình hội nhập, hàng hoá nước ngoài sẽ nhiều hơn, doanh nghiệp nước ngoài có tiềm lực mạnh sẽ vào phân phối , các doanh nghiệp trong nước phải đứng trước một thách thức hết sức to lớn đó là sự cạnh tranh gay gắt Thế nhưng một mặt các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam chưa có quy mô đủ để tạo ra những thương hiệu quốc tế, mặt khác lại chưa có sự chỉ đạo kết hợp trong khối các ngành nghề, các lĩnh vực kinh tế xã hội dẫn đến sự cạnh tranh yếu + Đặc điểm về trình độ tổ chức quản lý

Trong một môi trường đầy cạnh tranh hiện nay, việc nâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa đã trở thành vấn đề quốc sách của các nước Nhiều nước Á châu, điển hình là Singapore, từ năm

2001 đã đầu tư xây dựng và thực hiện chương trình quy mô lớn, bắt buộc tất

cả các doanh nghiệp phải nâng cao hơn nữa trình độ chuyên môn nghiệp vụ, mặc dù hiện nay họ đang chiếm lĩnh nhiều mặt trên thị trường thương mại thế giới Việc nâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp cũng là một việc làm thường xuyên của phần đông các doanh nghiệp ở các nước tiên tiến

Ở nước ta, Nhà nước mới khuyến khích nhưng chưa chủ trương quyết liệt tài trợ cho doanh nghiệp nâng cấp trình độ chuyên môn Vì thế các doanh nghiệp phải tự lo nếu muốn chiến thắng trên thương trường, cần tham gia các lớp học quốc tế mới mong đạt ngang tầm quốc tế Trở ngại lớn nhất của nhiều giám đốc doanh nghiệp của chúng ta khi học tại các trường quản trị kinh tế quốc tế là phải có vốn tiếng Anh lưu loát mới theo kịp các học viên khác trong lớp Trở ngại thứ hai là học phí quá cao đối với khả năng tài chính của

Trang 23

doanh nghiệp Và trở ngại thứ ba, rất có thể, là sự nhận thức của từng vị giám đốc doanh nghiệp về tính cần thiết nâng cao liên tục trình độ của mình

+ Mối quan hệ với doanh nghiệp lớn

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có mối quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp lớn, nó vừa bổ sung, hỗ trợ, vừa nhận được sự trợ giúp từ các doanh nghiệp lớn, điều đó thể hiện qua các mối quan hệ sau:

- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa vừa là nơi cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, vừa là nơi tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá cho các doanh nghiệp lớn

- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thiết lập các mối quan hệ với các doanh nghiệp lớn nhằm nâng cao trình độ tay nghề của người lao động

- Các doanh nghiệp lớn hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa về vốn, công nghệ và kỹ thuật

- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa làm cơ sở sản xuất, chi nhánh, đại lý cho các doanh nghiệp lớn ở những nơi doanh nghiệp lớn không với tới được

- Thông qua các doanh nghiệp lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiêu thụ sản phẩm của mình ở những thị trường rộng lớn hơn

- Doanh nghiệp lớn cung cấp thông tin về kinh doanh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận với nền kinh tế tri thức

- Đặc điểm của các DNNVV hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam

DNNVV trong nông nghiệp nông thôn: Là các DNNVV đóng ở nông thôn hoặc có trụ sở ở đô thị nhưng làm dịch vụ đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông lâm nghiệp, bao gồm các các DN sản xuất nông nghiệp, DN chế biến

Trang 24

hàng nông sản, DN cung cấp đầu vào, đầu ra cho sản xuất NN như: cung cấp phân bón, thuốc trừ sâu thu mua, tiêu thụ nông lâm sản…

Quy mô huy động vốn của khối doanh nghiệp nông nghiệp, nông thôn này đã đạt gần 30 tỉ USD, sử dụng gần 3 triệu lao động, tạo 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn (tương đương 26% lao động cả nước); đóng góp 49% GDP, 29% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ đạt khoảng 2%/năm trong khi tốc

độ tăng trưởng của doanh nghiệp bình quân chung của cả nước là 20 - 25%/năm Bình quân khoảng 57.000 người dân sống ở khu vực nông thôn mới có 1 doanh nghiệp nông nghiệp, trong khi trên cả nước cứ trên 700 người

đã có 1 doanh nghiệp

Hạn chế lớn nhất ảnh hưởng đến việc phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực nông nghiệp là thiếu các cơ hội đầu tư, kinh doanh, môi trường đầu tư, chính sách ưu đãi hầu như không có hoặc rất khó triển khai, áp dụng

Nếu chỉ nhìn vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp, cả nước hiện có khoảng 1.100 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất, kinh doanh Như vậy, số doanh nghiệp nông, lâm nghiệp mới chỉ bằng xấp xỉ 1% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động Còn xét về mức vốn, hiện có khoảng 60% số doanh nghiệp nông, lâm nghiệp của Việt Nam có vốn dưới 10 tỉ đồng - quá nhỏ bé so với doanh nghiệp các nước trên thế giới và so với nhu cầu thực tế

Thêm nữa, các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực nông nghiệp lại đang sử dụng những công nghệ, hệ thống máy móc, thiết bị cũ kỹ, lạc hậu Tỷ

lệ đổi mới trang thiết bị hàng năm chỉ đạt 5-7% (trong khi cả thế giới là 20%) Hiện nay, nhà xưởng chế biến và kho tàng cất giữ nông sản của các doanh nghiệp nhỏ và vừa chế biến nông, lâm sản của Việt Nam còn sơ sài và tạm bợ,

Trang 25

số nhà xưởng kiên cố chỉ chiếm khoảng 30% Hầu hết các doanh nghiệp vẫn

áp dụng các công nghệ cũ, tỉ lệ cơ giới hoá chỉ chiếm trên 10%, số còn lại là

sử dụng các trang thiết bị thủ công bán cơ giới Hầu như không có một doanh nghiệp nào áp dụng các trang thiết bị tự động hoá

Nhìn chung, các doanh nghiệp chế biến có quy mô nhỏ và vừa, năng lực cạnh tranh yếu, thiếu kinh nghiệm, thiếu vốn, khả năng tiếp cận với thị trường, thông tin thấp Thị trường của các doanh nghiệp ở khu vực nông thôn chủ yếu là thị trường trong nước (chiếm tới 94%) trong khi tỉ lệ xuất khẩu chỉ chiếm 6% Bên cạnh đó, những khó khăn về cơ sở hạ tầng, nguồn lao động, vốn tín dụng, thuế, thủ tục hành chính khiến khu vực nông nghiệp, nông thôn chưa bao giờ là nơi hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài

Một thực tế là các doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực nông nghiệp ở khu vực nông thôn gặp rất nhiều khó khăn Số liệu thống kê là trong 10 năm liên tục, tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp nói chung của cả nước bình quân 25-26%, nhưng tốc độ tăng trưởng các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp lại rất thấp, khoảng 2%/năm, tức là thấp hơn 10 lần

Lý giải điều này là do đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp rủi ro nhiều, trong khi hiệu quả đem lại rất thấp, nên nhiều người còn e dè, chưa tham gia Bên cạnh đó, các lĩnh vực kinh doanh khác lại hấp dẫn và đem lại nhiều hiệu quả kinh doanh hơn, nên số các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn càng ít

Trang 26

1.1.1.3 Vai trò của DNNVV trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

ở Việt Nam

Vai trò kinh tế

* Đóng góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế

Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp kinh doanh với quy mô không lớn nhưng lại có khả năng rất năng động và nhạy bén trong các cơ hội kinh doanh, hơn nữa doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng đáp ứng được những nhu cầu nhỏ lẻ của thị trường, chính vì thế các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã đóng góp rất lớn vào kết quả hoạt động kinh tế, tạo môi trường tốt cho người lao động Tổng sản phẩm trong nước mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa mang lại khoảng 26%, khu vực kinh tế cá thể chiếm 34% còn lại là khu vực kinh tế Nhà Nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 40% Năm qua tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa khoảng 6,5% Hàng năm giá trị sản xuất của doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện được chiếm khoảng 31% tổng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp Khu vực ngoài quốc doanh là bộ phận quan trọng trong khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 78% tổng mức bán lẻ là 64% tổng lượng vận chuyển hàng hoá

* Tạo sự năng động và hiệu quả cho nền kinh tế

Do số lượng doanh nghiệp tăng lên rất nhanh nên làm tăng tính cạnh tranh giảm bớt mức độ rủi ro trong nền kinh tế đồng thời làm tăng số lượng và chủng loại hàng hoá dịch vụ trong nền kinh tế Ngoài ra các doanh nghiệp nhỏ

và vừa có khả năng thay đổi mặt hàng và công nghệ chuyển hướng kinh doanh nhanh chóng khi có những bất lợi ảnh hưởng tới quá trình kinh doanh, làm cho nền kinh tế năng động hơn Sự có mặt của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế có tác dụng hỗ trợ các doanh nghiệp lớn kinh doanh có

Trang 27

hiệu quả hơn: làm đại lý vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, giúp tiêu thụ hàng hoá cung cấp các đầu vào như nguyên liệu thâm nhập vào mọi ngõ ngách thị trường mà các doanh nghiệp lớn không với tới được Một điều quan trọng là vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đó phần lớn là khu vực tư nhân chủ yếu chỉ đầu tư vào các ngành nghề có hiệu quả kinh tế cao hơn trong tương lai gần Do vậy việc tăng các cơ số này càng làm cho hiệu quả kinh tế cao hơn trong tương lai Tuy nhiên cần lưu ý là nếu các doanh nghiệp có quy

mô quá nhỏ thì hiệu quả kinh tế sẽ khó tăng lên được

* Khai thác tiềm năng phong phú trong dân cư

Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong phát triển kinh tế không chỉ có đóng góp vào hoạt động kinh tế và làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quả mà còn khai thác được những tiềm năng rất phong phú trong dân cư Hiện nay còn nhiều tiềm năng trong dân chưa được khai thác: tiềm năng

về trí tuệ, tay nghề tinh xảo, lao động, vốn, điều kiện tự nhiên, bí quyết nghề quan hệ huyết thống, làng nghề với những hương ước nghề nghiệp Việc phát triển các doanh nghiệp sản xuất các ngành nghề truyền thống trong nông thôn hiện nay là một trong những hướng quan trọng để sử dụng tay nghề tinh xảo của các nghệ nhân mà hiện đang có xu hướng mai một dần, thu hút lao động nông thôn phát huy lợi thế của từng vùng để phát triển kinh tế

Hơn nữa ngày nay, việc thành lập doanh nghiệp nhỏ và vừa là tương đối

dễ dàng đã làm xuất hiện nhiều cá nhân và tập thể kinh doanh mà không gặp phải những khó khăn phức tạp do đó có thể khai thác được những tiềm lực nhỏ, lẻ trong dân cư

- Vai trò xã hội

Không chỉ có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn có vai trò lớn với xã hội Trước hết các doanh nghiệp

Trang 28

này đã giải quyết được công ăn việc làm cho lao động, góp phần tăng thu nhập, tăng mức sống của người dân và thu hút được nguồn vốn đầu tư nhàn rỗi

* Tạo việc làm cho người lao động

Việt Nam là một nước có cơ cấu dân số trẻ, tốc độ tăng trưởng của dân

số là trên 2% do vậy hàng năm có thêm khoảng hơn 1 triệu người đến độ tuổi lao động có nhu cầu về việc làm Đó là chưa kể số người thất nghiệp và bán thất nghiệp do cơ cấu lại nền kinh tế, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước

số quân nhân giải ngũ Thực tế vừa qua cho thấy, toàn bộ các doanh nghiệp nhà nước năm cao nhất cũng chỉ thu hút được khoảng 1,6 triệu lao động, nếu tính cả nhân viên của bộ máy Nhà Nước cũng chỉ có trên 2 triệu lao động Trong khi đó chỉ riêng kinh tế cá thể trong công nghiệp và thương mại đã thu hút gần 3,5 triệu lao động Các công ty và doanh nghiệp tư nhân thu hút gần nửa triệu lao động Chi phí trung bình để tạo ra một chỗ làm việc trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa khoảng 740.000 đồng chỉ bằng 3% so với các doanh nghiệp lớn

Riêng ở Thái Nguyên, số liệu điều tra từ năm 2006 đến năm 2008 của phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và đầu tư cho thấy số lao động trong 3 năm của các doanh nghiệp Nhà Nước là 38.474; 46.393; 63.503 lao động trong khi đó số lao động mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng là 21.700;29.670;45.565 lao động Qua số liệu trên cho thấy doanh nghiệp nhỏ

và vừa ngày càng có vai trò đặc biệt trong việc tạo việc làm cho người lao động và với chi phí thấp chủ yếu bằng vốn và tài sản của nhân dân, do đó cũng giảm đáng kể những tệ nạn xã hội xuất phát từ nạn thất nghiệp Tuy vậy

số lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa mới chỉ chiếm 12 đến 15% lực lượng lao động so với các nước khác trong khu vực chỉ tiêu này là 50 %

Trang 29

đến 60% Như vậy tỉ lệ thu hút lao động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta còn thấp, tiềm năng của các doanh nghiệp này chưa được phát huy một cách đầy đủ

* Đa dạng hoá và tăng thu nhập trong dân cư

Việt Nam là một nước nông nghiệp có năng suất của nền sản xuất xã hội cũng như thu nhập của dân cư thấp Thu nhập của dân cư nông thôn (chiếm trên 80% tổng dân số) chủ yếu phụ thuộc vào nền nông nghiệp thuần tuý Việc phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở thành thị cũng như ở nông thôn là phương hướng cơ bản nhằm tăng nhanh năng suất tăng thu nhập và đa dạng hoá thu nhập của dân cư Kết quả điều tra cho thấy thu nhập của dân cư vùng có các doanh nghiệp phát triển gấp 4 lần thu nhập của các vùng thuần nông Kết quả khảo sát ở một số địa phương cũng cho kết quả tương tự Thu nhập bình quân của người lao động trong các doanh nghiệp khoảng 800.000 đồng đến 1,4triệu đồng/tháng cao hơn gấp 2 đến 3 lần thu nhập của nông dân Điều không kém phần quan trọng là thu nhập dân cư đa dạng hoá vừa có

ý nghĩa nâng cao mức sống dân cư vừa làm cho cuộc sống giảm bớt rủi ro hơn nhất là ảnh hưởng lớn của thiên tai

* Thu hút vốn

Vốn là nhân tố cơ bản của quá trình sản xuất có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế của cả nước cũng như đối với từng doanh nghiệp Nhờ có vốn mới kết hợp được các yếu tố khác như lao động, đất đai công nghệ và quản lý Thực tế cho thấy để đầu tư cho một chỗ làm việc ở Việt Nam trung bình phải mất 5 đến 10 triệu đồng tiền vốn Vốn có vai trò lớn trong việc đầu tư trang thiết bị cải tiến công nghệ, nâng cao trình độ tay nghề của công nhân và trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp Hơn thế nữa vốn còn có vai trò trong việc mở rộng quy mô sản xuất Tuy nhiên có một nghịch

Trang 30

lý hiện nay là các doanh nghiệp thiếu vốn trầm trọng trong khi vốn trong dân

cư còn tiềm ẩn nhưng không huy động được Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó nhưng nguyên nhân chủ yếu là do môi trường đầu tư chưa thật thuận lợi và ổn định Trong tình hình đó chính các doanh nghiệp nhỏ và vừa

là người trực tiếp tiếp xúc với người cho vay gây được niềm tin nên có thể huy động được vốn hoặc chính người có tiền đứng ra đầu tư kinh doanh

* Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Vai trò này của các doanh nghiệp nhỏ và vừa có ý nghĩa đặc biệt với khu vực nông thôn Việc phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa có ý nghĩa lớn trong việc phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, xoá dần tình trạng thuần nông và độc canh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Hơn nữa sự phát triển mạnh các doanh nghiệp nhỏ và vừa làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

- Cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi, các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh tăng lên nhanh chóng, các doanh nghiệp Nhà Nước được sắp xếp và củng cố lại kinh doanh có hiệu quả để phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế

- Cơ cấu ngành: Phát triển nhiều ngành nghề đa dạng phong phú (cả ngành nghề hiện đại và ngành nghề truyền thống) theo hướng lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo

- Cơ cấu lãnh thổ: Các doanh nghiệp được phân bố đều hơn về lãnh thổ,

cả nông thôn và đô thị, miền núi và đồng bằng Tuy nhiên hiện nay các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn, kể cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Đây là vấn đề cần lưu tâm trong việc hoạch định chính sách

Ngoài ra doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò trong việc gieo mầm cho các tài năng kinh doanh Đây là vấn đề hết sức quan trọng đối với Việt Nam,

vì trong nhiều năm qua đội ngũ kinh doanh gắn liền với cơ chế bao cấp chưa

Trang 31

có kinh nghiệp với kinh tế thị trường Sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa có tác dụng đào tạo thử thách chọn lọc qua thực tế các nhà kinh doanh trên mặt trận sản xuất kinh doanh Kết quả điều tra cho thấy 63,2% ý kiến cho rằng các doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh ở Việt Nam

1.1.2 Vốnvay và vai trò của vốnvay với các DNNVV

1.1.2.1 Khái niệm vốn vay

- Khái niệm về vốn

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vốn được quan niệm là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu vào các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp

Khái niệm này không những chỉ ra vốn là một yếu tố đầu vào của sản xuất mà còn đề cập tới sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong một quá trình sản xuất riêng biệt, chia cắt mà trong toàn bộ mọi quá trình sản xuất liên tục trong suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp

Như vậy, vốn là yếu tố số một của mọi hoạt động sản suất kinh doanh,

nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải quản lý và sử dụng có hiệu quả để bảo toàn

và phát triển vốn, đảm bảo cho doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh Vì vậy các doanh nghiệp cần thiết phải nhận thức đầy đủ hơn về vốn cũng nhưnhững đặc trưng của vốn Điều đó có ý nghĩa rất lớn đối với các doanh nghiệp vì chỉ khi nào các doanh nghiệp hiểu rõ được tầm quan trọng và giá trị của đồng vốn thì doanh nghiệp mới có thể sử dụng nó một cách có hiệu quả được

- Khái niệm vốn vay

Doanh nghiệp có thể vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các cá nhân, đơn vị kinh tế để tạo lập hoặc tăng thêm nguồn vốn.Vay vốn là một giao dịch

Trang 32

về tài sản giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên

đi vay (cá nhân, doanh nghiệp, các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán

- Các loại vốn vay của doanh nghiệp

+ Vốn vay của ngân hàng (hay còn gọi là vốn vay ngân hàng)

Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán

Nguồn vốn vay ngân hàng rất quan trọng đối với các doanh nghiệp Nguồn vốn này đáp ứng đúng thời điểm các khoản tín dụng ngắn hạn hoặc dài hạn tuỳ theo nhu cầu của doanh nghiệp trên cơ sở các hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và doanh nghiệp

+ Vốn vay của các tổ chức tín dụng phi ngân hàng (công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, quỹ đầu tư )

Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên, nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán Tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác

Trang 33

Cho thuê tài chính là Hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên

cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê

đã được hai bên thoả thuận

Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm

ký hợp đồng

Hoạt động cho thuê tài chính trên lãnh thổ Việt Nam phải được thực hiện qua các công ty cho thuê tài chính được thành lập và hoạt động tại Việt Nam

và tuân theo các quy định của Nghị định này

Các hoạt động cho thuê tài chính của các công ty cho thuê tài chính ra nước ngoài được thực hiện theo quy định của Nghị định này và các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam hoặc các bên tham gia có thể thoả thuận áp dụng tập quán quốc tế, nếu tập quán đó không trái với pháp luật của Việt Nam

+ Vốn từ kênh tín dụng thương mại:

Tín dụng thương mại là loại tín dụng rất phổ biến trong tín dụng quốc tế,

là loại tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp cấp cho nhau vay, không có sự tham gia của ngân hàng hoặc cũng có thể hiểu là loại tín dụng được cấp bằng hàng hoá dịch vụ chứ không phải bằng tiền Có ba loại tín dụng thương mại:

Trang 34

Một là: Tín dụng thương mại cấp cho nhà nhập khẩu (gọi là tín dụng

xuất khẩu) là loại tín dụng do người xuất khẩu cấp cho người nhập khẩu để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá Tín dụng xuất khẩu được cấp dưới hình thức chấp nhận hối phiếu và mở tài khoản Cấp tín dụng bằng chấp nhận hối phiếu tức là thương nhân nhập khẩu ký chấp nhận trả tiền vào hối phiếu do người xuất khẩu ký phát để nhận bộ chứng từ hàng hoá thông qua ngân hàng hoặc người xuất khẩu gửi trực tiếp cho họ Thời hạn của loại tín dụng này phụ thuộc vào sự thoả thuận của hai bên bán và mua Tuy nhiên để phòng tránh rủi ro luật các nước thường can thiệp bằng cách định ra thời hạn cho loại tín dụng này Ví dụ, luật nước Anh, Pháp quy định thời hạn từ 30 đến 90 ngày, luật Mỹ là 180 ngày, luật Nhật Bản quy định từ 180 đến 360 ngày

Cấp tín dụng bằng cách mở tài khoản tức là thương nhân xuất khẩu và thương nhân nhập khẩu ký với nhau hợp đồng mua bán hàng hoá, trong đó quy định quyền của bên bán được mở một tài khoản để ghi nợ bên mua sau mỗi chuyến giao hàng mà bên bán đã thực hiện Sau từng thời gian nhất định, người mua sẽ phải thanh toán số nợ đó bằng chuyển tiền, chuyển séc hoặc bằng Kỳ phiếu trả tiền ngay

Hai là:Tín dụng thương mại cấp cho người xuất khẩu (gọi là tín dụng

nhập khẩu) là loại tín dụng do người nhập khẩu cấp cho người xuất khẩu để nhập hàng thuận lợi Hình thức tồn tại của loại tín dụng nay là tiền ứng trước

để nhập hàng Việc ứng tiền trước có tính chất khác nhau tuỳ theo từng trường hợp cụ thể Nếu người xuất khẩu thiếu vốn do phải thực hiện các hợp đồng xuất khẩu có kim ngạch lớn thì tiền ứng trước mang tính chất tín dụng; còn ngược lại, nếu người xuất khẩu không tin vào khả năng thực hiện hợp đồng của người nhập khẩu mà bắt phải đặt cọc cho việc giao hàng, tiền ứng trước mang tính chất là vật đảm bảo thực hiện hợp đồng Khoản tiền ứng trước

Trang 35

được hoàn trả bằng cách khấu trừ dần vào số tiền hàng theo tỉ lệ cố định hoặc theo tỉ lệ tăng dần hoặc chỉ một lần vào chuyến hàng giao cuối cùng

Ba là: Tín dụng nhà môi giới cấp cho người xuất khẩu và nhập khẩu: các

ngân hàng thương nghiệp cỡ lớn thường không cấp tín dụng trực tiếp cho các nhà xuất nhập khẩu mà thông qua nhà môi giới, loại hình này sử dụng rộng rãi

ở các nước Anh, Đức, Bỉ và Hà Lan Người môi giới là các công ty lớn, có vốn vay được từ các ngân hàng, hình thức cấp tín dụng rất đa dạng Ví dụ cấp cho nhà xuất khẩu gồm cho vay không phải cầm cố hàng hoá, cho vay cầm cố chứng từ hàng hoá, cho vay chiết khấu hối phiếu Mọi tín dụng của người môi giới đều là tín dụng ngắn hạn

+ Vốn vay trên thị trường chứng khoán (huy động vốn bằng việc phát hành trái phiếu): Tại những nền kinh tế có thị trường chứng khoán phát triển, vay vốn trên thị trường chứng khoán là một hình thức huy động vốn cho doanh nghiệp Doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu, đây là một công cụ tài chính quan trọng dễ sử dụng vào mục đích vay dài hạn đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh Việc phát hành trái phiếu cho phép doanh nghiệp có thể thu hút rộng rãi số tiền nhàn rỗi trong xã hội để mở rộng hoạt động kinh doanh của mình

+ Vốn vay khác: bạn bè, người thân

Những người thân như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp… chính là nguồn vốn dồi dào của doanh nghiệp Có thể họ là những người thành công trong kinh doanh và chưa có ý định đầu tư gì hay đó là các khoản họ tích cóp được, khoản thừa hưởng hay ngoại hối Huy động nguồn vốn này không khó khăn nếu doanh nghiệp trả cho họ mức lãi suất cao hơn lãi suất ngân hàng huy động

Trang 36

1.1.2.2 Vai trò của vốn vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Vốn vay và vốn nói chung có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp Vốn là điều kiện không thể thiếu được để thành lập doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Trong mọi loại hình doanh nghiệp, vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh Trong quản lý tài chính, các doanh nghiệp cần chú ý quản lý việc huy động và sự luân chuyển của vốn, sự ảnh hưởng qua lại của các hình thái khác nhau của tài sản và hiệu quả tài chính

- Điều kiện tiên quyết để thành lập doanh nghiệp

Vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập một doanh nghiệp Về mặt pháp lý, mỗi doanh nghiệp khi đăng ký thành lập phải có một lượng vốn nhất định với lĩnh vực kinh doanh đó Như vậy vốn lúc này có vai trò đảm bảo sự hình thành và tồn tại của doanh nghiệp trước pháp luật

Giá trị vốn ban đầu có thể ít hoặc nhiều tuỳ theo quy mô, ngành nghề, loại hình doanh nghiệp Vốn pháp định ở Việt Nam chỉ quy định cho một số ngành có liên quan đến tài chính như chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh vàng và kinh doanh tiền tệ

- Cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh

Vốn là điều kiện cơ bản và thiết yếu để tiến hành bất kỳ quá trình và loại hình sản xuất kinh doanh nào Điều này thể hiện rõ trong hàm sản xuất cơ bản P=F(K,L,T), vốn (K) chính là một trong ba yếu tố cơ bản của hàm sản xuất, bên cạnh các yếu tố lao động (L) và công nghệ (T) Trong hàm sản xuất này, vốn có thể coi là yếu tố quan trọng nhất bởi khi có vốn thì có thể mua được hai thứ còn lại

Trang 37

Sau khi thành lập, doanh nghiệp phải tiến hành sản xuất kinh doanh Hoạt động thực tế hàng ngày đòi hỏi phải có tiền để chi tiêu, mua sắm nguyên vạt liệu, máy móc, trang thiết bị, trả lương Số tiền này không thể lấy ở đâu khác ngoài nguồn vốn của doanh nghiệp Khi nguồn vốn tạm thời không đáp ứng được đủ nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng khó khăn về ngân quỹ Các hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp tạm thời đình trệ, suy giảm Nếu tình hình này kéo dài mà không được khắc phục kịp thời doanh nghiệp có thể lâm vào nguy cơ phá sản rồi phá sản hoặc bị sáp nhập với doanh nghiệp khác

- Cơ sở cho việc mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh

Vốn không chỉ giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh

mà còn giúp doanh nghiệp mở rộng và phát triển Trong quá trình phát triển của mình, doanh nghiệp luôn mong muốn mở rộng sản xuất kinh doanh, giữ vững và vươn lên trong thị trường Để làm được điều đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải liên tục đổi mới không ngừng và không thể không cần đến nguồn vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh

Vốn còn là nhân tố cực kỳ quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường Vốn không những là cơ sở để doanh nghiệp nâng cao khả năng sản xuất, tăng cường mạng lưới phân phối mà còn có thể giúp doanh nghiệp vượt qua các đổi thủ cạnh tranh hay hơn nữa là loại bỏ họ bằng các chính sách marketing hiệu quả

Trang 38

1.1.3 Kinh nghiệm huy động vốn của DNNVV ở một số nước châu Á

và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

1.1.3.1 Kinh nghiệm huy động vốn của DNNVV ở một số nước châu Á Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc là một quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, một số loại có dự trữ lớn như: than đá, quặng sắt, dầu mỏ, khí gas tự nhiên, thuỷ ngân, nhôm, chì, kẽm, uaranium, năng lượng thuỷ điện Nguồn nguyên liệu mỏ của Trung Quốc đứng hàng giàu có nhất thế giới nhưng chỉ phát triển được một phần, có thể do Trung Quốc chưa tập trung khai thác thế mạnh này của mình mà tập trung vào việc sản xuất hàng công nghiệp nhẹ và hàng tiêu dùng

Sau hơn 30 năm tiến hành cải cách mở cửa, Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực kinh tế Vào ngày 16/08/2010, Trung Quốc

đã chính thức trở thành cường quốc kinh tế lớn thứ hai trên thế giới Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Nhật Bản trong quý II/2010 đạt 1.286 tỉ USD, trong khi đó GDP của Trung Quốc cao hơn với 1.335 tỉ USD Theo nhiều chuyên gia dự báo, Trung Quốc có khả năng sớm vượt Mỹ để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới vào 2027 Sự thành công này có được một phần là nhờ vào đóng góp lớn lao của các DNNVV ở Trung Quốc Theo các số liệu

có liên quan, DNNVV ở Trung Quốc chiếm 99% tổng số doanh nghiệp hiện

có, đóng góp cho GDP là hơn 60%, đóng góp về thuế là hơn 50% và cung cấp 75% công ăn việc làm ở đô thị

Nói về bài học kinh nghiệm từ phát triển DNNVV của Trung Quốc thì

có khá nhiều điểm mà chúng ta có thể học hỏi, cả về mặt thiết lập chính sách

và thực thi chính sách hỗ trợ Chính phủ giao nhiệm vụ giám sát các DNNVV cho bốn cơ quan hành chính: Uỷ ban cải cách và phát triển quốc gia; Trung

Trang 39

tâm điều phối, hợp tác với nước ngoài cho các DNNVV; Hiệp hội các DNNVV và Cục Phát triển DNNVV tại địa phương

Về hỗ trợ tài chính, nhà nước cấp phát ngân sách hỗ trợ cho DNNVV bao gồm một chỉ mục dành riêng nhằm phát triển DNNVV thông qua việc thành lập quỹ nhằm khuyến khích các DNNVV tăng cường mở rộng quy mô Các phòng, ban có liên quan cũng tích cực theo đuổi việc thiết lập một hệ thống bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ Ưu đãi bao gồm cả giảm trừ

và miễn trừ thuế thu nhập được dành cho các DNNVV có thể đáp ứng được các quy định của nhà nước về số lượng việc làm sẽ được tạo ra trong mỗi năm, hoặc các DNNVV nằm trong khu vực kinh tế kém phát triển, khu vực nghèo

Chính phủ hỗ trợ các DNNVV trong việc tiếp cận thị trường bằng cách giúp họ nâng cao kỹ năng, chẳng hạn như việc cho phép họ truy cập hay tận dụng các dịch vụ quan trọng liên quan đến các tiện ích công cộng, cơ sở hạ tầng, dịch vụ tài chính, khoa học quốc phòng và các ngành công nghiệp Ngoài ra Chính phủ còn kêu gọi người dân cũng như hệ thống chi tiêu của Chính phủ ủng hộ các sản phẩm, dịch vụ được tạo ra bởi các DNNVV, khuyến khích DNNVV đẩy mạnh xuất khẩu ra nước ngoài bằng các chính sách liên quan đến tín dụng xuất khẩu và bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

Kinh nghiệm của Singapore

Singapore là một quốc gia nhỏ trong hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cũng như so với thế giới nhưng có nên kinh tế ngoạn mục với nhiều kinh nghiệm đáng học hỏi Đây là đất nước có tổng diện tích tự nhiên bằng khoảng 1/5 diện tích Hà Nội (697,26 km2), dân số 5,1 triệu người Singapore hầu như không có nguồn tài nguyên, khoáng sản, không có đất cho phát triển nông nghiệp So với các quốc gia trong khối ASEAN, Singapore gặp nhiều

Trang 40

khó khăn trong phát triển Tuy nhiên, thực tế Singapore đã có những bước phát triển kỳ tích: tốc độ tăng trưởng cao (trung bình đạt 6,1% giai đoạn 2002-2006 và đạt 9,9% trong quý I năm 2012) GDP bình quân đầu người thuộc nhóm đứng hàng đầu thế giới (56.797 USD năm 2011), cơ sở hạ tầng phát triển hiện đại, môi trường trong sạch đứng hàng đầu Châu Á… Để đạt được những thành tựu này, CHính phủ Singapore đã có nhiều chính sách đổi mới, trong đó phải kể đến những chính sách hỗ trợ DNNVV, tạo điều kiện cho khu vực kinh tế này phát triển Bởi vì các DNNVV có khả năng khai thác

có hiệu quả các tiềm năng, đóng góp đáng kể cho nền kinh tế, đồng thời góp phần giải quyết hàng loạt vấn đề xã hội khác như: giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, giảm các tệ nạn, cải thiện đời sống của người dân Việc

hỗ trợ của Chính phủ không chỉ dành cho doanh nghiệp trong nước mà còn hỗ trợ cho cả doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Singapore Hiện nay, số DNNVV ở Singapore chiếm tới 99% tổng số doanh nghiệp, 62% tổng số lao động và 48% tổng số giá trị gia tăng của nền kinh tế nước này

Chính phủ Singapore rất quan tâm đến vấn đề hỗ trợ vốn cho sản xuất, kinh doanh Nhiều sinh viên tài năng, có ý tưởng lập nghiệp tốt nhưng chưa

có vốn đã được Chính phủ hỗ trợ vốn để thành lập DN, nhờ đó nhiều người đã khởi nghiệp thành công và trở thành doanh nhân phát đạt Đặc biệt, những doanh nghiệp có tính sáng tạo cao, có tiềm năng phát triển trong tương lai cũng được Chính phủ xem xét hỗ trợ về mặt tài chính

Cung cấp thông tin cho doanh nghiệp cũng là một kênh hỗ trợ quan trọng của Chính phủ Tổ chức Phát triển doanh nghiệp trực thuộc Bộ Công Thương Singapore có trên 30 văn phòng ỏ nhiều nơi trên thế giới, riêng ở Việt Nam có 2 văn phòng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Các văn phòng này có trách nhiệm tập hợp và cung cấp thông tin thị trường Phối hợp tổ chức cho các doanh nghiệp trong nước đi các nước khảo sát, tìm kiếm đối tác, quan

Ngày đăng: 25/02/2021, 10:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đình Kiệm (2009), Tài chính Doanh nghiệp, Giáo trình - NXB Thông kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính Doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Đình Kiệm
Nhà XB: NXB Thông kê
Năm: 2009
2. Nguyễn Hải Sản (2007), Quản trị tài chính, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính
Tác giả: Nguyễn Hải Sản
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2007
3. Lê Văn Tƣ (2005), Quản trị ngân hàng thương mại,NXB Tài chính Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Tác giả: Lê Văn Tƣ
Nhà XB: NXB Tài chính Hà nội
Năm: 2005
4. Josette Peyrard (2004), Phân tích tài chính doanh nghiệp, NXB Tp HCM- Đỗ Văn Thận dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tài chính doanh nghiệp
Tác giả: Josette Peyrard
Nhà XB: NXB Tp HCM- Đỗ Văn Thận dịch
Năm: 2004
5. Đoàn Đình Hoàng (2006), “Doanh nghiệp nhỏ và vừa – Lối đi ngay dưới chân mình” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn Đình Hoàng (2006), "“Doanh nghiệp nhỏ và vừa – Lối đi ngay dưới chân mình
Tác giả: Đoàn Đình Hoàng
Năm: 2006
6. Lê Thanh Hà (2006), “Nghiên cứu một số giải pháp nhằm phát triển tài trợ vốn dưới hình thức cho thuê tài chính đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP.HCM”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Đại học Kinh tế Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu một số giải pháp nhằm phát triển tài trợ vốn dưới hình thức cho thuê tài chính đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP.HCM”
Tác giả: Lê Thanh Hà
Năm: 2006
7. Nguyễn Quốc Nghi, Lê Bảo Yến (2010), Kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước Châu Á và bài học đối với Việt Nam, Kinh tế và Dự báo, số 19, 2010, trang 45-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước Châu Á và bài học đối với Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quốc Nghi, Lê Bảo Yến
Năm: 2010
9. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X (2005), Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X (2005)
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X
Năm: 2005
11. Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, Xây dựng Kế hoạch phát triển DNNVV giai đoạn 2011 – 2015, 4695/BKHĐT-PTDN, Hà Nội tháng 7 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ", Xây dựng Kế hoạch phát triển DNNVV giai đoạn 2011 – 2015
12. Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên (2012a), Niên giám Thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên (2012a)
13. Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên (2012b), Kinh tế - Xã hội tỉnh Thái Nguyên sau 15 năm tái hợp (1997 – 2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên (2012b)
15. Trang web của hiệp hội DNNVV Việt Nam: http://www.vinasme.com.vn 16. Trang web Tổng cục thống kê www.gso.gov.vn Link
14. UBND tỉnh Thái Nguyên (2011),Báo cáo số 116/BC-UBND ngày 24/11/2011 về Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2011, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w