Giải toán “Bằng sơ đồ đoạn thẳng” đã được nhiều giáo viên tiến hành, song việc hướng dẫn học sinh hình thành kiến thức thì cần theo một trình tự chặt chẽ, lôgíc và người dạy cần hướng dẫ[r]
Trang 1Sáng kiến kinh nghiệm
MỘT SỐ KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 4 GIẢI TOÁN CÓ
LỜI VĂN BẰNG PHƯƠNG PHÁP “SƠ ĐỒ ĐOẠN THẲNG”
PHẦN MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Như ta đã biết, mục tiêu của giáo dục Tiểu học là hình thành và phát triển nhân cách của con người, đặt nền móng vững chắc cho giáo dục phổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Mục tiêu đó được thực hiện bằng các hoạt động dạy học và giáo dục thông qua các môn học và các hoạt động ngoại khóa, mà trong
đó môn Toán chiếm vai trò hết sức quan trọng Việc dạy học môn Toán không chỉ giúp học sinh lĩnh hội các kiến thức, rèn các kĩ năng tính toán mà còn giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, tưởng tượng, óc sáng tạo, thói quen làm việc khoa học, phát triển ngôn ngữ, tư duy lô-gic, góp phần hình thành các phẩm chất, nhân cách của người lao động
Trong chương trình Toán Tiểu học nói chung, chương trình Toán 4 nói riêng, phần giải Toán có lời văn đóng vai trò hết sức quan trọng và có mặt hầu hết ở tất cả các bài học Ngoài các bài ở các dạng toán cụ thể như: Tìm hai số khi biết tổng và hiệu, tổng và tỉ số hay hiệu và tỉ số của hai số đó thì giải toán có lời văn còn được dùng để rèn luyện các kỹ năng và kiểm tra việc áp dụng các kiến thức cơ bản
Để làm được việc đó người giáo viên cần giúp học sinh phân tích bài toán nhằm nhận biết được đặc điểm, bản chất bài toán, từ đó lựa chọn được phương pháp giải thích hợp Trong các phương pháp giải toán ở Tiểu học, tôi thấy phương pháp
“Giải toán bằng sơ đồ đoạn thẳng” có nhiều ưu điểm và được sử dụng rộng rãi
nhất Phương pháp này có tính trực quan cao, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ Tiểu học, hình thành và phát triển kỹ năng, kỹ xảo, năng lực tư duy, tưởng tượng
từ đó giúp cho học sinh lập được kế hoạch và giải bài toán một cách dễ dàng
Từ những lý do trên, tôi đã đi sâu tìm hiểu về việc sử dụng sơ đồ đoạn thẳng trong giải toán với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy giải toán cho học
sinh Đó cũng chính là lý do tôi chọn đề tài: Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh lớp 4 giải toán có lời văn bằng phương pháp “Sơ đồ đoạn thẳng”.
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Tìm hiểu thực trạng việc giải toán có lời văn bằng phương pháp “Sơ đồ đoạn thẳng”
- Vận dụng cách dạy theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học từ đó nâng cao chất lượng dạy học giải toàn có lời văn bằng “Sơ đồ đoạn thẳng” ở toán 4
- Rèn kĩ năng thực hành ứng dụng kiến thức
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
- Đối tượng: Học sinh tiểu học lớp 4
- Phạm vi: Chương tình toán 4
IV ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT VÀ THỰC NGHIỆM:
- Đối tượng: Học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hải Thái số 2
V NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Trang 2Dựa trên cơ sở tâm sinh lí lứa tuổi của học sinh, từ tư duy trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng Bản thân tôi đã tìm tòi, nghiên cứu, chắt lọc các dạng toán giải có lời văn điển hình của chương trình toán 4 Nhằm đưa ra phương pháp giải bằng trực quan “Sơ đồ đoạn thẳng” Sau đó đưa ra một số một số kết luận cụ thể trên
cơ sở bài toán điển hình
VI THỜI GIAN NGHIÊN CỨU:
- Năm học 2014 – 2015
NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học chủ yếu là tư duy trực quan cụ thể,
tư duy trừu tượng mới bắt đầu hình thành và phát triển ở những lớp cuối cấp, song mức độ còn đơn giản Khả năng phân tích, tổng hợp, kết quả hoá các dữ liệu của bài toán ở các em chưa cao Mặt khác để giải được một bài toán, học sinh cần thực hiện các thao tác phân tích để tìm ra mối liên hệ giữa các yếu tố trong bài toán đó Vì vậy khi dạy các kiến thức mới hay giải các bài toán giáo viên thường dùng các biểu tượng, các yếu tố trực quan thay cho các số để học sinh quan sát, thực hiện các thao tác tư duy từ đó xác định các mối quan hệ giữa các đại lượng của bài toán Các yếu
tố trực quan cần được sử dụng một cách họp lý để dễ dàng thấy được các mối quan
hệ và phụ thuộc giữa các đại lượng, tạo ra các hình ảnh cụ thể giúp ta suy nghĩ, tìm tòi và đưa ra cách giải quyết
Một trong các yếu tố trực quan được sử dụng nhiều, mang lại hiệu quả thiết thực và được đa số giáo viên xem như là không thể thiếu được trong việc hướng dẫn học sinh giải các bài toán có lời văn là sơ đồ đoạn thẳng Việc sử dụng sơ đồ đoạn thẳng giúp học sinh xác định được mối liên hệ giữa các yếu tố, các đại lượng từ đó định ra được cách giải, thậm chí có khi nhận thấy ngay kết quả bài toán; tránh được những lý luận dài dòng không phù hợp với học sinh Tiểu học, giúp học sinh tiếp thu bài một cách chủ động, dễ hiểu, nhớ lâu hơn
II THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN
1 Thuận lợi:
- Được sự quan tâm của Ban giám hiệu, sự chỉ đạo, hỗ trợ trực tiếp của Chuyên môn nhà trường
- Phụ huynh chăm lo và quan tâm con em
- Học sinh hiếu học
- Trang thiết bị dạy học tương đối đầy đủ Phòng học, bàn ghế đạt chuẩn, phục vụ cho việc tổ chức dạy và học
2 Khó khăn:
- Học sinh mới bắt đầu tiếp cận và làm quen với các dạng toán tư duy trừu tượng
- Các em chưa có kĩ năng tìm hiểu mối quan hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm, chưa biết xác định dạng toán
- Chưa biết tóm tắt dữ liệu đã nêu ở đề bài bằng sơ đồ đoạn thẳng
Trang 3* Nguyên nhân chủ quan:
- Học sinh thường ngần ngại trong việc học toán có lời văn nhưng giáo viên chưa tạo được sự ham thích và hứng thú cho các em
- Một số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên nhanh quên các dạng bài toán
- Một số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài học còn máy móc nên chóng nhớ, chóng quên các dạng bài toán
- Giáo viên xây dựng kế hoạch bài dạy chưa chú trọng đến việc lựa chọn phương pháp cho bài dạy để cho học sinh tiếp thu bài tốt
- Học sinh bị hổng kiến thức từ các lớp dưới Ví dụ như: gấp một số lên nhiều lần, giảm đi một số lần
- Giáo viên chưa quan tâm đến đối tượng học sinh yếu vì ngại mất thời gian
* Nguyên nhân khách quan:
- Những em học sinh yếu thường rơi vào những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, thiếu sự quan tâm, chăm sóc của phụ huynh
- Địa bàn rộng, nhiều học sinh ở xa trường (Trảng Rộng, Đội 3A, )
3 Số liệu thống kê:
Trước khi thực hiện các giải pháp, tôi đã tiến hành khảo sát (bằng bài kiểm tra viết 20 phút) vào buổi học tăng tiết (buổi học thứ hai) ở 2 lớp: Lớp thực nghiệm (4A) và lớp đối chứng (4B) tuần 13 K t qu c th nh sau:ết quả cụ thể như sau: ả cụ thể như sau: ụ thể như sau: ể như sau: ư sau:
Điểm
Lớp thực nghiệm:
4A (29 HS)
Lớp đối chứng:
4B (28 HS)
Nhìn vào kết quả thống kê ta thấy tỉ lệ HS khá và giỏi rất là ít và số lượng HS yếu quá cao (chiếm 27,6% ở lớp thực nghiệm) Từ đó cho ta thấy phương pháp đang
sử dụng để hướng dẫn HS giải toán có lời văn chưa hiệu quả cao
III CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
Trong quá trình hướng dẫn học sinh cần tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu đề toán (bước này câu hỏi giáo viên đặt ra là rất quan
trọng)
Bước 2: Phân tích các điều kiện của bài toán, biểu diễn các đại lượng trên sơ
đồ đoạn thẳng
Bước 3: Dựa trên sơ đồ để lập kế hoạch giải.
Bước 4: Thực hiện các thao tác giải (đó là lời giải và phép tính).
Bước 5: Kiểm tra đánh giá lời giải (thử lại kết quả).
Trang 4Qua các bước đó học sinh cần đạt các yêu cầu về giải toán bằng sơ đồ đoạn thẳng:
Yêu cầu 1: Từ đề bài đã cho học sinh dùng sơ đồ đoạn thẳng thay cho các số, các đại lượng của bài toán
Yêu cầu 2: Học sinh có óc phân tích, phán đoán, suy luận nhanh và có tư duy lô-gíc cũng như có cách khái quát cao
Yêu cầu 3: Rút ra được kinh nghiệm cho bản thân, diễn đạt được cách tìm ra các đại lượng
Qua nghiên cứu chương trình Toán 4 tôi xin trình bày một số dạng cụ thể như sau:
1 Dạng 1: Tìm hai số khi biết tổng và hiệu
Bài toán: Hiệu 2 số bằng 14 số bé, tổng hai số bằng 981 Tìm 2 số đó
Bước 1: Tìm hiểu đề toán
- HS đọc kĩ đề toán
- GV nêu câu hỏi giúp HS phân tích đề toán
+ Bài toán cho biết gì? ( Hiệu hai số bằng 14 số bé; Tổng hai số bằng 981) + Bài toán yêu cầu gì? (Tìm hai số đó )
Bước 2: Phân tích điều kiện của bài toán biểu diễn các đại lượng trên sơ đồ đoạn thẳng
Số lớn trừ số bé bằng 14số bé, vậy nếu ta biểu thị số bé là bốn phần bằng nhau thì hiệu là một phần như thế
Số lớn sẽ là: 1 + 4 = 5 (phần)
Theo bài ra ta có sơ đồ:
Bước 3: Dựa trên sơ đồ lập kế hoạch giải
Bước 4: Giải bài toán
Bài giải Nhìn vào sơ đồ ta thấy 981 ứng với số phần là: 4 + 5 = 9 (phần)
Số bé là: 981 : 9 x 4 = 436
Số lớn là: 981 – 436 = 545
Đáp số: 436 và 545 Bước 5: Kiểm tra đánh giá lời giải ( thử lại ):
436 : ( 545 - 436 ) = 4 ( lần )
?
?
?
981
Trang 52 Dạng 2: Dùng sơ đồ đoạn thẳng để giải các bài toán có dạng trung bình cộng
- Dạng này thường được áp dụng từ dạng cơ bản đến các bài tập nâng cao kiến thức cho học sinh Khi sử dụng sơ đồ dạng này giáo viên cần liên hệ cho học sinh thấy được sơ đồ dạng toán này cũng chia thành các phần bằng nhau, mỗi phần bằng nhau chính là trung bình cộng của hai số hay nhiều số
- Vẽ chi tiết trên sơ đồ thể hiện sự tương quan giữa các đại lượng
Ví dụ: Bài toán 1: Lớp 4A trồng được 26 cây, lớp 4B trồng được 32 cây, lớp
4C trồng được 29 cây, lớp 4D trồng được số cây bằng trung bình cộng số cây trồng được của 4 lớp Hỏi lớp 4D trồng được bao nhiêu cây?
Phân tích:
Ta thấy tổng số cây của 4 lớp được chia thành 4 phần bằng nhau thì số cây của lớp 4D là một phần và tổng số cây của 3 lớp kia sẽ là 3 phần Như thế trung bình cộng số cây của cả 4 lớp chính bằng trung bình cộng số cây của 3 lớp còn lại
Học sinh tự vẽ sơ đồ (căn cứ vào các dữ liệu biễu diễn các đại lượng trên sơ đồ)
Theo bài ra ta có sơ đồ:
Dựa vào sơ đồ lập kế hoạch giải bài toán
Bài giải
Nhìn vào sơ đồ ta có:
Lớp 4D trồng được số cây là:
(26 + 32 + 29) : 3 = 29 (cây)
Đáp số: 29 cây
Nhận xét: Một trong các số đã cho bằng trung bình cộng của các số còn lại thì số đó chính bằng trung bình cộng của tất cả các số đã cho.
Bài toán 2: Lớp 4A trồng được 26 cây, lớp 4B trồng được 32 cây, lớp 4C
trồng được 29 cây, lớp 4D trồng được số cây hơn trung bình cộng số cây trồng được của 4 lớp là 3 cây Hỏi lớp 4D trồng được bao nhiêu cây?
Phân tích: Bài toán này cho số cây lớp 4D không những bằng trung bình cộng
số cây của 4 lớp mà còn hơn trung bình cộng số cây của 4 lớp là 3 cây
Giáo viên hướng dẫn cho HS vẽ sơ đồ đoạn thẳng
Theo bài ra ta có sơ đồ :
Trang 6Tổng số cây của 3 lớp 4A + 4B + 4C và thêm 3 cây nữa sẽ là 3 lần TBC số cây của
cả 4 lớp Từ đó ta tìm ra được số cây của lớp 4D
Bài giải Nhìn các sơ đồ ta thấy trung bình cộng số cây của 4 lớp là:
(26 + 32 + 29 + 3) : 3 = 30 (cây) Lớp 4D trồng được số cây là:
30 + 3 = 33 (cây)
Đáp số: 33 (cây)
Nhận xét:
+ Nếu có 4 số a, b, c, x trong đó x chưa biết mà: x > a+b+ c+x
4 là n đơn vị thì:
a+b+ c+ x
a+ b+c +n
3
+ Nếu có 4 số a, b, c, x trong đó x chưa biết mà: x < a+b+ c+x
4 là n đơn vị thì:
a+b+ c+ x
a+b+c − n
3
Bài toán 3: Trung bình cộng của 2 số là 28 biết rằng 13 số này bằng 14 số kia Tìm mỗi số
Phân tích: Khi gặp bài toán này giáo viên cần giúp học sinh hiểu: Trung bình cộng của 2 số tức là tổng của 2 số chia cho 2 được 28 Tìm tổng 2 số là lấy trung bình cộng của chúng nhân với 2 (tức là 28 x 2 = 56) Mặt khác cần phải hiểu một phần của số này (nếu số này chia làm 3 phần bằng nhau) cũng bằng một phần của số kia (nếu số đó chia làm 4 phần bằng nhau) Bài toán trở về dạng tìm 2 số khi biết tổng và tỉ
Khi đó ta có thể vẽ sơ đồ:
Bài giải
Số thứ nhất là: 56 : (3 + 4) x 3 = 24
Số thứ hai là: 56 - 24 = 32
Đáp số: 24 và 32
3 Dạng 3: Dạng tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của chúng
Bài toán: Lúc đầu nhà máy số công nhân nữ bằng 23 số công nhân nam Sau
đó 12 công nhân nam nghỉ việc nhà máy nhận thêm 20 công nhân nữ thì lúc này nhà máy có tổng số công nhân là 198 người Hỏi lúc đầu nhà máy có bao nhiêu công nhân nam, công nhân nữ?
Phân tích: Muốn tính được số công nhân nam, công nhân nữ thì cần phải tính
số công nhân ở nhà máy lúc đầu, từ đó ta có lời giải:
Trang 7Bài giải
Tổng số công nhân lúc đầu trong nhà máy là:
198 + 12 - 20 = 190 (công nhân)
Vẽ sơ đồ biểu thị số công nhân nam, nữ lúc đầu:
Nhìn vào sơ đồ ta thấy 190 công nhân ứng với số phần là:
2 + 3 = 5 (phần)
Số công nhân nữ là:
190 : 5 x 2 = 76 (công nhân)
Số công nhân nam là:
190 - 76 = 114 (công nhân) Đáp số: 76 công nhân nữ
114 công nhân nam
4 Dạng 4: Dạng tìm 2 số khi biết hiệu và tỉ số của chúng
Tương tự ta căn cứ vào tỉ số của 2 số để chia các đoạn thẳng biểu diễn cho các
số phải tìm bằng những phần bằng nhau Sau đó lấy hiệu chia cho hiệu số phần bằng nhau đó để tính giá trị một phần tiếp đó ta sẽ tìm được các giá trị của từng số theo yêu cầu của bài toán
Bài toán: Hiệu giữa 2 số là 12 Nếu ta tăng số bị trừ lên 5 lần và giữ nguyên
số trừ thì hiệu mới là 1452 Hãy tìm 2 số đó
Phân tích: Hiệu giữa 2 số là 12 tức là lấy số thứ nhất (số bị trừ) trừ đi số thứ 2 (số trừ) thì kết quả là 12 Nếu tăng số thứ nhất lên 5 lần (số bị trừ x 5) và giữ nguyên
số thứ 2 (số trừ) thì lúc này kết quả lại là 1452 Vậy ta có thể gọi số bị trừ là a, số trừ
là b Theo bài ra ta có: a - b = 12
a x 5 - b = 1452 Bài này có nhiều cách giải, cách thì dài dòng, cách thì học sinh khó hiểu
nên khi ta biểu diễn các đại lượng đã cho trên sơ đồ học sinh sẽ nhìn thấy và dễ hiểu hơn
Bài giải:
Nhìn vào sơ đồ ta thấy:
5 lần 12 cộng với 4 lần số trừ bằng 1452
Vậy số trừ bằng: (1452 - 12 x 5) : 4 = 348
Số bị trừ là: 348 + 12 = 360
56
190 CN
1452
Số trừ:
Số bị trừ:
12
?
?
Trang 8Đáp số: 348 và 360
5 Dạng 5: Dạng suy luận: (dành cho học sinh sinh khá, giỏi)
Bài toán: Khi so sánh tuổi của Đông - Tây - Nam – Bắc thì thấy Đông ít tuổi
hơn Bắc, tuổi Nam và Tây cộng lại bằng tuổi Đông và tuổi Bắc cộng lại Đông nhiều tuổi hơn Tây Hỏi ai nhiều tuổi nhất, ai ít tuổi nhất?
Phân tích: Đây là một bài toán đòi hỏi sự suy luận của học sinh để tìm ra trong
4 bạn ai là người nhiều tuổi nhất Vì vậy, cần căn cứ vào dữ liệu của bài toán đã cho
để tìm Nhưng nếu như ta giải bài toán bằng cách biểu thị số tuổi Đông, Tây, Nam, Bắc lần lượt là a, b, c, d
Theo đề bài ta có: a d (1)
b + c = a + d (2)
Từ (1) và (3) b d (4)
Kết hợp (1), (2), (3) và (4) ta thấy:
b a; a d; d c Hay b a d c
Vậy Tây ít tuổi nhất (b bé nhất)
Nam nhiều tuổi nhất (c lớn nhất)
Với phương pháp này thì dài dòng và học sinh sẽ khó hiểu nhưng nếu ta dựa vào các dữ liệu đã cho ta có thể minh hoạ biểu diễn bằng sơ đồ đoạn thẳng như sau:
Từ sơ đồ ta thấy: b a d c nghĩa là: Nam nhiều tuổi nhất, Tây ít tuổi nhất
Sơ đồ đoạn thẳng còn dùng để giải các bài toán về tuổi ở tiểu học, giải các bài toán về phân số và số thập phân nữa Ở đây phạm vi có hạn tôi chỉ đưa ra một số dạng điển hình Mỗi sơ đồ lại có một cách giải riêng giúp học sinh giải được nhiều dạng toán từ cơ bản đến nâng cao nhằm giúp học sinh tự phát hiện, tự giải quyết vấn
đề của bài học, tự chiếm lĩnh nội dung kiến thức và có thể vận dụng kiến thức đó vào luyện tập thực hành một cách sáng tạo hơn
IV KẾT QUẢ
Sau khi hướng dẫn, làm mẫu và cùng làm với học sinh một số bài thì tôi thấy học sinh hiểu rõ hơn bản chất của bài toán, biết nhận dạng và giải bài toán một cách
dễ dàng hơn và đã biết áp dụng để giải các bài toán phức tạp hơn, tránh được lý lẽ dài dòng khó hiểu Đồng thời các em yêu thích học toán hơn hẳn
Nam (c) Tây (b)
Tây và Nam
am:
Đông và Băc
Trang 9Sau khi thực hiện, áp dụng các giải pháp, tôi đã tiến hành khảo sát lại (bằng bài kiểm tra viết 20 phút) vào buổi học tăng tiết (buổi học thứ hai) ở 2 lớp: Lớp thực nghiệm (4A) và lớp đối chứng (4B) tuần 30 Kết quả cụ thể như sau:
Điểm
Lớp thực nghiệm:
4A (29 HS)
Lớp đối chứng:
4B (28HS)
Dưới 5
Qua kết quả khảo sát trước và sau khi áp dụng các giải pháp nêu trên đã cho thấy sau tác động, tỉ lệ học sinh đạt như sau:
+ Điểm giỏi 27,6%; tăng 6,2% so với lớp đối chứng;
+ Điểm khá 41,4%; tăng 5,7% so với lớp đối chứng;
+ Không còn học sinh có bài kiểm tra điểm yếu
Nhìn vào kết quả trên ta thấy rằng việc áp dụng các giải pháp trên đưa lại hiệu quả thiết thực, đặc biệt là tỷ lệ học sinh khá giỏi được tăng lên một cách rõ rệt, không có hiện tượng học sinh xếp loại yếu
Tôi đã vận dụng vào thực tế trong năm học 2015 – 2016 đạt được kết quả khả quan Và năm học 2016 – 2017 tôi tiếp tục áp dụng vào dạy học
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I KẾT LUẬN:
Giải toán “Bằng sơ đồ đoạn thẳng” đóng vai trò quan trọng trong quá trình
nhận thức và phát triển khả năng tư duy - suy luận - sáng tạo của học sinh trong cách
giải, cách lập luận Giải toán “Bằng sơ đồ đoạn thẳng” đã được nhiều giáo viên tiến
hành, song việc hướng dẫn học sinh hình thành kiến thức thì cần theo một trình tự chặt chẽ, lôgíc và người dạy cần hướng dẫn học sinh biết “giải mã” các từ khóa của bài toán để biểu diễn sự tương quan giữa các đại lượng của bài toán trên sơ đồ một cách chính xác giúp học sinh dễ hiểu bài, chủ động chiếm lĩnh tri thức, tạo hứng thú cho các em trong học tập
Trong phạm vi kinh nghiệm này tôi chỉ đưa ra một số bài toán đặc trưng cho từng trường hợp về sử dụng sơ đồ đoạn thẳng học sinh vận dụng linh hoạt từ bài toán mẫu Tuy không nêu hết các bài toán của từng trường hợp cần khai thác điều kiện để vẽ sơ đồ đoạn thẳng giúp học sinh phát hiện nhanh cách giải bài toán, rèn kĩ năng giải toán cho học sinh
Qua thực tế áp dụng, tôi thấy giải toán bằng sơ đồ đoạn thẳng giúp người dạy
và người học làm việc nhẹ nhàng, người học chủ động chiếm lĩnh tri thức vì nó là một trong những yếu tố quan trọng với tâm lý học sinh Tiểu học là trực quan sinh động và kết quả cũng rất khả quan Vì thế hầu hết học sinh lớp 4 trường chúng tôi đã
Trang 10hứng thú và tự tin hơn trong các giờ luyện tập giải toán Kiến thức giải toán cũng như khả năng suy luận của các em được nâng cao, các em đã biết xác định được dạng toán một cách nhanh chóng, vẽ sơ đồ và đưa ra cách giải hợp lí
II ĐỀ XUẤT – KIẾN NGHỊ:
1 Đối với nhà trường:
- Tăng cường tổ chức hội thảo sáng kiến kinh nghiệm để phát huy hiệu quả và nhân rộng các sáng kiến kinh nghiệm hay áp dụng vào công tác dạy và học
2 Đối với giáo viên:
- Không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn cho bản thân
- Soạn bài một cách chu đáo, kỹ lưỡng, chuẩn bị nội dung các câu hỏi sao cho lôgíc và có hệ thống nhằm dẫn dắt phù hợp đúng trình tự của bài dạy
- Cần biết phối hợp một cách linh hoạt các hình thức, phương pháp dạy học nhằm gây hứng thú cho học sinh
Với hy vọng Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh lớp 4 giải toán có lời
văn bằng phương pháp “Sơ đồ đoạn thẳng” nhằm góp phần nâng cao chất lượng
dạy học trong nhà trường Tiểu học hiện nay
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân tôi trong dạy học Toán để hướng dẫn học sinh rèn kĩ năng giải toán có lời văn bằng phương pháp “Sơ đồ đoạn thẳng” Tôi đã áp dụng có hiệu quả và sẽ áp dụng tiếp trong những năm tới Vậy tôi mạnh dạn đưa ra để đồng nghiệp cùng thảo luận và có thể tham khảo vận dụng, có điều gì chưa hoàn thiện mong đồng nghiệp cùng trao đổi để tôi có thêm những kinh nghiệm trong giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả của giờ dạy học Toán, giúp học sinh có những giờ học Toán hứng thú, say mê Tôi hy vọng và chờ đón sự góp ý chân thành của phụ trách Chuyên môn trường, quý Lãnh đạo và đồng nghiệp
Xin chân th nh c m n!ành cảm ơn! ả cụ thể như sau: ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Hải Thái, ngày 25 tháng 10 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác
Người viết
Nguyễn Thái Hùng